Tác Phẩm Lý Tứ

Thiện Kiến

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Thiện Kiến:là giai đoạn sơ ngộ của người tu hành

Thiện Kiến:là giai đoạn sơ ngộ của người tu hành.

Người tu hành phần lớn, có ba lần giác ngộ, gồm:

1. Giai đoạn thứ nhất “Sơ ngộ”.

Vị tu hành thấy được thanh tịnh tâm. Đây là giai đoạn dứt tập, vì thế người Thầy hộ trì cho họ bằng cách giúp đoạn những nguyên nhân phát sinh kiết sử còn thừa sót lại, đồng thời chỉ cho họ nhận ra cái ngã hư dối tế, đang ẩn nấp trong tâm thức để tịch diệt vĩnh viễn.

Giác ngộ này, một phần thế pháp, một ít thánh pháp, nên nó chưa thành thường. Giống như người uống nhiều rượu mê man đã lâu, nay mới tỉnh dậy. Tuy đã tỉnh, hết mê man, nhưng vẫn còn say. Cần giữ gìn rất nhiều thứ...

2. Giai đoạn thứ hai “Minh Tâm Kiến Tánh”.

Giai đoạn này người tu hành phải vào hẳn bất động, để viên mãn Diệt Đế. Sau đó, vị Thầy giúp họ thấy Bổn Tâm, Bổn Tánh. Giống ngày xưa Lục Tổ vào Thất Ngũ Tổ và sau đó phát biểu “nào dè”. Chuẩn bị vào Đạo Đế...

3. Giai đoạn thứ ba.

"Thấy Phật Tánh”, phát sinh trí tuệ, viên mãn Đạo Đế. Giai đoạn này giống như ngày xưa Thế Tôn ngồi xuống cội Bồ Đề, thành tựu Vô Sư Trí và đứng dậy giáo hoá, thành Đẳng Chánh Giác...

Trên đây, chỉ là sơ lược các giai đoạn tu hành. Trong đó còn nhiều ngõ ngách của Đạo không thể nói hết một lần. Tuy nhiên, những gì đã trình bày, có thể giúp HĐ biết con đường sẽ đi qua và vững tâm tiến bước...

(09-04-2013)

 

Tác Phẩm Lý Tứ

Cái… Thấy, Biết Bản Nhiên

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Đây là “thấy” và “biết” không bắt nguồn từ một thứ gì và không sanh một thứ gì… gọi là “Vô Sanh”

- Cái thấy bản nhiên là cái thấy "hồn nhiên", chưa bị phần “Tri” làm già đi. Vì thế kinh Viên Giác mới nói: “hồn nhiên là Phật”.

- Cái biết bản nhiên là cái biết chưa bị quan niệm, khái niệm, nhận thức che mờ. Kinh gọi thấy biết này: "như thị kiến, như thị tri”… Nói khác, đây là “thấy” và “biết” không bắt nguồn từ một thứ gì và không sanh một thứ gì… gọi là “Vô Sanh”.

(Lão Lý thường rao giảng: Thấy biết như vậy, có thể phát sanh “chí tệ”… Lão Lý cũng triết lý như vầy: Chỉ nên làm người “Sống hồn nhiên như một trẻ thơ, nhưng trí não thông tuệ như một bậc thánh. Chớ chẳng nên: Đời sống và tâm hồn như một ông cụ, mà chí tệ thì, thì, thì... như một... trẻ... thơ...!!!” Chúc HĐ sống như vậy, mà chí tệ cũng như vậy!!!).

 

(10-04-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Hàm Tàng Thức

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Bất Động và thành tựu hai vô ngã là cảnh giới mọi người tu hành cần phải thành tựu, nếu muốn tiến sâu trong Phật đạo.

Hàm tàng thức hay A Lại Da (Thức thứ tám): Là nơi lưu lại mọi dữ liệu đã được ghi nhận trong quá khứ... Nó như cái kho chứa tạp vật...

Đến khi trí tuệ phát sinh, những dữ liệu này biến thành diệu lý. Vì thế, mới có câu “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp...” Bây giờ, Hàm tàng thức có tên là Như lai tàng, Như lai tàng tâm, hoặc Không Như lai tàng...

Thức thứ chín là Lưu chú, có nhiệm vụ cung cấp dữ liệu khi “cái ngã nó cần”... Giống kẻ giúp việc lấy đồ cho chủ...!!!… Cụ thể, Lưu chú mang dữ liệu từ Hàm tàng thức cung cấp cho Mạt na thức. Mạt na căn cứ vào các dữ liệu này để làm công cụ sinh ngã... Vì thế, các thứ tâm (hư vọng) như: chấp thủ, hơn thua, phải quấy, thương ghét xuất hiện...

Rốt ráo bất động, hoàn toàn vô ngã, Lưu chú thức tạm thời không hoạt động, giống như người chủ đi vắng, kẻ giúp việc được nghỉ ngơi. Đến đây mới thật sự thành tựu hai Vô Ngã...

Lưu chú thức chưa thật sự dừng, phiền não, sanh diệt chưa hoàn toàn chấm dứt. Biểu hiện của nó từ người tu hành, giống như con đà điểu chọn cách vùi đầu trong cát để khỏi thấy kẻ thù, còn cái thân lại ló ra ngoài, một hình thức “dấu đầu lòi đuôi”!!! Những vị thường hay hô hào vô ngã, nhưng lời nói, hành vi, cử chỉ... thể hiện rất rõ cái ngã đang tồn tại, đây là dấu hiệu cho thấy tâm chưa bất động, ngã chưa tịch diệt, ý chưa giải thoát!!!

Do đó, Bất Động và thành tựu hai vô ngã là cảnh giới mọi người tu hành cần phải thành tựu, nếu muốn tiến sâu trong Phật đạo.

Điều kiện để được Bất Động, phải trải qua cảnh giới vô niệm, tức Ba La Mật tâm. Có nghĩa không nghĩ nhớ quá khứ vị lai, không thấy đúng sai hay dở, không thấy kẻ hơn người thua, không nắm giữ thiện ác... Nói chung, phải tịch diệt hoàn toàn mọi quan niệm, phải triệt tiêu chủ thể nhận thức...

Sáu Ba La Mật, là công cụ hữu hiệu, giúp làm sạch những dữ liệu được cất chứa trong A Lại Da, biến Lưu chú thành người giúp việc đắc lực cho trí tuệ; giống như người ta vệ sinh các đồ vật trong một cái kho chứa đồ cũ, chờ ngày sử dụng... Sự thay đổi này, được mô tả trong kinh Lăng Già là: “thức diệt, chẳng phải Lưu chú diệt...”.

(09-2012)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thấy Được… Ba Thân Phật

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phật có ba thân là: Báo thân, Hoá thân và Pháp thân.

Thưa Thầy,

- Trong các kinh, kể cả kinh Trường A Hàm (I), phẩm Du Hành trang 99 viết: "Sau khi Phật và đại chúng an tọa, Châu Na (Cunda) đem món ăn dâng Phật và chúng Tăng. Ông lại nấu riêng một thứ nấm chiên đàn, là thứ ăn kỳ lạ trân quý, ít thấy đem dâng riêng cho Phật. Phật bảo Châu Na chớ đem thứ nấm ấy cho chúng Tăng ăn. Châu Na vâng lời, không dám dọn cho chúng Tăng ăn”.

- Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Thuần Đà tập 1 (tr.44) viết: “Thân Như Lai đã từ vô lượng vô số kiếp chẳng thọ sự ăn uống, vì hàng Thanh Văn mà nói trước thọ cháo sữa của hai nàng chăn bò là Nan Đà và Nan Đà Ba La, rồi sau mới chứng quả Vô Thượng Chánh giác, nhưng chính thật Như Lai không ăn. Hôm nay vì đại chúng trong hội nầy mà Như Lai nhận sự cúng dường của ông dâng. Thiệt ra Như Lai không ăn”.

- Lại có đoạn viết: “Thuần Đà! Thí thực có hai, đồng một quả báo, một là thọ xong liền chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hai là thọ xong liền nhập Niết Bàn.” Trong những đoạn kinh trên, một bên nói thọ thực, một bên nói không. Xin Thầy từ bi giải thích nghĩa lý của việc thọ thực, không thọ thực của Như Lai?

Các bạn!!!

Phật có ba thân là: Báo thân, Hoá thân và Pháp thân. Tuỳ duyên của đại chúng, mà Phật tuyên nói có ăn hay không ăn. Chứ chẳng phải hai kinh trái nhau

Sơ lược về ba thân và sự ăn của mỗ̃i thân như sau:

Báo thân. Khi tuyên thuyết về thân này Phật nói có ăn. Muốn thấy được Báo thân, phải sinh ra cùng thời Đức Phật và hội đủ duyên lành.

Hoá thân. Thân này tồn tại bởi thiện pháp, nên cũng có ăn cũng không có ăn. Muốn thấy Hoá thân, phải đầy đủ công đức, khi công đức đầy đủ sẽ tự thấy.

Pháp thân. Thân này đồng hư không, thường trụ nên không có ăn. Muốn thấy được Pháp thân, phải viên mãn trí tuệ. Viên mãn trí tuệ, tự thấy được Pháp thân.

Những điều vừa nêu, nếu có gì chưa thoả mãn, HĐ có thể tiếp tục đặt câu hỏi.

(04-12-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Phát Tâm… và Phát Xu Đại Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phát Xu Đại Đạo là: Vị tu hành này phát đại tâm, xu hướng đại đạo. Xu hướng Đại Đạo là không xu hướng Thanh Văn Đạo, Duyên Giác Đạo. Một lòng một dạ, nhắm thẳng "Nhất Thừa  Đạo" mà đi.

Người tu hành trong Phật Đạo, nên hiểu như thế nào cho đúng thật nghĩa của hai Pháp: Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề và Phát Xu Đại Đạo???

Người tu hành khi đạt đến “Tâm Bất Động & Ý Giải Thoát”, gọi là “Thành tựu Phạm Hạnh”. Viên mãn điều này chỉ mới xong “phần tự cứu”, gọi là “Tự Độ”. Tương đương Diệt Đế.

Sau đó, vị này phải cầu học Nhất Thiết Trí như Tát Đà Ba Luân trong kinh Bát Nhã, hay Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, hoặc Tiền Thân của Phật lúc còn là Bồ Tát cầu học Đại Thừa trong kinh Đại Niết Bàn. Việc học này, giống như người học trò đã học xong Phổ Thông Trung Học, muốn làm Thầy Giáo phải học Sư Phạm. Sau khi tốt nghiệp Sư Phạm, mới đủ năng lực chuyên môn để làm Thầy Giáo.

Trong Phật Đạo, muốn đủ năng lực dạy người, phải thành tựu Nhất Thiết Trí. Thành tựu Nhất Thiết Trí tương đương thành tựu Đạo Đế.

Phát Xu Đại Đạo là: Vị tu hành này phát đại tâm, xu hướng đại đạo. Xu hướng Đại Đạo là không xu hướng Thanh Văn Đạo, Duyên Giác Đạo. Một lòng một dạ, nhắm thẳng "Nhất Thừa  Đạo" mà đi.

Nhất Thừa Đạo “lấy tha làm tự”. Lấy tha làm tự là cơ sở tốt nhất để thành tựu Tứ Vô Lượng Tâm.

Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề: Phát Tâm cầu thành Phật đủ mười danh hiệu. Tức là, không phát tâm cầu thành thứ khác, như không cầu chứng quả A La Hán, Bích Chi Phật.

 

(26-02-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Cặp Phạm Trù Bản Chất - Hiện Tượng và Thiệt Tướng - Hư Vọng Tướng

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Hai khái niệm gần gũi nhất của Phật đạo với triết học, đó là cặp phạm trù “bản chất và hiện tượng” của triết học, và cặp khái niệm “thiệt tướng và hư vọng tướng” của Phật giáo.

Trong Phật đạo, có một số khái niệm gần gũi với triết học… Hai khái niệm gần gũi nhất của Phật đạo với triết học, đó là cặp phạm trù “bản chất và hiện tượng” của triết học, và cặp khái niệm “thiệt tướng và hư vọng tướng” của Phật giáo.

1. Bản chất - Hiện tượng (củ̉a Triết học)

“Triết học cho rằng, bản chất là cái tồn tại khách quan gắn liền với sự vật, hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất... Và triết học cũng cho rằng, không có bản chất nào tồn tại thuần tuý ngoài hiện tượng, cũng không có hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện bản chất.

Tuy vậy, triết học cũng cho rằng, giữa “bản chất” và “hiện tượng” có những mâu thuẫn nhất định.

Bản chất phản ánh cái chung, cái tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, trong khi hiện tượng phản ánh cái riêng, cái cá biệt.

Bản chất là mặt bên trong ẩn giấu sâu xa của hiện thực khách quan, còn hiện tượng là mặt bên ngoài của hiện thực khách quan đó.

Bản chất không được biểu lộ hoàn toàn ở một hiện tượng mà biểu hiện ở rất nhiều hiện tượng khác nhau. Hiện tượng không biểu hiện hoàn toàn bản chất mà chỉ biểu hiện một khía cạnh của bản chất, biểu hiện bản chất dưới hình thức đã biến đổi, nhiều khi xuyên tạc bản chất hoặc phản ánh không đúng bản chất, ví dụ: Hiện tượng khúc xạ hoặc ảo ảnh.

Muốn nhận thức được bản chất của sự vật, phải xuất phát từ những sự vật, hiện tượng, quá trình thực tế. Vì lẽ, bản chất không tồn tại thuần túy, mà tồn tại trong sự vật và biểu hiện qua hiện tượng. Bản chất của sự vật không được biểu hiện đầy đủ trong một hiện tượng nhất định nào, và cũng biến đổi trong quá trình phát triển của sự vật.

Do vậy, phải phân tích, tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là những hiện tượng điển hình, mới hiểu rõ được bản chất của sự vật. Nhận thức bản chất của sự vật là một quá trình phức tạp đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn”. (Nguồn Wikipedia)

2. Thiệt tướng - Hư vọng tướng (Phật Giáo)

Về hai khái niệm “thiệt tướng” và “hư vọng tướng” của Phật giáo: Nếu coi “thiệt tướng là bản chất” của sự vật, “hư vọng tướng là hiện tượng” của sự vật ấy.

Phật giáo lại có cái nhìn khác triết học. Phật giáo cho rằng, bản chất không có mối liên hệ bất kỳ nào đến hiện tượng, tức “thiệt tướng” và “hư vọng tướng” là hai phạm trù riêng biệt, không có mối liên hệ biện chứng với nhau.

Có nghĩa rằng, bản chất (thiệt tướng) siêu quá hiện tượng (hư vọng tướng). Nó không phải cái mà hiện tượng có thể biểu hiện, vì hiện tượng thuộc về hữu vi, tức cái có. Còn bản chất, thuộc về vô vi, cái không thực thể, trong bản chất cũng không có cái được gọi là tinh thần làm nên hiện tượng...

Bản chất, theo Phật giáo, là cái gì bất biến, chung nhất của tất cả sự vật, không thể thay đổi, không thể dùng tri thức đến được. Do đó hiện tượng không được coi là biểu hiện của bản chất, và không thể tìm hiểu bản chất thông qua hiện tượng dù dưới bất kỳ hình thức nào. Giống như một người giàu có, ngủ mơ thấy mình nghèo đói.

Phật giáo cho rằng, hư vọng tướng hay hiện tượng, là một thứ biệt tướng, được nhận thức thông qua các căn nghiệp, nó không có bản chất. Giống như người ngủ chiêm bao, giấc mơ không có bản chất, không tồn tại cũng như không biểu hiện được điều gì, không được sản sinh từ bản chất. Điều này có nghĩa rằng, không thể truy tìm bản chất thông qua hiện tượng, giống như người ta không thể đem về một cái ngai vàng trong giấc mơ để sử dụng, xem nó làm bằng thứ gì, cũng như làm cơ sở đi tìm nguồn gốc.

Như vậy, Phật giáo mô tả bản chất hay thiệt tướng sự vật như thế nào???

Kinh Hoa Nghiêm: “Thiệt Tướng vô tướng, diệc vô bất tướng, tướng nhi vô tướng, danh vi thiệt tướng”, có nghĩa rằng, thiệt tướng không có tướng, cũng chẳng phải không có tướng, tướng mà không có tướng, gọi là thiệt tướng. Định nghĩa này muốn nói, bản chất của các pháp không có tướng bản chất, nhưng chẳng phải không có tướng (tự tĩnh lặng), có tướng tĩnh lặng mà không có tướng bản chất, gọi là thiệt tướng.

Kinh Bảo Võ: “Tổng tướng pháp môn của nhất pháp giới vậy. Có chỗ gọi là tâm tính chẳng sanh chẳng diệt, hết thảy các pháp chỉ do vọng niệm mà có sai khác. Nếu xa lìa vọng niệm thời không có tướng sai khác của tất cả các cảnh giới. Cho nên tất cả các pháp xưa nay, xa tướng biện luân, lìa tướng danh tự và xa lìa các tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng không có biến đổi sai khác, không thể phá hoại; duy chỉ nhất tâm, nên gọi là chơn như.”

Kinh Giải Thâm Mật: “Các pháp do nhơn duyên sanh khởi, không có tự tính (bản chất), vì không có tự tính, tức là rốt ráo “không”; cái rốt ráo “không” ấy, từ xưa đến nay tự “không”, chẳng phải Phật hay người nào làm cho nó “không””.

Các dẫn chứng ở trên cho thấy, hai quan điểm về thiệt tướng hay bản chất giữa triết học và Phật giáo không đồng nhất... Sự không đồng nhất này là tất nhiên, bởi lẽ triết học dựa vào thế luận, minh triết một khái niệm trên nền tảng thế luận. Còn Phật giáo dựa vào nhãn quan xuất thế để nhìn thấy bản chất sự việc, chứ không dựa vào hiện tượng để truy tìm bản chất.

3. Nhận xét

Triết học và Phật giáo phục vụ cho những mục tiêu khác nhau, cho nên việc giải thích sự vật dựa trên những quan điểm khác nhau là chuyện tự nhiên. Vấn đề đặt ra ở đây là, giải thích theo Phật giáo hay triết học nhằm phục vụ cho cái gì, và lợi ích đến đâu khi người tiếp nhận quan điểm này ứng dụng vào đời sống, đây mới là giá trị đích thực, mới là bản chất tốt đẹp của Phật giáo và triết học.

Bài viết không nhằm đánh giá đúng sai, mà chỉ muốn nói rằng, cho dù triết học hay Phật giáo, nếu sử dụng đúng mục đích, đồng đưa đến những lợi ích nhất định.

Lợi ích nhất định, chính là điểm đồng giữa triết học và Phật giáo. Con bò ăn cỏ, con cọp ăn thịt, cọp khác bò, cỏ khác thịt, nhưng cả hai đều phải ăn mới no, ăn mới no đích thị là bản chất của cái ăn.

Và, “ăn mới no”, chính là điều mà cả bò lẫn cọp đều coi là cốt lõi của mọi cơ sở lý luận!!!!!!

(31-01-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Giới Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

“Pháp Giới” trong Phật đạo, là thuật ngữ để chỉ những gì nằm trong phạm vi của quan niệm, của nghĩ tưởng, của suy lường, của thấy biết từ tâm, thức, ý hay trí...

“Pháp Giới” trong Phật đạo, là thuật ngữ để chỉ những gì nằm trong phạm vi của quan niệm, của nghĩ tưởng, của suy lường, của thấy biết từ tâm, thức, ý hay trí...

Có mười pháp giới, đó là: Pháp giới Phật (tạm gọi), pháp giới Bồ tát, pháp giới Duyên giác, pháp giới Thanh văn, pháp giới trời, pháp giới A Tu La, pháp giới người, pháp giới súc sanh, pháp giới ngạ quỷ, pháp giới địa ngục...

Để dễ hiểu, ta có thể tạm chia mười pháp giới kể trên thành ba nhóm, gồm: Pháp giới điên đảo, pháp giới thanh tịnh, pháp giới hư không (tạm gọi)...

1. Pháp giới điên đảo.

Pháp giới của nhóm này, là sản phẩm của tâm thức điên đảo, gồm các dạng chúng sanh: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, A tu la, trời... Đây là nhóm những chúng sanh không giác ngộ, pháp giới của nhóm này do nghiệp tưởng và ý nghiệp làm nên. Vì thế, gọi là pháp giới điên đảo...

Ví dụ, nơi hư không thấy thành địa ngục, thấy thành uống máu, thấy thành u tối, thấy thành ba cõi, thấy thành chiến trường, thấy thành thiên đường!!! Giống như những người đau mắt, mang các cặp kính màu sắc khác nhau... Kính màu đen sẽ thấy trước mặt là màu đen, kính màu đỏ sẽ thấy trước mặt là màu đỏ, kính màu vàng sẽ thấy trước mặt là màu vàng...

2. Pháp giới thanh tịnh.

Gồm Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát quyền thừa. Đây là nhóm có giác, có ngộ, thành tựu Pháp nhãn thanh tịnh. Pháp giới của nhóm này do giác tánh làm nên...

Gọi là pháp giới thanh tịnh vì, giác tánh là nguồn để thanh tịnh nhãn soi chiếu... Thanh tịnh nhãn chiếu đến đâu, nơi đó thanh tịnh!!!

3. Pháp giới hư không (tạm gọi).

Gồm: Phật và các Đại bồ tát. Đây là nhóm những vị đã thành tựu Trí tuệ Vô tướng. Trí tuệ chiếu đến đâu, nơi ấy đồng hư không!!!

Vì sao chiếu đến đâu nơi đó đồng hư không??? Thiệt tướng của các pháp là vô tướng. Huệ nhãn và

Phật nhãn là cái thấy của chứng ngộ thiệt tướng. Với cái thấy này, thiệt tướng là nguồn, nguồn này đi vào huệ nhãn và Phật nhãn, hai nhãn này chiếu đến đâu, thiệt tướng sẽ hiện ở đó, gọi là pháp giới hư không!!!

Vì thế, Phật thường hay nói “pháp giới chúng sanh không cùng tận”. Có nghĩa, chúng sanh trong pháp giới, nghĩ tưởng không cùng tận. Nghe nói địa ngục, liền nghĩ đến địa ngục với những tướng như vậy... Nghe nói thiên đường, liền nghĩ tưởng đến thiên đường với những cảnh như vậy... Nghe nói đến ba cõi, liền nghĩ tưởng ba cõi với những đời sống như vậy... Nói chung, sức nghĩ và tưởng không thể nghĩ bàn...

Ba thừa, tâm ý đến đâu, thanh tịnh đến đó. Nhất thừa, tâm ý đến đâu, thiệt tướng đến đó...

Tóm lại, pháp là đối tượng của tâm ý thức, giới là phạm vi, giới hạn của tâm ý thức. Pháp giới là phạm vi của tâm ý thức đến được...

Ra khỏi pháp giới (tạm gọi là về pháp giới hư không), là những cảnh giới nằm ngoài nghĩ tưởng, tư duy, suy lường. Ví dụ: Niết bàn, vô vi, xuất thế!!!

(07-2012)

Tác Phẩm Lý Tứ

Trần; Pháp Trần; Pháp Giới

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Pháp có ba tầng, ba tầng này cho ra hệ quả của nó là “Ngu, Mê, Lầm”

1. Trần

Tự nó như hư không, không có tên tuổi, không có giá trị, tức không tướng, không tánh, không vị, không giới, không danh, không lượng. Nên “Trần” chưa phải là “Pháp”.

2. Pháp Trần (hay Pháp)

Khi ý thức tiếp xúc, mới có tên bình bàn, hình dáng bình bàn, giới hạn và giá trị bình khác bàn, tánh

chất riêng của bình bàn. Những thứ này do ý thức gắn vào “Trần” nên gọi là “Pháp Trần” (nói gọn là Pháp). chừng mực nào đó, khi nói đến “Pháp” được hiểu là những gì “ý thức” tiếp cận được. Khi nói đến “Trần” được hiểu là những gì do “các căn còn lại” tiếp xúc.

Tuy nhiên đối với chúng sanh, thức nhập vào các căn gọi là nội lục nhập, buộc các căn phải đón nhận trần cảnh theo chủ ý của mình gọi là ngoại lục nhập, thành tựu sự đón nhận này gọi là thập nhị nhập.

Bây giờ, ý thức mới phân tích sự đón nhận đó theo quan điểm của nghiệp chung và nghiệp riêng, cho ra kết luận như thế này hoặc như thế kia, gọi là sinh pháp, hoàn thành sự nhận biết này gọi là thập bát giới.

Để làm rõ vấn đề, xin đưa thêm một số kiến giải...

Pháp có ba tầng, ba tầng này cho ra hệ quả của nó là “Ngu, Mê, Lầm”, đó là:

- Khái niệm

Một loại pháp hình thành do phân biệt, hệ quả của pháp này là Kiết Sử sẽ sanh, gọi là "Ngu". Hết cái ngu này dứt Tập, ra khỏi Nhuận Chi Vô Minh.

- Tri thức

Đây là loại pháp, nếu mê sẽ sanh ngã, gọi là "Mê". Hết cái này sẽ chứng Diệt, thành tựu Niết Bàn, ra khỏi Căn Bản Vô Minh.

- Quan niệm

Đây là tầng thứ ba của pháp, pháp này mê hoặc hữu tình, làm cho thánh phàm "Lầm tưởng" cứu cánh. Dứt mê hoặc này, sẽ viên mãn Diệt đế, bước vào Đạo đế, thành tựu trí tuệ. Thoát khỏi Vô Minh Trụ Địa.

3. Pháp giới

Là những nơi nào ý thức đến được, dễ hiểu hơn, "Pháp Giới" là giới hạn của "Ý Thức". Ví dụ: Khi nói đến sao hoả, người ta liền liên tưởng đến sao hoả, khi nói “địa ngục”, “Niết bàn”... cũng điều được liên tưởng. Sự liên tưởng này gọi là “Pháp Giới”.

Pháp do “Tâm sanh”, Trần do “nghiệp duyên sanh”. Pháp thuộc “nhận thức”, Trần thuộc về “thế giới”. Hai thứ này cần rạch ròi không nên lẫn lộn.

Phật nói “Pháp Giới không cùng tận ”, vì nghĩ tưởng của hữu tình không cùng tận. Khi nói đến cái gì thì người đời liền đưa ý thức đến đó. Nơi chốn của “ý thức” đến được gọi là “Pháp giới”. Do hiểu biết này mà chúng sanh không ra khỏi “Pháp giới

Với người tu Phật chỉ nên “không Pháp”, cũng không nên “muốn thấy được chơn tâm”. Vì, chỉ khi nào dứt “Cái Muốn” thì chơn tâm mới hiện.

(24-05-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Bất Y

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Chư Bồ Tát khi chưa thành Phật thì còn phải học, và học không ngừng nghỉ gọi là “tinh tấn lực”

Trong kinh Đại Niết Bàn Phật có dạy Tứ Bất Y. Người tu hành thường coi đây là “kim chỉ nam” để tu học. Nhưng ý nghĩa của “tứ bất y” như thế nào, và Phật nói điều này với những ai cũng như “phạm vi ứng dụng”.

Theo mình, văn tự Phật Giáo được thể hiện ở ba cấp độ tương ứng với ba địa vị tu hành.

1. Y nghĩa bất y ngữ.

Đây là lời cảnh báo chung cho tất cả những người ở trong địa vị tu hành “cầu giải thoát”, người đời thường nói nôm na, là hạng sơ cơ.

Hạng này khi tu hành, muốn được lợi ích, muốn giác ngộ để thành tựu nguồn tâm thanh tịnh, giải thoát. Khi đọc một đoạn kinh, nghe lời thuyết pháp... không được “ôm” văn tự, không được “chấp văn tự” rồi diễn giải giống như người đời, hoặc hồi chưa tu hành. Địa vị này khi nghe, phải tìm xem văn tự, lời thuyết đó nói gì, sau đó tìm nơi vắng vẻ tư duy nghĩa lý. Đã thấy được nghĩa lý, y đó điều phục nguồn tâm, khi nào thành tựu “như ý” mới thôi.

Điều này được đề cập trong kinh Viên Giác qua ví dụ “ngón tay chỉ mặt trăng”. Người “chưa thấy mặt trăng” phải tức thì rời bỏ ngón tay để thấy mặt trăng, và mục tiêu tối thượng cho hạng này là: Bằng mọi giá phải thấy cho được mặt trăng rồi mới bàn chuyện khác...

Vì thế kinh Lăng Già Phật nói với Đại Huệ: “Ngữ chẳng phải nghĩa, này Đại Huệ”!!!

Trong ngữ có nghĩa: Khẩu hiệu này dành cho hạng người đã thấy mặt trăng. Khi đã giác ngộ, thấy mặt trăng thanh tịnh, ngôn thuyết là biểu hiện của thanh tịnh. Vì thế ngữ ngôn của người này không được “lộn xộn” như thế luận, văn tự phải gãy gọn, chuẩn mực không được thừa cũng không được thiếu, vì văn tự là “tướng của tâm”. Văn tự này được gọi là “chơn ngữ”.

Ví dụ, người thấy mặt trăng sau khi từ bỏ ngón tay, không được mô tả rằng: “Mặt trăng thiệt là tròn, nhưng hơi méo méo, có chút màu đỏ lẫn xanh...”. Khi nghe mô tả về mặt trăng như vậy, người có trí bèn biết rằng vị này chưa thấy được mặt trăng, mà chỉ nghe kể lại, nên chỉ biết nó tròn tròn. Muốn chứng minh mặt trăng theo trí tưởng tượng của mình, bèn thêm vào “nó méo méo xanh xanh gì đó...”, gọi là cái đuôi của con trâu hay cái chân của con rắn thế pháp...

Vì thế, đối với những người đã thấy cứu cánh (mặt trăng), văn tự phải lìa “tứ cú”, gọi là văn tự Bát Nhã. Cho nên Phật lại dạy thêm: “Đại Huệ! Nơi ngữ có nghĩa...”

Ngữ ấy tức nghĩa: Đây là khẩu hiệu của “các mặt trăng”. Mặt trăng nói chơi cũng là lời nói của mặt trăng, vì lâu xa, mặt trăng đã rời hý luận... Lời nói trong địa vị này gọi là “Thiệt Ngữ”. Cho nên, Phật nói với Đại Huệ một câu bất hủ “Ngữ ấy tức nghĩa ấy, này Đại Huệ”!!!

2. Y trí bất y thức.

Đây là cảnh báo đối với phàm phu. Thánh giả không còn thức để y.

Y trí: Hạng này muốn tu hành, phải y theo những hiểu biết nào có thể ứng dụng để tịch diệt nguồn tâm. Hiểu biết nào có khuynh hướng dẫn đến rốt ráo tịch diệt nguồn tâm, được gọi là trí (đối với thức).

Không y thức: Tức không y vào những hiểu biết nào chỉ nhắm đến tăng trưởng kiến thức và làm lớn tự ngã. Những hiểu biết thuộc loại này Phật Giáo gọi là thức (quanh quẩn trong nghiệp báo).

3. Y kinh liễu nghĩa, bất y kinh bất liễu nghĩa.

Đây là cảnh báo đối với ba thừa đã vào chánh vị. Cụ thể, kinh Kim Cang Phật nói với Tu Bồ Đề: “Pháp (cái Chánh pháp mà ông đang thủ đắc) còn phải bỏ, hà huống phi pháp (cái pháp cà trật cà giuộc hư vọng, đầy phiền não trói buộc của thế gian)...”

  • Kinh bất liễu nghĩa (bán tự): Đưa ba thừa vào chánh vị (hóa thành), nghỉ mệt rồi đi tiếp

  • Kinh liễu nghĩa (mãn tự): Giúp ba thừa ra khỏi hóa thành, nơi chỉ có vàng giả, hay tiền âm phủ, gọi là “Chánh pháp nhiếp thọ”... Để tiến về bảo sở lượm vàng thiệt hoặc kim cương. Khi lượm mấy thứ quý này chừng nào đầy đủ gọi là “nhiếp thọ Chánh pháp”, còn gọi con đường đưa đến Phật quả.

Vì thế, chư Bồ Tát khi chưa thành Phật thì còn phải học, và học không ngừng nghỉ gọi là “tinh tấn lực”.

(09-2011)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tự Độ, Độ Tha, Phát Tâm, Phát Nguyện

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Trong thời gian còn tu hành, phát tâm Vô Thượng Bồ Đề và phát nguyện độ sinh đi đôi với nhau để hai món cùng thành tựu gọi là viên mãn hay viên giác,

Sao gọi là tự độ và độ tha? Phát nguyện là gì? Phát nguyện và phát tâm là giống hay khác? Khi chưa phát nguyện là trong lòng còn nghi? Bốn nguyện lớn (Tứ hoằng thệ nguyện) là gì?

  • Tự độ: Độ cho mình. Độ tha: Độ cho người
  • Phát tâm và phát nguyện là hai món riêng biệt, cái này hỗ̃ trợ cho cái kia thành tựu và ngược lại. Ví dụ: Một đứa học trò đặt mục đích là phải học thành bác sĩ (giống như phát tâm) mục tiêu của việc học thành bác sĩ để giúp gia đình, xã hội… (giống như phát nguyện). Người tu hành phát tâm thành Phật (Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề), đặt mục đích cuối cùng. Phát nguyện độ hết chúng sanh, đưa ra mục tiêu sau khi đạt được mục đích.

Tuy nhiên trong Phật đạo không hẳn như vậy, trong thời gian còn tu hành, phát tâm Vô Thượng Bồ Đề và phát nguyện độ sinh đi đôi với nhau để hai món cùng thành tựu gọi là viên mãn hay viên giác, tức tự mình giác ngộ và giúp người giác ngộ.

“Muốn độ người phải có phương tiện” lời của Huệ Năng. Muốn cho người cái gì, mình phải có cái đó, không có thì lấy gì mà cho (độ). Nên Bồ Tát tu hành vì  có cái để giúp người, còn Thanh văn tu hành vì có cái để mình xài, đây là khác biệt giữa Bồ Tát và Thanh Văn.

Cứ phát nguyện, tu hành là vì người, còn chuyện chừng nào độ được người thì sẽ biết, quan trọng là phát tâm và phát nguyện. Giống như hứa với một người là một chuyện còn khi nào thực hiện lời hứa lại là một chuyện. Tuy vậy, tùy theo sức của mình, giàu thì giúp nhiều, nghèo thì giúp ít. Quan trọng không “hứa cuội” là được. Phát tâm và phát nguyện là phải nhớ, quên thì người ta gọi là kẻ “hứa lèo”.

Chưa thực hiện lời hứa chứ đâu phải “Nghi”, không nên nhầm lẫn cái này với cái kia.

Bốn nguyện lớn, đây là khẩu hiệu của Bồ Tát Phổ Hiền. Người tu hành muốn thành tựu Phật đạo trong tâm phải thường xuyên hô bốn câu khẩu hiệu này (hô riết rồi quen…). Bốn nguyện gồm:

“Độ tất cả chúng sanh”, câu này không khó hiểu!!!

“Dứt tất cả phiền não”, cũng đâu có khó hiểu!!!

“Nguyện học tất cả pháp của Phật”, câu này ý nói phải tu tập tất cả Phật pháp (học Nhất thiết trí).

“Nguyện thành Phật”, viên mãn Nhất Thiết Chủng Trí.

(06-2010)

Subscribe to