Tác Phẩm Lý Tứ

Rượu Trần Cảnh

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Các bạn! ... Tập nhân, kiết sử, lậu hoặc… nói ra thì nhiều thứ, nhưng cũng chỉ xuất phát một tâm mê.

Giống như người say rượu, say rượu không phải bản chất của con người, chỉ khi nào uống rượu họ mới say. Say rồi không biết trời trăng, ngủ ngoài cột đèn tưởng nhà mình, không biết nhà cửa tên tuổi đích thực. Khi tỉnh lại thì, cái say, cái mê không còn, bây giờ con người thật sự của anh ta sẽ trở lại. 

Người đời giống như kẻ say, người say rượu chỉ uống một thứ rượu và lâu lâu mới uống, người đời sáu căn uống sáu thứ rượu trần cảnh khác nhau và uống không kẻ hở, nên họ bị say suốt cuộc đời, say riết thành mê, quên luôn bản chất thật của mình, uống riết ghiền, không có sẽ nhớ và mong cầu, khi được sẽ sợ mất, đây chính là một trong những nguyên nhân sinh si, sinh ái. 

Người say chỉ cần không uống rượu thì sẽ hết say, người đời chỉ cần các căn không uống chất men trần cảnh thì hết mê. Rượu không làm ai say, chỉ vì có uống mới say, trần cảnh không làm ai mê, chỉ tại tham đắm mới si. Đơn giản, muốn không say đừng uống rượu, muốn không mê đừng tham đắm. Si sẽ mất trí khôn, mê sẽ mất thanh tịnh.

Hãy ở yên nơi bầu trời thanh tịnh, rượu trần cảnh không quyến rũ được mình, lâu dần bệnh ghiền sẽ tự dứt.                                                                

(04-2011)

Tác Phẩm Lý Tứ

Giải Quyết Nguồn Tâm

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

●Khi sự việc xảy ra, người đời giải quyết sự việc theo mong muốn của mình...

●Người tu hành thì ngược lại... Chỉ giải quyết tâm này chứ không giải quyết sự việc...

−Đối trước sự việc, nếu tâm này còn thấy đúng sai, phải quấy, tốt xấu, được mất... Thì phải biết: “Tâm này đang có vấn đề” và nhất định phải coi lại...

−Còn thấy đúng, sai, phải, quấy biết rằng tâm này đang mê... Vị nào sở hữu một “cái tâm như vậy, nhất định không thể phát sanh Vô Lậu Trí...”

●Giải quyết “nguồn tâm” bằng mấy cách? ... Có hai cách để giải quyết rốt ráo một vấn đề đúng như pháp đó là:

✽Tâm Vô Sanh.

−Vị bằng hữu này không đem tâm câu hữu (dính dáng) đến sự việc, vì biết rằng sự việc và tâm chẳng có mối liên hệ nào. Vị này cũng biết rằng sự việc chẳng phải là tâm. Vì tâm mê nên Ngã sanh, dứt mê Ngã tự dứt. Ngã hư dối chính là cầu nối giữa tâm và sự việc...

−Thấy biết như vậy, vị tu hành này ở yên nơi Vô Ngã, không khởi Vọng Ngã đối phó sự việc. Ở yên như vậy, Phật Đạo gọi là Xa Ma Tha (đình chỉ vọng tâm). Thành tựu pháp này, chứng quả Vô Sanh (nhân vô ngã, đoạn Phiền Não Chướng)…

✽Pháp Vô Sanh.

Vị tu hành này tuy tâm đã yên ổn, nhưng nghĩ suy về sự việc chưa dứt trong lòng...

−Bây giờ vị này quán tiếp, nghĩ suy chẳng phải sự việc. Nếu ta tiếp tục nghĩ suy về nó, chính nghĩ suy cột trói ta. Vị này cũng biết rằng “nghĩ suy chẳng có tánh”, tức cái đúng chẳng ở nghĩ suy, cái sai chẳng ở nơi nghĩ suy, chỉ tại duyên mê mà hiện đúng sai.

−Quan sát như vậy, vị này bằng lòng “từ bỏ các niệm”. Tịch diệt vọng niệm, làm cho Pháp chẳng sanh... Thành tựu điều này, Phật Đạo gọi là Tỳ Bà Xá Na (Huệ Quán). Chỗ chứng gọi là Vô Sanh Pháp (Pháp không sanh). Phần này thuộc về Đoạn Sở Tri Chướng.

−Hai phần chướng là phiền não chướng và sở tri chướng đã đoạn xong. Gọi là thành tựu, hai vô ngã, nhân không pháp không, Vô Sanh Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn... tùy chỗ đặt tên, bây giờ danh tướng không còn quan trọng...

−Thành tựu như thế, tâm vị này Bất Động như trụ đá, trí vị này như mặt trời... Trước muôn cảnh muôn duyên, không làm cho Tâm động lay, không làm cho trí mờ tối... Gọi là Bất động Giải thoát, chứng Diệt Đế...

−Như một cái cây giữa trời, khi cây này bị động lay, người có trí liền biết: Sở dĩ cây kia có động lay, là do một tác động nào đó, hoặc là tác động hữu ý, hoặc tác động vô tình...

−Tác động hữu ý là, có người cố tình lay động cái cây, tác động vô tình là có thể do gió, hoặc bầy chim bay đến làm ngọn cây lay động... Nếu cây kia không có những tác động này, cây sẽ Bất Động... Bất Động là điều hiển nhiên (tự tánh) của một cái cây...

−Đối trước sự việc, Sanh Tâm và Sanh Pháp là hai tác động làm cho tâm động lay, giống như cái cây bị động lay... Triệt tiêu những tác động đó, tâm dừng lặng, như cây dừng lặng... Tự tánh sẽ hiện! (12-2011)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tâm Chúng Sanh Ba Thời Không Thật

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

֎ Phật dạy: “Hy vọng là tâm chúng sanh”. Vì chúng sanh hy cầu nên có ba thời, ba thời hiện khởi thì sanh diệt không ngừng... Mà không biết rằng quá khứ như giấc mơ.

֎Phật dạy, “quá khứ như mộng”. Quá khứ là chuyện đã qua nếu có biết chẳng qua chỉ là những nghĩ nhớ trong lòng. Đã là nghĩ nhớ thì chẳng gọi là thật... Vì thế, bổn tâm đang thanh tịnh, nhớ nghĩ quá khứ trở thành não hại. Vị lai thì chưa đến, tâm ý vọng tưởng họa vẽ những điều chưa có, như nhà ảo thuật nơi không có hóa thành chim bồ câu.

֎Phật dạy, “vị lai như huyễn”... Vị lai đó cũng chỉ là niệm vọng tưởng hiện tiền, không thật...

֎Hiện tại thì chẳng thể được vì “niệm niệm không dừng.” Vừa tưởng nó là hiện tại thì tưởng này đã là quá khứ... Nếu chấp có một hiện tại thì biết rằng hiện tại này chỉ là niệm mê, do mê nên trái chướng tâm thanh tịnh...

Rốt lại, vọng về vị lai là phiền, nhớ nghĩ quá khứ là não, ngu nơi hiện tại thành chướng. Nếu không dứt tâm này thì phiền não chướng sẽ não hại tâm, như trời đang trong mây đen kéoa đến...

֎Người trí nên biết ba thời không thật, chỉ là những khái niệm trong lòng. Những khái niệm không thật này gọi là sinh pháp. Nếu chìm đắm nơi pháp thì buồn vui sẽ hiện, hiện này gọi là tâm.

Tâm mê lại sanh pháp, rồi pháp huân thành tâm cứ thế không dứt... Nếu một phen giác ngộ, tâm này tự dừng, không chạy theo bóng ma quá khứ, cũng chẳng vọng tưởng hư ảo vị lai, hiện tại không mê trần cảnh, thanh tịnh rỗng rang tự hiện, như trời quang mây tạnh... Các pháp do tự tâm hiện là nghĩa này.

֎Vì thế Phật dạy: “Khéo quan sát tự tâm hiện lượng”, các pháp hiện khởi trong tâm như bọt nước, trẻ con không biết tưởng đó là hạt lưu ly... Không biết gọi là mê, dứt mê tạm gọi là giác...!

Tác Phẩm Lý Tứ

Dừng Vọng Khởi Phân Biệt

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Hỏi: Như vậy, cho dù các căn giao về quá khứ, hay giao trong hiện tại, đều bắt nguồn từ vọng khởi phân biệt. Nếu chấm dứt vọng khởi phân biệt thì kiết sử không hiện chăng?

Đáp: Người không vọng khởi phân biệt, kiết sử sẽ không hình thành.

Hỏi: Có bao nhiêu cách để “dừng vọng khởi phân biệt?”

Đáp: Có nhiều cách giải quyết như pháp, giúp người tu hành dừng vọng khởi phân biệt.

−Cách thứ nhất: Hướng vọng phân biệt sang mục tiêu thắng diệu, để kiết sử không hiện. Ví dụ: khi tiếp trần, người đời vọng phân biệt để sanh kiết sử thì người tu hành làm ngược lại, dùng Giác Trí để phân biệt đúng sai, nhận thức đầy đủ “lỗi và  họa” của kiết sử. Khi nhận thức đầy đủ lỗi họa của kiết sử, kiết sử sẽ không hiện. Cách làm này gọi là “dùng thiện pháp chế ngự ác pháp”.

−Cách thứ hai: Biết rõ kiết sử hình thành chỉ là hiệu ứng của tổ hợp “căn, trần, thức”  duyên nhau trong điều kiện phân biệt mê muội. Người tu hành này, thường xuyên “chặn đứng vọng phân biệt” từ ý thức. Đây là hình thức của phép tu Tam Ma Đề.

•Giác Ngộ đầy đủ về Tứ Niệm Xứ: Giác ngộ rằng, thân này bất tịnh, chỉ là cái túi đựng thịt xương. Cảm thọ vui ít khổ nhiều, như người nghiện, đến nghiện sẽ khổ. Tâm này vô thường, sáng nắng chiều mưa, hết thương đến ghét. Pháp kia vô ngã, các quan niệm thế gian tự chẳng thường còn.

֎ Giác ngộ đầy đủ như thế, nhất định “vọng phân biệt không sanh”, kiết sử vĩnh viễn tịch diệt. 

Vì sao Giác Ngộ như thế, vọng phân biệt không sanh? Vì thân, thọ, tâm, pháp là bốn nơi chốn mà người không Giác Ngộ thường hay lầm nhận về nó, rồi vọng phân biệt mà sanh tham ưu. Nếu không “lầm lẫn” bốn món này, “vọng phân biệt không tự hiện”. Giống như, người ta lầm nhận miếng thủy tinh dưới ánh sáng thành viên kim cương, rồi vọng sanh phân biệt, tham ưu mới hiện. Nếu biết rõ, đó chỉ là miếng thủy tinh thì chẳng ai tội gì phân biệt lớn nhỏ, tốt xấu để sinh tham ưa mà chạy đi lấy nó bao giờ.

●Hoặc cao hơn nữa Giác Ngộ:

“Thân” đồng với hư không, không có một chút giá trị.

“Cảm thọ” chẳng ở trong thân, chẳng ở ngoài cảnh, chẳng ở chặng giữa căn và cảnh, chỉ do duyên hiệp mà thành, như hai bàn tay chà vào nhau sanh hơi ấm, dứt duyên liền diệt.

“Tâm” không thật có, chỉ là tên gọi, mà tên gọi thì không tánh, ví như người tên Giàu không giàu có.

“Các pháp” thiện ác, đúng sai, sang hèn trong đời không có chân lý, thiện nơi này ác nơi kia, đúng với chỗ này sai với chỗ khác. Kẻ giàu người nghèo chỉ so sánh với nhau bằng vật chất bên ngoài, mà trong tâm thức của họ thì vật chất không thể đến được, cho nên các pháp như thế gọi là chẳng thể được... Giác ngộ chân thật như vậy, “vọng phân biệt không hiện”, người này có thể biến kiết sử trở thành Diệu Pháp.

Hỏi: Sau khi dứt kiết sử, vị tu hành này làm gì tiếp tục?

Đáp: Sau khi dứt kiết sử, trong  lòng an vui, những ham muốn cơ bản coi như phần lớn tịch diệt. Người này, căn đối cảnh không còn mê muội như xưa. Phật Đạo gọi đó là dứt Nhuận Chi Vô Minh. giống như một cái cây cao to đã bị chặt hết cành nhánh... Phần việc còn lại, là cắt ngắn cây này cho thấp dần, sau đó đào tận gốc rễ để đem cái cây lên khỏi mặt đất, làm xong điều này, Phật Đạo gọi là dứt Căn Bản Vô Minh.

Bây giờ, cái cây trở thành những khúc gỗ. Từ khúc gỗ, người ta bỏ vỏ và giác cây. Phần lõi còn lại, để tạc thành một bức tượng như ý, người này tìm thầy để học nghề điêu khắc! ... Khi trở thành thợ điêu khắc chuyên nghiệp, Phật Đạo gọi người này đã chấm dứt Vô Minh Trụ Địa.

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Môn Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 13.02.2023

- Hỏi

“Tôi muốn hỏi thầy Lý Tứ một vài thắc mắc về việc tu hành, không biết thầy có vui lòng giải đáp hay không? Những câu hỏi này tôi đã hỏi nhiều vị tu hành nhưng họ trả lời tôi thấy chưa thoả mãn... Sau khi vào trang của thầy tôi có đọc những trả lời của thầy, phần lớn tôi đồng ý với cách giải thích của thầy. Tôi cũng nhận ra cách trả lời của thầy không áp đặt người nghe, không trả lời máy móc hay giáo điều mà phân tích vấn đề đến nơi đến chốn giúp người hỏi dễ thông cảm và giải toả thắc mắc trong lòng. Tôi mong các câu hỏi của tôi cũng được thầy trả lời thoả đáng.

1) Tôi nghe nói Phật giáo có nhiều pháp môn nhưng đem hỏi nhiều người, họ chỉ kể ra có ba hoặc bốn pháp môn như thiền, tịnh, mật, giáo. Tôi thắc mắc những pháp môn còn lại là những pháp môn gì xin thầy nói rõ?

2) Tôi thường thấy người tu hành coi pháp môn mình đang tu là nhất, thường chê bai người tu pháp môn khác là căn cơ thấp. Theo thầy thì bốn pháp môn pháp môn nào là hay nhất?

3) Vào trang của thầy tôi thấy thầy không theo tông phái nào cũng chẳng có pháp môn tôi rất lấy làm lạ, nếu không có tông phái thì ai là tổ, không có pháp môn thì công phu thế nào? Lý Gia có ăn chay giữ giới của Phật không?” 

(08/7/2020 10:45:12; Tâm Phước)

- Đáp:

Mình và BQT trang rất hoan hỉ khi nhận được thắc mắc về Phật đạo của bạn đọc... Từ lúc khai trương chuyên mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời” đến nay, chuyên mục của trang đã trả lời đầy đủ!!! ... Vì thế, bạn đọc không phải “e ngại chuyện đặt câu hỏi về Phật pháp!!!”. Xin được lần lượt trả lời câu hỏi:

41.1. Phật giáo có nhiều pháp môn... kể ra có ba hoặc bốn pháp môn như thiền, tịnh, mật, giáo... những pháp môn còn lại là gì...?

Trước khi trả lời câu hỏi này, mình xin giải thích sự khác biệt giữa “pháp môn” và “phép tu”!!! ... Nếu hiểu rõ thế nào là pháp môn, thế nào là phép tu, thì sẽ không còn thắc mắc chuyện pháp môn của Phật là những pháp môn nào!!!

● Pháp môn trong Phật đạo là gì???

Pháp môn trong Phật đạo là các bài pháp, các câu pháp, những lời khai thị, những lời giáo giới, v.v... được Phật dạy, để người tu hành nhân nơi bài pháp, nhân nơi câu pháp, nhân nơi lời khai thị, nhân nơi lời giáo giới ấy mở cửa tâm thức để giác ngộ, hoặc ứng dụng nhằm thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo!!!

Vì thế, Phật đạo có rất nhiều pháp môn, mỗi pháp môn chỉ phù hợp với một giai đoạn tu hành của một số căn cơ nhất định nào đó... Sau khi mở cánh cửa tâm thức đầu tiên từ một pháp môn (lời dạy) nào đó, người tu hành lại tiếp tục mở cánh cửa kế tiếp để bước vào đạo quả cao hơn bằng lời dạy phù hợp... Cứ thế, cho đến bao giờ người tu hành thành tựu đạo quả cao nhất (đạo quả Vô tu vô chứng, Nhiếp thọ chánh pháp vô dị biệt, hay Đẳng giác địa, v.v... ) người này mới hết dùng pháp môn để tu tập!!! ... Cho nên trong Tứ hoằng thệ nguyện của Bồ tát có lời nguyện sau: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”!!!

Các pháp môn trong Phật đạo cũng theo đó mà đặt tên, có pháp môn có tên gọi, có pháp môn không có tên vì mỗi người tu một cách, không ai giống ai... Lời dạy của Phật cũng vô số, cho nên không ai có thể thống kê hoặc đặt tên tất cả pháp môn trong Phật đạo!!! Ta có thể thấy một số pháp môn có tên tiêu biểu như: Bất nhị pháp môn, Không pháp môn, Vô tướng pháp môn, Giải thoát pháp môn, Tồi tà hiển chánh pháp môn, Đoạn mê khai giác pháp môn, Thân cận thiện hữu pháp môn, Vô tác pháp môn, Kim cang dụ pháp môn, Học vô học pháp môn, v.v...!!!

● Phép tu là gì???

Phép tu là cách thức người ta dùng sở pháp để tôi luyện thân tâm qua quá trình công phu, với ước mong từ sự tôi luyện này, sẽ đạt được điều gì đó theo quan niệm của phép tu ấy đề ra!!!

Theo mình biết, Phật giáo có các phép tu thiền, tịnh, mật như bạn đã nêu... Ngoài đời cũng có rất nhiều phép tu như Tinh khí thần, Điển quang, Xuất hồn, Luyện linh đan, Tập trung tư tưởng, Nhân điện, Yoga đại định, Trường sinh học, v.v...!!! ... Nói chung, phép tu cũng rất đa dạng và phong phú!!!

Như vậy ta có thể tạm kết luận, pháp môn của Phật đạo và phép tu là hai cách “học tập” và “tu luyện” khác nhau... mỗi thứ có một mục tiêu riêng!!! Để ứng dụng thành công một pháp môn của Phật đạo, người tu hành phải thực hiện đủ ba bước là “văn, tư, tu”!!! Để thực hiện một phép tu, người tu phải được thầy của họ dạy “cách sử dụng sở pháp” và “phép tắc công phu” của phép tu đó!!!

44.2. ... Thường... người tu hành coi pháp môn mình đang tu là nhất, ... Theo thầy thì trong bốn pháp môn, pháp môn nào là hay nhất?

Như đã trình bày ý nghĩa về pháp môn ở câu hỏi trên... Mỗi một pháp môn phù hợp với một số căn cơ nhất định, và cũng tuỳ vào mỗi giai đoạn tu hành, người tu ứng dụng một số lời dạy phù hợp để làm pháp môn phương tiện hướng đến mục tiêu trước mắt, nên không thể nói pháp môn nào hay nhất...!!! Giống như qua sông phải dùng thuyền, leo núi phải chống gậy... Khó có thể đánh giá, thuyền hay gậy phương tiện nào hay hơn!!!

44.3. Thấy thầy không theo tông phái nào cũng chẳng có pháp môn... nếu không có tông phái thì ai là tổ, không có pháp môn thì công phu thế nào? Lý Gia có ăn chay giữ giới của Phật hay không?

Bản thân mình từ lúc biết Phật pháp tới nay, không theo một tông phái nào, chỉ đọc kinh sách rồi ứng dụng lời dạy trong đó vào đời sống, nên mình không có Tổ riêng, mà chỉ lấy Phật và các Tổ có y bát làm kim chỉ nam để bản thân hướng theo!!!

Cách tu học của mình là: Sau khi học lời dạy của Phật xong, tư duy lời dạy đó cho thật thấu đáo, sau cùng ứng dụng ý nghĩa đã tư duy vào thực tế đời sống... Vì thế, cái được gọi là công phu của mình chính là việc áp dụng triệt để lời dạy của Phật vào mọi thời điểm trong cuộc sống, khi nào quên tự nhắc nhở bản thân, không có thời khoá hay tư thế cố định!!!
Về việc bạn hỏi, Lý Gia có ăn chay giữ giới của Phật hay không? Theo mình biết, hầu hết HĐ Lý Gia sau khi giác ngộ đều ăn chay!!! Chưa giác ngộ thì tuỳ!!!
Huynh Đệ của Lý Gia có rất nhiều người theo các tôn giáo khác nhau, không phải chỉ có Phật giáo, cũng có người không theo đạo nào... Vì thế, đối với người có đạo, họ tự giữ những điều mà đạo của họ yêu cầu!!! ... Nhưng, để hoàn thành mục tiêu vô lậu, hầu hết HĐ Lý Gia đều được “học tập thấu đáo” và “ứng dụng triệt để” ba học pháp vô lậu (tam vô lậu học) là: Giới vô lậu, Định vô lậu và Tuệ vô lậu vào đời sống!!!

Hy vọng, những giải thích ở trên giúp giải toả những thắc mắc mà bạn đã đặt ra!!! ... Chúc mọi người an vui, tinh tấn!!!

(11/07/2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Tại Tâm Hay Tâm Là Phật

MN 102 Lý Thanh Liêm 13.02.2023

(43) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI

CHỦ ĐỀ: PHẬT TẠI TÂM HAY TÂM LÀ PHẬT

( Fanpage LÝ TỨ )

Các bạn !!!

Trong tuần, BQT nhận được một số câu hỏi của Truong Vo Ky... !!! Vì không có dấu, nên khi đọc lên, không biết người hỏi là Trương Vô Kỵ hay là Trương Vô Ký !!!

Ha ha ha ha !!! Nếu là Trương Vô Kỵ, con trai của Võ Đang Ngũ Hiệp Trương Thúy Sơn và Thiên Ưng Tử Vi Đường Chủ Hân Tố Tố, cũng là giáo chủ đời thứ 34 của Minh Giáo... Xin cho Lý Tứ và HĐTM Lý Gia gởi lời thăm Quận Chúa Triệu Minh (Triệu Mẫn)...Và hỏi thăm sau bao năm xa cách, ngoài việc Trương Giáo Chủ đã luyện thành công tầng thứ 7 của Cửu Dương Chân Kinh oai trấn giang hồ là Càn Khôn Đại Nả Di Tâm Pháp, nay có còn luyện thêm tầng nào của Cửu Dương Chân Kinh Thần Công hay không ???

Bạn Truong Vo Ky có các câu hỏi như sau:

1) Thưa thầy Lý Tứ, tôi hay nghe người ta nói Phật tại tâm. Tôi thường xuyên tìm kiếm xem Phật ở đâu trong tâm của mình, nhưng tìm hoài mà cũng không thấy. Mong thầy Lý Tứ chỉ dùm Phật ở đâu trong tâm, cách tìm Phật trong tâm như thế nào?

2) Tôi cũng nghe các thầy dạy là vạn pháp duy tâm. Tôi cũng quan sát tìm xem pháp ở đâu trong tâm, nhưng chỉ thấy trong tâm toàn là thương ghét mà chẳng thấy pháp, mà không thấy pháp thì làm sao tu? Mong thầy giảng giải cho tôi biết vạn pháp duy tâm ý nghĩa ra sao? Cách tìm pháp trong tâm?

3) Có người bảo tôi, tu mà không có pháp thì không thành, phải đi tìm người biết pháp nhờ họ truyền chân pháp để về nhà tu, chân pháp như bí kíp võ công ai biết nó mới tu luyện được . Tôi xin hỏi thầy Lý Tứ, thầy có chân pháp không? Công phu bao nhiêu năm mới luyện thành chân pháp? Thầy có thể viết chân pháp thành chữ cho mọi người học được không? Xin cảm ơn thầy! 29/6/2020 14:15:15 - Truong Vo Ky.

Bạn Truong Vo Ki thân mến !!!

Về ba câu hỏi của bạn, mình xin được lần lượt trả lời như sau:

1) Thưa thầy Lý Tứ, tôi hay nghe người ta nói Phật tại tâm. Tôi thường xuyên tìm kiếm xem Phật ở đâu trong tâm của mình, nhưng tìm hoài mà cũng không thấy. Mong thầy Lý Tứ chỉ dùm Phật ở đâu trong tâm, cách tìm Phật trong tâm như thế nào?

Trả lời:

“Phật tại tâm”, đây là câu nói của dân gian !!! Dân gian coi Phật như một biểu tượng của thiện lương, của yêu thương, của đạo đức, của những gì tốt đẹp và cao quý nhất...!!!

Theo mình, khi dân gian nói “Phật tại tâm”, câu nói này nhằm giúp người từ bỏ các điều xấu ác, khơi dậy trong lòng những điều tốt đẹp...!!! Không hàm ý biểu người tìm thấy hình ảnh một ông Phật trong tâm như ta tìm thấy hình ảnh ông Phật trên bàn...thờ...!!!

Cũng theo mình, vì đây là câu nói dân gian, có nội dung khuyên người bỏ xấu tìm tốt, bỏ ác tìm thiện, nên câu nói này không mang trong nó nội dung hàm chứa chuyên môn hay kĩ thuật giúp người tu hành thành tựu các mục tiêu của Phật đạo đề ra...!!! Nếu là chuyên môn, kĩ thuật dạy người tu tập, người nói sẽ không nói “Phật trong tâm” mà chỉ nói rằng: “Tâm ấy là Phật” (tâm tức Phật)...!!! Câu này có nghĩa là, khi mê tâm ấy là chúng sanh, khi giác ngộ tâm ấy là Phật !!!

Vì thế, tu hành trong Phật đạo là công cuộc chuyển hoá nhận thức để biến “mê tâm” thành “giác tâm”, chứ không phải vọng khởi đi tìm một ông Phật trong tâm !!! Giống như người ta thắp đèn để bóng tối trở thành ánh sáng, chứ không phải đi tìm ánh sáng hoặc một hình ảnh cao quý nào đó trong bóng tối !!! Bóng tối dụ cho tâm mê, ánh sáng dụ cho tâm giác...!!!

2) Tôi cũng nghe các thầy dạy là vạn pháp duy tâm. Tôi cũng quan sát tìm xem pháp ở đâu trong tâm, nhưng chỉ thấy trong tâm toàn là thương ghét mà chẳng thấy pháp, mà không thấy pháp thì làm sao tu? Mong thầy giảng giải cho tôi biết vạn pháp duy tâm ý nghĩa ra sao? Cách tìm pháp trong tâm?

Trả lời:

Để giải quyết câu hỏi này của bạn, đầu tiên chúng ta phải thống nhất với nhau ý nghĩa của “chữ pháp” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì !!!??? Chừng nào, chúng ta chưa thống nhất với nhau ý nghĩa của chữ pháp, rất khó thông cảm khi giải thích !!!

Phần lớn người tu hành trong Phật đạo đều hiểu “chữ pháp” thành “chữ trần”...!!! Tức họ hiểu pháp là bình, bàn, li, chén, thế giới...v..v...!!! Trong khi đó, chữ pháp trong Phật đạo nhằm chỉ cho nhận thức các trần thông qua ý thức... Vì thế, pháp chỉ là nhận thức, quan điểm, quan niệm...v..v... về các trần chứ không phải các trần...!!!

Theo ý nghĩa trên thì, câu nói “vạn pháp duy tâm” chỉ đúng trong ý nghĩa, tâm mê nên nhận thức mê, nhận thức mê nên sinh các pháp, đây là cách nói có tính cách “bắt cầu”...!!! Để dễ hiểu hơn, người xưa thường nói: “Vạn pháp duy thức”, tức các pháp do thức mê sanh khởi... Đây là lí do vì sao câu nói “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ra đời !!!

Việc bạn hỏi “cách tìm pháp trong tâm”... Thiết nghĩ, những giải thích ở trên cũng đã giúp bạn nhận ra thực chất của “pháp là gì” ??? Pháp ấy từ đâu sanh” ??? Từ đó, không móng tâm đi tìm pháp, mà chỉ nên giác ngộ để “pháp không sanh” !!!

3) Có người bảo tôi, tu mà không có pháp thì không thành, phải đi tìm người biết pháp nhờ họ truyền chân pháp để về nhà tu, chân pháp như bí kíp võ công ai biết nó mới tu luyện được . Tôi xin hỏi thầy Lý Tứ, thầy có chân pháp không? Công phu bao nhiêu năm mới luyện thành chân pháp? Thầy có thể viết chân pháp thành chữ cho mọi người học được không? Xin cảm ơn thầy!

Trả lời:

- Quan điểm của ngoại đạo: Người tu phải có pháp hay một bí kíp nào đó, và dùng pháp hay bí kíp đó chuyên tâm tu luyện (công phu) sau đó mới thành tựu đạo của họ...!!!

- Quan điểm của Phật đạo: Muốn thành tựu các mục tiêu của Phật đạo đề ra, người tu hành phải giác ngộ... Giác ngộ đầu tiên, người ấy phải nhận thức rõ rằng, bản lai một hữu tình không tâm, không pháp, không ngã...!!! Tâm, pháp và ngã sở dĩ có hiện, vì tâm và thức đang mê...!!! Hết mê (giác ngộ) tâm, pháp, ngã trở về bản nguyên rỗng rang không tâm không pháp, không ngã của nó...!!!

Xét hai quan điểm trên, ta mới thấy rằng, Phật pháp là không pháp, Phật tâm là không tâm...!!! Phật thuyết pháp để giúp người giác ngộ, tìm về bản lai không tâm không pháp, chứ Phật thuyết pháp không phải cho người “có pháp để tu” như ngoại đạo...!!! Chính vì điều này, kinh Kim Cang Phật đã nói với Tu Bồ Đề: “Nếu ta có một chút pháp gì để thành Phật thì, Phật Nhiên Đăng không thọ kí cho ta thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”... Hoặc Lục Tổ sau khi sơ ngộ, cũng bảo rằng “bổn lai vô nhất vật”...!!!

Về việc giác ngộ trong Phật đạo, tuỳ căn tánh mà có chậm hay mau, gọi là đốn hay tiệm... Chậm hay mau là do căn tánh chứ không phải do pháp...!!! Tức bản thân một pháp, tự nó không có tính chất chậm hay mau !!! Giống như cùng nghe giảng một bài toán, có học sinh giải được ngay tại lớp, có học sinh về nhà chiêm nghiệm mới giải được... Giải được liền, hay sau đó mới giải được là do năng lực tiếp thu của học trò, chứ không phải do bài toán...!!! Như vậy điều bạn hỏi, phải tu luyện (công phu) mất bao nhiêu lâu mới luyện thành... giờ này có lẽ, bạn đã có thể trả lời câu hỏi này cho bản thân !!!

Bạn hỏi: Thầy có chân pháp không và các thắc mắc liên quan...!!! Như những gì đã giải thích ở trên, chắc giờ này bạn cũng đã nhận ra “Lý Tứ có chân pháp hoặc bí kíp gì hay không” !!!??? Kinh Đại Niết Bàn Phật cũng dạy: “Không có điều gì, ta nói với người này mà không nói với người kia, này các Tỳ Kheo”...!!! Theo lời dạy này thì, Phật pháp không có “mật pháp”, “bí kiếp”, “bí tịch, “mật kĩ” hay “chân pháp”... để tu luyện cho riêng một đối tượng nào đó như ngoại đạo !!!

Hy vọng, những giải đáp ở trên có thể giúp Truong Vo Ki giải toả các thắc mắc của mình...!!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn...!!!

Chúc Truong Vo Ki và bạn đọc an vui, hạnh phúc, tinh tấn !!!

02/07/2020

LÝ TỨ

Các bạn có thể gởi câu hỏi theo đường link sau:

👉‪‪‪ https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

- TRANH ĐÔNG HỒ VỀ ĐẾN MIỀN TÂY !!!

(43) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI CHỦ ĐỀ: PHẬT TẠI TÂM HAY TÂM LÀ PHẬT

(43) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI CHỦ ĐỀ: PHẬT TẠI TÂM HAY TÂM LÀ PHẬT

(43) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI CHỦ ĐỀ: PHẬT TẠI TÂM HAY TÂM LÀ PHẬT

Tác Phẩm Lý Tứ

Thiền Định Và Giải Thoát

MN 102 Lý Thanh Liêm 13.02.2023

-Hỏi

Tôi có đọc được một đoạn kinh của một vị thiền sư Thái như sau:

1) “Có hai con đường giải thoát, giải thoát bằng thiền, và giải thoát bằng trí tuệ..." ... Khi chưa đạt đích thì tất cả con đường đều có thể sai nên tôi có câu hỏi tò mò cho BQT Lý Gia:

2) Trong gia đình Lý Gia tu theo cách nào?

3) Giải thoát bằng trí tuệ có phải là chỉ tu trong đời sống hàng ngày (thế gian pháp) có Chánh niệm vô ngã có đúng không?

4) Mức độ Định tâm quân bình cả Giới và Tuệ không qua thiền Định mà tự nhiên vô tâm thì có đúng với cách tu của Ngài không? 

(20/06/2020 11:27:53; Lê Ngọc Tới)

- Đáp

Về các thắc mắc, mình tạm chia thành bốn phần và xin được trả lời từng phần như sau:

42.1 ... có đọc được một đoạn kinh của một vị thiền sư Thái như sau: “Có hai con đường giải thoát, giải thoát bằng thiền, và giải thoát bằng trí tuệ..."

Đối với phát biểu của vị thiền sư Thái nào đó rằng: “Có hai con đường giải thoát, giải thoát bằng thiền, và giải thoát bằng trí tuệ...” ...!!! ... Vì không biết vị thiền sư đó phát biểu câu ấy trong hoàn cảnh nào, đối tượng của lời phát biểu là ai... Và cũng không được nghe vị thiền sư ấy giải thích thế nào là “giải thoát bằng trí tuệ”, cũng như thế nào là “giải thoát bằng thiền” ...!!! ... Nên, mình không thể bình luận câu nói ấy được!!!

Vì rằng, muốn bình luận, hay đánh giá một phát biểu nào đó, phải hiểu rõ toàn bộ câu chuyện, phải biết được phát biểu đó nhằm mục đích gì, trong hoàn cảnh nào, tâm trí người phát biểu ra sao, đối tượng của người phát biểu là ai, v.v... Khi chưa có đầy đủ các thông tin đề cập ở trên, rất khó để đánh giá hay bình luận một câu nói không đầu không đuôi, chỉ được trích một đoạn ngắn... Mong bạn thông cảm!!!

Tuy nhiên, theo mình biết, để có thể đạt được “đạo quả giải thoát” trong Phật đạo... Người tu hành có ba lựa chọn phù hợp với ba xu thế tu hành, mà từ xưa đến nay, bất kì một ai tu hành trong Phật đạo đều phải tuân thủ, nếu muốn thành tựu đạo giải thoát... Ba lựa chọn đó là:

- Đối với Thanh văn thừa: Muốn có đạo quả giải thoát, Thanh văn thừa phải thành tựu Thất giác chi... Tu tập Thất giác chi đến khi thành tựu Xả giác chi, đạo quả giải thoát liền hiện...!!!

- Đối với Duyên giác thừa: Muốn thành tựu đạo quả giải thoát, Duyên giác thừa phải thấu suốt Thập nhị nhân duyên... Vị ấy chọn một chi trong mười hai chi, từ đấy quán luân chuyển hoặc quán hoàn diệt... Quán đến bao giờ tâm thức tịch diệt, đạo quả giải thoát hiện tiền...!!!

- Đối với Bồ tát thừa: Muốn thành tựu đạo quả giải thoát, vị Bồ tát ấy phải giác ngộ để chứng hai vô sanh... Sau khi chứng hai vô sanh, vị ấy thấy được bổn tâm bổn tánh... Sau khi “minh tâm kiến tánh” vị ấy biết rằng: Ngũ uẩn tự không, ba cõi chẳng thật... Từ đó chẳng cầu giải thoát, chẳng mong Niết bàn, tâm trí thảnh thơi, chẳng còn trói buộc, chẳng có phiền não, mộng qua sông đã tỉnh... Tạm gọi là giải thoát...!!!

Ba chọn lựa nêu trên đều bắt nguồn từ tuệ giác, tuệ giác ở đây là, thấu suốt con đường đưa đến đạo quả xuất thế (giải thoát) ... Trong quá trình văn, tư, tu để đến mục tiêu cuối cùng, các thiền chi như hỉ lạc, khinh an, nhất tâm sẽ xuất hiện!!! Các thiền chi xuất hiện chỉ là hệ quả tất yếu của việc ứng dụng tuệ giác như pháp!!!

Chính vì điều này, khi có người hỏi Lục Tổ về “thiền định và giải thoát”, Lục Tổ trả lời: “Thiền định và giải thoát là hai pháp, mà Phật pháp là pháp không hai”!!!

Ngày xưa, Thế Tôn đã có sáu năm tu các loại thiền định, và quả chứng cao nhất của thiền định cũng chỉ là “Phi tưởng, phi phi tưởng xứ định”. Đây là kết quả từ nỗ lực cao nhất của một hữu tình chuyên tâm thiền định, giống như người đứng trên đỉnh núi, toàn thân trong hư không, nhưng da bàn chân không thể rời đỉnh núi dài lâu... Vì thế, thiền định chỉ có thể cho ra thiền vị, thiền cảnh, thiền thú, v.v... chứ không thể cho ra đạo quả giải thoát... Và cuối cùng, Ngài đã từ bỏ con đường tu tập ấy!!!

Năm anh em Kiều Trần Như cũng nhân nghe Phật khai thị ở vườn Lộc Uyển bằng lời dạy bất hủ: “Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát...”. Nhờ dùng tuệ giác để tuệ tri thấu đáo lời dạy ấy mà chứng đạo quả giải thoát, chứ chẳng do tu tập...!!!

Gần nhất, Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác!!! Có 20 năm tu chỉ quán từ Thiên Thai Tông, nhưng không thể giác ngộ... Chỉ một lần gặp Lục Tổ, được Lục Tổ khai thị, nhân đó thấy được đạo, sau này viết bài Chứng Đạo Ca nổi tiếng...!!! Những câu chuyện vừa nêu, minh chứng cho con đường giải thoát chỉ có thể thành tựu từ tuệ giác (thấu suốt như pháp) chứ không do thiền định...!!!

42.2 Khi chưa đạt đích thì tất cả con đường đều có thể sai nên tôi có câu hỏi tò mò cho BQT Lý Gia: Trong gia đình Lý Gia tu theo cách nào?

Lý Gia học tập cả Giáo tông và Tâm tông...!!!

Với người chưa có cơ hội giác ngộ, người của Lý Gia lấy Giáo tông (tuệ giác) để làm khí cụ rèn giũa thân tâm chờ cơ hội giác ngộ, khi có được giác ngộ, người ấy biến Giáo tông thành trí tuệ...!!!
Với người có cơ hội giác ngộ, Lý Gia lập tức khai thị cho người ấy giác ngộ... Sau khi giác ngộ người ấy tiếp tục học Giáo tông để thành tựu thuyết thông!!!
Giải thoát bằng trí tuệ, chính là ứng dụng một trong ba lựa chọn được nêu ở câu hỏi thứ nhất...!!! ... Ứng dụng thuần thục lựa chọn đó, sẽ thành tựu vô niệm gọi là chánh niệm, và vô ngã là hệ quả tất yếu của vô niệm...!!!

42.4 Mức độ Định tâm quân bình cả Giới và Tuệ không qua thiền Định mà tự nhiên vô tâm thì có đúng với cách tu của Ngài không?

Lý Gia ứng dụng Tam vô lậu học (giới vô lậu, định vô lậu và tuệ vô lậu) ...!!! ... Khi thành tựu một học pháp thì cả ba học pháp tự thành tựu (tạm gọi 3 trong 1) ... Từ đó, khổ, kiết sử, phiền não, lậu hoặc và hư vọng tâm không sanh!!!

Tóm lại, phương cách tu tập của HĐ Lý Gia rất đa dạng, “thiên biến vạn hoá”!!! ... Tùy căn cơ, tùy trình độ, tùy chủng tánh, tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh, tùy địa vị, v.v... HĐ Lý Gia ứng dụng linh hoạt các phương cách khác nhau để thành tựu ba mục tiêu của Phật đạo đề ra là: Giác Ngộ - Giải Thoát - Trí Tuệ!!! ... Vì thế, trong một vài luận bàn, rất khó có thể nói hết HĐ Lý Gia tu tập như thế nào...!!!

Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Lê Ngọc Tới và bạn đọc có một vài cảm nhận sơ bộ về cách tu tập của HĐ Lý Gia... Cũng như nhận ra mối liên hệ giữa thiền và giải thoát!!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn!!! ...

(24/06/2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mươi Bảy Phẩm – Thất Giác Chi – Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Tinh Tấn Giác Chi

MB 1059 Trần Văn Thắng 22.03.2022

Hỷ giác chi - khinh an giác chi - tinh tấn giác chi là tướng của sự thân chứng. Ba pháp này xuất hiện và tồn tại như một tất yếu của giác ngộ. Thể của ba pháp này chính là giác ngộ.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Hỷ giác chi - khinh an giác chi - tinh tấn giác chi là tướng của sự thân chứng. Ba pháp này xuất hiện và tồn tại như một tất yếu của giác ngộ. Thể của ba pháp này chính là giác ngộ.

Hỷ, khinh an, và tinh tấn là hiệu ứng nhất định của thân và tâm khi hai pháp này không câu sanh lẫn nhau. Thuật ngữ Phật pháp gọi là quả vị ly thân, một dạng của ý sanh thân hay còn gọi là ‘tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân’.

Hai pháp này xuất hiện minh chứng cho sự thỏa mãn các điều kiện để thân tâm bước vào cảnh giới giải thoát. Trạng thái này là sự vỡ oà của tâm thức và bay bổng của thân, giống như con chim thoát khỏi chiếc lồng, tâm vỡ oà cho ra niềm hoan hỷ cực độ, niềm vui thắng diệu này chỉ có thể mô tả bằng cụm từ hỷ giác chi, vui vì nhờ giác ngộ mà mọi triền phược đã được tháo gỡ.

Bậc thánh lấy giải thoát mọi triền phược làm vui, năng thoát khỏi sở, sở không cột năng, năng sở tiêu vong nên vui, niềm vui này lẫn khuất đâu đó bóng dáng của thường và lạc. Nếu nhân sở pháp mà vui thì niềm vui thế tục ẩn chứa nhiều nguy cơ trong đó có vô thường và ngã.

  • Không ngã mà vui thì chẳng nên hỏi ai là người được vui, chẳng có ai hết, ở đây chữ ai đã được trả về cho thế tục, tốt hơn đừng có hỏi mà hãy nói là: Hỷ giác chi. Khinh an giác chi thuộc về thân, đó là sự bay bổng nhất định khi thân thoát khỏi vòng cương tỏa của sự câu chấp thường tình.

Thân là đối tượng của mọi dòm ngó trong đó có chính nó, ngó mình rồi ngó người tốt xấu đã cột trói hàng lũy kiếp khiến thân này bỗng dưng thành uẩn; một cái uẩn nào đó xa lạ khoác lên tự thân làm lu mờ bao nhiêu đức tính; hãy vứt cái uẩn hạ liệt này để tự cởi trói cho thân ra khỏi kiếp phù sinh của chính nó mà trong kinh Phật dạy: “Diệt sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ này Kiều Trần Như.”

Phải chăng Kiều Trần Như đã phải rơi lệ cung kính sụp lạy Thế Tôn khi cái vòng kim cô ngàn đời nay mới được tháo xuống, người xưa có câu kệ: “Sanh tử ư như bất quan hoài, án tố rô tố rô tất rị…!!!” để ghi lại một cảm nhận mà mọi ngữ ngôn đành bất lực, khinh an giác chi là như thế.

  • Tinh tấn giác chi chỉ là hệ quả của giác ngộ, đây là tính tất yếu của sự thành công, như con chim bay ngàn dặm nay sắp về đến tổ; cái tổ nguyên sơ ngày nào từ chốn này chư Đại Bồ Tát bước ra làm công hạnh giáo hóa chúng sanh đang lồ lộ trước mặt không bước tiếp thì đâu gọi là tinh tấn. Hỷ giác chi, khinh an giác chi, tinh tấn giác chi chỉ là ba mặt của một vấn đề.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mươi Bảy Phẩm – Thất Giác Chi – Niệm Giác Chi

MB 1059 Trần Văn Thắng 22.03.2022

Có lẽ trong 37 phẩm không pháp nào được đề cập nhiều như niệm, chữ niệm được nhắc đến trong từng mỗi công đoạn điều này nói lên niệm xứ căn bản được duy trì suốt quá trình tu hành.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Có lẽ trong 37 phẩm không pháp nào được đề cập nhiều như niệm, chữ niệm được nhắc đến trong từng mỗi công đoạn điều này nói lên niệm xứ căn bản được duy trì suốt quá trình tu hành.

  • Khác với Bồ Tát, hàng nhị thừa y thánh giáo thành thánh quả nên từ thân tướng đến học pháp nhất nhất y nơi thánh ngôn.

Điều này được Phật xác định là nhị thừa “y nơi người khác được quả,” có nghĩa nhị thừa không thể tự mình dùng trí tuệ giác ngộ mà phải nương nơi thánh giáo.

Y chỉ vào thánh ngôn cũng như thánh tướng và thánh luật không được sai khác, vì thế nhị thừa phải là tướng sa môn, giới luật cụ túc. Học pháp y thánh giáo, và sự rập khuôn này là biểu mẫu của Tam Bảo, làm nơi quy ngưỡng cho ba cõi.

Sự thù thắng này đã làm cho ngoại đạo run sợ không chỉ nơi nghĩa lý siêu việt mà còn là chuẩn mực bởi thánh hạnh.

  • Thế nên, đối với nhị thừa học pháp là cơ sở tin cậy cho sự thân chứng, vì thế những học pháp của Thanh Văn thừa mang tính quy phạm.

Ngay bài học đầu tiên về niệm xứ Phật giảng dạy rất cụ thể về thân ngũ ấm: Sắc thọ tưởng hành thức mà không nói thọ tưởng hành thức là tâm; bởi tính chất của thọ tưởng hành thức dễ nhận ra và phân chia để yểm ly từng món một, cho nên nhị thừa đặt niệm xứ vào vị trí tối thượng từ  đây gặt hái thành quả của mình.

Chính nhận thức mang tính hình mẫu này nên nhị thừa giác ngộ bằng sự thực chứng trên niệm xứ không thông qua suy luận, vì vậy trong thất giác chi nhị thừa đặt niệm giác chi lên đầu. Đoạn kinh sau thể hiện sự khuôn mẫu trong cách giáo nhị thừa:

“Này các Tỳ Kheo, hãy là người thừa tự pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Người và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật."

Và này các Tỳ Kheo, nếu các Người là những người thừa tự tài vật của Ta, không phải là những người thừa tự pháp, thì không những các Người trở thành những người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự pháp," mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: "Cả thầy và trò đều là những người thừa tự tài vật, không phải là những người thừa tự pháp."

Và này các Tỳ Kheo, nếu các Người là những người thừa tự pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật, thời không những các người trở thành những người mà người ta nói: "Cả Thầy và trò là những người thừa tự pháp, không phải là những người thừa tự tài vật," mà cả Ta cũng trở thành người mà người ta nói: "Cả Thầy và trò đều là những người thừa tự pháp, không phải là những người thừa tự tài vật."

Do vậy, này các Tỳ Kheo, hãy là những người thừa tự pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Người và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật.”[[1]]

Sau đây là đoạn kinh văn chính ngài Xá Lợi Phất tuyên nói về học pháp:

“Và như thế nào, vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly? Này chư Hiền, vị Đạo Sư sống viễn ly các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỷ Kheo có ba trường hợp đáng được tán thán.

Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các Thượng tọa Tỳ Kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các Thượng tọa Tỷ Kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các Thượng tọa Tỷ Kheo đáng được tán thán.

Này chư Hiền, các Thượng tọa Tỳ Kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán. Này chư Hiền, các Trung tọa Tỷ Kheo... (như trên)... Các vị mới thọ Tỳ Kheo có ba trường hợp đáng được tán thán. Vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Đó là trường hợp thứ nhất, các vị mới thọ Tỳ Kheo đáng được tán thán. Và những pháp nào vị Đạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ. Đó là trường hợp thứ hai, các vị mới thọ Tỳ Kheo đáng được tán thán. Và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về viễn ly. Đó là trường hợp thứ ba, các vị mới thọ Tỳ Kheo đáng được tán thán. Này chư Hiền, các vị mới thọ Tỳ Kheo do ba trường hợp này, đáng được tán thán.

Này chư Hiền, như vậy là những trường hợp vị Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly.”[[2]]

Đoạn kinh này mô tả một Thanh Văn đệ tử quán niệm xứ:

 “Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt: "Trong thân này, đây là  tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu." Này các Tỳ Kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi." Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, một Tỳ Kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt:  Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu."

Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”[[3]]

Đọc các đoạn kinh trích ở trên có lẽ dễ dàng nhận ra tính khuôn mẫu và cách thức tu tập của một Thanh Văn. Sự cụ thể đến từng chi tiết trong lời giảng đã khái quát phần nào từ cách giáo dạy đến học tập, cho nên chữ thánh phong tặng cho Thanh Văn đúng với thực tế của cái gọi là “khuôn vàng thước ngọc” trong đời sống và tu hành.

Đoạn kinh trên cho thấy Thanh Văn quán thân qua từng chi tiết, đặt các thân phần trước mặt rồi quán sát tường tận, sự tường tận giúp một Thanh Văn có được sự nhàm chán thân cao độ; nhàm chán là cơ sở tốt nhất để yểm ly, chính sự yểm ly rốt ráo này các pháp cơ hiềm thế gian được đoạn trừ; đoạn trừ cơ hiềm thế gian là một trong những điều kiện thoát ra khỏi cộng nghiệp, còn lại biệt nghiệp chỉ cần tinh cần trong thánh hạnh đến chuyên nhất sẽ đoạn trừ và giác ngộ chỉ là hệ quả tất yếu.

“Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ (dứt cộng nghiệp). Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh (dứt biệt nghiệp). Như vậy, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo tu tập thân hành niệm.”

  • Tóm tắt có thể coi Bồ Tát với Thanh Văn là hai mặt tích cực trong cách giảng dạy và tu hành.

  • Thanh Văn thiên về hình tượng cụ thể còn Bồ Tát thiên về trí tuệ, đối lập bất đắc dĩ này tạo ra sự đa dạng của Phật giáo. Nếu đặt thêm Bồ Tát Nhất Thừa và Duyên Giác lên một mặt bằng để nhìn ngắm, thì có lẽ không có một tôn giáo hay học thuyết nào ở đời lại phong phú trong cách giáo dục như Phật pháp.

Chính sự vượt thoát về cách thức giáo hóa này mà sau 2.500 năm, danh hiệu Đại Từ Đại Bi của Phật vẫn còn tồn tại mãi trong lòng mỗi chúng sinh.

[[1]] Trích kinh Thừa Tự Pháp – HT. Thích Minh Châu dịch.

[[2]] Trích kinh Thừa Tự Pháp – HT. Thích Minh Châu dịch

[[3]] Trích kinh Thân Hành Niệm – HT. Thích Minh Châu dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mươi Bảy Phẩm – Thất Giác Chi – Trạch Pháp Giác Chi

MB 1059 Trần Văn Thắng 22.02.2022

"Trạch pháp giác chi’ là nhân nơi một pháp, được bậc trí giả (Phật, Bồ Tát) giản trạch, người tu hành thấy được bản nguyên của niệm xứ, lấy đây làm tiền đề để dẫn dắt nguồn tâm thông qua sáu chi phần còn lại vào chỗ tịch diệt, rốt ráo niệm xứ ban đầu đã chọn (một trong tứ niệm xứ).

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Trạch pháp giác chi là giác ngộ một chi phần trong tổng thể các pháp giải thoát của Phật giáo.

Phật giáo có vô lượng môn giải thoát. Trong quá trình giác ngộ tự thân mỗi thừa chỉ giác ngộ một phần có liên hệ đến mình.

Có nhiều cách giác ngộ, trạch pháp là một cách trong những cách đó; trạch pháp giác chi, phần lớn thuộc Bồ Tát thừa, nếu là nhị thừa thì thuộc hàng A La Lán hồi tâm, tức là A La Hán có phát tâm Bồ Tát. Hai chữ trạch pháp có nghĩa mổ xẻ, phân tích một pháp hay giản trạch một vấn đề.

Trạch pháp thuộc về chân giáo, tức là phân tích một pháp đến sự thật (chân lý) mới thôi. Khi pháp sư giản trạch một pháp, tâm ý người nghe chuyển biến theo từng lời từng ý, chấm dứt lời pháp, người thính pháp cũng dứt nguồn tâm ngộ bổn lai thanh tịnh. Tâm ý chuyển biến theo lời thuyết, giống như chiếc thuyền trôi theo dòng chảy cuối cùng là bến bờ. Do đó có thể hiểu trạch pháp giác chi là nhân nơi giản trạch một pháp mà giác ngộ.

Kỹ thuật thuyết pháp và thính pháp này đòi hỏi người thuyết phải thiện xảo trong ngôn thuyết, người nghe tâm trí nhạy bén, nói chung giữa thuyết pháp sư và người thính pháp phải đủ công đức và trí tuệ; một bên nào đó thiếu một trong hai điều kiện này thì buổi thuyết pháp trở thành ngôn giáo. Thông thường phần thiếu thuộc về người nghe, vì pháp sư là Phật hoặc các Đại Bồ Tát, thì đương nhiên thiện xảo về phương diện này.

Buổi thuyết pháp như vậy người tu hành gọi nôm na là khai thị; khi khai thị phải gồm đủ một số điều kiện khế căn, khế cơ, hợp thời, trong kinh Phật thường có cụm từ “Bồ Tát thuyết pháp không lỗi thời” để chỉ trường hợp này.

Ví dụ như trường hợp Phật thuyết mười sáu pháp quán cho bà Vi Đề Hy, khi chấm dứt ngôn thuyết bà Vi Đề Hy chứng vô sinh pháp nhẫn; hoặc vua Dạ Xoa là La Bà Na trong thành Lăng Già dứt thấy nghe ngộ các pháp do tự tâm hiện.

Đoạn kinh sau minh họa một trong những kỹ thuật thuyết pháp và thính pháp:   

“Các vị Bồ Tát, liền bạch Phật rằng: "Lạy đức Thế Tôn! Đức Phật nước con, chỉ nói nhất thừa, tại sao Như Lai, lại nói tam thừa?"

Khi đó Thế Tôn, dùng trí vô ngại, bảo các Bồ Tát, các ngươi hôm nay, vì lợi chúng sinh, hỏi ta nghĩa đó, nghe kỹ! nghe kỹ! Các Thiện nam tử!

Ví như một người, mà có ba tên, khi còn thơ ấu, gọi là tiểu đồng, lúc hai mươi tuổi, gọi là trung niên, quá tám mươi tuổi, gọi là lão niên. Ta thuyết tam thừa, cũng lại như thế, kẻ bé tâm nhỏ, là người Thanh Văn, ta thuyết Tiểu thừa; vì người trung tâm, là bậc Duyên Giác, ta nói Trung thừa; vì đại Bồ Tát, tâm người đạo lớn, ta nói Đại thừa.

Các Thiện nam tử! Các ngươi nghe đây, lý không hai cực, về cùng một nẻo, giải tuy khác luật, chung quy nhất quán, lý là nhất thừa, phân ra thành ba, Thanh Văn, Duyên Giác, đều nhập Đại thừa, như Đại thừa đó, tức là Phật thừa, cho nên tam thừa, tức là nhất thừa.

Khi thuyết pháp này, trong hội tất cả, mười ngàn Bồ Tát được Vô sinh nhẫn, tám trăm Tỷ khưu được quả La Hán, hai muôn người, trời được pháp nhãn tịnh, tám trăm muôn người phát tâm Bồ Đề.”[[1]]

Đoạn kinh trên là một điển hình của kỹ thuật thuyết pháp, một trong những kỹ thuật tối ưu mà Phật giáo gọi là thiện xảo phương tiện hay thiện xảo ngôn thuyết.

Trước khi thuyết Phật nhấn mạnh hai chữ nghe kỹ! nghe kỹ! Hai tiếng này từ kim khẩu Phật Thích Ca Mâu Ni có tác động mãnh liệt khiến người nghe nhất tâm hướng trí tuệ về Phật; chưa thuyết niệm tưởng đã thanh tịnh, phần còn lại Phật chỉ cần giản trạch nghĩa lý dẫn dụ tâm người nghe từ dị biệt về nhất thể bằng thí dụ ba thừa như ba giai đoạn của một con người, rốt ráo chuyển tâm ý đến chỗ đồng quy.

Chấm dứt nguồn tâm bằng một nhát kiếm nhất thừa, đoạn dụ này tuy ngắn nhưng tâm ý thính giả có chỗ hội quy. Đoạn kinh giản trạch ý nghĩa ba thừa rất minh bạch: “Các Thiện nam tử! Các ngươi nghe đây, lý không hai cực, về cùng một nẻo, giải tuy khác luật, chung quy nhất quán, lý là nhất thừa, phân ra thành ba.”

Đoạn kinh cực kỳ xảo diệu khiến mọi đối đãi nhị nguyên tiêu băng. Tuy ngôn thuyết có đầu đuôi nhưng ý nghĩa rốt lại thanh tịnh. Cũng là những văn tự đó, cũng là cách giản trạch đó, nhưng nó bao hàm cả giáo, thiền, lẫn tịnh; người trí bén được thiền (mười ngàn Bồ Tát được vô sinh nhẫn); kẻ chậm lụt được giáo (tám trăm Tỳ Kheo được quả A La Hán); người các căn phóng dật được pháp nhãn tịnh (hai muôn người, trời được pháp nhãn tịnh); người giải đãi phát Bồ Đề tâm (tám trăm muôn người phát tâm Bồ Đề).

Như vậy mới gọi là thuyết pháp! Đặc biệt, đối với một thuyết pháp sư lời thuyết bình đẳng không chủ trương thiền, giáo hay tịnh, chỉ vì căn cơ người nghe sai khác cho ra chỗ thể nhập sai khác. Chỉ thú của Phật pháp là ở chỗ này, giống như trận mưa pháp, cây cỏ tùy loài mà hưởng lợi ích. “Bồ Tát thuyết pháp không lỗi thời” là như vậy, hiện tiền không chứng mai mốt cũng được pháp lành, đời này không ngộ đời sau chẳng mất.

Tóm lại ‘trạch pháp giác chi’ là nhân nơi một pháp, được bậc trí giả (Phật, Bồ Tát) giản trạch người tu hành thấy được bản nguyên của niệm xứ, lấy đây làm tiền đề để dẫn dắt nguồn tâm thông qua sáu chi phần còn lại vào chỗ tịch diệt, rốt ráo niệm xứ ban đầu đã chọn (một trong tứ niệm xứ).

Tính nhất quán của 37 phẩm tạo thành một chuỗi pháp liên kết đưa người từ phàm phu vào địa vị bậc thánh. Nếu không am tường chuỗi quy trình này hoặc thiếu tính nhất quán trong các thuật ngữ sẽ đưa đến sự lộn xộn trong các niệm và cách quán. Tức là thiếu định hình trong chuỗi liên kết và thiếu định hướng cho từng khâu riêng lẻ, giống như người thợ khoan vách đá, nếu không định hình được loại mũi khoan và độ cứng của đá, không định hướng được vị trí cần khoan, bạ đâu khoan đấy sẽ nhọc sức, mòn mũi khoan, lại lem nhem phiến đá và cuối cùng lỗ khoan không thành, tức không thể xuyên thủng vị trí cần thiết.

Như người cưa cây lấy lửa, thời gian phải liên tục, cây không thấm ướt, vị trí cưa không thay đổi, đủ nguyên liệu bắt lửa, đến thời kỳ nhất định lửa sẽ cháy lên.

Trạch pháp đối với người tu hành cũng vậy, đây là tiền đề của diệt đế đồng thời cũng là sự kế thừa của những phẩm trợ đạo phía trước. Chính những phẩm trước đúng đắn sẽ kết tụ thành công đức và trí tuệ cho sự giác ngộ hiện tại.

[[1]] Trích kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật –HT. Thích Trung Quán dịch.

(còn nữa)

Subscribe to