Sinh Hoạt Lý Gia

Tổng Kết Chủ Đề: Trạch Pháp Giác Chi

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò chơi trí tuệ số 01.2020 - Có thể thấy, hầu hết những câu trả lời của HĐ lần này gần như không khác biệt nhau nhiều lắm…Điều này cho thấy, mọi người nắm vững hai yêu cầu trọng tâm của câu hỏi: Thế nào là “Trạch pháp” và thế nào là “Trạch pháp giác chi” !!!

Các bạn !!!

Trong thời gian TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 01/2020 diễn ra, BQT đã nhận được trả lời của: Lý Anh Tỵ, Lý Tâm Pháp, Nguyễn Quang Khánh, Lý Liêm, Lý Viết Uyên, Lý Nguyên Trang, Lý Thái Đăng, Lý Giác Thư, Lý Ngộ Tuấn, Lý Thiện Huệ !!!

Theo nhận xét cá nhân của mình, hầu hết những câu trả lời của HĐ lần này gần như không khác biệt nhau nhiều lắm…Điều này cho thấy, mọi người nắm vững hai yêu cầu trọng tâm của câu hỏi: Thế nào là “Trạch pháp” và thế nào là “Trạch pháp giác chi” !!!

Tuy nhiên, khi đi vào phân tích, lập luận để bảo vệ quan điểm thì, trong các bài viết hầu như thiếu chặt chẻ, sức thuyết phục chưa cao, đôi khi không bám sát các yêu cầu của câu hỏi đặt ra… Nói chung, sức thiện xảo từ các câu trả lời còn nhiều hạn chế !!!

Tất nhiên, những khiếm khuyết vừa nêu nhất định sẽ được chúng ta khắc phục trong thời gian tới !!! Vì rằng, hiểu vấn đề là một chuyện, sử dụng văn chương để mô tả một cách thiện xảo điều ta hiểu là một chuyện !!! Khác hơn, viết văn, tạo luận…v..v…thuộc về “tay nghề” !!! Mà đã nói đến “tay nghề” là phải có quá trình học tập và rèn luyện, chẳng mấy ai sinh ra tự làm được ngay !!! Đây là giai đoạn chúng ta đang học hỏi và rèn tay nghề… Vì thế, viết hay, viết dở…lúc này, chưa phải là điều gì quan trọng lắm !!!

BQT xin tán thán tất cả các HĐ đã gởi bài tham gia TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ lần này !!! Xin hẹn gặp mọi người trong TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 02/2020 !!!

Để giúp các bạn có cơ hội tham khảo, so sánh, đánh giá bài viết của bản thân và trả lời của các HĐ khác, nhằm học tập và thấy được điều hay, cái dở của nhau…BQT xin chuyển đến các bạn một số bài viết của Trò Chơi Trí Tuệ lần này !!!

LÝ TỨ

1. Bài viết của Lý Thiện Huệ

Thầy kính!!!
Con xin đảnh lễ Thầy ba lạy!!!
Con Xin trả lời các câu hỏi:

1) Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

�Trả lời:
Theo con, bản chất của một pháp chẳng phải chánh hay tà, mà phụ thuộc vào động cơ của người thực hiện pháp ấy. Ví như con dao,chẳng phải thiện cũng chẳng phải ác. Thiện hay ác phụ thuộc vào người sử dụng con dao ấy, tức phụ thuộc vào mục tiêu, động cơ…người sử dụng. Vào tay người “thợ lành nghề” thì con dao được xem là thiện, nhưng cũng con dao ấy, nếu vào tay của kẻ cướp thì trở thành bất thiện pháp.

Trạch pháp và trạch pháp giác chi, cũng đồng ý nghĩa là “giản trạch một pháp”, nhưng kết quả thì có sai khác. Với người thế gian, thì trạch pháp giúp người này tăng trưởng kiến thức thế gian, vì nó thuộc về thế gian pháp. Nhưng với người có tâm cầu đạo giác ngộ và người đã giác ngộ trong Phật Đạo, thì “Trạch Pháp” bấy giờ được gọi là “Trạch pháp giác chi”, là vì hành động này nó sẽ giúp người giác ngộ, và viên mãn trí tuệ trong Phật Đạo, thuộc về xuất thế pháp.

Vì vậy khi phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không?!! Nó còn phụ thuộc vào mục tiêu của “chủ thể” phân tích.

Đồng một pháp, nhưng với người chưa giác ngộ, người không có tâm cầu đạo giác ngộ, thì sự phân tích nàychỉ được gọi là kiến giải, thuộc về thế pháp. Vì kết quả đạt được của sự phân tích này, ngoài sự tăng trưởng kiến thức thế gian ra, không còn tìm thấy được sự lợi ích nào khác sự an lạc của Đạo Giác Ngộ.

Ví như người mù bẩm sinh, được nghe kể hoặc học lóm màu sắc. Và sau đó, kẻ mù này dùng mọi sự hiểu biết của mình để tư duy về màu sắc, theo như những gì đã được nghe và được học. Nhưng kết quả cuối cùng trong sự nhận thức cũng chỉ là một màu u tối, bằng chứng là cho dù anh mù này có nổ lực giảng nói cả cuộc đời về màu sắc, cũng không thể chỉ rõ được các màu sắc đặt trước mặt anh ta.

Cũng một pháp, nhưng với vị tu hành có tâm cầu Đạo, thì vị này sẽ tiến gần đến sự Giác Ngộ và với những vị tu hành đã Giác Ngộ trong Phật Đạo, sẽ giúp vị này thành tựu các Tam muội môn, và cũng sẽ thành tựu trí tuệ trong vị lai.

�2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

Trả lời:
Theo con, khi phân tích một pháp (bất kì) với điều kiện, mục tiêu của pháp cần phân tích nhằm hướng đến giúp mình Giác Ngộ, hoặc giúp người Giác Ngộ trong Phật Đạo, thì sự tư duy, phân tích như vậy, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi.

Trạch Pháp Giác Chi là một thuật ngữ trong Phật Đạo, là một chi phần trong thất giác chi, trong ba mươi bảy phẩm gồm: Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, Thất giác chi và sau cùng là Bát chánh đạo.

Trạch Pháp Giác Chi có nghĩa là giản trạch một pháp nhằm đưa đến Giác Ngộ và viên mãn trí tuệ trong Phật Đạo, là sự kế thừa từ sự nhận thức nào đó mà nguyên liệu đầu vào bắt đầu từ tứ niệm xứ. Đây được xem là quy trình bắt buộc cho những ai có tâm cầu Đạo giác ngộ, đạo giải thoát và đạo trí tuệ. Ngoài bốn niệm xứ này ra, sẽ không còn niệm xứ khác để vị tu hành đạt được cứu cánh Giác Ngộ trong Phật Đạo. Vì chúng sanh có khổ cũng không nằm ngoài bốn món này, và cũng từ bốn niệm xứ này mà giúp mình Giác Ngộ. Việc này cũng giống như, chúng ta đau ở đâu, phải y nơi đó mà điều trị, không thể đau cái răng mà mang cái chân ra đắp thuốc rồi mong lành bệnh.

Thân, thọ, tâm, pháp là bốn niệm xứ bắt buộc người tu hành phải tư duy phân tích tìm đến cứu cánh của sự Giác Ngộ. Tuy nói bốn, nhưng với vị tu hành mong cầu sự Giác Ngộ, chỉ cần Giác Ngộ một niệm xứ thì các niệm xứ kia cũng tuần tự Giác Ngộ, đây cũng là nét đặc trưng trong Phật Đạo. Vì tuy bốn món, nhưng chỉ một thức nhận biết…Và kết quả (cứu cánh) của việc phân tích này cho ra thành quả “an lạc, thanh tịnh” của tự thân trong trong Phật đạo.

Ví như Tâm chỉ là hiệu ứng tình cảm, do các căn xúc đối với trần cảnh trong lúc mê mà sanh khởi. Và tâm này được gọi là hư vọng, hư vọng là vì nó không thật, bằng chứng là trước khi xúc đối tìm tâm không thấy…và sau khi xúc đối một thời gian nó cũng tự mất, nhường cho một thứ tâm hư vọng khác… cứ như thế mà tâm thức khổ vui sanh diệt mãi không dừng…Trong khi ấy, nếu vị tu hành bình tâm suy xét, do đâu mà tâm hiện hữu..??? Sanh diệt mãi không dừng..???. Phân tích đến tận nguồn cơn mới thấy rằng, chỉ vì mê mờ khi các căn xúc đối, mà tâm hay sanh khởi, dứt mê mọi thứ lụy phiền chấm dứt, bấy giờ vị tu hành mới nhận ra “không tâm” đích thị an lạc Niết bàn…

Hoặc với Pháp niệm xứ, nếu vị tu hành biết rõ Pháp là đối tượng của ý căn, sanh ra các nhận thức, quan niệm, suy lường…khi tiếp xúc với trần cảnh… chỉ cần dừng duyên “phân biệt” trước thấy nghe hay biết, thì tâm thức bỗng dưng dừng lặng… an lạc thanh tịnh niết bàn tự hiện. Đây là hệ quả tất yếu của quá trình tư duy như pháp, và được gọi là “Trạch pháp giác chi”. Tức giản trạch một xứ trong tứ niệm xứ để đạt đến cứu cánh của Giác Ngộ.

Trên đây là những gì hiểu biết của con. Kính Thầy chỉ dạy thêm cho con!!!
Con chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, trụ thế dài lâu nơi thế gian, cho HĐTM chúng con và hữu tình được hưởng nhiều lợi ích!!!
Con, Lý Thiện Huệ

2. Bài viết của Lý Thái Đăng

Kính Thầy !!!
Kính thưa các Huynh Đệ Tỷ Muội (HĐTM) !!!
Con xin trả lời câu hỏi TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 01/2020

1) Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v… Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

Trả lời:
Để trả lời câu hỏi này trước hết ta cần thống nhất khái niệm “Thế nào là một Pháp”?

“Pháp” (trong Phật đạo) là sản phẩm của nghĩ suy, có thể nhận ra bằng các dấu hiệu: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh; như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán”… “Ba duyên (căn, trần, thức) hòa hợp… thì sanh pháp “, “Các pháp do duyên sanh, pháp theo duyên mà diệt…”vv…

Có thể thấy, Pháp chỉ là những quan điểm, quan niệm, đánh giá, kết luận… của ý thức đối với Tứ niệm xứ (thân thọ tâm pháp) chứ Pháp không phải … là Vật… ngoài… Tứ niệm xứ.

Vậy, khi ta “Phân tích một pháp bất kỳ” để giải quyết điều gì?

Phật đạo được coi như một nền giáo dục làm thay đổi nhận thức, Tứ đế như bốn cấp học, 37 phẩm như 37 môn học được sắp xếp như những bậc thang từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu. Phương pháp học tập lấy Văn – Tư – Tu làm quy trình xử lý nhằm thay đổi nhận thức trong suốt quá trình học tập Tứ đế.

* VĂN: Nguyên liệu đầu vào là một Pháp bất kỳ (trong 37 phẩm ví dụ thân niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ…vv).
* TƯ: Công nghệ xử lý, vận dụng tất cả những khả năng để tư duy, phân tích, đối chiếu, so sánh, giảng giải… để xử lý nguyên liệu đầu vào (từng phẩm trong 37 phẩm).
* TU: Cho ra sản phẩm là sự thay đổi nhận thức qua từng môn học, lớp học, cấp học. (Nhận thức thay đổi, hành vi thay đổi và đời sống thay đổi,… hết khổ, dứt tập, chứng diệt, tu đạo… có được niềm vui, an vui, mãi vui, tự tại..vv).

Quy trình Văn – Tư – Tu được ứng dụng trong suốt quá trình học tập nhằm thay đổi nhận thức… Hết khổ, Dứt tập, giải quyết được Nhuận chi vô minh; Chứng diệt giải quyết được Căn bổn vô minh và Tu đạo giải quyết nốt Vô minh trụ địa.

Nhưng quá trình Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không? Thì ta cần đối chiếu “sự phân tích” đó có phẩm Huệ Lực tham gia hay không?

Huệ lực là phẩm chất đặc biệt của (giác), nó có tác dụng làm thay đổi căn bản về chất của người tu tập, Huệ lực phát sanh là thành quả của cả một quá trình học tập các môn học trước đó (Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực).

Sự phân tích một pháp bất kì dựa trên Tứ Đế, 37 Phẩm khi chưa có Huệ lực phát sanh và tham dự, thì mọi sự phân tích như vậy, chưa được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi”, mà chỉ là phân tích một pháp bất kỳ (chia chẻ văn tự) theo ý nghĩa thế gian.

�2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

Trả lời:
Phân tích một pháp (bất kì) để được gọi là Trạch Pháp Giác Chi, ta cần phải bàn đến vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của Trạch Pháp Giác Chi và rút ra ý nghĩa của nó.

“Trạch Pháp Giác Chi” là phẩm kế tiếp sau phẩm Huệ lực. Nhờ có Huệ lực (giác) tham gia mà sự phân tích lúc này đã thay đổi bản chất có Giác có Quán, với tên gọi mang ý nghĩa mới là “Trạch Pháp Giác Chi”, Giác Quán sẽ kích hoạt chuyển động toàn bộ Thất giác chi (Trạch pháp giác chi; niệm giác chi, khinh an giác chi, hỷ giác chi, tinh tấn giác chi, định giác chi và xả giác chi). Quy trình hoạt động Thất Giác Chi trở thành ‘Tam Muội Môn” theo quy trình “Có giác có quán, không giác có quán và không giác không quán”. Bất động giải thoát là kết quả (cứu cánh) thành tựu của Tam Muội Môn; của Xả Giác Chi hay khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa bằng khởi đầu Trạch Pháp Giác Chi.

“Thất giác chi” cũng được ví như cầu nối độc đạo giữa “Kiến đạo vi” và “Tu đạo vị” vì vậy muốn vào Bát Chánh Đạo không thể, không trải qua Thất Giác Chi.

“Thất giác chi” cũng như là một nơi trung chuyển giữa hai cảnh giới thế gian và xuất thế gian; như là một bộ lọc gạn đục nguồn tâm ô nhiễm, trả lại bản thể chơn như của hữu tình…

“Thất Giác Chi” ví như là hệ thống kiểm soát an ninh của tòa nhà Bát Chánh Đạo, có nhiệm vụ gạt bỏ những ai còn mang theo “hàng cấm, hàng nhái…” thì ngăn chặn không cho đi vào tòa Bát Chánh, như vi phạm quy định “Không bốn tướng” (nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả); “ Không tứ cú” (có, không, cũng có cũng không, và chẳng có chẳng không); “Không bốn bệnh” (tác, nhậm, chỉ, diệt); “Không ba thời” (quá khứ, hiện tại, vị lai) vv…

Hệ thống kiểm soát an ninh của tòa nhà Bát Chánh Đạo có bảy công đoạn kiểm tra, rà soát như một băng chuyền tự động, soi rọi phát hiện mọi vật cấm, các loại vi rút, vi trùng, bệnh dịch…vv…gây ô nhiễm môi trường văn hóa vô lậu, trong đó “Trạch Pháp Giác Chi” được coi là giai đoạn (tự giác) đầu tiên dành cho “Hành khách” tự phân tích tìm hiểu quy tắc đề ra, tự kiểm kê, rà soát trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp), đối chiếu quy định (an ninh)… sau khi đã thấu tỏ các quy định, trong lòng dừng niệm phân biệt… thì pháp xả, tự xả mọi “Hàng cấm, điều cấm” pháp hư vọng trên (tứ niệm xứ) tự bốc hơi, tiêu tan, biến mất.

“Thanh tịnh tâm” là tên chiếc vé, tự động cấp cho người tu hành đủ tư cách vào cửa để lên tàu bát nhã khi đã thực hiện đúng quy trình “Trạch Pháp Giác Chi” và ngay đó, người tu hành (lặng lẽ quan sát không kết luận) sẽ nhận ra cảnh giới “Quán Mâu Ni tĩnh tịch (cảm nhận được Niết bàn thanh tịnh, không còn niệm khởi); thế là xa lìa sanh (chấm dứt sanh tâm, sanh pháp, sanh ngã…); ấy gọi là chẳng thủ (nghĩa là người ấy trong lòng rổng rang, không nương tựa không chấp trước một vật gì trên đời); đời này đời sau tịnh (ra khỏi luân hồi, sanh diệt).

Bên cạnh đó, có một lối đi dành cho khách VIP với tiêu chuẩn “DỪNG PHÂN BIỆT” nghĩa là: “Trong lòng chẳng luận đúng sai, một niệm chẳng khởi, dở hay chẳng bàn…”. Vị đó được cấp ngay chiếc vé đặc cách vào cửa mà chẳng phiền tới sự kiểm tra, soi rọi của an ninh.

Để làm rõ thêm ý nghĩa “sự phân tích…” có thể ví “phân tích một pháp thế gian” (khi chưa có Huệ lực phát sanh) như hòn than đen, dù nằm kề bên nhau thì hòn than nào cũng đen như nhau, chẳng giúp ích gì cho nhau.

“Trạch Pháp Giác Chi” ví như hòn than hồng, nếu đủ duyên lành thì đốm lửa (vô sanh) của hòn than hồng có thể thách thức đốt cháy cả rừng rậm của vô minh, chuyển thiên, động địa, rung chuyển mọi bề… Bất cứ ai đầy đủ dầu đèn (công đức) mà gặp tia lửa từ than hồng (của bậc giác ngộ) thì nhất định sự cháy và tỏa sáng sẽ diễn ra, gọi là lan tỏa yêu thương đến mọi miền của văn hóa vô lậu./.

Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ !!!
Con, Lý Thái Đăng

3. Bài viết của Lý Giác Thư

Kính Thầy !
Con xin đảnh lễ Thầy 3 lạy !!!
Kính HĐTM Lý Gia !
Con xin trả tham gia lời câu hỏi :

Câu1) Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai là chánh hay tà …v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

Trả lời:
Khi ta phân tích một pháp bất kỳ để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai là chánh hay tà, thì đây không gọi là Trạch Pháp Giác Chi.

Trạch Pháp giác Chi tức là khi ta nghe một đoạn kinh hay một bài giảng, người này huy đông tất cả mọi kiến thức có được, dùng sức mạnh tinh tấn của Ngũ Căn, Ngũ Lực để giải quyết câu kinh này, bài giảng này.

Giống như một đưa trẻ, khi cô giáo cho một bài toán khó, thì đứa trẻ sẽ huy động tất cả những kiến thức đã học, để tư duy bài toán đó. Khi đứa trẻ tư duy , giải được bài toán này thì đầu tiên bài toán này sẽ không ra khỏi đầu của nó tức là cái hiểu biết này không mất trong đầu đứa trẻ, thì tư duy để giải cho được bài toán gọi là Trạch Pháp Giác Chi.

Như vậy khi ta phân tích một pháp bất kỳ để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai là chánh hay tà, thì đây chỉ là trạch pháp chứ không thể gọi là Trạch Pháp Giác Chi.

Câu 2: Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là trạch pháp giác chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của trạch pháp giác chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

Trả lời :
Khi ta phân tích một pháp bất kỳ đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi tức là người này phân tích một pháp đến nơi đến chốn, phân tích để thấu rõ ngọn nguồn của pháp đó cho đến đạo quả, cho đến ý nghĩa cuối cùng thành tựu đạo quả giải thoát, thì người này coi như thành công việc tu tập Thất Giác Chi.

Thất giác chi gồm có 7 phần, khi người ta tu tập một pháp như pháp, thì hệ quả của nó lần lượt xuất hiện bảy điều đó là : Thứ nhất gọi là Trạch Pháp Giác Chi, thứ hai Niệm Giác Chi, thứ ba Tinh Tấn Giác Chi , thứ tư Khinh An Giác Chi ,thứ năm Hỷ Giác Chi , thứ sáu Định Giác Chi , thứ bảy Xả Giác Chi. Đây là bảy công đoạn đưa đến giác ngộ viên mãn từ một pháp gọi là Thất Giác Chi.

Ví dụ khi người tu hành có một sự việc rất khó đến với mình, người này dùng hết sức phân tích sự việc đó, tìm hiểu vấn đề đến nơi đến chốn, giải quyết được cái sự việc, thì cách giải quyết đó gọi là Trạch Pháp Giác Chi. Khi người này giải quyết được sự việc thì cái này tạo ra một cái dấu ấn trong lòng rất lớn, không thể nào quên được gọi là Niệm Giác Chi. Từ đó nó cho người ta thích thú con đường tu tập gọi là Tinh Tấn Giác Chi. Bây giờ mọi thứ đã rõ ràng rồi người này biết chắc đã bước vào cảnh giới xuất thế không còn thối lui nữa, gọi là Tinh Tấn Giác Chi và hai hệ quả tiếp theo đó là nhẹ nhàng và vui vẻ gọi là Hỷ Giác Chi và Khinh An Giác Chi. Cuối cùng bình yên sẽ xuất hiện trong lòng người này gọi là Định Giác Chi và mọi thứ ra khỏi cái đầu gọi là Xả Giác Chi.

Như vậy nói rằng bảy món, nhưng thật ra nó được dẫn đạo bằng một món đầu tiên, đó là Trạch Pháp Giác Chi, tức là phân tích một pháp đến nơi đến chốn, phân tích để thấu rõ ngọn nguồn của pháp đó cho đến đạo quả, cho đến ý nghĩa cuối cùng, là giải thoát của pháp đó, thì người này sẽ thành công Thất Giác Chi. Các chi sau không cần tu tập, nó là hệ quả tất yếu khi người tu hành giải được vấn đề, thì sáu giai đoạn đi đằng sau là hệ quả tất yếu của pháp ban đầu.

Như vậy khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích là đưa con người ta đến Niết bàn diệt đế, chứng được quả giải thoát.

Trên đây là một số hiểu biết của con, còn nhiều điều chưa đúng, chưa đủ, mong Thầy và các HĐTM bổ khuyết và chỉ dạy cho con.

Con xin đảnh lễ Thầy 3 lễ !!!
Kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe, trụ thế thật lâu !!!
Con, Lý Giác Thư

4. Bài viết của Nguyễn Quang Khánh

Kính Thầy!
Nhân đầu năm Canh Tý 2020, hương vị xuân còn tràn đầy. Cùng hoà vào niềm hân hoan của mùa xuân, Thầy tổ chức trò chơi trí tuệ.

Thưa thầy … Lần đầu cầm bút ghi lại những cảm nghĩ của riêng mình trong một câu hỏi trí tuệ. Con cảm thấy mình còn non nớt bởi tự thấy rằng mình chưa thật sự tinh tấn thâm nhập vào dòng chảy tâm thức, Phật đạo chưa nhuần nhuyễn bởi sự hàm dưỡng tu tập còn giải đãi, bị chi phối bởi tâm đời. Và mang nặng tính từ chương…. Kính mong Thầy hướng dẩn sửa chữa cho con ngày càng tiến bộ trên con đường tu tập.!!!

Trả lời câu hỏi Câu 1) Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

Khi ta phân tích một Pháp bất kỳ để thấy (nhìn nhận) Pháp ấy đúng hay sai, chánh hay tà thì không được xem là ”trạch pháp giác chi” bởi vì khi nghe, thấy, đọc, theo lẻ thường ai cũng vậy đều phải nhận định, phân tích, so sánh (trạch pháp) để nhìn nhận vấn đề có phù hợp với bản thân, gia đình, luật pháp ..v..v.. hay không. Có phù hợp với Đạo pháp hay không. Từ những nhận định này sẽ cho ra kết quả đúng, sai… phù hợp hay không phù hợp. Thật ra những phân tích này bằng nguồn tâm chúng sinh, thiên về lý trí và giáo điều, nhị nguyên bởi huân tập do những quy tắc trong cuộc sống mà có được, do đó sự phân tích này không được gọi là “trạch pháp giác chi” một chi phần của Thất giác chi trong Ba mươi bảy trợ đạo..!!!

Phân tích một pháp bấy kỳ bằng lý trí, tình cảm, bằng quy ước thế gian thì chỉ nhận định được đúng sai mang tính chất chủ quan Và có lợi lạc cũng chỉ phù hợp với quy ước đó…!!!!

Câu 2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

Trước khi trả lời câu hỏi con xin kiến giải vê sự nhận biết của mình về ”Trạch pháp giác chi”.

Trong “Thất giác chi” có “trạch pháp giác chi” là chi phần đầu tiên một pháp kế thừa trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, một pháp giải thoát trong vô lượng pháp giải thoát của phật đạo….. !!! Sau khi đã thành tựu ở giai đoạn tư lương vị, tâm của hành giả thanh tịnh giải quyết được hai vô sanh tiến học nhất thiết trí tiến về vô thượng bồ đề. Trong Phật giáo và Thiền, Thầy có giảng “Trạch Pháp giác chi” thuộc về chân giáo, tức là phân tích một pháp đến sự thật (chân lý) mới thôi khi Pháp sư giản trạch một pháp. Tâm ý người nghe chuyển biến theo từng lời từng ý, chấm dứt lời pháp, người thính pháp cũng dứt nguồn tâm, ngộ bổn lai thanh tịnh. Tâm ý chuyển biến theo lời thuyết giống như chiếc thuyền trôi theo dòng chảy cuối cùng là bến bờ. Do đó có thể hiểu Trạch pháp giác chi là nhân nơi giản trạch một pháp mà giác ngộ)…!!!

2/- Trả lời câu hỏi:
Do vậy khi giản trạch một pháp bất kỳ người trạch pháp phải có đủ yếu tố thanh tịnh tâm không còn nhị nguyên đối đãi đầy đủ sự giác ngộ đúng đắn của các phép tu trước trong Ba mươi bảy phẩm mới được gọi là trạch pháp giác chi.

Kết quả của trạch pháp giác chi là tiến vào Diệt đế đồng thời cũng là sự kế thừa của những phẩm trợ đạo phía trước. Chính những phẩm phía trước đúng đắn sẽ kết tụ thành công đức và trí tuệ cho sự giác ngộ hiện tại.

Nếu trạch pháp như lý tác ý một pháp bất kỳ bằng nguồn tâm thanh tịnh và giản trạch pháp ấy đến chân lý Phật đạo … Tuỳ sự giác ngộ của từng hành giả sẽ được chứng những đạo quả nhất định trên con đường tu tập của hành giả ấy..!!!

Thưa thầy trong những ngày này thế gian đang hồi hộp lo âu vì đại dịch NcoV…hoành hành mà chưa có thuốc điều trị. Những chướng duyên trong cộng nghiệp và nghiệp riêng gây cho chúng ta những niềm thương cảm và lo lắng bởi sự an nguy của cả loài người. Bằng nguyện lực con xin cầu nguyên cho chúng sanh thoát qua cơn nguy biến.

Kính chúc Thầy, vị Đại Sư Thường lạc Khinh an
Con Đệ tử: Nguyễn Quang Khánh

5. Bài viết của Lý Hậu Vệ

Thưa Thầy !!!! Con xin tham gia trả lời câu hỏi.
Trước Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ, Con xin chúc Thầy thật nhiều sức khỏe.
Kế đến chúc toàn thể đại gia đình Lý Gia luôn khoẻ, thường tinh tấn và thành tựu những điều cần thành tựu.

1) Thưa thầy !!! Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!
Trả lời:

Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, không được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi”

Nếu phân tích một pháp để biết đúng sai, chánh hay tà thì phân tích đó chỉ được gọi là Trạch Pháp. Vì sao như vậy??? Là vì Trạch Pháp, nhìn nhận, mổ xẻ, phân tích… nhằm làm sáng tỏ những vấn đề còn động lại trưa được minh bạch rõ ràng. Lúc này Trạch Pháp (nhìn nhận) cho rõ ràng, minh bạch đúng bản chất của nó. Để hướng đi của đối tượng, người nghe không lệch, đúng với những gì họ cần và hướng đến.

2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???
Trả lời:

Nếu phân tích một pháp (bất kì) mà vị này cảm nhận, giác ngộ điều gì đó, lúc này tâm ý và sự cảm nhận không sai khác, thì phân tích đó gọi là Trạch Pháp Giác Chi. Vì sao như vậy ? là vì khi làm được như vậy, giác ngộ như vậy, việc ứng dụng sẽ có hiệu quả, con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề sẽ gần hơn. Còn khác những điều như vậy thì không được gọi là Trạch Pháp Giác Chi.

Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Kết quả việc này là vị đó tâm ý dừng không còn vọng động, nhận thức được thay đổi, an vui, nhẹ nhàng cảm nhận rất rõ như thế nào là vô lậu.

Muốn được như vậy, trong quá trình thể nhập Ba Mươi Bảy Phẩm, vị này phải trải qua cho được hai mục tiêu: thứ nhất của tư lương vị là nhất tâm như ý túc, thứ hai của kiến đạo vị là huệ lực. Khi đã có được huệ lực, vị này mới biết được con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu. Như vậy, người này mới có cơ sở Trạch Pháp Giác Chi, phân tích, mổ xẻ đúng nghĩa với tinh thần vô lậu của Phật Đạo.

Trên đây là những phân tích của Con, có gì sai sót kính mong Thầy và BQT chỉ dạy thêm.
CON, LÝ HẬU VỆ

6. Bài viết của Lý Viết Uyên

Con kính lạy Thầy vô lượng lạy!!!
Con xin được trả lời Trò chơi trí tuệ kỳ 1/2020. Kính xin Thầy chỉ bảo, mài dũa thêm cho con được sáng lưỡi gươm trí tuệ.

1)Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

Trả lời: Trước tiên để trả lời hai câu hỏi này con xin được định nghĩa thế nào là “Trạch pháp” thế nào là “Trạch pháp giác chi” trong Phật đạo.
– Trạch pháp: là phân tích, mổ xẻ một vấn đề trong Phật đạo (ý nghĩa một câu, hay một đoạn kinh,…) đến tận nguồn cơn. Thường thì Trạch pháp là lời giảng giải (thuyết pháp) của các bậc Thiện tri thức (Phật, bồ tát) cho người học, đệ tử.
– Trạch pháp giác chi: là một chi phần giác ngộ trong Thất giác chi, là sự kế thừa của các phẩm trợ đạo trước đó (37 phẩm trợ đạo) mà người học thực hành như pháp sẽ kết tụ thành công đức và trí tuệ (huệ lực) nhân đọc một lời kinh, hay nghe Thiện tri thức giản trạch một pháp, người học nhân nơi giác dừng nguyên nhân sanh khởi tâm hư vọng, ngộ bổn tâm thanh tịnh.

Như vậy khi ta phân tích một pháp bất kỳ để nhìn nhận pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà,…phân tích như vậy không được gọi là Trạch pháp giác chi.

Vì rằng Trạch pháp giác chi là nói đến giai đoạn người học đang áp dụng pháp này để đưa đến giác ngộ bổn tâm thanh tịnh thì sao có thể trực nhận pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà,…trong Phật đạo.

Ngũ tổ cũng từng dạy: “Bất thức bổn tâm học pháp vô ích”. Như vậy cũng có nghĩa rằng chưa giác ngộ bổn tâm thanh tịnh thì có Trạch pháp cũng chỉ suy lường và mang ý nghĩa Trạch pháp của thế gian.

Vì vậy theo con thì phân tích một pháp bất kỳ để thấy pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà phải là người ở trong đạo quả từ diệt đế trở lên.

2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy?

Trả lời: Theo con mọi phân tích một pháp bất kỳ đều hướng về ý nghĩa tịch diệt hư vọng tâm và thành quả là thấy được tâm này bổn lai thanh tịnh.
Ví dụ như khi nghe Kinh Kim cang có câu: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm”. Người học thầm hội nghĩa tâm vô sở trụ lúc này tâm thức dừng lặng ngộ bổn tâm rốt ráo thanh tịnh chứng Niết bàn diệt đế.

Theo con có được thành quả như vậy chính là sự kế thừa và thực hành như pháp đối với tất cả các phẩm trợ đạo trước đó.
Tri ân Thầy!!!
Con, Lý Viết Uyên

7. Bài viết của Lý Liêm

Kính thưa Thầy!!!
Con xin kính lạy Thầy ba lạy!!!
Kính thưa HĐTM Lý Gia!!!

Con xin kính trình hiểu biết của con về hai câu hỏi của Thầy Bốn. Cũng như trả lời câu hỏi trong TCTT 01/2020 như sau:

1) Thưa thầy !!! Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

Trả lời:
Khi một cá nhân hoặc một vài huynh đệ có dịp họp mặt,… rồi đem một câu kinh, một pháp bất kì nào đó ra để phân tích pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v… Phân tích như vậy, theo ý kiến của con chưa thể kết luận là có “Trạch Pháp Giác Chi” hay không.

Muốn biết việc phân tích một pháp bất kì để thấy pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà,… có phải là Trạch Pháp Giác Chi hay không phải căn cứ vào mức độ giác ngộ đến đâu của người đang tu tập. Vì việc phân tích này có thể được nghe người khác nói rồi thuật lại hoặc tự ngồi nhớ lại giáo pháp đã được học từ trước.

Để làm sáng tỏ vấn đề hơn con xin giải thích. Vì chúng sanh đa bệnh, Phật (Đại Bồ Tát) có nhiều thứ thuốc để trị bệnh cho chúng sanh. Tuỳ theo người bệnh, thứ bệnh mất phải… mà Phật có thể điều trị một lần là dứt hẳn bệnh hoặc đề ra phát đồ điều trị dài hạn. Cho nên trong kinh, phần cuối các quyển kinh thường có ghi lại đại ý như sau: Sau một thời thuyết có vô số người được hết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo, thành tựu Trí Tuệ,… Còn giai đoạn để thành tựu Trạch Pháp Giác Chi được xem như là khâu cuối cùng để giúp chúng sanh trị dứt bệnh tình.

Trong cuộc sống có những trường hợp ngoại lệ. Có khi gặp may mắn người bệnh tự mình điều trị bệnh của chính mình đến khỏi hẳn. Nhưng xác xuất rất hiếm hoi. Theo khuyến cáo của các bác sĩ thì bệnh nhân không nên tự ý điều trị. Trong Đạo Phật cũng vậy. Theo con hiểu qua lời Thầy dạy: Vào thời không có Phật ra đời. Nếu có người nào đó nhìn thấy hoa rơi, lá rụng,… mà tự mình Giác Ngộ. Quả vị đạt được gọi là Độc Giác Phật. Trong trường hợp đặc biệt như thế thì theo con hiểu là Trạch Pháp và Trạch Pháp Giác Chi không phải là hai thứ thuộc về hai chủ thể khác nhau. Nghĩa là người bệnh cũng chính là bác sĩ, bác sĩ này tự điều trị bệnh cho chính mình.

2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

Trả lời:
Trạch pháp có nghĩa là giảng trạch một pháp đến tận nguồn cơn.

Giác chi có nghĩa là chi phần của sự giác ngộ.

Như vậy ý nghĩa để phân tích một pháp được gọi là Trạch Pháp Giác Chi con xin trả lời như sau:

Theo con hiểu khi một người có nhân duyên lớn gặp được Thiện Tri Thức. Hoặc đã từng tu tập trong Phật đạo đã trải qua nhiều trận đường. Có được con mắt sáng của Huệ Lực biết rõ con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu. Nhưng chưa hoàn toàn được vô lậu. Khi hội đủ công đức nhân nơi sự giảng trạch một pháp của vị Thiện Tri Thức. Vị này nương nơi pháp được nghe, quay lại thân tâm của chính mình giác ngộ về một trong tứ niệm xứ. Tâm pháp hoàn toàn tịch diệt. Thực hành như vậy theo con hiểu là Trạch Pháp Giác Chi.

Khi ta phân tích một pháp với đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy là vị này chứng được Diệt đế.

Vì đối với tự thân mỗi chúng sanh từ vô lũy kiếp sống trong vô minh được ví như hang động tăm tối nghìn năm, ví như một người mù bẩm sinh,… Một mai giác ngộ, một mai sáng mắt như ngọn đèn bừng sáng trong hang động, như người mù bẩm sinh được chữa lành đôi mắt thì vĩnh viễn không còn trở lại cảnh tối tâm như ngày xưa. Con nhớ trong kinh có ghi lại đoạn đối thoại đại ý như sau:

Có một vị đệ tử hỏi Phật. Như một người tu hành đã giác ngộ rồi (Chứng Diệt đế) còn bị phiền não, kiết sử như lúc trước nữa không?

Phật lấy ví dụ để trả lời cho vị đệ tử rằng. Một người đã giác ngộ (Chứng Diệt đế) giống như vàng trong quặng đã được luyện thành vàng SJC vĩnh viễn không còn trở lại thành quặng nữa.

Trong phần trả lời của con không thể tránh khỏi những điều chưa đúng. Kính mong Thầy và HĐTM chỉ dạy thêm.
Con, Lý Liêm

Sinh Hoạt Lý Gia

Sự Khác Biệt Giữa Trạch Pháp Giác Chi Và Kiến Giải

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò chơi trí tuệ số 01.2020 bàn về sự khác biệt giữa trạch pháp giác chi và kiến giải

Các bạn !!!

Trò Chơi Trí Tuệ – 01/2020 được chúng ta khởi động vào ngày 30/01/2020 và sẽ kết thúc vào ngày 20/02/2020 !!!

Trong thời gian qua, BQT đã nhận được trả lời của Lý Tâm Pháp và của Lý Anh Tỵ… Xin tán thán sức tinh tấn của Lý Tâm Pháp và Lý Anh Tỵ !!! Về nội dung, cả hai vị HĐ chúng ta đều trả lời đúng trọng tâm của hai câu hỏi đặt ra…Tuy nhiên, về phần lập luận để giải quyết các yêu cầu của câu hỏi thì Lý Tâm Pháp đã thực hiện tốt hơn !!!

Hai câu hỏi trong Trò Chơi Trí Tuệ lần này không khó, các kiến thức về Trạch Pháp Giác Chi cũng như ý nghĩa của nó là gì, trong những năm qua HĐ chúng ta thảo luận nhiều lần…Vì thế, hầu như mọi người đã ứng dụng pháp này một cách thuần thục và có được những kết quả như pháp !!!

Trong Trò Chơi Trí Tuệ – 01/2020, nội dung các câu hỏi có thêm những yêu cầu, khi người tu hành phân tích một pháp, các bạn phải chỉ ra sự khác biệt đâu là “trạch pháp”, đâu là “trạch pháp giác chi”… Tức là, trong những phân tích ấy, đâu là “kiến giải”, đâu là “phép ứng dụng” !!! Vì rằng, giữa kiến giải để người nghe hiểu ra điều gì đó của Phật đạo và phân tích một pháp nhằm ứng dụng để đưa đến kết quả như pháp là hai cách phân tích khác nhau !!!

Trong thực tế, phần lớn người tu hành thường hay nhầm lẫn giữa trạch pháp và trạch pháp giác chi…Thậm chí, không nắm vững lúc nào cần giản trạch một pháp, lúc nào sử dụng trạch pháp giác chi, cũng như thực hành trạch pháp giác chi là làm như thế nào, bắt đầu từ đâu, kết quả của hành động này là gì..v..v…Từ đó, việc ứng dụng giáo pháp vào công việc tu tập gặp rất nhiều khó khăn, không muốn nói là tuy bỏ công sức rất nhiều, nhưng cũng chỉ loay hoay trong thế gian pháp (kiến giải), không thể chạm vào ngưỡng cửa xuất thế (tịch diệt tâm & pháp) !!!

Từ thực tế như vậy, để giúp các bạn có dịp ôn lại những gì chúng ta đã học, phân tích sâu hơn về thật nghĩa của trạch pháp giác chi, cũng như nhận ra đâu là kiến giải, đâu là phép ứng dụng của Phật đạo, các câu hỏi của Trò Chơi Trí Tuệ lần này có những yêu cầu như: “Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích” !!!…Hoặc “Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy” ??? đã được đặt ra !!!

Các bạn !!!

Để trả lời thoả mãn hai câu hỏi, các bạn cần phân tích, lập luận, giải thích các yêu cầu từ các câu hỏi !!! Khi các bạn phân tích cụ thể và lập luận thuyết phục từng yêu cầu, nhất định trong tu tập hoặc nghe người trình bày một vấn đề nào đó của Phật đạo, các bạn sẽ nhận ra rất rõ rằng, hành động của người ấy là kiến giải hay thực hiện vai trò của trạch pháp giác chi !!!

BQT rất mong, nhận được những trả lời lý thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Hai câu hỏi của Trò Chơi Trí Tuệ – 01/2020 như sau:

1) Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

– Hạn chót nhận trả lời: Thứ Năm, ngày ‪20/02/2020‬!!!

Sinh Hoạt Lý Gia

Chủ Đề: Trạch Pháp Giác Chi

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò chơi trí tuệ số 01.2020 với chủ đề Trạch Pháp Giác Chi  

Các bạn !!!

Đang viết bài này dang dở (Bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời mục 27), Thầy Bốn qua FT đã hỏi mình câu hỏi như sau:

1) Thưa thầy !!! Khi ta phân tích một pháp bất kì để thấy (nhìn nhận) pháp đó là đúng hay sai, là chánh hay tà…v..v…Phân tích như vậy, có được gọi là “Trạch Pháp Giác Chi” hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Đề nghị giải thích !!!

2) Phân tích một pháp (bất kì) với ý nghĩa như thế nào, mới được gọi là Trạch Pháp Giác Chi ??? Khi ta phân tích một pháp (bất kì) đầy đủ ý nghĩa của Trạch Pháp Giác Chi thì, kết quả (cứu cánh) của việc phân tích ấy cho ra thành quả gì trong Phật đạo ??? Hãy giải thích vì sao nó có được thành quả như vậy ???

Các bạn !!!
Nhân tiện hai câu hỏi của Thầy Bốn đưa ra, mình xin “bán cái” lại cho các bạn, nhờ các bạn giải quyết dùm… Đây được coi là đề tài của TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 01/2020 (để lấy hên đầu năm) !!!

BQT rất mong, nhận được những trả lời lý thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

– Hạn chót nhận trả lời: Thứ Năm, ngày 20/02/2020 (cho nó đẹp) !!!
– Phần thưởng kì này: Gấp quá, chưa nghĩ ra, sẽ cho biết sau !!!

Sinh Hoạt Lý Gia

Tổng Kết Chủ Đề: Ba Mươi Bảy Phẩm

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Tổng kết trò chơi trí tuệ 05/2019, BQT xin chuyển đến mọi người bài viết được đánh giá là bài viết hay về chủ đề Ba Mươi Bảy Phẩm, đồng thời đáp ứng tất cả các yêu cầu của các câu hỏi đặt ra !!!

Các bạn !!!

Hai ngày qua, mình đã chuyển đến các bạn “một số bài viết tiêu biểu của TCTT lần này”, mục đích là, giúp mọi người có thêm tư liệu để đối chiếu, cũng như cảm nhận HĐ chúng ta học tập như thế nào…Và, xem lại suy nghĩ của bản thân về các câu hỏi kì này ta đã giải quyết được mấy phần !!!

Hôm nay, như đã hứa, BQT xin chuyển đến mọi người bài viết được đánh giá là bài viết hay, đồng thời đáp ứng tất cả các yêu cầu của các câu hỏi đặt ra !!!

Có thể nói, từ ngày nhận được bài viết của SH LÝ THÁI ĐĂNG…Mình đã đọc đi đọc lại không dưới năm lần !!! Mỗi lần đọc, cảm nhận sự đầy đủ và cái hay trong bài viết tăng lên !!!

Bài viết không những trả lời thấu đáo các câu hỏi, mà nó còn như một bức tranh, một tấm hoạ đồ với những chi tiết rành mạch cùng các chú thích tường tận, giúp người lữ hành không còn hồ nghi, vững bước đi tới !!!

Bài viết của SH LÝ THÁI ĐĂNG xuất hiện trong TCTT của LÝ GIA vào những ngày cuối năm 2019…Như những hạt lúa vàng của người nông phu trong một mùa bội thu !!! Sự cần khổ của người lao động nay đã được đền đáp !!!

Để tán thán một bài viết hay, để chào đón những hạt lúa vàng từ mùa thu hoạch…SH LÝ THÁI ĐĂNG rất xứng đáng nhận phần quà danh dự của BQT LÝ GIA tưởng thưởng cho bài viết hay TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 05/2019…Đó là một hộp trà King’s Oolong Tea 313 và một ấm pha trà !!!

BQT chân thành cảm ơn tất cả bạn đọc FANPAGE LÝ TỨ (cùng TRANG LÝ GIA) đã bỏ công theo dõi TCTT !!!

Cảm ơn tất cả HĐ đã nhiệt tình tham gia TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ lần này !!!

Chúc các bạn những ngày cuối năm 2019 an vui, hạnh phúc !!!
LÝ TỨ

Sau đây là bài viết của SH LÝ THÁI ĐĂNG !!!

Kính Thầy!
Kính thưa các HĐTM!
Con xin trả lời câu hỏi Trò chơi trí tuệ 05/2019

CÂU HỎI:

1) Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia thành ba phần, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:
a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học???

b) Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì??? Vì sao nó như vậy???

c) Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc??? Đó là những tầng bậc nào??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo???

TRẢ LỜI: Câu hỏi 1(a,b,c).
NHỮNG ĐIỂM NHẤN CỦA 37 PHẨM!
Bởi chúng sanh khổ nên Phật ra đời, vì chúng sanh nhiều bệnh nên Phật có nhiều Pháp môn nhưng tất cả đều không ngoài TỨ ĐẾ triển khai thành 37 phẩm, và đây được coi là con đường độc đạo, diệt trừ khổ não, thành tựu Chánh trí chứng ngộ Niết bàn…

TỨ ĐẾ ví như bốn cấp học trong Phật đạo và để hoàn thành các cấp học này, người tu hành phải tuần tự trải qua Ba Mươi Bảy Phẩm (hay 37 môn học bắt buộc có thứ lớp hẳn hoi) được phân ra thành ba phần nối tiếp nhau, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị!!!

Hoàn thành 12 môn học (phần 1) bao gồm (Tứ niệm xứ, Tứ chánh cấn, Tứ như ý túc) người này được coi là “HẾT NGU” của phàm phu, vì đã biết lo đủ hành trang cần thiết, cho việc khởi hành một chuyến đi xa, gọi là “Tư Lương Vị”.

Hoàn thành 17 môn học (phần 2) bao gồm (Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi) vị này được coi như đã “THẤY ĐẠO”, hay “HẾT MÊ” của bậc thánh, phần tự độ đã xong, gọi là “Kiến Đạo Vị”.

Để hoàn thành 8 môn học (phần 3), (Bát chánh đạo) vị này học Tám điều chơn chánh của văn hóa vô lậu và các môn học cấp cao (bát nhã trí) trong Phật đạo, “Tu Bồ Tát Hạnh” thành tựu “Bồ Tát Chủng Tánh”, hóa độ chúng sanh gọi là “Tu Đạo Vị”… Tiến tới “Hành Bồ Tát Đạo”… để thành tựu 11 thứ trí gọi là “HẾT LẦM”.

Như vậy, 37 phẩm tạm chia thành ba phần tu tập cho thấy các phần có mối quan hệ ràng buộc, móc xích với nhau như những toa tàu, vận hành theo Lý duyên khởi và người tu hành có thể chiếm lĩnh từng mục tiêu của mỗi phần, thấy rõ điểm nhấn, tháo chốt từng toa, theo công nghệ xử lý: Giác là đế của NGU, Ngộ là Đế của MÊ và Trí là Đế của LẦM. Nghĩa là người GIÁC được thì hết NGU; NGỘ rồi thì hết MÊ; Thành tựu 11 thứ TRÍ thì hết LẦM. Đây chính là DIỆU PHÁP của Phật giúp Phàm phu hết Ngu, Bậc Thánh dứt Mê và Bồ tát thành tựu Chánh trí (Hết Lầm) trên con đường tu tập từ trước đến nay.

Đối chiếu với bốn cấp học (TỨ ĐẾ) thì quy trình học 12 môn học của Tư Lương Vị sẽ tương đương với với hai cấp học là Khổ Đế và Tập Đế.

Vượt qua hai cấp Khổ Đế và Tập Đế, người tu hành CƠ BẢN đã giải quyết được (Tám món khổ) của Khổ Đế và các món (Phiền não, Kiết sử, Lậu hoặc) của Tập Đế, coi như MỤC TIÊU đề ra đã hoàn thành, người tu hành được cấp “Giấy chứng nhận hết nghèo” hay hết “những cái ngu của phàm phu đeo bám”.

Trong “Giấy chứng nhận hết nghèo” có ẩn chứa hai nội dung cơ bản, quan trọng đó là, người tu hành đã “GIÁC” được tấm bản đồ (đi tìm kho báu) của Phật đạo và có “Đủ điều kiện tư lương” để tiếp tục cho hành trình tiếp theo là “Kiến Đạo Vị”.

Nhờ sức GÍAC làm nhân lành, mà người tu hành phát sanh hỷ lạc, tạo được niềm tin (gọi là tín tâm), từ đó mà một lòng một dạ, không rời xa con đường đã hiểu rõ, kiên định lập trường, vững vàng trước mọi thử thách mà được gọi là “Nhất tâm như ý túc”.
NHẤT TÂM (như ý túc) còn được thể hiện trong nhiều câu kinh được Phật thiện xảo chỉ dạy, như: “Ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc khởi lên có tầm có tứ ” từ đó “Vị ấy xa lìa năm triền cái, cụ túc năm thiền chi, (tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm) xuất hiện”. Hay “Vị ấy một lòng một dạ nhớ nghĩ về Quốc Độ Phật” (nhất tâm niệm Phật xuất hiện)…

Từ đó, có thể xác định phẩm “Nhất tâm như ý túc” là trọng yếu nhất trong phần Tư Lương Vị!

Nếu người nào khởi hành tu tập mà không thành tựu được phẩm “Nhất tâm như ý túc” thì rõ ràng người này chưa xác định rõ MỤC TIÊU tu tập.

Phật dạy “Nhất thiết Phật ngữ tâm” nghĩa là, hết thảy những lời Phật dạy đều nói về tâm này! Tu hành là quá trình điều phục tâm, từ tán tâm trở về với đa tâm, từ đa tâm trở về thiểu tâm; từ thiểu tâm trở về nhất tâm; từ nhất tâm trở về tâm không; từ tâm không đến không tâm; từ không tâm thấu liễu tâm.

Người chưa nhất tâm thì còn nhị tâm, tam tâm, đa tâm… hay còn khởi niệm thiện, ác trong lòng, như ruộng lúa mà mọc đầy cỏ dại, bón phân tưới nước lúc này chỉ hại lúa nhà, hẩy hừng cái ngã (hư vọng), mà lòng chẳng an. Đây gọi là cách tu hành ĐIÊN ĐẢO!

Duy trì cách tu hành ĐIÊN ĐẢO, tất yếu sẽ cho ra hệ quả phiền não, khổ đau, “Tam độc” phát tác và “Cục Ngu” ngày càng được tăng trưởng theo nguyên lý “Nhiệt tình nuôi lớn cục ngu, tam độc phát tác cho dù lên non”. Trong đó “Niệm sân không kiểm soát nổi” là dấu hiệu dễ thấy nhất của cách tu tập này.

Chưa nhất tâm còn có nghĩa là người này luôn động lay, thay đổi và trụ nơi phân biệt. Kinh dạy “Người trụ nơi phân biệt; Làm hư thanh tịnh nhãn; Càng thêm lớn ngu si; Người này không thấy Phật”. Nghĩa là càng tu càng u mê, tăm tối bởi nhầm đường lạc lối, như con tằm nhả tơ tự quấn lấy mình. Chưa nhất tâm, nghĩa là người này vẫn chưa có định, như cây trồng chưa mọc rễ chăm sóc chưa xong, đừng mong thu hoạch…

“Chưa nhất tâm” cũng có nghĩa là người này thường hay đưa tâm phóng ra khỏi “mặt da”, chuyên gia hý luận, mê mải bàn chuyện gần xa của người ta, bỏ qua nhà mình, mà kinh Phật đã từng khuyên dạy là “ĐỪNG LÀM KẺ CHĂN BÒ THUÊ” cho người, suốt ngày vất vả, tối trả bò, về lại trắng tay.

Nhận ra lỗi lầm, người tu hành quay ngay về giải quyết nguồn tâm, được coi là “NHẤT TÂM NHƯ Ý TÚC”, tạm gọi là có trí ban đầu trong tu tập như lời Kinh Pháp cú dạy: “Ngươi ngu biết mình ngu; Nhờ vậy mà có trí; Người ngu tưởng có trí; Đích thị là chí ngu”.

Tóm lại, trong phần Tư Lương Vị, người tu hành chỉ cần biết mình ngu, lặng lẽ quan sát… kiểm kê đánh giá những món nào gọi là ngu của phàm phu (trú ngụ trong ta) và nhất tâm (không kết luận) không nắm giữ nó trong lòng, thì ngay đó người này đã đủ chuẩn để được đặc cách vào học ngay phần (2) Kiến Đạo Vị, mà không cần phải thẩm định hồ sơ hay xác minh tài sản…

Đối với Kiến Đạo Vị: Có 17 môn học (phần 2) bao gồm (Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi). Trong đó Ngũ căn, Ngũ lực được coi là quy trình chăm sóc đặc biệt để hạt giống Bồ Đề (nhất tâm) đâm rễ Ngũ căn, phát sanh Ngũ Lực. Nhờ công nghệ chăm sóc đặc biệt này mà trổ cành Thất Giác Chi, ra quả Bát Chánh Đạo.

Được gọi là “công nghệ chăm sóc đặc biệt” bởi hạt giống Bồ Đề được chăm sóc bằng “Giới, Định, Tuệ vô lậu” (làm nhân) tác động thông qua Ngũ căn, Ngũ lực mà cây Bồ Đề sum suê cành nhánh, của cảnh giới VÔ LẬU Thất Giác Chi.

“Giới, Định, Tuệ vô lậu” hay còn gọi là “Ba Học Pháp Vô Lậu” được Phật chỉ dạy trong “Kinh các căn tu tập” và được Ngài Lý Tứ giới thiệu như sau:
“Kinh các căn tu tập… kinh này là chiếc bản lề, là bước đệm không thể thiếu đối với người tu hành bước từ Hữu Lậu sang Vô Lậu, bước từ “Thế Gian Giới” sang “Xuất Thế Gian Giới”, cho nên trong kinh mới đề cập đến “vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh”… Có nghĩa rằng, có thành tựu các căn tu tập, sau đó mới thành tựu “Vô Lậu Giới”, Vô Lậu Giới của Bậc Thánh chẳng đồng cấm giới (quy ước giới) của Thế Gian Giới !!!”(Lý Tứ).

Nhờ Bậc Trí Huệ chỉ dạy, mà trong (Lý Gia) đã có những bước nhảy vọt (từ Hữu Lậu sang Vô Lậu, bước từ “Thế Gian Giới” sang “Xuất Thế Gian Giới”) một cách hoàn hảo, trong những năm qua và Ngài Lý Tứ đã chỉ ra phẩm “HUỆ LỰC” là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu.

HUỆ LỰC được hiểu là một loại sức mạnh của trí huệ do thành quả tu tập “Ba học pháp vô lậu” mà xuất hiện và chỉ có sức mạnh “HUỆ LỰC” mới giúp được người tu hành biết rõ con đường tu tập nào dẫn đến VÔ LẬU, cũng như con đường tu tập nào dẫn đến HỮU LẬU. Hay người có HUỆ LỰC biết rõ bài toán nào đúng, bài toán nào sai bởi nắm vững những điều kiện cần và đủ để giải một bài toán trong cuộc đời cũng như trong Phật đạo.

Nhờ HUỆ LỰC làm nhân, người tu hành có khả năng thẩm định, phân tích kinh điển gọi là “Trạch pháp giác chi” chỉ ra được nghĩa trung đạo, dẫn đến VÔ LẬU.

Chúng sanh trong ba cõi còn gọi là vô minh vì không sáng suốt, tâm trí mù tối. Người có “HUỆ LỰC” như người mắt sáng, không bị màn vô minh che chắn, vì vậy mà nhìn rõ mọi vật xung quanh, biết rõ mọi thứ màu sắc mà không cần suy lường suy luận, gọi là TRỰC NHẬN, nhờ trực nhận mà thấy được THIỆT TƯỚNG

Ngài Lý Tứ dạy: “Cái thấy của tiền ngũ thức là cái thấy của nghiệp… Cái thấy của ý thức là cái thấy của pháp… Hai cái thấy này chỉ cho ra hư vọng tướng… Vì thế muốn thấy Thiệt Tướng phải đoạn dứt cái thấy thông qua sáu thức… Khi đã đoạn dứt sáu thức, bây giờ Tánh Giác mới hiện… Sau khi Tánh Giác hiện, người tu hành dùng Tánh Giác “lặng lẽ quan sát”… Trong cái lặng lẽ quan sát, một lúc nào đó, người tu hành sẽ thấy được Thiệt Tướng…”. Như vậy HUỆ LỰC tức TÁNH GIÁC!!!

Nếu chưa thành tựu phẩm HUỆ LỰC để TRỰC NHẬN, hay chưa sử dụng Tánh Giác để “lặng lẽ quan sát” (Giác Quán) … mà người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì thì dù phân tích cho đến chết, cũng chỉ là chia chẻ văn tự mà thôi.

Như một người mù tối, cố giảng giải “bảy sắc cầu vồng” cho người mù bao nhiêu lần đi chăng nữa thì người này cũng chỉ quy về màu đen truyền thống, giống như chúng sanh với vô minh.

Nếu người không thành tựu phẩm HUỆ LỰC mà cao hứng làm thầy, thì chỉ biết văn tự mà chẳng thấu được nghĩa kinh. Văn tự (ngữ ngôn) chỉ là nước dẫn dược, chưa có thuốc HUỆ LỰC bỏ vào thì có thể làm người bệnh tạm thời giải khát, nhưng chẳng chữa lành được bệnh.

Những người không thành tựu phẩm HUỆ LỰC, hay chưa một lần phân biệt được “Vô Lậu Giới của Bậc Thánh chẳng đồng cấm giới (quy ước giới) của Thế Gian Giới”. Không biết rõ điều chơn chánh này, mà cứ ôm lấy (quy ước giới) mà tu hành cho “Vô Lậu” thì chẳng khác nào “nấu cát mà đòi thành cơm”; “ép cát mà đòi ra dầu” chuyện muôn đời chẳng thể!!!

Nếu gặp hên trên đời hay trên mạng, thỉnh được Chánh kinh mà lại không gặp được người Giác Ngộ giảng giải, thì cũng như có được bộ sách giáo khoa mà thiếu thầy giáo… Chưa nói đến ông thầy không biết bơi (không giác ngộ) mà mở lớp dạy bơi (dạy giác ngộ) thì cũng chỉ thao thao bài vở trên bờ, còn rơi xuống nước thì chẳng khác gì hòn đá, hà bá điểm danh!!!

Người có HUỆ LỰC, giảng giải pháp lành để giúp mình, giúp người giác ngộ, giải thoát, đi trên con đường vô lậu, xuất thế…vv, gọi là “Trạch pháp giác chi”.

Trạch pháp giác chi (như pháp) thì chuỗi phản ứng THẤT GIÁC CHI sẽ xảy ra (như pháp), ví như quả đạn “THẤT GIÁC CHI”, khi đầu nổ HUỆ LỰC tiếp đúng mục tiêu thì sự nổ sẽ xảy ra đồng thời cả quả đạn sẽ bùng nổ phá hủy mục tiêu (vô minh).

Nhờ có (đầu nổ) HUỆ LỰC mà Trạch pháp giác chi dễ dàng khoan thủng được nhiều tầng nghĩa sâu thẳm của Kinh điển, tạo được dấu ấn sâu sắc không thể quên, gọi là Niệm giác chi; cảm thấy nhẹ nhàng, bồng bềnh như trút được gánh nặng gọi là Khinh an giác chi; sự vui hiện khởi gọi là Hỷ giác chi; ham thích đọc tụng kinh điển gọi là Tinh tấn giác chi; cảm giác bình yên, tự tại trong lòng gọi là Định giác chi; ngoài không sanh tâm, trong không sinh pháp gọi là Xả giác chi.

Có thể xem Trạch pháp giác chi (được gắn đầu nổ Huệ lực) là nhân, thì Định giác chi và Xả giác chi là quả, đồng thời cũng là mục tiêu hướng đến của phần Kiến Đạo Vị…

Còn các hiệu ứng khác xảy ra như Niệm giác chi; Khinh an giác chi; Hỷ giác chi; Tinh tấn giác chi, được ví như NIẾT BÀN trung gian an vui, là trạm tạm dừng chân của Kiến Đạo Vị hay vị ấy “Kiến thiệt tế” mà chẳng trụ lại ở cảnh giới này.

Rời NIẾT BÀN trung gian của Kiến Đạo Vị, tiến bước vào thành Bát Chánh Đạo, vị này học Tám điều chơn chánh của văn hóa vô lậu và các môn học cấp cao (bát nhã trí) trong Phật đạo… gọi là Tu Đạo Vị.
Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có ba tầng bậc. Đó là Thế gian, Xuất thế gian và Xuất thế gian thượng thượng.

Để có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào ta có thể căn cứ vào MỤC TIÊU đề ra PHƯƠNG PHÁP triển khai thực hiện và KẾT QUẢ thu được.

Nếu coi TỨ ĐẾ triển khai thành 37 phẩm, là PHÁP LỆNH giáo dục của Phật đạo thì người thi hành đúng với điều khoản của PHÁP LỆNH được coi là CHÁNH, làm trái gọi là TÀ. Như vậy người chấp hành đúng sẽ có vô số điều CHÁNH trên con đường tu hành chinh phục 37 phẩm.

Nhờ vượt qua 37 môn học này mà cho ra KẾT QUẢ nhận thức người tu hành thay đổi, hành vi thay đổi, đời sống thay đổi… Từ Hữu lậu sang Vô lậu; từ Khổ não sang An vui; từ Cột trói sang Giải thoát; từ Vô minh sang Sáng suốt; nhân Chúng sanh mà quả Thánh; ngay tại cõi Ta Bà mà Xuất thế…vv.

Nhưng để đánh giá cả quá trình học tập, PHÁP LỆNH giáo dục của Phật đạo đã chọn lọc ra 8 nội dung “căn bản, quan trọng, tiêu biểu” nhất, để thi tốt nghiệp gọi là BÁT CHÁNH ĐẠO (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp. Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định).

Tốt nghiệp 8 nội dung này sẽ cho ra một sự THẤY BIẾT chơn chánh gọi là CHÁNH KIẾN và được coi là viên mãn chương trình tu học của Phật đạo và vị ấy “Tu bồ tát hạnh, hành bồ tát đạo” cho đến khi thành CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC!!!

Khi đã vào Thành AN ỔN của nền văn hóa Vô Lậu luyện thi 8 nội dung tài năng sư phạm (tông thông và thuyết thông) thuộc tầng xuất thế gian thượng thượng, thì trước đó, người này đã có một quá trình học tập từ cơ sở trở lên, làm nền móng cho tám môn thi tốt nghiệp và người này không khó để nhận ra quá trình học tập của mình đã trải qua.

Căn cứ vào bốn cấp học, thì Khổ đế, Tập đế là cấp cơ sở thuộc về dạy và học Bát Chánh Đạo của thế gian; Diệt đế thuộc về dạy và học Bát Chánh Đạo của xuất thế gian; Đạo Đế gọi là dạy và học Bát Chánh Đạo của xuất thế gian thượng thượng.

Thông qua các phần Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị cũng có thể cho ta biết một vài dấu hiệu khái quát.

Đối với người dạy và học phần Tư Lương Vị gọi là Bát Chánh Đạo của thế gian; người dạy và học phần Kiến Đạo Vị gọi là Bát Chánh Đạo của xuất thế gian; người dạy và học phần Tu Đạo Vị gọi là Bát Chánh Đạo của xuất thế gian thượng thượng;

Điểm qua một vài môn học, ví dụ dạy và học “Chánh Ngữ”: Lời nói nào làm cho người nghe HẾT NGU của phần Tư Lương Vị gọi là CHÁNH NGỮ của thế gian; Lời nói nào làm cho người nghe HẾT MÊ của phần Kiến Đạo Vị gọi là CHÁNH NGỮ của xuất thế gian; Lời nói nào làm cho người nghe HẾT LẦM của phần Tu Đạo Vị gọi là CHÁNH NGỮ của xuất thế gian thượng thượng…vv.

Căn cứ vào kết quả chuyển đổi nhận thức của từng cấp học ta cũng có những dấu hiệu đáng tin cây để đánh giá:

Người Giác được tấm bản đồ (kho báu) của Phật đạo và một lòng một dạ khởi hành… được coi là đã hoàn thành Bát Chánh Đạo thế gian, có tiểu NIẾT BÀN an vui hay còn gọi là Thân chứng.

Vị tu hành nhận ra và thực hành Tam muội môn có Giác có Quán, không Giác có Quán, không Giác không Quán, được coi là hoàn thành Bát Chánh Đạo xuất thế gian, có trung NIẾT BÀN mãi vui hay còn gọi là Tâm chứng.

Vị tu hành có Chánh Kiến và thực hành 11 thứ trí trong Phật đạo được coi là hoàn thành Bát Chánh Đạo xuất thế gian thượng thượng, có đại NIẾT BÀN tự tại hay còn gọi là Trí chứng.

Nhưng để biết được cấp học hay tầng bậc cụ thể, tỉ mỉ của người học, để giúp mình giúp người thì cần phải học tập rất nhiều môn được triển khai từ Tứ đế và 37 phẩm (gọi là chương trình khung), cũng như những điều kiện cần thiết khác… phục vụ cho Thấu thị môn, Thẩm sát môn, Ngũ minh, Ngũ nhãn… và những kỹ thuật cao cấp trong Phật Đạo, (đang được triển khai dạy và học trong Lý Gia) như:
“- Kỹ thuật khai thị;
– Kỹ thuật đoạt tâm;
– Kỹ thuật nhận dạng;
– Kỹ thuật sử dụng ngôn âm;
– Kỹ thuật truyền đạt;
– Kỹ thuật đánh giá nhanh;
– Kỹ thuật thanh minh;
– Kỹ thuật biết lắng nghe tâm người;
– Kỹ thuật tương tác chủ khách;
– Kỹ thuật tạo đương cơ;
– Kỹ năng biến hóa;
– Kỹ năng nương Phật thần lực;
– Kỹ năng hướng đạo;
– Kỹ năng nắm bắt thời cơ…
Người thiếu kiến thức, không thể thực hiện được các thứ kỹ thuật, kỹ năng này!!! Nói chung, có rất nhiều điều cần đến kiến thức Phật Pháp, khó nói hết!!!”.

“Như vậy có thể kết luận, để đánh giá mức độ thành tựu của một người trong Phật đạo, ngôn thuyết của người ấy chính là biểu hiện của tâm và trí. Sự chứng ngộ được thể hiện qua ngôn thuyết chính là dấu hiệu nhận biết cụ thể nhất.”… Vì thế Phật dạy: “Muốn biết trí tuệ (cảnh giới) của một người, phải trao đổi, đàm luận với người ấy. Muốn biết phạm hạnh của một người, phải chung sống với người ấy”.

Trong Anh Lạc Luận – Tác giả Lý Tứ cũng viết:
“Sức mạnh của chân lý nằm trong thuyết thông, ở đâu có chân lý ở đó có tông thông, ở đâu có tông thông ở đó có thuyết thông, ở đâu có thuyết thông ở đó có Phật pháp, ở đâu có Phật pháp ở đó là chánh pháp, chánh pháp ở đâu ở đó có Phật!!!” (Lý Tứ)

2) Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế??? Xin giải thích cụ thể!!!

TRẢ LỜI:
Luận về Lục Chủng Tánh Anh Lạc Ngài Lý Tứ viết:
“Người tu hành muốn hiện tại và các đời vị lai không quên mất Phật chủng (Phật chủng tánh, Phật tánh) phải thành tựu từ một cho đến đầy đủ sáu Chủng tánh của Phật tánh, đó là: Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh, Thánh Chủng Tánh, Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh và Diệu Giác Chủng Tánh, Vì sao như vậy ???

Lục chủng tánh Anh Lạc đối với Phật quả giống như hạt giống (nhân) và quá trình thành tựu cây trồng (đến quả); Không có hạt giống (nhân Phật) thì không thể thành tựu quả (Phật Quả). Đây là sáu (6) hạt giống vô gián (không có sự gián đoạn), bất thối (không thối chuyển), và là điều kiện “Ắt có và Đủ” để viên mãn Phật tánh (thành Phật đủ mười danh hiệu) !!!

Ta có thể hiểu, hữu tình tồn tại là nhờ có Không đại (Hư không)… Hư không phải vô gián, hô hấp phải bất thối, thiếu một trong hai điều kiện này, đời sống nhất định phải chấm dứt !!!

Lại cũng có thể hiểu, Pháp giới của Chư Phật được chia thành 6 phần không bằng nhau, mỗi Chủng tánh nương nơi một phần của Pháp giới ấy mà tăng trưởng cho đến khi viên mãn hết sáu phần, mới thành tựu Đại Bồ Đề thọ (cây Chánh Đẳng Chánh Giác) !!!

Viên mãn Phật tánh là viên mãn tám đức (tính chất): Từ, Bi, Hỷ, Xả và Thường, Ngã, Lạc, Tịnh… Nói rõ hơn:
• Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh và Thánh Chủng tánh (thành tựu Bình Đẳng tâm, khai Pháp Nhãn): Cho ra các tính chất: Từ, Lạc, Hỷ và một phần của Xả, Tịnh…

• Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh (thành tựu Đẳng Pháp và Vô Đẳng Đẳng Trí, khai Huệ Nhãn còn gọi là Bồ Tát Nhãn): Có thêm các tính chất: Bi, Tịnh và một phần tính chất Thường, Xả…

• Diệu Giác Chủng Tánh (thành tựu Vô Thượng Đẳng Huệ, khai Phật Nhãn… cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác !!!): Có thêm tính chất: Ngã, Thường và rốt ráo Xả…”(Lý Tứ).

Trong sáu Chủng tánh của Phật tánh, thì:
Tập Chủng Tánh, tương đương Tập đế;
Tánh Chủng Tánh, tương đương Diệt đế;
Thánh Chủng Tánh, (tu hạnh Thanh văn) tương đương Diệt đế;
Đạo Chủng Tánh, tương đương Đạo đế, (ví như học sư phạm) “tu Bồ Tát hạnh”
Đẳng Giác Chủng Tánh, vị này Giác bằng Phật, những gì Phật biết, vị này biết, những gì Phật thấy vị này thấy, những gì Phật chứng vị này chứng. Như người đi tìm kho báu, đạt được mục tiêu (tìm thấy kho báu) gọi là Đẳng, người này không còn phải tìm kiếm nữa, hết tu (hết đế) goi là “Tốt nghiệp sư phạm”.
Diệu Giác Chủng Tánh, vị này Giác bằng Phật, không những tìm được kho báu (hết đế), mà còn chế tác thành những đồ trang sức (Diệu) đem lại an vui cho người tu hành. Như vị thầy giáo tốt nghiệp sư phạm đang giảng dạy kiến thức cho mọi người gọi là “hành Bồ Tát đạo”.

Còn có loại “Chúng sanh chủng tánh” hay còn gọi là “Phàm phu chủng tánh” không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế, bởi kinh dạy: “Phàm phu có khổ không có đế, có tập không có đế”.

3) Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???

TRẢ LỜI
“Tập nhân và giao báo là hai khái niệm căn bản của Phật pháp. Tập nhân, Phật dạy là mười thứ tích chứa trong tâm:
1) Tập quán dâm dục;
2) Tập quán tham lam;
3) Tập quán ngã mạn;
4) Tập quán nóng giận;
5) Tập quán giả dối;
6) Tập quán lừa gạt;
7) Tập quán thù oán;
8)Tập quán ác kiến;
9) Tập quán vu vạ;
10) Tập quán kiện thưa.

Giao báo gồm sáu món:
1) Giao báo về thấy;
2) Giao báo về nghe;
3) Giao báo về ngửi;
4) Giao báo về vị;
5) Giao báo về xúc;
6) Giao báo về ý nghĩ.

Tập nhân là một thứ tập quán hay thói quen tích chứa nhiều đời trong tâm. Khi tâm tích chứa mười điều này thì tâm điên đảo, tâm điên đảo nhiễu loạn các căn cho ra những hình ảnh không thật gọi là giao báo. Vì thế trong kinh Phật dạy: “Sáu thú đều từ tâm này mà ra.” Nơi không có mà thấy là có, ví như mắt bệnh thấy hư không có hoa đốm hay con nai khát nước thấy sóng nắng tưởng nước.

Gọi là tập nhân vì đây là các thứ tích tập lâu ngày làm nguyên uỷ phát sanh các tưởng.

• Niệm tưởng đầu tiên gọi là ‘khí phần’. Nó chỉ là ý tưởng nhỏ nhiệm nào đó, giống như hơi gió thoảng qua trong tâm, các niệm liên tục nhớ nghĩ khí phần tăng trưởng thành tướng phần.

• ‘Tướng phần’ như bức họa chỉ mới phát thảo một vài đường nét cơ bản, tướng phần viên mãn thành nghiệp.

• Nghiệp giống như bức tranh hoàn hảo, nghiệp cô kết thành thắng khí, ‘thắng khí’ chính là giao báo do các căn chiêu cảm chúng sanh thấy nghe hay biết được, giống như bức tranh bày bán giữa chợ những người cùng nghiệp hội họa mê tranh vẽ đồng đến thưởng thức khen chê.

Có thể ví dụ như chiếc điện thoại di động, do nhu cầu liên lạc từ xa, con người ao ước có một công cụ nào đó làm nhiệm vụ này.

− Ao ước nhỏ nhiệm đầu tiên về một phương tiện liên lạc chính là ‘khí phần’.
− Do nhu cầu bức bách ao ước này huân lớn trong tâm, nhiều người đồng ao ước như vậy và là nhu cầu có thực cho nên bản vẽ chiếc điện thoại di động ra đời gọi là ‘tướng phần’.
− Khi bản vẽ hoàn hảo thì chiếc điện thoại di động thực sự xuất hiện có thể cầm nắm xem nghe gọi là ‘thắng khí’.

Xét cho cùng căn nguyên chiếc điện thoại chỉ là khái niệm mơ hồ, nhưng khi cộng nghiệp chúng sanh đồng hướng tâm đến thì chiếc điện thoại thật sự bằng vật chất hiện hữu.

Tập nhân và giao báo cũng vậy, trong tâm tích chứa thiện ác nhiều điều, khi tích chứa này tăng trưởng đến viên mãn thì tùy theo cộng nghiệp mà chiêu cảm ra các cảnh giới cõi nước. Cảnh giới cõi nước theo thấy nghe mà biết được, thật ra cái thấy nghe biết được chỉ là hư không.

Có thể ví dụ như con cá lia thia nuôi trong lọ thủy tinh trong suốt, đặt một tấm kiếng phản chiếu, con cá thấy hình ảnh mình trong đó tưởng lầm là con cá khác. Nếu trong lòng con cá nỗi giận, con cá sẽ thấy đối thủ bên kia cũng nỗi giận. Phồng mang cắn nhau, cắn một miếng con kia trả một miếng cứ thế sân hận tăng lên đá nhau đến sứt môi chảy máu. Con cá lia thia không tự biết hình ảnh bên kia chỉ là sự phản chiếu chính bóng dáng của mình trong hư không, ngoài mình ra thì không hề có một con cá nào khác. Giả sử con cá lia thia trong tâm hoan hỷ thì con cá bên kia cũng hoan hỷ vui vẻ chuyện trò, nếu con cá lia thia yểm ly bỏ đi thì con cá bên kia cũng bỏ đi.

Tập nhân và giao báo của chúng sanh là vậy, trong lòng tích chứa như thế nào chiêu cảm ra thấy biết như thế ấy, tất cả chỉ là hư không phản chiếu bóng dáng của mình. Con cá lia thia ngu mê đá chính mình đến chảy máu miệng, con người khôn ngoan hơn “đá” nhà cửa, xe cộ, chức vị, danh vọng đến chảy máu tâm.

Vọng tưởng chẳng từ đâu sanh, thiên đường địa ngục chẳng từ đâu sanh, ngay nơi giường nằm báo thân này mãn, thức giong ruổi đi tìm hình bóng chính mình nơi hư không.

Phật giảng nói mười tập nhân, sáu giao báo không hề hù dọa chúng sanh mà chỉ nói lên một sự thật.
• Đây là thông điệp gởi đến ba cõi nếu muốn an vui đời này đời sau thì trong tâm đừng nên tích chứa mười tập nhân xấu xa này. Khi tích chứa chỉ là một niệm nhằm thỏa mãn ích kỷ cá nhân, đến khi thành tựu niệm này sẽ là đồng sôi tường lửa thiêu đốt thân tâm.

• Nếu trong tâm không hề tích chứa điều gì thì ngay hiện tiền đã hưởng một giao báo an lạc, không cần đến viên mãn báo thân. Giống như con cá lia thia trong tâm an vui thì con cá bên kia là bằng hữu.” (Lý Tứ)

Căn cứ vào lời chỉ dạy trên, thì Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần (hữu lậu), Tướng Phần (hữu lậu), và Thắng Khí (hữu lậu), khi viên mãn, sẽ hình thành cõi nước (hữu lậu), trong tâm thức một hữu tình.

Nếu ba nghiệp phần vô lậu là Khí Phần (vô lậu), Tướng Phần (vô lậu), và Thắng Khí (vô lậu), khi viên mãn, sẽ hình thành cõi nước (vô lậu), NIẾT BÀN hiện khởi trong tâm thức một hữu tình./.

Con thành kính đảnh lễ Thầy ba lễ!!!
Con, Lý Thái Đăng

Sinh Hoạt Lý Gia

Chủ Đề: Ba Mươi Bảy Phẩm

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò Chơi Trí Tuệ số 05.2019 với chủ đề ba mươi bảy phẩm 

Các bạn !!!
Như vậy là đã hơn một tháng, Trò Chơi Trí Tuệ vắng mặt trên trang !!! Một tháng qua, Lý Gia với nhiều bận rộn, tất bật cho những sự kiện, từ Sài Gòn đến Tây Nguyên và cuối cùng là Hà Nội…!!!

Tuy Trò Chơi Trí Tuệ tạm dừng một tháng, nhưng trong tháng qua, chúng ta đã rất nỗ lực trao đổi qua các buổi sinh hoạt để giải quyết bài toán cơ bản của Phật đạo đó là Tứ Đế và Ba Mươi Bảy Phẩm (cho tất cả HĐ mới cũng như cũ) !!! Và, chắc chắn giờ này, các bạn đã hiểu được tầm quan trọng của Tứ Đế và Ba Mươi Bảy Phẩm đối với người tu hành trong Phật đạo là như thế nào !!!

Để chào mừng những thành công vượt bậc của Lý Gia trong năm 2019 !!! Để đánh dấu một năm học tập đầy nỗ lực của toàn thể HĐ chúng ta !!! Để giúp các bạn ôn lại những gì đã tiếp nhận trong thời gian qua !!! BQT có một số câu hỏi, gởi đến các bạn trong Chơi Trí Tuệ – 05/2019, như một món quà nhỏ cuối năm !!!

Nội dung các câu hỏi như sau:

1) Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia thành ba phần, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:

a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học ???

b) Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì ??? Vì sao nó như vậy ???

c) Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???

2) Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!

3) Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???

– Hạn chót nhận trả lời: Chủ Nhật, ngày 22/12/2019
– Công bố kết quả: Thứ Ba, ngày 24/12/2019
– Bài viết hay nhất, đáp ứng các yêu cầu câu hỏi đặt ra, sẽ nhận được một phần quà từ BQT (Gồm 01 hộp trà King’s Oolong Tea 313 và một bình trà) !!!

BQT rất mong, nhận được những câu trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
BQT LÝ GIA

Sinh Hoạt Lý Gia

Tổng Kết Chủ Đề: Tứ Niệm Xứ

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Tổng kết trò chơi trí tuệ số 04.2019 với chủ đề Tứ Niệm Xứ 

Các bạn !!!
Sau mười bảy ngày triển khai !!! Hôm nay (26/10/2019) TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 04/2019 chính thức khép lại !!!

Suốt thời gian diễn ra, BQT đã nhận được hai mươi mốt (21) bài viết của HĐ khắp nơi tham gia gởi về, đó là: Đặng Văn Tuấn (Hà Nội), Lý Phạm Thuỳ (TP HCM), Lý Ca Ca (Cần Thơ), Lý Thiện Huệ (An Giang), Lý Ngộ Tuấn (An Giang), Lý Liêm (An Giang), Lý Vô Tướng (Cali), Lý Nhạn Ảnh (Quảng Nam), Lý Anh Tỵ (Quảng Nam), Lý Trần Mai (Quảng Nam), Lý Hậu Vệ (Cần Thơ), Lý Ngọc Thuý (Cần Thơ), Lý Thái Đăng (Buôn Ma Thuột), Lý Phương Anh (Hà Nội), Lý Chơn Thiệt (Cần Thơ), Lý Giác Thư (Hà Nội), Lý Thế Dân (Cần Thơ), Lý Viết Uyên (Buôn Ma Thuột), Lý Thiên Hoa (Cali), Nguyễn Tuấn Dũng (Không địa chỉ), Chánh Nghiệp (Không địa chỉ)…Trong đó có ba bạn trả lời hai lần !!!

Và, trong hai mươi mốt bài viết, có đến mười tám (18) vị HĐ trả lời thoả đáng các yêu cầu ba câu hỏi BQT đặt ra !!! Đây là một kết quả không ngờ, điều này cho thấy, các bạn đã nắm rất vững chủ đề mà chúng ta đang học tập trong mấy tuần nay !!! BQT xin tán thán chung tinh thần tu học của tất cả HĐ chúng ta !!!

Sau khi cân nhắc, đánh giá các bài viết !!!
-Để tuyên dương những vị HĐ đã có bài trả lời xuất sắc !!!
-Để động viên, khuyến khích tinh thần tu tập của HĐ chúng ta !!!

BQT thống nhất sẽ trao mười một phần quà cho các vị HĐ sau:

-Hà Nội: Lý Giác Thư & Lý Phương Anh
-Tây Nguyên: Lý Thái Đăng & Lý Viết Uyên
-Quảng Nam: Lý Anh Tỵ, Lý Nhạn Ảnh & Lý Trần Mai
-An Giang: Lý Ngộ Tuấn & Lý Thiện Huệ
-Cần Thơ: Lý Ca Ca & Lý Ngọc Thuý

-LÝ TỨ cũng sẽ dành hai phần quà đặc biệt, để tuyên dương sức tinh tấn của SH Lý Minh Tánh (94 tuổi ở Tây Nguyên), SM Lý Bích Huyền & SĐ Lý Liêm (An Giang) !!!

Xin gởi đến các bạn, các bài viết tiêu biểu của TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 04/2019 của HĐ chúng ta !!!
LÝ TỨ

1. Bài viết của Lý Thái Đăng

Kính Thầy!
Kính thưa các HĐTM!
Nhân dịp TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – số 04/2019 bàn về TỨ NIỆM XỨ của Lý Gia đưa ra, trùng với sự kiện “HỘI SÁCH 2019” kỷ niệm ‪1000 năm Hoàng Thành Thăng Long, diễn ra tại Hà Nội‬ vào tháng 10/2019. Theo dõi thông tin về “HỘI SÁCH 2019”, con rất cảm kích khi thấy những hình ảnh về cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN kịp trưng bày trong HỘI SÁCH và được đông đảo bạn đọc ưa thích chia sẻ và lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội.

Con xin tán thán sự kiện văn hóa lịch sử trọng đại này! Với cảm nghĩ:
HIỂN LONG!
Ngàn năm mở Hội Sách Thăng Long
Trương Tam, Lý Tứ nối mạch thông
Diệu Pháp Hiển bày xây Phật Quốc
Nhân duyên hội đủ Lý Hiển Long.

Sau đây là phần trả lời các câu hỏi.
1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp)???

Trả lời:
Để thấu rõ Phật pháp nói chung, bài pháp “Bốn Niệm xứ” nói riêng, người tu hành phải vâng theo lời dạy của Bậc Đạo Sư, lấy sự đam mê, dấn thân và quên mình, để thực hiện đúng ba điều Phật dạy, gọi là VĂN, TƯ, TU!

Đối với Lý Gia, VĂN, TƯ, TU được Thầy Lý Tứ diễn nghĩa như sau:

– Điều gì đã biết, nhất định phải biết đến nơi đến chốn (tránh chuyện biết nửa vời)!!! (gọi là VĂN, hay DANH THÂN)

– Điều gì đã học, nhất định điều đó phải được tư duy thấu đáo, làm rõ nguồn cơn (tránh việc học vẹt)!!! (gọi là TƯ hay CÚ THÂN)

– Điều gì đã hiểu, nhất định phải ứng dụng nhuần nhuyễn vào thực tế cuộc sống (tránh việc hô hào suông)!!! (gọi là TU hay HÌNH THÂN)

Quay về thực hành VĂN, TƯ, TU cũng có nghĩa là quy y TAM BẢO! Quy y Phật Bảo (điều thứ nhất); Quy y Pháp bảo (điều thứ hai); Quy y Tăng bảo (điều thứ ba).

Nương vào “Ba điều diễn nghĩa” của Bậc Đạo Sư để trả lời câu hỏi, ta tuần tự triển khai như sau:

“Trước đây trên 2500 năm chúng sanh đau khổ vì sanh tử như thế nào thì 2500 năm sau chúng sanh đau khổ cũng giống như vậy, và trước đây chư Hiền Thánh dạy chúng sanh giải quyết đau khổ như thế nào thì bây giờ cũng chỉ giải quyết như vậy, cho tới tận cùng đời vị lai cũng chỉ giải quyết như vậy mới mong đoạn tận khổ đau” (Lý Tứ)

Con đường để (giải quyết đoạn tận khổ đau… thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn) đã được ghi lại, có tên “KINH NIỆM XỨ”! Mở đầu bài “KINH NIỆM XỨ” Thế tôn thuyết như sau:

“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ”…

Căn cứ lời chơn thiệt của Thế tôn thì việc thấu rõ “Bốn Niệm xứ” là chìa khóa vàng duy nhất để mở cánh cửa đi vào “con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”

Nghĩa là “Bốn Niệm xứ” như yết hầu án ngữ trên con đường độc nhất, không có con đường thứ hai ngoài “Bốn Niệm xứ” đưa đến Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ.

Người tu hành mà không biết “Bốn Niệm xứ” thì chẳng thấu 37 phẩm, chẳng rõ Tứ Diệu Đế, đồng nghĩa với người đó đang đi trên các con đường Tà đạo, con đường dẫn tới bế tắc, không có lối ra.

Thấu suốt tầm quan trọng đặc biệt “Bốn Niệm xứ” trong Tứ Diệu Đế và 37 phẩm, 11 năm qua Lý Lão Sư cùng Lý Gia, đã không quản công cày xới trên bốn bảo điền (Thân bảo điền, Thọ bảo điền, Tâm bảo điền và Pháp bảo điền), làm sạch cỏ chúng sanh, tiêu trừ mầm bệnh, gieo giống bồ đề, ươm mầm trí tuệ, đâm rễ ngũ căn, phát sanh ngũ lực, nuôi dưỡng bằng thức ăn giới, định, tuệ vô lậu, vì vậy cây Bồ Đề lớn nhanh, trổ cành thất giác chi, ra quả bát chánh đạo… Cho đến nay hương thơm đã tỏa, hoa quả sum suê, trong vườn nhà Lý Gia.

Nói lên những điều này để chứng minh rằng, Đạo tràng Lý Gia như con tàu Bát Nhã đã đi đúng trên Đạo lộ an ổn, của Thanh tịnh, Niết Bàn… Bởi sự chỉ huy của Lý Lão Sư tài ba trong suốt 11 năm qua, đã huấn luyện:
– Điều gì (học trò Lý Gia) đã biết, nhất định phải biết đến nơi đến chốn (tránh chuyện biết nửa vời)!!!
– Điều gì (học trò Lý Gia) đã học, nhất định điều đó phải được tư duy thấu đáo, làm rõ nguồn cơn (tránh việc học vẹt)!!!
– Điều gì (học trò Lý Gia) đã hiểu, nhất định phải ứng dụng nhuần nhuyễn vào thực tế cuộc sống (tránh việc hô hào suông)!!!

Đối với “Bốn Niệm xứ” Lý Lão Sư đã phát động phong trào viết tiểu luận, trong đó “Tiểu luận: Tứ niệm xứ và sự cần thiết phải nắm vững bốn pháp này đối với một người mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo” được thực hiện vào cuối năm 2015.

Đề tài “Tứ niệm xứ” này, đã được Lý Lão Sư tổng kết bằng một Tiểu luận mẫu mực, giảng giải vô cùng thâm sâu, chi tiết, rành mạch, đem đến lợi lạc không thể nghĩ bàn (được kết tập trong cuốn Anh Lạc Luận, bài 267) và bản đọc tại đường dẫn https://youtu.be/MqBH6Djipb4 …

Ngoài ra, để việc triển khai nhằm làm sáng tỏ Tứ Diệu Đế và 37 Phẩm… Thầy Lý Tứ còn thiện xảo lập bày phương tiện, với số lượng hàng ngàn bài giảng, bài viết phân tích tỉ mỉ, chia chẻ đến nơi đến chốn từng vấn đề cụ thể vi diệu trong Phật đạo.

Từ những thành công bước đầu trong vườn nhà Lý Gia, kết quả đã được nhân rộng và đem yêu thương đến với mọi nhà, một cách nhanh nhất nhờ ứng dụng công nghệ tiên tiến của thời đại, mà Diệu Pháp đã lan tỏa ra khắp mọi miền…

Trang website lytu.vn đã kịp thời ra mắt bạn đọc. Trang Facebook Lý Tứ; Lý Gia, cũng được lập ra để phục vụ việc tu học. Đặc biệt, chuyên mục “Độc giả hỏi, Lý Tứ trả lời” đã lôi cuốn được nhiều độc giả theo dõi và tăng tính hấp dẫn theo thời gian.

Mở chuyên mục này, Thầy Lý Tứ với Trí Tuệ của mình, quang minh chính đại, Trang Chủ Lý Gia đã sẵn sàng giải đáp mọi câu hỏi, thắc mắc liên quan đến Phật pháp.

Kết quả diễn ra thời gian qua cho thấy xuất hiện nhiều câu khéo hỏi, chứng tỏ diễn đàn đã thu hút nhiều bạn đọc tin cậy, và hoan hỉ nhất là cách khéo trả lời của Thầy Lý Tứ đã làm thay đổi thái độ của nhiều độc giả, từ coi thường đến tôn trọng; từ ngỡ ngàng, ngạc nhiên đến tâm phục, khẩu phục bởi Chân Lý và Trí Tuệ được phát ra từ trang nhà Lý Gia, Lý Tứ.

Diễn đàn Trí Tuệ (dưới dạng Trò chơi hay Hỏi Đáp…) vẫn đang duy trì hoạt động, rộng cửa tiếp đón các đề tài, câu hỏi về Phật đạo… và được công khai phổ biến rộng rãi trên mạng xã hội.

Phương pháp, hay cách thức tu học của Lý Gia cũng “không nhọc công tốn sức” chỉ cần biết cách thay đổi nhận thức trên bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp thì mọi lỗi họa sinh ra đều được hóa giải, an vui ngay tại chỗ.

Mỗi một học trò trong Lý Gia, khi đối duyên xúc cảnh, đều được Lý Lão Sư chỉ rõ cách huân tập để tạo phản xạ, là “quay về giải quyết nguồn tâm”, “giới hạn từ mặt da trở vào” (bởi vì trong đó có đủ bốn niệm xứ), mà không chạy ra ngoài…

Nhờ vậy mà người học chẳng tốn nhiều thời gian, công sức, chỉ hiểu đúng, làm đúng lời chỉ dạy của Thầy vào “bốn niệm xứ” thì ngay đó trong lòng rỗng rang thanh tịnh, bất kể người tu hành đó là ai!

Học trò Lý Gia lấy “lặng lẽ, quan sát, không kết luận” trên “Bốn niệm xứ” và đã ứng dụng thành công, mang lại Niết bàn an vui thực sự cho nhiều người trong cuộc sống mà không cần “dụng công” hay “lập hạnh” làm phép tu.

Thực hành như vậy, cũng có nghĩa là tu tập “Giác Quán Tam Muội”, theo ba bước (có giác có quán; không giác có quán; không giác không quán)…

Từ những kết quả đạt được, mỗi người có thể trải nghiệm thêm môn học “thấu thị môn”; “thẩm sát môn”, để tự thẩm định kết quả tu học… là biết rõ mình đang học ở cấp học nào, lớp học nào cụ thể trong Tứ Diệu Đế và 37 Phẩm… và tự biết đánh giá mình đang đứng ở đâu, trên 37 đỉnh kiến tánh cần phải vượt qua, từ đó thấu suốt ý nghĩa thế nào là GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT và TRÍ TUỆ trên con đường tu học!

Một người tự biết lặng lẽ… lấy thấy làm biết, thấu suốt điều mình đang học, hướng đến trên Bốn Niệm Xứ gọi là GIÁC NGỘ;

Quán sát bản thân, không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm hư vọng trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì gọi là GIẢI THOÁT;

Không kết luận, tánh giác mới hiện…, từ đây người tu hành phát tâm Bồ đề dũng mãnh, học các phương tiện thiện xảo để giúp mình, giúp người, GIÁC NGỘ và GIẢI THOÁT trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì được gọi là Bồ Tát… có Trí tuệ.

Như vậy, một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp)!

2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ…Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không??? Vì sao được??? Vì sao không??? Xin giải thích cụ thể!!!

Trả lời:
“Tứ Niệm Xứ” được Thế Tôn di huấn, như chỉ rõ bốn chỗ “chôn vàng” cho các thế hệ người tu học đào bới, làm giàu cho mình và cứu giúp cho người…

Thầy Lý Tứ cũng chỉ dạy học trò trong Lý Gia, quán từ mặt da trở vào để thấu tỏ (thân, thọ, tâm, pháp).
Khi sự việc xảy ra, thì quay về giải quyết nguồn tâm, không chạy ra ngoài (từ mặt da trở ra). Lấy Tâm thanh tịnh làm thước đo cho sự tiến bộ của người tu tập.

Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ… Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Thì rõ ràng là đứa con hư, làm trái lời vàng ngọc của cha lành, cần phải quở trách, giáo dục!

Đương nhiên đứa con bất hiếu như vậy sẽ không biết cái gì là tài sản quý giá của cha mà thừa hưởng, nghĩa là không thành tựu bất kỳ một đạo quả nào đó trong Phật đạo, dù nhỏ nhất!

Nếu nói “khổ” mà không chỉ ra được khổ xảy ra ở trên Thân, Thọ, Tâm, hay Pháp, thì từ “khổ” đó chỉ là một âm thanh trống rỗng, “khổ” đó không có đế. Kinh gọi là “Hàng phàm phu có khổ, không đế”!

Nếu nói giải thoát mà không biết về sự trói buộc ở bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì chính kẻ đó đang là nô lệ cho (thân, thọ, tâm, pháp) . Kinh gọi là “Hàng phàm phu có tập không có đế”!

Nếu nói là DIỆT… mà không biết bốn chỗ trú ẩn của “giặc phiền não” đang chiếm đóng trên Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì DIỆT chỉ là văn tự, khẩu hiệu suông.

Và đương nhiên trường học ĐẠO ĐẾ không thể có mặt đối với những “học trò” đang bị “giặc phiền não” giam cầm, tù đày hay quản thúc!

Người tu tập trong Phật đạo cũng giống như người lính chống “giặc phiền não”, khi ra trận mà không xác định rõ “giặc phiền não” đang ở đâu, do đâu mà sanh, làm sao mà diệt?… thì bị thất bại bỏ chạy, hoặc bị bắt làm tù binh là điều không tránh khỏi.

Quả thực, nếu không biết Tứ niệm xứ thì mọi hoạt động (tu tập) sẽ không biết sẽ diễn ra ở đâu? Nương vào đâu mà giải quyết? Điều này cũng giống như muốn xây dựng ngôi nhà cao tầng mà không có (đế) thiết kế nền móng, hay trụ cột.

Hệ quả của việc tu hành sai (như đã nêu trên) tất yếu cho ra kết quả sai. Phiền não ngày càng tăng, tam độc phát tác càng mạnh là việc khỏi bàn cãi, cũng giống như trung tâm điều khiển máy tính (CPU) mắc lỗi từ hệ thống mà không gặp rắc rối, mới là chuyện lạ.!!!

Người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ… Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). thì chẳng khác nào người đi buôn thiếu trí, mua phải “vịt giời của Cuội” cho đến hết ngày mới hay bị Cuội lừa, vịt giời… bay mất!

Để nhận ra việc tu học xa rời Tứ Niệm Xứ, không mang lại hiệu quả, mà tốn công vô ích, mất thời gian như câu chuyện “mua phải vịt giời”, hay như kiểu trẻ em thích “ngậm vú giả”… Ta có nhiều cách thẩm định. Nhưng cách trước nhất, là lấy ngay bản “KINH NIỆM XỨ” để làm thước đo.

Kinh dạy: “Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn”. (Trích Kinh Niệm Xứ – Satipatthàna sutta)

Căn cứ lời kinh, thì khoảng thời gian trong vòng bảy ngày đến bảy năm: Một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Cột mốc về thời gian (từ bảy ngày đến bảy năm) được ghi rõ trong “KINH NIỆM XỨ” là lời chơn thiệt, là vị trọng tài khách quan đáng kính!

Đây là khoảng thời gian nhắc nhở, giúp cho những ai đã tu tập từ 7 ngày đến tối đa vượt qua cột mốc 7 năm mà vẫn còn khổ đau, phiền não, kiết sử, lậu hoặc… thì cần phải coi lại quá trình tu tập của mình là sai MỤC TIÊU, thiếu PHƯƠNG PHÁP hay vì lý do nào khác…!!!???

Việc xem xét, tự kiểm định mình là vô cùng cần thiết. Cũng như người bệnh cần phải xem lại việc chữa bệnh nhiều năm sao mà không khỏi, cần phải tự hỏi “Mình đang chữa bệnh hay đang nuôi bệnh đây”! Từ đó mà có thái độ lặng lẽ quan sát bản thân… Tại sao mình đã uống thuốc đầy đủ, công phu ngày đêm, đã thực hiện phác đồ điều trị “như quảng cáo” mà sao bệnh không hết?

Trả lời được câu hỏi này cũng đồng nghĩa như là có được “mầm giác ngộ” trong đời!

Mặt khác, cột mốc về thời gian từ bảy ngày đến bảy năm cũng như tấm gương sáng, chân thực để người tu hành soi lại mục tiêu đề ra, phương pháp tu tập và kết quả. Nghĩa là phương pháp tu tập này tối đa (sau 7 năm) có đưa đến an vui Niết bàn hay không? Hay là vẫn còn Phiền não khổ đau trong lòng ta…

Nếu nhận ra sự nhầm đường, lạc lối hay cảm nhận bị lừa dối, thì nhớ ngay câu chú “Quay đầu là bờ!”… hoặc chạy ngay đến trung tâm “Bốn niệm xứ” để được… cứu hộ, cứu nạn kịp thời!

Trong đời sống, người nhắm sai mục tiêu, (nhắm ngoài Bốn niệm xứ) thì cũng như người lầm đường lạc lối, chẳng bao giờ đi đến đích, cho dù vượt qua 7 năm, 70 năm, hay 7 đại kiếp thì cũng không khác.

Như người nông dân không biết ruộng của mình ở đâu thì chẳng có chỗ để canh tác… Người đi làm thuê mà làm không biết chỗ cần làm thì chẳng ai trả tiền công.

Trường hợp khác, tuy xác định đúng mục tiêu, nhưng lại thiếu phương pháp, phương tiện, cách giải quyết sai lầm, thì cũng không thể đi đến nơi cần đến, như người đi trên chiếc xe chết máy, mà không có đồ thay, hay bó tay hết sửa.

Cũng như nhà nông chọn giống sai thì chẳng cho ra kết quả mong muốn, vật nuôi chưa xử lý mầm bệnh thì ổ dịch lây lan, có khi phá sản…Bón phải phân giả, phun thuốc giả thì… cây từ từ vàng lá và… chết queo!

Trong lĩnh vực tu hành cũng không khác, việc lấy bốn bệnh (Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt) làm phép tu, hình như đang là một tình trạng phổ biến, có lẽ phong trào đã lên đến cao trào, đỉnh điểm!!!

Hệ quả của việc lấy bốn bệnh (Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt) làm phép tu thì đi vào bế tắc, nhân, ngã… hiện hình, kiến giải chẳng thông, mắc kẹt tứ cú, hiện đủ ba thời…ngũ ấm che mờ, ngũ uẩn tích đủ… do vậy mà phiền não, khổ đau, mê mờ, cột trói…không thoát ra được… càng tu bệnh càng trầm trọng!

Nếu ai đó chưa nhận ra điều này mà vẫn cố chấp, lấy bệnh làm phép tu, nuôi bệnh làm tự hào thì… gọi là… tu hành, ĐIÊN ĐẢO! Chẳng khác người bị khiếm khuyết Ý căn, ngày qua tháng lại, cứ “Ù Ù CẠC CẠC TRONG CƠN TÙY MỘNG”! (Tác giả Thích Mật Thể).

3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy ???

Trả lời:
Mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành thành tựu kết quả, được ghi rõ ở đầu bản KINH NIỆM XỨ là “đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”.

Bài kinh KINH NIỆM XỨ không dài, nhưng sau mỗi lời dạy thực hành phép quán trên Thân, Thọ, Tâm, Pháp, đều đưa đến mục tiêu (được lặp lại 16 lần trong bản kinh) là: “Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”! Tức là thành tựu VÔ NIỆM trên “bốn niệm xứ”.

Vô niệm trên Thân, nghĩa là thấu tỏ “Thân này không phải của ta, là ngã của ta, là tự ngã của ta”!
Vô niệm trên các cảm Thọ, Tâm và Pháp cũng như vậy!

Sau phép quán, ta nhận ra rằng: Thân, Thọ, Tâm, Pháp chỉ là danh tự, khi mê thì (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) trở thành pháp cấu.

Kinh dạy: “Các pháp theo duyên sanh; pháp theo duyên mà diệt”… do vậy mà chẳng thể làm chỗ nương tựa! Thấu suốt được điều này thì gọi là Giác ngộ, “niệm mê” chẳng khởi!

Chẳng khởi “niệm mê” trên “Thân”, thì ngay đó chẳng phiền chẳng não, chẳng kiết chẳng sử, chẳng còn rỉ chảy hay mê mờ trên “Thân”, gọi là Thân giải thoát!

Chẳng khởi “niệm mê” trên “Thọ”, “Tâm” và “Pháp”, thì cũng như vậy!

“Bốn niệm xứ” có thể ví như “đầu nổ” hay “thuốc cháy” của quả tên lửa hành trình, có 37 mô đun, được ghép thành 3 tầng (tư lương vị, kiến đạo vị, tu đạo vị).

“Tư lương vị” và “kiến đạo vị” sẽ lần lượt cháy hết trong môi trường hữu lậu… để đẩy tầng “tu đạo vị” đi vào không gian vô lậu. Khi đủ nhân duyên (điều kiện) thì đầu đạn được kích nổ.

Khi đầu đạn phát nổ thì toàn bộ tầng còn lại của quả tên lửa (Tu đạo vị) sẽ bùng cháy. Lúc đó gọi là “Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố…”

“Bốn niệm xứ” không những là “thuốc cháy” của Tứ Diệu Đế, 37 Phẩm, mà luôn có mặt trong tất cả các bản kinh hay lời dạy của Phật, những ai biết rõ về nó sẽ vô cùng lợi lạc.

Gọi là “con người” bởi có đầy đủ thân và tâm. Có thân thì có thọ, có tâm là có pháp, (Tứ niệm xứ xuất hiện) hoặc xét trong 5 món Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức thì Sắc chỉ về Thân; Thọ, Tưởng, Hành, Thức chỉ về Tâm, đầy đủ thân, tâm thì đó là con người có đủ Tứ niệm xứ.

Khi thực hành chọn Thân làm niệm xứ trú tâm quan sát, ta thấy rằng các cảm thọ cũng dựa trên thân này mà xuất hiện, Thân và Tâm nương tựa lẫn nhau mà tồn tại, khi Thân không còn thì Tâm cũng mất, dục ái cũng bặt; xét về pháp thì bốn món cũng là các pháp;

Hoặc khi quán niệm hơi thở, ta thấy hơi thở duy trì sự sống, nên hơi thở liên quan đến Thân; khi thở vô, thở ra biết rõ dài ngắn, mạnh yếu, nên hơi thở thuộc về cảm thọ; tâm thanh tịnh hơi thở êm dịu, tâm sân hận hơi thở dồn dập liên quan đến trạng thái của Tâm; pháp quán niệm hơi thở cũng là một Pháp.

Như vậy bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp luôn có mặt và móc xích lẫn nhau (như sản phẩm 4 trong 1), việc chia thành bốn món là giả lập, nhằm giải quyết vấn nạn của các thừa, giống như có ông tên là NIỆM sau đó ông mê trên 4 chỗ mà có bốn tên gọi khác nhau. Do vậy cách giải quyết (của từng thừa) nhằm vào từng chỗ mê của ông thì cuối cùng cũng đưa đến kết quả là giải quyết VÔ NIỆM trên cả bốn xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp). Bốn xứ đồng thanh tịnh.

Khi thấu rõ ý nghĩa của ‘Bốn Niệm Xứ” ta có thể trạch pháp để làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong Phật đạo, từ mỗi bài kinh, đến từng câu kinh ta cũng nhận thấy các món (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) ẩn chứa “thuốc cháy” trong đó.

Cách tu của Nhị thừa: “Xuất ngũ ấm gia” hay tu chứng “Ngũ uẩn giai không”, bản chất cũng là thực hành Tứ niệm xứ.

Sắc uẩn thuộc về vật chất liên quan đến Niệm thân;
Thọ uẩn thuộc về cảm giác liên quan đến Niệm thọ; Tưởng uẩn thuộc về sự suy lường liên quan đến Niệm tâm;

Hành uẩn và Thức uẩn thuộc về sanh pháp liên quan đến Niệm pháp;

“Xuất Tam giới gia”, bản chất cũng là thực hành Tứ niệm xứ.

Sắc giới thuộc về vật chất liên quan đến Niệm thân;
Dục giới thuộc về ham muốn liên quan đến Niệm thọ;

Vô sắc giới thuộc vô vi liên quan đến Niệm tâm, Niệm pháp.

Người tu pháp cảm thọ (Duyên Giác) tập trung quán Lý duyên khởi để thấy rõ thật pháp là không pháp.

Các cảm thọ sinh khởi trên các căn (thuộc thân) nhưng cảm nhận lại thuộc về tâm, như vậy pháp quán này cũng không rời Tứ niệm xứ.

Y cứ trên pháp quán 12 nhân duyên ta cũng có thể chỉ ra sự có mặt của Tứ niệm xứ: Thức liên quan đến tâm; Danh sắc, liên quan đến thân; Thọ liên quan đến cảm thọ…; Duyên thuộc về pháp.

Vòng quay 12 nhân duyên thực chất là vòng luân hồi của chúng sanh trong ba cõi, là vòng quay của vô minh, chỉ cần chấm dứt một “duyên” bất kỳ trong vòng quay đó thì vô minh chấm dứt, hay chỉ cần chấm dứt “một niệm xứ” trên 12 nhân duyên thì kết quả cũng không khác.

Nói cho cùng thì vấn đề của ba thừa là tập trung giải quyết “NIỆM MÊ” trong tâm để dứt tánh phàm phu, như “giặt sạch tấm vải còn cấu uế”, để “Như Lai vẽ các hình” giai đoạn này gọi là “Minh tâm kiến tánh” tức Vô Niệm hay Đảo Bỉ Ngạn.

“Vô niệm tức niệm Nam Mô; Vô tâm đích thực qua bờ bên kia”! (Lý Tứ)

Xin phép được kết luận bằng bài VÈ TU TẬP (Trở về cội nguồn) như sau:
Niết Bàn -Như Vầy!
Làm sao mà thấy?
Hãy nhớ nắm lấy
Chìa khóa ý căn
Mở chỗ giam cầm
Thân, thọ, tâm, pháp
Lặng lẽ quan sát
Đừng kết luận gì!
Nếu mà phạm quy
Tánh giác không hiện
Nhớ trong đời sống
Từ bỏ suy lường
Nói im tỏ tường
Xa rời hí luận
Tịch diệt quan niệm
Lòng chẳng ngã nhân
Niết bàn xa? Gần?
Khỏi cầu cũng hiện./.

Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ!!!
Con, Lý Thái Đăng

2. Bài viết của Lý Phương Anh

Thầy ơi,
Con xin gửi Thầy trả lời 3 câu hỏi trong trò chơi trí tuệ lần này về Tứ Niệm Xứ ạ.

1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp) ???

Người tu hành trong Phật đạo là nhằm 2 mục đích: Tự giúp mình hết khổ được giải thoát và sau giúp người cũng được hết khổ giải thoát như mình. Ngoài 2 mục đích này không có mục đích nào khác. Vì thế mà gọi đạo Phật là Đạo Diệt Khổ, Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải thoát, Đạo Trí Tuệ. Các đạo quả của Phật Đạo cũng là những đạo quả viên mãn từng tầng bậc Diệt khổ, Giác ngộ, Giải thoát, Trí Tuệ.

Vậy muốn biết vì sao một người tu hành trong Phật Đạo chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ, chúng ta cần xem Tứ Niệm Xứ có liên hệ như thế nào với 4 tầng bậc này?

Tầng thứ nhất Diệt khổ:
Trong Khổ đế của Tứ diệu đế, Phật đã khái quát tất cả nỗi khổ trên đời này và chia ra thành tám loại gồm có: Sanh khổ (đau khổ khi sinh), lão khổ (khổ khi già), bệnh khổ (khổ khi bệnh), tử khổ (nỗi kinh sợ cái chết), ái biệt ly khổ (cái khổ vì phải chia ly), cầu bất đắc khổ (khổ vì thất vọng), oán tắng hội khổ (cái khổ vì oán thù phải hội ngộ), ngũ ấm xí thạnh khổ (khổ với cái thân ngũ ấm bất bình thường).

Suy nghĩ kĩ hơn vào bản chất của 8 loại khổ này sẽ thấy một thực tế là khổ đau xét cho cùng đều y nơi bốn món mà phát sinh: Khổ đau từ thân, khổ đau do các cảm thọ, khổ đau khởi từ tâm và khổ đau do chấp nhất những quan điểm quan niệm. Nếu không mê cái thân này thì đâu có khổ, cũng như vậy nếu không mê những cảm thọ này, tâm này, những nhận thức nghĩ suy này thì sự khổ đau đâu có hiện.

Như có người bị cái dằm đâm hay ung nhọt làm đau, sẽ không thể cứu chữa nếu như không lần về chính chỗ nơi cái dằm cắm rễ, đó là điều kiện đầu tiên để có thể nhổ bỏ cái dằm. Thì cũng vậy, tứ niệm xứ là bốn nơi chốn làm chúng sanh khổ và tứ niệm xứ cũng chính là chiếc chìa khoá để ba thừa mở khoá diệt khổ.

Tầng thứ 2 Giác ngộ:
Sanh tử phiền não là khổ, mê lầm lậu hoặc kiết sử là tập, thân thọ tâm pháp là đế (nơi vô minh bắt rễ). Đã tìm được nơi chốn làm cho mình sanh khổ, khi quán sát người tu hành tuỳ vào căn cơ sẽ thấy được một niệm xứ chính “niệm xứ trước giờ sinh sự hơn cả với mình” trong bốn niệm xứ. Tiếp tục đào sâu quán sát tư duy cho đến tận nguồn cơn người ấy sẽ có được hiểu biết sáng rõ rốt ráo về bản chất của niệm xứ ấy. Kết hợp với sự quan sát ba niệm xứ còn lại có tác dụng hỗ trợ thêm cho niệm xứ chính, làm niệm xứ chính rõ nghĩa hơn, người ấy giác ngộ mối nguy hại, giác ngộ nguyên nhân sinh khởi, quá trình tích tụ và từ đó thấy được con đường tịch diệt kiết sử lậu hoặc nơi bốn niệm xứ. Giống như một người gỡ đám dây rối, lần mò đến chỗ gút thắt cũng là lúc người ấy biết phải cởi bỏ gút thắt như thế nào.

Chính trong nghĩa này mà tứ niệm xứ là nhân để ba thừa nương đây được quả giác ngộ. Giác ngộ là tìm thấy phương tiện giải quyết vấn đề cho riêng mình, biết nơi mình đến, con đường để đi, phương tiện đi lại và thấy rõ các chướng ngại cần vượt qua.

Tầng thứ 3: Giải thoát
Sự giác ngộ thấu suốt nguyên nhân sinh khởi, nguyên nhân tịch diệt của Tứ niệm xứ ở giai đoạn vừa nêu trên là cơ sở để có tâm an định.

Khi đã thấu rõ bản chất của thân biết rằng thân này vô thường, chỉ là do bốn đại chủng làm thành, tuân theo quy luật sanh lão bệnh tử, thấu rõ bản chất của các cảm thọ biết rằng cảm thọ không thật chỉ do các duyên hội hoặc ái tâm sanh, thấu rõ bản chất của tâm chỉ là các hiệu ứng tình cảm giả tạm chứ trước nay thanh tịnh, thấu rõ bản chất của các pháp chỉ là quan điểm quan niệm nay đúng mai sai, chỗ này thế chỗ kia khác, bị chi phối bởi không gian thời gian, không phải chân lý mà chỉ do phân biệt hư vọng mà thành. Vì thấu rõ như thế mà không còn bị trói buộc chấp nhất thủ giữ thân, thọ, tâm, pháp, được giải thoát Niết bàn an tịnh.

Tầng thứ 4: Trí tuệ
Giống như người trước bị bệnh nay đã chữa khỏi phát tâm đi học Y mong giúp cho nhiều người cũng được nhanh chóng khỏi bệnh khoẻ mạnh như mình. Bồ tát sau khi giải quyết rốt ráo nơi mình, từ chỗ trí tuệ sơ khởi này người ấy phát tâm Bồ Đề nguyện độ hết thảy chúng sanh, phá tan vô minh trụ địa thành tựu Phật tri kiến.

4 ổ dịch của chúng sanh giờ đây trở thành bốn nơi làm việc, bốn đạo tràng của người ấy, giúp người ấy thành tựu sứ mệnh ”nghề y”.

Tứ Niệm xứ giờ đây như là bảo bối là tấm bản đồ trong chéo áo làm cơ sở giúp vị ấy thấu thị, thẩm định đối tượng biết họ đang ở căn trí điểm phát xuất nào từ đó có chánh tri kiến, chánh tư duy phát sinh chánh phương tiện, chánh ngữ. Người ấy biết lắng nghe, biết chắt lọc và nắm bắt quyết định nghĩa nơi chúng sanh, nhìn thấy chỗ vào các tam muội môn, giải thoát môn trong quá trình hoá độ.

Như vị bác sĩ càng học rộng biết sâu càng giỏi tay nghề chữa bệnh, càng chữa được nhiều bệnh nhân hiểu biết kinh nghiệm lại càng tăng, hiểu biết kinh nghiệm càng tăng học vị học hàm của vị bác sĩ ấy càng thăng tiến. Thì cũng như vậy, từ nơi bốn niệm xứ mà trí tuệ và công đức của Bồ tát phát sanh, giúp vị ấy tiến dần lên những đạo quả về Vô thượng bồ đề.

Nói chung Tứ niệm xứ chính là cội nguồn của đạo pháp, là con đường đưa một phàm phu mê lầm đến bậc Thánh giải thoát an vui, là cơ sở để Bồ tát hành đạo, viên thành mục tiêu cao nhất của trí tuệ là sự tương thông tâm ý, chèo đò đưa người qua sông.

2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ…Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể !!!

Mục đích của tu Phật là đời sống được an vui bình thản. Mà bản chất của sự an bình tuyệt đối nằm trong bản thể sâu thẳm của tâm chứ không nằm ở bên ngoài thế giới cảnh duyên.

Định trong phật giáo cũng là định trong giác ngộ, định do giác ngộ lẽ thật mà tâm không loạn động, có nghĩa nhân nơi thấu suốt bản chất sự việc hay một pháp nên tâm không chạy theo pháp hoặc bị loạn động bởi cảnh duyên.

Vì vậy chỉ khi thấu đáo nơi bốn niệm xứ thì tâm mới vĩnh viễn Niết bàn an ổn. Còn nếu ra công tìm kiếm nơi Pháp giới mênh mông ngoài kia thì chỉ uổng công vô ích. Giống như đánh giặc mà không biết giặc là ai, ở đâu, không nhằm vào đồn giặc mà đánh thì hoạ có thắng được chăng?

3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy ???

Như đã trình bày ở trên, nhận thức của người tu hành sẽ thay đổi ngày càng rộng hơn sâu hơn về bốn niệm xứ. Từ nhận biết nơi khổ đau sinh khởi, cho đến lý duyên thấy bản chất, cuối cùng là thấu rõ thiệt tướng.

Vì vậy có thể nói ở giai đoạn đầu, Pháp niệm xứ là chốt cuối cùng của phép quán, để ý ta cũng thấy Phật tuyên pháp niệm xứ sau cùng các niệm xứ khác. Khi Pháp niệm xứ thành tựu, người tu hành sẽ giác ngộ những suy nghĩ, so sánh, phân biệt, định đặt giá trị, những quan điểm quan niệm đều chỉ là sự mê muội từ nội tâm của chúng sanh, bản chất các trần không hề có.

Thấu suốt cơ chế “tâm sinh pháp sinh” – “pháp sinh tâm sinh”, cũng là lúc người tu hành tâm pháp hết sanh, tâm không pháp không.

Tâm pháp không sanh, thanh tịnh trước muôn cảnh duyên, phiền não trụ địa đã mất, tiếp tục lặng lẽ quan sát bốn niệm xứ đến một lúc người tu hành mới bỗng trực nhận thật nghĩa của pháp trong pháp niệm xứ và hiểu ra thật tướng của bốn niệm xứ. Pháp trên thân, pháp trên thọ, pháp trên tâm hay pháp trên pháp cũng là pháp. Bản chất bốn niệm xứ không tự có, chỉ do vô minh che mờ mà như vậy và cũng để bứng rễ vô minh mà phải như vậy …

Thật tướng của bốn niệm xứ ra ngoài quyền ngoài thiệt, ra ngoài giả ngoài chân. Lúc này người ấy thực sự rốt ráo xả, không còn chấp trước hay bị trói buộc bởi bất cứ thứ gì, mới thực sự bắt đầu phát sinh “trí tuệ nơi tự thân”. Bốn niệm xứ tuy màu nhiệm, sâu thẳm nhưng cũng chỉ là pháp căn bản, bước đầu tiên trên con đường tiến về Nhất thiết trí.

Vì thế hỏi mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ niệm xứ là thành tựu niệm xứ nào trong tâm trí thì câu hỏi này không có câu trả lời, vì nếu có câu trả lời, nếu còn một niệm xứ nào trong tâm trí thì có nghĩa là phép quán chưa thành tựu, mục tiêu cuối cùng chưa đạt được. Có chăng nếu được tạm đặt tên cho một niệm xứ thứ năm thì niệm xứ ấy là niệm xứ Trí, vì bởi vô niệm vô xứ mới là Trí xứ.

Thầy chỉ dạy thêm cho con tỏ tường ạ,
Con chào Thầy,
Lý Phương Anh

3. Bài viết của Lý Giác Thư

Con kính lạy Thầy !
Thưa các thành viên BQT, và tất cả HĐTM !
Con xin tham gia trả lời câu hỏi TCTT – 04/ 2019

Câu1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp) ???

Trả lời:
Một người tu hành trong Phật đạo, để thành tựu các đạo quả của Phật đạo đều phải hiểu rõ Tứ Niêm Xứ và tu tâp nó. Bốn món này thuộc về Tư lương vị, tức hành trang ban đầu cần phải đi xa. Nếu chưa thành tựu, việc ra đi sẽ không thể thực hiện được.

Trong Phật đạo có bốn yêu cầu để một người giác ngộ, đó là giác ngộ thân, giác ngộ cảm thọ, giác ngộ tâm và giác ngộ pháp, thì bốn niệm xứ như bốn tòa nhà làm nên kiến trúc Phật giáo và như bốn mảnh ruộng trồng lên cây giác ngộ. Thành ra tứ niệm xứ chi phối toàn bộ tầng cao của Phật đạo.

Thứ nhất, có nghĩa rằng người này khổ vì người này có thân, có cảm thọ, có tâm và có sinh pháp, (sinh các quan niệm). Nếu người này không có thân, không có cảm thọ, không có tâm, không sanh pháp thì người này không khổ.

Như vậy ta thấy Tứ niệm xứ chi phối toàn bộ Khổ Đế, do đó nếu người này giải quyết được bốn niệm xứ, thì bốn món khổ này không xuất hiện cho nên nó là chìa khóa, đóng, mở cửa Niết Bàn. Như vậy khổ hay Niết Bàn, an vui là đều ở bốn nơi chốn thân, thọ, tâm và pháp.

Thứ hai về Tập Đế, sở dĩ người tu hành có tham, kiết sử, lậu hoặc, phiền não là vì người này có thân. Nếu người này không có thân hoặc cái thân không chi phối thì kiết sử, lậu hoặc, phiền não sẽ không hiện.

Sở dĩ có kiết sử, phiền não, lậu hoặc là vì người tu hành có cảm thọ như ưa mát ghét nóng hay ưa mát ghét lạnh chính vì vậy kiết sử, phiền não, lậu hoặc sẽ hiện. Nếu người tu hành không có cảm thọ hoặc chế ngự được cảm thọ hoặc thấy được bản chất của cảm thọ, giác ngộ được bản chất không tánh của cảm thọ thì kiết sử, phiền não, lậu hoặc sẽ không xuất hiện.

Thứ ba, người tu hành khổ ở đâu thì sẽ vui ở đó, chính thân, cảm thọ, tâm và pháp làm cho người này khổ, sinh kiết sử, phiền não, lậu hoặc. Cũng ngay bốn món đó mà chấm dứt kiết sử, phiền não, lậu hoặc thì người này thấy an vui.

Cho nên chứng diệt đế cũng trên bốn niệm xứ này. Tức là người này không khổ vì thân, cảm thọ, tâm và pháp. Chấm dứt bốn món này, thấy được tính chất của bốn niệm xứ này, hay giác ngộ được bản lai của cả bốn niệm xứ thì Niết Bàn sẽ hiện.

Như vậy Tứ Niệm Xứ chi phối luôn cả Diệt Đế, và cuối cùng Đạo Đế là học trí tuệ và trí tuệ cũng là học sâu của bốn món này để thấy được thiệt tướng của thân, thọ, tâm và pháp. Tứ niệm xứ chính là giáo lý căn bản trong phần Đạo đế, có hiểu được giáo lý này một cách tường tận thì sự tu hành mới vững chắc được.

Như vậy ta thấy rằng bốn niệm xứ đầu tiên: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ nó vừa là nền tảng, nó vừa là cốt lõi để làm nên tầng cao của Phật đạo, do đó tu tập trong Phật đạo không ra ngoài bốn niệm xứ.

Câu 2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ … Mà quán một niệm xứ khác (như cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn …v..v…) . Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong phật đạo hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể !!!

Trả lời:
Nếu người tu hành trong Phật đạo, không nhắm đến bốn nơi chốn thân, thọ, tâm, pháp để giải quyết những thấy biết hư vọng ngự trị trong nó, nhằm mở cửa Niết Bàn, lại vọng tìm một đối tượng khác bên ngoài thân tâm để cầu mong cứu cánh, Phật đạo gọi đó là tà kiến, tà tinh tấn, người này không biết hướng tâm. Việc này, giống như một người xa nhà nhiều năm tháng, nay muốn về lại căn nhà của mình, khi đến nơi, người ấy lại quay lưng trước cưa. Nếu sự việc này xảy ra, người ấy tuy có về đến nơi, nhưng không thể bước vào trong nhà !!!

Đạo phật là đạo Diệt khổ, là Đạo giác ngộ là đạo giải thoát và là đạo trí tuệ…
Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Đế;
Tứ Niệm Xứ chính là Thiền Xứ;
Tứ Niệm Xứ chính là Tập Đế và Dứt Tập Đế;
Tứ Niệm Xứ Chính là Đạo Đế và Tứ Trí Đế;
Tứ Niệm Xứ chính là Trung Đạo để Chư Phật mở Từ Bi Tâm khai phát Chân Giáo…

Vì thế muốn thành tựu Thiền Định, Tứ Đế, các quả vị của Phật Đạo cho đến các thứ Niết Bàn cùng Thật Trí, người tu hành không thể tìm kiếm những thứ này ngoài Tứ Niệm Xứ.

Câu 3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy ???

Trả lời:
Mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành thành tựu thanh tịnh bổn tâm, chứng hai vô ngã: Tâm thanh tịnh, pháp thanh tịnh là con thuyền bát nhã đưa người tu hành từ bờ mê đến bến giác.

Ở đây ta thấy giác ngộ là yếu tố sống còn trong tu tập. Giác để trí này đến gần với chân lý, ngộ để tâm này nắm bắt chân lý. Giác ngộ để xác chứng sự việc, giác ngộ để biến cái hiểu thành cái thấy, biến cái ngu thành trí, biến mê thành giác, biến lầm thành ngộ… Một khi thật thấy rồi, mới biết mọi thứ chẳng thể được, vì thế Tứ Niệm Xứ cũng chẳng thể được.

Giác ngộ sẽ biến đời sống của người tu hành với chân lý không còn là hai pháp. Vì đời sống và chân lý không còn là hai pháp nên tất cả vô sở đắc. Vì vô sở đắc nên vô sanh, vì vô sanh nên vô diệt, vì vô diệt nên vô tánh, vô tướng, vô trụ, vô niệm, vô xứ.

Nói tóm lại, mục tiêu của phép quán Tứ Niệm Xứ là tận dụng của trí tuệ để tìm kiếm con đường giác ngộ. Sau khi giác ngộ mới biết rằng, bổn lai thân, thọ, tâm, pháp đồng như hư không.

Con xin thay lời kết bằng BÀI KỆ KHAI TÂM
(Trích Anh Lạc Luận II – Lý Tứ)

“Khi mê, thấy có sắc không
Ngộ thời, tâm diệt sắc vong tức thì
Ngộ thời, sắc chẳng khác không
Mê thời, không ấy cũng thành sắc kia
Ngộ thời, sắc chính là không
Mê thời, không ấy chờ mong sắc này
Vượt qua bể khổ trần ai
Bến bờ giác ngộ chẳng hai trong lòng
Ai người có trí chớ mong
Sắc không như bóng nhạn trông đáy hồ
Vô niệm tức niệm Nam Mô
Không tâm đích thực đến bờ bên kia” !!!

Trên đây là những kiến giải của con, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, mong Thầy và BQT sửa và bổ khuyết cho con.
Con xin thành kính lạy Thầy 3 lạy !!!
Con chúc Thầy luôn mạnh khỏe, trụ thế thật lâu !
Con, Lý Giác Thư (Mai Văn Sách)

4. Bài viết của Lý Viết Uyên

Kính Thầy!
Con xin kính lạy Thầy 3 lạy!
Sau đây là câu trả lời Trò chơi trí tuệ kỳ 4/2019 của con. Xin Thầy chỉ bảo thêm.

Câu 1: Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp) ???

Trả lời:
Một người tu hành trong Phật đạo chỉ có thể thành tựu các đạo quả khi quán tứ niệm xứ vì:

Các quả vị của Phật đạo đều hướng đến diệt tận khổ đau, phiền não, giải thoát và trí tuệ. Và muốn thực hiện được điều đó, Phật đạo chỉ ra rằng nguyên nhân chính là do vô minh chiếm đóng nơi thân, tâm (bốn nơi chốn thân, thọ, tâm, pháp) hữu tình hay nói cách khác là, do nhận thức sai lầm nơi bốn niệm xứ này mà khởi các thứ hư vọng dẫn hữu tình vào vòng xoáy luân hồi sanh diệt không dứt.

Như vậy cũng chính từ bốn niệm xứ này người tu hành quán xét cho đến khi thấu suốt, trả lại bản nguyên trong sạch cho bốn niệm xứ thì cũng là lúc người tu hành thành tựu các quả vị trong Phật đạo. Giống như trong bóng tối (vô minh) lầm nhận sợi dây thành con rắn (tứ niệm xứ) mang tâm sợ hãi, khổ đau, phiền não nay bật ngọn đèn (giác ngộ) mới biết đó chỉ là sợi dây, từ đây an lạc, giải thoát… không cầu cũng tự đến.

Câu 2: Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ…Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể !!!

Trả lời :
Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không thực hiện quán tứ niệm xứ sẽ không thành tựu bất kỳ một quả vị nào trong Phật đạo.

Vì bởi ái dục, khổ, phiền não, kiết sử,lậu hoặc nương nơi bốn món thân, thọ, tâm, pháp mà trú, giả như không có thân và tâm này phiền não, kiết sử lấy nơi đâu nương gá mà sanh khởi. Cho nên giống như người chiến sĩ ra chiến trận tiêu diệt địch mà chẳng biết địch trốn nơi nao thì không thể chiến thắng.

Câu 3: Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy???

Trả lời:
Mục tiêu cuối cùng của phép quán tứ niệm xứ là giúp người tu hành thành tựu “vô niệm” (không niệm, không xứ). Vì bởi khi người tu hành giác ngộ, thì bốn món này trở về bản nguyên ban đầu trong suốt như hư không, không tích chứa phiền não, khổ đau, giống như vô minh đã được dọn ra khỏi căn nhà ngũ ngũ ấm vậy. Vì thế kinh dạy: “Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”.
Con, Lý Viết Uyên

5. Bài viết của Lý Thiện Huệ

Thầy kính!!!
Con xin đảnh lễ Thầy ba lạy!!!

Con xin được trả lời các câu hỏi:
1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp) ???

Trả lời:
Thưa Thầy!!!
Tứ niệm xứ bao gồm: “Thân, Thọ, Tâm, Pháp”, đây là bốn nơi chốn làm cho chúng sanh khổ. Vì vậy, người tu hành muốn chấm dứt khổ đau, phiền não, kiết sử và lậu hoặc, thì cũng từ bốn nơi chốn này tu tập. Ví như đau ở đâu, thì chữa ngay đó, có như vậy mới mong khỏi bệnh. Do đó, một người tu hành muốn mình “hết khổ”, phải y cứ vào Tứ Niệm Xứ, như pháp mà tu tập.

2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ…Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể !!!

Trả lời:
Theo con: Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ…Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Người ấy sẽ không thể thành tựu bất kỳ một đạo quả nào trong Phật đạo. Vì tu tập những pháp bên ngoài như thế giới hay bình, bàn…thì chẳng bao giờ chấm dứt được nguyên nhân sanh khổ.

Phật Đạo chỉ ra rằng, sở dĩ chúng sanh có khổ đau, có phiền não, có Kiết Sử và Lậu hoặc, là do mê lầm nơi Thân, mê lầm nơi Cảm Thọ, mê lầm Tâm và mê lầm Pháp (Quan niệm, hiểu biết…). Nếu không mê lầm nơi bốn điều này thì sự khổ sẽ không hiện. Cho nên, nếu có Giác Ngộ thì cũng Giác Ngộ từ bốn nơi chốn này.

Và tất cả các Đạo Quả trong Phật Đạo từ thấp đến cao, từ sơ ngộ đến giác ngộ viên mãn, sỡ dĩ có được thành tựu, đều là kết quả quá trình tu tập Tứ Niệm xứ Như pháp. Việc này cũng giống như, để mô tả quá trình học tập một người từ lớp 1 đến Tiến Sĩ, mỗi một cấp học có tên gọi tốt nghiệp tương ưng với “năng lực thành tựu” của Vị đó. Trong Phật Đạo, cũng tương tự như vậy.

VD như quả vị Tu Đà Hoàn trong Phật Đạo, được coi là một trong Tứ Thánh Quả, khi Vị tu hành đã chấm dứt ba Kiết Sử: Thân kiến, Giới Cấm Thủ và Nghi, trên nền tản tu tập “Tứ Niệm Xứ” như pháp… những quả vị còn lại, tương tự như thế, lần lượt thăng tiến trong quá trình tu tập quán pháp như pháp…

3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy ???

Trả lời:
Theo con, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu không niệm xứ” trong tâm trí.

Vì rằng nói bốn nhưng chỉ một thức nhận biết. Nhận thức sai lầm, nên bốn niệm xứ trở thành bốn món trói buộc. Dứt mê mới thấy bản chất bốn niệm xứ tự chơn, “nhất chơn nhất thiết chơn”.

Trên đây là những gì hiểu biết của con, kính Thầy chỉ dạy thêm !!!
Con chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, trụ thế dài lâu nơi thế gian, cho HĐTM chúng con thêm nhiều lợi ích!!!
Con, Lý Thiện Huệ

6. Bài viết của Lý Ca Ca 

Kính Thầy!!!
Kính HĐ Lý Gia!!!
Con xin phép trả lời câu hỏi:

Hỏi:
1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp) ???

Trả Lời: Người tu hành cần phải quán Tứ Niệm Xứ (như pháp), vì nhờ quán như pháp để thấy rõ bản chất, thấy thiệt tướng của chúng, rồi thật chứng qua từng đạo quả của Phật đạo như: hết khổ, dứt tập, chứng diệt…

Hỏi:
2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ…Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn…v..v…). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể !!!

Trả Lời: Người này không thể nào thành tựu đạo quả, vì sao như vậy???? Vì như phần trên nói rõ là muốn thành tựu các đạo quả của Phật đạo không ra ngoài Tứ Niệm Xứ, nơi bốn món đó khiến người phiền não khổ, cũng bốn nơi chốn đó đưa đến an lạc (niết bàn), bốn nơi đó dẫn đến ngu mê…, cũng bốn nơi đó phát sinh công đức và trí tuệ… thành ra thành tựu đạo quả của Phật đạo là phải ngay trên Tứ Niệm Xứ, chứ không thể nào thành tựu nơi một niệm xứ khác (bình, bàn…).

Hỏi:
3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy ???

Trả Lời: Mục tiêu tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ, người tu hành thành tựu là vô vi niệm xứ, tịch tịnh niệm xứ…

Đây là sự hiểu biết của Con, xin Thầy dạy bảo thêm, đa tạ Thầy…
Con, Lý Ca Ca

Tổng Kết Chủ Đề: Tứ Niệm Xứ

Tổng Kết Chủ Đề: Tứ Niệm Xứ

Sinh Hoạt Lý Gia

Chủ Đề: Tứ Niệm Xứ

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò Chơi Trí Tuệ số 04.2019 với các câu hỏi chủ đề Tứ Niệm Xứ 

Các bạn !!!

Những lần sinh hoạt vừa rồi, nhằm giúp các HĐ mới (gia nhập) có cái nhìn tổng quát về Phật đạo, cũng như giúp các bạn ấy bắt kịp, hoà cùng nhịp điệu tu tập của toàn thể HĐ Lý Gia, mình đã tập trung triển khai, giới thiệu các bước tu tập trong Phật đạo và mục tiêu cao nhất của Phật đạo là gì !!! Đồng thời, khái quát về 37 phẩm, nhân đó đào sâu Tứ Niệm Xứ !!!

Như các bạn đã biết !!! Nếu ta coi Tứ Diệu Đế là bốn cấp học trong Phật đạo thì, Ba Mươi Bảy Phẩm chính là 37 môn học giúp người học hoàn thành bốn cấp học nêu trên !!!

Trong đó, Tứ Niệm Xứ đóng vai trò chủ đạo, hay khác hơn, bốn niệm xứ chính là bốn mục tiêu cốt lõi, bốn cơ sở giúp người tu hành từ cốt lõi hay cơ sở ấy tu tập để hoàn thành từng đạo phẩm...Cho nên Kinh Niệm Xứ, Phật dạy như sau:

“Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.

Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn”. (Trích Kinh Niệm Xứ - Satipatthàna sutta)

Nếu đọc toàn bộ kinh điển của Phật, chúng ta không khó nhận ra, đồng thời là bốn niệm xứ, nhưng mỗi cấp độ tu tập, mỗi thừa lại có một cách quán khác nhau...Có nghĩa, Thanh Văn quán khác, Duyên Giác quán khác, Bồ Tát quyền thừa quán khác, Bồ tát nhất thừa quán khác !!!

Chính sự sai khác này, giúp ta nhận ra, cùng quán bốn niệm xứ, nhưng tuỳ cách quán, tuỳ giai đoạn tu tập mà người tu hành thành tựu Tục Đế, Thánh Đế hay Chân Đế !!! Đây là lí do vì sao, ta thấy có lúc Phật dạy: Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã...Lại có lúc Phật dạy: Bốn món thân, thọ, tâm, pháp chỉ do duyên hoà hợp sanh...Nhưng rồi cũng có lúc Phật dạy: Quán thân đồng với hư không; Quán cảm thọ chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa; Quán tâm chỉ là danh tự, tánh danh tự rời rạc; Quán các pháp thiện chẳng thể được, bất thiện chẳng thể được !!!

Nhưng, cho dù thành quả của phép quán Tứ Niệm Xứ là Tục Đế, Thánh Đế hay Chơn Đế, người tu tập trong Phật đạo muốn có một đạo quả nào đó, nhất định phải y cứ vào Tứ Niệm Xứ để tu tập !!! Rời bốn xứ này thì, nhất định không thể thành tựu bất kì một đạo quả nào trong Phật đạo !!! Nó giống như, trên thế gian có vô vàn mảnh ruộng, nhưng chỉ có bốn mảnh ruộng có tên là Thân Điền, Thọ Điền, Tâm Điền và Pháp Điền mới đủ điều kiện để trồng cây Giác Ngộ (Bồ Đề Thọ) !!!

Để giúp các bạn có cơ hội đào sâu và thấm nhuần Tứ Niệm Xứ !!! Mình có ba câu hỏi sau:

1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp) ???

2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ...Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn...v..v...). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không ??? Vì sao được ??? Vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể !!!

3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí ??? Vì sao như vậy ???

- Hạn chót nhận trả lời: Thứ Năm, 24/10/2019.
- Công bố kết quả: Thứ Bảy, 26/10/2019.
- Trao thưởng: Chủ Nhật, 27/10/2019.
- Phần thưởng cho người có các câu trả lời hay nhất: Một phần quà, tương đương 1.000.000 VNĐ (Một triệu đồng). Nếu nhiều người cùng có câu trả lời hay, giá trị phần thưởng sẽ được chia đều (1.000.000: Xn) !!!

BQT rất mong, nhận được những câu trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Sinh Hoạt Lý Gia

Chủ Đề: Tam Muội Môn

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò Chơi Trí Tuệ - 03/2019 với các câu hỏi liên quan đến ba tam muội. 

Các bạn !!! 

Như mọi người đều biết, để giải quyết tự thân, Bồ Tát phải thành tựu ba tam muội... Đó là: Tam muội có giác có quán, Tam muội không giác có quán và Tam muội không giác không quán !!! 

Trong thời gian vừa qua, mình đã có rất nhiều bài viết cũng như nhiều lần trao đổi với HĐ Lý Gia về đề tài này !!!! 

Để nắm vững kĩ thuật, giúp thực hành thành công ba tam muội nói trên...chúng ta thử khảo sát vai trò, chức năng và mối liên hệ giữa chúng đối với quá trình điều phục tâm thức là như thế nào !!! 

Trò Chơi Trí Tuệ - 03/2019 xin đưa ra ba câu hỏi, có liên quan đến ba tam muội đó !!! Nội dung các câu hỏi như sau: 

1) Xin bạn cho biết, khi thực hành viên mãn một tam muội: Tam muội có giác có quán giải quyết điều gì của tâm thức ??? Tam muộn không giác có quán giải quyết điều gì của tâm thức ??? Và tam muội không giác không quán giải quyết điều gì của tâm thức ??? Hãy giải thích cụ thể, vì sao từng mỗi tam muội khi thực hành viên mãn, lại có thể giải quyết được những điều các bạn vừa nêu ??? 

2) Trong quá trình tu tập ba tam muội, mỗi tam muội tương ưng với thiền nào trong hệ thống tứ thiền bát định ??? Xin giải thích cụ thể, vì sao trong quá trình tu tập từng tam muội, lại có sự tương ưng này ??? 

3) Trong quá trình tu tập viên mãn ba tam muội nói trên, tam muội nào giải quyết đế nào của bốn đế ??? Xin giải thích cụ thể, vì sao khi thực hành viên mãn một tam muội, lại có thể giải quyết được một đế nào đó của bốn đế ??? 

- Hạn chót nhận trả lời: 12 giờ 00 ngày Thứ Bảy 28 tháng 9 năm 2019 !!!

- Công bố kết quả: Chủ Nhật 29 tháng 9 năm 2019 !!!

- Phần thưởng: Một bình (ấm) trà và một bịch trà Giảo Cổ Lam !!! 

BQT rất mong, nhận được nhiều câu trả lời xuất sắc từ các bạn !!!

BQT LÝ GIA

Tháng 9/2019

Sinh Hoạt Lý Gia

Tổng Kết Chủ Đề: Ba Mươi Bảy Phẩm

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Nhìn chung, Trò Chơi Trí Tuệ - 02/2019 số lượng HĐ tham gia không nhiều...Nhưng bù lại, hầu hết các bài viết đều đạt các yêu cầu của câu hỏi đặt ra !!!

Các bạn !!!

Trò Chơi Trí Tuệ - 02/2019, BQT LÝ GIA đã nhận được trả lời của các HĐ sau: Lý Hậu Vệ (Cần Thơ), Lý Thiện Cảnh (Cần Thơ), Lý Anh Lạc (Cần Thơ), Cụ Bà Nhuận Bình (Quảng Nam), Lý Nhạn Ảnh (Quảng Nam), Lý Văn Tỵ (Quảng Nam), Lý Pháp Dũng (Quảng Nam), Lý Phan Nhân (An Giang), Lý Giác Thư (Hà Nội), Lý Phương Anh (Hà Nội), Lý Hoàng Nhi (Hà Nội) !!! 

Nhìn chung, Trò Chơi Trí Tuệ - 02/2019 số lượng HĐ tham gia không nhiều...Nhưng bù lại, hầu hết các bài viết đều đạt các yêu cầu của câu hỏi đặt ra !!! 

Trước đây, một kì Trò Chơi Trí Tuệ thường diễn ra trong vòng một tuần, vì thế có những năm Lý Gia tổ chức trên 12 kì Trò Chơi Trí Tuệ... Theo kinh nghiệm của mình, một kì Trò Chơi Trí Tuệ diễn ra càng ngắn, số lượng HĐ tham gia càng đông, đến đâu cũng nghe các bạn bàn luận về đề tài kì đó...Có lẽ do tính thời sự và độ nóng của các câu hỏi !!! 

Hai kì Trò Chơi Trí Tuệ vừa qua, do trang Lý Gia mới thành lập, một số HĐ làm bạn của trang chưa quen với loại hình này, nên BQT quyết định kì Trò Chơi Trí Tuệ đầu tiên diễn ra trong vòng một tháng, kì thứ hai 25 ngày...Nhưng, có lẽ thời gian quá dài nên các câu hỏi theo đó cũng phai nhạt, làm giảm dần độ hứng thú, kèm theo cách trả lời mới lạ (trả lời theo hướng dẫn) trong khi đó thói quen của HĐ Lý Gia là trao đổi và trả lời qua email...Có lẽ điều này đã giảm đi số lượng HĐ tham gia rất nhiều (trước đây trung bình một kì Trò Chơi Trí Tuệ trên dưới 30 HĐ tham gia, có khi lên đến 40 bạn) !!! 

BQT dự tính, Trò Chơi Trí Tuệ - 03/2019 chúng ta sẽ tổ chức trong vòng 15 ngày, sau đó có thể giảm xuống còn 7 ngày để tăng nhiệt, như những gì 10 năm qua chúng ta đã thực hiện !!! 

Về đánh giá Trò Chơi Trí Tuệ lần này, có thể nói số bài trả lời không nhiều, nhưng lại rất khó đánh giá và phân loại, vì hầu hết các trả lời đều đáp ứng các yêu cầu câu hỏi đặt ra !!! Để có thể tìm ra câu trả lời hay nhất, ngoài việc trả lời đúng, BQT còn phải tính đến các chỉ số phụ là bài viết có trọng tâm, lập luận vững chắc, thuyết phục, văn tự mạch lạc..v..v... !!! 

Và cuối cùng, nhằm khuyến khích việc tu học trong HĐ chúng ta, BQT quyết định chọn các bài viết của Lý Hậu Vệ (Cần Thơ), Lý Anh Lạc (Cần Thơ), Lý Giác Thư (Hà Nội), Lý Phương Anh (Hà Nội), Lý Hoàng Nhi (Hà Nội) giới thiệu đến mọi người...Đây được coi là CÁC BÀI VIẾT TIÊU BIỂU CỦA TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 02/2019 (Không có bài viết hay nhất) !!! 

Về phần thưởng: Như đã hứa, HĐ đạt giải lần này, sẽ nhận một bình (ấm) trà và một gói trà... Nhưng, bình, trà và gói trà mỗi thứ BQT chỉ có một, mà đến năm người đạt giải (nằm ngoài dự tính) !!! Thế nên, BQT thống nhất: Không trao giải bình trà và gói trà như dự kiến (để lại lần sau)...Mà BQT sẽ thay vào đó, có năm phần quà tương đương hoặc cao hơn giá trị của bình trà và gói trà (như đã hứa) để thưởng cho năm vị HĐ đạt giải lần này !!! 

Về các bài viết là như vậy !!! Nhưng, chúng ta không thể không kể đến công sức của một vị HĐ có đóng góp rất lớn (cũng là vị HĐ Lý Gia giác ngộ đầu tiên ở Hà Nội), người đã đưa ra ý tưởng, hình thành và đang quản lí trang Lý Gia, đó là LÝ TƯỜNG VI (mọi người biết đến với nickname Diệu Hiền)...BQT quyết định sẽ dành một “phần quà đặc biệt” để tặng bạn ấy, như là một lời tri ân cho “CON CHIM ĐẦU ĐÀN CỦA TRANG LÝ GIA” !!! 

Xin mời năm vị HĐ có tên nêu trên, liên hệ BQT để nhận quà !!! 

Sau đây là bài viết của LÝ ANH LẠC, LÝ GIÁC THƯ, LÝ PHƯƠNG ANH, LÝ HẬU VỆ VÀ LÝ HOÀNG NHI được BQT đánh giá là năm bài viết hay trong Trò Chơi Trí Tuệ - 02/2019 !!! 

BQT LÝ GIA

1. Bài viết của Lý Anh Lạc

Kính Thầy !!!

Kính HĐTM Lý Gia !!! 

Con xin trả lời hai câu của TCTT 02/2019: 

1)Xin bạn cho biết, ba nhóm Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị... Cơ bản tương ứng với những đế nào trong bốn đế ??? Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!! 

Trả lời:

Kính Thầy !!!

Theo con, bốn đế và tam vị có sự tương ứng như sau:

-Tư lương vị tương ứng với Khổ đế và Tập đế.

-Kiến đạo vị tương ứng với Diệt đế.

-Tu đạo vị tương ứng với Đạo đế.

Vì sao như vậy ??? 

Vì mục tiêu tu hành trong Phật đạo là hết khổ, dứt tập, chứng diệt và tu đạo. Để đạt được mục tiêu nêu trên, người tu hành phải ứng dụng triệt để 37 phẩm trong việc tu tập của mình. 

Trước tiên người tu hành dùng Tư lương vị làm hành trang giúp bản thân rời thế gian đạo (khổ đế và tập đế), để chuẩn bị vào thánh đạo (chứng diệt và tu đạo). Khi thực hành 12 phẩm tư lương vị, Nhất tâm như ý túc là phẩm quan trọng nhất. Vì khi nhất tâm thì thấy nghe, và nghĩ suy không còn dong ruỗi, chỉ một lòng một dạ hướng về đạo xuất thế. Giống như người cưa cây lấy lửa, khi cưa chưa được lửa thì không dừng lại. 

Theo con, khi quán một trong bốn Tứ niệm xứ đã như ý, thì trong vị tu hành ấy xuất hiện hai cái biết, một cái biết nhận rất rõ "thân, sự vật, sự việc... đang diễn ra”. Và một cái biết thì thấy rằng: "Thân, sự vật, sự việc... chẳng liên hệ đến mình , nó không ảnh hưởng, không tác động...” Từ cái biết này, các thiền chi như hỷ lạc và định xuất sanh...Do đó phiền não, kiết sử, lậu hoặc...giảm thiểu đến mức thấp nhất. Cảnh giới này gọi là Dứt tập, là hành trang chuẩn bị để kiến đạo vị. 

Vì dứt tập do dùng sức giác (của giác quán) mà được, nên dư âm của giác và một ít kiết sử lậu hoặc nhỏ nhiệm vẫn còn. Muốn giác và các thứ ấy tịch diệt vĩnh viễn, người tu hành phải thấy cho được thanh tịnh tâm, vì thanh tịnh tâm chính là áo giáp giúp tiến gần con rắn (thân, thọ, tâm, pháp..) để nhìn rõ thiệt tướng của nó là rắn hay sợi dây.

Từ cái thấy thanh tịnh ban sơ, cho đến viên mãn thuộc về Kiến đạo vị. Muốn thanh tịnh tâm được viên mãn phải dùng ba học pháp vô lậu để hộ trì.

Do sức hộ trì bởi ba học pháp vô lậu, người tu hành dùng huệ vô lậu làm mũi nhọn để giản trạch tâm và pháp gọi là Trạch pháp giác chi... Khi trạch pháp viên mãn, người này nhận ra “sanh tử khổ chỉ là sợi dây” !!! Vì nhận ra khổ, phiền não, kiết sử chỉ là sợi dây, nên con rắn khổ, phiền não, kiết sử trong tâm thức tịch diệt vĩnh viễn, hành tâm cùng thức dừng, tất cả đồng tự xả, chứng Bất động Giải thoát, hoàn thành mục tiêu của phạm hạnh đề ra (gọi là chứng diệt). Cho nên trong 17 phẩm của Kiến đạo vị, thì Trạch pháp và Xả giác chi là hai phẩm quan trọng nhất. 

Để có thể thành tựu viên mãn Phật đạo, sau khi hoàn thành mục tiêu của phạm hạnh, phần còn lại của người tu hành là cầu Thiện Tri Thức để học trí tuệ. Trí tuệ bao gồm tám môn học của Đạo đế ta quen gọi là bát chánh...Vì thế, Bát chánh đạo chính là tám môn học (tám phẩm) quan trọng của Tu đạo vị. 

Tóm lại: Theo con, hết khổ, dứt tập, chứng diệt, tu đạo được coi là chủ trương của Phật đạo. Bốn đế là đường lối. Ba mươi bảy phẩm và sức hoạt dụng của nó chẳng khác chính sách. Khi ta có chính sách phù hợp và đường lối rõ ràng, thì chủ trương thành công là điều đương nhiên. 

2)Xin bạn cho biết sự khác biệt giữa tín tâm, tín căn và tín lực ??? Tín tâm, tín căn và tín lực phần nào thuộc thế gian pháp, phần nào thuộc xuất thế gian pháp ??? Tại sao đồng thời ba thứ tín (tín tâm, tín căn, tín lực) đều là niềm tin (tín) mà, có niềm tin thuộc về thế gian giới, có niềm tin thuộc về xuất thế gian giới (cảnh giới), điều gì làm nên sự khác biệt này ??? 

Trả lời:

Kính Thầy !!!

Tín tâm chỉ là lòng tin từ nghe nói, từ giới thiệu, từ nền tảng không như pháp... Không xuất phát từ thực chứng. 

Còn tín căn và tín lực là kết quả của kiến thức như pháp, thực hành như pháp và thực chứng như pháp. 

Tín tâm thì vô thường nên thuộc thế gian pháp, còn tín căn và tín lực là thường nên thuộc xuất thế gian pháp. Vì sao như vậy: 

Vì một khi lòng tin không còn hoặc thay đổi....thì tín tâm thay đổi theo (vô thường)...Nên thuộc thế gian giới. 

Còn tín căn và tín lực là niềm tin được hình thành từ việc nắm vững kiến thức như pháp, kỹ năng thực hành như pháp và có một đời sống như pháp. Vì thế niền tin này thuộc xuất thế gian giới. 

Tóm lại: Sự khác biệt giữa Tín tâm, Tín căn và Tín lực chính là sự thực chứng và không thực chứng trong Phật đạo. Có thực chứng thì Tín căn và Tín lực bất thối...Không thực chứng thì niềm tin này chỉ là tín tâm luôn vô thường thay đổi. 

Trên đây là những phân tích thô thiển của con, nhất định không tránh khỏi thiếu sót, mong Thầy và các HĐTM chỉ dạy. 

Con, Lý Anh Lạc

2. Bài viết của Lý Giác Thư

Kính Thầy !

Con xin đảnh lễ Thầy 3 Lạy !!!

Kính thưa các HĐTM ! 

Con xin tham gia trả lời câu hỏi:

Câu hỏi như sau : 

Câu 1) Xin bạn cho biết, ba nhóm Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị ... Cơ bản tương ứng với những đế nào trong bốn đế ??? Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!! 

Trả lời:

Tứ Đế chính là quy trình hay linh hồn của Phật đạo, và 37 phẩm dựa trên Tứ Đế mà thành lập. Đây là công nghệ xử lý theo quy trình (bốn đế), cho nên pháp Tư lương vị tương ưng Khổ Đế và Tập Đế, Kiến đạo vị tương ưng Diệt Đế, Tu đạo vị tương ưng Đạo Đế. 

Nếu, Tứ Diệu Đế là bốn cấp học từ thấp lên cao, có năng lực giáo dục một phàm phu vô văn trở thành người có trí tuệ trong Phật đạo... Thì 37 phẩm chính là giáo trình giảng dạy từ thấp lên cao, giúp người học thành tựu bốn mục tiêu học tập. 

Nếu, Tứ Diêu Đế có 3 tầng nghĩa gồm: Tục Đế, Thánh Đế và Chân Đế... Thì 37 Phẩm cũng có ba tầng nghĩa tương ưng với các tầng của Tứ Đế... Vì thế, 37 Phẩm còn có các tên là Trợ Đạo, Trợ Bồ Đề và Đạo Phẩm... 

Chính sự tương ưng này, ta có thể thấy việc giải thích về 37 phẩm ở Tục Đế khác Thánh Đế, Thánh Đế khác Chân Đế... Và trong chừng mực nào đó của tầng nghĩa Chân Đế, 37 phẩm bây giờ lại trở thành môn học chuyên biệt của Thấu Thị Môn và Thẩm Sát Môn (Chánh Kiến và Chánh Tư Duy) trong quy trình học Nhất Thiết Trí... 

Xét đến đây, ta mới thấy sự hoạt dụng đến vô tận của Tứ Đế và 37 phẩm !!! Nếu mỗi Đế như một cấp học... Thì 37 phẩm hay 37 môn học được phân chia cho từng cấp học phù hợp với trình độ nhận thức về Đạo Pháp như sau: 

  1. a) Cấp Khổ Đế và Tập Đế (cấp I và cấp II) gồm các môn học:

Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc ... Gọi chung là Tư Lương Vị ...Đây là hành trang tri thức tối thiểu, giúp người học vượt qua tám món khổ của nhân gian, cùng mười món Kiết Sử đã cột trói hữu tình trong ba cõi bằng chính sự Giác Ngộ tối sơ, gọi là Sơ Ngộ ... Vị Tu hành này tâm thức bắt đầu chảy vào dòng Giác Ngộ !!! 

  1. b) Cấp Diệt Đế (cấp III) gồm các môn học:

Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi ...Gọi là Kiến Đạo Vị... Là nhóm tri thức thuộc về Xuất Thế Pháp, có công dụng đưa người từ bến bờ Xuất Thế tiến sâu vào Đạo Qủa Xuất Thế, đây là con đường trở thành một vị Thánh thực thụ trong Phật Đạo, hoàn thành mục tiêu cuối cùng của Phạm Hạnh... Như người đi tìm lõi cây, đã tìm được một lõi cây đích thực, đúng nghĩa... Thành tựu Đạo Qủa Giải Thoát !!! 

  1. c) Cấp Đạo Đế (cấp IV) gồm các môn học: 

Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định... Gọi là Tu Đạo Vị... Đây là nhóm tri thức thuộc về Xuất Thế Gian Thượng Thượng, có công dụng biến lõi cây đã tìm được (ở cấp III) trở thành một vật phẩm vô giá mang đến nhiều lơi ích cho đời... Nói khác hơn, tám môn học chân chánh này, giúp một vị Thánh trong Phật Đạo trở thành những vị Bồ Tát thực thụ, trở thành một Đạo Sư đúng nghĩa, với Trí Tuệ Siêu Việt có thể ung dung trở lại thế gian (nhập Pháp Giới, nhập Thế) dùng con thuyền Bát Nhã sẵn sàng đưa người qua khỏi bến mê, đến bờ Giác Ngộ... thành tựu Đạo Trí Tuệ !!! 

Đoạn Kinh sau nói về thành tựu của 37 Phẩm: 

“Niệm xứ trang nghiêm, khéo hay tu tập bốn quán niệm xứ. Chính cần trang nghiêm, đều hay thiện pháp. Thần túc trang nghiêm, thường khiến thân tâm vui vẻ, nhẹ nhàng. Năm căn trang Nghiêm, thâm tín kiên cố, tinh cần không biếng, thường không mê vọng, vắng lặng điều thuận, dứt mọi phiền não. Năm lực trang Nghiêm, mọi oán diệt hết, không gì hoại được. Giác chi trang nghiêm thường khéo giác ngộ hết thảy mọi pháp. Chính đạo trang nghiêm, được chính trí tuệ, thường hiện ở trước. 

CHỈ trang nghiêm nên gột bỏ được hết thảy kiết sử.

QUÁN trang nghiêm nên hay như thực biết được tự tính của mọi pháp.

PHƯƠNG TIỆN trang nghiêm, chóng thành đầy đủ sự vui vô vi’’

(Trích kinh Thập Thiện Đạo - HT. Thích Tâm Châu dịch) 

Riêng về câu hỏi: “Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!!” Con xin trả lời câu này như sau: 

-Đối với Tư Lương Vị: Nhất tâm như ý túc chính là cơ sở tu tập chính yếu, lấy đây làm căn cứ để biết chắc tâm thức ta đang dừng, hành trang tối thiểu đã đủ, chuẩn bị bước vào cảnh giới xuất thế. Vì rằng, tâm thức hữu lậu (thế gian) chưa dừng, chẳng thể thọ nhận cảnh giới vô lậu (xuất thế). Vì thế nó tương ưng Khổ đế và Tập đế. 

-Đối với Kiến đạo vị: Trạch pháp giác chi và Xả giác chi chính là bước chân đầu tiên và đích đến cuối cùng đưa người tu hành bước vào cửa giải thoát. Dùng Huệ vô lậu giản trạch một pháp đến tận nguồn cơn, hệ quả tất yếu là, các chi phần của Thất giác chi tự hiện và rốt ráo tự xả...Tự xả chính là cơ sở chính yếu, người tu hành lấy đây làm căn cứ để biết chắc ta đã vào thành Niết Bàn, tìm được lõi cây Bất Động Giải Thoát. Vì thế nó tương ưng Diệt đế. 

-Đối với Tu đạo vị: Như đoạn kinh trên đã dẫn “Chính đạo trang nghiêm, được chính trí tuệ, thường hiện ở trước”. Tu đạo vị gồm Bát chánh đạo, thành ra từ Chánh Kiến đến Chánh định là tám môn học của Trí Tuệ, học hết tám môn học này, sẽ là cơ sở để người tu hành căn cứ và biết chắc rằng ta đã thành tựu Trí Tuệ trong Phật đạo. Vì thế, Tu đạo vị tương ưng Đạo đế. 

Câu 2) Xin bạn cho biết sự khác biệt giữa Tín tâm, Tín căn và Tín lực là như thế nào ??? Tín tâm, Tín căn và Tín lực phần nào thuộc về thế gian pháp, phần nào thuộc xuất thế gian pháp ??? Tại sao đồng thời ba thứ tín (Tín tâm, Tín căn và Tín lực) đều là niềm tin (tín) mà, có niềm tin thuộc về thế gian pháp, có niềm tin thuộc về thế gian giới (cảnh giới), điều gì làm nên sự khác biệt này ??? 

Trả lời:

- Tín tâm là niềm tin do ta nghe nói , niền tin thì có thể thay đổi nếu niềm tin này bị đánh đổi bởi một niền tin khác mạnh hơn hoặc có sơ sở hơn. 

Giống như người bị bệnh tin vào một lương y nào đó, sau một thời gian chữa trị, bệnh không thuyên giảm hoặc gặp lương y danh tiếng hơn, thì niềm tin vào vị lương y trước thay đổi hoặc không còn. 

Vì thế tín tâm không phải niềm tin từ thực chứng, và nó chỉ dựa vào thấy nghe phát sinh tin tưởng. Tín tâm đôi khi không cần dựa vào cơ sở hoặc không mang tính thuyết phục, chỉ cần nghe người thân hoặc người có uy tín giới thiệu cũng có thể phát sinh niềm tin. Đôi khi do một sự tình cờ nào đó gặp phải vận may, niềm tin phát khởi, do đó tín tâm có chánh tín và mê tín. Dù là chánh tín hay mê tín, tín tâm chỉ là niềm tin thế gian, tồn tại dưới dạng thế pháp không đưa đến thánh vị. Vì thế, niềm tin này thuộc thế gian pháp, không ra khỏi thế gian giới. 

- Tín căn là lòng tin mạnh mẽ vững chắc. Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả của sự thực chứng do sáng suốt và quan sát kỹ càng. Vì lòng tin bắt nguồn bởi tâm chứng, cho nên nó vô cùng vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là cơ sở phát sinh mọi hạnh lành. 

Tín căn là thấy rõ con đường ta đi, là kết quả của việc thành tựu Tư lương vị trước đó. Tín căn có phát sinh hay không phụ thuộc rất lớn vào Nhất tâm như ý túc, vì vậy Phật dạy “Như ý túc câu hữu với tư duy thiền định tinh cần hành ...” có nghĩa quán (tư duy) đến rốt ráo thì định (nhất tâm) sanh, khi thân tâm có khuynh hướng dừng lặng (định, nhất tâm), hỷ lạc sinh. Giống như người đào giếng thấy nước, công sức bỏ ra kết quả có được, niềm tin không còn lay chuyển người đào giếng sẽ dốc sức đào cho đến khi thấy được dòng nước vừa ý mới thôi. 

Đây là cơ sở thực chứng phát sinh niềm tin vừa là luận chứng thuyết phục biết con đường mình đi đúng hướng. Từ đây niềm tin mọc ra bám chặt trong tâm, mọi thứ hoài nghi chấm dứt, không thể ngã đổ này chính là Tín căn. Vì thế, Tín căn là niềm tin xuất thế, niềm tin thuộc xuất thế gian giới. 

- Tín lực là thần lực phát sinh từ tín căn, hay sức mạnh lớn lao, vi diệu giúp người tu hành biến tất cả công sức tu hành trở thành công đức vô lậu. Nhờ Tín lực có thể biến tất cả thành công đức, nên nó là cội rễ của xuất thế gian đạo. 

Như vậy chúng ta thấy, Ngũ căn và Ngũ lực vừa làm căn bản, vừa làm nghị lực để phát sinh, tăng trưởng công đức thù thắng. Bất luận người tu tập nào, hễ đã lấy trí làm nền tảng, tinh tấn thực hành Chánh Pháp (tấn), hằng nghĩ nhớ Chánh Pháp để tiến tu (niệm), không mê mờ ngoại cảnh để trừ sạch vô minh phiền não (định), đem diệu huệ vô phân biệt (huệ) thể chứng chân như, thì người ấy thế nào cũng nắm chắc trong tay các quả vị xuất thế của Phật đạo. 

Cho nên có thể kết luận, Tín tâm thuộc về thế gian pháp, nằm trong thế gian giới. Tín căn, Tín lực thuộc về xuất thế gian, là cảnh giới xuất thế gian, còn gọi là xuất thế gian giới. 

Trên đây là những kiến giải của con, còn điều gì chưa đúng, mong Thầy bổ khuyết, chỉ dạy cho con. 

Con xin thành Kính đảnh lễ Thầy !!! 

Con, Lý Giác Thư

3. Bài viết của Lý Phương Anh 

Con Phương Anh kính lạy Thầy, 

Thầy ơi, về trò chơi trí tuệ tháng này, sức con hiện giờ thực chẳng thể đưa ra một bài luận cụ thể chi tiết về giáo pháp. Nhưng sáng nay khi đọc bài của Thầy đăng lên, con cứ suy nghĩ mãi và con quyết định xin phép trả lời 2 câu hỏi Thầy đã nêu ra dựa trên việc quay lại quan sát thành tựu của chính bản thân: 

1)Xin bạn cho biết, ba nhóm Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị... Cơ bản tương ứng với những đế nào trong bốn đế ??? Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!! 

Thì theo con:

-Tư lương vị - tương ứng Khổ đế và Tập đế

-Kiến đạo vị - tương ứng Diệt đế

-Tu đạo vị - tương ứng Đạo đế 

Trong 37 phẩm:

-Tư lương vị bao gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc. Và phẩm quyết định viên mãn Tư lương vị giúp chuyển vào cảnh giới mới là Nhất tâm như ý túc.

-Kiến đạo vị bao gồm: Ngũ căn, ngũ lực, Thất giác chi. Và phẩm quyết định viên mãn Kiến đạo vị giúp chuyển vào cảnh giới mới là Xả giác chi. 

-Còn lại Tu đạo vị chính là Bát chánh đạo. 

Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc là những phẩm hỗ trợ việc thấy khổ, biết khổ do đâu. Nhìn lại mình con thấy giai đoạn đó con chăm chỉ tinh cần Chỉ và Quán liên tục, Quán cho đến nguồn cơn của Tâm và Pháp. Như con lắc đồng hồ đang lắc loạn xị bỗng có cái gậy chọc vô khiến tốc độ cũ mất hẳn, vẫn dao động nhưng vận tốc bây giờ chỉ bằng phân mười xưa kia. Những bước chân đầu tiên này khiến con hoát nhiên thấy được Bản lai thanh tịnh, hoát nhiên nếm được vị mật ngọt của giải thoát, để cho khổ đau dừng lại đón bình minh an vui. 

Như con kiến đã nhìn thấy đĩa mật và nếm được 1 chút mật ở mép đĩa, bây giờ nó sẽ muốn tìm cách bơi thẳng vô giữa địa mật ngon lành. Cũng như vậy, con thấy mình khởi một ham muốn tột bậc từ bỏ ngũ dục, một lòng một dạ tinh tấn, đi đến tận nguồn cơn rốt ráo. Việc không phải dễ dàng nhưng con không nản ngược lại thấy hồ hởi, con thấy mình ham thích đọc sách, việc gì cũng lặng lẽ tư duy quán sát, lắng nghe Thầy giảng rồi về ngẫm nghĩ, những cái nào không liên quan đến mục đích con tạm thời gác lại, những cái nào hỗ trợ cho mục đích thì con ham làm, làm không thấy mệt.

Giai đoạn đó, con thấy tuy hiểu biết kinh văn còn rất hạn chế mơ hồ nhiều chỗ, nhưng con rất tin rất hoan hỉ yên tâm, cái niềm tin và niềm hoan hỉ từ trong ruột mà ra. Đồng thời con nhận thấy sự hiểu biết của mình trở nên nhanh nhạy hơn, nhanh chóng nắm bắt thấu suốt sâu chuỗi vấn đề hơn. 

Rồi dần dần Chỉ và Quán bỗng dưng biến đâu mất từ lúc nào ... Một hồi con bỗng thấy mình lâu rồi cứ như vậy, Tâm không sanh Pháp không sanh, mọi thứ trong ngoài cứ đến rồi đi, như vậy như vậy. Bây giờ nhìn lại con nhận ra chính là Nhất tâm như ý túc đã giúp con qua Tư lương vị, đưa đến Ngũ căn ngũ lực giúp con vào một cảnh giới mới, là Kiến đạo vị, biết phải diệt cái gì, nương vào đâu mà diệt. Chính nhờ sức mạnh Nhất Tâm như ý túc mà con được gắn mô tơ, định sinh tuệ sinh. 

Tiếp giai đoạn này, tuy được Tâm không sanh Pháp không sanh, nhưng con thấy chưa rốt ráo. Con nhận ra niệm xứ của mình là ở Pháp, đã giải quyết niệm xứ Pháp được định nhưng định này chưa rốt ráo, con vẫn kẹt ở một chỗ nào đó. Cho đến khi con được nghe Thầy trả lời anh Quyền về mấy câu: 

“Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp

Ai biết được pháp sẽ biết được không pháp

Ai biết được không pháp sẽ biết được nghĩa không

Ai biết được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp

Ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”. 

Thì lúc đó con ngỡ ngàng sét đánh ngang tai, con bỗng hiểu ra bản chất của Phật Pháp, biết chỗ mình kẹt, con bỗng thấy con đường của mình. 

Phật pháp là vô lượng pháp và Phật pháp cũng là không, bình đẳng như tất cả các pháp. Phật pháp là trung đạo, là Duyên pháp, là Nhiếp thọ pháp. Phật pháp là pháp nào chưa tường tận chưa hiểu rõ thì giữ lại cho tường tận thấu suốt, còn lại Phật pháp là xả bỏ tất cả các Pháp. Xả pháp còn phải xả huống chi là pháp trụ, thế nên vô niệm, vô trụ, vô tướng. Đồng là không. (Viết đến đây con trực nhận ra cái tên Trò chơi trí tuệ Thầy chọn thật sâu sắc vô cùng tận, đúng tất cả là một trò chơi trí tuệ!!!! Con bỗng cảm nhận được 2 từ Phật Trí, con thực xin nhũn người sụp xuống hoàn toàn quy phục Vô lượng Trí huệ nơi Thầy). 

Từ cái thấy này, con gỡ bỏ được hoàn toàn sự mắc kẹt mơ hồ tự ti, thấy con đường của mình, con đọc kinh Kim Cang và Thắng man con thấy mình cảm nhận được, từ đó dũng mãnh viết thư phát nguyện cầu học trí tuệ gởi Thầy Nhìn lại con thấy chính là Thầy đã Trạch pháp giác chi cho con, dẫn con qua các chi phần khác cho đến cuối cùng là Xả giác chi, và chính Xả giác chi là phẩm quyết định viên mãn Kiến đạo vị đưa người chuẩn bị lên Tu đạo vị. 

- Về câu hỏi thứ 2: “Xin bạn cho biết sự khác biệt giữa tín tâm, tín căn và tín lực là như thế nào ??? Tín tâm, tín căn và tín lực phần nào thuộc thế gian pháp, phần nào thuộc xuất thế gian pháp ??? Tại sao đồng thời ba thứ tín (tín tâm, tín căn, tín lực) đều là niềm tin (tín) mà, có niềm tin thuộc về thế gian giới, có niềm tin thuộc về xuất thế gian giới (cảnh giới), điều gì làm nên sự khác biệt này ???” 

Thì con nghĩ:

-Tín tâm chỉ thuần tuý là niềm tin, và niềm tin này phát xuất hoặc hướng về một thứ ở bên ngoài. Niềm tin này dễ lung lay hoặc bị đánh đổ. Tín căn không xuất phát từ một trung tâm kiểm soát ở bên ngoài mà nó là nội lực phát xuất từ bên trong. Tín tâm cũng phát sinh sức mạnh nhưng sức mạnh này yếu ớt, không bền chắc, không có sự tự định hướng. 

-Tín căn phát sinh sức mạnh, sức mạnh này mới là tín lực, bền chắc và chứa đựng sự tự định hướng, là động lực tự thân. 

Chính vì vậy mới nói, tín tâm là niềm tin thuộc về thế gian, còn tín căn tín lực là xuất thế gian, ra ngoài thế gian không phụ thuộc vào thế gian! 

Con nghĩ có thể tạm lấy ví dụ khác nhau giữa tín tâm và tín căn, tín lực bằng hình ảnh như đứa trẻ đi học ở trường. Có đứa trẻ tin yêu cô giáo, cô giáo bảo gì nó làm như vậy, nó có giỏi là do cô giáo giỏi, nó sáng do cô giáo chiếu vào làm cho nó sáng, đèn tắt thì nó cũng tắt. Có đứa trẻ thì tự thấy yêu thích việc học tìm hiểu khám phá những thứ mới để thoả mãn sự tò mò của nó, nó có khả năng tự học, cô giáo không bảo nó cũng tự nghĩ ra thứ để làm, nó là một ngọn đèn tự sáng. 

Điều làm nên sự khác biệt chuyển từ tín tâm sang tín căn từ đó phát xuất tín lực theo con chính là thực chứng Quán niệm xứ, thành tựu Niệm như ý túc. 

Quay lại quan sát quá trình của mình, con thấy trước kia khi mới được đọc sách của Thầy con thấy hay quá hay, con thích lắm đọc đã là đã à, con xin Thầy làm đệ tử thì khi đó nó vẫn đâu đó là Tín tâm, là tin vào những lời của một người là Thầy. Sau đó, quá trình con được Thầy chỉ dạy dìu dắt, đưa những điều Thầy đã khai thị vào THỰC HÀNH. Chỉ và Quán liên tục, đến một lúc rốt ráo Quán niệm xứ, tự mình thực chứng cái sự “đang bão bỗng hốt nhiên bình an, tự do, tự tại. Cái sự tự do tự tại vượt ra ngoài miêu tả của ngôn ngữ thế gian” thì tín căn bắt rễ sinh ra tín lực giúp con lại càng Nhất tâm như ý túc, tinh tấn bước đường tu tập. 

Có thể lại vẫn lấy ví dụ về đứa trẻ đi học để làm sáng tỏ điều này. Một đứa trẻ học thụ động sẽ trở thành một đứa trẻ tự học sau khi chúng thấy việc học của chúng thực rất hữu ích cho chúng (mới biết đọc mấy chữ ra siêu thị tự biết đọc đây kẹo ngọt hay kẹo cay để chọn mua thế là về hỉ hả ăn và quyết chí học đọc thông thạo mà không cần ai giục 

Mấy lời quan sát lại hành trình của mình, văn tự ngữ ngôn của con hạn chế tối nghĩa quá. Con kính mong Thầy thông cảm và khai thị cho con. 

Con xin kính lạy Thầy, 

Con, Lý Phương Anh

4. Bài viết của Lý Hậu Vệ 

Kính Thầy !!!!

Cùng các thành viên BQT, và HĐTM !!!! 

Con xin tham gia trả lời câu hỏi:

1) Xin bạn cho biết, ba nhóm Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị... Cơ bản tương ứng với những đế nào trong bốn đế ??? Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!! 

Trả lời:

Theo hiểu biết của con, Tư lương vị tương ứng Khổ đế và Tập đế. Kiến đạo vị tương ứng Diệt đế. Tu đạo vị tương ứng với Đạo đế. 

Nói đến Phật đạo là nói đến mối liên hệ giữa bốn đế và 37 phẩm. Bốn đế là nền móng, còn 37 phẩm là 37 tầng của một kiến trúc. Vì vậy phân chia trên được căn cứ như sau. 

-Tư lương vị là gồm có 12 phẩm, đó là: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc. Mục tiêu của tư lương vị, là giúp người tu hành thành tựu nhất tâm. Đây là điều kiện, cơ sở căn cứ cần và đủ để người tu hành bước lên thuyền giác ngộ vào cảnh giới xuất thế. Do đó, ta có thể kết luận Tư lương vị tương ưng với Khổ và Tập đế. 

-Kiến đạo vị gồm có 17 phẩm, đó là: Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi. Sau khi vị ấy chuẩn bị rời khỏi thế gian vào cảnh giới xuất thế, như người đi đêm có được ngọn đuốc trên tay, niềm tin và sức mạnh tu tập..v..v..tăng lên gọi là Ngũ căn, Ngũ lực. Bây giờ vị ấy dùng sức mạnh của Niệm lực và Huệ lực phân tích tâm và pháp, lấy Trạch pháp giác chi làm nòng cốt, từ đó Thất giác chi hình thành. Cuối cùng, vị tu hành tịch diệt tâm và pháp hư vọng gọi là Định giác chi, khi định này viên mãn, tâm thức tự xả gọi là Xả giác chi. Trạch pháp giác chi và Xả giác chi chính là điều kiện, cơ sở căn cứ cần và đủ để vị này chấm dứt lậu hoặc, hoàn thành mục tiêu xuất thế. Do đó, ta có thể kết luận Kiến đạo vị tương ưng với Diệt đế. 

-Tu đạo vị là gồm có 8 phẩm của Bát chánh, đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Tám điều chân chánh nói trên thành tựu trong quá trình học Đạo đế. Đây là điều kiện, cơ sở căn cứ cần và đủ để vị này thành tựu trí tuệ. Do đó, ta có thể kết luận Tu đạo vị tương ưng với Đạo đế. 

2) Xin bạn cho biết sự khác biệt giữa tín tâm, tín căn và tín lực là như thế nào ??? Tín tâm, tín căn và tín lực phần nào thuộc thế gian pháp, phần nào thuộc xuất thế gian pháp ??? Tại sao đồng thời ba thứ tín (tín tâm, tín căn, tín lực) đều là niềm tin (tín) mà, có niềm tin thuộc về thế gian giới, có niềm tin thuộc về xuất thế gian giới (cảnh giới), điều gì làm nên sự khác biệt này ??? 

Trả lời:

Theo con, sự khác biệt giữa Tín tâm, Tín căn, Tín lực có thể giải thích như sau: 

-Tín tâm chỉ là niềm tin, mà đã là niềm tin thì có thể thay đổi bất kì lúc nào khi niềm tin ấy không đáp ứng nguyện vọng của sự tin cậy. Giống như người bệnh uống thuốc nhiều ngày mà bệnh không giảm, niềm tin vào thứ thuốc mình đang uống sẽ không còn nữa. Tín tâm thuộc về niềm tin bình thường của thế gian. 

-Tín căn và Tín lực là thứ niềm tin được tạo lập bởi sự thấy biết chắc thật (thực chứng), giống như người bệnh do uống đúng thuốc mà bệnh tình giảm nhẹ, do đó niềm tin này không thể thay đổi. Tín căn và Tín lực chính là niềm tin xuất thế phát sinh từ chính sự thực chứng của người tu hành. 

Trong 37 phẩm thì Tín căn và Tín lực thường song hành với nhau cái này có nên cái kia có. Giống như người lạc giữa rừng đêm, thấy có ngọn đèn ở bìa rừng dụ cho Tín căn, nhất định người ấy sẽ nổ lực để ra khỏi khu rừng, nổ lực để ra khỏi khu rừng dụ cho Tín lực. 

Từ những lí giải nêu trên cho thấy, Tín tâm có thể thay đổi, mà cái gì thay đổi Phật đạo gọi đó là vô thường, đã là vô thường thì thuộc thế gian giới. Cái gì không thay đổi thì nó sẽ là thường, Phật đạo gọi thứ đó thuộc về xuất thế gian giới. 

Trên đây là hiểu biết của con, có điều gì sai sót kính mong Thầy cùng BQT từ bi chỉ dạy. 

Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ. 

Xin chúc Thầy thật nhiều sức khoẻ, để HĐTM chúng con, và những ai đủ duyên gặp Thầy được nhiều lợi ích. 

CON, LÝ HẬU VỆ

5. Bài viết của Lý Hoàng Nhi 

Kính thầy!!! 

Con xin được nêu lên kiến giải của mình về các câu hỏi trong TCTT 02/2019!!! 

1) Xin bạn cho biết, ba nhóm Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị... Cơ bản tương ứng với những đế nào trong bốn đế ??? Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!! 

- Thưa thầy, con xin trả lời như sau:

*Nhóm Tư lương vị, tương ứng với Khổ đế và Tập đế.

*Nhóm Kiến đạo vị, tương ứng với Diệt đế.

*Nhóm Tu đạo vị, tương ứng với Đạo đế. 

Căn cứ vào 37 phẩm ví như 37 môn học của 4 cấp học là Tứ đế, để giải thích câu trả lời trên: 

Tư lương vị, là hành trang tối thiểu để người tu hành có đầy đủ điều kiện vào cõi xuất thế!!! 

Gồm có 12 phẩm: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc. Trong đó, Nhất Tâm Như Ý Túc là điều kiện ắt có và đủ để người tu hành bước một chân vào đạo xuất thế!!! 

Bởi, khi người này nhất tâm - một lòng một dạ hướng đến đạo quả xuất thế, mọi nghiệp quả chung quanh sẽ tạm dừng (như các lậu hoặc, kiết sử, ... không hiện khởi) hay còn gọi là “Nhất tâm dừng hiện nghiệp”!!! Nhưng nếu người này, mong cầu về cõi nước an tịnh - nơi đạo xuất thế, mà lại không nỡ từ bỏ ba cõi hôi nhơ này thì mãi mãi chỉ có thể là cư dân ở ba cõi!!! 

Kiến Đạo Vị, gồm có 17 phẩm: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi. 

Tuy chỉ mới bước một chân vào đạo xuất thế, một chân còn ở thế gian. Nhưng khi nhìn thấy được cõi nước an tịnh, biết được con đường đi đang đúng, người tu hành bắt đầu khởi Tín Căn - niềm tin lúc này không thể lung lay được và song song đó là Tín Lực - sức mạnh tăng thêm từ niềm tin vững chắc!!! 

Tuy Căn và Lực đầy đủ, người này gần như ở trong đạo xuất thế nhưng vẫn chưa hoàn toàn... 

Với trí tuệ lúc này bắt đầu sáng lên, đọc kinh không còn mù mờ như xưa và để xâm nhập vào con đường kinh điển, người này cần thông qua Thất Giác Chi!!! 

Ở Thất Giác Chi, người này lấy Trạch Pháp Giác Chi để phân tích một vấn đề của Phật Pháp đến nơi đến chốn khi đọc kinh hay nghe Thiện Tri Thức giảng. 

Khi hiểu được ý nghĩa thì luôn nhớ nghĩ, không quên (Niệm Giác Chi). Đưa Tâm, Ý vào đúng nghĩa trong Phật Đạo thì Hỷ Giác Chi và Khinh An Giác Chi tự hiện. Bởi thực chứng như vậy, sức tinh tấn của người này không dừng lại (Tinh Tấn Giác Chi). Tinh tấn không giảm nên người này dần thấu suốt vấn đề và nghĩa giải thoát hiện ra (Định Giác Chi). Đến khi Định này bão hòa thì tất cả pháp tự xả, gọi là Xả Giác Chi. 

Trạch Pháp Giác Chi và Xả Giác Chi là cơ sở mà Kiến Đạo Vị tương ưng với Diệt Đế. Vì Trạch pháp đến nơi đến chốn thì những giác chi sau sẽ tự thành tựu, chấm dứt lậu hoặc, kiết sử. Và đến cuối cùng là Xả Giác Chi, do xả tất cả mà được cảnh giới Niết Bàn, hoàn thành đạo xuất thế của ba thừa, mang ý nghĩa Diệt Đế đã viên mãn. 

Tu Đạo Vị, gồm 8 phẩm là Bát Chánh Đạo: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định. Bát Chánh Đạo chính là cơ sở tương ưng với Đạo Đế. 

Từ đây, vị này cầu học trí tuệ, dần thành tựu 8 điều chân chánh trên con đường tu học Đạo Đế, thành tựu Trí Tuệ trong Phật Đạo!!! 

2) Xin bạn cho biết sự khác biệt giữa tín tâm, tín căn và tín lực là như thế nào ??? Tín tâm, tín căn và tín lực phần nào thuộc thế gian pháp, phần nào thuộc xuất thế gian pháp ??? Tại sao đồng thời ba thứ tín (tín tâm, tín căn, tín lực) đều là niềm tin (tín) mà, có niềm tin thuộc về thế gian giới, có niềm tin thuộc về xuất thế gian giới (cảnh giới), điều gì làm nên sự khác biệt này ??? 

Trả lời:

Thưa thầy, con xin trả lời như sau:

Tín tâm: chỉ đơn thuần là niềm tin do nghe nói mà phát sinh tin tưởng, đôi khi không cần cơ sở thuyết phục chỉ cần nghe từ người thân hoặc người có uy tín. Niềm tin này có thể bị thay đổi khi nghe nói từ nơi uy tín hơn. 

Như người bệnh, sau một thời gian uống thuốc, bệnh tình không thuyên giảm sẽ chuyển qua người thầy khác hoặc giải pháp khác do được giới thiệu hoặc nghe nói... Tín tâm thuộc về thế gian giới, vì niềm tin này có thể bị thay đổi mà cái gì có thể thay đổi là vô thường! 

Tín căn và tín lực: là niềm tin từ thấy biết chắc thật từ thực chứng, không gì có thể làm ngã đổ niềm tin này được (Tín căn). Niềm tin ngày càng vững chắc, tăng sức mạnh giúp người tu hành mau thành tựu (Tín lực). 

Tín căn và tín lực trong 37 phẩm Trợ Đạo không tách rời mà song hành với nhau, tức cái này sinh thì cái kia sinh. Như người bệnh, sau một thời gian uống thuốc, bệnh tình thuyên giảm và người này cảm nhận được nên tin chắc vào vị lương y này (Tín căn), người này tuân thủ mọi lời căn dặn từ vị lương y, đều đặn uống thuốc để hết bệnh (Tín lực). Tín căn và tín lực thuộc về xuất thế gian giới, vì niềm tin này có cơ sở thực chứng thuyết phục, không thể thay đổi, là thường! 

Hôm nay, con cũng đã viết xong các câu trả lời để trình lên thầy mà phải thông qua rất nhiều phương tiện. Tuy là quá trễ so với thời gian thầy đề ra. Nhưng con cũng xin thầy hoan hỷ với những kiến giải và lập luận này của con, có điều gì sai sót mong thầy từ bi chỉ dạy cho con ạ!!! 

Kính chúc thầy luôn mạnh khỏe !!! 

Con, Lý Hoàng Nhi 

Sinh Hoạt Lý Gia

Chủ Đề: Ba Mươi Bảy Phẩm

MB 857 Lý Diệu Sinh 10.02.2023

Trò Chơi Trí Tuệ số 02/2019 đi sâu vào phần chuyên môn kĩ thuật của Phật đạo. Nếu chúng ta không nắm vững chuyên môn kĩ thuật, không khảo sát đến nơi đến chốn vai trò của 37 Phẩm Trợ Đạo đối với Tứ Đế, chẳng khác gì người thợ xây đứng trước bản vẽ thiết kế ngôi nhà bốn tầng cùng một khối lượng vật liệu xây dựng đồ sộ, mà chẳng biết sử dụng các nguyên liệu ấy vào việc thi công !!! 

Các bạn !!!

Để phát huy thắng lợi từ Trò Chơi Trí Tuệ 01/2019, hôm nay chúng ta tiếp tục Trò Chơi Trí Tuệ 02/2019 !!! 

Như mọi người đều biết, nếu Tứ Đế được coi là bốn tầng cao của ngôi nhà Phật đạo thì, 37 Phẩm Trợ Đạo được coi là những nguyên liệu cơ bản để xây nên bốn tầng cao đó !!! Hay nói khác hơn, nếu Tứ Đế là bốn cấp học trong Phật Đạo thì, 37 Phẩm Trợ Đạo chính là 37 môn học, giúp người tu hành từng bước hoàn thành mỗi cấp học của mình !!! Vì thế, 37 Phẩm Trợ Đạo được chia thành ba nhóm (tam vị), để phù hợp với mỗi cấp học, đó là: Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị !!! 

Trò Chơi Trí Tuệ lần này, chúng ta đi sâu vào phần chuyên môn kĩ thuật của Phật đạo, nếu chúng ta không nắm vững chuyên môn kĩ thuật, không khảo sát đến nơi đến chốn vai trò của 37 Phẩm Trợ Đạo đối với Tứ Đế, chẳng khác gì người thợ xây đứng trước bản vẽ thiết kế ngôi nhà bốn tầng cùng một khối lượng vật liệu xây dựng đồ sộ, mà chẳng biết sử dụng các nguyên liệu ấy vào việc thi công !!! 

Tất nhiên, sức hoạt dụng của 37 phẩm là vô cùng tận, giống như các môn học và các cấp học ngoài đời, cũng những môn học đó, mỗi cấp học cao hơn lại đào sâu thêm, mở rộng thêm từng môn học !!! 

Trong phạm vi Trò Chơi Trí Tuệ lần này, chúng ta chỉ khảo sát những gì được coi là cơ bản nhất, để tìm xem mối liên hệ giữa những Phẩm Trợ Đạo và Tứ Đế là như thế nào !!! Việc đào sâu 37 phẩm cho từng Đế, nếu thuận lợi, chúng ta sẽ giải quyết trong phần “Phật pháp nâng cao” ở vị lai !!! 

Hai câu hỏi lần này như sau:

1) Xin bạn cho biết, ba nhóm Tư lương vị, Kiến đạo vị và Tu đạo vị... Cơ bản tương ứng với những đế nào trong bốn đế ??? Căn cứ vào điều gì, để bạn có thể kết luận về sự tương ưng đó ??? Xin giải thích cụ thể !!! 

2) Xin bạn cho biết sự khác biệt giữa tín tâm, tín căn và tín lực là như thế nào ??? Tín tâm, tín căn và tín lực phần nào thuộc thế gian pháp, phần nào thuộc xuất thế gian pháp ??? Tại sao đồng thời ba thứ tín (tín tâm, tín căn, tín lực) đều là niềm tin (tín) mà, có niềm tin thuộc về thế gian giới, có niềm tin thuộc về xuất thế gian giới (cảnh giới), điều gì làm nên sự khác biệt này ??? 

P/s: Phần thưởng TCTT lần này, sẽ là một (01) ấm trà (hình màu đỏ trên cái hộp), một bịch trà Giảo Cổ Lam và một cuốn Vô Đối Môn (do Lý Tứ kí tặng) 

- Hạn chót nhận các câu trả lời: 12 giờ 00, Thứ Tư ngày 28/08/2019... Công bố trả lời hay nhất, sáng Thứ Năm, 29/08/2019 !!! Thể thức gởi câu trả lời, giống TCTT 01/2019 !!! 

Rất mong, nhận được những câu trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn !!! 

BQT NHÓM LÝ GIA

Tháng 8/2019

Subscribe to