Bài viết Lý Tứ

ANH LẠC LUẬN - Tác giả LÝ TỨ 1. CHUYỂN THỨC THÀNH TRÍ

MB 857 Lý Diệu Sinh 29.07.2019

Tu hành trong Phật đạo chính là công cuộc chuyển đổi thức thành trí. Muốn chuyển đổi thành công phải thấu suốt cái chuyển đổi và cái sắp được chuyển đổi, càng thấu suốt việc chuyển đổi càng xảy ra dễ dàng.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Trưa nay có HĐ hỏi mình về việc chuyển tám thức thành bốn trí. Nhân câu hỏi này, xin chia sẻ một vài kiến giải đến mọi người, gọi là lợi hoà đồng quân.

Trước khi đề cập đến đề tài chính là chuyển tám thức thành bốn trí, chúng ta cần phân biệt rõ những gì được gọi là thức, những gì được gọi là trí. Chưa nắm vững hai thứ này, mọi thứ được gọi là chuyển, chỉ chuyển trên văn tự, mà không chuyển đúng bản chất của nó. Giống như người thầy giáo muốn dạy học trò, mà không biết học trò đó là ai, nhất định việc dạy và học sẽ không thành công.

1. Thức là gì???
Về mặt văn tự, chữ thức có nghĩa là biết. Nhưng, trong Phật đạo, chữ thức không thuần tuý là biết, mà chữ thức có nghĩa là biết, chỉ nhằm nói đến hành động thứ cấp của thức nguyên, sau đó mới đến tri thức tức hiểu biết cấp ba.

Thức là cái gì đó trừu tượng rất khó hiểu, vừa là cái gì đó rất dễ nhận biết, vừa là nhân cũng vừa là quả. Thức là cái căn bản, là cơ sở làm nên chúng sanh và chi phối toàn bộ đời sống chúng sanh.  

Khi thức còn ở giai đoạn tiền tế, tức là lúc chúng sanh vừa hình thành chủng tử đầu tiên, chưa có mặt trên đời, thức chính là hạt nhân làm nên chúng sanh đó, gọi là chủng tử thức hay thức nguyên.

Khi chúng sanh xuất hiện trong đời, thức chi phối đời sống, từ ăn uống ngủ nghỉ đến học tập, bây giờ thức đóng vai trò vừa là nhân vừa là quả, gọi là nghiệp thức. Vừa là nhân vì thức gom nhóm hiện tại để đưa vào kho cất giữ cho vị lai, vừa là quả vì thức phô diễn tất cả những gì hàm chứa trong nó để làm nên một thực thể sống.  

Khi chúng sanh không tồn tại trên đời, thực thể sống chấm dứt, thức trở thành người đại diện cho chúng sanh ấy tiếp nhận một nghiệp mới, gọi là trung ấm hay thần thức. Nói chung thức giống như một sợi dây xuyên suốt từ quá khứ, đến hiện tại, lẫn vị lai của một hữu tình.

Khi thức còn là nhân trong giai đoạn tiền tế của mười hai nhân duyên gồm vô minh, hành, thức, danh sắc. Thức không có chức năng của biết, mà thức chỉ giữ vai trò của hạt giống cầm giữ mạng căn, để danh sắc tồn tại và hình thành đầy đủ theo quy luật của nghiệp.

Khi chúng sanh xuất hiện ở cõi đời, tức giai đoạn trung tế gồm lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, thức đóng vai trò chủ nhân ông, điều phối mọi hoạt động của những món này.

Đến giai đoạn hậu tế, tức hữu, sanh, lão, tử, thức lại làm công việc ghi nhận thiện ác trong hiện tại để chuẩn bị cho đời sau, vì thế chữ hậu hữu thân có mặt. Khi đời sống chúng sanh chấm dứt, thức trở thành hạt giống lang thang tìm nơi nảy mầm.

Cứ thế, thức tồn tại và làm đủ mọi công việc, chạy khắp nơi để hình thành nên một hữu tình từ đời này sang đời khác. Thức di chuyển tạo thành vòng tròn khép kín, lặp đi lặp lại, gọi là luân hồi.

Trong đời sống một chúng sanh, không ở đâu, không việc gì không có thức. Có nghĩa thức đảm nhận công việc của một người chỉ huy, từ tai mắt, hành động, cho đến nghĩ suy, gọi là lục thức, chữ thức là biết, nhằm chỉ cho giai đoạn này.

Để giúp chúng sanh hoàn thiện hiện nghiệp, thức tiếp nhận, học tập tất cả những gì xảy ra chung quanh và trong chính nó để làm phong phú đời sống, gọi là Tri thức.

Thức làm công việc của một người công nhân đưa tri thức về nơi cất giữ an toàn, rồi đem trở ra để sử dụng, gọi là Lưu chú thức.

Thức cất giữ mọi thông tin có được trong quá khứ lẫn hiện tại không cho mất, gọi là A lại da thức.

Thức chấp chặt mọi thông tin do Lưu chú cung cấp, để đưa ra mọi toan tính, suy lường, biết rõ thiệt hơn gọi là Mạt na thức.

Do đảm đương nhiều chức năng, bận rộn nhiều công việc, nên thức rất ít cơ hội nghỉ ngơi, cứ lăng xăng hết việc này đến việc kia. Vì thế, thức bị gán cho biệt danh là thức loạn động, thức trói buộc.

Tóm lại, chúng sanh chính là thức, thức chính là chúng sanh. Hay nói khác hơn, không có thức thì không có chúng sanh, hoặc thấy có chúng sanh biết có thức đang hiện hữu, giống như khói và lửa. Thực tế, một hữu tình không có tám hay chín thức, mà chỉ một thức, tuỳ chức năng, tuỳ vị trí, tuỳ công việc, tuỳ nơi đến, tạm đặt tên cho dễ nhận biết, điều này dẫn đến lầm tưởng rằng, chúng sanh có nhiều thức. Giống như một chiếc hộp lon có nhiều lỗ chung quanh, trong đó thắp một cây đèn, ánh sáng phát ra nhiều nơi, nhưng kỳ thật, chỉ một nguồn sáng từ cây đèn.

Giống như một người đảm đương nhiều công việc với nhiều chức vụ khác nhau nên có nhiều chức danh. Ở nhà gọi là chủ nhà, có con gọi là cha, đi dạy gọi là thầy giáo, coi sóc tổ dân phố gọi là tổ trưởng, trong chiến tranh đi lính gọi là cựu chiến binh, về hưu trồng cây kiểng kiếm thêm thu nhập và giết thời gian gọi là nghệ nhân trồng kiểng. Tám chín cái tên, nhưng cũng chỉ có một con người. Tám hay chín thức cũng giống như vậy.

2. Trí trong Phật đạo là gì???
Nếu thức là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một chúng sanh. Thì trí chính là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một vị thánh trong Phật đạo. Ngày chưa giác ngộ, thức có bao nhiêu công việc, bao nhiêu chức năng, khi giác ngộ, trí đảm đương bấy nhiêu công việc, bấy nhiêu chức năng của thức để lại. Vì thế, mới có các câu nói: "thức tức trí", hay "thức ấy chính trí ấy", "thức trí không hai"!!!

Cũng giống như thức, trí chính là vị giác ngộ, vị giác ngộ chính là trí, không phải có một người giác ngộ đang sở hữu một trí tuệ nào đó, như người ta sở hữu một chiếc xe hơi. Cái khác giữa thức và trí là, một bên u tối, một bên sáng suốt, một bên lăng xăng, một bên tâm ý thanh nhàn, một bên chấp nhất hơn thua, một bên ung dung tự tại, một bên lo rầu vì chuyện sanh tử khổ, một bên nhận ra sanh tử chỉ là con cọp giấy không có gì đáng sợ... Nói chung, thức hay trí chỉ là sự chuyển đổi bản chất chứ không phải sự tiêu diệt tất cả.

3. Bản chất của sự chuyển đổi từ thức thành trí.
Có phân tích đến tận nguồn cơn, ta mới nhận diện rõ thức là gì, có nhận diện rõ ràng vai trò của thức đối với một chúng sanh, mới có thể biết được chuyển thức thành trí là chuyển cái gì. Nếu không hiểu biết về thức, không thấu suốt hành hoạt của thức, không thể thực hiện việc chuyển thức thành trí một cách hiệu quả.

Nếu thức là cái căn bản, là cơ sở, là cái gốc làm nên một chúng sanh thì, chuyển thức thành trí là công cuộc chuyển đổi tận gốc của tất cả hành hoạt một con người, từ nghe nhìn, nghĩ suy đến hành động. Sự chuyển đổi tất cả, chuyển đổi rộng khắp, chuyển đổi tận gốc này mới thật sự được coi là hành động tu tập. Như vậy có thể hiểu, tu tập chính là sự chuyển đổi toàn diện trong một con người để biến thức thành trí. Giống như nguồn nước đã bị nhiễm ô, chuyển nước đục thành nước trong, là chuyển toàn bộ nước ấy, chứ không phải chuyển một thành phần riêng biệt nào đó của nước, cũng không phải đem thứ nước đục ấy bỏ đi.

Trong Phật đạo, có nhiều hình thức chuyển thức thành trí, ba thừa là ba hình thức chuyển đổi khác nhau, hình thức chuyển đổi có khác nhau nhưng kết quả đồng nhất. Sự đồng nhất này là, từ một đời sống bị chi phối bởi thức, nay biến thành một đời sống bằng trí tuệ. Giống như trước đây uống nước bị nhiễm ô để tồn tại nên khổ sở vì bệnh hoạn, nay có công nghệ làm sạch, sau khi làm sạch xong sẽ được uống thứ nước tinh khiết, sướng vui an ổn vì không bệnh.

Nếu không nắm vững bản chất của sự chuyển đổi này, người tu hành có biết, có học thuộc thế nào là tám thức, thế nào là bốn trí, cũng chỉ chuyển trên văn tự, chứ không thể có một sự chuyển đổi tích cực nào xảy ra trong vị tu hành ấy.

4. Vì sao thức và trí có sự chuyển đổi thành công???
Một người chưa tu tập chưa giác ngộ, người này bị thức chi phối hoàn toàn cuộc sống, thức chi phối bằng cách sai sử, trói buộc, động lay, phiền não. Khi người này tiếp cận Phật pháp, hiểu ra vai trò của thức, và biết được con đường chuyển hoá để đời sống không còn bị chi phối bởi thức, người này lập tức hành động, kết quả của hành động đó Phật đạo gọi là giác ngộ.

Con đường chuyển hoá đó là chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để thức trở thành trí. Khi thành trí, trí đảm nhận công việc trước đây của thức, nhưng: không sai sử, không trói buộc, không chấp mắc, không gây ra phiền não...

Sở dĩ thức có thể chuyển hoá được là nhờ, Phật đạo chỉ ra rằng, những thứ mà thức làm tổn hại một con người, chỉ do sự nhất thời mê muội nào đó, chứ thật ra thức không có bản chất này. Giống như con mắt đang sáng, bị hạt bụi bay vào, làm con mắt bị nhặm, nên các thứ trở thành mờ tối không rõ ràng.

Hạt bụi bay vào con mắt thức đó chính là chúng sanh tánh hay cá tánh gọi chung là nghiệp, chính chúng sanh tánh hay cá tánh đã làm nhiễm ô thức, muốn thức trở về cái ban sơ không mê không giác, người này thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi, thay đổi đời sống, hoàn toàn không chấp nhận chúng sanh tánh hay cá tánh, loại bỏ hoàn toàn nghiệp thức ra khỏi đời sống trên tinh thần của Phật đạo. Tuỳ theo nỗ lực, tuỳ theo nhận thức sâu hay cạn, tuỳ theo tốc lực tâm, tuỳ hoàn cảnh và tuỳ theo mức độ nhiễm ô của từng người, sự chuyển đổi này xảy ra mau hay chậm trong chính con người ấy.

Nhận thức sâu hay cạn và sức tinh tấn chính là yếu tố then chốt quyết định sự chuyển đổi thành công lâu hay mau, Phật giáo gọi là đốn hay tiệm. Có người chỉ trong sát na, xả bỏ tất cả những gì được gọi là chúng sanh, thánh trí liền hiện. Cũng có những người nhận thức không sâu hoặc nhận thức sai lệch, phải mất một thời gian dài chuyển đổi mới thành công.

Nói chung, dù nhận thức sâu hay cạn, một trong những nhận thức cơ bản phải được biết đến, đó là không nên nuông chìu cá tánh hay chúng sanh tánh, tức chỉ cộng trú với nghiệp chứ không cộng sinh, chấp nhận từ bỏ nó không thương tiếc ngay trong hiện tại.

Chúng sanh tánh, cá tánh hay nghiệp thức giống như một con đỉa, hai đầu đều có thể hút máu, dứt đầu thiện ra khỏi cơ thể, đầu ác sẽ bám vào, không dứt thật mạnh, cả hai đầu đều bám. Con đỉa chúng sanh đã bám vào thức làm công cụ hút máu, vì thế thức ban sơ tức thức nguyên trở thành thức nghiệp, từ thức đồng trở thành thức dị... Chính từ đồng sang dị, nên thức trở thành loạn động và u tối.

- Tóm lại, thức chính là trí. Con đỉa chúng sanh mới là thủ phạm làm cho thức trở thành tên tội đồ bị lên án. Khi con đỉa chúng sanh chết rồi, thức trở về bản chân của nó chính là trí. Chữ trí trong giai đoạn này, dùng để chỉ cho sự sáng suốt của một hữu tình khi hết mờ tối bởi nghiệp, chữ trí này chưa phải là Phật trí!!!

5. Thức biến thành trí, sẽ chuyển biến như thế nào???
Khi chưa giác ngộ, thức có tám chức năng chính và một chức năng phụ. Tám chức năng chính đó là:

  • Khi thức chạy vào năm căn thân, sẽ chỉ đạo năm căn thân tiếp cận năm ngoại trần theo chủ ý điên đảo của mình, gọi là tiền ngũ thức. Khi thức thành trí, trí thay thế thức, cũng vào năm căn thân, nhưng không sai sử điên đảo, không khởi sanh phân biệt đẹp xấu, không sinh tâm ham ưa... Thấy nghe bây giờ sáng suốt, không loạn động vì cảnh, do đó hỷ lạc khinh an hiện lên, tiền ngũ thức bây giờ có tên là Thành Sở Tác Trí...

Thành sở tác trí hay Thành sự trí, là một thứ trí giúp người hoàn thành công việc thấy nghe mà không tạo nghiệp. Thức thuộc hữu vi vì hay tạo tác, thức chuyển đổi thành trí, trí cho ra một thấy nghe mà không tạo tác, nên nó là Vô vi trí. Thành sở tác trí là kết quả giác ngộ thay thế cho tiền ngũ thức. Tiền ngũ thức được thay thế bởi trí, nên sắc uẩn trở thành sắc giải thoát.

  • Ý thức là thức thứ sáu, thức này có công năng nghĩ suy, phân biệt, thị phi, quyết định. Sau khi giác ngộ, tính chất phân biệt, thị phi mất đi, nghĩ suy trở nên sáng suốt, nghĩ suy đúng như bản chất của vấn đề chứ không dựa vào hiện tượng, tình cảm hay cơ hiềm mà kết luận, vì thế tâm không dao động hay hoài nghi trước kết quả của nghĩ suy, bây giờ ý thức trở thành Diệu quan sát trí. 

Nói khác hơn, Diệu quan sát trí chính là sự thấu suốt bản chất của vấn đề, nên một kết quả như thật tức thì hiện khởi, còn gọi là trực nhận. Sự trực nhận này không do bởi dụng công, còn gọi là vô công dụng đạo. Vì vô công dụng đạo nên định sanh, định này chính là vô vi định nên tưởng uẩn sẽ tịch diệt, tưởng uẩn tịch diệt gọi là thanh tịnh tưởng, một trong những công cụ để trở thành Thần túc thông sau này.

  • Mạt na thức đã bị chuyển hoá, chấp nhất, đấu tranh, hơn thua, được mất đều tịch diệt, nên ngã cũng không còn đất sống, vì thế tịch diệt theo. Giống như hạt giống treo giàn bếp, không thể nảy mầm. Ngã tịch diệt, từ bi sanh khởi, từ bi sanh khởi hai tướng nhân ngã không còn, nhân ngã không còn Mạt na thức đổi tên thành Bình đẳng tánh trí.

Bình đẳng tánh trí, cho ra thấy biết bình đẳng từ chúng sanh, thân tâm đến thế giới, cho nên khổ vui không hiện khởi trong tâm. Trong tâm không nhận chịu khổ vui nên thọ uẩn tịch diệt, thọ uẩn tịch diệt trung tế tịch diệt, trung tế tịch diệt hậu tế tịch diệt, hậu tế tịch diệt hậu hữu thân tịch diệt, hậu hữu thân tịch diệt sanh lão tử chấm dứt.

  • A lại da thức khi được giác ngộ, giống như một cái kho chứa đồ cũ đã được làm sạch, món nào cần thiết cho đời sống thì giữ lại, món nào phế thải đem bán ve chai đồng nát. Số lượng phế phẩm tích chứa trong kho là cực lớn, nên một lần bán sẽ rất nhiều tiền. Bỗng dưng một số tiền lớn xuất hiện, vượt khỏi toán số thế gian gọi là công đức. A lại da sau khi giác ngộ trở thành Đại viên cảnh trí.

Đại viên cảnh trí hay Đại viên kính trí là hình ảnh ẩn dụ tâm thức như một tấm gương lớn. Tấm gương không từ chối vật, nhưng không sở hữu vật, sở hữu là thức, vô sở hữu là trí, nên Đại viên cảnh trí còn có tên là Vô sở hữu trí. Trí này như gương sáng, soi thấu vạn hữu nhưng không lưu lại dấu vết hay hình ảnh. Dó đó khi A lại da thành Đại viên cảnh trí, thức và hành uẩn tịch diệt. Thức và hành uẩn tịch diệt tánh giác hiện ra, tánh giác hiện ra nhân Phật mọc mầm, nhân Phật nảy mầm quả Phật thành tựu.

  • Lưu chú thức, đây là thức phụ, nó không có chức năng làm cho mê hay giác, cũng không bị ảnh hưởng bởi mê hoặc ngộ... Nó như dòng hải lưu âm thầm chảy dưới đáy biển mang các thứ trong biển từ nơi này đến nơi khác. Giống như người thư ký của một hãng lớn, chỉ làm công việc do ông chủ sai bảo, không thể quyết định chuyện thành bại của hãng. 

Lưu chú có nhiệm vụ ghi nhận và đem các thông tin từ sáu thức cất vào A lại da, khi cần nó đem ra cho Ý hay Mạt na sử dụng... Vì thế kinh dạy, "thức diệt chứ Lưu chú không diệt". Khi giác ngộ, Lưu chú cũng âm thầm làm công việc từ trước... Phật dạy: "Tướng sanh trụ diệt và Lưu chú sanh trụ diệt, không thể suy nghĩ biết được...".

6. Kết luận.
Nói đến tám thức thành bốn trí, là nói đến quá trình chuyển đổi tận gốc từ nhận thức đến hành động. Khi nhìn thấy con bò đang ăn cỏ, người tu tập liền biết trong con bò đó đang cộng sinh cùng thức nghiệp loài bò, khi thấy con bò kéo cày, biết rằng con bò đó đã được học tập một tri thức đơn giản về phải trái hay thẳng do người nông phu dạy dỗ, khi thấy con bò lăn ra chết biết rằng thần thức của con bò đã ra khỏi nó, chuẩn bị cho một đời sống mới..v.v...

Nói chung, thức là cái gì rất dễ nhận ra, nhưng thật khó biết cụ thể, thức nghiệp trong mỗi hữu tình thiên hình vạn trạng, ở đâu có chúng sinh ở đó có thức, ở đâu có phiền não ở đó có thức, ở đâu có trói buộc ở đó có thức, ở đâu có loạn động ở đó có thức. Thức là đại diện của hữu vi pháp vì thế nó thay đổi sanh diệt không ngừng.

Tu hành trong Phật đạo chính là công cuộc chuyển đổi thức thành trí. Muốn chuyển đổi thành công phải thấu suốt cái chuyển đổi và cái sắp được chuyển đổi, càng thấu suốt việc chuyển đổi càng xảy ra dễ dàng. Như người ta dùng sức lao động để đổi nghèo thành giàu, một người khiếm khuyết trí tuệ, không nhận thức được sự khác nhau giữa giàu và nghèo, nhất định chẳng bao giờ có một sự chuyển đổi tích cực, đúng mức, để đưa đến thành công trong con người đó.

Hy vọng, bài viết giúp một chút gì đó để các bạn có thể tự thấy biết rõ ràng thế nào là ‘thức’ thế nào là ‘trí’. Có thấu đáo, việc chuyển thức thành trí mới thành công. Biết đâu một ngày đẹp trời, mỗi người sẽ là một cục trí... đi...tới... đi...lui cho con đỉa nghiệp...ớn... chơi!!!            (29-05-2013)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−     

Bài viết Lý Tứ

(12) CHUYỆN BÊN LỀ

MB 857 Lý Diệu Sinh 08.01.2019

Các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn, được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu... được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!

Vừa rồi, có một vị khách quý đã đặt một số câu hỏi chung quanh cuốn Vô Đối Môn. Theo mình, đây là những câu hỏi thú vị và thực tế !!! Xin chuyển đến các bạn, nội dung cuộc hỏi đáp lí thú này:

1. Khách:
Tác phẩm Vô Đối Môn được trình bày theo hình thức hỏi đáp. Xin hỏi cư sĩ, ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời cũng như nhân duyên làm nên các câu hỏi trong Vô Đối Môn? Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong Vô Đối Môn liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?

LÝ TỨ:
Thưa quý khách:
-Vào năm 2015, có hai vị khách trẻ là vợ chồng đều là Bác Sĩ, đi cùng một người học trò của mình đến thăm mình. Trong lúc nói chuyện, hai vị khách có hỏi mình một số câu hỏi về Phật pháp, mình trả lời cụ thể từng câu, và hai vị khách rất hài lòng với những gì mình đã trình bày (đó là những câu hỏi nằm ở phần đầu cuốn Vô Đối Môn)!

Sau khi hai vị khách ra về, mình suy nghĩ, tại sao ta không ghi lại những câu hỏi và trả lời về Phật pháp mà mình đã trao đổi với mọi người trong thời gian qua thành một cuốn sách. Nhân duyên Vô Đối Môn ra đời trong hoàn cảnh như thế. Sau khi Vô Đối Môn in thành sách, hai vợ chồng vị Bác Sĩ trẻ ấy là những người đầu tiên đã được mình gởi tặng họ một cuốn, coi như lời tri ân trước một nhân duyên lành để cuốn Vô Đối Môn ra đời!

-Về câu hỏi: Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong Vô Đối Môn liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?

Mình xin trả lời câu hỏi này như sau:
Như mọi người đều biết, Phật đạo như biển lớn, các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi trong biển lớn ấy, nên bảo rằng các câu hỏi đó đã đủ kiến thức giúp một Phật tử hiểu sâu về Phật đạo là không thoả đáng.

Nhưng có thể nói, các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn, được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu... được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!

2-Khách:
Một cuốn sách ra đời có thể gây nhiều tranh cãi. Với Vô Đối Môn là cái tên sách: Cửa Vô đối và thông điệp của cuốn sách: Cửa lớn mở tâm trí. Với 30 năm nghiên cứu Phật đạo, điều gì cư sĩ muốn gửi gắm đến độc giả trong lần xuất bản tác phẩm Phật đạo đầu tiên này?

LÝ TỨ:
-Không riêng gì cuốn Vô Đối Môn, mà theo mình, bất kì một sản phẩm nào ra đời, việc tranh cãi về sản phẩm ấy là chuyện tự nhiên. Với mình, Vô Đối Môn cũng chỉ là một sản phẩm, và sản phẩm này tốt hay xấu, có ích hay không...v..v... xã hội và người đọc là những vị Thầy thông tuệ, nghiêm khắc và là Quan toà công tâm nhất, vì thế mọi đánh giá, phán xét về Vô Đối Môn sẽ được người Thầy và vị Quan toà ấy (dư luận xã hội và người đọc) đưa ra kết luận sau cùng!

-Khi viết Vô Đối Môn, mình chỉ có một tâm niệm, đó là: Những ai có nhân duyên đọc Vô Đối Môn, hi vọng sẽ tìm thấy trong đó một chút lợi ích thiết thực từ cuốn sách, trong quá trình tìm hiểu Phật pháp!

3-Khách:
Với mục tiêu cho người học đạo là Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ ... ông có sợ mục tiêu này của mình có cao siêu quá không dù ông đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu. Ông có thể giải thích cho độc giả hiểu thấu chân lý: Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ?

LÝ TỨ:
-Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ là ba mục tiêu của Phật đạo, chứ không phải của mình tự đề ra, cho nên Phật đạo còn có tên là Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát và Đạo Trí Tuệ!

-Việc mục tiêu này có cao siêu quá hay không? Xin thưa, không riêng gì Phật đạo, mà bất kì nền giáo dục nào cũng có những mục tiêu của nó, và bổn phận của giáo dục là bằng mọi cách giúp người học hoàn thành các mục tiêu đã đề ra! Theo mình, việc hoàn thành mục tiêu của giáo dục đề ra không liên hệ đến chuyện cao siêu hay tầm thường, mà nó là kết quả tất yếu của quá trình dạy và học!

-Về ba phương châm Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ, mình xin tóm tắt ý nghĩa của nó như sau:
*Giác ngộ, là thấy biết và thấu suốt điều mình đang học, đang hướng đến.
*Giải thoát, là không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm (các pháp) hư vọng từ thân tâm đến thế giới.
*Trí tuệ, là biết cách giúp mình và người thành tựu rốt ráo hai phương châm Giác ngộ và Giải thoát.

4-Khách:
Tâm và Pháp là 2 vấn đề ông nhấn mạnh trong cuốn sách. Nếu có thể nói ngắn gọn hơn cho một người học đạo Phật thấu hiểu để vận dụng vào thực tế cuộc sống, ông sẽ tóm tắt 2 ý trên như thế nào?

LÝ TỨ:
-Phật đạo đề ra bốn nơi chốn mà người tu hành phải giải quyết tận gốc nếu muốn được an vui, bốn nơi chốn đó là Tứ niệm xứ, gồm: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.

Trong Vô Đối Môn, mình chỉ đề cập nhiều đến Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ mà ít đề cập đến hai niệm xứ còn lại là vì: Trong các mẩu đối thoại mà mình đã trao đổi, toàn bộ là cư sĩ, và phần lớn họ chỉ đề cập đến những khúc mắc trong phạm vi của tâm và pháp, cho nên người đọc chỉ thấy Vô Đối Môn nói nhiều đến tâm và pháp là lý do như vậy!

Về tâm và pháp mình xin sơ lược như sau:
-Chữ “Tâm” trong Phật đạo, nhằm chỉ một hiệu ứng tình cảm khi các giác quan xúc đối với trần cảnh rồi chấp chặt, mê mờ và sinh các quan niệm hư dối từ nơi trần cảnh ấy, để rồi cuối cùng một hiệu ứng tình cảm khởi lên.

Ví dụ: Một bức tranh, tự thân nó không có ý nghĩa đẹp xấu, nhưng khi ta tiếp cận bức tranh, tuỳ vào góc nhìn, tuỳ vào quan điểm, tình cảm...v..v...ta sẽ thấy bức tranh đó đẹp hay xấu (theo quan điểm riêng của ta). Nếu ta mê mờ, chấp chặt quan điểm này, trong lòng sẽ sinh các hiệu ứng tình cảm như thương hay ghét (bức tranh), thương thì khởi tâm tham (muốn có được), chán ghét thì sẽ sân hận (muốn xa lánh), những hiệu ứng như vậy, Phật đạo gọi là Tâm hay phàm tâm (khi phàm tâm hay hư vọng tâm rốt ráo tịch diệt, chơn tâm hay bổn tâm thanh tịnh sẽ hiện)!

-“Pháp”, là đối tượng của ý căn, nó là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, quan điểm...v..v...Phật đạo chỉ ra rằng, các pháp hay nhận thức, quan niệm, khái niệm như thế không có chân lý, chỉ đúng với nơi này, người này, văn hoá này...không đúng với nơi khác, người khác, văn hoá khác...

Vì thế một pháp tự nó không có những tính chất nhất định, không bền chắc vì không đại diện cho chân lí, Phật đạo gọi là không tánh. Nếu ta mê say các quan niệm ấy, sẽ bị các quan niệm ấy trói buộc, làm cho u tối và phát sinh phiền não cũng như các thứ kiết sử là tham, sân...v..v...(khi ý thức không mê say các pháp, thức mê sẽ chuyển thành trí)!

-Về ứng dụng, nếu trong cuộc sống, ta tỉnh táo trước mọi cảnh duyên, không mê mờ để cho tâm và pháp hư vọng chế ngự hay làm chủ bản thân, nhất định trước mọi hoàn cảnh ta không động lay hay bị cám dỗ bởi bất kì việc gì (Phật giáo tạm gọi là Định Vô Lậu)... Từ đó, đời sống sẽ an vui! Một khi không bị cảnh duyên làm vướng bận trong lòng, không phân tâm bởi những tác động bên ngoài, người ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, lao động hay học tập, nhờ đó khi làm việc sẽ cho ra hiệu quả cao!

5-Khách:
Văn - Tư - Tu là điều kiện cần và đủ để nuôi dưỡng con đường của một người tu hành. Không một bậc Thầy cao siêu nào có thể dạy được học trò nếu học trò không chịu trải qua con đường rèn luyện trên. Xin cư sĩ cho hỏi, Văn - Tư - Tu trong giáo lý ông dạy học trò có khác Phật tử tu học từ các tăng ni trên chùa không?

LÝ TỨ:
-Bản thân là một Phật tử, thấm nhuần lời dạy của Phật: “Kính Tăng như kính Phật”, do đó việc làm, việc dạy, và học của Tăng, Ni, Phật tử như thế nào, mình không can dự và cũng không có ý kiến (khi chưa nhận được yêu cầu từ các vị tôn túc)! Vả chăng, việc so bì, phê phán chuyện đúng, sai, hay, dở...v.v..của người, không phải là tác phong của Lý Tứ!

Vì thế, mình xin mạn phép trả lời những gì có liên hệ đến mình và bạn bè cùng tu học với nhau!

Theo mình:
*Văn: Tiếp nhận kiến thức.
*Tư: Suy nghĩ thấu đáo kiến thức đã tiếp nhận.
*Tu: Ứng dụng triệt để những nghĩa lí đã thấu đáo vào thực tiễn cuộc sống.

Ví dụ: Phật dạy: “Tham là giềng mối của khổ, phiền não”. Nghe được lời dạy này gọi là Văn. Nghe xong, suy nghĩ thấu đáo ý nghĩa: Vì sao tham là giềng mối của khổ phiền não, vì sao tham lại hiện hữu trong ta, hiện hữu bằng cách gì, làm sao để nó tịch diệt vĩnh viễn...v..v... Suy nghĩ như thế gọi là Tư (tức tư duy quan sát, thuật ngữ hay dùng là Thiền tư). Suy nghĩ thấu đáo rồi, ứng dụng triệt để hiểu biết này vào đời sống, đến khi nào tham không còn hiện khởi trong ta gọi là Tu! Chữ tu theo mình, là hình thức dùng chính giác ngộ của tự thân để biến hữu lậu tâm, hữu lậu trí thành vô lậu tâm, vô lậu trí ngay trong cuộc sống này!

6-Khách:
Học trò ông rất nhiều tầng lớp, người già nhất năm nay đã 102 tuổi, người trẻ nhất vẫn đang là sinh viên. Người là nông dân, kỹ sư, cán bộ, kinh doanh vv... nhưng đều theo học ông như một con đường giúp họ thấu hiểu rõ hơn chân lý nhà Phật. Ông có điều gì căn dặn học trò khi học pháp của mình không?

LÝ TỨ:
Mình có bốn phương châm học tập và hành xử thường căn dặn bạn bè của mình, đó là:
1) Phải xây dựng thái độ học tập.
2) Phải siêng năng, nỗ lực học tập.
3) Phải nắm vững phương pháp học tập, và thấu đáo những điều mình đã học.
4) Phải biết mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!

7-Khách:
Ông có lời khuyên nào cho người học đạo Phật? Lời nói đầu ông viết về hình ảnh tráng sĩ là thái tử Tất Đạt Đa trên con đường đi tìm con đường giác ngộ. Ông muốn gửi gắm điều gì trong khúc tráng ca đầy cảm xúc ấy?

LÝ TỨ:
-Nếu có lời khuyên cho người học đạo, chắc mình cũng chỉ gởi gắm bốn điều đã nêu ở trong câu hỏi số 6!

-Bài Tráng Ca mình viết với một cảm xúc đặc biệt khi gặp phải một sự việc khó giải quyết, mình có ghi lại hoàn cảnh ra đời của bài ca ấy trong Chuyên Mục Chuyện Bên Lề số 09, được đăng trong Fanpage Lý Tứ.

Khi đưa Bài Tráng Ca Bất Tử vào Vô Đối Môn, mình muốn gởi gắm đến bản thân và bạn đọc, khi gặp một chuyện khó xử trên đời, hình ảnh đi tìm con đường giác ngộ của thái tử Tất Đạt Đa, sẽ cho ta một giải pháp tốt nhất, đó là không giải quyết sự việc theo hướng cực đoan... Vì rằng, giải quyết cực đoan sẽ là con đường đưa mọi thứ đến bế tắc và rời xa chân lí !!!

-Xin cảm ơn cư sĩ!
-Xin cảm ơn quý khách, chúc quý khách an vui, thành công trong cuộc sống !!!
LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

MB 857 Lý Diệu Sinh 08.03.2019

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

Tối nay, ngồi kiểm tra số lượng kinh và người đăng kí thỉnh từ Nhóm Lý Gia xem thiếu đủ như thế nào, đọc được bình luận của Anh Khánh: “Kinh quý sao con mê quá...! Sợ người khác bảo tham..!? Chứ kinh sách con quý lắm lắm” !!! Mình chợt nhớ đến những ngày đầu tu tập của bản thân vào những năm 80 của thế kỉ trước !!!

Những năm đó, đất nước cực kì khó khăn, việc tu tập cũng chẳng dễ gì, để tránh dòm ngó, nhà vách lá trống hươ trống hoắc, mình phải dùng các bộ võ phục cũ để ngồi thiền hàng đêm cho thiên hạ tưởng Lý Tứ đang luyện nội công !!! Ha ha ha ha !!! Mình đã ngồi đến rách mấy bộ như thế các bạn có biết không !!!???

Một trong những ngày tết của khoảng thời gian đó (mình không còn nhớ rõ) hồi ấy mình còn rất trẻ, mình có quen thân và thường đàm đạo với một người bạn già hơn mình khoảng 30 tuổi, gọi là Chú Hai Phụng, theo lời Chú Hai, Ông ta hồi trước là cận vệ của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hoà Hảo... Tết năm ấy, nể tình, ông cho mình mượn cuốn kinh Trường Bộ do HT Thích Minh Châu dịch, ĐH Vạn Hạnh xuất bản, và bảo: “Sau tết chú phải trả lại cho tôi, tôi không cho ai mượn ngoại trừ chú” !!!

Ba ngày tết, gia đình mình không có gạo để ăn !!! Thế là, mình và bà xã thay phiên nhau đọc bài kinh Sa Môn Quả cho nhau nghe để...đở...đói !!! Thỉnh thoảng, có vài bạn đạo tới rủ đi uống cà phê và cho vài lon gạo (họ cũng chẳng khá hơn là mấy), thế là ngồi nhâm nhi li cà phê đen, mình lại giảng giải kinh Sa Môn Quả cho họ nghe, coi như có qua có lại !!! Và như thế, cái tết cũng vui vẻ đi qua trong nước mắt, đói nghèo và lời kinh Sa Môn Quả !!!

Trong lúc đói gạo lẫn đói kinh, may mắn, mình và Lão Trương Tam (Thầy của mình) lại gặp được hai người bạn quý (cũng lớn hơn mình chừng 30 tuổi), đó là Chú Năm O và Chú Út Danh !!! Hai vị này hàng tháng lên Sài Gòn, bán máu để in kinh... Nhờ thế, HT Thích Trí Tịnh dịch được cuốn Đại Bảo Tích nào, tức thì mình có cuốn kinh đó để đọc mà không phải chờ đợi hay tìm kiếm !!! Hai vị ấy và Lão Trương bảo: “Hoà Thượng dịch kinh Đại Bảo Tích là để cho chú đọc đấy” !!! Bây giờ, Chú Hai Phụng, Lão Trương, Chú Út Danh, Chú Năm O...không còn nữa !!!

Cũng trong thời gian đó, mình có viết bản sớ giải kinh Lăng Già, cuốn sớ dày khoảng 600 trang viết tay, cuốn tập (vở) để sớ do một người bạn mướn hiệu sách Thế Hùng đóng thật dày tặng mình...

Ngôi nhà lá 12,4 mét vuông của mình, nhìn ra thấy đường hẻm, nhìn lên thấy trời xanh, lúc ấy nhà dột, không có tiền mua lá, mình phải dùng giấy báo Liên Sô lấp những chỗ trống, ngày đi làm kiếm ăn, đêm về ngồi chồm hổm trên sàn nhà sớ kinh, hoặc ngồi thiền đến gần sáng, những đêm trời mưa, giấy báo Liên Sô không chịu nổi, đổ ập nước xuống, thế là cuốn tập dùng để sớ lại ước mèm !!!

Sớ xong cuốn kinh, mình chuyền cho vài bạn đạo đọc, mọi người đều khen !!! Nhưng rồi, vật đổi sao dời, cái đói khiến mình bươn chải, cuốn sớ bạn bè chuyền tay nhau đọc và mình cũng quên mất theo thời gian !!!

Cách đây bảy năm, một người đệ tử của mình khoe: “Con có một đoạn sớ kinh Lăng Già viết tay rất hay, do con chép lại từ một người bạn” !!! Khi nghe nói như vậy, trực giác mách bảo cho mình biết, đó là bản sớ của mình từ mấy chục năm về trước, mình bảo vị HĐ đó về lấy cho mình xem !!! Không ngờ, một phần bản sớ của mình năm xưa, nay còn mấy chục trang được đệ tử chép lại, đúng là quả...đất...rất...tròn !!!

Các bạn ơi !!!

Ngày xưa khó khăn là thế, mình và các bậc tiền bối của mình đã “tìm và đọc kinh bằng nước mắt, lẫn cả máu trong đó” !!! Khó khăn đến độ Lão Trương nói đùa với mình: “Bồ Tát gì...mà...nghèo...thấy...mẹ” !!!

Ngày nay, kinh điển dồi dào, lại được tặng không, lẽ nào các bạn không thỉnh về mà đọc !!! Trí tuệ ở trong đó các bạn ạ !!! Đạo quả ở trong đó các bạn ạ !!! An vui ở trong đó các bạn ạ !!!

Lão Trương, Chú Hai Phụng, Chú Út Danh, Chú Năm O...!!!! Ngày nay Lý Tứ trưởng thành trong Phật đạo là nhờ cái “nghèo thấy mẹ của Lão Trương”, và nhờ “những giọt máu đổi thành kinh” của các vị !!!

Viết lên những dòng này, như những lời tri ân muộn màng để tạ ơn các vị, những người đã giúp Lý Tứ có cơ duyên thấy được đạo pháp !!! Ước gì các vị còn sống trên đời, để Lý Tứ này lạy tạ muôn ngàn lạy !!!

O3/08/2019

LÝ TỨ

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

(04) CHUYÊN MỤC MỖI TUẦN MỘT CÂU HỎI BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.06.2026

(04) CHUYÊN MỤC MỖI TUẦN MỘT CÂU HỎI

BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI

Các bạn !!!

Tuần này, mình xin trả lời câu hỏi của một bạn không đề tên (mình tạm đặt Vô Danh), nội dung câu hỏi như sau:

Nguồn gốc Phật tánh có hay không? Kiến tánh thật sự và kiến tánh lí thuyết giống và khác nhau như thế nào?

Hai chữ "giải thoát" hiểu như thế nào là viên mãn nhất? Xin chân thành cảm ơn Ngài và Ban Quản Trị Vô Đối Môn

Bạn Vô Danh thân mến !!!

Để có thể trả lời thoả đáng câu hỏi của bạn, có lẽ mình xin được phép kiến giải về hai chữ Phật tánh trong Phật đạo trước... Vì rằng, khi chúng ta xác định cụ thể Phật tánh là gì, chừng ấy việc trả lời các điều bạn nêu trong câu hỏi sẽ không rơi vào bế tắc, và chúng ta dễ dàng thống nhất với nhau ý nghĩa các câu trả lời !!!

- Theo Wikipedia thì: Phật tính (zh. fóxìng 佛性, ja. busshō, sa. buddhatā, buddha-svabhāva) là thể bất sinh bất diệt của mọi loài theo quan điểm Đại thừa. Theo đó, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế.

- Còn theo mình thì: Phật tánh là những tánh chất tốt đẹp của một vị Phật, những tánh chất này có sẵn trong mọi hữu tình... Có tám tánh chất tốt đẹp cơ bản của Phật tánh đó là: Từ, Bi, Hỉ, Xả, Thường, Ngã, Lạc, Tịnh !!! Trong quá trình giác ngộ từ thấp lên cao, những tánh chất tốt đẹp nói trên dần dần hiện ra, khi nào người tu hành hiện đủ tám tánh chất cơ bản nêu trên, Phật đạo gọi là thấy (viên mãn) Phật tánh !!!

Như vậy:

1) Về ý thứ nhất trong câu hỏi của bạn: “Nguồn gốc Phật tánh có hay không”?

Dựa vào các kiến giải ở trên thì, Phật tánh là những tính chất tốt đẹp thường hằng trong mọi hữu tình, có nghĩa khi hữu tình có mặt thì Phật tánh cũng có mặt... Cho nên, hai chữ nguồn gốc không thể thành lập và truy tìm được !!! Giống như hư không, không thể bảo rằng “nguồn gốc của nó là có hay không” !!!

2) Về ý thứ hai trong câu hỏi của bạn: “Kiến tánh thật sự và kiến tánh lí thuyết giống và khác nhau như thế nào”?

Bạn Vô Danh thân mến !!!

Theo mình, kiến tánh (hay thấy tánh) là từ ngữ ám chỉ giai đoạn (cảnh giới) người tu hành thấy (hay cảm nhận) những tính chất tốt đẹp của Phật tánh đang hiện hữu trong họ (trước đây không hiện vì còn ngu, mê, lầm)... Vì thế, trong Phật đạo không có kiến tánh lý thuyết !!! Có nghĩa đối với người tu hành chỉ có kiến tánh hoặc chưa hay không kiến tánh mà thôi !!!

Tất nhiên trên đời, cũng có rất nhiều người tu hành chưa thật sự kiến tánh, nhưng do nghe người khác nói, hoặc đọc trong sách vở viết về chuyện kiến tánh rồi học thuộc, sau đó cũng tự xưng mình đã kiến tánh... Trường hợp này, có lẽ chúng ta không bàn ở đây !!!

3) Về ý thứ ba, bạn hỏi: Hai chữ "giải thoát" hiểu như thế nào là viên mãn nhất?

Bạn Vô Danh thân mến !!!

Theo mình biết, hai chữ giải thoát trong Phật đạo, nhằm chỉ cảnh giới người tu hành không còn bị ràng buộc bởi những thứ mà một người bình thường (không giác ngộ) bị ràng buộc !!!

Có một số ràng buộc cơ bản mà người tu hành cần phải thoát ra, mình xin liệt kê như sau:

* Ràng buộc của cộng nghiệp và biệt nghiệp!

* Ràng buộc của ham muốn, khi năm căn thân xúc đối trần cảnh, gọi là ngũ dục, thuộc về Dục giới!

* Ràng buộc của thân và các cảm thọ, thuộc về Sắc giới!

* Ràng buộc của nghĩ tưởng và các quan niệm, thuộc về Vô sắc giới!

* Ràng buộc của hành ấm và thức ấm đối với những người đã thoát li ra khỏi bốn món ràng buộc ở trên, nhưng chưa thật sự giác ngộ để ra khỏi Vô tưởng thiên!

Tóm lại, có vô số thứ ràng buộc một con người !!! Nhưng tựu trung, nếu người tu hành giải quyết tốt những thứ ràng buộc cơ bản nêu trên, Phật đạo tạm coi đây là vị tu hành đã được giải thoát !!!

Bạn Vô Danh thân mến !!!

Về việc kiến tánh, có một câu hỏi theo mình là quan trọng và không kém phần lí thú, nhưng không thấy bạn nêu trong phần câu hỏi !!!

Để giúp bạn đọc có cái nhìn thấu đáo hơn về việc kiến tánh và kiến Phật tánh, mình xin đưa ra hai câu hỏi coi như tạo một đương cơ cho sân chơi của chúng ta, kì tới sẽ cùng nhau trao đổi !!!

1) Kiến (thấy) tánh và kiến (thấy) Phật tánh là một cảnh giới, hay nhiều cảnh giới từ thấp lên cao của người tu hành trong Phật đạo ???

2) Tại sao người tu hành trong Phật đạo phải kiến (thấy) Phật tánh ??? Kiến Phật tánh có mấy công dụng chính yếu trong Phật đạo ???

Các bạn !!!

Vừa qua, BQT cũng nhận được câu hỏi của một bạn có pháp danh là Quảng Kiên như sau:

"Đầu tiên xin đc kính chào Ngài Lí Tứ và BQT VDM. Xin mạn phép hỏi và rất mong có câu trả lời thỏa đáng.

Ta là ai? Từ đâu đến? Tại sao phải chịu sinh già bệnh chết? Rồi ta đi về đâu?

Khi kiến tánh thì kiến 1 lần hay nhiều lần? Thời gian kiến tánh là có hay ko? Trạng thái xảy ra khi kiến tánh?

Sự sống của con người đc hình thành ntn? Sự sống của phật tánh đc hình thành ra sao? Phật tánh làm chủ thân hay thân làm chủ phật tánh? Xin chân thành cảm ơn Ngài Lí Tứ và BQT VDM đã tạo ra trang hỏi đáp này. Rất hay và hữu ích ???

Bạn Quảng Kiên thân mến !!!

Về các câu hỏi của bạn, phạm vi câu hỏi quá rộng, trong một chuyên mục khó có thể nói hết... Tuy nhiên, để tận dụng những gì có thể nói được trong một bài viết, mình xin trả lời vắn tắt như sau:

1) Ta là ai? Từ đâu đến? Tại sao phải chịu sinh già bệnh chết? Rồi ta đi về đâu?

Trả lời:

- Phật đạo chỉ ra rằng, ta không là ai hết (vô ngã), nhưng khi mê, ta liền lầm tưởng rằng “có ta”, giống như mắt nhặm, thấy hư không có hoa đốm rồi lầm tưởng hoa đốm có thật !!! Vì, không có gì là ta (ngã), nên “ta” chẳng từ đâu đến và chết chẳng đi về đâu (vô ngã, ngã sở).... Nhưng khi mê thì, ta từ nghiệp (hữu lậu) sinh ra và lúc chết phải đi theo nghiệp (xin xem bài viết Hữu Vô Sơ Yếu Luận của Lý Tứ) !!! Giống như người ngủ thấy chiêm bao, giậc mình thức giấc, mọi cảnh trong chiêm bao đều không thật !!! Thấy chiêm bao dụ cho kẻ mê, thức giấc dụ cho bậc giác ngộ !!!

- Sanh, lão, bịnh, tử là quy luật của thân... Đã là quy luật, có thân nhất định phải chịu chi phối bởi quy luật ấy, không một ai có thể làm khác !!!

2) Khi kiến tánh thì kiến 1 lần hay nhiều lần? Thời gian kiến tánh là có hay không? Trạng thái xảy ra khi kiến tánh?

Trả lời:

- Theo mình biết, có tới ba lần kiến tánh:

* Lần 1: Kiến (thấy) tánh giác.

* Lần 2: Kiến tự tánh.

* Lần 3: Kiến Phật tánh.

(Bạn có thể tìm hiểu đề tài này ở Trò Chơi Trí Tuệ 08/2018 của Lý Gia đã đăng trong Anh Lạc Luận II, được Thường Xuân Vân Đài đọc lại trên youtube)

- Thời gian kiến tánh và các lần kiến tánh mau hay chậm tuỳ người (đốn, tiệm sai khác) !!!

- Về trạng thái kiến tánh, có thể sơ lược như sau:

* Kiến tánh lần một: Hết ngu, thấy nghe không còn u tối...(dứt Nhuận chi vô minh)

* Kiến tánh lần hai: Hết mê, tâm tánh sáng suốt, thức chuyển thành trí...(dứt Căn bản vô minh)

* Kiến tánh lần ba: Hết lầm, biết rõ ta và tất cả chúng sanh bản lai có đủ các tính chất của một vị Phật...(Vĩnh viễn ra khỏi Vô minh trụ địa)

3) Sự sống của con người được hình thành như thế nào? Sự sống của Phật tánh được hình thành ra sao? Phật tánh làm chủ thân hay thân làm chủ Phật tánh?

Trả lời:

- Phật đạo chỉ ra rằng, cái được gọi là sự sống của con người hình thành gồm ba thứ cơ bản, đó là: Thân, tâm, thức (nói rộng là ngũ ấm) !!!

* Thân (sắc): Có sắc vô thường (sắc trói buộc), sắc giải thoát và sắc thường trụ...

* Tâm: Có hư vọng tâm, chân tâm và Phật tâm...

* Thức: Có thức mê và thức giác (trí)...

Ba thứ thân, tâm và thức của người tu và không tu chỉ khác nhau giữa mê và ngộ !!!

- Về Phật tánh, xin xem trả lời phần trên (của bạn Vô Danh) !!!

- Phật tánh không làm chủ thân và thân cũng không làm chủ Phật tánh, vì Phật tánh chỉ là những tính chất tốt đẹp bản lai có sẵn trong mọi hữu tình, mê Phật tánh ẩn, ngộ Phật tánh hiện... Giống như có mây mặt trời bị che, hết mây mặt trời hiện ra !!!

Quảng Kiên thân mến !!!

Trên đây, chỉ là những trả lời sơ lược, khi nào đủ duyên, chúng ta sẽ trao đổi cặn kẽ hơn từng vấn đề !!!

Mong bạn hoan hỉ....

Thân !!!

Các bạn !!!

Kì tới, chúng ta sẽ trao đổi các câu hỏi của bạn Minh Nguyệt Chu !!! Các câu hỏi như sau:

Thầy Lý Tứ kính !!!

Đại gia đình Lý Gia kính !!!

Minh Nguyệt có hai câu muốn hỏi ạ...!!!

1/ Xin hỏi công dụng của Tam Pháp Ấn (không, vô tướng, vô tác) là gì ???

2/ Mối liên hệ giữa Tam Pháp Ấn và người tu tập khi dứt hai thứ vô minh (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bổn Vô Minh) là gì ???

BQT LÝ GIA rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!

Xin bấm vào đường link sau, để nhập câu hỏi và nhớ ghi tên cùng địa chỉ hoặc số ĐT để BQT tiện liên lạc !!!

👉http://bit.ly/2K0aWfn

THÔNG BÁO VỀ TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ 02/2019

BQT LÝ GIA đã nhận được trả lời của Lý Ca Ca (Cần Thơ), Lý Hậu Vệ (Cần Thơ), Lý Văn Tỵ (Quảng Nam)...

(04) CHUYÊN MỤC MỖI TUẦN MỘT CÂU HỎI BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI

(04) CHUYÊN MỤC MỖI TUẦN MỘT CÂU HỎI BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI

Bài viết Lý Tứ

(25) CHUYỆN BÊN LỀ LÃO SƯ TRƯƠNG TAM NHỮNG ĐIỀU CHƯA KỂ

MB 857 Lý Diệu Sinh 09.09.2019

Bài viết, như một tưởng niệm “con người kì đặc”!!! Lão Trương, một “viên ngọc vô giá của đạo pháp đã phải chịu lẫn lộn giữa vô lượng cát sỏi mê muội cuộc đời” !!!

Cách đây trên 30 năm !!!
Năm đó mình cũng chừng trên 30 tuổi !!!
Tuy mới trên 30, nhưng có thể nói, ở thời điểm ấy bản thân mình đã sở hữu một số vốn kiến thức Phật pháp phong phú và có một nội lực thiền định tạm coi là thâm sâu !!!
Những ngày còn trẻ, mình dấn thân tu hành và cầu đạo khắp nơi, nghe ở đâu có người “biết pháp” là lập tức đến đó cầu đạo, mình tu tập miệt mài các loại thiền định (từ ngoại đạo đến Phật đạo), hầu mong tìm ra con đường giác ngộ !!! Cũng trong thời gian đó, mình nhận “gậy xuất sư” (nối truyền) của một môn phái (xin không nêu tên) !!!
Buổi chiều sau khi nhận gậy, Phật trời không phụ lòng người, mình đã gặp Lão Sư Trương Tam ở một vỉa hè, sau vài câu trao đổi, mình nhận ra con người đối diện không tầm thường, nhìn con người với bề ngoài bình thường, không muốn nói là tầm thường trong con mắt hầu hết mọi người, nhưng đối với mình bên trong con người này, ẩn chứa điều gì đó thâm sâu không đáy, khó có người nhìn thấy !!!
Và Lão Trương hình như cũng nhận ra “cốt cách” của mình thế nào ấy, để rồi mình và Lão Trương trở thành chí thiết (mặc dù Lão Trương lớn hơn mình 12 tuổi, đúng một con giáp, cùng thuận tay trái và có những sở thích giống nhau) !!! Thế là từ đó, mình và Lão Trương hơn 20 năm không rời nhau, buồn, vui, ngọt, đắng...đều chia phần cho nhau, hầu như ở đâu có Trương Tam, nhất định phải có Lý Tứ !!!
Rồi một ngày cách đây 11 năm, Lão Trương bệnh nặng !!! Một buổi sáng (21/05/2008), Lão gọi mình và một số bằng hữu thân thiết đến nhà (có tăng lẫn tục)... Lão trịnh trọng tuyên bố “Mạng mạch........tôi giao lại cho chú” (chuyện riêng của bản môn, xin được không kể rõ lời phó chúc của Lão Trương) !!! Và, mình nhận lãnh cái “mạng mạch” ấy !!! Có thể nói, lúc đó đối với mình, gánh nặng bắt đầu đặt lên vai !!! Mạng mạch ấy cụ thể là cái gì ??? Nó như thế nào ??? Thực hiện ra sao ??? Bao nhiêu câu hỏi cứ bao phủ lấy tâm trí !!!
Ngày 12 tháng Tám âm lịch (cách Trung Thu 3 ngày), buổi chiều mình cùng bà xã đến thăm Lão Trương !!! Lão nói với mình (và bà xã của mình): “Ăn trung thu xong, tôi đi...Khi tôi đi, chú yêu cầu gia đình và Tăng Ni không được tụng những bài kinh bình thường, mà hãy tụng phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa !!! Đây là lời căn dặn tối hậu, chú không được trái lời” !!!
Lúc đó mình suy nghĩ: Lão Quái này nói những điều thiệt khó hiểu, ai đời đám ma lại đi tụng kinh Pháp Hoa, mà lại tụng phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự !!! Nhưng đây là “giáo lệnh”, mình phải chấp hành...Thế là, mình photo rất nhiều phẩm ấy, để chuẩn bị ngày Lão Trương ra đi !!!
Ngày 16/08 Âm lịch (sau Trung Thu một ngày), Lão Trương viên tịch !!! Lúc ấy mình là “tổng tư lệnh” chỉ huy đám tang, vì mọi thứ Lão phó thác cho mình trước khi lâm chung !!! Bây giờ, trong gia đình, người thân, họ hàng của Lão Trương không thống nhất với nhau việc địa táng hay hoả táng !!! Thế là mình phải đưa ra giải pháp biểu quyết, bên nào đông hơn sẽ chọn ý kiến bên đó !!! Và điều bất ngờ đã xảy ra, bên hoả táng thắng bên địa táng (bí mật hé lộ dần khi phe hoả táng thắng) !!!
Sau khi đưa Lão Trương đến nhà hoả táng, thực hiện các nghi thức...đẩy thi hài Lão vào phòng kĩ thuật...Mình quá mệt mõi, buồn và trống vắng...Mình đến quán cà phê mà ngày Lão Trương còn sống mình và Lão vẫn thường đến đó để uống...Chọn chiếc bàn quen thuộc, bên li cà phê...Mình suy nghĩ thiệt nhiều về cuộc đời và đạo pháp !!!
Điện thoại reo, bên kia con trai của Lão Trương gọi cho mình: “
-Chú ơi! Ba con có rất nhiều xá lợi !!!
Mình hỏi kĩ:
-Làm sao biết đó là xá lợi !!!
Bên kia trả lời:
-Tụi con đâu có biết !!! Rất đông Tăng, Ni họ đến lựa tro cốt và phát hiện ra !!! Chú phải về gấp để giải quyết việc này !!! (Ý nói làm gì với các cục xá lợi ấy) !!!
Lúc đấy, mình hoát nhiên hiểu ra vì sao Lão căn dặn khi đám tang phải đọc phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự !!! Thì ra, mọi bí mật của Lão nằm trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự và cuộc tranh luận “chôn hay thiêu” của hôm trước !!!
Thế là mình làm cuộc phân chia xá lợi, bản thân mình sở hữu 8 viên (hiện nay mình chia cho HĐ bên Mỹ một viên, HĐ Tây Nguyên một viên, mình còn giữ sáu viên) !!!
Mấy tháng sau, câu nói: “Mạng mạch......tôi giao cho chú” cứ lãng vãng trong đầu !!! Mình thề quyết, phải tìm ra bí ẩn câu nói ấy để làm tròn di nguyện của Lão Trương !!!
Một buổi chiều, sau hơn bốn tháng !!! Mình hoát nhiên hiểu ra tất cả !!! Mọi thứ như trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay !!! Cũng ngày ấy, ba vị HĐ đầu tiên của Lý Gia có mặt trên cõi thế và Lý Gia ra đời từ đó !!!
Lão Trương ơi !!!
Lý Tứ đã thực hiện tạm coi là tốt di nguyện của Lão !!! Cái “mạng mạch” hôm nào Lão phó chúc, đến nay đã được Lý Tứ khai thông !!! HĐ Lý Gia từng bước thành tựu những điều cần thành tựu trong đạo pháp, theo đúng “tinh thần mạng mạch” !!!
Hôm nay, HĐ Lý Gia khắp nơi “Tổ Chức Kỉ Niệm 11 Năm Ngày Lão Tạ Thế” !!! Một chút tạm coi là “bí mật bản môn” được kể lại cho người sau biết chút ít gì đó về Lão !!!
Bài viết, như một tưởng niệm “con người kì đặc”!!! Lão Trương, một “viên ngọc vô giá của đạo pháp đã phải chịu lẫn lộn giữa vô lượng cát sỏi mê muội cuộc đời” !!!
Hy vọng, Lão đã có thể tạm hài lòng với những gì Lý Gia đang thu hoạch !!!
00.09 - 09/09/2019
LÝ TỨ

Lão Sư Trương Tam Những Điều Chưa Kể

Lão Sư Trương Tam Những Điều Chưa Kể

Lão Sư Trương Tam Những Điều Chưa Kể

Lão Sư Trương Tam Những Điều Chưa Kể

Bài viết Lý Tứ

(26) CHUYỆN BÊN LỀ

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.09.2019

“Nhân quả phi hữu phi vô”, lời Phật chẳng bao giờ sai...

Các bạn !!!

Trong những ngày lưu lại Hà Nội, mình có một may mắn đó là, được đón tiếp rất nhiều khách quý, bao gồm nhiều tầng lớp trong xã hội...Và, ngoài những buổi nói chuyện, trao đổi Phật pháp, lại còn được nghe những vị khách quý nêu thắc mắc, đặt rất nhiều câu hỏi liên quan đến chuyện đạo và đời !!!

Trong những thắc mắc, có hai câu hỏi, mà theo mình, được mọi người quan tâm nhiều nhất, hầu như ngày nào hai câu hỏi hoặc các thắc mắc ấy cũng được nêu lên, đó là:

1) Có phải gieo nhân nào tất yếu phải chịu quả ấy...Nhân quả tuyệt đối không thể thay đổi ???

2) Có phải Phật đạo chủ trương triệt tiêu tất cả lòng tham (ham muốn), cho dù ham muốn ấy không vì lợi ích bản thân ???

Chuyện Bên Lề (26) hôm nay, xin ghi lại nội dung trao đổi giữa mình và những vị khách đã đặt câu hỏi nêu trên theo “quan điểm cá nhân”... Việc ghi lại này, như một tâm sự, như một kỉ niệm giữa mình và bạn bè yêu mến Phật pháp qua Fanpage Lý Tứ !!!

Các bạn !!!

Về câu hỏi thứ nhất: “Có phải gieo nhân nào tất yếu phải chịu quả ấy...Nhân quả tuyệt đối không thể thay đổi ???” Mình xin được nêu lên quan điểm cá nhân như sau !!!

Theo mình, nhân quả cũng chỉ là một pháp hữu vi...Theo mình biết, Phật dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng (giấc mơ), huyễn (ảo thuật), bào (đám bèo phải chịu hợp tan), ảnh (hình bóng)...”. Điều này có nghĩa rằng, đã là pháp hữu vi nhất định nó không bền chắc !!! Mà cái gì không bền chắc, vô thường, biến hoại...thì cái ấy người trí có thể làm cho nó vĩnh viễn mất đi, hoặc làm cho nó đổi thay !!!

Và, Phật sử cũng đã ghi lại những đổi thay ngoạn mục từ nhân đến quả, không nhất thiết “nhân nào nhất định phải là quả ấy” !!! Ở đây chỉ xin đơn cử một vài ví dụ như sau:

- Ương Quật Ma La (Ahimsaka) là tên giết người, nhưng khi gặp được Bậc Đại Trí Tuệ là Phật, sau một vài câu nói, Ương Quật Ma La từ một kẻ giết người không gớm tay, đã trở thành một vị thánh, chứng quả A La Hán !!!

- Vua A Xà Thế (Ajatashatru) đã giết vua cha là Tần Bà Xa La ((sa. bimbisāra) để đoạt ngôi... Lẽ ra, với tội giết cha đoạt ngôi, theo luật nhân quả, người này rất xứng đáng vào địa ngục vô gián...Nhưng nhờ A Xà Thế biết ăn năn sám hối, sau khi nghe Phật thuyết một thời pháp, A Xà Thế chẳng những thoát khỏi tội địa ngục mà lại được “niềm tin vô căn”... Niềm tin này tương đương Tín Căn trong Kiến Đạo Vị của 37 phẩm !!!

Có bình tĩnh quan sát chuyện xưa, chuyện nay...ta mới thấy rằng: Nhân nào quả ấy chỉ đúng một phần, chứ nó không phải là quy luật tuyệt đối trong cuộc sống !!! Vì thế, Phật dạy: “Nhân quả phi hữu phi vô”, điều này có nghĩa rằng “nhân quả cũng có mà cũng không có” !!!

Như vậy, “nhân nào quả ấy” đúng với ai ??? Và “nhân nào quả ấy” không đúng với ai ??? Để làm sáng tỏ nan đề này, mình xin sơ lược quy trình từ nhân đến quả...Khi nắm vững quy trình, nhất định với sức mạnh trí tuệ, với công cụ đủ mạnh, chúng ta có thể biến một ác nhân mà chúng ta lỡ gieo tạo trở thành quả báo thiện lành !!!

Để một hạt nhân (hạt giống) có thể thành cây và ra quả, nó phải trải qua bốn bước sau:

- Bước thứ nhất (nghiệp nhân): Có hạt giống. (Nhân tạo tác)

- Bước thứ hai (nghiệp duyên): Hội đủ các duyên gồm; nhân duyên; thứ đệ duyên; sở duyên duyên; đẳng vô gián duyên..v..v...(tạm gọi các bước tác động tích cực)

- Bước thứ ba (nghiệp quả): Nãy mầm và tăng trưởng theo thời gian. (Cây phải phát triển liên tục, không được gián đoạn)

- Bước thứ tư (nghiệp báo): Đơm hoa, kết trái. (Cho ra quả và các tính chất chua ngọt)

Trong bốn bước nhân, duyên, quả, báo của quy trình nêu trên, nếu có một bước nào đó bị gián đoạn (do vô tình hay cố ý), nhất định từ nhân sẽ không thể đến quả !!! Ví dụ:

- Bước thứ nhất: Ta đã có hạt giống (có nghiệp nhân), nhưng ta đem hạt giống ấy bỏ vào bọc nylon cất giữ, không đem gieo trồng, không tạo các duyên để hạt giống nãy mầm, nhất định hạt giống ấy sau một thời gian sẽ bị huỷ hoại vì tính chất vô thường trong chính nó !!!

- Bước thứ hai: Sau khi ta đem hạt giống gieo trồng (tạo nghiệp duyên), nhưng ta không tưới nước bón phân đúng kĩ thuật, mà tạo ra nghịch duyên như đốt bằng lửa, tưới bằng muối...v..v...cái mầm có mọc lên, nhưng rồi cũng sẽ bị huỷ diệt !!!

- Bước thứ ba: Ta gieo trồng, canh tác đúng kĩ thuật, nhưng cho tới ngày ra hoa kết trái (hình thành nghiệp quả), ta không giữ gìn cẩn thận, mặc tình cho con trùng phá hoại, hay bỏ đi thật xa không thu hoạch, trái ấy tuy có mà chẳng thuộc về ta !!!

- Bước thứ tư: Nếu chẳng may, cây đã ra trái cùng các tính chất chua hay ngọt của từng chủng loại...Nhưng với người có trí, sở hữu công nghệ cao...v..v...chuyện biến chua thành ngọt hay ngọt thành chua bây giờ không thành vấn đề !!!

Các bạn !!!

Có thẩm xét quy trình từ nhân đến quả ta mới thấy, muốn từ nhân đến quả hoàn hảo, phải tuân thủ một quy luật nghiêm ngặt... Nếu, các bạn nắm vững các giai đoạn phát triển của (cái cây) nhân quả, việc từ nhân đến quả là “nhân nào sinh quả ấy”; hay “nhân dữ sanh quả lành” hoàn toàn tuỳ thuộc vào sức mạnh trí tuệ cũng như công cụ đang có của các bạn !!! Nhân nào quả ấy đối với ai !!! Nhân quả chẳng đồng đối với ai !!! Chắc chắn các bạn có thể tự trả lời cho bản thân !!!

Về chuyện nhân quả, mình cũng xin góp thêm một vài lời: Kinh dạy, từ nhân đến quả phải được tiếp nối theo một chuỗi tăng trưởng bất biến đó là: Vô thường, bất đoạn, bất di, bất dị, nhân nhỏ quả lớn...Nếu chuỗi này đột biến ở bất kì giai đoạn nào thì, nhân quả nhất định không thể hình thành !!! Ví dụ:

- Bạn đem một hạt giống nào đó gieo xuống đất đúng kĩ thuật, sau hạn kì nhất định, các bạn moi lên mà hạt giống ấy vẫn còn nguyên...Xin thưa, hạt giống ấy không thể thành quả vì nó không thay đổi theo chuỗi quy luật “vô thường” !!!

- Hoặc hạt giống đã hoại nhưng cái mầm ở đó khác với hạt giống ta gieo, cái cây chẳng ăn nhập gì đến hạt giống, hoa quả thì lộn tầm phèo...v.v...chắc chắc ở đây đã có sự dị thường (đột biến) xảy ra, không chịu chuỗi quy luật “bất đoạn”, “bất di”, “bất dị”

- Và cuối cùng, cây ra quả, nhưng cái quả nhỏ hơn hạt giống...Ví như gieo hạt mít mà ra quả bằng...hạt...mè (vừng) !!! Nhân và quả không theo chuỗi quy luật “nhân nhỏ mà quả lớn” thì...thì...thì !!! Các bạn suy nghĩ thế nào !!! Chứ Lý Tứ nhất định hoan hô cái nhân quả kì khôi này !!!

Các bạn !!!

Không riêng Phật pháp, mà trên đời này, giáo dục, luân lí, pháp luật, văn hoá, triết học...v..v...có ra đời, cũng để nhằm cải sửa con người, biến từ nhân u tối thành quả sáng suốt, biến từ nhân hung ác thành quả thiện lương, biến kẻ chẳng theo luật lệ trở thành người tôn trọng pháp luật, biến ngu thành trí, biến phàm thành thánh, biến thánh thành Phật...v..v...Những điều nêu trên, chẳng phải loài người mặc nhiện công nhận nhân quả nhất định phải thay đổi được, trong điều kiện ta có trí tuệ và sở hữu trong tay một công cụ đủ mạnh hay sao !!!???

Tóm lại, “nhân quả phi hữu phi vô”, lời Phật chẳng bao giờ sai...Làm người khi chưa giác ngộ, chẳng có mấy ai trong đời không từng một vài lần phạm lỗi ác, thậm chí cực ác như sát sinh, hại vật, hại người !!! Nhưng nếu, nhân nào nhất định phải là quả ấy thì, có lẽ giờ này thế giới chúng ta đang sống chỉ toàn là...cá, tôm, vịt, gà...v..v...chứ không phải thế giới...con...người !!! Đây là lí do vì sao, kinh A Di Đà tuyên thuyết ở thế giới đó: Cây vàng sanh trái bạc, câu lưu li sanh trái mã nảo, cây mã nảo sanh trái xa cừ..v..v...Thế giới của người trí, nhân quả chẳng đồng !!!

Hãy tự tin lên các bạn !!! Phật pháp xuất hiện trong đời tuyên thuyết nhân quả không phải để hù doạ hay khủng bố người...mà, Phật pháp chỉ ra rằng, nhân quả vốn dĩ vô thường, nó phải chịu chi phối bởi quy luật “sanh, trụ, dị, diệt”...Mà cái gì nằm trong quy luật này, nhất định có thể làm cho nó thay đổi và mất đi bởi hai tính chất “dị và diệt” trong quy luật ấy !!!

“Không có việc gì khó, chỉ sợ ta...không...biết” !!!

- Hôm nay các bạn là phàm phu, tại sao ngày mai các bạn không là thánh !!!???

- Hôm nay các bạn khổ sở, tại sao ngày mai các bạn chẳng được an vui !!!???

- Hôm nay các bạn đang bị vô minh lậu hoặc bủa vây, tại sao ngày mai các bạn không trở thành kẻ trí, thành viên của Cộng Đồng Vô Lậu cùng trí tuệ toả sáng !!!???

- Tất cả đổi thay trên, đều tuỳ thuộc vào các bạn !!!

Chúc mọi người tự tin, tinh tấn và an vui !!!

Câu hỏi thứ hai, sẽ được đăng trong Chuyện Bên Lề (27) !!!

18/09/2019

LÝ TỨ

 

Hỏi Đáp Về Nhân Quả

Hỏi Đáp Về Nhân Quả

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

(09) CHUYÊN MỤC BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.06.2026

Vấn đề ở đây, không phải chuyện cầu người khác giúp đỡ là tốt hay xấu, là nên hay không nên mà, điều chúng ta cần bàn là, cầu tha lực có được toại nguyện hay không ??? 

Các bạn !!!
Thời gian gần đầy, mình nhận được rất nhiều thắc mắc từ bạn đọc, xoay chung quanh đề tài cầu nguyện…Vì nhiều người hỏi các câu hỏi khác nhau nhưng nội dung hầu như giống nhau, nên mình tạm sắp xếp các câu hỏi có cùng một nội dung thành câu hỏi chung để tiện trả lời !!!

Các câu hỏi như sau:
1) Người tu hành khi gặp việc bất như ý không tự giải quyết được, thường hay cầu nguyện, xin hỏi việc cầu nguyện trong trường hợp như thế có đạt được mục đích hay không ???

2) Theo quan điểm Phật giáo, có phải Phật giáo chủ trương có một “thế giới vô hình” hay một “tha lực” nào đó, chuyên ban phước hay giáng hoạ đối với con người hay không ???

Các bạn !!!
Về nội dung hai câu hỏi trên, mình xin nêu lên thấy biết (quan điểm) cá nhân như sau: Vì đây chỉ là quan điểm cá nhân, nên không nhất thiết đúng với mọi người, mà nó chỉ phù hợp với những ai có cùng quan điểm như mình !!!

Có một điều, chúng ta không thể phủ nhận, đó là: Trong thực tế cuộc sống, khi những sự việc bất như ý xảy đến, bản thân con người bất lực, không thể tự giải quyết được sự việc bất như ý đó…Lúc ấy, con người lại nghĩ đến “thế giới vô hình, hay tha lực”, và cầu mong nhờ sự trợ giúp nào đó của thế giới vô hình hay tha lực, để sự việc bất như ý mau chóng trôi qua !!!

Điều đầu tiên, theo quan điểm cá nhân của mình, việc cầu nguyện để nhờ sự trợ giúp nào đó khi bản thân không thể tự vượt qua một số khó khăn, việc làm này không có gì là sai !!! Giống như trên đường đi, gặp con cọp dữ tấn công, một mình không đối phó được, đành phải nhờ người khác cứu giúp, chuyện này chẳng có gì đáng bàn !!!

Vấn đề ở đây, không phải chuyện cầu người khác (tha lực) giúp đỡ là tốt hay xấu, là nên hay không nên mà, điều chúng ta cần bàn là, cầu tha lực có được toại nguyện hay không ??? Cũng như thực chất của tha lực ấy là gì ???

Về hai vấn đề vừa nêu, để có thể giải quyết thoả đáng, theo mình, trước tiên chúng ta cần làm rõ “hoạ hay phước” của một con người từ đâu đến theo quan điểm nhà Phật !!! Sau khi làm rõ được điều này, nhất định chúng ta sẽ hiểu được cái gọi là tha lực hay thế giới vô hình từ đâu ra !!!

Phật dạy: “Hết thảy do tự tâm hiện” !!! Lời dạy này có nghĩa, hoạ hay phước của chúng sanh đều do tự tâm biến hiện !!! Từ lời dạy trên, theo quan điểm cá nhân của mình, con người có mặt trên cõi đời sướng vui hay khổ não, là do nghiệp quả nhiều đời tích tụ từ tâm thức của người ấy tạo ra… Có nghiệp quả đã hiện, có nghiệp quả đang hiện và có nghiệp quả sẽ hiện !!! Nói nôm na, phước hay hoạ của hôm nay, là kết quả từ phước hay hoạ của ngày trước do chính người ấy đã tạo tác !!!

Người đời, trong quá khứ, vô tình hay hữu ý đã tạo ra vô số phước hay hoạ… Giống như một người từ khi sinh ra và lớn lên, sống ở nhiều địa phương khác nhau…Có địa phương, người ấy làm ra tiền đem gởi ngân hàng, nhưng cũng có địa phương, người ấy vay ngân hàng một số nợ nào đó !!! Đáo hạn, dù muốn hay không, lãi và nợ người ấy đều phải quyết toán !!! Việc bất như ý xảy ra trong đời, chính là kết quả của “bản quyết toán nợ nần” từ ngân hàng (tâm thức) gởi đến !!!

Theo quan điểm trên, bây giờ chúng ta thử đưa ra đáp án cho các câu hỏi:

Theo mình, không riêng gì những người theo đạo Phật, mà hầu như mọi người khi gặp chuyện chẳng lành, tự thân không giải quyết được, người ta thường hay cầu nguyện… Mong rằng, nhờ thế lực vô hình nào đó (như Phật Trời chẳng hạn) giúp sự việc qua khỏi… Mong ước (cầu nguyện) là như vậy, nhưng mong ước này có được đến đáp hay không ??? Bây giờ chúng ta thử xem, vì sao đồng là cầu nguyện, nhưng có người cầu được, có người không được !!!

Như những gì đã phân tích ở trên, sự việc bất như ý bỗng dưng xảy ra trong đời, chính là “bản quyết toán từ ngân hàng nghiệp thức” gởi đến cho bạn vào thời điểm “duyên đáo hạn” đã đến !!!

– Trường hợp, trong nhiều đời, bạn đã gởi ở ngân hàng tâm thức nhiều tiền (phước), hôm nay nhận giấy nợ (hoạ) từ một ngân hàng nào đó gởi về, bạn có thể dùng số tiền đã gởi từ những ngân hàng khác để trả nợ theo giấy báo !!! Đây chính là nguyên nhân vì sao khi gặp sự cố bất như ý, có người cầu nguyện thành công !!!

– Trường hợp, trong nhiều đời, bạn đã gởi ở ngân hàng tâm thức quá ít tiền (phước), nhưng số tiền bạn vay (hoạ) lớn hơn (hoặc quá lớn)…Nhất định, khi ngân hàng tâm thức gởi giấy báo đòi nợ, bạn không thể thanh toán món nợ này !!! Đây chính là nguyên nhân vì sao khi gặp sự cố bất như ý, có người cầu nguyện không thành công, thậm chí kết quả ngược lại !!!

Từ những lí giải trên, theo quan điểm cá nhân của mình, cầu nguyện thành công hay không thành công là kết quả của phước hay hoạ mà chính bạn đã gieo ngày trước !!!

– Nếu phước nhiều hoạ ít, cầu nguyện thành công !!!
– Nếu hoạ nhiều phước ít, cầu nguyện sẽ không thành !!!

Như vậy ta có thể nhận ra, không có thế lực vô hình hay một tha lực nào đó giúp bạn khi bạn cầu nguyện !!! Mà cái được gọi là thế lực vô hình hay tha lực đang trợ giúp hoặc chống lại bạn, chính là những biến hiện từ tâm thức của bạn, nó là kết quả của phước hay hoạ mà bạn đã tạo tác trong quá khứ !!!

Vì rằng, thế giới tự nhiên, tự nó không có tính chất trợ giúp hay chống lại một ai…Phật giáo gọi đó là bản chất “không tánh”, tức thế giới tự chẳng có tánh yêu hay ghét, tự thân thế giới chẳng phải hữu hình hay vô hình…Hữu hình hay vô hình cũng chỉ là một pháp (quan niệm) của con người đặt ra, pháp này sở dĩ có hiện là do tâm mê biến hiện !!!

Tóm lại:

1) Người tu hành khi gặp việc bất như ý không tự giải quyết được, thường hay cầu nguyện, xin hỏi việc cầu nguyện trong trường hợp như thế có đạt được mục đích hay không ???

– Xin trả lời:
Việc cầu nguyện đạt được hay không, tuỳ thuộc vào phước hay hoạ mà bạn đã gởi ở “ngân hàng nghiệp thức” trong quá khứ !!! Vì thế, việc cầu nguyện cũng thành, cũng không thành (tuỳ vào phước báu mỗi người) !!!

2) Theo quan điểm Phật giáo, có phải Phật giáo chủ trương có một “thế giới vô hình” hay một “tha lực” nào đó, chuyên ban phước hay giáng hoạ đối với con người hay không ???

– Xin trả lời:
Phật giáo chỉ ra, “hết thảy do tự tâm hiện”…Có nghĩa, cái được gọi là “thế giới vô hình hay tha lực”, chỉ là “tập nhân chiêu cảm với giao báo” từ tâm thức của chính bạn nay đủ duyên hiện ra, chứ chẳng phải có một tha lực nào đó (ngoài tâm thức) yêu người này (nên cầu được) ghét người kia (nên cầu không được) !!!

Các bạn !!!
Phật dạy: “Cuộc đời như một đại dương, không ai khác hơn các ông !!! Hãy tự mình làm hòn đảo, nơi nương tựa cho chính mình !!! Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” !!! (Tương Ưng V, 170)

Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 cũng nêu rõ:
“Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy.

Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sanh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu. Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước. Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì”.

Những lời Phật dạy ở trên, thiết nghĩ cũng đã quá đủ để chúng ta hiểu ra rằng: Không có một thế lực vô hình nào giúp ta hay hại ta !!! Ngoại trừ chỉ có “chính ta giúp ta hay hại ta” mà thôi !!!

Cái được gọi là tha lực hay thế giới vô hình nào đó, chỉ là sự biến hiện từ tâm thức do những tội hay phước chính chúng ta đã gieo tạo trong quá khứ bây giờ là lúc đáo hạn !!! Để giải quyết món nợ đáo hạn, một số người nhờ nhất tâm cầu nguyện mà (phước báo) hiện trở lại !!! Sự hiện trở lại của phước báo, vượt quá thấy biết của hiện nghiệp, nên chúng ta lầm tưởng là “có một thế giới vô hình” nào đó ngoài tâm thức đang trợ giúp ta !!!

Giống như người ngủ mê, chiêm bao thấy có ai đó đến giúp mình trong cơn hoạn nạn, nhờ thế hoạn nạn qua đi !!! Những hình ảnh trong chiêm bao như thế, chỉ do tâm thức biến hiện, thực tế chẳng có ai đến giúp bạn ngoại trừ chính bạn !!!

Các bạn !!!
Trên đời, mình biết có rất nhiều lí giải việc cầu nguyện khác nhau… Các lí giải khác nhau đều bắt nguồn từ những nhãn quan khác nhau và niềm tin khác nhau…Không thể nói rằng, lí giải này là đúng nhất và lí giải kia hoàn toàn sai !!! Vì rằng, bảo đây đúng hay kia sai chẳng lấy gì làm căn cứ !!!

Tuy nhiên, đã là người tu hành trong Phật đạo, chúng ta chỉ nên lấy lời dạy của Phật làm cơ sở cho mọi lí giải…Và, khi chúng ta biết biến lời dạy của Phật thành cơ sở lí luận thì, việc tu tập của chúng ta mới có cơ may đi đúng chánh pháp !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
27/09/2019
LÝ TỨ

Các bạn !!!
Mình cũng vừa phát hiện hai câu hỏi của một vị HĐ có nickname là Lê Ngọc Tới ở Thanh Hoá gởi ngày 13/09/2019, và bạn QuangTang (không địa chỉ) gởi ngày 20/09/2019…Nhưng lại lẫn trong các câu hỏi của tháng 8 nên chưa trả lời kịp… Tuần sau, mình sẽ trả lời câu hỏi của hai bạn nêu trên !!! Xin cáo lỗi cùng hai bạn !!!

1) Câu hỏi của Lê Ngọc Tới:
“Trong vô đối môn có nói đến bốn lần giác ngộ vậy xin hỏi ?
Lần giác ngộ thứ mấy thì có thể quan sát được ngũ uẩn sanh lên và diệt đi ?
Mong được câu trả lời của ngài LÝ TỨ !”
Lê ngọc Tới . Thanh Hóa 13/09/2019 2:45:40

2) Câu hỏi của QuangTang:
“Chào Thầy !!!!
Con tên QuangTang con có câu hỏi này xin T vui lòng trả lời giúp con,con rất thích tu thiền nhưng thật chất c ko biết gì phật pháp, kinh điển c chỉ xem trên YouTube cách dạy ngồi thiền và c củng thực tập dc lâu rồi kh 2 năm, nay c có thể ngồi kh 2 tiếng vào mổi buổi sáng nhưng tâm c vẩn chưa định dc, vậy c phải làm gì để tâm dc định? C nghỉ khi mình làm gì thì phải có mục đích, còn ko có mục đích thì ko thể tiến xa hơn, vậy thì T có thể Cho c biết, c nên ngồi thiền để làm gỉ? và mục đích là gì? con cảm ơn Thầy…..”
Quang Tang 20/09/2019 9:56:42

BQT rất mong nhận được nhiều câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Cầu Nguyện Được Hay Không Được?

Cầu Nguyện Được Hay Không Được?

Cầu Nguyện Được Hay Không Được?

Bài viết Lý Tứ

2. TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ 2018 KỲ 2 (TCTT 2018.02)

MB 857 Lý Diệu Sinh 14.11.2019

2. TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ 2018 KỲ 2 (TCTT 2018.02)

Các bạn!!!

Buổi sinh hoạt vừa rồi, mình có đưa ra một ví dụ như sau:

Vị tu hành chưa giác ngộ, còn ở trong rừng rậm ba cõi, giống như một người bị lạc giữa rừng sâu... Để có thể tồn tại và thoát ra khỏi sự vây hãm đầy hiểm nguy của khu rừng này... Vị chúng sinh đó phải được trang bị những kiến thức tốt nhất và được huấn luyện thuần thục về kỹ năng MƯU SINH THOÁT HIỂM...

• Có kiến thức mưu sinh: Sẽ biết thức ăn nào có độc thức ăn nào không độc... Nơi nào có thú dữ, hiểm nguy nơi nào an toàn...vv...Kiến thức này sẽ giúp tồn tại trong thời gian còn kẹt nơi rừng rậm...

• Có kỹ năng thoát hiểm: Trong u tối mênh mông của khu rừng kia... Người này có thể xác định được điểm đứng, biết rõ phương hướng, tìm đúng con đường đưa bản thân ra khỏi rừng rậm này...

Thiếu hai thứ nói trên (kiến thức mưu sinh và kỹ năng thoát hiểm), cho dù vị chúng sinh đó có nỗ lực bao nhiêu và bằng những cách thức không chuyên nghiệp, hay tự phát... Chuyện người này ra khỏi khu rừng rậm là điều không thể!!!”

Phật đạo, hay nói khác hơn giáo pháp của chư Phật đã để lại, trong chừng mực nào đó, bao gồm những bài giảng chuẩn mực về mưu sinh thoát hiểm... Những bài giảng này có mục đích giúp chúng sinh bình yên thoát ra khỏi rừng rậm ba cõi (hoặc nhà lửa ba cõi, hoặc đêm dài vô minh…)...

Người tu hành trong Phật đạo, mà không biết hoặc chưa được trang bị những kiến thức cũng như các kỹ năng nói trên, sẽ vĩnh viễn “làm công dân ưu tú của ba cõi khổ” là chuyện tất nhiên!!!

Để thấm nhuần kỹ năng MƯU SINH THOÁT HIỂM của Phật đạo... Mình có vài câu hỏi, xin gởi đến các bạn trong TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ 2018 kỳ 2.

2.1. Câu hỏi TCTT 2018.02

1) Đối với Phật đạo, kiến thức mưu sinh gồm những hiểu biết (pháp) nào??? Hãy nêu ba (3) pháp tiêu biểu dùng vào việc mưu sinh và giải thích những nét đặc thù trong việc mưu sinh của các kiến thức này???

2) Đối với Phật đạo, kỹ năng thoát hiểm gồm những pháp (kỹ năng) nào??? Hãy nêu ba (3) kỹ năng cơ bản và trình bày cách ứng dụng???

Rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ các bạn...

LÝ TỨ (2018-01-17)

● TCTT 2018.02 ─ NHẬN XÉT VÀ GỢI Ý THÊM

Các bạn!!!

Từ lúc gởi câu hỏi đến nay (sau 24 giờ), mình chỉ nhận được duy nhất trả lời của Sư Đệ Giác Minh... Rất tiếc, trả lời của vị SĐ này đã không đáp ứng yêu cầu hai câu hỏi đặt ra, và mình đã có email phản hồi!!!

Sáng nay, đọc lại câu hỏi nhiều lần, nhằm tìm xem những điều được hỏi có vượt quá khả năng của các bạn hay không... Theo mình thì, những điều đã hỏi không có gì là mới, các kiến thức này đã được trang bị kỹ lưỡng cho các bạn và được lặp đi lặp lại nhiều lần... Vì thế, nó không nằm ngoài khả năng của các bạn!!!

Vấn đề ở chỗ, muốn trả lời thoả đáng hai câu hỏi, người trả lời phải thoả mãn các điều kiện sau:

-Nắm vững giáo pháp...

-Hiểu rõ các nhóm pháp (tụ pháp): Đâu là nhóm hộ trì, nhóm trưởng dưỡng, nhóm đối trị, nhóm tăng ích.. v.v... và ..v.v...

- Biết vận dụng kiến thức vào những tình huống bất ngờ...

-Khả năng tư duy sắc bén...

-Năng lực phân tích một vấn đề khoa học và hợp lý...

Nói chung, đã gọi là TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ, chắc chắn trong mỗi câu hỏi phải mang đủ nội hàm của trí tuệ, nó cần vượt ra khỏi cách hỏi đáp thông thường có tính giáo khoa mà ta thường gặp... Muốn làm được điều này, phải biết thoát khỏi những tư duy cứng nhắc theo kiểu lối mòn rằng: Điều này đã được nghe nói rồi...

Các bạn!!!

Trí tuệ là sự vượt thoát, sự bùng vỡ ngay tức thì từ những mảnh ghép (giáo khoa) đã cũ...

Trí tuệ của Phật đạo, không giống như muốn biết 2+2 bằng mấy, đứa trẻ chỉ cần lấy hai cái que rồi lấy thêm hai cái que nữa, vị chi là bốn cái que... Mà, nó đòi hỏi người trả lời phải gồm đủ năng lực lý luận, phân tích và phản biện!!!

Trong lúc viết email này, mình nghĩ đến chuyện Cristoforo Colombo và quả trứng[Trích chuyện ẩn dụ (Anh Lạc Luận I (2010-2016)) ]... Một vấn đề trước mắt thật dễ và cũng rất khó!!!

Các bạn!!! Hãy tạo ra một vụ nổ Big Bang tâm thức qua những dữ kiện trước mắt, và hãy xâm nhập con đường trí tuệ ngay từ lúc này!!!

Rất mong, nhận được những trả lời lý thú từ các bạn!!!

LÝ TỨ (2018-01-18)

Các bạn!!!

Hôm nay, mình có gặp một số HĐ để tìm hiểu về hai câu hỏi vừa rồi... Hầu hết, mọi người đều đánh giá đây là hai câu hỏi khó... Thậm chí, có HĐ cho biết, bản thân đã nghiền ngẫm hai ngày nay mà cũng chưa tìm ra chiêu thức hoá giải hợp lý!!! Và, mọi người cũng tỏ ra thích thú với hai câu hỏi kỳ này, nó kích thích tư duy, buộc phải tìm ra giải pháp đúng nhất... Theo mình, đây là dấu hiệu của sự ham thích trí tuệ trong HĐ chúng ta, một tín hiệu vui, xứng đáng với danh xưng Phật tử!!!

Trong ngày, mình cũng nhận được trả lời của Vô Tướng và của Nhạn... Đây là hai khuôn mặt không lạ gì trong Trò Chơi Trí Tuệ... Từ trước đến nay, cả Vô Tướng và Nhạn là những người trả lời đúng và sớm nhất... Nhưng lần này thì!!!

- Trả lời của HĐ Vô Tướng: Về mặt lý luận, hướng tư duy cả hai câu có vẻ đúng... Nhưng khi nêu lên các pháp tiêu biểu thì “trật lất”!!! Ha ha ha ha!!! Có lẽ, vị HĐ này đã bị cuốn vào dòng tư duy và mãi mê lý luận nên xa rời giáo pháp căn bản... Rất mong HĐ Vô Tướng điều chỉnh để có câu trả lời hợp lý!!!!

- Trả lời của Nhạn: Đúng được một phần câu hỏi số 2 về ba pháp thuộc kỹ năng... Phần còn lại, cũng giống như HĐ Vô Tướng, tư duy dàn trải... Nếu, Nhạn nhắm thẳng trọng tâm câu hỏi để lý luận thì có lẽ hay hơn!!!

Vô Tướng và Nhạn chú ý: Lý luận càng cô đọng càng tốt!!!

Các bạn!!!

Dù lý luận gì thì lý luận, không được xa rời giáo pháp căn bản... Nếu chúng ta chỉ chăm chú vào lý luận, mà không lấy giáo pháp căn bản làm tư tưởng chủ đạo thì, mọi thứ lý luận đều không giải quyết tận gốc vấn đề...

Vài dòng gợi ý, rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ các bạn...

LÝ TỨ (2018-01-19)

Các bạn!!!

Trong đêm, mình nhận được trả lời của Tuấn (Phú Hoà) và Bé Năm (đồng tác giả), của SĐ Giác Minh, của Cảnh (Th. Nốt)... Và mới nhận thêm trả lời của Anh Bình (T.Nguyên)...

Nghe SĐ Giác Minh than một câu mà đứt... cái... duột: “Thầy ơi! Con không ngủ được, vì nhắm mắt lại câu hỏi lại chạy trong suy nghĩ con...”

Ha ha ha ha!!! Chuyến này Lão Lý cho các vị uống Tam Thi Não Thần Đan...

Thần đan này có công dụng phế bỏ não bộ ù lì để biến thành Trí Tuệ Siêu Việt!!!

Mình nhớ ngày xưa, không phải chỉ mất ngủ một đêm, mà có khi ròng rã ba bốn năm trời Lý Tứ mất ngủ chỉ vì chưa giải quyết được một câu kinh!!! Kể ra cái dụ này cho các bạn ớn lạnh chơi, mới mất ngủ một đêm mà nhằm nhò gì!!! Không tin thì tìm Thế Tôn mà hỏi cho chắc ăn!!!

- Tuấn và Bé Năm rất xuất sắc khi trả lời đúng và dứt khoát câu số hai (kỹ năng thoát hiểm)... Câu một chưa đạt yêu cầu về giáo pháp, mặc dù hướng tư duy tốt... Xin tán thán hai vị HĐ này!!!

- SĐ Giác Minh đã uống lộn thuốc, khi lấy kiến thức mưu sinh làm kỹ năng thoát hiểm... Có nghĩa chỉ lòng vòng tìm đường sống mà nghĩ rằng có thể chạy ra khỏi núi rừng!!! Thôi cũng tạm được, trước mắt cứ sống cái đã, từ từ tính chuyện đi ra!!!

- Cảnh lý luận đến mấy trang giấy, liệt kê một lô thuốc, toàn là thuốc bổ hảo hạng... Với tâm trạng, thuốc này không hết bịnh thì thứ khác vậy!!! Ha ha ha ha!!! Uống thuốc kiểu này, cái thân nó béo, chắc bọn cọp của ba cõi...không...chê!!!

- Anh Bình, câu trả lời vừa có lý vừa không... Ha ha ha ha!!! Cần bám chặt giáo pháp căn bản!!!

Sau khi đọc trả lời của các bạn, mình lại nhớ một mẩu chuyện nhỏ trong Anh Hùng Xạ Điêu mà mình đã đọc hồi còn học lớp 9 cách đây chừng 50 năm... Mẩu chuyện vắn tắt thế này (đã được cải biên):

Sau khi Quách Tỉnh cõng Hoàng Dung đang bị trọng thương trốn khỏi núi Thiết Chưởng của Thiết Chưởng Bang do Thiết Chưởng Thuỷ Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhậm làm Bang chủ...

Hoàng Dung [một cô gái đẹp và thông minh như Thất Muội trong Tâm Pháp] khi tỉnh dậy biết cả hai [Quách Tỉnh và Hoàng Dung] đang đi ngang qua Dạ Trạch Đầm, đây là khu đầm lầy cũng là nơi ở của bà Thần Toán Tử Anh Cô[Tục danh Lưu Anh): Một quý phi tự phụ về năng lực toán học và dịch số Bát Quái, đã sáng chế ra độc môn Thất Tuyệt Châm. ]... Biết bà ta đam mê dịch lý và số học, Hoàng Dung bèn đưa ra một bài toán, nhằm hướng bà Anh Cô vào chuyện giải toán hơn là bị chết nơi rừng rậm ba cõi...

Đề toán như sau: “Trong Toán kinh có tất cả mười chín nguyên, Nhân thì có Tiên, Minh, Tiêu, Hán, Lũy, Tằng, Cao, Thượng, Thiên, dưới Nhân thì có Địa, Hạ, Đê, Giảm, Lạc, Thệ, Tuyền, Ám, Quỷ... Nếu bà tính được cả mười chín nguyên thì mới đáng với danh là Thần Toán Tử”...

Nhờ kế mọn này, Quách Tỉnh và Hoàng Dung ung dung ra khỏi...ba...cõi...khổ!!! Và trong đêm ấy, Thần Toán Tử Anh Cô từ một thiếu phụ đầu xanh, sáng ra cái đầu bị bạc trắng như thúng bông gòn vì tư duy bài toán... Ha ha ha ha!!!

Một đêm nỗ lực như thế vì trí tuệ, không tiếc cái đầu xanh, điều này cũng đáng để suy gẫm!!!

Rất mong, nhận được những kiến giải lý thú từ các bạn...

LÝ TỨ (2018-01-19)

2.2. Gợi ý trả lời câu hỏi TCTT 2018.02

NGƯ TIỀU VẤN ĐÁP

Hỏi: Một người bị lạc trong rừng sâu, toàn độc trùng thú dữ, cây trái ăn vào tử nhiều hơn sanh, nguồn nước ô nhiễm nặng đến lông gà còn phải chìm... Xin hỏi, một người với đời sống thiện lương, chí tâm tu hành, có thể tồn tại giữa khu rừng quái ác này không ???

Trả lời: Bị lạc trong khu rừng quái ác như vậy... Kẻ thiện người ác, người thiểu dục kẻ đa dục, người xuất gia kẻ tại tục, người hiền lương kẻ gian ác, người giàu kẻ nghèo, người mạnh khoẻ kẻ ốm yếu, người cầu Phật, kẻ cầu Chúa, người ăn chay kẻ ăn mặn, đạo Ta đạo Tây...vv... Đều chết ráo nạo !!! Tất cả đều phải chết, chết sạch sành sanh, chết không chừa một mống, chỉ có thời gian, chết sớm hay muộn khác nhau mà thôi !!!

Hỏi: Như vậy, muốn tồn tại tạm thời trong khu rừng quái ác, chờ ngày thoát ra... Hạng người nào mới có thể làm được điều này ???

Trả lời: Muốn tồn tại tạm thời trong khu rừng đó, chờ ngày thoát ra, chỉ có những người được trang bị đầy đủ kiến thức về mưu sinh và thực hành nhuần nhuyễn kỹ năng thoát hiểm... Cơ may, hạng này có thể thoát ra khỏi khu rừng kia đến chín phần, trừ người quá xui xẻo “ra ngõ gặp đàn bà” thì mới bỏ thây !!!

Hỏi: Kiến thức mưu sinh, kỹ năng thoát hiểm tác dụng của nó như thế nào ???

Trả lời: Kiến thức mưu sinh dùng vào việc tạm thời tồn tại... Kỹ năng thoát hiểm dùng vào việc tìm ra con đường tốt nhất để mau chóng rời khỏi khu rừng !!!

Hỏi: Chúng sanh trong đời, giống như người lạc giữa rừng mê ba cõi, với đầy đủ hiểm nguy của lậu hoặc, tâm thức bị nhiễm ô nặng nề... Xin hỏi, Phật đạo có dạy cho người kiến thức mưu sinh và kỹ năng thoát hiểm để tạm thời tồn tại, rồi sau đó tìm đường thoát ra khỏi rừng rậm u mê ba cõi hay không ???

Trả lời: Có !!! Có đầy đủ, cả kiến thức mưu sinh và kỹ năng thoát hiểm... Người không biết những kiến thức này, ngồi đó mà dụng công, dụng công bằng cách nào đi nữa mà thiếu hiểu biết, trước sau cũng chết, chết vì U Mê Lâm... Những kẻ như vậy, còn lâu mới có thể thoát ra khỏi Hư Vọng Lâm, Kiến Trù Lâm, Tam Độc Lâm để đến được Chơn Minh Địa !!!

Vì thế người xưa mới nói một câu lãng xẹt, nhưng ngẫm lại cũng có chút lý lẽ của nó, câu đó là: “Chay cũng chết, mặn cũng chết, chỉ kẻ có trí là... không...chết !!!” Ha ha ha ha !!! Phật đạo được gọi là Đạo Trí Tuệ cũng tại bởi cái lý do...lãng...xẹt...này !!!

Hỏi: Xin cho biết, kiến thức mưu sinh, giúp tạm thời tồn tại trong ba cõi, gồm những hiểu biết chủ yếu nào???

Trả lời: “Ba cõi duy tâm”... Trí tuệ bị trúng độc là do: Sáu căn ăn bậy ăn bạ, ăn không chừa không đẽo... Ăn tạp riết, tâm bị nhiễm ô rồi chết queo... Đạo tâm, chơn tâm gì gì đó chết theo là do nhiễm phải những quan niệm đảo điên của thế gian, lâu ngày hình thành ung bứu sáu thức...

Giống như người uống rượu thường xuyên, uống bằng cái miệng mà cái gan bị cổ trướng... Quýt làm cam chịu, nhân quả ba cõi bị loạn thị, nên anh này uống mà anh kia hưởng !!!

Muốn tồn tại tạm thời ở ba cõi hung dữ hữu lậu này, Phật đạo đề ra Tam Vô Lậu Học còn gọi là ba học pháp Vô Lậu...

Đây là phép đối trị, đau đâu chữa đó... Muốn không chết vì độc phải biết khử độc... Muốn không tan xác vì hữu lậu, phải dùng phép Vô Lậu để trấn ếm...Tam Vô Lậu là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú năng trừ độc tố hữu lậu, chơn thiệt bất hư !!! Trì thứ chú này, độ nhất thế khổ ách trong rừng rậm ba cõi...

Giống như người vào rừng sâu tìm trầm, để khỏi bị sơn lâm chướng khí làm hại, người đó miệng ngậm cục ngải... Người xưa gọi là “ngậm ngải tìm trầm”, không ngậm thứ này mà “ngậm tầm bậy tầm bạ” ở nơi rừng thiêng nước độc mà không...banh...xác mới là chuyện...loạ... !!!

Tam Vô Lậu Học gồm:

- Giới vô lậu: Sáu căn không ăn tạp... Sáu trần được giải độc... Sáu thức êm ru bà rù !!!

- Định vô lậu: Thú dữ độc trùng, sơn lam chướng khí, hữu lậu nhiễm ô, Ma Ba Tuần gặp thứ định này, trên trán hiện ba nếp nhăn, rụt đầu thè lưỡi, lắc đầu buồn bã, ngao ngán bỏ đi !!!

- Tuệ vô lậu: Tuy đang ở trong rừng u mê tối tăm, nhưng do có giới và định vô lậu, nên tâm trí sáng suốt như kính viễn vọng không gian Húp Bồ,[10] quan sát rõ mọi thứ chung quanh... Từ đó, ứng dụng kỹ năng thoát hiểm để về nhà với...vợ... con mà không mất một...sợi...lông !!!

Đại khái, Tam Vô Lậu Học của Phật đạo là loại Vô Đối Ngải, nó là hàng quý hiếm, đầy đủ tính năng ba trong một theo lý thuyết: “Cái này có nên cái kia có...”.

Người tu hành, ngậm thứ này trong miệng khi lạc vào rừng rậm u mê ba cõi thì “vạn tà bất xâm”... Ăn trái độc như uống sữa Ensure, bị độc trùng cắn như gãi đúng chỗ ngứa, hít phải sơn lâm chướng khí như con nít thổi bóng cười, gặp cọp dữ rắn độc như trúng số độc đắc Vietlott... Nói chung, đây là loại “bất khả tư nghì ngải” !!! Ha ha ha ha !!!

Hỏi: Mưu sinh giữa ba cõi, Tam Vô Lậu Học là số zách... Còn kỹ năng thoát hiểm thì Phật đạo dạy những kỹ năng gì ???

Trả lời: “Thiên cơ bất khả lậu”... Cái này mà nghe xong, sẽ giảm kỷ[11] chớ chẳng phải chuyện chơi !!!

Hỏi: Trong trường hợp nào thiên cơ này mới có thể...khả...lậu ???

Trả lời: Chỉ có những người đã được ơn trên làm phép “Đoạn Mê Khai Giác”, chừng ấy nghe rồi chẳng những không giảm kỷ mà còn sống dai nhách, sống ‘dai như đỉa’ chứ không vừa... Ngoài ra, không có trường hợp ngoại lệ !!!

Hỏi: Xin thưa có thể vị tình riêng, mà tiết lộ một chút thiên cơ được chăng ???

Trả lời: Được !!! Dư sức được !!! Nếu không ‘ớn chè đậu’ cái vụ giảm kỷ ???

Hỏi: Thề quyết không ớn !!! Đội bóng ta mà đã không ớn Syria thì chẳng còn ớn thằng nào con nào nữa... Vs[12] ráo trọi !!!

Trả lời: Như vậy, hãy nghe đây, không hối hận chớ !!!??? Người lạc trong rừng sâu, nếu không bỏ mạng, thì phải tức tốc lóp ngóp bò dậy tìm đường thoát ra khỏi cái chốn khỉ ho cò gáy này... Có ba nguyên tắc khi đứng dậy và bước đi:

- Nguyên tắc một: Xác định điểm đứng... Nếu có smartphone thì bật định vị toàn cầu GPS... Nếu có bản đồ quân sự thì sử dụng phép chiếu GAUSS hay UTM để xác định toạ độ... Ha ha ha ha !!! Mà ba cõi chưa có bản đồ, nên mấy thứ này miễn bàn... Trong trường hợp này, hãy dùng Tam Muội Môn thứ nhất để xác định điểm đứng và phương giác di chuyển kế tiếp, gọi là TAM MUỘI CÓ GIÁC CÓ QUÁN... Giác là tìm điểm đứng, quán là tìm hướng di chuyển !!!

- Nguyên tắc thứ hai: Sau khi có được điểm đứng, và có được phương giác di chuyển... Người này cứ một lèo đi tới... Ví dụ: Đi thẳng phương giác 2800... Về trái phương giác 1200... Đi cho lẹ, đi bằng chân cứng đá mềm, đi không do dự... Kỹ năng này, Phật đạo gọi là TAM MUỘI KHÔNG GIÁC CÓ QUÁN... Đây là kỹ năng thứ hai, giúp người ra khỏi ba cõi khổ một cách chắc cú !!!

- Nguyên tắc thứ ba: Khi nào thấy phương Đông có dấu hiệu mặt trời mọc, biết rằng sắp ra khỏi U Mê Lâm, phía trước là Chơn Minh Địa... Cứ nhắm mắt nhắm mũi, cắm đầu cắm cổ chạy riết về phía ấy mà không cần nghĩ ngợi gì... Khi nào hỷ lạc sung mãn nhất, mở mắt ra, gặp Thế Tôn đang chờ ở đấy !!! Chiêu này, Phật đạo gọi là TAM MUỘI KHÔNG GIÁC KHÔNG QUÁN !!! Hiểu chưa ???

Tóm lại, ba Tam Muội Môn nói trên, là ba kỹ năng toàn bích... Người sở hữu ba kỹ năng này, bất luận ở đâu trong ba cõi, đều có thể tự mình nhắm mắt hô biến, mở mắt ra Nát Bàn hiện tiền.... Ngoài chiêu này, sẽ không thể có một chiêu nào nữa đem ra ứng dụng mà có được may mắn là, ngay trong tức thì có thể về chầu Phật Tổ !!!

Hỏi: Thưa, đã hiểu !!! Nhưng còn một thắc mắc !!!

Trả lời: Thắc mắc gì ???

Hỏi: Vì sao nhắm mắt nhắm mũi, cắm đầu cắm cổ chạy riết... Mà không mở mắt ngẫng cao đầu... để... chạy, như mấy năm trước ta Vs ở giải Đông Nam Á ???

Trả lời: Ba cõi như tiên cảnh, mở mắt ra sẽ không nở từ bỏ nó để đến Nát Bàn (bàn cho nát bét)... Vì thế, chớ nên mở mắt !!! Lại nữa, ba cõi có mùi nước mắm Phú Quốc, phải bịt cái lỗ mũi lại mà chạy... Chớ có ngửi, ngửi nó sẽ làm say đắm...lòng...người, chừng ấy thánh cũng thành phàm !!! Chớ có dại !!!

Hỏi: Còn gì nữa không ??? Trả lời: Chấm hết !!!

CHÚ THÍCH:

[10] Húp Bồ: (Hubble)

[11] giảm kỷ: Giảm thọ

[12] Vs: Tiếng La Tinh, viết tắt của chữ Versus, có nghĩa đối kháng, đối lập,... trong thể thao !!!

LÝ TỨ (2018-01-19)

Sinh Hoạt Lý Gia

(07) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA CHỦ ĐỀ: LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT HẢI TRÌNH !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.06.2026

(07) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

CHỦ ĐỀ: LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT HẢI TRÌNH !!!

Các bạn !!!

Sân chơi trực tuyến Lý Gia có chủ đề lập kế hoạch cho một hải trình, được HĐ Lý Gia phát động vào trung tuần tháng 09 năm 2020 trong kì Trò Chơi Trí Tuệ - 08/2020... Dự kiến chủ đề này sẽ được HĐ Lý Gia thảo luận mỗi tuần 2 lần và sẽ chấm dứt vào khoảng cuối năm 2020 !!!

Mục đích của đợt thảo luận dài ngày này, nhằm giúp tất cả HĐ Lý Gia nắm vững các bước giúp một người tu hành trong Phật đạo có thể tiến tu từ sơ cơ đến chấm dứt hoàn toàn lậu hoặc, thành tựu đạo quả vô lậu !!!

Đối với đạo xuất thế, các đạo quả vô lậu cực kì quan trọng, nó giúp người tu hành chấm dứt tám món khổ của khổ đế, sau đó tịch diệt phiền não, kiết sử và lậu hoặc của tập đế... Để cuối cùng, người này nắm được vận hội trực nhận ra bổn tâm và bổn tánh chứng diệt đế !!! Giống như một người với đôi mắt không còn mù loà (khổ, phiền não), ngước mặt nhìn bầu trời xanh không một áng mây (lậu hoặc), có thể nhìn thấy những gì đang hiện hữu trên bầu trời (diệt đế) ấy !!!

Phật đạo chính thống là một nền giáo dục !!! Nền giáo dục ấy có những mục tiêu cụ thể của mình và những ai học tập trong một nền giáo dục như vậy, nhất định phải từng bước đạt được các mục tiêu của giáo dục đề ra !!! Hết khổ, dứt tập và chứng diệt là ba mục tiêu quan trọng, mà bất kì người một người tu hành nào trong Phật đạo muốn có được những thành quả cao hơn của đạo pháp đều bắt buộc phải vượt qua ba mục tiêu nêu trên !!!

Chính tầm mức quan trọng của đạo lộ vô lậu (hết khổ, dứt tập)... BQT Lý Gia hy vọng sau đợt thảo luận dài hơi trong các buổi sinh hoạt trực tuyến có chủ đề LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT HẢI TRÌNH sẽ là nền móng vững chắc để mỗi HĐ Lý Gia có thể tự mình và sau đó giúp người xây nên những toà tháp cao nhất của Phật đạo !!!

Sân chơi trực tuyến Lý Gia kì vừa rồi là buổi thảo luận thứ hai do SM Lý Diệu Âm làm chủ toạ, sau kì đầu tiên đã được SH Lý Thái Đăng đảm nhận tốt phần việc của mình !!!

Trong buổi sinh hoạt vừa qua, một số thắc mắc đã được HĐ nêu lên... Mình xin lược ghi lại các thắc mắc ấy, để giúp mọi người tham khảo !!!

Hỏi: Một người không giác ngộ, có thể dùng một pháp bất kì nào đó tu tập để giúp tự thân vượt ra khỏi ba cõi hay không ???

Trả lời: Từ ngàn xưa, con người (nhất là những ngoại đạo) đã dùng tất cả mọi khả năng có được để tu hành nhằm vượt ra khỏi ba cõi (đến với đạo xuất thế)...nhưng tất cả đều thất bại !!! Thành tựu cao nhất mà một con người nỗ lực vươn tới đó là thiền quả Phi tưởng phi phi tưởng xứ định (trong định không tưởng, xuất định tưởng lại sinh) !!! Vì thế, nếu không giác ngộ như pháp, việc dụng công để ra khỏi ba cõi là điều không thể !!!

Hỏi: Vì sao một người nỗ lực dụng công, không thể vượt ra khỏi ba cõi để đến với đạo xuất thế ???

Trả lời: Giống như một người ngồi trong thau, không thể tự nhắc cái thau lên khỏi mặt đất !!! Một người tự nắm tóc của mình không thể nâng cơ thể lên !!! “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” tâm và thức chính là cái nôi làm nên một hữu tình, hữu tình bằng hiểu biết của tâm và thức không thể tự thoát ra khỏi cái nôi này !!!

Hỏi: Một người không giác ngộ, tự dụng công tu hành để vượt qua một số cõi của ba cõi... Thành tựu của người này có tương ưng với một số đạo quả nào đó của đạo xuất thế hay không ???

Trả lời: Người không giác ngộ, dụng công tu hành nếu tự thân vượt qua một số cõi nào đó của ba cõi...Người này chỉ có thể thành tựu các quả vị của “thiền đạo” chứ không thể thành tựu các quả vị của “xuất thế đạo” !!!

Hỏi: Khác biệt cơ bản giữa các đạo quả của “thiền đạo” và đạo quả của “xuất thế gian đạo” ???

Trả lời: Đạo quả của thiền đạo thuộc thế gian đạo, đạo quả của xuất thế gian đạo thuộc đạo quả của đạo xuất thế !!! Đạo quả của thiền đạo do dụng công tu hành mà thành tựu, đạo quả xuất thế gian đạo do giác ngộ mà thành tựu !!! Đạo quả của thiền đạo thuộc hữu vi (ba cõi), đạo quả của xuất thế gian đạo thuộc vô vi (không còn trong ba cõi) !!!

Hỏi: Một người giác ngộ, thành tựu các đạo quả xuất thế có được các đạo quả của thiền đạo hay không ???

Trả lời: Một người do giác ngộ mà thành tựu các đạo quả xuất thế, mặc nhiên người này cũng thành tựu các đạo quả của thiền đạo !!! Ngược lại, người thành tựu đạo quả của thiền đạo không thể thành tựu đạo quả xuất thế... Người thành tựu các đạo quả thiền đạo muốn có đạo quả xuất thế phải giác ngộ !!! Giống như ở đâu có mặt trời (xuất thế vị) ở đó có ánh sáng (thiền vị)... Nhưng, không phải ở đâu có ánh sáng (của thiền vị) ở đó cũng có mặt trời (xuất thế vị) !!!

Hỏi: Người tu hành sau khi sơ ngộ chấm dứt lậu hoặc (hết khổ, dứt tập)... Muốn thành tựu diệt đế, người này phải làm gì ???

Trả lời: Sau khi sơ ngộ: Khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc của người ấy tự động muội lược cho đến tịch diệt vĩnh viễn do thế lực của giác ngộ... Người này muốn chứng diệt đế, bước tiếp theo là phải giác ngộ một lần nữa để “minh tâm kiến tánh” !!! Hoặc dùng huệ lực, xuyên thấu bản chất của tâm và pháp thông qua con đường của Thất giác chi !!! Đây là lí do vì sao Tứ đế còn gọi là Nhị đế, tức khổ và tập đế thuộc thế đế...Diệt và đạo đế thuộc xuất thế gian đế !!! Từ đạo quả thế đế (hữu vi) muốn tiến về xuất thế đế (vô vi) phải trải qua một lần giác ngộ nữa !!!

Hỏi: Độn A La Hán và A La Hán khác nhau ở điểm nào ???

Trả lời: Độn A La Hán là quả vị do tu hành sanh, người này sau khi chứng các thiền quả, được Phật dạy thêm định thứ chín là Diệt thọ tưởng định... Độn A La Hán chứng Niết bàn ở Vô tưởng thiên !!! A La Hán (chánh thống) là quả vị của nhị thừa do giác ngộ như pháp (như lí tác ý) mà thành tựu đạo quả xuất thế, đạo quả này tương đương Diệt tận định của Diệt đế (vô vi) !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

07/10/2020

LÝ TỨ

- HÌNH ẢNH CỦA HOẠ SĨ (TỊNH), NGƯỜI VẼ CÁC BỨC TRANH TẠI LÝ SỰ ĐƯỜNG !!!

Sinh Hoạt Lý Gia

SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA Chủ đề: KHÁI QUÁT VỀ 37 PHẨM TRỢ ĐẠO !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.06.2026

Các bạn !!!

Để tiếp tục đề tài Giáo Pháp Căn Bản đối với các HĐ mới !!! Trong kì sinh hoạt này, chúng ta sẽ trao đổi với nhau hai đề tài được coi là cốt lõi của Phật đạo, đó là Tứ Đế và Ba Mươi Bảy Phẩm !!!

BQT xin giới thiệu bài viết KHÁI QUÁT VỀ 37 PHẨM TRỢ ĐẠO !!! Các bạn có thể tham khảo trước khi chúng ta trao đổi chính thức !!!

I- GIỚI THIỆU 37 PHẨM

Ba mươi bảy phẩm trợ đạo được ví như 37 chủ đề học tập trong Phật đạo... 37 phẩm được trải dài trong quá trình học tập từ sơ tu đến quả chứng, ta quen gọi là Tứ Diệu Đế... Tứ Diệu Đế gồm bốn cấp học, đó là: Cấp khổ đế (dứt tám món khổ nhân sinh); Cấp tập đế (dứt kiết sử, phiền não, lậu hoặc); Cấp diệt đế (thấy bổn tâm bổn tánh chứng chân Niết Bàn) và Cấp đạo đế (thành tựu vô lậu trí) !!! Trong mỗi cấp học, có một số chủ đề trọng tâm, khi người học hoàn thành một số chủ đề trọng tâm nào đó, một số quả vị tương đương sẽ xuất hiện...!!!

Ví dụ: Ở cấp khổ đế, người học cần hoàn thành 12 chủ đề trọng tâm, đó là tứ niệm xứ, tứ chánh cần và tứ như ý túc... Khi hoàn thành 12 chủ đề này, sẽ thành tựu sơ ngộ và đặt một chân vào đạo quả xuất thế...Từ đây, tám món khổ nhân sinh (gồm sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt li, cầu bấc đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thịnh khổ) giảm thiểu đến mức thấp nhất cho đến tịch diệt hẳn...!!!

II- NHỮNG CHỦ ĐỀ TRỌNG TÂM CỦA 37 PHẨM

37 phẩm trợ đạo gồm có các phẩm sau:

- Tứ niệm xứ: Thân niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ... (Niệm: Nhớ nghĩ... Xứ: Nơi chốn) muốn giác ngộ, người tu hành chỉ được phép nhớ nghĩ bốn điều trên...!!!

- Tứ chánh cần: Bốn việc chân chánh cần phải thực hiện gồm: Việc ác chưa sanh, không cho sanh khởi... Việc ác đã sanh, mau chóng tịch diệt... Việc thiện chưa sanh, làm cho sanh khởi... Việc thiện đã sanh, tinh tấn trưởng dưỡng...!!! (Thiện ác xuất thế không giống thiện ác thế gian)

- Tứ như ý túc: Gồm bốn điều cần phải tu tập như ý nguyện, đó là: Dục như ý túc (ham muốn đạo quả vô lậu như ý); Tinh tấn như ý túc (chuyên cần tu tập như ý); Niệm như ý túc (không quên việc tu tập như ý); Nhất tâm như ý túc (một lòng một dạ hướng đến mục tiêu giác ngộ đạo quả vô lậu)...!!!

- Ngũ căn: Tín căn (niềm tin về con đường vô lậu không lay chuyển); Tinh tấn căn (tinh tấn trên con đường dẫn tới vô lậu không thối chuyển); Niệm căn (không quên việc tu học vô lậu); Định căn (tâm ý hướng về vô lậu quả không thối chuyển); Huệ căn (biết rõ con đường đưa đến vô lậu)...!!!

- Ngũ lực: Tín lực (sức mạnh từ niềm tin vô lậu); Tinh tấn lực (sức mạnh từ sự chuyên cần vô lậu); Niệm lực (sức mạnh từ sự nhớ nghĩ vô lậu); Định lực (sức mạnh từ ý chí vô lậu); Huệ lực (sức mạnh từ việc biết rõ con đường dẫn đến vô lậu và giải thoát)...!!!

- Thất giác chi: Trạch pháp giác chi (phân tích như pháp một vấn đề đến tận nguồn cơn); Niệm giác chi (không quên giá trị của sự phân tích như pháp đó); Hỷ giác chi (vui mừng vì giá trị vô lậu cùng giải thoát của phân tích như pháp đem lại); Khinh an giác chi (thân tâm nhẹ nhàng từ việc phân tích như pháp một vấn đề đem lại); Tinh tấn giác chi (dũng mãnh bước tới vì đã thấy ánh sáng vô lậu, giải thoát); Định giác chi (tự tại trong nguồn tâm vô lậu, giải thoát); Xả giác chi (Vô lậu và giải thoát bảo hoà trong tâm thức)...!!!

- Bát chánh đạo: Chánh kiến (thấy được vô lậu quả và giải thoát); Chánh tư duy (suy gẫm về sự tốt đẹp của vô lậu quả và cảnh giới giải thoát); Chánh ngữ (xưng tán cảnh giới vô lậu và giải thoát); Chánh nghiệp (thân, khẩu, ý vô lậu giải thoát); Chánh mạng (đời sống vô lậu giải thoát); Chánh tinh tấn (thẳng tiến trên con đường vô lậu giải thoát); Chánh niệm (tâm ý không rời xa đạo quả vô lậu giải thoát); Chính định (vô lậu và giải thoát không hai)...!!!

III- TƯỚNG MẠO 37 PHẨM

Để giúp các bạn có thể hình dung ra tướng mạo của 37 phẩm, nhằm dễ nhớ, dễ thuộc...Mình tạm khắc hoạ tướng mạo 37 phẩm như sau:

Người tu hành trong Phật đạo, muốn thành tựu các đạo quả giác ngộ, đạo quả vô lậu, đạo quả giải thoát, đạo quả trí tuệ, cần phải ươm mầm và trồng cây giác ngộ (Bồ Đề thọ, thứ cây mà Huệ Năng cùng Thần Tú đề cập trong bài kệ của mình)...!!!

Bồ đề thọ hay cây giác ngộ là loại cây thuộc họ vô lậu, sinh trưởng ở cõi nước xuất thế... Bồ đề thọ chỉ có thể gieo trồng trên bốn loại đất đặc biệt... Bốn loại đất đó là: Thân điền, thọ điền, tâm điền và pháp điền, ta tạm đặt tên cho bốn mảnh đất nói trên là Tứ Giác Ngộ Điền (Bốn mảnh đất trồng cây giác ngộ)...!!!

Trước khi gieo hạt giống Bồ đề, người này phải thực hiện bốn việc giống như người nông dân “làm đất” trước khi canh tác...Bốn việc đó là, dẹp tan tà kiến trong lòng (Tồi tà hiển chánh môn), làm sạch cỏ dại thế gian pháp trong tâm thức (Đoạn mê khai giác môn), xa lánh thị phi, gần gũi bạn lành (Thân cận thiện hữu môn)... Thực hiện các việc này gọi là thiện...Ngược lại gọi là ác...!!! Tứ chánh cần chính là công việc làm sạch Tứ Giác Ngộ Điền trước khi gieo giống Bồ đề...!!!

Sau khi làm sạch Tứ Giác Ngộ Điền, người này phải tiếp tục bốn công việc đó là: Ham thích gieo trồng cây Bồ đề như ý (Dục như ý)... Cày xới Tứ Giác Ngộ Điền không mệt mỏi (tinh tấn như ý)... Ngày đêm không quên việc gieo trồng (niệm như ý)... Một lòng một dạ trồng được cây Bồ đề mới thôi (nhất tâm như ý)...!!! Xong 12 việc trên, vị tu hành thành tựu Tư Lương Vị... Tức đã sắm đủ hành trang cho hành trình xuất thế...!!!

Tứ Giác Ngộ Điền đã được làm sạch như ý... Người này, đem hạt giống Bồ đề đặt vào một trong bốn mảnh đất ấy (Thanh văn đặt ở Thân Giác Ngộ Điền; Duyên Giác đặt ở Thọ Giác Ngộ Điền; Bồ Tát sơ phát tâm đặt ở Tâm Giác Ngộ Điền; Bồ Tát nhất thừa đặt ở Pháp Giác Ngộ Điền)... Đủ nhân duyên, thời tiết...Hạt Bồ đề sẽ nảy mầm...!!!

Khi hạt Bồ đề nảy mầm...Tâm ý người này xuất hiện ba điều đặc dị, đó là: Không còn chấp thân (gọi là rời xa thân kiến); Biết rằng giác ngộ không do giới cấm mà thành (rời xa giới cấm thủ kiến); Hết nghi ngờ mình, hết nghi ngờ đạo sư, hết nghi ngờ giáo pháp (rời xa nghi kiến)... Ba điều đặc dị nói trên chính là ba dấu hiệu của người sơ ngộ... Nhị thừa gọi là Tu đà hoàn quả...Bồ tát gọi là Thiện kiến quả...!!!

Khi cây Bồ đề nhô lên khỏi đất, bộ rễ của nó phát triển gồm năm cái...Nhờ năm cái rễ này, cây Bồ đề đứng vững và phát triển trong cõi nước xuất thế !!! Năm cái rễ đó là: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn...!!!

Sau khi năm cái rễ ăn sâu vào lòng đất xuất thế...Tạo nên sức mạnh hút thức ăn vô lậu và thanh tịnh để nuôi bản thân, từ đó không có gì lay chuyển, gọi là “căn lực bất thối”... Năm sức mạnh đó là: Tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực...!!!

Cây Bồ đề vô lậu ngày một cao lớn, phát triển thành bảy nhánh giác ngộ (gọi là thất giác chi), bảy nhánh đó gồm: Trạch pháp giác chi, niệm giác chi, hỉ giác chi, khinh an giác chi, tinh tấn giác chi, định giác chi, xả giác chi...Sau khi phát triển đầy đủ bảy nhánh, cây giác ngộ trở thành cây giải thoát, chúng bắt đầu đơm hoa kết trái...!!! Hoàn tất 17 phẩm trên, người này thành tựu Kiến Đạo Vị... Tức đã thấy đạo quả vô lậu và giải thoát...!!!

Cây giải thoát cho ra tám trái trí tuệ, ăn vào sẽ thành tựu tám điều chân chánh trong Phật đạo, tám điều thuộc về trí tuệ đó là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định...!!! Thành tựu 8 phẩm của Bát Chánh Đạo, người này thành tựu địa vị Tu Đạo trong Phật đạo...Chứng Nhất Thiết Trí...!!!

Đến đây, quá trình canh tác Bồ đề thọ hoàn tất... Từ tám quả chân chánh, người này có thể đem hạt giống chân chánh từ tám quả ấy, bằng trí tuệ chân chánh của mình ban rãi cho những người hữu duyên...!!!

IV- TÓM TẮT

Ba mươi bảy phẩm có nhiều tầng bậc tu tập, có nhiều tầng nghĩa khác nhau... Bài viết chỉ khái quát những gì được coi là cơ bản của 37 phẩm... Hy vọng, trong một ngày không xa khi đủ cơ duyên, chúng ta sẽ khảo sát những tầng nghĩa tiếp theo, rộng hơn, sâu hơn...!!!

Mình sẽ giải thích cụ thể những gì đã viết trong các buổi sinh hoạt kì này...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

20/05/2022

LÝ TỨ

- HÌNH ẢNH 957; 958; 959...969 VÀ HĐ CHỨNG MINH !!!

Subscribe to