Sinh Hoạt Lý Gia

Cảm Xúc Của Lý Giác Thư Trước Nghĩa Tình Của Huynh Đệ Lý Gia

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Thầy ơi! Thầy là Bậc Đại Sư đã xua tan bóng tối Vô Minh trong cuộc đời chúng con, dẫn những đứa con của mình về với Phật Pháp chỉ bằng vài lời Khai Thị.

               Tâm sự huynh đệ số 06

Thầy Kính Yêu !
Đọc những lời tâm sự của Bác Mai, nhìn những hình ảnh của Xi Muội mà Thầy đưa lên trang tâm sự của HĐ, con thật sự xúc động. Con có mấy dòng tâm sự gửi Thầy.

Con còn nhớ lần đầu tiên Thầy và các HĐTM ra thăm chúng con, ngày đó bác Đào Xuân Mai vẫn còn khỏe nhưng không đi xa được, Thầy đã không quản đường xa cùng HĐ chúng con xuống tận nhà bác để thăm hỏi. Tấm lòng từ bi của Thầy đã lan tỏa khắp chúng con. Tình Thầy trò, huynh đệ tràn ngập tiếng cười, nước mắt tuôn rơi vui mừng trong căn nhà bác.

Buổi đó bác Mai còn hỏi về cách ăn uống. Con đã hỏi Thầy “Thầy ơi bây giờ con nên ăn chay hay ăn mặn”. Thầy đã khai thị “ngay tại chỗ” giúp con nhận ra điều quan trọng nhất của người tu hành muốn giác ngộ là thay đổi nhận thức chứ không phải từ cách ăn uống. Con bỏ đi được mối nghi trong lòng, tinh tấn tu tập.

Lần thứ hai, khi nghe tin bác Mai ốm, Thầy cùng một số HĐ bay hàng nghìn cây số ra thăm Bác và HĐ Miền Bắc chúng con. Con còn nhớ như in hình ảnh Thầy ân cần thăm hỏi sức khỏe bác, động viên, giảng giải cặn kẽ những điều bác còn thắc mắc. Căn nhà của bác lại đầy ắp tình thầy trò, huynh đệ.

Lần thứ 3, Thầy ra Hà Nội để họp báo ra mắt sách. Buổi lễ có rất đông độc giả và huynh đệ Lý Gia từ mọi miền đất nước và nước ngoài về hội tụ. Bác Mai lúc này đang ốm lắm. Con và toàn bộ khán phòng xúc động khi trong buổi lễ quan trọng, lời đầu tiên Thầy gửi niền vui, niềm hạnh phúc này đến bác Mai – Huynh đệ đầu tiên và lớn tuổi nhất của Lý Gia Miền Bắc. Trong giây phút ấy tất cả mọi người đều hướng về bác Mai. Chúng con khắc ghi lời Thầy dạy “Một ngày làm huynh đệ Lý Gia, mãi mãi là huynh đệ Lý Gia”.
Thầy ơi! Lần nào Thầy ra Hà Nội, tuy thời gian ngắn ngủi nhưng đã đem lại cho HĐ chúng con thật nhiều lợi lạc. Những bài pháp của Thầy luôn có sức công phá chấn động, loại bỏ mê lầm cho người nghe. Thật may mắn cho con được chứng kiến, trong không gian trang nghiêm, tĩnh lặng ... Nhiều người được Thầy khai thị sau khi trực nhận ra vấn đề. Rất nhiều người thay đổi, trở thành một người khác. Niềm vui, sự hân hoan hiện rõ trên khuôn mặt từng người. Những điều nghi hoặc, phiền não trước kia tự bay đi từ lúc nào không biết.

Thầy ơi! Thầy là Bậc Đại Sư đã xua tan bóng tối Vô Minh trong cuộc đời chúng con, dẫn những đứa con của mình về với Phật Pháp chỉ bằng vài lời Khai Thị.

Càng gần Thầy, được Thầy hướng dẫn, chúng con được Thầy trang bị Phật Pháp một cách có hệ thống, bài bản, kiến thức ngày càng rộng sâu, ứng dụng ngày càng nhuần nhuyễn. Những câu hỏi và các câu trả lời của Thầy chính là chìa khóa vạn năng khai mở tâm trí, khiến người Giác Ngộ, Giải Thoát, và thành tựu Trí Tuệ.

Thưa thầy ! Lúc này đây con cảm nhận mình thật hạnh phúc. Trong con Thầy trên cả tuyệt vời, vị cha tinh thần đã giúp con thật nhiều lợi lạc, được nhiều điều chưa từng có trong đời. Thầy chính là Phật sống giữa đời thường của huynh đệ chúng con. Con nguyện theo gót chân Thầy học trí tuệ bất khả tư nghì. Xin Thầy từ bi dìu dắt chúng con.

Đọc những tâm sự của bác Mai và nhìn những hình ảnh thân thương của Xí Muội, con lại nhớ đến công ơn Phật, công ơn Thầy. Huynh Đệ chúng ta thật đáng ngưỡng mộ, các vị ấy thật xứng đáng là con của Phật, là đệ tử của Thầy. Chúng con những đệ tử trong Lý Gia luôn hướng đến bác Đào Xuân Mai, đến Xí Muội. Cầu chúc các HĐTM thật nhiều sức khỏe, luôn an lạc, tinh tấn, sớm thành tựu những điều cần thành tựu.
Con xin dâng lên thầy lòng thành kính tri ân của chúng con !!!

Kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe, trụ thế thật lâu để chúng con và vạn loại hữu tình đồng lợi lạc !!!

Con, Lý Giác Thư
26/02/2020

Sinh Hoạt Lý Gia

Tin Vui Đã Đến Với Huynh Đệ Lý Gia

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Bác Xuân Mai Đào trước khi làm HĐ LÝ GIA là trưởng nhóm “THIỀN ĐƯỜNG VỀ”, một cánh chim đầu đàn của HĐ Lý Gia miền Bắc

                Tâm sự huynh đệ số 05

Các bạn !!!

Một tin vui, rất vui cho toàn thể HĐ Lý Gia, mà mình vừa nhận được !!! Đó là Bác Xuân Mai Đào đã có thể viết những dòng thư gởi đến mình và toàn thể HĐ chúng ta !!!

Bác Xuân Mai Đào trước khi làm HĐ LÝ GIA là trưởng nhóm “THIỀN ĐƯỜNG VỀ”, một cánh chim đầu đàn của HĐ Lý Gia miền Bắc… Chẳng may lâm trọng bệnh, tưởng “khó có thể vượt qua” !!!

Nhưng ! Nhờ ơn trên gia hộ !!! Nhờ ý chí của Bác ấy !!! Nhờ công đức mà Bác ấy đã tu tập !!! Nhờ gia đình và thân hữu chăm sóc tốt !!! Nhờ có một nền y học tiên tiến…Đến nay Bác Mai đã có thể ngồi dậy viết thư !!! Có thể nói, đối với Lý Gia không có tin nào vui hơn !!! Đây được coi như một kì tích !!!

Bác Mai ơi !!! Tôi và tất cả HĐ Lý Gia luôn hướng về Bác, luôn cầu mong Bác chóng khoẻ để tiếp tục cùng HĐ đi trên con đường mà chư Hiền Thánh đã đi !!! Tôi và HĐ Lý Gia luôn ở bên Bác !!! Chúc Bác khoẻ !!! Khoẻ !!! Khoẻ !!!

Các bạn !!!
Xí Muội của chúng ta, hôm qua cũng đã có thể lên Facebook và đăng những hình ảnh đầu tiên…Sau nhiều tháng chống chọi với bệnh tật !!!

Tin vui nối tiếp tin vui !!! Xin chuyển đến các bạn, tâm sự của Bác Xuân Mai Đào !!!
LÝ TỨ
---
Con xin reo năm vóc kính lễ thày !
Bây giờ là hai giờ đêm ngày mồng 2 tháng 2 rạng sáng 3 tháng 2 (ÂL) con vẫn thức, nhớ thầy và chư huynh, đệ mà viết thư này.

Thưa Thầy sau hai năm một tháng ốm và hai lần cấp cứu nằm tại viện quân y 103 và bệnh viện Thiên Đức không chết được, chắc phần thì còn chưa tu đến đầu đến đũa trả hết nợ thế gian, phần thì Thầy và huynh đệ thương xót cùng Phật và Chư Bồ Tát độ cho nay đã chắc con vẫn còn đương nhiệm gánh vác tiếp việc cõi phàm. Đây là một tin không biết nên gọi là vui hay buồn. Song dẫu thế nào cũng là một tin con cần kính báo thày và chư huynh đệ !

Thưa Thầy cuộc vật lộn của cái sắc thân ngần ấy ngày, nên ngôi nhà con đang mượn nương trú chỉ còn vẻn vẹn 30 kg. Nó mong manh và còn yếu lắm. Cái sắc thân đang trong trạng thái bước đi mỗi bước đều run và loạng choạng như chú gà con vừa bung được vỏ trứng chui ra !

Song chắc đã đến lúc thọ mạng đủ cho con nương nhờ, trọ để hoàn tất xứ mệnh người con Phật !

Từ khi thày mở rộng tâm từ đón nhận nhóm “Đường Về“ làm đệ tử, chỉ riêng mình con trong nhóm đã không làm trọn bổn phận một đứa con nhưng vẫn được thày và chư huynh đệ từ bi thương xót và xá cho. Một lần nữa xin cho con reo năm vóc kính ơn Thầy và huynh đệ Lý Gia !

Vào tuổi 79 chắc con không làm được gì hơn như đã làm và vẫn mong chờ sự lượng tha của Thầy và chư huynh đệ !

Thư ngắn này con viết chỉ hàm ý báo tin với Thầy và toàn gia rằng: Xuân Mai Đào con chưa đủ tiêu chí về nhà, xin được Thầy, bạn thương mà rèn dũa cho để mai nay trả cái sắc thân về cát bụi được trở lại cố hương !

(Con quên hết thao tác thao tác mạng, cách thức liên hệ với với mọi người qua các kênh, nếu không đúng xin thày lượng thứ)

Con – 398- Xuân Mai Đào kính lễ !
26/02/2020 

Sinh Hoạt Lý Gia

Tâm Sự Của Lý Thiên Vân Về Chuyện Đọc Và Học

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Khi đọc sách của Thầy rồi, mới thấy mỗi câu mỗi chữ của Thầy viết ra mang đầy đủ ý nghĩa của Trí, Lý, Bi, Hùng...giúp người đọc lĩnh hội một cách trọn vẹn những điều Thầy muốn gởi gắm, và hiểu thêm nhiều điều ẩn mật của giáo pháp mà xưa nay bao người chưa từng nghe qua hay biết đến.

              Tâm sự huynh đệ số 04


Kính Thầy!!!
Con thành kính đảnh lễ Thầy, lạy Thầy 3 lạy!!!

Con vẫn khoẻ, con đọc giáo pháp Thầy viết cho cõi Ta bà này rất rất nhiều, nghiền ngẫm từng chữ mới thấy sự vi diệu trong những điều Thầy đã viết, khi nào không đọc thì con lại nghe...!!!

Con thử đọc lại một vài cuốn sách mà trước khi hiểu đạo mình rất thích. Nhưng từ hồi gặp Thầy, được nghe giảng giải về đạo và hiểu ra đạo đích thực là gì. Cảm nhận trong con hiện tại những cuốn sách ấy nó “nhạt như nước ốc”.

Con không có quyền chê người, nhưng phải nói rằng khi đọc sách của Thầy rồi, mới thấy mỗi câu mỗi chữ của Thầy viết ra mang đầy đủ ý nghĩa của Trí, Lý, Bi, Hùng...giúp người đọc lĩnh hội một cách trọn vẹn những điều Thầy muốn gởi gắm, và hiểu thêm nhiều điều ẩn mật của giáo pháp mà xưa nay bao người chưa từng nghe qua hay biết đến. Theo con, sách của Thầy hội tụ đầy đủ tinh hoa trong từng chữ, từng câu mà hiếm thấy một tác phẩm nào có được.

Con cảm nhận: Nếu bạn muốn tìm châm ngôn để sống ư!!! Tác phẩm của Thầy có đầy đủ triết lý và châm ngôn giúp bạn sống thật tốt. Bạn muốn tìm đến giáo dục ư!!! Tác phẩm của Thầy giúp bạn thành tựu nhân cách và bạn có thể sống ở bất cứ nơi đâu cũng là người có văn hoá.

Bạn muốn tìm đến giác ngộ, giải thoát, trí tuệ ư!!! Điều này không thiếu trong các tác phẩm của Thầy, nhưng nếu bạn muốn hưởng dụng trọn vẹn những “chỉ thú ẩn mật về giác ngộ, giải thoát, trí tuệ” trong các tác phẩm đó, bạn cần thoả mãn một điều kiện, đó là phải làm học trò của Tác giả.

Vì chỉ khi được nghe chính Tác giả giảng giải mới lột tả hết ý vị trong đó. Và chỉ có con cái mới thừa hưởng hợp pháp gia sản vật chất của cha mẹ, học trò mới thừa hưởng không sai lệch đạo lí từ tài sản trí tuệ của Thầy, chiếu theo luật thừa kế. Theo con, HĐ Lý Gia là những người cảm nhận điều này rõ rệt nhất.

Còn bạn không làm như thế, thiệt khó có thể lãnh hội hết thâm ý từ những gì Thầy đã viết, nếu có cảm nhận đôi chút cũng chỉ như người “cưỡi ngựa xem hoa”. Và bạn không cần mang bất kỳ một thứ gì đến cầu học, ngoại trừ chỉ mang một quyết tâm...!!!

Kính Thầy!!!
Con cảm ơn cuộc đời đã cho con làm học trò của Thầy, con cảm ơn Thầy đã cho cõi tạm này một khối lượng kiến thức đồ sộ, cũng như những ứng dụng tuyệt vời, dễ thực hành khi tìm về đạo pháp...!!!

Con kính cẩn đảnh lễ Thầy, kính cẩn đảnh lễ giáo pháp Thầy đã viết, kính cẩn đảnh lễ Tâm Pháp.

Con, Lý Thiên Vân
22/02/2020
 

Sinh Hoạt Lý Gia

Tâm Sự Của Lý Diệu Tâm Về Chế Ngự Kiêu Mạn Và Tham Chấp

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Gia đình con vốn xuất thân từ phố cổ ở Hà Nội, con vốn tự hào mình có dòng dõi và cảm thấy mình "hơn người" ở chỗ đó...

           Tâm sự huynh đệ số 03

Các bạn !!!

Năm 2020 ngoài những chuyên mục thường kì như CHUYỆN BÊN LỀ, BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI, TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ, LUẬN, THƠ, TẢN VĂN...!!!

Để giúp trang nhà thêm phong phú, nhằm giảm thiểu sự đơn điệu từ các bài viết và người viết...v..v...BQT FANPAGE LÝ TỨ mở thêm chuyên mục TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA...Nội dung chuyên mục, giới thiệu đến bạn đọc một số hình ảnh tiêu biểu về: Văn hoá, nếp sinh hoạt, phương pháp học tập, kết quả thực tế sau khi tiếp cận giáo pháp...v..v...của Đại Gia Đình Lý Gia, thông qua tâm tình của HĐ LÝ GIA !!!

Rất mong bạn đọc, cũng như HĐ Lý Gia đón nhận và hưởng ứng chuyên mục !!!
Chân thành cảm ơn các bạn !!!
14/02/2020
BQT FANPAGE LÝ TỨ

BÀI VIẾT CỦA LÝ DIỆU TÂM VỀ CHẾ NGỰ KIÊU MẠN VÀ THAM CHẤP

Thưa thầy,
Lời đầu tiên con muốn gửi đến thầy lời hỏi thăm sức khỏe. Mặc dù thầy luôn nhắc nhở con rằng phải gọi cho thầy bất cứ khi nào có thắc mắc, nhưng lần này con muốn chia sẻ với thầy một trải nghiệm mà bản thân vừa trải qua và cảm nhận một cách sâu sắc.

Mùa xuân năm nay, con đã vượt qua được chính bản thân mình bằng một hành động mà con cho rằng nó là nhát dao chặt đứt mọi kiêu mạn, cũng như tham chấp quan niệm thế gian vốn trói buộc con bấy lâu nay. Câu chuyện khá dài nên con xin được kể cùng thầy cho thấy tỏ tường.

Gia đình con vốn xuất thân từ phố cổ ở Hà Nội, con vốn tự hào mình có dòng dõi và cảm thấy mình "hơn người" ở chỗ đó. Sau này khi lớn lên, gia đình lại sinh sống tại một con phố khá lớn tại Hà Nội. Cả ngôi nhà ở phố cổ và ngôi nhà đó đều có giá trị về kinh tế lẫn gắn bó với tuổi thơ của con.

Không may năm đó, gia đình con rơi vào cảnh vay nợ phải bán đi căn nhà ở con phố vốn kinh doanh tấp nập. Căn nhà phố cổ cũng không giữ lại được. Sau biến cố đó, mẹ con bắt đầu lo nghĩ và ốm bệnh. Năm 2017 mẹ con ra đi sau 3 năm chiến đấu với căn bệnh ung thư. Con vừa nhớ mẹ, vừa trách móc gia đình, cho rằng vì sự cố liên quan đến việc bán nhà nên rơi vào trạng thái trầm cảm.

Suốt những năm tháng đó, chỉ cần đi qua con phố đó thôi, con cũng cảm thấy tim đập, chân run không sao chịu nổi. Khi đó con cảm giác như mình mất mát một phần nào đó của tuổi thơ, nhưng lớn hơn nữa là cảm giác thất bại vì gia đình bị tiêu tán như thế.

Năm 2019, con đã dần bình phục trạng thái trầm cảm của mình, nhưng con thực sự không thể thoát khỏi những cảm xúc khó chịu khi nhắc đến câu chuyện này, và con hoàn toàn né tránh việc phải đi qua 2 con phố kia vì không muốn gợi lên câu chuyện cũ.

Sau một thời gian con thực hành việc quở trách tâm mỗi lần tâm vọng động, quán xét xem đó là do dục, sắc hay vô sắc. Sau mỗi lần quán sát như vậy, con nhận thấy sở dĩ có phiền não này là do tâm dục phát sinh, sự tham danh (cái danh về một con nhà dòng dõi) đã bó buộc tâm con. Con nhận thấy mình đang chạy theo dòng vô minh mà dẫn đến tưởng, tự trói buộc mình bằng cảm giác mất mát, cho rằng đó sự thất bại của bản thân, đồng nhất thân này với của cải vật chất.


Sau khi quán như vậy, con cảm thấy mình đỡ sợ hãi với những gì đã diễn ra trong quá khứ. Tuy nhiên cảm giác tiếc nuối và buồn mỗi khi nhớ về quá khứ vẫn còn đó. Cảm xúc đó lại dẫn đến những suy tưởng, giá mà giờ còn lại căn nhà đó thì sẽ thế này hay thế khác, rồi từ cảm giác lại sinh tâm phiền não.

Khi được thầy trang bị những kiến thức cơ bản của Phật pháp, định hướng tu tập, rồi dạy cho phép Tam Ma Đề, con chỉ biết ứng dụng Tam Ma Đề vào những thấy nghe bên ngoài từ 5 căn là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân. Một thời gian con cảm thấy rằng không thể kiểm soát được ý căn, những suy nghĩ và tưởng tượng vẫn nổi lên mà không thể cho qua như những thấy nghe khác.

Rồi một hôm, con nhận ra rằng những pháp mà ý căn thấy được cũng chẳng khác gì những thấy nghe khác. Con đã òa lên khi nhận ra những quan niệm này (pháp này) không phải là con, mà là nghiệp thức của con phải chịu. Giác ngộ này khiến con cảm thấy bản thân không còn "có tội tình gì" trong những suy tưởng và những ý nghĩ xuất hiện trong đầu. Và con bắt đầu tiếp xúc nó một cách nhẹ nhàng hơn, không còn xua đuổi nó, không còn cố né tránh nó nữa, con để nó đi qua như một dòng nước chảy qua kẽ tay.

Ngày 28 Tết, một buổi chiều con thấy trong lòng rỗng rang, tự cho phép mình làm một phép thử, con đưa chân qua con đường đó, đến đứng trước cánh cửa nhà xưa, ngồi ở quán cà phê cũ đó, và điều kỳ diệu xảy ra, con chẳng cảm thấy trong lòng cảm thấy gì cả, CHẲNG CÒN CẢM GIÁC GÌ CẢ thầy ạ.

Mấy hôm nay con đang đọc đến phần Pháp sinh Tâm và Tâm sinh Pháp trong cuốn Phật giáo và Thiền, con bỗng ngộ ra, ồ hóa ra là thế, hóa ra là thế. Vì tâm con đầy lậu hoặc, chứa chấp biết bao điều bất ưng được di qua di lại qua bao năm tháng, khi đối trần (là căn nhà cũ và chuyện cũ) lại thêm nghiệp thức chấp vào ngã nên sinh phiền não suốt năm tháng qua. Bao năm tháng qua vô minh chế ngự, cứ mỗi lần nghĩ đến (tiếp xúc với kỷ niệm cũ, câu chuyện cũ) là sinh cảm thọ, rồi tham đắm vào cảm thọ mà chấp vào nó, cuối cùng là cứ ôm khư khư phiền não trong lòng.

Nhưng có lẽ cũng vì sự vui mừng này, mà dịp Tết vừa qua con đã kém phần rốt ráo trong việc yểm ly thân khi tiếp xúc với thấy nghe. Hôm nay con đọc sách thầy, tự hứa với bản thân mình rằng lại tiếp tục yểm ly triệt để thân này, minh xúc trong thấy nghe để tiếp nhận được những thiện pháp sau này.

Vài lời chia sẻ, con xin được lắng nghe thêm lời chỉ dạy của thầy ạ.
Đệ tử, LÝ DIỆU TÂM

Tác Phẩm Lý Tứ

Chánh Kiến Y Cứ Vào Giới Luật Và Nghĩa Kinh

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Phật đã di giáo cho đời sau, chánh kiến y cứ vào Giới Luật và Nghĩa Kinh. Thấy biết nào thiếu một trong hai điều này thì không thể gọi thấy biết đó là chánh kiến của Phật giáo.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Phật đã di giáo cho đời sau; như phần trước đã nói, chánh kiến y cứ vào:

1. "Giới Luật; 2. Nghĩa Kinh"

Có nghĩa nói đến chánh kiến Phật giáo phải gồm đủ hai điều trên. Thấy biết nào thiếu một trong hai điều này thì không thể gọi thấy biết đó là chánh kiến của Phật giáo.

Xin giới thiệu bài kinh “Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp Niết Bàn”;[[1]] Lời giáo huấn tối hậu này được coi là chánh kiến, ngọn đuốc để Phật tử soi sáng trong đêm dài vô minh tăm tối.

“Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp lần đầu tiên hóa độ tôn giả Kiều Trần Như, thuyết pháp lần cuối cùng hóa độ tôn giả Tu Bạt Đà La. Những người có thể hóa độ, Ngài đã hóa độ tất cả. Hôm nay, trong rừng Sa La, giữa cây song thọ, Ngài sắp Niết Bàn. Bấy giờ là lúc giữa đêm, hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động, Ngài đã vì các đệ tử mà nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh pháp.

Các thầy Tỳ Kheo, sau khi Như Lai diệt độ, các thầy phải trân trọng tôn kính tịnh giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Như Lai ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy.

Giữ tịnh giới thì các thầy không được buôn, bán, đổi chác, sắm sửa đất nhà, nuôi người tôi tớ và súc vật, lo việc gieo trồng, kinh doanh tài bảo. Tất cả việc này, hãy tránh như tránh hố lửa. Kể cả việc chặt phá cỏ cây và đào cuốc đất đai.

Những việc chế thuốc thang, coi bói tướng, coi thiên văn, đoán thời tiết, tính lịch số, đều không thích hợp với các thầy. Các thầy hãy tiết chế cơ thể, ăn đúng thì giờ, sống bằng cách sống trong sạch, không được tham dự thế sự, lãnh sứ mạng liên lạc. Chú thuật, thuốc tiên, giao hảo quyền quí, và thân thiết với họ, rồi hèn hạ, ngạo mạn, tất cả đều không được làm. Phải tự đoan tâm, chánh niệm cầu độ. Không được che giấu lầm lỗi, tỏ ra kỳ dị để mê hoặc quần chúng. Đối với bốn sự hiến cúng thì phải biết tự lượng và biết vừa đủ. Hễ được hiến cúng thì không nên tích trữ.

Đó là Như Lai nói tóm tắt về sự giữ giới. Giới thì chính thuận với căn bản của sự giải thoát, nên Như Lai mệnh danh Ba La Đề Mộc Xoa. Nhờ giới mà phát sinh thiền định, và trí tuệ có năng lực hủy diệt thống khổ.

Thế nên, các thầy Tỳ Kheo, hãy giữ tịnh giới, đừng cho vi phạm, thiếu sót. Ai giữ tịnh giới thì người đó có thiện pháp. Không có tịnh giới thì mọi thứ công đức không thể phát sinh. Do đó mà biết tịnh giới là chỗ yên ổn nhất, làm nơi trú ẩn cho mọi thứ công đức.

Các thầy Tỳ Kheo, đã ở trong tịnh giới thì phải chế ngự năm thứ giác quan, không cho phóng túng vào trong năm thứ dục lạc. Như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng, phạm vào lúa má của người. Phóng túng năm thứ giác quan, thì không những chỉ có năm thứ dục lạc, mà có thể sẽ không còn giới hạn nào nữa, không thể cấm chế. Như con ngựa hung hãn mà không được chế ngự bằng giây cương, thì sẽ mang người lao xuống hầm hố.

Giặc cướp làm hại, khổ chỉ một đời, còn giặc giác quan họa đến nhiều kiếp, tai hại rất nặng, các thầy không thể không cẩn thận. Thế nên người có trí thì chế ngự mà không theo, giữ như giữ giặc, không cho phóng túng. Giả sử phóng túng năm thứ giác quan, thì cũng không bao lâu ta sẽ thấy chúng tàn diệt tất cả.

Các thầy Tỳ Kheo, năm thứ giác quan do tâm chủ động, vì vậy mà các thầy lại phải thận trọng chế ngự tâm mình. Tâm còn đáng sợ hơn cả rắn độc, thú dữ, giặc thù, lửa dữ bùng cháy lan tràn cũng chưa đủ để ví dụ cho tâm. Như một kẻ tay bưng bát mật mà chuyển động chạy nhảy, chỉ thấy bát mật chứ không thấy hố sâu, như thế không khác gì voi điên mà không có móc sắt, vượn khỉ mà được cây rừng, thì sẽ hung hăng nhảy vọt, khó mà ngăn cản; các thầy phải cấp tốc tỏa chiết, đừng cho phóng túng. Phóng túng tâm ra thì làm tan nát việc thiện của người. Chế ngự tâm lại một chỗ thì không việc gì không thành. Thế nên, các thầy Tỷ Kheo, hãy nỗ lực tinh tiến mà chiết phục tâm mình.

Các thầy Tỳ Kheo, thọ dụng đồ ăn thức uống, hãy coi như việc uống thuốc, ngon không ham, dở không bỏ, vừa đủ duy trì cơ thể cho khỏi đói khát. Như ong lấy hoa, chỉ lấy mùi vị mà không tổn thương hương sắc, người xuất gia cũng vậy. Thọ dụng cúng phẩm của người vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ. Hãy bắt chước kẻ khôn ngoan, biết lượng sức lực con trâu của mình chịu đựng nhiều ít, không dùng quá sức đến nỗi kiệt lực.

Các thầy Tỳ Kheo, ban ngày thì nỗ lực thực tập thiện pháp, không để thì giờ lướt mất, đầu đêm cuối đêm cũng đừng phế bỏ, giữa đêm lại phải tụng niệm để tự tiêu trừ điều ác, sinh trưởng điều thiện. Đừng vì lý do ngủ nghỉ mà để đời mình trôi đi, không được một chút ích lợi. Hãy nhớ ngọn lửa vô thường đốt cháy thế gian, để sớm cầu tự độ, đừng ham ngủ nghỉ. Giặc phiền não thường rình giết ta, dữ hơn kẻ thù, tại sao ta có thể ngủ nghỉ mà không tự cảnh giác? Phiền não ngủ trong tâm, cũng như rắn hổ mang màu đen nằm ngủ trong nhà, các thầy phải dùng móc sắt giữ giới mà cấp tốc móc kéo nó ra. Rắn hổ mang ra rồi mới nên yên tâm ngủ nghỉ. Không ra mà ngủ thì thật là kẻ không biết hổ thẹn. Sự hổ thẹn là phục sức đẹp nhất trong mọi thứ phục sức. Như cái móc sắt, sự hổ thẹn có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của con người. Thế nên, các thầy Tỳ Kheo, hãy luôn luôn biết hổ thẹn, sỉ nhục, đừng bao giờ, dầu chỉ tạm thời mà thôi, được phép quên mất đức tính ấy. Mất hổ thẹn là mất công đức. Có hổ thẹn là có thiện pháp, không hổ thẹn thì không khác gì cầm thú.

Các thầy Tỳ Kheo, nếu ai cắt xả thân thể các thầy ra từng đốt, các thầy cũng phải tự kềm chế tâm mình, đừng cho giận dữ. Lại phải giữ lấy miệng lưỡi, đừng để phát ra lời tiếng không tốt.

Tâm giận dữ nổi lên là tự hại đạo nghiệp, hư mất công đức. Đức tính của Nhẫn, giữ giới và khổ hạnh không thể sánh bằng. Thực hành đức Nhẫn mới được mệnh danh là bậc thượng nhân có sức mạnh. Kẻ nào không thể tiếp nhận cái độc nhục mạ một cách hoan hỷ như uống nước cam lồ, kẻ ấy không thể được ca tụng là người nhập đạo có trí. Tại sao, vì giận dữ thì phá hủy hết thảy thiện pháp và danh tiếng đáng quí, hiện tại vị lai không ai muốn nhìn. Sự giận dữ hơn cả ngọn lửa ác liệt, vì thế mà các thầy phải đề phòng một cách thường trực, đừng cho xâm nhập tâm trí.

Giặc cướp công đức không chi hơn giận dữ. Thế gian hưởng thụ dục lạc, không phải là kẻ hành đạo, không có phương pháp để tự khống chế, thế nên giận dữ thì còn có thể tha thứ được. Còn người xuất gia hành đạo là kẻ loại bỏ dục vọng, vậy mà giận dữ thì thật không đáng; không khác gì giữa bầu trời mây trong mát mà sấm sét lóe lửa là điều không thích hợp.

Các thầy Tỳ Kheo, hãy tự xoa đầu mình, đã bỏ sự trang sức và đồ tốt đẹp, mình mặc áo hoại sắc, tay cầm đồ thích ứng, khất thực để sống; tự thấy như vậy mà kiêu ngạo còn nổi lên, thì phải cấp tốc tỏa chiết. Tăng thêm kiêu ngạo là điều mà thế nhân còn không nên có, huống chi người xuất gia nhập đạo là kẻ vì giải thoát, tự giáng mình xuống mà đi khất thực?

Các thầy Tỳ Kheo, tâm ý dua nịnh quanh co trái ngược đạo pháp, thế nên các thầy phải chất trực tâm mình. Phải ý thức dua nịnh quanh co chỉ để dối trá, mà người nhập đạo thì không thể như vậy. Vì thế mà các thầy cần phải ngay thẳng tâm mình, lấy đức tính chất trực làm căn bản.

Các thầy Tỳ Kheo, phải biết kẻ ham muốn nhiều, thì vì nhiều sự cầu lợi nên khổ não cũng nhiều. Còn ít ham muốn thì không cầu hồ (những thứ mông lung), không dục vọng, nên không có cái họa đó. Chỉ có như thế mà thôi, sự ít ham muốn cũng đã phải thực tập, huống chi sự ấy còn đem lại đủ các công đức. Người ít ham muốn thì không dua nịnh quanh co để cầu được lòng người, cũng không bị các giác quan lôi kéo. Thực hành đức tính ít ham muốn thì lòng bình thản, không lo sợ, gặp cảnh ngộ nào cũng thấy thừa thải, không bao giờ có cảm giác thiếu thốn. Có ít ham muốn là có Niết Bàn. Đó là hạnh ít ham muốn.

Các thầy Tỳ Kheo, muốn giải thoát khổ não thì các thầy hãy cứu xét sự biết vừa đủ. Chính sự biết vừa đủ là giàu sang, vui thú và yên ổn. Biết vừa đủ thì nằm trên đất cũng thấy vui thích, không biết vừa đủ thì ở thiên đường cũng vẫn bất mãn. Không biết vừa đủ thì giàu mà nghèo, biết vừa đủ thì nghèo mà giàu. Không biết vừa đủ thì luôn luôn bị cả năm thứ dục lạc lôi kéo, làm cho người biết vừa đủ phải xót thương. Đó là hạnh biết vừa đủ.

Các thầy Tỳ Kheo, muốn cầu yên tĩnh, vô vi và an lạc, thì các thầy hãy thoát ly mọi sự ồn ào và bối rối, ở đơn độc và ở một cách thư thái. Người ở yên tĩnh thì chúa trời Đế Thích và chư thiên đều tôn kính. Vì thế mà các thầy hãy thoát ly đồ chúng của mình, và đồ chúng của người, ở đơn độc, thư thái và thanh vắng, dùng "tư duy tu" mà cắt đứt gốc rễ đau khổ. Nếu thích đồ chúng thì sẽ bị đồ chúng quấy phá, như cây đại thọ mà cả bầy chim chóc tập hợp lại thì vẫn bị cái họa khô gãy. Thế gian ràng buộc mà chìm ngập thống khổ, thì cũng không khác gì voi già mà sa xuống bùn lầy, hết mong thoát khỏi. Đó là hạnh siêu thoát.

Các thầy Tỳ Kheo, nỗ lực tinh tiến thì không có việc gì khó khăn. Thế nên các thầy phải thực hành sự nỗ lực tinh tiến. Nước nhỏ mà chảy mãi thì có thể xuyên thủng cả đá. Nếu người hành đạo mà hay biếng nhác phế bỏ, thì cũng như kéo lửa chưa nóng mà đã ngừng, dầu thiết tha có lửa, lửa cũng khó mà có được. Đó là hạnh tinh tiến.

Các thầy Tỳ Kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trì và cầu thiện hỗ trợ, đều không bằng không quên chánh niệm. Không quên chánh niệm thì giặc phiền não hết cách xâm nhập tâm trí. Thế nên các thầy hãy luôn luôn tập trung chánh niệm lại nơi tâm trí. Mất chánh niệm là mất công đức. Nếu chánh niệm có sức lực vững mạnh, thì dẫu phải vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng sát hại; tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng, thì không còn sợ hãi gì nữa. Đó là hạnh không quên chánh niệm.

Các thầy Tỳ Kheo, tập trung tâm lại thì tâm sẽ ở trong thiền định. Tâm ở trong thiền định thì có thể thấu triệt trạng thái chuyển biến của vũ trụ. Vì thế mà các thầy phải luôn luôn tinh tiến, nỗ lực thực tập thiền định. Thiền định được thì tâm hết tán loạn. Tiếc nước thì phải đắp đê sửa bờ cho khéo, hành giả cũng vậy, hãy vì nước trí tuệ mà thực tập thiền định để giữ cho nó khỏi chảy mất. Đó là hạnh thiền định.

Các thầy Tỳ Kheo, có trí tuệ thì hết đam mê, luôn luôn tự thức tỉnh và tự dò xét, không để lầm lỗi có thể có được, như thế là trong chánh pháp của Như Lai, người ấy có khả năng thực hiện giải thoát. Không như thế thì đã không phải xuất gia, lại không phải thế tục, không còn biết gọi là gì. Trí tuệ chân thật là chiếc thuyền chắc nhất vượt biển sinh lão bịnh tử, là ngọn đèn sáng nhất đối với hắc ám vô minh, là thần dược cho mọi kẻ bịnh tật, là búa sắc chặt cây phiền não. Vì thế mà các thầy hãy dùng cái tuệ văn tư tu chứng để tự tăng tiến ích lợi. Có trí tuệ soi chiếu, thì dẫu mắt thịt, cũng vẫn là kẻ thấy rõ nhất. Đó là hạnh trí tuệ.

Các thầy Tỳ Kheo, nếu hý luận đủ thứ thì tâm trí rối loạn. Như vậy, tuy đã xuất gia mà chưa được siêu thoát. Thế nên, các thầy Tỳ Kheo, hãy từ bỏ tức khắc sự hý luận rối loạn tâm trí. Các thầy muốn thực hiện cái vui tịch diệt, thì chỉ có cách cấp tốc diệt trừ cái họa hý luận. Đó là hạnh không hý luận.

Các thầy Tỷ Kheo, đối với mọi thứ công đức, các thầy hãy thường xuyên nhất tâm tu tập, tránh sự phóng dật như tránh giặc thù. Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói chánh pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành. Hoặc trong rừng núi, hoặc cạnh đầm vắng, hoặc dưới đại thọ, các thầy hãy ở một cách thư thái, trong tịnh thất nhỏ, nhớ và chiêm nghiệm chánh pháp đã tiếp nhận, đừng để quên mất. Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình sẽ chết đi một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận. Như Lai như vị lương y, biết bịnh mà chỉ thuốc, còn uống hay không, không phải lỗi của lương y. Lại như người dẫn đường rất tốt, chỉ dẫn đường tốt cho người, nhưng nghe rồi mà không đi, thì không phải lỗi của người dẫn đường.

Các thầy Tỳ Kheo, đối với bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không được giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp. Thế Tôn nói lên ba lần như vậy, nhưng không ai chất vấn.

Vì lẽ chư Tăng không có ai còn hoài nghi gì nữa. Bấy giờ tôn giả A Nâu Lâu Đà quán sát tâm trí chư Tăng, rồi thưa với Ngài, bạch đức Thế Tôn, mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời có thể làm cho lạnh đi, nhưng bốn chân lý mà đức Thế Tôn đã dạy thì không thể làm cho khác đi được. Ngài dạy khổ thì thật là khổ, không thể làm cho vui lên; tập là nguyên nhân của khổ, thì không còn có nguyên nhân nào khác nữa; diệt là khổ diệt vì nguyên nhân đã diệt, mà nguyên nhân diệt thì kết quả cũng diệt; đạo là phương pháp diệt khổ nên thật là đạo, không có đạo nào khác hơn. Bạch đức Thế Tôn, đối với bốn chân lý, các vị Tỳ Kheo đây đã quyết định, không còn hoài nghi gì nữa.

Chư Tăng lúc ấy, những người tu học chưa hoàn tất, thì thấy Phật diệt độ hãy còn bi cảm. Những người mới vào chánh pháp, nghe Phật nói liền được hóa độ, như trong đêm tối mà điện chớp sáng là thấy ngay đường đi. Còn những người tu học đã hoàn tất, đã vượt qua biển khổ, thì chỉ nghĩ rằng, đức Thế Tôn diệt độ sao mà mau chóng như vậy.

Do đó, tôn giả A Nâu Lâu Đà tuy đã bạch Phật, rằng chư Tăng ai cũng thấu triệt bốn chân lý, nhưng đức Thế Tôn muốn làm cho tất cả đều được kiên định, nên vẫn đem tâm đại bi mà huấn dụ thêm nữa.

Các thầy Tỳ Kheo, không nên buồn rầu, nếu Như Lai ở đời lâu đến một đại kiếp đi nữa, thì sự kết hợp nào rồi cũng phải tan rã. Kết hợp mà không tan rã là điều không thể có được. Chánh pháp tự lợi, lợi tha đã có đầy đủ. Như Lai sống cho lâu cũng không còn ích lợi gì nữa. Ai có khả năng tiếp nhận hóa độ, thì ở trên chư thiên hay ở trong nhân loại, Như Lai đã hóa độ tất cả. Ai chưa thể tiếp nhận hóa độ, thì Như Lai cũng đã tạo yếu tố hóa độ cho họ. Từ nay về sau, đệ tử của Như Lai hãy triển chuyển thực hành. Như thế là pháp thân của Như Lai thường trú bất diệt.

Thế nên, các thầy Tỳ Kheo, phải ý thức toàn bộ cuộc đời là chuyển biến vô thường, có kết hợp thì có tan rã, đừng lo buồn gì cả. Ngược lại, cuộc đời như thế thì các thầy phải nỗ lực tinh tiến để sớm cầu tự độ, đem ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Vũ trụ quả thật mong manh, không một thứ chi bền bỉ. Như Lai được diệt độ thì cũng như trừ được cơn bịnh khủng khiếp. Đây là vật tội ác và đáng bỏ, giả hiệu là thân thể mà lại chìm ngập trong biển cả già bịnh sống chết, như thế người có trí tuệ ai lại không hoan hỷ khi trừ bỏ được thân này như trừ bỏ kẻ thù?

Các thầy Tỳ Kheo, hãy thường nhất tâm, nỗ lực cần cầu tuệ giác giải thoát. Toàn thể vũ trụ, dầu pháp biến động hay pháp bất động, đều là trạng thái bất an và tan rã.

Thôi, các thầy hãy yên lặng, không nên nói nữa. Thì giờ sắp hết, Như Lai muốn diệt độ. Trên đây là những lời giáo huấn tối hậu của Như Lai.”[[2]]

Nói đến chánh kiến là nói đến phần sâu nhất của Phật pháp: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời nhằm khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho chúng sanh.” Phật tri kiến là chánh tri kiến hoàn hảo của Phật giáo.

Trên con đường tu hành, mỗi một giai đoạn giác ngộ đều cho ra sản phẩm đầu tiên của giai đoạn giác ngộ đó là Chánh Kiến. Từ chánh kiến này sẽ dẫn dắt người tu hành đi đúng đường, về đến đích, không phải nhầm sang lối rẽ. Dù giác ngộ đến đâu mà đem tâm chấp thủ không tinh tấn vượt lên kinh gọi “đoạ vào đảnh địa” cũng được coi là một thứ tà kiến.

Tóm lại mọi thứ chinh nghiêng không đi đúng hướng là ‘tà kiến’. Vì thế chánh kiến không thể thiếu đối với người tu hành trong Phật đạo. Giống như người đi biển không thể thiếu hải bàn.

Nếu tu hành chưa hoặc không có chánh kiến thì biết đi đến đâu và về phương nào? Do đó tìm cho mình một hướng đi đúng nhất là điều quan trọng và rất cần thiết. Đây là đòi hỏi cấp thiết đối với mọi người tu hành.

Chánh kiến cần tìm ở đâu?

Nếu là những Phật tử đích thực thì phải biết rằng chánh kiến ẩn tàng trong lời dạy của Phật. Kinh điển là biển khơi, là núi thẳm sản sanh chánh kiến. Giống như muốn bắt kình ngư phải ra biển khơi, muốn tìm thú dữ phải lên núi thẳm.

Rời kinh điển để tìm chánh kiến mong mở lối giải thoát, thì giống như người vào ao lạch, lùm bụi quanh nhà mà tìm cá kình hay sư tử.

Vì thế khi chưa được chánh kiến, người tu hành phải hướng đến Tam Bảo, hướng đến thiện pháp, thực hành thiện hạnh. Y  nơi Tam Bảo  để sám hối ba nghiệp là chánh kiến của người đi tìm chánh kiến.

“Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có người tu tập thân giới tâm huệ như đã nói ở trên, có thể thấy các pháp đồng với hư không, chẳng thấy trí huệ cũng như chẳng thấy người trí, chẳng thấy ngu si cũng như chẳng thấy kẻ ngu, chẳng thấy tu tập và người tu tập, đây gọi là người trí. Người nầy có thể tu tập thân giới tâm huệ. Người nầy có thể làm cho báo địa ngục trở thành quả nhẹ hiện đời. Giả sử người nầy gây tạo ác nghiệp rất nặng, nhờ tư duy quan sát có thể làm cho nghiệp nặng thành nhẹ. Người nầy nghĩ rằng: Nghiệp của ta dầu nặng nhưng chẳng bằng nghiệp lành. Như bông vải dầu nhiều nặng cả trăm cân, nhưng chẳng thể sánh bằng một lượng vàng ròng. Như đem một thăng muối ném vào trong sông hằng, nước sông không vị mặn người uống chẳng biết. Như người giàu to dầu thiếu người ngàn muôn vật báu cũng không ai bắt bớ làm khổ được. Như đại hương tượng có thể bức dây xích sắt mà đi tự tại.

Người trí huệ cũng như vậy, thường suy nghĩ rằng công đức lành của tôi nhiều, nghiệp ác yếu kém, tôi có thể phát lồ sám hối trừ hết tội ác, tôi có thể tu tập trí huệ làm cho sức trí huệ nhiều, sức vô minh ít.” .[[3]]

Tóm lại chánh kiến có nhiều thứ bậc, nhiều cấp độ. Nhưng cho dù thứ bậc hay cấp độ nào cũng phải căn cứ trên hai điều là ‘giới luật’ và ‘nghĩa kinh’. Hai điều này giống như hai bờ của dòng sông. Dòng sông phải chảy theo đôi bờ, thiếu một bờ thì không thành dòng sông. Đôi bờ lệch thì dòng sông sai lệch. Dòng nước về Niết Bàn cũng chảy trên đôi bờ giới luật và nghĩa kinh. Thiếu một trong hai điều quyết định này, dòng tâm thức sẽ chảy vào ba cõi, nơi không bờ mé, không có hướng đi đích thực và không có chỗ dừng./-

09/01/2008

LÝ TỨ

[[1]] Kinh Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp Niết Bàn; bản dịch của HT. Thích Trí Quang - nguồn Website Quảng Đức;

[[2]] Kinh “Giáo huấn vắn tắt của Phật lúc sắp Niết Bàn,” bản dịch của HT. Thích Trí Quang - nguồn Website Quảng Đức.

[[3]] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn – HT. Thích Trí Tịnh dịch.

(HẾT)

Tác Phẩm Lý Tứ

Chánh Kiến

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Chánh kiến hay chánh tri kiến là một điều chánh trong tám điều chân chánh của Phật giáo có tên Bát Chánh Đạo. Chánh kiến là nhận thức đầu tiên và cũng là đích đến. Vì thế chánh kiến được thay đổi liên tục trong suốt quãng đường để phù hợp với cung đường mới. Chánh kiến là sự thấy biết đúng đắn làm cơ sở quyết định lựa chọn phương tiện phù hợp.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Chánh kiến hay chánh tri kiến là một điều chánh trong tám điều chân chánh của Phật giáo có tên Bát Chánh Đạo.

Bát chánh đạo gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, và Chánh định. Bát chánh đạo là tám phẩm trong ba mươi bảy phẩm, được coi là tổng thể làm nên phần đạo của Phật giáo.

Ba mươi bảy phẩm trợ đạo gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, và Bát chánh đạo phần. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là con đường tu tập của Phật đạo được xây dựng trên cơ sở tứ diệu đế. Hai món này liên quan mật thiết với nhau.

Tứ diệu đế được ví như bốn cung đường trong toàn bộ quãng đường thì ba mươi bảy phẩm là những cột mốc mà người lữ hành phải vượt qua. Mỗi cột mốc đánh dấu mục tiêu trước mắt mình phải hướng đến. Vượt qua cột mốc nào là bỏ lại sau lưng chừng ấy đoạn đường đời cần từ bỏ, từ bỏ nhiều bao nhiêu mục tiêu đến gần bấy nhiêu. Mỗi cung đường tứ diệu đế là một thay đổi lớn trong nhận thức. Mỗi cột mốc là sự thành tựu trọn vẹn nhận thức đó. Nhận thức được thay đổi và thành tựu liên tục cho đến viên mãn hành trình nhận thức mới chấm dứt.

Chánh kiến là nhận thức đầu tiên và cũng là đích đến. Vì thế chánh kiến được thay đổi liên tục trong suốt quãng đường để phù hợp với cung đường mới. Chánh kiến là sự thấy biết đúng đắn làm cơ sở quyết định lựa chọn phương tiện phù hợp.

Tứ diệu đế được coi là công thức giải bài toán khổ thì 37 phẩm là phần ứng dụng công thức để cho ra kết quả diệt khổ và đế là những ẩn số.

Ẩn số ‘x,y’ được thay bằng ‘thân, thọ, tâm, pháp’; ‘x,y’ chỉ ra cái gì là khổ niệm xứ và phương thức giải quyết ‘x,y’.

Niệm xứ gọi là đế, tức là dựa trên nguyên lý cái gì kiết sử nương vào để làm khổ đau thì giải quyết tận gốc cái đó. Bốn món ‘thân, thọ, tâm, pháp’ là mảnh đất để kiết sử dựa vào làm nhân sinh khổ.

Mỗi thừa thấy nhân sinh khổ khác nhau, vì thế ba thừa ra đời và mỗi thừa giải quyết tận gốc một căn nguyên sinh khổ. Khi căn nguyên đã diệt thì thứ nguyên tự diệt. Giống như rễ cái của một gốc cây đã bị chặt đứt thì rễ con không thể giữ vững và chỉ cần một tác động nhỏ nhất định thân cây ngã đổ.

Thân, thọ, tâm, pháp chính là bốn chiếc rễ cái. Khi niệm xứ này là rễ cái thì ba món còn lại sẽ là rễ phụ. Mỗi thừa tìm cách diệt chiếc rễ cái của mình thì cây đại thụ khổ não không còn.

Chánh kiến chính là nhắm thẳng vào niệm xứ chính và đề ra phương cách giải quyết. Phương cách giải quyết là tổng thể 37 phẩm trợ đạo, tức là toàn bộ hệ thống kinh điển cho một thừa. Mỗi thừa trên con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề có nhiều địa vị, mỗi địa vị lại có một nhận thức mới về nguyên nhân sanh khổ và bây giờ chánh kiến lại phải thay đổi.

Cứ như vậy Phật tri kiến là chánh kiến cuối cùng của người tu hành, nên Phật giáo mới có tục đế, thánh đế, chân đế, và chân. Chân tức là sự thật này không dựa vào một cái gì hết, có nghĩa tự chân hay còn gọi là thiệt tướng.

Như đã nói ở phần trước, ba mươi bảy phẩm xoay quanh trục tứ đế, nên chánh kiến cũng xoay quanh trục này. Ba thừa y nơi bốn đế để giác ngộ nên chánh kiến cũng có mặt trong ba thừa, hay nói khác hơn chánh tri kiến có mặt trong từng Phật tử, từ lúc Quy Y Tam Bảo cho đến chứng Vô Thượng Bồ Đề. Do đó chánh kiến là điều kiện cần có để đưa chúng sanh từ vô minh đến giác ngộ. Chánh kiến của mỗi người tu hành khác nhau vì mỗi người sức giác ngộ khác nhau.

Ba thừa giác ngộ theo chỗ riêng của mình nên chánh tri kiến của họ cũng rất riêng. Kinh gọi: “Tuỳ chỗ diệt mà được thiệt tướng của các pháp.”

Ba thừa chánh kiến không giống nhau. Có khi chánh kiến của thừa này chống trái với chánh kiến của thừa kia. Chánh kiến của Bồ Tát trái với Thanh Văn. Thừa này không thể hiểu biết như thừa kia nên không dùng tri kiến thừa này làm hết khổ thừa kia.

Do chánh kiến đi đầu nên bảy thứ chánh còn lại cũng y trên thấy biết của chánh kiến mà vận động.

Trong quá trình vận động của bát chánh đạo hệ quả tất yếu sẽ cho ra đầy đủ ‘Giới-định-huệ’.

Có thể nói: ‘chánh kiến, chánh tư duy, chánh niệm’ thuộc về ‘huệ’.   

‘Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng’ thuộc về ‘giới’.

Và ‘chánh tinh tấn, chánh định’ thuộc về ‘định’.

Tam vô lậu này dẫn người tu hành về thẳng cứu cánh Niết Bàn. Vì thế bát chánh đạo vừa là nhân cũng vừa là quả trong Phật đạo. Đây là môi trường dưỡng nuôi thánh nhân đồng thời cũng là môi trường sống của thánh quả.

Trong cuộc đời tu hành, mỗi một người có thể nhiều lần giác ngộ, từ cạn đến sâu, giác ngộ đến Phật quả mới thôi. Nên chánh kiến của mỗi người cũng thay đổi vào từng thời điểm và từng giai đoạn giác ngộ. Chánh tri kiến cuối cùng của Phật giáo là Phật tri kiến. Bao giờ chưa thấy biết thông suốt như Phật thì chánh tri kiến còn phải thay đổi.

Trái ngược với bát chánh là bát tà. Tức những thấy biết, suy nghĩ, nói năng, hành động, giữ gìn, điều phục thân tâm ngược lại với những gì chánh kiến đã thấy. Nói khác là pháp nào có khuynh hướng không theo điều đã giác và không phục vụ để giác ngộ đều gọi là tà. Vì thế mới có tên gọi tà pháp, tà kiến.

Ví dụ Thanh Văn thấy ba cõi đáng trú không có tâm nhàm lìa, Thanh Văn thấy biết như vậy là tà kiến. Bồ Tát thấy ba cõi đáng nhàm lìa, đáng bị rời bỏ, Bồ Tát thấy như vậy là tà kiến.

Do vậy cũng đồng sự từ bỏ ba cõi mà thừa này là tà, thừa kia lại chánh. Chánh tà tùy theo điều đã giác.

Xét tổng thể Phật đạo chánh tà không có nghĩa quyết định cho từng thừa, chỉ có một điều mang ý nghĩa quyết định tối hậu, đó là ‘bất kỳ thừa nào không phát tâm Vô Thượng Bồ Đề’ đều là ‘tà kiến’.

Như vậy có thể khái niệm chánh kiến là nhận thức như pháp, là phương châm hành động, là cách thức đúng đắn của Phật giáo nhằm mục tiêu cởi trói, dẫn dắt chúng sanh từ bờ này sang bờ kia an vui và đích đến là Vô Thượng Bồ Đề.

Xin giới thiệu đoạn trích trong Đại Trí Độ Luận của Bồ Tát Long Thọ. Đoạn trích này có thể thấy được những gì là chánh kiến:

“Hỏi: Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo của Thanh Văn và Bích Chi Phật; sáu Ba La Mật là đạo của Bồ Tát Ma Ha Tát. Đây vì sao trong Bồ Tát đạo còn nói đến pháp Thanh Văn?

Đáp: Bồ Tát Ma Ha Tát phải học tất cả các thiện pháp, tất cả đạo; như Phật nói với Tu Bồ Đề: “Bồ Tát Ma Ha Tát thực hành Bát Nhã Ba La Mật đều phải học tất cả các thiện pháp, tất cả đạo; đó là từ Càn huệ địa cho đến Phật địa. Chín địa ấy nên học mà không thủ chứng; Phật địa cũng học và cũng thủ chứng.

Lại nữa, chỗ nào nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo chỉ là pháp Thanh Văn, Bích Chi Phật, chứ không phải là pháp Bồ Tát?  

Chính trong phẩm Đại thừa của kinh Bát Nhã Ba La Mật, Phật nói bốn niệm xứ, cho đến tám thánh đạo phần là Đại thừa. Trong Tam tạng cũng không nói ba mươi bảy đạo phẩm chỉ là pháp Tiểu thừa.  Phật vì tâm đại từ nên nói ba mươi bảy đạo phẩm là đạo Niết Bàn; tùy nguyện của chúng sanh, tùy nhân duyên của chúng sanh đều chứng được đạo ấy. Người muốn cầu Thanh Văn thì đắc Thanh Văn đạo; người muốn gieo giống thiện căn về Bích Chi Phật thì đắc Bích Chi Phật đạo; người cầu Phật đạo thì đắc Phật đạo. Tùy bản nguyện và các căn lanh lợi hay đần độn, có tâm đại bi, không tâm đại bi; ví như Long vương xuống mưa, mưa khắp thiên hạ, mưa không sai khác, cây lớn cỏ lớn, gốc lớn cho nên thọ nhận nhiều; cây nhỏ cỏ nhỏ, gốc nhỏ cho nên thọ nhận ít.

………………………………………………………

Hỏi:  Bốn niệm xứ là pháp có thể đầy đủ đắc đạo, sao còn nói đến ba mươi bảy phẩm? Nếu ông cho vì nói lược nên nói bốn niệm xứ, nói rộng nên nói ba mươi bảy phẩm.  Điều ấy không đúng, vì cớ sao, nếu nói rộng thời phải vô lượng?

Đáp: Bốn niệm xứ tuy là đầy đủ để có thể đắc đạo, mà cũng nên nói Bốn chánh cần, vì cớ sao? Vì tâm chúng sanh chủng loại bất đồng, kiết sử cũng nhiều thứ, pháp ưa thích hiểu biết cũng nhiều thứ.

Phật pháp tuy nhất thật nhất tướng, song vì chúng sanh nên nơi mười hai bộ kinh, phân biệt thuyết ra tám vạn bốn ngàn pháp tụ. Nếu không như vậy, đầu tiên chuyển pháp luân, nói đến Bốn đế là đủ, không cần nói thêm pháp khác. Vì có hạng chúng sanh nhàm khổ, đắm vui, nên thuyết ra Bốn đế. Những pháp thân tâm có được đều là khổ, không có vui. Nguyên nhân của khổ ấy là do các phiền não tham ái v.v…. Nơi khổ ấy đoạn tận là Niết Bàn; phương tiện đi đến Niết Bàn đó gọi là đạo.

Có hạng chúng sanh niệm nhiều loạn tâm điên đảo, nên đắm theo thân, thọ, tâm, pháp ấy mà làm các hạnh tà. Vì hạng người đó nên nói ra Bốn niệm xứ. Các đạo pháp khác cũng như vậy, vì mỗi chúng sanh mà thuyết, ví như thầy thuốc không  dùng  một  thứ  thuốc  trị  tất  cả  các bệnh. Các bệnh không đồng, thì thuốc cũng chẳng một thứ. Phật cũng như vậy, vì tâm bệnh của chúng sanh nhiều thứ nên Phật dùng nhiều thứ thuốc để trị.

Hoặc thuyết một pháp để độ chúng sanh; như Phật nói với một Tỳ Kheo: “Chẳng phải vật của ngươi thì chớ lấy.”        

Tỳ Kheo nói: “Biết rồi.”

Phật hỏi: “Biết thế nào?” 

Tỳ Kheo nói: “Những pháp không phải vật của tôi thì không nên lấy.”

Hoặc dùng hai pháp để độ chúng sanh, đó là định và tuệ.  

Hoặc dùng ba pháp là giới-định-tuệ.

Hoặc dùng bốn pháp là Bốn niệm xứ.

Thế nên Bốn niệm xứ tuy có thể đắc đạo, nhưng các pháp khác hành trì có khác, phân biệt hơi khác, quán sát cũng khác. Do vậy nên phải nói các pháp như Bốn chánh cần, v.v….

Lại nữa, các Bồ Tát Ma Ha Tát vì có tín lực lớn, vì độ hết thảy chúng sanh, nên trong một lúc Phật nói đủ ba mươi bảy đạo phẩm. Nếu nói pháp khác làm cửa  vào đạo, thời mười tưởng, v.v. đều thu nhiếp cả trong ba mươi bảy đạo phẩm.

Ba mươi bảy đạo phẩm ấy là các thứ thuốc hòa hợp lại, đủ chữa lành mọi bệnh của chúng sanh,   cho nên không cần thuyết nhiều.  Như Phật tuy có vô lượng trí lực, nhưng chỉ nói mười lực là đủ cho việc độ chúng sanh.

Ba mươi bảy đạo phẩm này, lấy mười pháp làm căn bản. Những gì là mười?  Đó là tín, giới, tư duy, tinh tấn, niệm, định, tuệ, trừ, hỷ, xả.

Tín là Tín căn, Tín lực.

Giới là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.

Tinh tấn là Bốn chánh cần, Tinh tấn căn, Tinh tấn lực, Tinh tấn giác phần, Chánh tinh tấn.

Niệm là Niệm căn, Niệm lực, Niệm giác phần, Chánh niệm.

Định là Bốn như ý túc, Định căn, Định lực, Định giác phần, Chánh định.

Tuệ là Bốn niệm xứ, Tuệ căn, Tuệ lực, Trạch pháp giác phần, Chánh kiến.

Các pháp ấy, niệm tùy thuận theo cảnh duyên của trí tuệ mà được chơn chánh an trụ, nên bấy giờ gọi là Niệm xứ. Phá tà pháp, đi trong chánh đạo, nên gọi là Chánh cần. Nhiếp tâm an ổn ở trong quán duyên, nên gọi là Như ý túc. Tri tâm được nhu nhuyến, gọi là Căn; tri tâm được lanh lợi gọi là Lực. Dùng để tu đạo nên gọi là Giác, dùng để thấy đạo nên gọi là Đạo….”[[1]]

Nói đến chánh kiến là nói đến phạm vi rộng lớn, nếu không quy kết chánh kiến muốn nói thuộc phạm vi nào thì chánh kiến chưa có ý nghĩa gì hết. Bởi lẽ bản thân chữ chánh kiến chưa nói lên được điều gì, mà chánh kiến cần phải đi kèm với chủ thể sản sinh ra nó.

Mỗi quốc gia, tôn giáo, cộng đồng, tổ chức đều có chủ trương, quan điểm, quy tắc của riêng mình. Người theo tổ chức nào thì y theo quan điểm và luật tắc của tổ chức đó, những thứ họ nhận thức y đây hành xử để đạt được mục đích đã đề ra gọi là chánh kiến.

Chánh kiến như vậy hoàn toàn đúng đắn với những người cùng tổ chức và tổ chức của họ. Ví dụ đạo A có chánh kiến của đạo A, tổ chức B có chánh kiến với tổ chức B, ông C có chánh kiến của ông C. Những thấy biết, nguyên tắc và hành xử đúng như những gì các tổ chức đó đặt ra và định hướng đều là chánh kiến.

Các tôn giáo thường có một số điều gần giống như nhau, cũng dạy người ăn hiền, ở lành, biết thương người khác, hiếu thảo cha mẹ, tưởng nhớ ông bà tổ tiên v.v…, những điều na ná như nhau không có nghĩa chánh kiến của các tôn giáo hoặc tổ chức giống nhau hay là một thứ.

Thông thường người ta gộp chung những điều như vậy vào “đạo nào cũng dạy ăn hiền ở lành...” vô hình trung, coi đây như là chánh kiến của nhau.

Sự không phân biệt rạch ròi này đưa đến hệ quả là không tìm hiểu thấu đáo mục đích tối hậu của tôn giáo hay tổ chức kia là gì, và hướng người trong tôn giáo đó đi đâu và về đâu?

Thật ra mỗi tôn giáo, tổ chức, ngoài những điều nói trên còn có phần sâu, tạm gọi tinh túy và mục đích riêng của họ. Những tinh túy này mới là phần làm nên chánh kiến của tôn giáo ấy, và chánh kiến này mới thật sự đưa người theo tôn giáo đó đến mục đích mà tôn giáo hoặc tổ chức đó đề ra.

Ví dụ buổi sáng ra đường, thấy mọi người ra khỏi nhà và cùng đi về một hướng của con đường. Tất nhiên cùng trên con đường thì đi về một hướng, nhưng đến ngã tư không phải mọi người cùng rẽ một phía. Từ đây mỗi người đi về hướng của mình tùy theo nghề nghiệp, trách vụ, và công  chuyện.

Nơi mỗi người rẽ một hướng mới chính là mục tiêu người đó phải đến, không ai giống ai. Hướng họ phải đến là chánh kiến, và nơi họ đến là mục đích hay cứu cánh.

Do vậy khi nói đến Chánh Kiến Phật giáo, là nói đến cái riêng và phần sâu của Phật giáo. Tất nhiên Phật giáo cũng có một vài điều cơ bản như các tôn giáo khác.

Nhưng tinh túy và đích đến của Phật giáo khác xa và không giống bất kỳ một tôn giáo nào có mặt trên thế giới. Bởi lẽ nếu có tổ chức hoặc tôn giáo nào hoàn toàn giống Phật giáo từ cơ bản đến sâu thẳm thì đó chính là Phật giáo. Không thể gọi tên khác, nếu gọi tên khác thì nhất định có gì đó không giống.

Ví dụ ông A giống hệt ông B, và cùng là anh em ruột, như vậy không có nghĩa ông A là ông B. Nhất định ông A có cái gì đó mà ông B không có, nên mới gọi A và B.

Như vậy chánh kiến của Phật giáo gồm những gì và dựa vào đâu để có?  

[[1]] trích Đại Trí Độ Luận của Bồ Tát Long Thọ.

(còn nữa)

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Khổ Não - Tâm Và Trí

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Theo Phật đạo, khổ não do mê sanh !!! Dứt mê, khổ não tự tịch diệt !!! Giống như không đèn bóng tối ập đến, có đèn bóng tối tự mất...!!!

Các bạn !!!

Đã gần một tháng, kể từ ngày khởi động Hành Trình Xuyên Việt, mình mải miết đi, không có thời gian đọc các thắc mắc từ Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời... Vì thế, không thể trả lời mọi người đúng kì hạn !!! Xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc !!!

Sáng nay vào trang tính, đọc được hai câu hỏi... Một của độc giả có tên là Đấu Trí Thắng Phật và một của độc giả ghi là Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ !!! Nhìn qua, cách đặt câu hỏi của hai vị rất giống nhau (ngắn gọn, dứt khoát, mang dáng dấp của thiền ngữ)... Vì thế, mình cảm nhận hai vị Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ là một vị, chỉ do thời điểm đặt câu hỏi khác nhau nên trang tính tự động chia thành hai văn bản khác nhau !!! Không biết suy nghĩ này có đúng không ??? Nếu không đúng, xin hai vị thứ lỗi !!!

Lời đầu tiên, Lý Tứ và Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời xin chân thành cảm ơn hai độc giả Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ đã đặt những câu hỏi giúp người tu học hướng đến mục tiêu chính của Phật Đạo...!!!

Hoà Thượng Thích Thanh Từ là một trong những cây đại thụ của rừng thiền, bản thân Lý Tứ đã ngưỡng mộ Ngài từ những ngày mới chập chững tìm hiểu Phật đạo !!! Nay danh Ngài lại được xướng lên, Lý Tứ xin cúi đầu đảnh lễ...!!!

Hai vị Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ có các câu hỏi như sau:

- Khổ não do đâu sanh ? Trí Tuệ lấy gì đựng ? 18/05/2020 10:56:56 - Đấu Trí Thắng Phật

- Tâm có cấu Tạo ra sao ? Nguyên tắc hoạt động ? 18/05/2020 20:27:24 - Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ

Và, Lý Tứ xin được trả lời theo thứ tự...!!!

1) Khổ não do đâu sanh ???

- Theo Phật đạo, khổ não do mê sanh !!! Dứt mê, khổ não tự tịch diệt !!! Giống như không đèn bóng tối ập đến, có đèn bóng tối tự mất...!!!

2) Trí tuệ lấy gì đựng ???

- Nếu có chỗ đựng, nếu có cái để đựng, hai thứ ấy chẳng phải là trí tuệ trong Phật đạo !!! Vì trí tuệ của Phật đạo thuộc vô vi, mà vật để đựng và chỗ để đựng là hữu vi... Cho nên, hữu vi chẳng thể dung nạp vô vi !!!

3) Tâm cấu tạo ra sao ???

- Hư vọng tâm: Cấu tạo của mê như thế nào thì tướng mạo và cấu tạo của hư vọng tâm như thế ấy...!!!

- Chơn tâm: Cái gì do cái khác cấu tạo nên đều chẳng phải chơn... Vì thế, chơn tâm không do gì cấu tạo nên !!! Giống như hư không chẳng do gì cấu tạo nên, nơi nào không bị ngăn bít, hư không lập tức có mặt !!!

4) Nguyên tắc hoạt động ???

- Ba duyên (căn, trần, thức) phối ngẫu (trong điều kiện vô minh xúc)...Tâm mê liền hiện !!!

- Ba duyên (căn, trần, thức) phối ngẫu (trong điều kiện minh xúc)...Chơn tâm liền hiện !!! (Xin xem Đại Niết Bàn, chương nói về vô minh xúc, minh xúc và phi minh phi vô minh xúc) !!!

Hai vị Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ cùng bạn đọc thân mến !!!

Hy vọng những trả lời ở trên, góp một phần nhỏ giúp mọi người nhận diện nguồn cơn của khổ não, nhận diện thế nào là vô vi trí tuệ, nhận diện thế nào là hư vọng tâm cùng chơn tâm và thấy được nguyên tắc hoạt động của các thứ ấy !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích của các bạn !!!

11/06/2020

LÝ TỨ 

Khổ Não - Tâm Và Trí

Tác Phẩm Lý Tứ

Lịch Sử Và Thiền

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Phật giáo không có biên giới, không có chủng tộc, không có giai cấp, vượt thời gian, vượt không gian, không bị chiếc áo lịch sử làm co giãn. Nếu Phật giáo này đúng như nguyên bản của nó, không bị pha chế, giống như vàng ròng, bao lâu, ở đâu vàng cũng là vàng và giá trị không thay đổi.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Bất kỳ một nền văn hóa hay tôn giáo nào khi đến vùng đất mới, muốn tồn tại luôn đòi hỏi phải thích nghi. Chính thích nghi này, sau khi đã trải qua nhiều sắc thái văn hóa của các nước lân cận, Phật giáo khi đến Việt Nam lại có thêm màu sắc mới để phù hợp với văn hóa, tập quán, phong tục, luật lệ Việt. Vì thế Phật giáo Việt Nam có bản sắc riêng theo tinh thần Việt và phù hợp với người Việt. Vì vậy thiền của người Việt cũng có cái riêng. Theo dõi sử liệu sẽ thấy thiền Việt Nam cộng hưởng nhiều loại văn hóa.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ nhất Tây lịch. Theo các sử liệu có được thì trung tâm văn hóa Phật giáo xưa nhất Việt Nam là trung tâm Luy Lâu, xuất hiện trước (chưa xác định rõ thời gian, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng từ Luy Lâu làm bàn đạp để thành lập hai trung tâm kia) trung tâm Phật giáo Bành Thành và Lạc Dương của Trung Quốc.

Sự có mặt của trung tâm này cho thấy Phật giáo Việt Nam đầu tiên đã chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Phật giáo chính quốc Ấn Độ. Theo các nhà nghiên cứu, có lẽ do các nhà thương buôn và tu sĩ Ấn, khi sang Giao Chỉ đã mang theo tôn giáo của mình và truyền vào nước này, tất nhiên Phật tử bây giờ tu hành gần giống thời Phật vì chưa bị pha tạp.

“Ðạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật Giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên.

Các tài liệu như Hậu Hán Thư trong đó có câu chuyện Sở Vương Anh theo Phật Giáo, sách Lý Hoặc Luận của Mâu Tử viết tại Việt Nam vào hạ bán thế kỷ thứ hai, kinh Tứ Thập Nhị Chương và một số tài liệu khác, cho ta thấy rằng trong đời Hậu Hán (thế kỷ thứ nhất và thứ hai) ngoài hai trung tâm Phật Giáo ở Trung Hoa, còn có một trung tâm Phật Giáo rất quan trọng khác ở Giao Chỉ, tức Việt Nam, lúc bấy giờ đang nội thuộc Trung Quốc.

Cũng trong mục đích cầu nguyện và cúng dường Tam Bảo, họ thỉnh theo thương thuyền một vị tăng sĩ. Chính những vị tăng sĩ đi theo các thương thuyền này đã lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ.

Tuy nhiên, những vị tăng sĩ đi theo các thương thuyền Ấn Ðộ chỉ vì mục đích giảng đạo và cầu nguyện cho các Phật tử trong thương thuyền. Vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, khuynh hướng Phật Giáo đại thừa đã nẩy nở tại Ấn Ðộ, và vào đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch, các trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông nam Ấn Ðộ dần dần trở nên những trung tâm Phật giáo truyền bá vào các nước xa là một trong những hoa trái của đạo Phật đại thừa; chính ý hướng này đã thúc đẩy những vị tăng sĩ đi theo với các thương thuyền về Ðông Nam Á.

Trung tâm Phật giáo Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và tăng sĩ Ấn Ðộ tới bằng đường biển, đó là một điều tất cả các học giả đều phải đồng ý. Ðạo Phật tại Giao Châu do từ Ấn Ðộ truyền sang trực tiếp, không phải là từ Trung Hoa truyền xuống.”[[1]]

Thế nhưng Phật giáo Việt Nam lại chịu ảnh hưởng không nhỏ của luồng Phật giáo Trung Quốc. Theo sử Biên Niên, thì Phật giáo du nhập vào Trung Quốc không sớm hơn Việt Nam bao nhiêu, cũng vào khoảng thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch nhằm niên hiệu Nguyên Thọ đời vua Ái Đế nhà Tiền Hán.

Chính Trung Quốc lại là nước sớm đưa người sang tận Ấn Độ để thỉnh Tăng cầu Pháp: “Đến năm 65 Tây Lịch triều vua Minh Đế niên hiệu Vĩnh Bình thứ 10 nhà Hậu Hán cử người đến Thiên Trúc để thỉnh cầu hai Thiền sư người Ấn là Ca Diếp Ma Đằng (Kàsyapama'tanga) và Trúc Pháp Lan (Dharmaraksa) đến Trung Quốc hoằng pháp. Hai vị Tăng người Ấn này đã mang đến Trung Quốc bộ Kinh Bốn Mươi Hai Chương (Sutra in 42 Sections) và trú ngụ tại Chùa Bạch Mã (Pai- ma-ssu, ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc do vua Minh Đế xây dựng, đến nay vẫn còn) ở Lạc Dương để hoằng dương Phật Pháp.”[[2]]

Có lẽ do quá trình lịch sử, địa lý của hai nước Việt Nam và Trung Quốc nên thiền Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của thiền Trung Quốc: “Kết quả của các ảnh hưởng giáo lý Bắc tông đã để lại tại Việt Nam các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường qua nhiều thế kỷ.”[[3]]

Thiền của Việt Nam cực thịnh vào các triều đại Lý Trần. Đời Trần ba phái Thảo Đường, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, và Vô Ngôn Thông thống nhất vào thiền phái Trúc Lâm[[4]].

Sự thống nhất này làm cho thiền phái Trúc Lâm lớn mạnh, coi như giòng thiền tiêu biểu của Việt Nam, có sắc thái riêng, có hướng đi riêng.

Thiền phái Trúc Lâm coi Điều Ngự Giác Hoàng là Tổ khai sáng, một trong Trúc Lâm Tam Tổ: “Thường các nhà nghiên cứu sử cứ gọi chung các nhà Thiền sư khai nguồn Trúc Lâm là Trúc Lâm Tam Tổ: Điều Ngự Giác Hoàng - Trần Nhân Tông (đệ nhất tổ), Pháp Loa (đệ nhị tổ) và Huyền Quang (đệ tam tổ). Thực ra phải kể từ Hiện Quang Thiền Sư, đến Trúc Lâm Quốc Sư (Thiền sư Viên Chứng, thầy của vua Trần Thái Tông) đến vua Thái Tông, rồi đến vua Trần Nhân Tông (Điều Ngự Giác Hoàng), Pháp Loa và Huyền Quang.”[[5]]

Điều Ngự Giác Hoàng trước khi xuất gia là một vị vua (Trần Nhân Tông), nên sắc thái của thiền này đậm tính bác học, quý tộc. Dần dần thiền phái Trúc Lâm phát triển rộng theo đà lớn mạnh (hợp nhất 3 phái kia) và lan ra toàn xã hội do ảnh hưởng của các cao tăng là vua chúa, đại thần nhiều uy tín và đức hạnh, viết nên trang sử vẻ vang của Phật giáo Việt Nam. “Tuy nhiên Thiền tông ở Việt Nam cũng có một lịch sử rõ ràng hơn cả.

Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra. Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền. Dòng thiền này truyền được đến 19 thế hệ.

Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Dòng thiền này truyền được đến 17 đời.

Dòng thiền thứ ba do Thảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069. Dòng thiền này truyền được đến 6 đời.

Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Đông Triều, Quảng Ninh, thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên thiền phái Trúc Lâm.”[[6]]  

Theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, của tác giả Nguyễn Lang thì:

“Vào đầu thế kỷ thứ mười ba, ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Ðường dần dần nhập lại là một. Do ảnh hưởng  lớn  lao  của  Trần Thái  Tông  và  Tuệ Trung thượng sĩ, sự sát nhập của ba thiền phái trên đây vào nhau đã đưa tới sự phát triển lớn của thiền phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm, tức là thiền phái duy nhất đời Trần. Ðời Trần có thể được gọi là thời đại Phật Giáo Nhất Tông, tức là thời đại của một phái Phật Giáo Duy Nhất. Tông phái này xuất hiện từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang.

Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm, thầy của vua Trần Thái Tông, là tổ thứ hai của Phái Yên Tử, được vua tôn xưng là quốc sư. Vị tổ truyền thừa thứ ba là Ðại Ðăng quốc sư đồng sư với vua Trần Thái Tông. Một vị quốc sư khác tượng trưng cho sự lãnh đạo nền Phật Giáo thống nhất đời Trần là Nhất Tông quốc sư, đệ tử của thiền sư Ứng Thuận thuộc thế hệ thứ 16 của thiền phái Vô Ngôn Thông. Danh từ Nhất Tông mà vua Trần Thái Tông dùng để tôn xưng vị quốc sư hẳn có ý nghĩa về tình trạng thống nhất Phật Giáo trong một tông phái duy nhất.

Trước hết ta hãy xét về những ảnh hưởng tương hỗ giữa ba thiền phái đời Lý. Như ta biết, thiền phái Thảo Ðường không có cơ sở trong đại chúng bình dân, cũng không có truyền thống tu viện đặc thù, nhưng có ảnh hưởng sâu đậm tới mặt học thuật tư tưởng và thi ca trên hai thiền phái đương thời: Tuyết Ðậu Ngữ Lục đã trở thành một văn kiện được trọng dụng ở cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Thường Chiếu, thuộc phái Vô Ngôn Thông, đã sang làm tọa chủ ở chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi: Điều này chứng tỏ hai thiền phái này lúc bấy giờ hầu như đã sát nhập nhau thành một. Thường Chiếu và đệ tử là Thần Nghi sinh hoạt trong lòng thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã thu thập khá nhiều tài liệu về thiền phái này để ghi chép lại trong sách Thuyền Uyển Tập Anh. Thiền sư Thường Chiếu có thể được gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Ðường và cũng là gạch nối giữa Phật Giáo đời Lý và Phật Giáo đời Trần. Ðịa vị của ông rất quan trọng.”[[7]]

Đọc một số bài kệ của các Thiền sư đời Lý, Trần ta thấy Phật giáo (thiền) thời bấy giờ vẫn còn mang màu sắc kinh điển chính thống. Hai đoạn trích dưới đây của Thường Chiếu và Hiện Quang tạm coi là tiêu biểu:

“Thường Chiếu chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên một nền tâm học vững chãi mới có thể thành tựu được. Ông nói: “Người tu đạo nếu biết rõ về tâm mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì phí công vô ích.” Thấy được tâm mình là ở đây là thấy được sự liên hệ giữa chủ thể và đối tượng nhận thức. Tâm học ở đây có nghĩa siêu quá  tâm lý học, ra ngoài Duy thức. Một vị đệ tử Thường Chiếu có câu hỏi sau đây: “Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức xúc tiếp nhau thì sự việc xảy ra thế nào?” (Vật ngã phan duyên thời như hà?). Thường Chiếu đáp, không còn trong vòng cương tỏa của thức: “Khi ấy, cả chủ thể và đối tượng nhận thức không còn. Tâm thức của ta vô thường, thay đổi sinh diệt từng sát na, thì làm sao có một chủ thể thường tại mà tiếp xúc với đối tượng? Tuy vậy, sinh là các hiện tượng sinh, diệt là các hiện tượng diệt; còn đối tượng chứng ngộ thì không bao giờ sinh diệt”(Vật ngã lưỡng vong! Tâm tính vô thường, dị sinh dị diệt, sát na bất đình, thùy thị phan duyên? Sinh vi sinh vật, diệt vi diệt vật, bỉ pháp sở đắc thường vô sinh diệt.”  …………………………

 “Hiện Quang dáng người và vẻ mặt thanh tú, giọng nói êm ái. Vì Hoa Dương công chúa hay lui tới cúng dường nên ông bị người ta nói ra nói vào. Do đó ông bỏ vào núi Uyên Trừng theo Pháp Giới thiền sư, thọ giới Tỳ Kheo để tu học(?). Ông nói: “Nếu ta không lấy nhẫn nhục làm áo giáp và tinh tấn làm khí giới, thì ta không thể nào phá được ma quân phiền não và đạt được quả giác ngộ vô thượng.” Sau một thời gian tu học tại đây, không muốn nhận cúng dường của tín thí nữa, ông vào rừng sống trong mười năm.”[[8]]

Như vậy mãi cho đến khi thiền phái Trúc Lâm còn hưng thịnh (trước khi suy tàn), Phật giáo thời bấy giờ ở Việt Nam vẫn y vào kinh điển tu hành, không xa mấy với Phật giáo chính thống. Thử xét kỹ đối đáp của Thường Chiếu và đệ tử:

- Vật ngã phan duyên thời như hà?

- Vật ngã lưỡng vong! Tâm tính vô thường, dị sinh  dị diệt, sát  na  bất đình, thùy thị phan duyên? Sinh vi sinh vật, diệt vi diệt vật, bỉ pháp sở đắc thường vô sinh diệt.

- Năng sở duyên nhau như thế nào?

- Năng sở đồng tịch diệt! (bởi vì trước chưa sanh nên nay không chỗ diệt).

Tâm vô thường, niệm niệm sinh diệt không cùng, nên không thể có năng tâm nhiếp lấy sở cảnh. Sở dĩ có thấy tâm cảnh là bởi do mê, nhận lầm huyễn ảo làm tâm. Các pháp tự giải thoát, sinh diệt do tự tâm bất giác. Giác ngộ các pháp như huyễn, không chỗ được. Tâm không chạy theo huyễn pháp thì tự tâm vô sanh.

Trong đoạn đối đáp trên, từ hỏi đến đáp đều như pháp, triển khai đầy đủ ý nghĩa của một pháp trên cơ sở bốn đế, không thừa không thiếu, khiến người nghe từ lời đáp này có chỗ giác ngộ.

Hiện Quang cũng y giáo pháp mà diệt trừ phiền não: “Lấy nhẫn nhục làm giáp, lấy tinh tấn làm khí giới.”

Nhưng rồi lịch sử trải qua các chuyển biến khác, mọi thứ rối lên, không đầu không đuôi. Thiền Trung Quốc một lần nữa lại ảnh hưởng mạnh mẽ ở Việt Nam qua lần xâm lược của quân Minh (Trúc Lâm bây giờ buộc phải thoái trào).

Mọi biến thái của thiền Việt Nam có lẽ bắt đầu từ đây: “Phật giáo cũng vì thế mà không hưng khởi lên được nữa. Nhất là hồi trước quan nhà Minh đã tịch thu hết kinh điển, nên dù có những bậc mộ đạo đến đâu cũng không lấy gì mà nghiên cứu. Bởi thế, các Tăng đồ lúc ấy, nhân lúc dân nước được tự lập, tự trị, dù có cố duy trì lấy đạo Phật thì chẳng qua cũng là một sự tín ngưỡng theo hình thức.”[[9]]

Điều đặc biệt, giai đoạn đầu triều đình nhà Minh tại Trung Quốc rất sùng bái Phật Giáo (Chu Nguyên Chương trước khi làm vua là chú tiểu trong chùa), nhưng đối với Đại Việt thì có những chỉ dụ ngầm cho quan binh tịch thu tiêu huỷ tất cả những gì thuộc văn hóa Phật giáo (xem Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong, Tác giả Nguyễn Lang). Có lẽ do lo sợ các cựu thần Đại Việt và con cháu nhà Trần là những Phật tử nổi lên chống Minh phục hưng nhà Trần, nên nhà Minh tìm cách dập tắt những manh nha này. Một trong những cách khắc phục lo sợ đó là tịch thu kinh điển và những thứ thuộc văn hóa có liên quan đến Phật giáo Đại Việt.

Ý đồ làm biến thái bằng cách biến Phật giáo thành đạo thờ cúng. “Mộ đạo đến đâu cũng không lấy gì mà nghiên cứu. Bởi thế, các Tăng đồ lúc ấy, nhân lúc dân nước được tự lập, tự trị, dù có cố duy trì lấy đạo Phật thì chẳng qua cũng là một sự tín ngưỡng theo hình thức.”[[10]]

Ta thấy chính sách triệt tiêu Phật giáo bằng cách “ngu hóa Phật giáo” có chính sách riêng và tạo ra những tác động khác làm cho Phật giáo biến thái, trong đó nho sĩ góp phần không nhỏ:

“Nhưng trong 13 năm thuộc Minh ấy, quan Trung Hoa thì tham tàn, quan ta thì gian nịnh, tàn ác vô liêm sỉ, dân tình cực khổ, nhiều nơi kéo cờ khởi nghĩa, trong nước không lúc nào được yên. Phật giáo dù được nhà Minh ủng hộ, nhưng lại phải theo một chính sách riêng. Và từ cuối đời Trần đến đây, trong đám Tăng đồ đã kém người sáng suốt, lại bị ở dưới quyền thế của các Nho sĩ. Chừng ấy ta cũng đủ đoán biết sự điêu tàn hoang phế của nền đạo lý.”[[11]]

Trung Quốc có rất nhiều tông phái tu thiền. Lần sang Đại Việt này, ngoài các nhà truyền giáo Trung Quốc chân chánh, chắc chắn không thể thiếu những nhà xuất khẩu tài liệu Phật giáo theo đơn đặt hàng, nhằm biến dạng Phật giáo Đại Việt.

Nhân lúc ly loạn, Phật giáo không có được một trật tự như đời Trần, thì mọi hình thức biến thái dễ dàng xâm nhập. Bởi không có một sức đề kháng nào từ Phật giáo Đại Việt. Cũng không còn kinh điển đối chứng, và thường món quà Phật giáo này của nhà Minh sẽ dễ dàng chấp nhận nếu đi kèm một số điều kiện có lợi nào đó với người được cho. “Phật giáo cũng vì thế mà không hưng khởi lên được nữa. Nhất là hồi trước quan nhà Minh đã tịch thu hết kinh điển, nên dù có những bậc mộ đạo đến đâu cũng không lấy gì mà nghiên cứu. Bởi thế, các Tăng đồ lúc ấy, nhân lúc dân nước được tự lập, tự trị, dù có cố duy trì lấy đạo Phật thì chẳng qua cũng là một sự tín ngưỡng theo hình thức.”[[12]]

Từ đây mọi quy cũ, phép tắc tu hành, nhận thức về tu hành cũng méo mó theo sự du nhập này. Kinh điển chính thống nếu may mắn còn sót lại thì cũng tạm rút lui vào bóng tối, nhường chỗ cho khuynh hướng tu hành mới xuất hiện.

Khuynh hướng mới này đó là các loại thiền do Trung Quốc chế tác và du nhập vào, ngay cả tại Trung Quốc cũng đã: “Lầm lẫn danh ngôn nên chữ Ô, chữ Yên, thành chữ Mã. Thiền bệnh thời nay là do chơn giả khôn phân.” Kim Vô đệ tử của Hàm Thị cũng nói về thầy mình: “Chẳng những giũa mài cây trụ cuồng thiền cũng gồm kích dương nơi giảng tịch.”[[13]]

Mặc dù ở Đại Việt trước đây có lẽ cũng đã xuất hiện bóng dáng thiền này, nhưng như một loại tu hành cá biệt, không đáng kể. Lần “chuyển giao công nghệ” tu hành ồ ạt không được chọn lọc này vào thời Minh, đã đưa đến trào lưu tu hành không dựa vào kinh điển.

Lợi dụng câu nói của Sơ Tổ “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” làm phương châm hành động, lý thuyết giản đơn, không cần kinh điển, chỉ cần tự hô hào căn cơ lớn là được chuyển giao ngay. “Trong buổi Phật pháp suy vong, há nên lấy ngoa truyền ngoa khiến tăng sĩ khắp nước chẳng biết đạo xuất thế là gì, ù ù cạc cạc trong cơn tùy mộng.”[[14]]

“Cơn tùy mộng” đã cho ra một loại cây trồng ngắn ngày, không cần nhiều đến các điều kiện phụ như: Thổ dưỡng, thời tiết, chăm bón; giống má được cấp phát rộng rãi, phù hợp với mọi đối tượng, hễ ai trồng sẽ được quả! Các mẫu chuyện thiền giống chuyện hài hước, cười ra nước mắt và thô thiển, trái với tinh thần Phật giáo được phổ biến tràn lan (cho đến bây giờ).

Trước đây Phật giáo Đại Việt (Trúc Lâm) có khuôn phép, có chỉ thú tu hành, có dạy dỗ và không xa kinh văn của Phật.

- “Thường Chiếu chủ trương sự tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên một nền tâm học vững chãi mới có thể thành tựu được. Ông nói: “Người tu đạo nếu biết rõ về tâm mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công. Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì phí công vô ích.”

- “Vật ngã phan duyên thời như hà?

- Vật ngã lưỡng vong! Tâm tính vô thường, dị sinh dị diệt, sát na bất đình, thùy thị phan duyên? Sinh vi sinh vật, diệt vi diệt vật, bỉ pháp sở đắc thường vô sinh diệt.”

- “Nếu ta không lấy nhẫn nhục làm áo giáp và tinh tấn làm khí giới, thì ta không thể nào phá được ma quân phiền não và đạt được quả giác ngộ vô thượng.”

Nhưng sau đó, thiền không theo một chuẩn mực nào để định lượng (bỏ mọi quy cũ, định lượng) nên mỗi người hiểu thiền một cách “ù ù cạc cạc trong cơn tùy mộng.” Không cần rõ biết nguồn tâm, không cần điều kiện giác ngộ, dẹp giới luật sang một bên, chỉ cần một vài câu nói vu vơ là có thể tu hành đạt đạo. Kiến tánh dễ dàng như người ta nhặt một đôi giày cỏ! Và kết quả thu hoạch được sau vụ mùa là bội thu về số lượng đạt đạo!

Tu là được kiến tánh ngầm hiểu như một khẩu hiệu trong cải cách Phật giáo! Và cho dù không kiến tánh nhưng người ta sẵn sàng bất chấp tất cả miễn có được địa vị, cho dù địa vị này chỉ giá trị trong chùa. “Có kẻ giày cỏ chưa mang qua một đôi, cửa chùa chưa bước qua hai bậc, một ngày kia khi làm ông thầy, sợ người ta biết rõ chân tướng, mới làm bộ lim dim con mắt, sửa giọng thanh cao, làm trò giải thoát. Những hạng người đó lạm dự vào hàng sa môn chẳng biết hổ thẹn, mượn danh hiệu Phật làm chuyện bán buôn, điều hại to lớn cho đạo là chỗ ấy”.[[15]]

Đoạn văn trên nói về Phật giáo sau thời Minh, nhưng đây là hệ quả tất yếu của những gì từ thời Minh để lại. Tất nhiên không ít cao Tăng, Phật tử nhận ra cái không tốt này nhưng đành chịu, vì đây là xu thế có tính lịch sử, phù hợp với ý đồ “Đại Quốc.” Trong lúc này ở quốc nội Nho giáo đang lên ngôi, và họ cũng mong muốn Phật giáo biến thái. Sau khi nhà Minh chấm dứt cai trị thì hậu quả của nó cũng còn dai dẳng đeo đuổi Phật giáo Việt Nam cho đến tận thời Trịnh Nguyễn phân tranh. “Ðã đành vì chiến tranh giữa Ðàng Trong và Ðàng Ngoài đã khiến cho nhiều trai tráng cạo đầu đi tu để trốn lính, và do đó số tăng sĩ thất học trở thành đông đảo, nhưng sự giáo hóa trong gần nửa thế kỷ của một số các vị cao tăng (như Nguyên Thiều chẳng hạn) có mặt đã tạo được một số trung tâm tu học chân chính đáng kể.

Ðiều này không hề được nói đến trong bài bố cáo của Thạch Liêm. Bài bố cáo để ra nhiều trang công kích những vị tăng không chân chính.

Ví dụ ông viết: “Có kẻ giày cỏ chưa mang qua một đôi, cửa chùa chưa bước qua hai bậc, một ngày kia khi làm ông thầy, sợ người ta biết rõ chân tướng, mới làm bộ lim dim con mắt, sửa giọng thanh cao, làm trò giải thoát. Những hạng người đó lạm dự vào hàng sa môn chẳng biết hổ thẹn, mượn danh hiệu Phật làm chuyện bán buôn, điều hại to lớn cho đạo là chỗ ấy.”

Rồi ông kết luận: “Trong buổi Phật pháp suy vong, há nên lấy ngoa truyền ngoa khiến tăng sĩ khắp nước chẳng biết đạo xuất thế là gì, ù ù cạc cạc trong cơn tùy mộng. Lão tăng chẳng nỡ làm thinh ngồi đó, nên chẳng tránh khẩu nghiệp, nói thẳng vài lời.”.[[16]]

Như vậy, ta thấy một số tu viện chân chính cho dù các cao Tăng cố lập ra khuôn phép thì cũng không thể vãn hồi trật tự tu hành; điều này nói lên Phật giáo đã bị biến thái, suy đồi nghiêm trọng.

Bài bố cáo trên đã tố cáo mọi hiện tượng tiêu cực: “Sư tử trùng thực sư tử nhục.” Thiết nghĩ, không nên coi đó như một lời chỉ trích mà hãy coi như tiếng còi báo động khẩn cấp.

Cho đến hôm nay nhìn lại lịch sử, nỗi đau Phật giáo đi chung nỗi đau dân tộc. Và hậu quả của cuộc “chuyển giao công nghệ” tu hành lần đó còn ảnh hưởng mãi đến tận bây giờ.

Điểm sơ lược lịch sử, để thấy thiền Việt Nam đã chảy theo dòng lịch sử. Để vừa với chiếc áo lịch sử, thiền Việt Nam co giãn theo nghiệp chung của dân tộc. Rất may mắn cho Phật tử hôm nay, sau những co giãn đó chúng ta lại được tiếp tục nhìn chính mình trong cuộc đời tu hành, bằng những dòng kinh điển chính thống Phật giáo do Cổ Đức hoặc các Phật tử hiện tại đang cố công mang lại cho chúng ta. Và sự co giãn này chỉ chấm dứt khi chúng ta lấy kinh điển Phật giáo làm chỗ y cứ và giới luật làm mực thước trong đời sống tu hành.

Chỉ y cứ vào kinh điển thì mọi hoài nghi đúng sai về các loại thiền mới được giải tỏa, bởi chúng ta tu hành theo đúng lời dạy của Phật Thích Ca Mâu Ni. Không phải tìm kiếm đâu xa trong vô vàn những lẫn lộn vàng ít cát sạn nhiều, còn sót lại của lịch sử và trong thời đại bùng nổ thông tin.

“Phật di giáo: Sau khi ta nhập Niết Bàn nếu có người tuyên nói một chữ, một câu, bảo rằng đây là lời của Như Lai thì các ông đừng vội tin cũng đừng vội phê phán, đừng vội kết luận đúng sai mà hãy xem kỹ lời nói của người này có hợp với giới luật, có hợp với nghĩa kinh hay không? Nếu lời nói nào phù hợp với giới luật, phù hợp với nghĩa kinh thì biết rằng đây là lời Phật nói, nếu lời nói nào thiếu một trong hai điều này thì không phải Như Lai hoặc đệ tử Như Lai...”.[[17]]

Phật giáo không có biên giới, không có chủng tộc, không có giai cấp, vượt thời gian, vượt không gian, không bị chiếc áo lịch sử làm co giãn. Nếu Phật giáo này đúng như nguyên bản của nó, không bị pha chế, giống như vàng ròng, bao lâu, ở đâu vàng cũng là vàng và giá trị không thay đổi.

Thiền có chút gì khác biệt với đời sống thường nhật, nhưng không phải thiền xa rời mọi hoạt động xã hội; và càng không phải cứ cố mặc chiếc áo thời đại mới gọi là thiền. Dưới thời Phật cũng có bốn bộ chúng, cũng có xã hội và Phật tử, cũng là công dân của xã hội, không muốn nói là những công dân tốt, xứng đáng làm gương, và trong từng bộ chúng đều có người chứng thiền. Thế thì tại sao trong hiện tại cũng có bốn bộ chúng lại không làm được những gì người xưa làm?

Có lẽ câu trả lời không ai khác hơn chúng ta. Trong đó niềm tin vào Thế Tôn là điều tiên quyết, mà điều tiên quyết này lại không được coi trọng. Bởi lẽ nếu đủ niềm tin thì tam tạng kinh điển của Phật chả lẽ không đủ cho ta tu hành hay sao? Không lẽ đợi phải tìm kiếm ở nơi khác, hoặc pha chế cho hợp thời đại như món đồ trang sức?

Chính thái độ của người tu hành làm nên sự nghiệp tu hành chứ không do cái gì khác. Thiền của Phật tuyên nói đủ cho ba thừa tu hành, không nhất thiết tìm đâu xa.

Kinh điển như vàng ròng hãy đến đó để lấy. Nếu y theo kinh điển tu hành thì cho dù lịch sử có đổi thay, cho dù xã hội có thế nào chăng nữa, thiền vẫn không vì thế mà mất đi tính chất ban đầu như thời Phật còn tại thế.

Chánh pháp hay mạt pháp tất cả đều tại lòng người. Phật giáo không thịnh suy, chỉ tại nhân tâm suy thịnh! Những Phật tử nào còn thấy mình là con của Phật thì hãy nghe và tin Đấng Từ Phụ, đừng chạy theo những lý thuyết không căn cứ, những danh tướng của thời đại, xa rời kinh điển sẽ lại phải dẫm lên vết xe lịch sử Phật giáo đã đi qua. 

“Trước đây trên 2.500 năm chúng sanh đau khổ vì sanh tử như thế nào thì 2.500 năm sau chúng sanh đau khổ cũng giống như vậy, và trước đây chư Hiền Thánh dạy chúng sanh giải quyết đau khổ như thế nào thì bây giờ cũng chỉ giải quyết như vậy, cho tới tận cùng đời vị lai cũng chỉ giải quyết như vậy mới mong đoạn tận khổ đau.”

[[1]] Việt Nam Phật Giáo Sử Luận; Tác giả Nguyễn Lang; Nguồn Thư viện Hoa Sen.

[[2]]  Phật Giáo Khắp Thế Giới - Thích Nguyên Tạng 2001; Nguồn Website www.quangduc.com.

[[3]] Thích Chơn Thiện 1997; Nguồn Website www.quangduc.com.

[[4]] Việt Nam Phật Giáo Sử Luận; Tác giả Nguyễn Lang; SG 1973

[[5]] Thích Chơn Thiện 1997; Nguồn Website www.quangduc.com.

[[6]] Nguồn -Wikipedia.

[[7]] Việt Nam Phật Giáo Sử Luận; Tác giả Nguyễn Lang; Nguồn Thư viện Hoa Sen.

[[8]] Việt Nam Phật Giáo Sử Luận; Tác giả Nguyễn Lang; Nguồn Thư viện Hoa Sen.

[[9]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể

[[10]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể

[[11]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể.

[[12]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể.

[[13]] Lăng Già Tâm Ấn trang VIII, XII; HT. Thanh Từ dịch 1975.

[[14]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể.

[[15]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể.

[[16]] Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Tác giả Thích Mật Thể

[[17]] Trích tóm luợc kinh Di Giáo.

(còn nữa)

Thư viện

Tri Ân Vô Đối Môn

MB 1157 Lý Mỹ Linh 19.02.2023

Vô Đối Môn 

Tác giả: Lý Tứ 

Nhà xuất bản Dân Trí

Tri Ân Vô Đối Môn

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Thiền Đốn Ngộ

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2023

‘Thiền đốn ngộ’, tên này do người sau đặt ra cho những vị kiến tánh. Ở đây chữ thiền có gì đó chưa ổn, bởi đốn ngộ không có nghĩa thiền vì kiến tánh không do tu mà được. Được thì ngay đó liền được không đợi sát na, nếu có sát na thì chẳng được gọi là đốn.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Trong Phật sử thiền đốn ngộ không được đề cập nhiều, chỉ xuất hiện trong các tài liệu thiền và hàm ý trong các bài kệ truyền pháp của Tổ có y bát. Điều đặc biệt của thiền đốn ngộ, thiền ngữ không dài, không chi tiết, không phân tích như thiền tiệm tu.

Tuy vậy những bài kệ và luận này ngắn nhưng nghĩa lý thâm sâu, đầy đủ những chỉ thú cần thiết như:

Khế nghĩa kinh, không kẹt tứ cú, không bị bốn tướng, không có bốn bịnh, nêu lên được trung đạo đệ nhất tối liễu nghĩa, nói lên chỗ tự thông, quan trọng là không bao giờ huỷ phạm giới luật.

Loại thiền này rất ít người đạt được, chỉ có các Đại Bồ Tát như Văn Thù, hay đệ tử hiện đời của Phật là Ca Diếp và sau đó là các Tổ có y bát mang tính truyền thừa. Theo thiền sử thì mỗi đời Tổ chỉ có một đệ tử đạt được cho đến thời Tổ Huệ Năng không còn truyền nữa.

Một vị đã kiến Phật tánh theo kinh và tài liệu thiền để lại, ngoài các chỉ thú trên còn có hai thứ thông, đó là ‘thuyết thông’ và ‘tông (tâm) thông’.

  • Thuyết thông là có thể thuyết tất cả kinh điển

Phật giáo vô ngại nên kinh nói: “Như chư Phật xưa thuyết các pháp.” Vị này có thể chiết phục người hay giáo dạy người vì đầy đủ tứ vô ngại biện gồm: Từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại, và biện tài vô ngại; từ một pháp có thể biện luận tột nghĩa ba thừa, từ một nghĩa thấu suốt vô lượng nghĩa. Đặc biệt người được thiền này, khi giác ngộ tự thấu suốt không phải học mới biết.

  • Tông thông là thấu suốt các địa, một địa nhiếp các địa, có thể thị hiện Như Lai địa, hàng phục tất cả, biết rõ nguồn tâm của chúng sanh có thể khiến người giác ngộ tu hành đến Vô Thượng Bồ Đề quyết không sai. Lục Tổ Huệ Năng là một ví dụ, tuy dốt ngữ nhưng thông nghĩa, đây là những đặc tính nổi bật của thiền đốn ngộ.

Đoạn kinh dưới đây Phật mô tả chỗ tự thông (hai thứ thông) của Bồ Tát nhất thừa thấy Phật tánh:

“Đến tột tự tánh là tông, viên dung chẳng hai là thông. Tùy cơ hiển bày chẳng kẹt quyền giáo gọi là thuyết thông. Bồ Tát được hai pháp này tự thành và làm thành cho người, không rơi vào cảnh giới ma ngoại giác tưởng, đây là phải học.

Đại Huệ! Tông thông là, duyên tướng tự đắc thắng tiến, xa lìa ngôn thuyết văn tự vọng tưởng, đến vô lậu giới tự giác địa tự tướng, xa lìa tất cả hư vọng giác tưởng, hàng phục tất cả ngoại đạo chúng ma, duyên tự giác thú, hào quang phát sáng, ấy gọi là tướng tông thông.

Duyên tướng tự đắc thắng tiến là, tự là tự tánh, tự được tánh kia tối tôn tối thượng, tức là đã chứng căn bản trí. Duyên căn bản trí này xa lìa ngôn thuyết vọng tưởng, cứu cánh vô lậu giác địa, nên nói “Phật tánh là nhân, Niết Bàn là quả.” Tự giác tông thông này là chỗ sở hành thánh lạc, trí tuệ minh đạt hàng phục tất cả, tất cả không thể hàng phục được.

Thế nào là tướng thuyết thông? Nghĩa là nói chín bộ giáo pháp, lìa tướng khác, chẳng khác, có, không v.v..., do phương tiện khéo léo tùy thuận chúng sanh, như đáng nói pháp khiến được độ thoát, ấy gọi là tướng thuyết thông. Đại Huệ! Ông và các Bồ Tát khác nên phải tu học.”[[1]]

Cũng nói về hai thứ thông kinh Lăng Già nói: “Ta nói hai thứ thông, thuyết thông và tông thông, thuyết dạy kẻ đồng mông, tông (tâm) vì người tu hành.” Tổ Huệ Năng nói: “Thuyết thông và tông (tâm) thông, như nhật treo hư không, duy truyền pháp kiến tánh, xuống thế phá tà tông.”

Thiền này không tự tu để giải quyết ba cõi, chỉ lấy công hạnh giáo hóa chúng sanh tạm làm chỗ tu hành, giống như chuyện Tổ Đạt Ma đối đáp với vua Lương Võ Đế. Vua hỏi ai đứng trước mặt trẫm, Tổ đáp: “Quách nhiên vô Thánh.” Câu nói này hàm ý chẳng phải phàm chẳng phải thánh, kinh gọi là siêu nhân loại, đây là thiền ngữ tiêu biểu của thiền đốn ngộ.

Thiền này mới nhìn chỗ giác ngộ gần như rất rộng và không khuôn phép, vượt ngoài quy luật của giáo nghĩa “giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” nhưng thật ra trong đó lại có quy luật riêng của nó về mặt công đức và trí tuệ.

Người được thiền này gọi là pháp khí đại thừa, giống như một cái bình tinh sạch để đựng pháp. Tất nhiên cái bình này vóc dáng, chất liệu, độ nung ra khỏi công thức để làm một cái bình thông thường của thế gian, mà thế gian thì chưa một lần được thấy cái bình này. Chưa nói đến công thức hay quy trình sản xuất, thành ra gọi là không khuôn phép hay vượt ngoài giáo nghĩa cũng không sai.

Đây là tác phẩm được làm ra bởi những nghệ nhân thiện xảo bậc nhất cõi Diêm Phù là Phật, Đại Bồ Tát, Tổ y bát. Chính sự cao tột này, nên không thể dùng ngôn ngữ thế gian mô tả, tạm gọi bất lập văn tự hay giáo ngoại biệt truyền.

Tóm lại nếu suy gẫm cho kỹ, thì sẽ phát hiện ra nhất thừa thấy Phật tánh có một quy chuẩn khắt khe hơn bất kỳ một thứ quy chuẩn nào trong các loại thiền. Sự sàng lọc khắt khe nầy, ngoài số lượng trong nghìn muôn lấy một, như một quy luật nghiệt ngã, mà nó đòi hỏi ứng viên được lựa chọn, ngoài trí tuệ siêu xuất, còn phải có tố chất gần như tố chất của một Đẳng Chánh Giác với đầy đủ  “từ, bi, hỷ, xả” và nghiêm khắc với bản thân kể cả khi không có người giám sát. “Mười lăm năm ở chung với đám thợ săn chỉ ăn rau bên thịt.” Thái độ “ăn như thuốc chữa bệnh đói chứ không nhằm trang sức” được tuân thủ nghiêm ngặt. Thái độ ứng xử của Huệ Năng đối với Huệ Minh khi rượt đuổi cướp y bát, và khi Huệ Minh cầu pháp. Thái độ của Tổ Ưu Ba Cúc Đa đảnh lễ Thế Tôn, dù biết đây là Phật giả do đệ tử biến hóa. Những biểu hiện trên chứng minh tính ưu việt của pháp khí đại thừa. Do vậy sự tuyển chọn ngàn muôn lấy một cũng là lẽ đương nhiên.

  • ‘Thiền đốn ngộ’, tên này do người sau đặt ra cho những vị kiến tánh. Ở đây chữ thiền có gì đó chưa ổn, bởi đốn ngộ không có nghĩa thiền vì kiến tánh không do tu mà được. Được thì ngay đó liền được không đợi sát na, nếu có sát na thì chẳng được gọi là đốn.

Cũng như dây và rắn, trước dây chưa thành rắn, thì nay rắn cũng không trở lại dây. Còn nếu nói kiến tánh toàn thể là thiền, thì cụm từ ‘thiền đốn ngộ’ thừa một chữ như nói ‘sông Cửu Long giang’.

Ngũ Tổ bảo chúng: “Thấy thì thấy liền, không đợi suy nghĩ,” có nghĩa kiến tánh phi sát na. Kiến tánh đòi hỏi độ chính xác cực cao nên văn tự nói về cảnh giới này cũng cực kỳ chuẩn xác, không thiếu cũng không thể thừa, vì thiếu là nghĩa chưa đến, thừa là nghĩa phan duyên. Cho nên trong đoạn nói về thiền này tạm dùng từ kiến tánh để tránh ngộ nhận thiền đốn ngộ do tu thiền mà được và ngộ nhận kiến tánh là thấy Phật tánh.

Kinh Lăng Già Phật mô tả điều này như sau: “Đại Huệ! Như gương sáng đốn soi các sắc tượng,” có nghĩa đã đốn thì ngay đó là đốn, như gương sáng hiện hình không trải qua thời gian dù một sát na.

  • Kiến tánh có phải thấy Phật tánh không?

  • Kiến tánh và thấy Phật tánh là hai cấp độ tu hành cách nhau rất lớn trong Phật giáo. Thông thường khi nói kiến tánh người nghe sẽ hiểu là thấy Phật tánh, hiểu như vậy không sai nhưng chưa chính xác.

  • Kiến tánh là thấy được tánh thanh tịnh của vạn pháp, chứng căn bản trí. Thấy này tương đương với nhãn lực của Bồ Tát chứng pháp không hay còn gọi là pháp vô ngã.

Cơ bản sạch bốn tướng là cái thấy tương đương một Độc Giác Phật. Tức đã viên mãn phần giác, viên mãn giác gọi là Phật. Vì thế Độc Giác hay Bích Chi cũng được gọi là Phật. Muốn được danh hiệu Thế Tôn phải thấy Phật tánh để đủ phương tiện giáo hóa ba cõi vì thế danh xưng Thế Tôn do ba cõi ban tặng để nói lên công đức giáo dạy.

Cho nên cụm từ “kiến tánh thành Phật” hàm ý chỉ cái thấy đã hoàn toàn giác phần căn bản trí.

  • Thành Phật ở đây không có nghĩa thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu. Muốn đủ mười danh hiệu phải kiến Phật tánh, tức viên mãn nhất thiết chủng trí.

Kinh Đại Niết Bàn Phật nói: “Trước khi thọ thực thân Bồ Tát là nhục thân, sau khi thọ thực Bồ Tát nhập Kim Cang tam muội tiêu hóa thức ăn biến nhục thân thành Kim Cang thân, thấy Phật tánh chứng Vô Thượng Bồ Đề.”

  • Có thể hiểu ba thừa sau khi chứng nhân không được Niết Bàn thanh tịnh tâm, hết vô minh gọi là minh tâm. Sau đó phải chứng pháp không để làm sạch nguồn tâm, thấy tánh pháp giới thanh tịnh gọi là kiến tánh. Vì thế cụm từ “minh tâm kiến tánh ra đời.”

  • Sau khi tâm hết vô minh và hoàn toàn trong sạch, vị này mới học nhất thiết trí hay còn gọi là Bát Nhã trí như Thiện Tài Đồng Tử hay Tát Đà Ba Luân. Viên mãn nhất thiết trí vào đạo tướng trí, vị này mới thay đổi nhãn lực một lần nữa thấy hết thảy chúng sanh đồng có Phật tánh gọi là kiến Phật tánh.

Như thế có thể hiểu người tu hành có ba giai đoạn:

  1. Dùng phương tiện ba thừa để gọt sạch vô minh, thân chứng Niết Bàn gọi là minh tâm.

  2. Giác pháp vô ngã để thấy tự tánh thanh tịnh của vạn pháp gọi là kiến tánh.

  3. Viên mãn nhất thiết trí thấy chúng sanh có Phật tánh, biết rõ cách thức giáo hóa đẽo gọt một chúng sanh thành Phật.

Như người thợ điêu khắc thấy thánh tượng trong gốc cây và thiện xảo đẽo gốc cây thành tượng gọi là thấy Phật tánh.

  • Bồ Tát thập trụ có thấy Phật tánh nhưng rất lờ mờ, thấy Phật tánh rõ ràng phải là Bồ Tát hàng cửu địa trở lên.

  • Từ sơ địa đến bát địa thấy Phật tánh nhưng chưa viên mãn. Vì thế kinh gọi Bồ Tát cửu địa là “siêu nhân loại” ám chỉ cái thấy khác thường.

  • Sau khi thấy Phật tánh viên mãn mới nổi mây pháp, vì thế thập địa gọi là Pháp Vân địa. Bồ Tát Thường Bất Khinh trong Diệu Pháp Liên Hoa khi thấy Phật tánh bèn la lớn: “Tôi không dám khinh các ông, các ông sẽ là Phật.” Thấy Phật tánh là như vậy.

  • Ba lần thay đổi nhãn lực là ba lần chuyển nhãn lực từ pháp nhãn lên huệ nhãn rồi Phật nhãn. Nếu là Thanh Văn thì danh xưng ba nhãn là huệ nhãn, pháp nhãn, và Phật nhãn.

Sở dĩ có sự xáo trộn này vì Thanh Văn ban đầu dùng huệ trí ‘chứng giải thoát’ nên huệ nhãn có trước. Bồ Tát khai pháp nhãn thanh tịnh ‘chứng Niết Bàn’ nên pháp nhãn có trước. Và hai thừa này đồng tu hai thứ nhãn mà mình chưa có.

Ba lần thay đổi nhãn lực này tương ưng với ba lần chuyển pháp luân của Phật.

  • Lần chuyển thứ nhất tại vườn Lộc Uyển khiến chúng sanh biết đạo giải thoát.

  • Lần thứ hai khai Phật tri kiến trong Diệu Pháp Liên Hoa để làm sạch nguồn tâm học tri kiến Phật.

  • Lần thứ ba tuyên nói “hết thảy chúng sanh đồng có Phật tánh” để khiến Bồ Tát viên mãn Phật tánh.

Có thể hiểu kiến tánh là nhân, kiến Phật tánh là quả, vì chưa kiến tánh thì không thể thấy Phật tánh.

Đạo Phật còn có tên đạo giác ngộ, minh tâm kiến tánh để viên mãn phần giác, thấy Phật tánh là viên mãn phần ngộ. Vì thế Phật giáo có cụm từ “giác tánh viên mãn” và “thấy Phật tánh” không ai nói “giác Phật tánh” bao giờ.

  • Chữ ngộ có nghĩa gặp được, là thấy chứ không phải nghe nói mà biết, nghe nói mà biết gọi là giác. Thành ra hàng Bồ Tát thập địa khi thấy rồi tự được Phật pháp. Kinh Hoa Nghiêm Phật nói hàng này không do người dạy, gọi là tự nhiên trí hay vô sư trí.

Tóm lại ‘thiền đốn ngộ’ là loại thiền cực cao trong Phật giáo vượt ngoài ngôn giáo, cho nên thiền này lấy “bất lập văn tự” làm chỉ thú.

  • Bất lập văn tự là loại thánh ngôn lượng dùng để “dĩ tâm truyền tâm” nên còn gọi là “giáo ngoại biệt truyền.”

Trong bài viết này đề cập đến loại thiền này chỉ để tham khảo hơn là đào sâu ý nghĩa. Thật ra người tu hành đốn ngộ hay tiệm tu, hiểu kiến tánh là thấy Phật tánh hay khác không quan trọng.

Bởi lẽ trước khi Phật tuyên nói hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, cũng đã có vô số đệ tử chứng thánh, đâu nhất thiết đợi phải đốn ngộ hay kiến tánh mới tu được.

Vì thế đặt nặng những vấn đề như đốn ngộ, tiệm tu, hay kiến tánh sẽ không có lợi cho công việc làm sạch phiền não.

  • Hãy coi lại phiền não còn hay không mới quan trọng, còn vô minh và phiền não mà bàn đến chuyện kiến tánh thì hình như chưa phải lúc.

[[1]] Trích kinh Lăng Già –HT. Thích Thanh Từ dịch.

(còn nữa)

Subscribe to