Phần Cuối: Tâm Lãnh Chỉ Thú Của Đạo Là Như Thế Nào? (Trang 263 - Hết)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần cuối: Tâm lãnh chỉ thú của đạo là như thế nào? (Trang 263 - Hết)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Đạo Là Gì? Vì Sao Suy Nghĩ Tự Ngưng Bặt
Con đường của Lý Tứ và các bằng hữu của mình (tạm gọi là Lý Gia) đang đi, không phải là con đường do mình đặt ra, mà con đường này mình học từ kinh điển của Phật…
Các bạn !!!
Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả Lời kì này xin trả lời thắc mắc của hai bạn Nguyễn Trọng Ân và Lê Ngọc Tới !!! Đặc biệt, cả hai bạn nêu trên, mỗi người chỉ hỏi đúng một câu, hai câu hỏi như sau:
1) Câu hỏi của bạn Nguyễn Trọng Ân:
“Tôi thường theo dõi trang của Ngài và cũng đồng ý với cách giải thích rành mạch của Ngài. Không biết gọi bằng gì nên tôi tạm gọi Ngài là Ngài cho phải lẽ. Xin Ngài cho biết đạo (con đường) của Ngài là gì? Nó như thế nào? Những người đi theo Ngài đã và sẽ được gì? Có chắc là con đường của Ngài dẫn họ đi đúng hay không”? 03/05/2020 15:26:34 – Nguyễn Trọng Ân
2) Câu hỏi của bạn Lê Ngọc Tới:
“Đã lâu không có câu hỏi cũng nhớ Lý Gia.
Câu hỏi như sau.
Trong khi suy nghĩ tự nhiên ngưng bặt, khởi động lại suy nghĩ đó, nó lại tiếp tục ngưng lại lần nữa.
Có phải sự ngưng bặt đó là Trí Tuệ tự điều chỉnh không”? 04/05/2020 21:30:33 – Lê ngọc Tới
Hai bạn Nguyễn Trọng Ân và Lê Ngọc Tới thân mến !!! Mình xin lần lượt trả lời thắc mắc của từng vị, cụ thể như sau:
1) Câu hỏi của bạn Nguyễn Trọng Ân:
“Tôi thường theo dõi trang của Ngài và cũng đồng ý với cách giải thích rành mạch của Ngài. Không biết gọi bằng gì nên tôi tạm gọi Ngài là Ngài cho phải lẽ. Xin Ngài cho biết đạo (con đường) của Ngài là gì? Nó như thế nào? Những người đi theo Ngài đã và sẽ được gì? Có chắc là con đường của Ngài dẫn họ đi đúng hay không”?
Trả lời:
Lời đầu tiên, Lý Tứ xin cảm ơn đánh giá của bạn Nguyễn Trọng Ân về các giải thích vừa qua !!! Chuyện xưng hô như thế nào, Lý Tứ không quan trọng…Ngài, bướm, thầy, mày…v..v…chỉ là danh xưng thông qua mối quan hệ xã hội, bản thân Lý Tứ không quan tâm !!! Bạn thích thế nào, cứ gọi thế ấy !!!
Về thắc mắc của bạn:
A- “Xin Ngài cho biết đạo (con đường) của Ngài là gì? Mình xin được trả lời như sau:
* Con đường của mình và các bằng hữu của mình (tạm gọi là Lý Gia) đang đi, không phải là con đường do mình đặt ra, mà con đường này mình học từ kinh điển của Phật… Sau khi dấn thân trên con đường ấy, bản thân thấy nhiều lợi ích cũng như đạt được các mục tiêu do Phật đạo đề ra !!! Từ đó, mình chia sẻ lợi ích của con đường này đến những người thân quen và những ai có ham thích như mình !!! Về tên gọi là gì? Cho đến giờ này, mình và các bằng hữu không đặt tên riêng, chỉ gọi nôm na là Phật đạo, tức con đường Phật vẽ ra cho bọn mình đi theo !!!
* Về câu hỏi “Nó như thế nào”? Mình xin trả lời vắn tắt như sau: Con đường đó có bốn bước !!!
– Bước thứ nhất: Dắt người ra khỏi thế gian pháp… Tương đương Khổ Đế trong Tứ Đế !!!
– Bước thứ hai: Thành tựu vô lậu tâm và đạo quả xuất thế… Tương đương Tập Đế và Diệt Đế trong Tứ Đế !!!
– Bước thứ ba: Học trí tuệ, để thành tựu đạo quả xuất thế gian thượng thượng… Tương đương Đạo Đế trong Tứ Đế !!!
– Bước thứ tư: Quay trở lại thế gian và tiếp tục dắt người đi ba bước trước…Tương đương Đẳng Giác và Diệu Giác !!!
B- Bạn hỏi: “Những người đi theo Ngài đã và sẽ được gì”? Mình xin trả lời câu hỏi này như sau: Như những gì đã giải thích ở phần A… Những người đi theo mình, tuỳ vào từng bước họ đã đi:
– Nếu người ấy đi xong bước thứ nhất: Sẽ thoát khỏi phần lớn tám món khổ nhân sinh là: Sinh; Lão; Bịnh; Tử; Ái biệt li; Cầu bất đắc; Oán tắng hội; Ngũ ấm xí thịnh !!!
– Nếu người ấy đi hết bước thứ hai: Tâm thức sẽ không còn phiền não, kiết sử, lậu hoặc (gọi chung là thành tựu Vô Lậu Quả)… Sau đó thấy được Bổn Tâm; Bổn Tánh (gọi chung là minh tâm kiến tánh) !!!
– Nếu người ấy tiếp tục đi hết bước thứ ba: Trí tuệ sẽ được khai mở để học tập các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của chư Phật, gọi nôm na là học Nhất Thiết Trí !!! Thành tựu Hữu Sư Trí !!!
– Cuối cùng, bước thứ tư: Vị này phát đại tâm, làm công hạnh… Khi nào đủ duyên, sẽ thấy Phật tánh, tự chứng Vô Sư Trí !!!
C- Bạn hỏi: “Có chắc là con đường của Ngài dẫn họ đi đúng hay không”? Về câu hỏi này, mình xin thưa như sau: Đúng hay không đúng không phải do con đường, mà do mục tiêu của người đi đặt ra !!!
– Người nào đặt ra một hay bốn mục tiêu như đã nêu ở trên, con đường này là con đường đúng với người ấy… Vì rằng, bốn bước nêu trên, đáp ứng một hoặc bốn mục tiêu của họ đặt ra…!!!
– Người nào đặt những mục tiêu cho mình, mà các mục tiêu ấy không gồm bốn bước nêu trên… Con đường này nhất định sai với họ…!!!
Tóm lại, đúng hay sai, ma hay Phật…v..v…không phải do con đường !!! Bởi tự mỗi con đường luôn không tánh, tức không có tánh chất của đúng hay sai, của ma hay Phật !!! Ví dụ: Một người muốn học nghề kim hoàn mà đi đến lò rèn chuyên rèn dao kéo để học, con đường họ học sẽ sai với tâm nguyện và mục tiêu họ đề ra !!! Còn người thích học làm dao kéo thì, lò rèn chính là con đường dẫn họ đi đúng hướng !!!
2) Câu hỏi của bạn Lê Ngọc Tới:
“Đã lâu không có câu hỏi cũng nhớ Lý Gia.
Câu hỏi như sau.
Trong khi suy nghĩ tự nhiên ngưng bặt, khởi động lại suy nghĩ đó, nó lại tiếp tục ngưng lại lần nữa.
Có phải sự ngưng bặt đó là Trí Tuệ tự điều chỉnh không”?
Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
Câu hỏi của bạn không rõ ràng, tức bạn không nêu hoàn cảnh nào thì sự ngưng bặt xảy ra cũng như trước đó bạn đã làm gì để hôm nay có hiện tượng ấy nên rất khó trả lời !!! Tuy nhiên, mình cũng xin “đoán mò” ý của bạn và trả lời như sau:
Theo mình biết, phần lớn người tu hành nếu thường xuyên dùng một sở pháp để điều phục ý thức, sau một thời gian dụng công, hay xảy ra trạng thái ý thức (nghĩ suy) bỗng dưng ngưng bặt !!! Khi gặp trạng thái này, người ấy cảm thấy “đầu óc trống rỗng” một thời gian ngắn… Muốn suy nghĩ trở lại, phải khởi động não bộ !!!
Bạn hỏi trạng thái này có phải trí tuệ tự điều chỉnh hay không ???
Trạng thái ý thức ngưng bặt không phải là trí tuệ tự điều chỉnh, mà nó là kết quả như đã trình bày ở trên, tức ý thức bỗng dưng bị “phanh” do thói quen của việc “dụng công có chủ ý trước đó” !!! Ta có thể hiểu điều này qua ví dụ sau: Giống như những người huấn luyện thú để làm xiếc, họ thường bắt con thú làm theo ý của mình và thưởng cho nó thức ăn… Sau một thời gian, con thú đã quen với tập tính mới, trong quá trình làm xiếc, con thú tự ngưng hoạt động khi đang làm xiếc, chừng nào người huấn luyện thưởng cho nó thức ăn, nó sẽ tiếp tục làm theo ý người huấn luyện !!!
Ý thức con người cũng như thế, khi ta thường xuyên bắt nó dừng lại bằng một sở pháp… Ý thức quen với thói quen này, trong một tình huống bất ngờ nào đó, ý thức tự dừng theo “lối mòn” đã được huấn luyện do dụng công trước đó !!! Trên đây chỉ là trả lời theo kinh nghiệm cá nhân của mình…Không biết có đúng với câu hỏi của bạn Lê Ngọc Tới hay không ??? Cảm ơn bạn đã không quên Lý Gia !!!
Chúc bạn Nguyễn Trọng Ân, Lê Ngọc Tới cùng tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
11/05/2020
LÝ TỨ

Lặng Lẽ - Quan Sát - Không Kết Luận
Để giúp huynh đệ thay đổi nhãn lực, thành tựu trí tuệ…Một phương châm tu học khác có tính chất nâng cao, nhưng mang tính kế thừa từ hai nền tảng cốt lõi trước…Đó là, “lặng lẽ quan sát không kết luận”
Các bạn !!!
Thật bất ngờ !!! Tuần vừa qua, mình nhận được một số câu hỏi cũng như một đoạn tâm sự từ ba bạn đọc… Các câu hỏi cùng đoạn tâm sự của những bằng hữu có đường lối tu học khác nhau, nhưng tất cả đều quan tâm đến chủ đề LẶNG LẼ QUAN SÁT !!! Và, những thắc mắc của các bạn ấy đều gởi đến mình thông qua tin nhắn, chứ không thông qua đường link của chuyên mục như thường lệ !!!
Mặc dù, khi nhận được các câu hỏi, mình đã trả lời riêng cho từng vị qua messenger…Nhưng, xét thấy đề tài “Lặng Lẽ Quan Sát” được đông đảo bạn đọc quan tâm…Vì thế, mình đưa những thắc mắc ấy trở thành trả lời chung cho chuyên mục kì này !!!
Để bảo đảm tính riêng tư của người hỏi, chuyên mục kì này mình không nêu tên tác giả câu hỏi…Đồng thời, sẽ tóm tắt những ý chính rồi trả lời chung cho mọi người !!! Những ý chính từ các câu hỏi như sau:
1) Tôi đã ứng dụng phương pháp “lặng lẽ quan sát” vào đời sống, nhưng không thành công !!! Xin chỉ rõ phương pháp này ứng dụng như thế nào mới đưa đến thành công ???
2) BQT có thể chia sẻ kinh nghiệm về việc thực hành “lặng lẽ quan sát” ???
3) Xin cho biết sự khác biệt giữa “lặng lẽ quan sát không kết luận” của Lý Gia… Và, “lặng lẽ quan sát, không dán nhãn, không kết luận” do thầy của tôi (LT xin giấu tên) dạy chúng tôi thời gian gần đây !!!???
Bạn đọc thân mến !!!
Trước khi trao đổi cụ thể những thắc mắc trên, mình xin khái quát về hoàn cảnh ra đời và phương pháp ứng dụng phép “lặng lẽ quan sát” của Lý Gia !!!
I- TỔNG QUAN
Cách đây trên mười năm, để giúp HĐ Lý Gia dùng Tứ Gia Hạnh bảo vệ thành quả tu tập… Mình đã yêu cầu các HĐ của mình thực hành phương châm “sống lặng lẽ” !!! Mục đích của yêu cầu này, nhằm khuyến khích các HĐ tránh những tác động ngoại duyên không cần thiết đối trước thấy nghe !!! Đây chỉ là một trong những yêu cầu mang tính nghiệp vụ, giúp các bạn ấy tự hộ trì và tự yểm ly tâm thức !!!
Sau khi vị HĐ này đã hoàn thành công việc tự hộ trì và tự yểm ly…Một yêu cầu khác cao hơn, dựa vào nền tảng cốt lõi của yêu cầu trước được đưa ra nhằm giúp vị này thấy được điều cần thấy đó là “lặng lẽ quan sát” !!!
Và, cuối cùng, để giúp HĐ thay đổi nhãn lực, thành tựu trí tuệ…Một phương châm tu học khác có tính chất nâng cao, nhưng mang tính kế thừa từ hai nền tảng cốt lõi trước…Đó là, “lặng lẽ quan sát không kết luận” được yêu cầu các HĐ Lý Gia thực hiện !!!
Từ đây, phương châm thực hành “lặng lẽ quan sát không kết luận” trở thành câu nói cửa miệng của hầu hết HĐ Lý Gia… Và, phương châm này, được đề cập trong rất nhiều bài viết của mình, cũng như được mổ xẻ trong hầu hết các buổi thảo luận của HĐ Lý Gia !!!
II- Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC VÀ SỰ KHÁC BIỆT CỦA BA PHƯƠNG CHÂM: LẶNG LẼ SỐNG – LẶNG LẼ QUAN SÁT – LẶNG LẼ QUAN SÁT KHÔNG KẾT LUẬN
II.1- Lặng lẽ sống: Từ một “phàm phu vô văn” (khái niệm trong Phật đạo nhằm chỉ cho người tu hành chưa giác ngộ) sau khi được trang bị những kiến thức cơ bản của Phật đạo… Người ấy bắt đầu có những “thay đổi cơ bản về nhận thức” !!!
Từ những thay đổi cơ bản về nhận thức, nếu xét thấy cơ duyên đã đến… Vị HĐ này sẽ được khai thị để có được giác ngộ ban sơ (ta tạm gọi là sơ ngộ) !!! Để trưởng dưỡng hạt giống hay cái phôi giác ngộ ban sơ, người ấy phải ứng dụng triệt để Tứ Gia Hạnh vào đời sống tu hành để giúp hạt giống, cái phôi này thành quả !!! Giống như con gà ấp trứng đến khi nở ra con mới thôi !!!
Muốn ứng dụng thành công Tứ Gia Hạnh !!! Yểm ly tâm thức để tránh những tác động ngoại duyên không mong muốn làm hư cái phôi ấy, là việc làm bắt buộc… Phương châm “sống lặng lẽ” thực chất là cách ứng dụng khác của phép Xa Ma Tha xuất thế !!!
Mọi người biết rằng, từ một phàm phu vô văn muốn hoàn thành đạo lộ của bậc hữu học…Người này phải thấu suốt ba học pháp vô lậu (gọi là Tam Vô Lậu Học) và để tiếp nối hành trình tu học, vị đó phải được khai thị để thành tựu sơ ngộ (nếu Nhị thừa là hướng Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn và các quả vị hữu học tiếp theo) !!!
Khi tâm thức được soi sáng bởi ngọn đuốc sơ ngộ, người này mới có thể ứng dụng phép Xa Ma Tha xuất thế !!! Vì thế, vị sơ ngộ khi nghe khẩu quyết “SỐNG LẶNG LẼ”… Vị ấy hiểu ngay ý nghĩa đích thực của khẩu quyết này là gì, và phép tắc ứng dụng như thế nào !!!
Nếu chưa thấu suốt ba học pháp vô lậu, chưa được khai ngộ, chưa đặt chân vào “ĐẠO LỘ CỦA BẬC HỮU HỌC” (tức còn ở địa vị phàm phu vô văn), khi nghe câu “sống lặng lẽ” nhất định người ấy không hiểu hết ý chỉ của câu nói đó, và không thể ứng dụng nhuần nhuyễn tính cách lặng lẽ vào đời sống !!! Đây là lí do vì sao các bạn nêu lên thắc mắc: “Cũng tập lặng lẽ quan sát mà không thành công” !!!
Vị tu hành chuyển giai đoạn từ phàm phu vô văn sang đạo lộ bậc hữu học, giống như nước đục đã được lóng phèn…Xa Ma Tha xuất thế, chính là phương pháp không khuấy động (sống lặng lẽ) giúp nước đục mau chóng trở thành nước trong được xúc tác bởi thứ phèn giác !!!
II.2: Lặng lẽ quan sát:
Đạo lộ của bậc hữu học của Nhị thừa có bảy giai đoạn, đó là: Hướng Tu Đà Hoàn đến hướng A La Hán Quả !!! Đạo lộ của bậc hữu học thuộc Bồ Tát thừa có hai giai đoạn gồm: Phát tâm Bồ Đề, phục tâm Bồ Đề (tương đương Sơ phát tâm trụ đến Phương tiện cụ túc trụ) !!!
Để giúp người tu hành hoàn thành “đạo lộ hữu học”, chuẩn bị bước vào cảnh giới vô học của đạo quả xuất thế… Một trong những yêu cầu bắt buộc, người này phải quan sát tự tâm !!! Quan sát tự tâm trong hoàn cảnh này, giống như sau khi lóng phèn, nước đục đã biến thành nước trong… Một người mắt sáng, đứng trước nguồn nước trong ấy, người mắt sáng có thể quan sát xuyên qua nguồn nước để thấy rõ những gì dưới đáy hồ và cảm nhận các tính chất đặc thù của một hồ nước trong !!!
Yêu cầu “lặng lẽ quan sát” trong thời điểm này, tức trước khi được khai ngộ lần thứ hai để thấy được bổn tâm bổn tánh (minh tâm kiến tánh), chính là một trong những cách ứng dụng phép Tỳ Bà Xá Na xuất thế !!!
Vì thế, một người chưa bước những bước cuối cùng của đạo lộ hữu học… Nhất định sẽ không thể tiếp nhận khẩu quyết “lặng lẽ quan sát” và nhất định cũng không thể ứng dụng yêu cầu kĩ thuật thuộc loại nâng cao này vào đời sống !!!
Vì rằng, tâm thức của một người chưa giác ngộ, chưa hoàn thành đạo lộ của bậc hữu học giống như một nguồn nước bị vẩn đục do nhiễm ô nặng nề, vừa bị gió cảnh thổi gây nên trùng trùng sóng mòi… Một tâm thức như vậy, không thể lặng yên, cũng không thể quan sát những gì phía dưới lớp nước đục ấy !!! Đây là lí do vì sao các bạn nêu lên thắc mắc: “Cũng tập lặng lẽ quan sát mà không thành công” !!!
Tóm lại, “lặng lẽ quan sát” trong giai đoạn này, chính là một trong những biến thể của phép Tỳ Bà Xá Na xuất thế… Giúp người tu hành hoàn thành đạo lộ hữu học để có thể “minh tâm kiến tánh” và thành tựu đạo quả vô học của cảnh giới xuất thế !!!
Đây là hình ảnh một nguồn nước đã trong (tinh), nhưng còn một số mầm bệnh tiềm ẩn… Để giúp nguồn nước này sau khi đã trong còn phải làm cho sạch !!! Lặng lẽ quan sát chính là một trong những hình thức dùng “tương tợ Bát Nhã” (thuật ngữ kinh Bát Nhã) để sạch hoá nguồn tâm (khiết)… Đạo quả vô học hay cảnh giới xuất thế chính là thứ nước vừa trong vừa sạch (vừa tinh vừa khiết) được tinh khiết hoá bằng công nghệ Bát Nhã !!! Các bạn có thể tìm thấy phương pháp tinh khiết hoá này được mô tả trong kinh Đại Bát Nhã khi Phật thuyết cho các Bồ Tát quyền thừa và Nhị thừa, kinh gọi là tương tợ Bát Nhã !!! “Tương tợ Bát Nhã” hoàn toàn không giống “Bát Nhã chơn thiệt” khi Phật thuyết cho các Đại Bồ Tát !!!
II.3- Lặng lẽ quan sát, không kết luận:
Sau khi hoàn thành đạo quả vô học thuộc cảnh giới xuất thế… Để giúp vị tu hành này “mọc mầm trí tuệ”, một yêu cầu khác cao cấp và chuyên nghiệp hơn được đưa ra, đó là “LẶNG LẼ QUAN SÁT, KHÔNG KẾT LUẬN” !!!
Như mọi người đều biết, trí tuệ của Phật đạo là môn học đặc thù của Đạo Đế, gồm tám môn học là, Thấu thị môn, thẩm sát môn…v..v…tương ưng với Chánh kiến, Chánh tư duy…Muốn học các môn học này, người ấy phải khai phát mầm trí tuệ !!!
Để khai phát mầm trí tuệ, những việc căn bản phải thực hiện là: Dùng Tam Muội Giác Gia Trì để gia trì; Thấy thiệt tướng của tâm thức; Thiệt tướng các pháp và Thiệt tướng thế giới !!! Thiệt tướng siêu quá nhãn lực của Nhục nhãn, Thiên nhãn và Pháp nhãn… Vì thế, việc khai Huệ nhãn trong giai đoạn này là không thể thiếu !!! Huệ nhãn tuy siêu quá cái thấy của ba nhãn trước, nhưng cũng không rời cái thấy của ba nhãn trước… Cho nên yêu cầu “KHÔNG KẾT LUẬN” là yêu cầu quan trọng để mầm trí tuệ hình thành qua con đường Trung Đạo !!!
Thật ra, Trung Đạo chính là sự tìm thấy chân lí ngay nơi hữu và vô (thế gian và xuất thế) !!! Có nghĩa Trung Đạo không lìa hữu, chẳng trụ vô… Ở nơi hữu mà chẳng kẹt hữu, ở nơi vô mà chẳng kẹt vô !!! Nói khác hơn, hữu vô đồng vô…và hữu vô cũng phi hữu phi vô !!! Các bạn có thể tìm thấy cách giải quyết thú vị này của Thế Tôn trước 108 câu hỏi của Bồ Tát Đại Huệ (Đại Huệ là Bồ Tát thông thuộc Đại thừa) trong kinh Lăng Già !!!
Như vậy có thể thấy, lặng lẽ quan sát không kết luận là một loại hình thực hành cấp cao để giúp “tâm trí quân bình chỉ quán” !!! Hệ quả của “quân bình chỉ quán” chính là hành hoạt thuần khiết của Thiền Na xuất thế…Thiền Na xuất thế hoàn toàn không giống Ngu phu sở hành thiền, Phan duyên như thiền và Quan sát nghĩa thiền !!! Thiền Na xuất thế, thực chất là thứ Thiền Na được mô tả trong kinh Viên Giác, hay Như Lai thiền mô tả trong kinh Lăng Già !!! Đây là loại thiền vừa mang tính chất một Tam Muội Môn của trí tuệ, vừa mang tính chất một Giải Thoát Môn của Phật tâm tông !!!
III- Kết luận:
LẶNG LẼ – QUAN SÁT – KHÔNG KẾT LUẬN là một tổ hợp tự nhiên được hình thành bởi ba tầng giác ngộ như pháp được mô tả từ các phần trên… Nó chính là sự kết hợp siêu thắng của ba pháp Xa Ma Tha xuất thế, Tỳ Bà Xá Na xuất thế và Thiền Na xuất thế !!!
“Lặng lẽ, quan sát, không kết luận” là những gì cô đọng nhất từ quy trình học tập của HĐ Lý Gia hơn 10 năm qua !!! Mà, đã là quy trình học tập, nhất định nó phải được xây dựng từ kiến thức chuẩn, thông hiểu, phương thức tiếp cận thông qua khai thị và sự ứng dụng hoàn hảo !!!
Vì thế, một người nào đó chỉ đơn thuần nghe nói “lặng lẽ quan sát không kết luận” mà không từng được học tập để kinh qua những bước kể trên, thất bại trong việc thực hành là điều hiển nhiên !!! Điều này giống như người mù nghe người sáng nói: “Âm thầm vượt qua bên kia sông là bình yên”… Người mù chưa được chữa sáng, chưa được học bơi…v..v… vội vàng lao xuống sông… Nhất định kẻ ấy sẽ phải chết chìm, làm mồi cho Hà Bá trước khi đến được vùng đất yên bình !!!
Hơn mười năm qua, là những chuỗi ngày toàn bộ HĐ Lý Gia học tập không ngừng nghĩ… Mỗi giai đoạn học tập, được trang bị những kiến thức tương ưng, dùng kiến thức đã học ứng dụng vào đời sống… Trong từng mỗi giai đoạn, để dễ nhớ, dễ thực hành, khẩu quyết LẶNG LẼ – QUAN SÁT – KHÔNG KẾT LUẬN được nêu lên… Khẩu quyết này bao gồm những gì được coi là tinh tuý nhất, cô đọng nhất của Phật đạo, đã giúp mọi người trong Lý Gia lần lượt thành tựu những điều cần thành tựu trong giáo pháp !!!
Về thời gian !!! Cũng ba giai đoạn ấy, cũng ba khẩu quyết ấy… Có người phải vất vả nhiều năm, có người vừa nghe qua liền thành tựu !!! Phật đạo không luận lâu mau !!! Tất cả đều tuỳ thuộc vào công đức lực của từng người !!!
Bạn đọc thân mến !!!
Những gì vừa trình bày ở trên, khi đọc xong, nhất định các bạn có thể tự trả lời các thắc mắc của bản thân về việc ứng dụng khẩu quyết “lặng lẽ quan sát không kết luận” của Lý Gia !!! Và chắc chắn các bạn cũng nhận ra “kinh nghiệm” của việc thực hành này là gì !!!???
Riêng về câu hỏi thứ 3: Xin cho biết sự khác biệt giữa “lặng lẽ quan sát không kết luận” của Lý Gia… Và, “lặng lẽ quan sát, không dán nhãn, không kết luận” do thầy của tôi dạy chúng tôi thời gian gần đây !!!??? Mình xin góp một vài ý nhỏ như sau:
Phật đạo là lương dược trị tâm bệnh !!! Muốn trị được bệnh, muốn làm thầy thuốc phải rành y học… Muốn rành y học phải được học tập từ một trường chuyên về y khoa !!! Nếu chỉ lượm lặt vài ba toa thuốc, xào nấu lung tung, thêm mắm dặm muối, rồi mở phòng mạch trị người !!! Nói theo kiểu dân gian: “Hiểu biết như rứa, anh ni chữa trâu cũng chết” !!!
Câu “lặng lẽ quan sát, không dán nhãn, không kết luận” mới nghe có vẻ có lí… Nhưng nhìn chung, câu này phạm nhiều sai lầm thuộc đệ nhất nghĩa cần coi lại…!!!
Không dãn nhãn là lời khuyên dành cho phàm phu vô văn… Phàm phu vô văn được khuyên không dãn nhãn để đừng sinh tâm lung tung… Khuyên như vậy đến khi nào họ thực hiện xong việc không dãn nhãn, tạp tâm không còn hiện bởi danh tướng thế gian, mới có thể giúp họ lặng lẽ bước vào đạo lộ hữu học !!! Sự chống trái, đặt lộn lạo các khái niệm trong một trình tự giáo dục như trên, cho thấy câu nói này có vấn đề từ người nói !!! Sự lộn xộn, chống trái ở câu nói ấy, giống như thầy giáo tuyên bố: “phải biết làm văn rồi mới học chữ”… !!! Tuyên bố như thế, chẳng khác gì lấy dây thắt họng (cổ) học trò mong cho nó sớm…thành…tài !!!
Các bạn !!!
Bài viết cũng đã dài !!! Lại thêm một phần khó hiểu vì mang tính chuyên môn kĩ thuật !!!
Phật đạo là con đường có nhiều hoa, đầy đủ sắc hương !!! Sắc và hương trong vườn hoa Phật đạo chính là những triết lí, khoa học, mĩ thuật và kĩ thuật hoà quyện cùng nhau để tạo nên nét đặc thù riêng của giáo pháp…!!! Vì thế, khi luận về các vấn đề ấy, khó hiểu là điều tự nhiên đối với những ai chưa từng hoặc ít khi tiếp cận triết lí, khoa học, mĩ thuật và kĩ thuật của Phật đạo !!!
Thói quen hiểu chung chung, kết luận chung chung của một số người cũng sẽ trở trở thành khó hiểu khi đọc các bài luận khúc triết, mang nặng tính chất kĩ thuật của Phật đạo !!!
Sự đời là như vậy !!!
Phật đạo chẳng giống sự đời cũng là như vậy !!!
Chúc tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
04/05/2020
LÝ TỨ

Phần 20: Nhận Biết Vô Minh Trụ Địa, Tám Tính Chất Thường Hằng Của Phật Tánh Như Thế Nào? Kiến Giải, Giác Trí, Huyễn Trí, Thật Trí Giác Ngộ Diệt Đế, Thành Tựu Hai Vô Ngã Là Gì? Vì Sao Nói Rằng Bất Thức Học Pháp Vô Ích? (Trang 250 - 262)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 20: Nhận biết vô minh trụ địa, tám tính chất thường hằng của Phật tánh như thế nào? Kiến giải, giác trí, huyễn trí, thật trí giác ngộ diệt đế, thành tựu hai vô ngã là gì? Vì sao nói rằng bất thức học pháp vô ích? (Trang 250 - 262)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Độc Giác - Bích Chi - Duyên Giác
Độc giác là những vị tu hành, chứng quả Bích Chi vào thời kì không có Phật cũng như Phật pháp. Có nghĩa rằng, ở một châu kỉ (kỉ nguyên) nào đó, trong lúc châu kỉ đó không có Phật ra đời để giảng nói Phật pháp, cũng không có Phật pháp lưu truyền trong nhân gian
Các bạn !!!
Chuyên mục Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả Lời kì này, mình xin được trả lời những thắc mắc của bạn Nguyên Hương ở Đồng Nai !!! Nội dung Nguyên Hương hỏi như sau:
“Thưa Thầy Lý Tứ và BQT Lý Gia!
Tôi là Nguyên Hương, 58 tuổi hiện ở tại Đồng Nai. Tôi hân hạnh biết đến nhóm Lý Gia cách đây nửa năm, do một người bạn ở Bình Dương giới thiệu.
Từ đó đến nay, tôi theo dõi thường xuyên trang của Thầy và sinh hoạt của ace nhóm Lý Gia. Tôi rất ngưỡng mộ cách học tập của ace trong nhóm do Thầy hướng dẫn, cũng như các bài biết của họ. Ở Đồng Nai chúng tôi cũng có một nhóm trên mười người cùng tự nghiên cứu Phật pháp và tự tu tập.
Trước đây chúng tôi đọc nhiều tài liệu cũng như kinh điển nhà Phật, nhưng thường không thống nhất ý kiến do hiểu mù mờ, mạnh ai nấy hiểu, mỗi người hiểu một cách. Nhưng từ ngày biết đến trang của Thầy cùng các giải đáp thắc mắc, chúng tôi dần dần sáng tỏ nhiều điều, nhóm của chúng tôi cũng tập tành tu học theo cách Lý Gia và kết quả tốt lên thấy rõ, nhất là bất đồng quan điểm trong nhóm không còn nhiều như trước, do nhờ không chạy theo văn tự cũng như không chạy ra bên ngoài để nhìn ngó người khác hay lấy Phật pháp giải thích theo nghĩa thế gian, điều gì biết rõ thì nói, điều gì chưa biết tìm học chứ không đao to búa lớn một cách rỗng tuếch như trước.
Có thể nói, nhóm chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào cách giải thích có tình có lý và rất khoa học của Thầy, theo chúng tôi giải thích như Thầy mới là Phật pháp chân chánh. Chúng tôi chân thành cảm ơn Thầy cũng như ace trong Lý Gia, mong ước có ngày được hội ngộ những con người bằng xương bằng thịt đó để xin được chỉ giáo. Chúng tôi cũng đã có ba cuốn sách Tâm Pháp, Vô Đối Môn, Phật Giáo và Thiền của Thầy, anh em chúng tôi chia nhau đọc, mọi người trong nhóm rất quý sách của Thầy, hầu hết anh em đọc xong đem cất nơi trang trọng nhất.
Hiện tại, thay mặt anh em trong nhóm, mong được Thầy giải đáp một số câu hỏi mà mọi người trong nhóm chúng tôi chưa thống nhất ý kiến.
1) Chúng tôi đọc kinh sách, thấy có nói đến Duyên Giác, Bích Chi, Độc Giác. Nhưng không phân biệt được những vị ấy tu như thế nào mà thành, họ tu có giống nhau không?
2) Trong nhóm chúng tôi chia thành hai phe, một phe cho rằng mình tự tu, không có Thầy hướng dẫn, gọi là tu theo hạnh Độc Giác. Còn phe kia thì hiểu khác, họ bảo Độc Giác là người tu theo hạnh một mình, không có bè bạn. Xin Thầy giải thích dùm.
3) Khi nào có dịp lên Đồng Nai, Thầy có thể cho nhóm chúng tôi gặp được không. Chúng tôi rất ngưỡng mộ Thầy. Số ĐT của nhóm….xxxxxx278 gọi Nguyên Hương. Trân trọng cảm ơn Thầy và ace nhóm Lý Gia”. 20/04/2020 10:20:17 – Nguyên Hương.
Nguyên Hương và các bạn trong nhóm thân mến !!!
Lời đầu tiên, xin thay mặt tất cả HĐ Lý Gia, chân thành cảm ơn những tình cảm tốt đẹp mà các bạn đã dành cho mình cũng như HĐ Lý Gia !!!
Khi nào có dịp lên Đồng Nai, nhất định mình sẽ gọi cho Nguyên Hương… Đồng thời “trân trọng kính mời” tất cả các bạn trong nhóm, một chầu cà phê linh đình và bữa cơm chay đạm bạc để tỏ chút lòng tri ngộ giữa Lý Tứ cũng như HĐ Lý Gia với Nguyên Hương cùng nhóm của bạn !!!
Về hai câu hỏi còn lại, mình xin được trả lời như sau:
1) Chúng tôi đọc kinh sách, thấy có nói đến Duyên Giác, Bích Chi, Độc Giác. Nhưng không phân biệt được những vị ấy tu như thế nào mà thành, họ tu có giống nhau không?
Trả lời:
* Độc Giác: Hay Độc giác Phật (chữ Hán: 獨覺佛) là danh xưng để chỉ cho các vị thành tựu quả vị Bích-chi Phật (Devanagari: प्रत्येक बुद्ध; pratyeka-budhha; pacceka-buddha; chữ Hán: 辟支佛).
Độc giác là những vị tu hành, chứng quả Bích Chi vào thời kì không có Phật cũng như Phật pháp. Có nghĩa rằng, ở một châu kỉ (kỉ nguyên) nào đó, trong lúc châu kỉ đó không có Phật ra đời để giảng nói Phật pháp, cũng không có Phật pháp lưu truyền trong nhân gian. Có những người chán cõi thế, từ bỏ nhân gian, một mình lên tận rừng sâu núi thẳm hay đảo hoang, do vô tình vị ấy giác ngộ sự vắng lặng của tâm thức, thoát ra khỏi mọi cột buộc !!!
Chính sự giác ngộ do vô tình này… Vì thế, các Độc Giác Phật hay còn gọi là Bích Chi Phật không thể thuyết Phật pháp để độ người như những người giác ngộ từ kinh sách do chư Phật để lại !!! Quả chứng của Độc Giác Phật tương đương với Bát Địa Bồ Tát… Công đức lớn hơn, trí chứng sâu hơn quả A La Hán của Nhị Thừa… Nhưng, thấp hơn Cửu Địa Bồ Tát (Thiện Huệ Địa) về mọi phương diện !!!
Về cách tu tập của một Độc Giác… Theo mình, sở dĩ Độc Giác chứng được quả Bích Chi là do vô tình, vị ấy thực hiện đúng hai điều căn bản để đưa đến giác ngộ trong Phật đạo là:
– Vô tình thành tựu việc rời bỏ cộng nghiệp: Các vị Độc Giác từ bỏ tất cả những gì có liên hệ đến cộng nghiệp… Đi thẳng đến nơi không có sự hiện hữu của các pháp từ cộng nghiệp thế gian như rừng sâu, núi thẳm, đảo hoang !!! Chính sự từ bỏ này, hình thành môn giải thoát đầu tiên trong tâm thức vị ấy !!!
– Vô tình thành tựu việc rời bỏ biệt nghiệp: Thái độ ra đi không chủ đích của vị ấy, không đặt nặng chuyện sống chết, không mong cầu tự thân sinh tồn, cũng không mong cầu huỷ diệt tự thân (như người chán đời hay các ngoại đạo ra đi có chủ đích)… Đã vô tình khiến tâm thức vị ấy thành tựu giải thoát môn thứ hai !!!
Trong vô tình, sự ra đi không chủ đích đã giúp vị ấy thành tựu hai giải thoát môn thứ nhất và thứ nhì là Vô Tướng Giải Thoát Môn và Vô Nguyện Giải Thoát Môn… Đến khi công đức hội đủ, khi nhìn thấy sự luân chuyển của thế giới và nhận ra tác động của sự luân chuyển ấy đối với tâm thức nhân sinh thông qua các duyên hoà hiệp… Giải thoát môn thứ ba là Không Giải Thoát Môn sẽ tự thành tựu !!!
Tóm lại, Độc Giác Phật chính là vị vô tình thành tựu Tam Giải Thoát Môn của Phật đạo vào thời không có Phật và Phật pháp !!!
* Duyên giác Phật (chữ Hán: 緣覺佛): Là thuật ngữ để chỉ cho những người tu tập trong Phật đạo… Nhờ quán thông suốt Thập Nhị Nhân Duyên mà giác ngộ !!!
Các bậc chứng quả Duyên Giác Phật, là những người tu hành trong thời kì có Phật pháp… Họ được Phật, Bồ Tát giáo huấn hay tự tụng đọc kinh điển rồi giác ngộ… Quả chứng của những vị này cũng gọi là Bích Chi Phật Quả, tương đương với Độc Giác Phật !!!
Phần lớn người tu hành thường nhầm lẫn Độc Giác và Duyên Giác là một !!! Thật sự, hai thừa này có cùng một quả chứng là Bích Chi Phật… Nhưng, hoàn cảnh tu tập và cách thức tu tập hoàn toàn khác nhau !!! Một bên ra đời vào thời kì không có Phật và Phật pháp !!! Một bên được học tập Phật pháp hẳn hoi [có thể do đọc và học từ kinh điển rồi tự thành] !!!
2) Trong nhóm chúng tôi chia thành hai phe, một phe cho rằng mình tự tu, không có Thầy hướng dẫn, gọi là tu theo hạnh Độc Giác. Còn phe kia thì hiểu khác, họ bảo Độc Giác là người tu theo hạnh một mình, không có bè bạn. Xin Thầy giải thích dùm.
Nguyên Hương và các bạn thân mến !!!
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta thử tìm hiểu xem, một đức Phật có bao nhiêu cách giáo hoá trong châu kỉ (kỉ nguyên) của đức Phật đó !!!???
Mọi người đều biết, một Đẳng Chánh Giác luôn luôn có đầy đủ ba thân… Và, tuỳ thời điểm, tuỳ đối tượng, tuỳ hoàn cảnh… vị Phật ấy dùng một thân trong ba thân để giáo hoá !!! Ba thân của một đức Phật gồm: Báo thân, Hoá thân và Pháp thân !!!
– Báo thân: Thân huyết nhục !!! Thị hiện sinh ra do cha mẹ hoà hiệp, nuôi lớn bằng cơm cháo thuốc men… Lớn lên bỏ nhà vào rừng tu học, chứng quả rốt ráo về trí tuệ, thuyết pháp độ sinh và sau cùng là nhập Đại Niết Bàn !!!
– Hoá thân: Các bài pháp, các cảnh giới do đức Phật ấy hoá hiện từ trí tuệ, để dẫn dắt chúng sanh lần lượt thành tựu từng bước, đến quả vị rốt ráo là Vô Thượng Bồ Đề… Hoá thân Phật, chính là Kinh điển mà hôm nay chúng ta đang đọc !!!
– Pháp thân: Chính là trí tuệ của một vị Phật !!! Pháp thân hay Vô Vi Xá Lợi (khác hữu vi xá lợi)… Là phần tinh tuý nhất từ Trí Tuệ Tối Thượng của một vị Phật. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, được các Đại Bồ Tát thừa hưởng và thường xuyên thị hiện xuống cõi thế bằng nhiều loại thân tướng sai biệt, nhằm giúp chúng sanh tu tập và làm rõ những ẩn mật từ những gì Hoá Thân Phật (kinh điển) thuyết ra !!!
a) Trong thời kì đức Phật ấy còn tại thế, Phật dùng cả ba thân để thuyết pháp… Với Nhị thừa, dùng Báo thân (thuyết kinh bất liễu nghĩa) !!! Với Bồ Tát thừa dùng Hoá thân và Pháp thân (thuyết kinh liễu nghĩa) !!! Với các Đại Bồ Tát, dùng Pháp thân (thuyết kinh phương quảng) !!!
b) Trong thời kì đức Phật không còn tại thế, Phật dùng Hoá thân (kinh điển) hoặc dùng Pháp thân thông qua sự thừa hưởng từ Vô Vi Xá Lợi của các Đại Bồ Tát để giáo hoá !!! Chính điều này, kinh Hoa Nghiêm đã dạy như sau: “Viên mãn là Phật, tinh tấn là Bồ Tát…” Lời dạy này chứa nhiều ẩn mật, và nói lên sức tinh tấn của chư Phật là không rốt ráo nhập Niết Bàn (xem phẩm Nguyệt Dụ từ Đại Niết Bàn), cũng như tính chất thường hằng của giáo pháp (Tam bảo thường trụ) !!!
Như vậy, trong thời điểm hiện nay, hay trong châu kỉ của Thích Ca Mâu Ni… Tuy Báo thân Phật không còn tại thế, nhưng Hoá thân là kinh điển và Pháp thân là sự thị hiện dưới nhiều thân tướng sai biệt của các Đại Bồ Tát vẫn thường xuyên giáo hoá !!!
Cho nên, dù ta được học tập chính thức mà giác ngộ hay do tự đọc kinh điển mà giác ngộ thì, những ai giác ngộ trong châu kỉ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni không được coi là Độc Giác !!! Bởi lẽ, kinh điển bây giờ chính là Thầy ta, đọc tụng kinh điển chính là đang được nghe Hoá Thân Phật thuyết pháp cho ta vậy !!!
Giống như các nhà khoa học của thế giới như: Isaac Newton, Albert Einstein, Galileo Galilei, Charles Robert Darwin, Alessandro Giuseppe Antonio Anastasio Volta…v…v…hiện tại không còn nữa !!! Nhưng những phát minh của họ còn lưu lại trong sách vở !!! Nay ta đọc sách của họ rồi hiểu ra, và tự cho điều ấy là do ta tự giác ngộ (Độc Giác)… Thì sự “tự cho” này là một trong những hình thức của “thậm xưng”, “tiếm xưng” hay “đánh cắp sở hữu trí tuệ” một cách vô lí !!!
Vì thế, hiểu rõ thuật ngữ cũng như các cảnh giới trong Phật đạo là điều rất quan trọng và cần thiết của người tu hành !!! Hiểu sai thuật ngữ, hoặc không hiểu hết ý nghĩa của cảnh giới, quả chứng..v..v… mà vội kết luận ta là thế này, ta là thế kia…!!! Sẽ dẫn đến việc vô tình hay cố ý trở thành người mắc những lỗi nêu trên (lỗi này không thể thành tựu trí tuệ) !!!
Nguyên Hương và bạn đọc thân mến !!!
Hy vọng, những giải thích ở trên, sẽ giúp các bạn nhận ra điều mình đang tu tập là gì, ở đâu ra, tên gọi của nó như thế nào !!!??? Chúc các bạn an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
22/04/2020
LÝ TỨ

Thiền Và Các Ba La Mật
Thiền và các Ba La Mật không phải hai món, cái này viên mãn cái kia viên mãn, trong một độ nhiếp năm độ. Không có một Ba La Mật riêng, nơi mỗi pháp đã tự sẵn đủ Ba La Mật chỉ vì mê tâm che chướng, một phen giác ngộ thì pháp giới chúng sanh đồng Ba La Mật.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Thiền Định Ba La Mật là hình thức hóa thân của Thiền Na. Nếu Thiền Na còn chút gì đó của thân chứng thì Thiền Định Ba La Mật là khâu cuối cùng làm sạch hóa vi tế tâm bằng công hạnh Bố Thí Ba La Mật.
Thiền Na y thanh tịnh tâm bố thí thì Thiền Định Ba La Mật làm mất đi tự thân bố thí. Đưa pháp nhĩ trở về bản nguyên thanh tịnh tự có gọi là Bố Thí Ba La Mật. Thiền Định Ba La Mật được giảng giải nhiều trong kinh Đại Bát Nhã. Nếu Thiền Na là vùng trắng tâm ý thức thì Thiền Định Ba La Mật là hạt giống nhất thiết trí được gieo trồng trên vùng đất này.
Sự tự tại của Thiền Na chưa phải tất cả, nếu tự tại này có thể chuyển về phía chúng sanh thì Bát Nhã trí mới hiện. Vì thế Bồ Tát phải thành tựu các môn giải thoát trong đó có các phương tiện. Nếu phương tiện thuần thục khi hóa độ chúng sanh thì phương tiện này mới trở thành tam muội. Đoạn kinh sau mô tả Bồ Tát tự tại trong vùng trắng tự tâm:
“Lại nữa, Thiện Hiện! Nếu vị Bất thối chuyển Bồ Tát Ma Ha Tát muốn vào sơ tĩnh lự tức tùy ý năng vào; muốn vào đệ nhị, đệ tam, đệ tứ tĩnh lự cũng tùy ý năng vào. Muốn vào từ vô lượng tức tùy ý năng vào, muốn vào bi hỷ xả vô lượng cũng tùy ý năng vào. Muốn vào định không vô biên xứ tức tùy ý năng vào; muốn vào định thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng tùy ý năng vào. Muốn khởi bốn niệm trụ tức tùy ý năng khởi; muốn khởi bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi cũng tùy ý năng khởi.
Muốn khởi sơ giải thoát tức tùy ý năng khởi, muốn khởi đệ nhị giải thoát cho đến đệ bát giải thoát cũng tùy ý năng khởi. Muốn khởi sơ thắng xứ tức tùy ý năng khởi, muốn khởi đệ nhị thắng xứ cho đến đệ bát thắng xứ cũng tùy ý năng khởi. Muốn vào định sơ tĩnh lự tức tùy ý năng vào, muốn vào định đệ nhị tĩnh lự cho đến định diệt thọ tưởng cũng tùy ý năng vào. Muốn khởi sơ biến xứ tức tùy ý năng khởi, muốn khởi đệ nhị biến xứ cho đến đệ thập biến xứ cũng tùy ý năng khởi. Muốn khởi không giải thoát môn tức tùy ý năng khởi; muốn khởi vô tướng, vô nguyện giải thoát môn cũng tùy ý năng khởi. Muốn dẫn phát năm thần thông tức tùy ý năng dẫn phát.
Thiện Hiện! Bồ Tát Ma Ha Tát này tuy vào sơ tĩnh lự mà chẳng thọ quả sơ tĩnh lự; tuy vào đệ nhị, đệ tam, đệ tứ tĩnh lự mà chẳng thọ quả đệ nhị, đệ tam, đệ tứ tĩnh lự. Tuy vào từ vô lượng mà chẳng thọ quả từ vô lượng, tuy vào bi hỷ xả vô lượng mà chẳng thọ quả bi hỷ xả vô lượng. Tuy vào định không vô biên xứ mà chẳng thọ quả định không vô biên xứ; tuy vào định thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ mà chẳng thọ quả định thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tuy khởi bốn niệm trụ mà chẳng thọ quả bốn niệm trụ, tuy khởi bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi mà chẳng thọ quả bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi.
Tuy khởi sơ giải thoát mà chẳng thọ quả sơ giải thoát, tuy khởi đệ nhị giải thoát cho đến đệ bát giải thoát mà chẳng thọ quả đệ nhị giải thoát cho đến đệ bát giải thoát. Tuy khởi sơ thắng xứ mà chẳng thọ quả sơ thắng xứ, tuy khởi đệ nhị thắng xứ cho đến đệ bát thắng xứ mà chẳng thọ quả đệ nhị thắng xứ cho đến đệ bát thắng xứ. Tuy vào định sơ tĩnh lự mà chẳng thọ quả định sơ tĩnh lự, tuy vào định đệ nhị tĩnh lự cho đến định diệt thọ tưởng mà chẳng thọ quả định đệ nhị tĩnh lự cho đến định diệt thọ tưởng. Tuy khởi sơ biến xứ mà chẳng thọ quả sơ biến xứ, tuy khởi đệ nhị biến xứ cho đến đệ thập biến xứ mà chẳng thọ quả đệ nhị biến xứ cho đến đệ thập biến xứ. Tuy khởi không giải thoát môn mà chẳng thọ quả không giải thoát môn; tuy khởi vô tướng, vô nguyện giải thoát môn mà chẳng thọ quả vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Tuy dẫn phát năm thần thông mà chẳng thọ quả năm thần thông.
Thiện Hiện! Do nhân duyên đây, Bồ Tát Ma Ha Tát này chẳng tùy vô lượng tĩnh lự thảy và đến thế lực các công đức khác mà thọ sanh, cũng chẳng chứng quả Dự lưu, hoặc quả Nhất lai, hoặc quả Bất hoàn, hoặc quả A la hán, hoặc Độc Giác Bồ Đề. Thiện Hiện! Bồ Tát Ma Ha Tát này vì muốn lợi vui các hữu tình, nên tùy muốn nhiếp thọ chỗ ứng thọ thân tức tùy sở nguyện đều năng nhiếp thọ.”[[1]]
Bồ Tát do phát tâm mà có, nếu không phát tâm cứu độ chúng sanh thì danh tự Bồ Tát chẳng thể được. Ngoài việc phát tâm Bồ Tát phải phát nguyện rộng sâu bền chặt.
Phát tâm là phát tâm thành tựu quả Phật, phát nguyện là nguyện đời đời làm lợi ích chúng sanh.
Trong kinh thường thấy các Đại Bồ Tát phát nhiều nguyện như Văn Thù trong kinh Hoa Nghiêm có gần 200 nguyện, mỗi một nguyện đều hồi hướng cho chúng sanh. Trong kinh cũng có nói chỉ cần một chúng sinh duyên đáng được độ, Bồ Tát có thể theo người này nhiều đời kiếp, khi làm cầm thú, khi làm người, khi làm đầy tớ, khi làm quyến thuộc v.v..., nghĩa là chúng sanh kia chưa giác ngộ thì Bồ Tát chưa thôi hóa độ.
Đây cũng là điều kiện để Bồ Tát viên mãn tứ vô lượng tâm:
“Bạch Thế Tôn! Vì sao Bồ Tát Ma Ha Tát hằng khởi đại bi? Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát khi tu Bồ Tát hạnh tác lên nghĩ như vầy: "Ta vì nhiêu ích tất cả hữu tình, giả sử kiếp đều như hằng hà sa vô lượng vô số, ở đại địa ngục chịu các khổ dữ dội, hoặc thiêu hoặc nướng, hoặc chém hoặc dứt, hoặc đâm hoặc treo, hoặc xay hoặc giã, chịu những như thế vô lượng việc khổ. Vì muốn khiến nó cưỡi nơi xe Phật thừa mà vào Niết Bàn.” Tất cả cõi hữu tình như vậy hết xong, mà lòng đại bi từng không nhàm mỏi. Đấy là Bồ Tát Ma Ha Tát hằng khởi đại bi.”[[2]]
Bồ Tát phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề chơn thiệt, tức phát tâm thành Phật. Vì chỉ thành Phật mới đủ công đức và trí tuệ giáo độ nhiều chúng sanh, nhiều căn cơ, nhiều loài. Bồ Tát thì giới hạn trong lãnh vực này nên thành Phật mới viên mãn bi tâm, tâm Bồ Tát mới rộng lớn.
Trong kinh có đề cập những Đại Bồ Tát đã độ vô số chúng sanh thành Phật mà tự thân đến nay còn làm công hạnh. Hoặc có vị phát tâm khi nào còn chúng sanh thì mình chưa thành Phật.
Bồ Tát hóa độ chúng sanh là một trong những cách giúp mình mau chứng Vô Thượng Bồ Đề. Đây là con đường duy nhất để thành tựu Bát Nhã Ba La Mật. Trong kinh Phật có nói sở dĩ Bồ Tát Thích Ca thành Phật trước Bồ Tát Di Lặc chín kiếp vì Thích Ca viên mãn công hạnh còn Di Lặc chưa viên. Vì vậy công hạnh hóa độ rất quan trọng đối với Bồ Tát.
“Bạch Thế Tôn! Vì sao Bồ Tát Ma Ha Tát nên viên mãn nhiếp thọ vô biên xứ sở đại nguyện, tùy có chỗ sở nguyện đều khiến cho viên mãn? Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát đã tu đủ sáu Ba La Mật Đa cực viên mãn rồi, hoặc vì để nghiêm tịnh các cõi nước Phật, hoặc vì để thành thục các loại hữu tình, tùy tâm sở nguyện đều được viên mãn. Đấy là Bồ Tát Ma Ha Tát nên viên mãn nhiếp thọ vô biên xứ sở đại nguyện, tùy có chỗ sở nguyện đều khiến cho viên mãn.”[[3]]
Bồ Tát gồm Bồ Tát vô vi và Bồ Tát nhục thân (hữu vi).
Bồ Tát vô vi là những vị chỉ xuất hiện khi có Phật, hoặc xuất hiện vào thời điểm chúng sanh cần đến. Bồ Tát nhục thân là những vị có thân như chúng sanh, cũng tu hành như chúng sanh, cũng sinh hoạt như chúng sanh, nhưng trí huệ thì không thể nghĩ bàn. Có nhiều vị thị hiện trong hàng Thanh Văn, trong cầm thú, trong qủy dữ v.v..., nghĩa là nơi nào có chúng sanh thì có Bồ Tát. Trong kinh Phật nói Bồ Tát nhiều không thể đếm như cát sông Hằng.
Kinh Phật cũng dạy trong cõi Ta Bà, Bồ Tát thị hiện lớn nhất bằng con voi, nhỏ nhất bằng chim khổng tước, trừ những thế giới khác. Bồ Tát cũng có rất nhiều địa vị, thấp nhất là Sơ Phát Tâm, cao nhất là Diệu Giác.
Ngoài ra cũng có Bồ Tát đời kế thành Phật gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ, thân sau cùng là Tối Hậu thân. Bồ Tát vào cung trời Đâu Suất chuẩn bị thành Đẳng Chánh Giác gọi là Hậu Biên thân. Tất cả các kinh, Phật đều khen ngợi Bồ Tát.
Với những đặc tính như vậy, pháp Phật thuyết cho Bồ Tát như kinh nói là thâm sâu không thể nghĩ bàn, siêu quá ức tưởng thế gian, thậm chí Thanh Văn Duyên Giác còn không thể nào suy nghĩ đến được:
“Từ xưa chư Bồ Tát này cùng với Tỳ Lô Giá Na Như Lai đồng tu tập thiện căn, thật hành Bồ Tát hạnh, từ biển căn lành của Như Lai sanh ra, đã đầy đủ các môn Ba La Mật, huệ nhãn sáng suốt thấy ba đời, nơi các môn tam muội đều đầy đủ thanh tịnh, biện tài rộng lớn vô tận như biển, đủ công đức Phật tôn nghiêm đáng kính, biết căn tánh của chúng sanh thuận theo giáo hóa điều phục, vào tạng pháp giới, trí vô phân biệt, chứng giải thoát của Phật rất sâu rộng lớn, có thể tùy phương tiện, vào nơi một bực mà dùng tất cả hạnh nguyện, thường đi chung với trí tuệ, cùng tận thuở vị lai rõ thấu cảnh giới bí mật rộng lớn của chư Phật, khéo biết tất cả pháp bình đẳng của Phật, đã đi trên bực Phổ Quang Minh của Như Lai, nhập nơi vô lượng môn tam muội, đều tùy loại hiện thân khắp tất cả chỗ, đồng sự với thế gian mà thật hành thế pháp, tổng trì rộng lớn chứa nhóm tất cả pháp, biện tài thiện xảo chuyển pháp luân bất thối, biển cả công đức của tất cả Như Lai đều vào nơi thân của các ngài, tất cả quốc độ của chư Phật các ngài đều phát nguyện đi đến, đã từng cúng dường tất cả chư Phật trải qua vô biên số kiếp luôn hoan hỷ không nhàm, chỗ tất cả chư Phật chứng đạo Bồ Đề các ngài thường ở trong đó gần gũi không rời, thường đem nguyện thệ Phổ Hiền đã được, làm cho trí thân của tất cả chúng sanh đều đầy đủ. Chư Bồ Tát trên đây trọn nên vô lượng công đức như vậy.”[[4]]
Với công đức và nghĩa lý thậm thâm như vậy, đời sau có nên đề cập đến Thiền Định Ba La Mật, hay giảng nói tu hành pháp đại thừa không?
Không lẽ đây là nơi chốn bất khả xâm phạm, chỉ có Phật với Bồ Tát mới có thể nói cho nhau nghe, còn chúng phàm phu đời sau thì vô phương?
Mà trong kinh thì Phật thường hay khen ngợi đời sau có người nào biên chép, giảng nói kinh này công đức vô lượng vô biên. Nếu như lời nói kia thì Phật thuyết kinh để người đời sau biên chép giảng nói, và nhất định là để tu học. Không những đời sau mà tận cùng đời mạt pháp cũng như vậy thì Phật giáo mới là thường, Tam Bảo mới thường trụ.
Do đó là Phật tử thì phải tin Phật, mà tin Phật thì tìm hiểu tu hành. Giảng nói biên chép Bồ Tát pháp nhất định không sai, nếu không nói đây là hoài bão của chư Phật.
Kinh thường nói pháp tu chánh trọng của Bồ Tát là lục độ Ba La Mật. Bồ Tát dùng sáu độ này dạo khắp ba cõi làm công hạnh, bởi ở đây có đủ công đức, trí tuệ vô thượng. Do bi tâm lớn hơn tất cả tâm nên sau khi phát tâm chơn thiệt Vô Thượng Bồ Đề, Bồ Tát như chỗ phát tâm mà bố thí, trì giới, nhẫn nhục v.v..., sau đó đầy đủ trí huệ Ba La Mật.
Đầy đủ trí tuệ Bồ Tát quán tâm chúng sanh phát sinh lân mẫn nên chúng sanh duyên từ đầy đủ; chúng sanh duyên từ đầy đủ duyên bi, hỷ, xả đầy đủ; duyên từ bi hỷ xả đầy đủ các pháp bất cộng đầy đủ; do các pháp bất cộng đầy đủ mà bốn vô ngại trí đầy đủ; bốn vô ngại trí đầy đủ thập bát bất cộng đầy đủ; thập bát bất cộng đầy đủ ba mươi bảy phẩm đầy đủ; ba mươi bảy phẩm đầy đủ bốn đế đầy đủ; bốn đế đầy đủ chơn đế đầy đủ; chơn đế đầy đủ nên gọi là chơn.
Là chơn, nên như Phật xưa nói các thứ pháp, như chư Phật xưa nói các thứ pháp gọi là Như Lai. Như tiền thân Bồ Tát hành hạnh nhẫn nhục, hành hạnh bố thí, hoặc các ví dụ trong kinh. Đây là những việc làm ra khỏi nghĩ bàn, ra khỏi nghĩ bàn ba cõi cho đến Thanh Văn Duyên Giác cũng không biết được. Bởi trong mỗi một độ nhiếp đủ năm độ kia. Lúc Bồ Tát phát tâm chơn thiệt đã đủ tất cả vì các pháp tự Ba La Mật.
“Bạch Thế Tôn! Vì sao Bồ Tát Ma Ha Tát nên viên mãn sáu Ba La Mật Đa? Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát viên mãn sáu pháp Ba La Mật Đa, vượt khỏi các bậc Thanh Văn và Độc Giác. Lại trụ sáu Ba La Mật Đa này, Phật và nhị thừa năng qua khỏi năm bờ biển sở tri. Những gì là năm? Một là quá khứ, hai là vị lai, ba là hiện tại, bốn là vô vi, năm là bất khả thuyết. Đấy là Bồ Tát Ma Ha Tát nên viên mãn sáu Ba La Mật Đa.”[[5]]
Do bi tâm rộng lớn nên tâm này chẳng khác tâm Phật. Những gì từ tâm này phát ra đều tròn đủ ý nghĩa vô thượng. Phát tâm chơn thiệt ngũ ấm là pháp khí chứa Vô Thượng Bồ Đề, công hạnh để ngũ ấm viên mãn 32 tướng, 80 tùy hình, 64 mỹ diệu âm, là duyên chúng sanh tự được.
Nên kinh nói Bồ Tát tu ‘Không’ mà chẳng bỏ bi tâm hằng đi trong ba cõi, tu ‘Vô Tướng’ mà thường cầu 32 tướng, tu ‘Vô Tác’ mà giáo hóa chúng sanh không mỏi nhàm. Bồ Tát được các thứ công đức trí tuệ vi diệu thù thắng, công hạnh đầy đủ, quả Vô Thượng Bồ Đề sẽ hiện.
“Do phát tâm nên thường được tất cả tam thế chư Phật ức niệm, sẽ được Vô Thượng Bồ Đề. Liền được tất cả tam thế chư Phật ban diệu pháp. Liền cùng tất cả tam thế chư Phật thể tánh bình đẳng. Ðã tu pháp trợ đạo của tất cả tam thế chư Phật. Trang nghiêm Phật pháp bất cộng của tất cả tam thế chư Phật. Ðược trọn vẹn trí huệ thuyết pháp của tất cả tam thế chư Phật.
Phật tử! Nếu Bồ Tát khéo dụng tâm thời được tất cả công đức thắng diệu, nơi Phật pháp được tâm vô ngại, được trụ nơi đạo của tam thế chư Phật, trụ theo chúng sanh hằng không bỏ rời, đều có thể thông đạt đúng các pháp tướng, dứt tất cả điều ác, đầy đủ tất cả điều lành, sẽ được hình sắc đệ nhứt như Phổ Hiền, đầy đủ tất cả hạnh nguyện, với tất cả pháp đều được tự tại, sẽ là đạo sư thứ hai của chúng sanh.”[[6]]
Bồ Tát tuy nơi Ba La Mật sẵn đủ, nhưng trong ba cõi hằng cứu độ chúng sanh, không ngưng tu các pháp lành, bởi vì phương tiện giáo hóa và tư lương Bồ Đề.
“Nghĩa là có chúng Bồ Tát Ma Ha Tát dù ở thành ấp xóm làng vương đô mà tâm thanh tịnh, chẳng tạp các thứ phiền não ác nghiệp và tác ý các Thanh Văn Ðộc Giác, tinh siêng tu học Bố Thí Ba La Mật Đa cho đến Bát Nhã Ba La Mật Đa. Tinh siêng an trụ nội không cho đến vô tánh tự tánh không. Tinh siêng an trụ chơn như cho đến bất tư nghì giới. Tinh siêng an trụ khổ tập diệt đạo thánh đế. Tinh siêng tu học bốn niệm trụ cho đến tám thánh đạo chi. Tinh siêng tu học bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định, năm thần thông thảy công đức thế gian.
Tinh siêng tu học không, vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Tinh siêng tu học Bồ Tát thập địa. Tinh siêng tu học đà la ni môn, tam ma địa môn. Tinh siêng tu học năm nhãn, sáu thần thông. Tinh siêng tu học tám giải thoát cho đến mười biến xứ. Tinh siêng tu học Như Lai mười lực cho đến mười tám pháp Phật bất cộng. Tinh siêng tu học pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả. Tinh siêng tu học nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí, nghiêm tịnh cõi Phật thành thục hữu tình. Dù ở chốn ồn náo mà tâm vắng lặng, hằng siêng tu tập hạnh chơn viễn ly.”[[7]]
Như vậy chỉ lục độ Ba La Mật đã sẵn đủ, thì duyên gì Phật còn thuyết các pháp khác để giáo Bồ Tát? Bồ Tát có nhiều địa vị, chúng sanh có nhiều căn cơ, Bồ Tát chỗ phát tâm chưa đầy đủ nên phải học phương tiện độ mình độ người. Vì thế môn học nhất thiết trí hay còn gọi Bát Nhã Ba La Mật Đa ra đời. Đây là hành trang trên đường giáo hóa. Tóm lại Thiền và các Ba La Mật không phải hai món, cái này viên mãn cái kia viên mãn, trong một độ nhiếp năm độ. Không có một Ba La Mật riêng, nơi mỗi pháp đã tự sẵn đủ Ba La Mật chỉ vì mê tâm che chướng, một phen giác ngộ thì pháp giới chúng sanh đồng Ba La Mật.
[[1]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
[[2]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
[[3]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
[[4]] Trích kinh Hoa Nghiêm –HT. Thích Trí Tịnh dịch.
[[5]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
[[6]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
[[7]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
(còn nữa)
Phần 19: Nhận Biết Thực Chứng Tâm Không, Pháp Không; Khoa Học Và Phật Đạo Khác Và Giống Chỗ Nào? Mục Tiêu Tu Phật Là Gì? Sự Khác Biệt Cơ Bản Của Giáo Dục Tu Phật Và Giáo Dục Thế Gian? (Trang 238 - 249)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 19: Nhận biết thực chứng tâm không, pháp không; Khoa học và Phật đạo khác và giống chỗ nào? Mục tiêu tu Phật là gì? Sự khác biệt cơ bản của giáo dục tu Phật và giáo dục thế gian? (Trang 238 - 249)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Chứng Đạo Ca
Giác ngộ có nhiều tầng bậc… Mỗi một thuật ngữ, mỗi một khái niệm trong Phật đạo luôn luôn tương ưng với một cảnh giới giác ngộ nào đó…Vì thế, chuyện cảnh giới này sử dụng sai khái niệm của cảnh giới kia là chuyện thường thấy ở người tu hành (chưa giác ngộ rốt ráo) !!!
Các bạn !!!
Nửa năm qua, HĐ chúng ta tập làm quen với hai môn học quan trọng của Nhất Thiết Trí là Thẩm Sát Môn và Thấu Thị Môn… Cũng như tập phân tích các lỗi thuộc về Tứ Cú, Tam Cú, Nhị Cú, Nhất Cú và Phi Cú của Bát Nhã Môn !!!
Thế nhưng, các đề tài có liên quan đến những môn học này tương đối hiếm… Và tìm kiếm một đương cơ tạm coi là thù thắng, nhằm triển khai để giúp các bạn học tập lại càng hiếm !!! Vì rằng, muốn giảng nói, phân tích một nội dung nào đó liên quan đến các món trên, phải đợi một đương cơ thích hợp !!!
Hồi tối, mình nhận được thắc mắc của bạn V.D. Long từ link Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả lời… Xét thấy các câu hỏi của bạn V.D. Long là một trong những đương cơ tốt… Vì thế, mình tạm gác những chuyên mục khác của Trang để trả lời V.D. Long !!! Hy vọng sau bài viết này, các HĐ chúng ta có thêm cơ hội để thể nhập những gì chúng ta đang học !!!
V.D. Long thân mến !!!
Từ ngày Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả Lời khai trương đến nay đã là 36 kì !!! Có thể nói, đề tài bạn hỏi đã tạo cho mình nhiều cảm hứng… Bây giờ, mình xin trao đổi với bạn về những gì bạn thắc mắc !!!
Bạn V.D. Long đã viết như sau:
“Xin chào Ban quản trị trang và Lý gia.
Tôi có thắc mắc xin được làm sáng tỏ.
Trong Thập nhị nhân duyên, thì Vô minh đứng đầu, vô minh là đầu mối tạo thành vòng tròn luẩn quẩn, khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử…
Nhưng trong Chứng Đạo ca lại có câu: “Vô minh thực tánh tức Phật tánh”. Lý gia có thể làm rõ chỗ này không?
Vô Minh trong Thập nhị nhân duyên và Vô Minh trong Chứng đạo ca có nghĩa thế nào? Xin cho ví dụ minh họa. Tôi xin cảm ơn”. 11/04/2020 16:47:20 V.D. Long
V.D. Long và bạn đọc thân mến !!!
Nói đến Chứng Đạo Ca của Ngài Huyền Giác thì chắc rằng người tu tập nào cũng một vài lần nghe nói đến… Vì bởi, Chứng Đạo Ca là một áng văn nổi tiếng trong giới tu hành sau thời y bát thất truyền !!!
Bài Chứng Đạo Ca là một tài liệu Phật học được nhiều nơi đưa vào chương trình giảng dạy chính thức cho môn đồ… Vì thế, tác phẩm này trong giới nghiên cứu cũng như tu hành rất coi trọng !!!
Tuy nhiên, dù gì Chứng Đạo Ca cũng chỉ là một bài văn của người đời sau sáng tác (không phải Tổ có y bát)… Mà những gì người sau viết về Phật đạo chưa chắc đã hoàn toàn thấu thoát !!!
Chúng ta tôn trọng các áng văn ấy… Nhưng, chúng ta tôn trọng không có nghĩa những gì trong ấy nói ra chúng ta nhất nhất phải nghe theo…!!! Nhân đương cơ bạn V.D. Long có một vài thắc mắc liên quan đến vài phần nhỏ trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác !!! Lý Tứ cũng xin góp một vài phân tích, trước làm sáng tỏ những điều V.D. Long thắc mắc… Sau đó, cũng nhân cơ hội này, giúp HĐ Lý Gia thâm nhập một số học phần của Nhất Thiết Trí mà các bạn ấy đang học !!!
Thắc mắc của V.D. Long mình xin tạm chia thành hai phần để trả lời:
* Phần 1:
Tôi có thắc mắc xin được làm sáng tỏ.
Trong Thập nhị nhân duyên, thì Vô minh đứng đầu, vô minh là đầu mối tạo thành vòng tròn luẩn quẩn, khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử…
Nhưng trong Chứng Đạo Ca lại có câu: “Vô minh thực tánh tức Phật tánh”. Lý gia có thể làm rõ chỗ này không?
V.D. Long thân !!!
Trước khi phân tích, làm rõ vấn đề… Mình xin chép lại đoạn văn có liên quan đến điều bạn hỏi trong Chứng Đạo Ca !!!
Chứng Đạo Ca viết:
無明實性即佛性
幻化空身即法身
Vô minh thật tính tức Phật tính
Huyễn hoá không thân tức Pháp thân
Tạm dịch:
Tính thật vô minh tức Phật tính
Huyễn hoá không thân tức Pháp thân.
* Về Phật tánh và Vô minh:
– Mọi người đều biết, Phật tánh là thường, và Kinh Đại Niết Bàn cũng dạy như vậy !!!
– Mọi người đều biết, Vô minh là vô thường, vì thế Kinh cũng dạy: “Vô vô minh diệc vô vô minh tận” !!!
Một bên là thường (có thực tánh), một bên vô thường (không thực tánh)… Vì thế, câu “Vô minh thật tính tức Phật tính” xét về Đệ Nhất Nghĩa, câu ấy bị lỗi Phi Cú (mệnh đề hay một câu không thể thành lập được dưới cú pháp Bát Nhã) !!!
Nếu câu ấy viết lại như sau: “Vô minh không tánh đồng pháp tánh” có thể tạm chấp nhận… Vì rằng, Vô minh và pháp tánh bổn lai đều không tánh, hai thứ ấy chỉ do mê sanh !!! Còn đằng này, Vô minh và Phật tánh là hai thứ hoàn toàn khác nhau về bản chất, cho nên chẳng thể “tức” được !!!
* Về Huyễn hoá và Pháp thân:
– Pháp thân là thường…Vì pháp thân là thường nên ra ngoài hai khái niệm Huyễn và Phi Huyễn !!!
– Cái gì (pháp nào) mang trong nó tính chất Huyễn hoá hay Phi huyễn đều vô thường !!!
– Pháp thân là không thân… Đã là “không thân” sao lại có chuyện Huyễn hoá trong đó !!!??? Huyễn là thuật ngữ của Phật đạo nhằm chỉ cho một nhận thức hữu vi (có thân)… Còn pháp thân là vô vi, ra ngoài nhận thức có không… Vì thế, Pháp thân cũng siêu quá hai khái niệm Huyễn cùng Phi huyễn !!!
Cho nên câu: “Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” xét về Đệ Nhất Nghĩa, câu ấy bị lỗi Phi Cú (mệnh đề hay một câu không thể thành lập được dưới cú pháp Bát Nhã) !!!
Nếu câu ấy viết lại như sau: “Huyễn hoá không thân tựa Hoá thân”… Câu này tạm chấp nhận được… Vì rằng, Hoá thân cũng thường cũng vô thường… Nên nó cũng có thân cũng không thân !!!
Tóm lại, hai câu: “Vô minh thật tính tức Phật tính. Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác biểu hiện sự không thấu đáo về các nghĩa: Vô minh, Phật tánh, Pháp tánh, Pháp thân và Hoá thân, Huyễn, Phi Huyễn !!! Vì rằng, nếu thấu đáo, nhất định khi tuyên thuyết về cảnh giới Đệ Nhất Nghĩa sẽ không phạm vào những “lỗi cơ bản của Bát Nhã văn tự” được nêu ở trên !!!
Phần 2:
* “Vô Minh trong Thập nhị nhân duyên và Vô Minh trong Chứng đạo ca có nghĩa thế nào? Xin cho ví dụ minh họa”.
Trong Phật đạo, chỉ có một chữ Vô minh và đồng mang ý nghĩa u tối, không sáng suốt !!! Tuy vậy, tuỳ tầng bậc giác ngộ, người tu hành có thể nhìn thấy “tướng trạng của Vô minh” qua các thứ nhãn quan như sau: Mê thấy Vô minh là Vô minh; Đại ngộ thấy không có Vô minh cũng không làm cho hết Vô minh; Liễu ngộ thấy Phi minh phi vô minh !!!
Giống như người ngủ mê thấy chiêm bao là chiêm bao… Người thức giấc thấy chẳng có chiêm bao cũng chẳng có làm cho hết chiêm bao… Người biết chuyện bảo rằng: Chiêm bao cũng có cũng không có !!!
Để có thể hiểu Phật tánh và Vô minh là tức hay chẳng tức… Ví dụ sau có thể làm sáng tỏ vấn đề:
– Mặt trời ví như Phật tánh, Pháp thân = Thường !!!
– Ngày và đêm ví như Vô minh và minh = Vô thường !!!
Nếu ai đó bảo rằng: “Đêm ngày huyễn hoá tức mặt trời” thì…thì…thì có “Ô hô ai tai” không các bạn !!!???
Các bạn !!!
Không phải tất cả những gì người xưa nói ra đều là chân lí !!! Không phải điều gì được nhiều người xưng tụng, giảng dạy hay thuộc về truyền thống đều đúng hết !!!
Khi phân tích những điều trên, mình biết chắc có rất, rất, rất nhiều người không vừa ý !!! Họ không vừa ý vì những phân tích vừa rồi đã chạm đến thứ mà người ta tôn thờ, giảng dạy cho người khác !!!
Thế nhưng, những điều họ tôn thờ có phải là chân lí chưa ??? Những điều họ giảng dạy như Phật tánh, Pháp thân chính họ đã thấy đã thành tựu các thứ ấy hay chưa ??? Hay là họ tôn thờ, giảng dạy vì người khác đã tôn thờ giảng dạy điều ấy nên nay họ cũng phải làm thế !!!??? Đời là như thế mà !!! Đời là như thế nên Đạo mới xuất hiện !!!
Hy vọng rằng, với những phân tích đơn sơ ở trên, sẽ là nhân duyên giúp các bạn bình tĩnh hơn, nhận xét khách quan hơn, không choáng ngợp trước hào quang của một ai đó rồi nhất nhất phải nghe theo !!!
Giác ngộ có nhiều tầng bậc… Mỗi một thuật ngữ, mỗi một khái niệm trong Phật đạo luôn luôn tương ưng với một cảnh giới giác ngộ nào đó…Vì thế, chuyện cảnh giới này sử dụng sai khái niệm của cảnh giới kia là chuyện thường thấy ở người tu hành (chưa giác ngộ rốt ráo) !!!
Nếu ta không nắm vững vấn đề !!! Nếu ta không bình tâm suy xét !!! Nếu ta chỉ biết tin mà không đủ năng lực phản biện khoa học !!! Nhất định những thuật ngữ, những khái niệm, những áng văn mà ta đã đọc đôi lúc dẫn ta vào mê trận ngữ ngôn… Điều ấy, nhất định không giúp ta thấy được thật nghĩa của Phật đạo, đôi khi khiến ta đi vào mê lộ mà không tự biết !!!
Chúc bạn đọc và V.D. Long an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
14/04/2020
LÝ TỨ










Thiền Na
Để viên mãn giác biết thành thấy biết, pháp Thiền Na ra đời. Thiền Na là sự dung hợp của hai pháp Xa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề. Hai pháp này dung hợp sẽ đưa đến bình đẳng tâm.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Pháp Xa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề là hai pháp riêng lẻ. Mỗi pháp là cảnh giới nhân nơi giác ngộ tự chứng. Nghĩa là vẫn còn y vào cái gì đó để giác chưa phải tự giác. Giống như thấy mặt trăng thứ hai, nếu không hóa giải giác này thì chưa thể nhập Viên Giác hay Phật tánh chưa viên, trong kinh Đại Bát Niết Bàn Phật nói rõ:
“Nầy Thiện nam tử! Kinh điển Đại-Niết- Bàn vi diệu nầy, lúc đức Như Lai chưa nói cũng lại như vậy. Vô lượng Bồ Tát dầu đầy đủ thật hành các Ba La Mật, nhẫn đến bậc thập trụ vẫn còn chưa thấy được Phật tánh. Lúc Như Lai đã nói, mới thấy được chút ít. Lúc Bồ Tát nầy đã được thấy, đều nói rằng: “Thế Tôn! Lạ lùng thay, chúng tôi lưu chuyển thọ vô lượng sanh tử, thường bị vô ngã làm mê lầm.
Nầy Thiện nam tử! Bồ Tát nầy lên bực thập trụ còn chưa thấy được Phật tánh rõ ràng, huống là hàng Thanh Văn, Duyên Giác mà có thể thấy đặng.
Nầy Thiện nam tử! Ví như có người ngước mặt nhìn đàn chim nhạn trên hư không, nhìn kỹ phưởng phất thấy dạng bầy nhạn. Bực thập trụ Bồ Tát đối nơi Phật tánh, thấy biết được chút ít cũng lại như vậy, huống là hàng Thanh Văn, Duyên Giác mà thấy biết được!
Nầy Thiện nam tử! Ví như người say, đi trên đường xa, ngó thấy mập mờ. Bực thập trụ Bồ Tát đối với Phật tánh thấy biết được ít phần cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Như người khát nước, đi trong đồng trống, khắp nơi tìm nước, thấy có lùm cây, trong lùm có chim bạch hạc, người đó bị cơn khát bức ngặt, mê muội chẳng phân biệt được là cây hay là nước. Đến lúc nhìn kỹ mới biết là chim bạch hạc cùng với lùm cây. Bực thập trụ Bồ Tát, đối với Phật tánh, thấy biết phần ít cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Ví như có người ở trong biển lớn, nhẫn đến trăm ngàn do tuần, trông thấy chiếc thuyền lớn ở ngoài khơi xa, liền nghĩ rằng: Đó là chiếc thuyền hay là khoảng không. Nhìn lâu, trong tâm quyết định biết là thuyền lớn. Bực thập trụ Bồ Tát, thấy Phật tánh cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Ví như vị Vương tử, thân rất yếu đuối, dạo chơi suốt đêm, đến sáng ngày sau, mắt mờ thấy không được rõ. Bực thập trụ Bồ Tát dầu ở nơi tự thân thấy được Phật tánh nhưng chưa được rõ ràng cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Ví như quan lại, vì công sự suốt đêm trở về nhà chớp nhoáng thấy bầy trâu, liền nghĩ rằng: Đó là trâu ư, hay là dãy nhà, nhìn lâu, dầu nhận là trâu mà còn chưa định chắc. Bực thập trụ Bồ Tát, dầu ở nơi tự thân thấy Phật tánh, chưa có thể định chắc cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Như Tỳ Kheo trì giới, nhìn trong bát nước không có trùng, mà thấy tướng trùng, liền nghĩ rằng: Trong nước đây là trùng hay bụi đất, nhìn lâu, dầu biết là bụi nhưng chẳng rõ ràng. Bực thập trụ Bồ Tát, ở trong thân mình thấy Phật tánh chẳng được rõ ràng lắm cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Ví như có người, xa thấy đứa trẻ đứng trong bóng tối, liền nghĩ rằng: Đó là con vật, là chim, hay là người? Nhìn lâu, dầu nhận thấy là đứa trẻ, nhưng vẫn chẳng rõ ràng. Bực thập trụ Bồ Tát ở nơi thân mình thấy Phật tánh chẳng rõ ràng lắm cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Ví như có người ở trong đêm tối, thấy bức họa tượng Bồ Tát liền nghĩ rằng: Đây là tượng Bồ Tát hay là tượng Thiên thần, nhìn lâu dầu nhận là tượng Bồ Tát, nhưng chẳng rõ ràng. Bực thập trụ Bồ Tát ở nơi thân mình thấy Phật tánh chẳng rõ ràng lắm cũng như vậy.
Nầy Thiện nam tử! Phật tánh ấy rất sâu như vậy, khó biết khó thấy, chỉ Phật biết rõ, chẳng phải hàng Thanh Văn, Duyên Giác đến được. Người trí phải quan sát như vậy để rõ biết Phật tánh.”[[1]]
Đoạn kinh “ở nơi thân mình thấy Phật tánh,” có nghĩa từ các căn thân mà thấy Phật tánh chứ không do nơi khác. Cũng kinh này Phật nói: “Người thấu suốt có thể nương nơi nhục nhãn thấy Phật tánh.”
Phật và các Đại Bồ Tát chính là Phật tánh. Vì thế Phật không nói Phật và Bồ Tát có Phật tánh, mà chỉ nói: “Chúng sanh có Phật tánh.”
Đoạn kinh này mô tả cặn kẽ vấn đề: “Ví như có người ở trong biển lớn, nhẫn đến trăm ngàn do tuần, trông thấy chiếc thuyền lớn ở ngoài khơi xa, liền nghĩ rằng: Đó là chiếc thuyền hay là khoảng không. Nhìn lâu, trong tâm quyết định biết là thuyền lớn. Bực thập trụ Bồ Tát, thấy Phật tánh cũng như vậy.”
Để viên mãn giác biết thành thấy biết, pháp Thiền Na ra đời. Thiền Na là sự dung hợp của hai pháp Xa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề. Hai pháp này dung hợp sẽ đưa đến bình đẳng tâm.
Sự thân chứng riêng lẻ không còn nữa, một hình thức mới xuất hiện đó là các tam muội môn. Đây là biến thể của Tứ Thiền ở cấp độ siêu việt, ra khỏi giới hạn người chứng và pháp chứng. Sự dung hợp này biến Xa Ma Tha thành tầm (giác), Tam Ma Bát Đề thành tứ (quán); khi phát dụng hai chi này gọi là “tam muội có giác có quán,” nếu Xa Ma Tha dung hợp vào Tam Ma Bát Đề sẽ có tên “tam muội không giác có quán,” hai thứ này khi dung hợp triệt để sẽ cho ra một loại tam muội tương đương thiền thứ hai, thứ ba, hay thứ tư có tên “tam muội không giác không quán.”
Tam muội không giác không quán là sự kế thừa thành tựu của “tam muội có giác có quán,” tức Xa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề. Trong thiền Thanh Văn gọi là “bất khổ bất lạc thọ.”
Đây là tinh hoa hội tụ của tất cả công đức để sản sinh trí tuệ. Vì nó là trí tuệ nên có thể xuất nhập tự tại các tam muội, phát dụng một tam muội nào cảm thấy cần thiết cho tu tập hoặc làm công hạnh đều không trở ngại. Không cần phải theo lộ trình nhất định như thiền nhị thừa, đây là loại thiền siêu việt nên có tên Siêu Việt tam muội.
Trong tam muội Bồ Tát có thể chuyển từ thấp lên cao hay trên cao xuống thấp. Giống như con sư tử đang phóng thẳng vồ mồi có thể quay ngược trở lại, nên thiền này cũng có tên Sư Tử Phấn Tấn tam muội. Hình thức thì giống Tứ Thiền nhị thừa nhưng tính chất bên trong khác hẳn do tri kiến sai biệt.
Thiền này còn có tên Thiền Na Ba La Mật. Nó là kế thừa viên mãn của năm Ba La Mật kia và là từ một Trí Tuệ Ba La Mật làm thành.
Khi Bồ Tát dùng thiền này để nghỉ ngơi thì nó chính là “tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân.”
Nếu phát khởi pháp duyên từ, chúng sanh duyên từ, vô duyên từ để hóa độ chúng sanh thì nó là “chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân.”
Nếu phát khởi trí tuệ quán sát các môn phương tiện hay môn giải thoát thì nó chính là “giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân.”
Bốn thiền trở thành ba ý sanh thân của Bồ Tát tùy chỗ dụng. Thuật ngữ trong kinh khi Bồ Tát tự tu tập gọi là “tự thọ dụng pháp,” khi hóa độ sẽ là “tha thọ dụng pháp.”
Các tướng trạng này gọi chung là Thiền Na hay Thiền Na Ba La Mật. Nó là nhân cũng vừa là quả của Trí Tuệ Ba La Mật. Hỷ lạc giác quán của Thiền Na tính chất là thường, đây là nhân sanh bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Đại Niết Bàn. Nếu ba thừa trong Niết Bàn chỉ có hai tính chất đó là lạc và tịnh, thì nhất thừa trong Thiền Na có thêm hai món là ngã và thường.
Tính chất bốn đức bây giờ mới đủ. Sự khác biệt giữa thiền và tam muội chính là tri kiến.
Nếu dùng làm phương tiện tu hành để khế chứng quả vị nào đó gọi là thiền vì nó mang tính chất công cụ hay phương tiện.
Nếu là giác ngộ siêu việt do trí tuệ mà vào gọi là tam muội.
Đặc tính của tam muội là vô tướng nên tự xả không có năng chứng cùng sở chứng. Đến đây mới gọi là viên mãn quả vị vô tu vô chứng.
“Này Thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh rồi, thì y như tâm Viên Giác này mà tu: Không chấp thủ pháp "Quán như huyễn," và pháp "Chỉ tịch tịnh.” Bồ Tát rõ biết thân tâm này đều là vật ngăn ngại, còn tánh Viên Giác thì không bị các vật làm chướng ngại, lại còn siêu việt ra ngoài những cảnh chướng ngại (sanh tử) và không chướng ngại (Niết Bàn); nó vẫn thọ dụng thế giới và thân tâm ở trong cõi trần này, mà không bị cảnh trần ràng buộc, mặc dù phiền não hay Niết Bàn cũng không làm lưu ngại nó được. Thí như tiếng "boong" của chuông, tuy ở nơi chuông mà vẫn thoát ra ngoài chuông.”[[2]]
Bồ Tát giác ngộ chơn Viên Giác rốt ráo thì thân tâm Bồ Tát là Thiền Na. Trong Thiền Na dùng giác quán thấy thiệt tướng vạn pháp hết mê lầm, siêu việt trên mọi giác tưởng. Không bỏ vọng cầu chơn, không rời sanh tử để chọn Niết Bàn, ngay nơi phiền não đủ nghĩa Bồ Đề, Bồ Tát rõ biết tất cả không hai.
Dùng giáo hóa chúng sanh làm tư lương Vô Thượng Bồ Đề. Chưa giác ngộ chơn Viên Giác phải dùng một trong hai pháp Tam Ma Bát Đề hay Xa Ma Tha để tu tập. Muốn khế chứng chơn Viên Giác, dùng một trong hai pháp đã tu lấy pháp này làm chính pháp kia làm phụ hoặc ngược lại.
Khi nào hai pháp dung hợp bình đẳng thì Xa Ma Tha như tiếng chuông, Tam Ma Bát Đề như tiếng chuông vọng về phía chúng sanh.
Tiếng chuông Thiền Na sẽ tùy duyên khiến chúng sanh nghe được pháp âm dứt khổ.
Bây giờ bốn tướng hóa thân thành bốn món tâm vô lượng. Vì thế khi đối trước 500 con voi say, Thế Tôn bình thản nhập Từ Bi tam muội đưa năm ngón tay lên, bầy voi say tưởng là năm con sư tử chúng mọp đầu kính lễ.
“Bồ Tát lúc bấy giờ, ở nơi nội tâm được vắng lặng. Rất nhẹ nhàng thư thái, nào ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, bốn tướng đều chẳng còn và được tùy thuận cảnh giới Viên Giác tịch tịnh mầu nhiệm. Bồ Tát tu phương tiện này, gọi là tu Thiền Na.”[[3]]
Thiền Na có công dụng quân bình hai pháp chỉ và quán. Hay nói khác đây là pháp có công năng tịch diệt hai pháp chỉ và quán. Do hai pháp tịch diệt, tâm Bồ Tát không còn ngăn ngại nên tạm gọi là Thiền Na hay còn gọi tùy thuận Viên Giác. Tùy thuận là vì Bồ Tát không lấy Viên Giác, không bỏ Viên Giác, chỉ y như nguyện làm cầu đò đưa chúng sanh ra khỏi biển khổ.
Tóm lại ba pháp trên hỗ trợ cho Bồ Tát thể nhập vào chơn Viên Giác. Vì nếu chỉ tu đơn thuần một pháp, thì không thể nhập chơn Viên Giác. Bởi lẽ, như Phật dạy: Viên Giác không do bốn bịnh mà thành.
Có pháp để tu, có Viên Giác để nhập là bịnh.
− Bịnh ‘nhậm’ nghĩa là mặc kệ của phàm phu.
− Bịnh ‘tác’ nghĩa là pháp làm ra của nhị thừa.
− Bịnh ‘chỉ’ tức đình chỉ mọi duyên của pháp Xa Ma Tha.
− Bịnh ‘diệt’ là làm cho các pháp dứt diệt của pháp Tam Ma Bát Đề.
Thiền Na chính là liệu pháp làm sạch bốn bịnh để hiện chơn trí tuệ. Chơn trí tuệ hiện gọi là Viên Giác tức giác ngộ viên mãn. Do đó khi chưa thấy chơn Viên Giác, Bồ Tát phải tu đủ ba pháp.
Vì sao Bồ Tát đã ngộ Viên Giác còn phải tu ba pháp? Giống như mặt trăng thứ hai trong ao nước, mặt trăng này với trăng trên trời không khác, nhưng chưa thể bảo là một. Người trí nhân mặt trăng dưới ao, biết được trên trời có trăng, tu tập ba pháp giống như người thấy mặt trăng thứ hai, sau đó nhìn ngược lên trời để thấy trăng thật. Khi thấy mặt trăng trên trời thì mới biết mặt trăng dưới ao không thiệt. Bây giờ Bồ Tát quyết chắc chỉ có một mặt trăng, không có nhiều trăng, không có trăng khác, mọi hoài nghi trăng và bóng không còn.
Cũng vậy lúc nghe đến Viên Giác với những tính chất như vậy, Bồ Tát nương các tính chất này để làm sạch những gì còn thừa sót về với chơn Viên Giác. Khi chơn thấy rồi thì mới biết chúng sanh, Bồ Tát, Phật đồng một giác tánh thanh tịnh không có nơi chốn để về. Trong kinh Viên Giác Phật kết luận ý nghĩa của Thiền Na như sau:
“Này Thiện nam tử! Ba pháp môn này, đều là phương tiện để nhập Viên Giác tánh. Mười phương các đức Phật đều nhơn phương tiện này mà được thành Phật. Mười phương các vị Bồ Tát, tu các phương tiện hoặc đồng hay khác, nhưng cũng đều y ba pháp môn này mà được chứng ngộ chơn Viên Giác.”[[4]]
[[1]] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn –HT. Thích Trí Tịnh dịch.
[[2]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.
[[3]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.
[[4]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.
(còn nữa)
Phần 18: Như Thế Nào Được Coi Là Vị Có Trí Tuệ Trong Phật Đạo? Giác, Quán, Pháp Tu Ba Tam Muội Là Gì? Thực Hành Lẵng Lẽ, Quan Sát, Không Kết Luận Như Thế Nào? (Trang 226 - 237)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 18: Như thế nào được coi là vị có trí tuệ trong Phật đạo? Giác, quán, pháp tu ba tam muội là gì? Thực hành lẵng lẽ, quan sát, không kết luận như thế nào? (Trang 226 - 237)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh