Sinh Hoạt Lý Gia

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Cuộc sống thường ngày có diễn ra như thế nào thì lúc cầm cuốn sách trên tay luôn là khoảng thời gian thật đặc biệt với con. Mở bất cứ trang sách nào cũng cảm nhận được sự tương ưng, tìm thấy ánh sáng dẫn đường, như đứa trẻ thơ được uống sữa mẹ, đọc rồi thấy nhẹ bẫng, khoan khoái, tỏ tường.

            Tâm sự huynh đệ số 01


Các bạn !!!

Có thể nói, từ tết nguyên đán Canh Tý đến giờ, thời gian không dài...Hôm nay là 14 tháng giêng, chỉ vỏn vẹn có nửa tháng... Nhưng, các HĐ trẻ của chúng ta đã mang đến cho đại gia đình LÝ GIA thật nhiều niềm vui...!!!

Tối mùng một, nói chuyện với Thuỳ...Chỉ trong vòng một tiếng rưỡi, Thuỳ đã nhận ra nhiều vấn đề và trưởng thành rõ rệt, thậm chí “đi vào quỹ đạo” một cách tuyệt vời !!!

Mùng sáu tết, Đức từ Hà Nội vào thăm mình, sống cùng nhau 24 giờ, nhưng chỉ hai tiếng đồng hồ nói chuyện vào sáng mùng bảy...Đức gần như “hoàn toàn lột xác”...Mình nhớ như in lời hứa của Đức: “Tháng sáu này, con sẽ mang tấm bằng tiến sĩ nước ngoài về dâng thầy làm quà, và nhất quyết dành cả cuộc đời thực hiện hoài bảo mà thầy đã và đang thực hiện...Đã đến lúc thầy cần nghỉ ngơi” !!!

Tối hôm qua, nói chuyện với Nhi...Mình có cảm giác, chỉ còn một vài bước nữa, Nhi có thể đặt chân vào những bậc thang quan trọng của đạo pháp...Một trong những bậc thang khó nhất đối với người tu hành !!!

Chiều nay, trong lúc tập thể dục, Thoa từ Hàn Quốc FT về...Các bạn thử tưởng tượng, tiếng ríu rít cùng những bước nhảy nhót vui mừng của con chim đã thoát khỏi chiếc lồng kiên cố như thế nào, thì cái vui của Thoa chiều nay cũng như vậy !!! Thoa phá vở chiếc lồng ba cõi đã giam nhốt tâm thức từ vô lượng kiếp trong lúc đọc Tâm Pháp...Thoa kết luận trong nước mắt vui: “Mấy trăm trang sách, thầy không biểu tu, không bắt ngồi thiền, không bắt tụng kinh, nói chung không yêu cầu làm gì cả...Nhưng lại khiến con giác ngộ” !!!

Giờ này, nhận được email của Phương Anh...Những gì Phương Anh viết trong email cho thấy sức tinh tấn và thành tựu của Phương Anh thuộc loại “hàng hiếm” trong hiện tại...Nó là thứ “siêu khẩu trang” có công dụng chống “đại dịch mê muội” !!!

Các bạn !!!
Chúng ta đã làm được những việc mà trước đây cứ ngỡ “chuyện trên sao hoả” hay là “chuyện trong mơ”...Nhưng, chuyện trên sao hoả hay chuyện trong mơ... đến nay đã trở thành hiện thực trong HĐ Lý Gia...Một sự thật hiển nhiên đang phơi bày dưới ánh mặt trời, dù ai đó muốn chối bỏ thành quả này cũng không thể được !!!
Và một điều rất kì thú đó là, các HĐ trẻ của chúng ta ngày nay đã thấu suốt được những điều mà ngày xưa Vô Uý Đức, Long Nữ, Thắng Man Phu Nhân..v..v... đã từng thấu suốt !!! Đây là minh chứng rõ nét “chánh pháp thường còn” !!!

Xin chuyển đến các bạn, tâm sự của Phương Anh !!!
LÝ TỨ
07/02/2020

Thầy kính,

Anh Lạc Luận là tập hợp những bài viết thầy trao đổi cùng HĐ từ gần chục năm trước, thế nhưng nó thực sự là và mãi mãi sẽ là cuốn sách không tuổi thầy ạ.

Cuộc sống thường ngày có diễn ra như thế nào thì lúc cầm cuốn sách trên tay luôn là khoảng thời gian thật đặc biệt với con. Mở bất cứ trang sách nào cũng cảm nhận được sự tương ưng, tìm thấy ánh sáng dẫn đường, như đứa trẻ thơ được uống sữa mẹ, đọc rồi thấy nhẹ bẫng, khoan khoái, tỏ tường.

Lại có những bài đặt ra cho con những câu hỏi lớn, đọc xong là gấp sách lại, ôm cái cục ấy gặm nhấm. Gặm cả trong giấc ngủ  Như bài Tam muội môn gia trì con vừa đọc:

"Đại Huệ! Tam muội của Bát Địa Bồ Tát đạt được cũng như Niết Bàn của Thanh Văn, Duyên Giác...Nhưng nhờ Phật lực gia trì nên Bồ Tát ở trong tam muội không nhập Niết Bàn. Nếu không có sự gia trì ấy thì Bồ Tát không hóa độ chúng sinh, không hoàn thành Như Lai địa, lại còn dứt giống Phật.


Bởi thế nên Phật vì Bồ Tát mà nói các công đức lớn không thể nghĩ bàn của Như Lai, khiến họ rốt cuộc không nhập Niết Bàn. Thanh Văn, Duyên Giác tham đắm pháp lạc tam muội. Ở lặng lẽ, nhầm tưởng là Niết Bàn"

Câu Hỏi: Trong đoạn kinh trên có viết: "Nhưng nhờ Phật lực gia trì nên Bồ Tát ở trong tam muội không nhập Niết Bàn". Theo các bạn, "Phật Lực Gia Trì" trong đoạn kinh đã dẫn, nhằm chỉ điều gì???

Đọc đoạn kinh mà con thấy giống những gì mình đã trải qua quá. Thời điểm ấy, con còn nhớ như in thầy đã nhấc con một cách ngoạn mục, chỉ một câu khiến con tỉnh “một giấc mơ dài trong một giấc mộng lớn”.

Trong con lúc ấy tồn tại 2 cảm giác, 1 là cái chắc chắn của người được giác ngộ biết mình đã tỉnh giấc, hai là cái chới với “làm gì đây” của người vừa mới tỉnh giấc.

Cảnh giới ấy rất đúng là nó “cũng như Niết bàn của Thanh văn Duyên giác”. Và cũng rất đúng là thời điểm đó có những lúc con thấy mình như “Thanh Văn Duyên giác tham đắm pháp lạc tam muội. Ở lặng lẽ lầm tưởng là Niết bàn”. Nhưng nhờ có Thầy nhìn rõ tâm ý của con, những câu nói, những bài viết của thầy đã lại giúp con một lần nữa giác ngộ thấy được cái hạ liệt trong mình.

Lúc con đọc đến câu “nếu như Chư Phật ba đời không quyết định nơi đại thừa ...” con bừng tỉnh biết con đường cần đi, biết việc cần làm, hiểu ra thực nghĩa “rốt cuộc không nhập Niết bàn”. Và cho đến nay, lâu lâu chểnh mảng nguyện xưa là con như ... “thấy Phật nhắc” ... hihihi.

Câu hỏi Thầy đưa ra khiến con cảm thấy nó như viết cho mình vậy. Dù biết đây là nội dung thầy trao đổi với các HĐ từ những năm 2013 và khi tập hợp sách chắc chắn chú Phúc sẽ đưa vào câu trả lời của các HĐ và của thầy cho đề tài này đâu đó ở những bài phía sau.

Nhưng con cảm thấy bản thân cần tinh tấn, tự lực không được “biếng làm ăn sẵn” nên con quyết định gấp sách lại và tự mình nhìn lại, lặng lẽ quan sát. Câu hỏi theo con vào cả giấc ngủ. Quan sát lại nơi ấy, lúc đầu con chỉ thấy trong mình dâng lên sự biết ơn Thầy sâu sắc, sự ngưỡng mộ tột bậc, sao chỉ bằng vài câu mà như con như người mù bỗng mắt sáng.

Rồi con nhận ra Thầy đã gia trì cho con bằng Trí, dùng Trí mà bào chế thứ thuốc giúp con giác ngộ. Và khi con được bất động, ở nơi vắng lặng ấy, cũng có thứ gì đó từ nơi con giúp con biết đường cần đi, việc cần làm. Theo con trực nhận đó là Trí, con không biết có thứ tên nào để chỉ riêng cho thứ Trí ở giai đoạn này không. Con tạm gọi là “trí mầm”, cái trí gì đó mà nó nảy lên từ mảnh đất “không” ấy, cái trí gì đó mà nó cũng không thực sự được gọi là “sinh ra” mà nó vẫn sẵn ở đó trước tới giờ, chỉ là nay khi thức đã tịch diệt, mình mới trực nhận ra nó và nó mới bắt đầu thực sự hoạt động, cái thứ trí được tưới tẩm dưỡng nuôi từ dòng nước pháp nơi Thầy.

Phật lực gia trì theo con chính là Trí tuệ Phật, từ Trí tuệ ấy mà phát sinh Từ Bi Hỷ Xả, phát sinh năng lực tương thông tâm ý, thấu rõ tâm cơ của ba thừa, vì thấu rõ tâm cơ ba thừa mà hoá hiện đủ mọi phương tiện giúp lăn chuyển bánh xe pháp.

Mấy lời trực nhận của con, mong thầy chỉ dạy cho con tỏ tường.

Con, Phương Anh 
 

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Bài Viết Của Lý Phương Anh Chủ Đề Tam Muội Phật Lực Gia Trì

Sinh Hoạt Lý Gia

Tiễn Năm Cũ Chào Năm Mới Bằng Học Tập Và Tinh Tấn Học Tập !!!!!

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Như vậy, sơ ngộ và giác ngộ có tính thống nhất, có thể coi là điểm đầu và điểm cuối của 1 quá trình chuyển biến trong tâm thức

Tiễn Năm Cũ Chào Năm Mới Bằng Học Tập Và Tinh Tấn Học Tập !!!!!

Trong những ngày này, mình có một cảm nhận dường như năm mới hay năm cũ, ngày thường hay ngày lễ không có mấy khác biệt đối với sự học tập của Lý Gia.

Các diễn đàn online có thể tạm ngưng thì thế vào đó lại là những cuộc gặp mặt cafe hoặc điện thoại trực tiếp để trao đổi về giáo pháp.

Bản thân mình thấy đó là những tín hiệu đáng mừng, là cách thiết thực nhất để lời chúc năm mới an vui tinh tấn của Thầy tới toàn thể HĐ trở thành hiện thực.

Để mở đầu cho phong trào học tập năm 2023, mình tốc kí ghi lại một vài nội dung bản thân cùng HĐ trao đổi:

1. Sơ ngộ là gì? Giác ngộ là gì? Làm sao để nhận biết ta đã sơ ngộ? Sơ ngộ có phải là Quả vị Vô lậu không?

Sơ ngộ và giác ngộ là 2 thuật ngữ trong Phật đạo, có thể được cắt nghĩa theo một cách dễ hiểu như sau:

- Sơ: là lướt qua 1 lượt, ko kĩ càng đầy đủ, là mới quen biết, ở giai đoạn đầu, mới hình thành

- Giác: là sự hiểu biết đầy đủ, toàn diện, thấu đáo

- Ngộ: là trực nhận, là bắt gặp trong chính mình.

* Sơ ngộ nhằm chỉ thời điểm mà 2 điều sau xảy ra trong tâm trí của người tu hành:

- bắt đầu hiểu ra nguyên lý hoạt động của tâm thức (ở mức độ chưa kĩ càng).

- lần đầu bắt gặp thanh tịnh tâm.

* Giác ngộ nhằm chỉ thời điểm mà 2 điều sau xảy ra trong tâm trí của người tu hành:

- thấu suốt nguyên lý hoạt động của tâm thức

- trực nhận bổn lai không tâm, tự thanh tịnh.

Như vậy, sơ ngộ và giác ngộ có tính thống nhất, có thể coi là điểm đầu và điểm cuối của 1 quá trình chuyển biến trong tâm thức. Mà ở đó:

- về khía cạnh nhận thức: khởi đầu bằng sự cơ bản hiểu ra căn nguyên của hư vọng, của khổ phiền não cho đến sự hiểu biết thấu đáo, đầy đủ và toàn diện về nguyên lý hoạt động của tâm thức.

- khía cạnh nội tâm: từ lần đầu thấy vắng lặng tịch nhiên chân thật trong nội tâm cho tới sự trực nhận bổn tâm xưa nay tự thanh tịnh.

* Sơ ngộ xảy ra khi một người sau một thời gian học tập và trao đổi, gần gũi thiện tri thức. Thông qua học tập được trang bị những kiến thức chuẩn, được nghe giải thích minh bạch, tường tận về tâm thức. Từ đó trong một lúc bất chợt bắt đầu hiểu ra và tự mình giải mã được nguyên lý chuyển biến của tâm thức, căn nguyên của khổ phiền não. Đồng thời, thông qua tư duy và trao đổi với thiện tri thức, người này được thiện tri thức khơi dòng và điều tâm cho tới thanh tịnh.

* Sơ ngộ không phải là quả vị Vô lậu. Vô lậu là chặng giữa sơ ngộ và giác ngộ.

Sau khi sơ ngộ, người tu hành lấy cái thấy thanh tịnh và tâm thanh tịnh làm "mỏ neo", làm "căn cứ", làm "nơi chốn để trở về". Lần lượt trong mỗi đối duyên xúc cảnh, y nơi tâm và trí thanh tịnh đã giác mà tinh tấn quan sát các pháp như huyễn, lóng trong các vọng tâm, vọng tưởng, vọng niệm, trưởng dưỡng thanh tịnh tâm, được quả vị vô lậu. Vô lậu giống như vùng trắng của tâm thức. Trong điều kiện định tĩnh, không cấu nhiễm, không phiền não như thế, tới một lúc người tu hành hội đủ tri kiến và định lực hướng tâm tới cứu cánh hoát nhiên hiểu ra cớ sự, xuyên phá đầu mối xuất sinh sinh tử trong ba cõi, trực nhận bổn lai thanh tịnh, gọi là Giác ngộ.

2. Hỏi: Có 5 thứ trói buộc người tu hành phải thoát ra là công nghiệp, biệt nghiệp, ngũ ấm, ba cõi và các pháp. Trong ba cõi đã bao gồm vô sắc giới tức các pháp, vậy tại sao còn cần nhắc đến các pháp một lần nữa?

Trả lời: Ba cõi thuộc về thế gian. Người tu hành thoát khỏi ba cõi là muốn nói đến thoát khỏi sự trói buộc của các pháp thế gian.

Ngoài các pháp thế gian còn có các pháp thuộc về xuất thế.

Chỉ khi nào lành dữ, thiện ác, thế gian xuất thế ... tất cả đều "đáo bỉ ngạn" trong tâm thức, người này mới thực sự giải thoát.

Một số câu hỏi tiêu biểu khác cũng được đưa ra trao đổi như:

* Mối liên hệ giữa dứt nhuận chi vô minh, dứt căn bản vô minh và dứt Tập- Chứng Diệt?

* Giải thích:

"Tứ Niệm Xứ chính là Khổ đế

Tứ Niệm Xứ chính là Thiền xứ

Tứ Niệm Xứ chính là Tập Đế và dứt Tập đế

Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Diệt đế và Dứt khổ diệt đế

Tứ Niệm Xứ chính là Khổ đạo đế và Tứ trí đế

Tứ Niệm Xứ chính là Trung đạo để Chư Phật mở Từ bi Tâm khai phát Chân Giáo."

Những câu hỏi này cùng rất nhiều các đề tài khác, HĐ chúng ta sẽ cùng nhau thảo luận rộng rãi trong các buổi sinh hoạt trực tuyến sắp tới và chắc chắn sẽ được nghe những sự hướng dẫn cho tới thấu tỏ từ Thầy !!!!!

Thành tâm kính đảnh lễ tri ân Thầy và chúc mừng năm mới HĐ,

Lý Phương Anh

(2.1.2023)

Sinh Hoạt Lý Gia

Tam Độc !!!

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Phật đạo lấy Trí Tuệ làm mục tiêu tối thượng gọi là “Duy Tuệ Thị Nghiệp” và con đường độc đạo hướng tới mục tiêu cao thượng, đoạn trừ Tam độc, chấm dứt Vô minh, Hành, Thức, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn, chỉ có thể là “Giác ngộ; Giải thoát và Trí tuệ” hay còn gọi là Tam Pháp Ấn thời hiện đại !!!

Tham; Sân; Si được ví như là ba món độc dược hại người từ xưa tới nay. Đi tìm lời giải cho bài toán “Tam độc” là vấn đề quan trọng và cần thiết, rất hữu ích cho người mới nhập môn !!!

Phật pháp được coi là một nền giáo dục đặc thù, bởi “Giác ngộ; Giải thoát và Trí tuệ”. là sản phẩm “Ba trong một”. Nếu thiếu một tánh chất bất kỳ nào đó trong ba tánh chất, thì không được coi là sản phẩm của giáo dục Chánh Pháp.

Điều kiện cần thiết để nhập trường “Phật Học Hiệu” cũng có tánh đặc thù, được Ngũ Tổ chỉ giáo “Bất thức bổn tâm học pháp vô ích” có nghĩa là chưa quay về để nhận ra Bổn tâm xưa nay vô niệm, vô tướng, vô tác, không pháp, không tâm (hư vọng), bất động, giải thoát, vốn tự đầy đủ, rỗng rang, lạc, tịnh, vốn không sanh diệt, vốn tự sáng suốt, liễu tri muôn pháp, Niết bàn Chơn Như… Thì việc học pháp là vô ích !!!

Do vậy, người học muốn theo học trí tuệ của Phật, cơ bản không còn tám món khổ thế gian đeo bám, thấu suốt phiền não như gió thoảng mây bay, ra khỏi kiết sử (mười món trói buộc sai khiến) như nước chảy qua cầu, đoạn trừ lậu hoặc (các món rỉ chảy che mờ) như trăng sáng không mây… cho đến khi nào tâm cơ khế hợp với lời Tổ dạy “Thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh…” nghĩa là Chơn Như hiện rõ, tánh giác chiếu soi, trực nhận vấn đề, giác ngộ diệt đế… Mới đủ tư cách cắp cặp vào trường, gieo mình, năm vóc sát đất, đảnh lễ Bổn Sư “Khai Thị Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”.

Để đạt được mục tiêu hết khổ, dứt tập, chứng diệt… ra khỏi “Thế gian đế” thì giải bài toán “Tam độc” được coi là một trong những đầu mối quan trọng, giúp người học thoát ra khỏi sự trói buộc của pháp thế gian trong đó có mười món (gọi là kiết sử), gồm có “Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi (gọi là độn sử)– Thân kiến, Biên kiến, Thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tà kiến (gọi là lợi sử)”.

Theo lý giải của Đạo Sư Lý Tứ mười kiết sử có mối quan hệ ràng buộc và nhân duyên với nhau theo “Lý duyên khởi”. Năm món độn sử “Tham Sân Si Mạn Nghi” có thể gọi là lỗi hành vi (như lửa cháy). Năm món lợi sử “Thân kiến Biên kiến Thủ kiến Giới cấm thủ kiến Tà kiến” có thể gọi là lỗi nhận thức (như củi đốt).

Căn cứ ý nghĩa của lời kinh “Củi hết lửa tắt” tạm gọi là Pháp lệnh của giáo dục (tâm cơ), khi nhận thức thay đổi thì hành vi sẽ thay đổi; Hành vi thay đổi như pháp thì đời sống sẽ thay đổi, “củi hết lửa tắt” thì Niết bàn an vui tự hiện.

Theo nguyên lý trên, bậc thầy giác ngô dùng “thần thông ngôn thuyết”, giảng giải “Có đầu có đuôi, khúc chiết gọi là thông lý” làm thay đổi nhận thức về năm lỗi “Thân kiến, Biên kiến, Thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tà kiến” ví như “rút củi đáy nồi thì nước tự nguội” các lỗi về hành vi “Tham Sân Si Mạn Nghi” sẽ mỏng lược dần cho đến chấm dứt, nghĩa là “thông lý gọi giác”, mà không cần phải cầu, cúng hay dụng công… cụ thể như sau:

+ Thân kiến thay đổi thì hết Tham !!! Khi thay đổi nhận thức về Thân đồng như hư không, quán thân như chết rồi thì ái thân chấm dứt, lấy thiểu dục tri túc làm đời sống, bằng lòng với đời sống hiện tại thì… hết tham.

+ Biên kiến không còn thì hết sân !!! Có thể hiểu, Sân là hiệu ứng xảy ra khi hiệu số bất như ý giữa hai đại lượng bất bình đẳng, luôn xảy ra khi so sánh (phải trái; hơn thua, được mất; đúng sai; hay dở…), mà người sân là chủ thể luôn đứng về một phía để so đo, tính toán, phán xét với phía ngược lại. Khi so sánh chấm dứt, hiệu số không còn, thì hết sân.

+ Thủ kiến chấm dứt thì hết Si (si mê)!!! Khi trong lòng không còn thủ giữ cái thấy nghe hay biết thì hết chấp, “không ôm rác vào lòng thì không phải xả rác” chấp nhứt không còn thi hết mê, hết mê thì hết ngu si, ám độn…vv…

Tinh tấn học tập theo lời chỉ dạy của Đạo Sư Lý Tứ thì bài toán “Tam dộc” được giải quyết rõ ràng, nhẹ nhàng mà hiệu quả, kể cả việc giải thoát ra khỏi mười sự trói buộc sai khiến (kiết sử), cũng không làm khó học trò Lý gia, bởi Học trò Lý gia được Thầy chỉ rõ nguyên lý “Tồi tà hiển chánh”; “Đoạn mê khai giác” “Chuyển thức thành trí”… vô cùng lợi lạc, như ánh sáng mặt trời xua tan bóng tối.

Vận dụng lời Thầy giáo dạy, học trò tư duy, lý giải thông suốt nguyên nhân năm lỗi nhận thức xuất hiện, thứ nhất là do tà kiến, (tà là cong lệch, kiến là sự thấy nghe hay biết; người học hiểu sai lời Phật dạy gọi là bị cong lệch, hay Tà kiến); thứ hai là do sự mê mờ về (bốn thứ kiến còn lại) thân kiến, biên kiến, thủ kiến, giới cấm thủ kiến) cho cái thấy điên đảo, mê muội… vô thường cho là thường, vô ngã lấy làm ngã . Nương tựa nơi vô thường, vô ngã mà xảy ra phiền não, kiết sử, lậu hoặc làm cho thức mê mờ, thức loạn động, thức điên đảo.

Người học lắng nghe lời giảng của Thầy đến nơi đến chốn; Tư duy thấu suốt nguồn cơn, thầu rõ những gì gọi là chánh đạo và chướng đạo trong tâm cảnh gọi là giác…Ứng dụng nhuần nhuễn những gì đã giác để giải quyết nguồn tâm, chấm dứt các nguyên nhân sanh diệt trong lòng gọi là ngộ. Kết quả này gọi là giải bài toán đúng, phương pháp đúng, cho ra đáp số đúng, trong Phật đạo.

Y lời Thầy chỉ dạy “Khi giải được bài toán đúng trong Phật đạo thì không khó để nhẩn ra những bài toán sai. Còn có giải hàng ngàn bài toán sai thì cũng không thể biết được bài toán đúng”. Vận dụng lời Thầy dạy, học trò xin phép được trình bày một số ví dụ cụ thể.

Khi giản trạch về mười hai nhân duyên người học cũng không khó để nhận ra ba món Tham, Sân, Si ẩn mình, dấu mặt trong tiền tế (Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc).

Hữu tình khởi lòng tham những thứ hình tướng, vô thường, sanh diệt, biến hoại… gọi là (Vô minh); Sân hận trong lòng không dứt, hành tâm loạn động gọi là (Hành); Ngu si ám độn làm cái biết bị che chướng mê mờ, gọi là (Thức), Ba món (Vô minh, Hành, Thức bao boc đầy đủ ba món Tham, Sân, Si như tằm với kén).

Căn cứ Kinh Nhân Duyên Phật thuyết, giai đoạn tiền tế có ba loại hạt giống cơ bản làm nên một chúng sanh đó là Vô minh; Hành; Thức duyên vào Danh sắc tạo nên mầm sống của hạt giống chúng sanh, gọi là mầm Danh Sắc.

Khi đủ duyên, mầm danh sắc phát triển, các căn được hình thành, thực hiện chức năng lục nhập thông qua các duyên xúc, thọ, ái (giai đoạn trung tế) và thủ, hữu, sanh, lão tử (giai đoạn hậu tế)… gọi là luân hồi nghiệp quả Vô minh, Hành, Thức; “Tam độc” chúng sanh.

Nghiệp quả chúng sanh vẽ lên muôn vàn cảnh giới trong tâm thức… Nhưng cũng không ra ngoài ba món Vô minh, Hành, Thức. Ba món (vô minh, hành, thức) duyên vào Danh sắc mà hoá hiện tâm cảnh thập loại chúng sanh trong đó có con người.

Gọi là con người bởi có đủ Thân và Tâm. Có thân thì có Thọ, có Tâm thì có Pháp như vậy có bốn nơi chốn cần phải nhớ nghĩ để thành lập bốn trung tâm cai ngu, cai nghiện, cái mê đó là Thân, Thọ, Tâm, Pháp hay còn gọi là Tứ Niệm Xứ.

Bốn trung tâm cùng chung mục tiêu, nhưng lại ứng dụng bốn loại công nghệ khác nhau do vậy, sản phẩm có thể cho ra bốn tên gọi, đó là Thanh Văn; Duyên giác; Bồ tát quyền thừa; Bồ tát nhất thừa và cỗ xe Đại thừa đang chờ đón những Vị Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề tới trường, học tập trí tuệ bát nhã hay còn gọi là Phật thừa.

Biện pháp giáo dục thay đổi nhận thức trong Phật đạo trong giai đoạn đầu, là quá trình “Tồi tà hiển chánh”; “Đoạn mê khai giác”. “Chuyển thức thành trí”, “Phàm chuyển thành Thánh”…vv… Do vậy, thấu suốt tiền tế, giải được bài toán (vô minh, hành, thức, danh sắc) thì Tam độc khỏi cầu, cúng, dụng công… cũng chấm dứt.

Ngược lại, nếu hiểu sai chủ trương đường lối giáo dục trong Phật đạo, cứ để nguyên thức mê, giữ nguyên chúng sanh tánh … mà tu luyện hay giáo dục như cách hiểu thế gian, thì kết quả sẽ cho ra một loại sản phẩm “Chúng sanh cang cường” (lời kinh), tà kiến biến thể, ngu si đầy đủ, ngã mạn tăng trưởng, che chướng triền miên, bao bọc nhiều tầng, u mê như rừng rậm vô minh. Đặc biệt nguy hai là sản sinh một loại trùng độc, ký sinh trên mình, hại chết sư tử !!!

Phật đạo lấy Trí Tuệ làm mục tiêu tối thượng gọi là “Duy Tuệ Thị Nghiệp” và con đường độc đạo hướng tới mục tiêu cao thượng, đoạn trừ Tam độc, chấm dứt Vô minh, Hành, Thức, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn, chỉ có thể là “Giác ngộ; Giải thoát và Trí tuệ” hay còn gọi là Tam Pháp Ấn thời hiện đại !!!

Con xin tri ân đảnh lễ công đức giáo dạy của Thầy !!!

Ngày 24/11/2022

Con, Lý Thái Đăng

Sinh Hoạt Lý Gia

Sự Chuyển Biến Của Tâm Thức Từ Cảnh Giới Của Tam Vô Lậu Học Đến Cảnh Giới Của Tam Giải Thoát Môn

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Trên con đường tiến đến giải thoát chân chánh, Vô lậu tâm là một trong những cứ điểm quan trọng mà người tu hành cần chiếm đóng. Đây là quá trình ra khỏi ba cõi khổ dựa trên nền tảng “Giới - Định - Huệ vô lậu” gọi là Tam Vô lậu học.

I. Tiếp cận đề tài

Trên con đường tiến đến giải thoát chân chánh, Vô lậu tâm là một trong những cứ điểm quan trọng mà người tu hành cần chiếm đóng. Đây là quá trình ra khỏi ba cõi khổ dựa trên nền tảng “Giới-Định-Huệ vô lậu” gọi là Tam Vô lậu học.

Vô lậu Tâm là một thứ tâm không còn phiền não rỉ chảy, một thứ tâm đáng quý. Tuy nhiên Vô lậu Tâm vẫn chưa phải là Niết Bàn. Muốn chứng rốt ráo vô lậu vào Niết Bàn chân thật, người tu hành còn phải mở một trong ba cánh cửa Tam Giải Thoát Môn: cửa Không, cửa Vô Tướng, cửa Vô Tác.

Vậy, có những chuyển biển cụ thế như thế nào xảy ra trong tâm thức của người tu hành từ cảnh giới của Tam Vô lậu học sang cảnh giới của Tam Giải thoát môn? Nhãn quan ra sao, giác ngộ như thế nào gọi là đã mở được ba cửa Không, Vô Tướng, Vô tác, vào thành Niết Bàn? Đây là những câu hỏi khiến người viết khởi tạo bài viết.

II. Sơ lược về Tam vô lậu học

1. Vì sao Phật tuyên nói ba học pháp vô lậu?

Hầu hết người tu hành sở dĩ hướng tâm về Phật là do đời sống tâm thức cảm thấy có phiền não, có chướng ngại. Nỗ lực tu hành chính là hành động cụ thể biểu hiện cho mong ước có được một tâm trí thảnh thơi, an vui, tự tại.

Nếu bình tâm quan sát, sẽ thấy suy cho cùng sở dĩ con người ta tâm có phiền não, trí có chướng ngại chỉ là do mang trong mình một nhận thức như thế nào đó về thế giới hoặc về chính mình. Nhận thức dẫn dắt hành vi, do nhận thức và hành vi lỗi họa dẫn đến thấy nghe thì điên đảo, tâm thì nặng nề mê muội, trí thì rối rắm nghĩ suy.

Để giải quyết vấn đề này, biện pháp hữu hiệu sẽ là thiết lập một nhận thức, một quy tắc nhìn nhận và ứng xử mới đối với thế giới cũng như đối với chính thân tâm này. Đây là lí do vì sao Tam vô lậu học hay còn gọi Giới-Định-Huệ vô lậu ra đời.

Giới vô lậu có thể được coi chính là sự thiết lập một cách thức nhìn nhận, một quy tắc ứng xử mới đối với thế giới bên ngoài (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc) cũng như nội tâm bên trong (ý xúc đối các pháp).

Giới vô lậu được nêu trong nhiều loại Kinh khác nhau như:

- Kinh Sa Môn quả:

“Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu hộ trì các căn này nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.”

- Kinh Các căn tu tập:

“Ở đây, này Ananda, vị Tỳ kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý …

Vị ấy tuệ tri như sau: “Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả”.

Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại …”

- Kinh Kim Cang: “Bất ưng trụ sắc thanh hương vị xúc pháp sinh tâm”

Dù được tuyên thuyết dưới nhiều hình thức diễn đạt khác nhau, nhưng các bài Kinh đều có điểm chung là hướng con người ta tới cùng một quy tắc: khi sáu căn xúc đối với sáu trần, không phân biệt, không thủ giữ, không chấp nhất, không mê mờ. Đây chính là giới vô lậu. Hệ quả của Giới Vô lậu là một nội tâm định tĩnh, không uế nhiễm do không thủ giữ, không chấp nhất, không mê mờ.

2. Vì sao Giới- Định- Huệ có sự liên kết chặt chẽ?

Nhận thức dẫn dắt hành vi (Giới), hành vi làm nên tâm cảnh (Định), tâm cảnh là chỗ y cứ để nhận thức thêm thấu tỏ (Huệ). Do vậy Giới-Định-Huệ vô lậu cái này có thì cái kia có, một cái có thì cả 3 cùng có.

3. Vì sao gọi là học pháp?

Gọi là học pháp, bởi đã là những quy tắc nhìn nhận và ứng xử mới thì đây là điều người ta cần phải học, có học mới biết để thay đổi, không khác được. Giống như đứa trẻ, sinh ra không biết gì nên nhặt bẩn lên ăn, phải có một người lớn đến dạy và chỉ bảo cho nó biết đồ bẩn ăn vào sẽ đau bụng. Đứa bé học được nguyên tắc không nhặt đồ bẩn đưa vào mồm ăn, sẽ được khỏe mạnh, không bệnh tật. Cũng như vậy, Giới-Định-Huệ vô lậu là những điều cần học, cần hiểu, hiểu đúng mới có thể thực hành đúng, thực hành đúng sẽ tiến tu vô lậu.

4. Sự khác biệt về trình tự của Tam Vô Lậu học ở Nhị thừa và Bồ Tát thừa

Giới- Định- Huệ vô lậu của Nhị thừa xuất pháp từ Giới, dựa trên nền tảng của xả pháp và mang hơi hướng dáng dấp của yểm ly. Điều này được mô tả trong Kinh Sa Môn Quả hoặc Kinh các căn tu tập “dầu cái gì khởi lên” thì đều nhất quyết không thọ, “tất cả đều đoạn diệt” chỉ có “xả tồn tại”. Không phóng dật, không nghĩ tưởng, không thọ nhận, xả tất cả các ác bất thiện pháp (hữu lậu), xả đến khi toàn tâm vắng lặng, nơi vắng lặng này được coi là thiện, là vô lậu. Cho nên với Nhị Thừa, trình tự của Tam Vô lậu học là nhân Giới mà được Đinh, nhân Định mà sanh Huệ.

Khác với Nhị Thừa, chỗ phát xuất của Bồ Tát thừa thiên về Huệ và trình tự Tam Vô Lậu học ở Bồ Tát Thừa lại là từ Huệ sanh Định, từ Định sanh Giới. Bồ Tát thừa giác ngộ sở dĩ phát sinh các thứ tâm hư vọng, phiền não là do trong xúc đối, thấy nghe hay biết theo thức nghiệp không theo bản chất của sự vật sự việc, gọi là mê mờ. Từ đó thừa này phát hiện cách thức trừ diệt các lậu hoặc, được mô tả trong Kinh Kim Cang: “Bất ưng trụ sắc thanh hương vị xúc pháp sinh tâm/ Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm”. Tâm không chạy theo thấy nghe hay biết, không trụ chấp vào những hiểu biết do nghiệp làm thành, nên rỗng rang thanh tịnh dừng lặng gọi là Định. Trong Định càng thấu tỏ hơn cái được gọi là chân lý, là bản chất của sự vật sự việc, là con đường nào đưa đến tâm thức hữu lậu và con đường nào đưa đến tâm thức vô lậu, gọi là Huệ. Khi thấu suốt như vậy, Bồ Tát thừa tinh tấn tự biết hộ trì, lóng sạch những thứ phàm tâm do tập khí nhiều đời, gọi là nhân Huệ sanh Giới.

III. Từ cảnh giới của Tam Vô Lậu sang cảnh giới của Tam Giải Thoát

1. Sự chuyển biến đầu tiên

Dù tiến tu theo trình tự nào thì Tam Vô Lậu học ở cả Nhị Thừa và Bồ Tát thừa đều đưa đến kết quả vô sanh nhẫn, hay vô sanh tâm, vô lậu tâm, tức tâm hư vọng đã tịch diệt, phiền não không còn rỉ chảy, thế chỗ cho an vui thanh tịnh.

Ở nơi thanh tịnh tâm đó, người tu hành bắt đầu có những cảm nhận đầu tiên về cửa Không, cửa Vô tướng, cửa Vô tác:

- Không ở đây nghĩa là thấy trong mình một trạng thái Tâm vắng mặt các thứ phiền não, kiết sử, lậu hoặc, là thứ Tâm “không có gì”.

- Vô tướng ở đây nghĩa là thấy trong mình một trạng thái Tâm không nắm giữ một thứ tướng, một quan niệm thế gian nào.

- Vô tác ở đây là một trạng thái tĩnh tịch, trong xúc đối không khởi tác ý.

Ở tầng nghĩa này, có thể thấy Tam giải thoát môn là sự kế thừa từ kết quả của Tam Vô Lậu học. Điều này thể hiện rất rõ nét ở Bồ Tát Thừa do quy trình Tam Vô Lậu Học của thừa này phát xuất từ Huệ, tức là ngay từ đầu đã mang hơi hướng của tam giải thoát.

Đó cũng là lí do vì sao một người thành tựu Tam Vô Lậu Học, chứng vô lậu tâm là mốc hoàn thành Tập Đế nhưng cũng được coi là đã bước một chân vào Diệt Đế. Tam Vô Lậu học giống như mặt trước của cánh cửa và Tam Giải thoát Môn là mặt sau khi người này bước sang phía bên kia, bỏ lại phía sau tất cả những gì thuộc về đời sống tâm thức cũ. Cảnh giới này còn được gọi là Xa Ma Tha xuất thế.

2. Tầng bậc nhận thức thứ hai

Như một người miên mật đi một quãng đường xa đã tới trạm dừng nghỉ, giờ mới ngồi xuống nhìn lại chặng đường mình đã đi qua và những chướng ngại đã gặp. Trong cái an tịnh, vắng lặng của thứ Tâm “chẳng có gì”, người tu hành bình tâm và nhìn lại đời sống tâm thức của mình trước kia.

Trong lúc quán sát, người này bỗng hoát nhiên phát hiện ra sự thật: những thứ phiền não kia tự nó là Không, không có từ trong bản chất của sự vật sự việc, chỉ là bóng dáng là hệ quả của một nhận thức sai lầm nào đó do tâm trí tự sản sinh ra. Giống như đứa trẻ nhìn bóng cây, tưởng cái bóng là con ma nên tâm trí hãi sợ. Thực tế, cái bóng chưa bao giờ là con ma, con ma không thật có thì … Phiền não cũng không thật có!!!

Người này cũng nhận ra phiền não kia Vô Tướng. Tự trong bản chất của sự vật sự việc không có chứa tướng phiền não tướng áp lực để có thể làm cho con người ta bị phiền não bị áp lực được. Cái cây chẳng thể làm gì đứa trẻ, chỉ tại đứa trẻ lầm bóng cây là con ma. Sự thật, không hề có hình tướng phiền não mà nó đã thấy!!!!

Phiền não đã không thật có, cũng chẳng có tánh tướng phiền não, chỉ do lầm mà thấy thì hết lầm hết phiền não, thật không có gì được gọi là “cái để làm”. Giống như đứa trẻ một ngày lớn lên, chân thật nhận ra xưa nay bóng cây chưa từng là con ma, mọi lầm nhận cùng hãi sợ phiền não trong nó tự tiêu tan, chẳng đem tâm tìm kiếm chỗ an toàn ẩn nấp cũng không còn mảy may nỗ lực giải quyết con ma, giải quyết phiền não. Gọi là Vô Nguyện, Vô tác!!! Hiểu ra “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, từ đây chân thật giải thoát, chân thật tự tại, chân thật bất động trong xúc đối. Cảnh giới này còn được gọi là Tỳ Bà Xa Na xuất thế.

3. Tầng bậc nhận thức thứ ba

Tam giải thoát môn ở tầng bậc thứ 2 có thể coi là giây phút chân thật nhận ra sự tồn tại không thật của các thứ phiền não lậu hoặc, cũng như nhận ra bản chân của thế giới. Thế giới tự nó không phải là một pháp (một quan niệm, nghĩ suy), không có tính chất phiền não cùng lậu hoặc, chẳng phải cột buộc cũng chẳng phải giải thoát. “Mong cầu nơi thế giới” (hữu lậu) hay “nỗ lực nơi phiền não” (vô lậu) ở người tu hành đều đã hoàn toàn tịch diệt, chỉ còn lại sự bất động trong tâm thức.

Người tu hành tiếp tục vào sâu trong cảnh giới thanh tịnh bất động, lặng lẽ quan sát chính mình tới một lúc bỗng nhận ra rằng: Thanh tịnh bất động này chẳng phải do tu hành mà thành. Trước khi sự việc xảy ra làm gì có cái gì được gọi là tâm, nơi chẳng có cái gì được gọi là tâm ấy đã chính là thanh tịnh bất động. Thanh tịnh bất động tự có, đã có từ khi chưa sinh vạn pháp, là chỗ gốc gác, khởi nguồn, bổn lai, là sự thật hằng hữu. Chẳng qua vạn pháp sinh ra, mê pháp rồi lầm tưởng tâm này lay động. Lầm tưởng lay động rồi lại mải miết rong ruổi tìm cầu cái thanh tịnh, bất động. Một phen dứt mê, nhìn trở lại tâm này, bây giờ mới chợt nhận ra, “bản lai đã tự có bất động rồi”. Một niệm không sanh, bất động tự hiện.

Tam giải thoát môn bây giờ trong người này mang ý nghĩa:

- Không: là sự thấu suốt bản lai chẳng có gì được gọi là Tâm (Không tâm, không pháp), bản lai đã tự vắng lặng, tự thanh tịnh, tự bất động, tự chẳng làm sao, tự an tự ổn. Tất cả chỉ niệm mê!!! “Như người ngủ ngàn năm, một phen thức giấc, ngàn năm không thật”. Đây là cái thấy Bổn tâm, thấy chân thật chính mình, người xưa gọi là Bản lai diện mục.

- Vô tướng: Gọi là thấy Bổn tâm thấy chính mình, nhưng kì thực biết rõ Bổn tâm là nơi chẳng có gì được gọi là tâm, chính mình là nơi chẳng có gì được gọi là mình, chứ chẳng phải là thấy cái gì đó như người ta tưởng, nên gọi là Vô tướng.

- Vô tác: là sự hiểu thấu Bổn tâm thanh tịnh chẳng phải do tác mà thành, mà đến được. Nó chỉ có thể là kết quả của sự thấu suốt gọi là Giác Ngộ.

Đến đây tất cả mọi vướng mắc, mọi mối tơ vò từ trước đến nay trong tâm trí của người tu hành về thế giới cũng như về chính mình đã được sáng tỏ. Tất cả đã sáng tỏ, mọi nguyên nhân phát sinh vọng tưởng đều tịch diệt, gọi là Diệt Đế. Tự tâm an lạc gọi là Thiền Na.

IV. Kết luận và một vài tâm sự

Như vậy, qua những phân tích ở trên, có thể thấy Tam Vô Lậu học là pháp tu hành, là công cụ để làm mỏng nhẹ sự ngăn che của thức nghiệp. Thức nghiệp mỏng nhẹ sẽ tạo điều kiện tối ưu để “cái tự ngộ” xảy ra, gọi là Tam Giải Thoát.

Cũng từ những phân tích trên, ta thấy được tính hoạt dụng đặc dị của các thuật ngữ trong Phật đạo. Cùng là Không-Vô tướng- Vô tác nhưng có thể là sự mô tả rất nhiều tầng bậc chuyển biến tâm thức khác nhau ở người tu hành từ hoàn thành Tập Đế, bước chân vào Diệt Đế cho đến viên mãn Diệt Đế. Các thuật ngữ nếu không được hiểu đúng sẽ rất mơ hồ, hiểu đã mơ hồ thì thực hành cũng khó lòng thấu thoát. Khi thuật ngữ đã được sáng tỏ hoặc được chỉ hướng cụ thể, mỗi căn cơ sẽ tự biết mình phải làm gì để tùy thuận chỗ thấy biết và rồi đưa tới thực chứng.

Bài viết trên đây được khởi nguồn từ nhân duyên trao đổi trong một buổi sinh hoạt sáng sớm chủ nhật của HĐ Lý Gia Miền Bắc. Những buổi sinh hoạt đều đặn và các HĐ không ngừng tinh tấn nỗ lực, cá nhân người viết cảm nhận sâu sắc việc học tập trong Lý Gia quả giống như những ngọn nứi lửa ngầm, nhìn lặng lẽ nhưng âm thầm hoạt động liên tục, không ngừng …

Tâm cảnh giới vốn là một phạm trù trừu tượng và rộng sâu, trong phạm vi một bài viết khó có thể bao trùm được hết tất cả các khía cạnh giáo tông cũng như các cảnh chứng tâm tông. Do vậy, bài viết cũng chỉ có thể khai thác đề tài ở một mức độ nhất định nào đó. Tuy nhiên, người viết cũng mong trong khả năng của mình có thể góp thêm một vài đốm lửa, biết đâu có thể hữu ích trở thành một chỉ dấu giúp HĐ, người hữu duyên sáng tỏ trên con đường tiến tu …

Lý Phương Anh

(28/9/2022)

Ảnh: Bên trong khoang lái của Máy bay tiêm kích Mig-21, trưng bày tại Bảo tàng Phòng không không quân.

 

Sinh Hoạt Lý Gia

Khai Thác Nội Dung Bài Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Ghi chép tóm lược của Lý Phương Anh về nội dung học tập và trao đổi giữa các huynh đệ trong một buổi sinh hoạt nhóm liên quân Miền Đông – Đà Nẵng về bài kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc, được trình bày lại dưới hình thức một bài tiểu luận ngắn.

KHAI THÁC NỘI DUNG BÀI KINH TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC

(Ghi chép nội dung sinh hoạt nhóm Liên quân miền Đông-Đà Nẵng)

  1. TIẾP CẬN BÀI KINH

Kinh tất cả các lậu hoặc là bài kinh số 2 thuộc Kinh Trung Bộ - Đại tạng Kinh Việt Nam, được coi là bộ kinh trang bị cho hàng Phật tử kiến thức căn bản để vững tiến trên con đường tu học.

Kinh Tất cả các lậu hoặc cũng là bài kinh số 3 trong cuốn 11 bài Kinh Phật được Thầy Lý Tứ kết tập và chú thích, cuốn sách được coi là bức tranh tổng thể về hệ thống giáo dục đào tạo, tiến trình tu tập trong Phật đạo từ sơ cơ đến tối thượng.

  1. VAI TRÒ CỦA BÀI KINH

Lậu là rỉ chảy, hoặc là che mờ. Lậu hoặc là những thứ rỉ chảy trong tâm trí chúng sanh, làm tâm trí bị che mờ, không sáng suốt, không thấy được Niết Bàn. Theo bài Kinh, các lậu hoặc là nguyên nhân gây “tàn hại” (thân) và “nhiệt não” (tâm).

Đạo Phật là đạo xuất thế. Giải quyết các món lậu hoặc đối với người tu hành thuộc về thế đế. Tuy thuộc về thế đế nhưng việc giải quyết các món lậu hoặc lại có một vai trò rất lớn và quan trọng đối với người tu hành. Bởi chỉ khi các lậu hoặc được giảm thiểu một cách tối đa, không còn rỉ chảy trong tâm thức thì người tu hành mới có cơ hội nhìn thấy thanh tịnh tâm, bổn tâm vốn sẵn có của mình. Nói cách khác, khi giải quyết xong các món lậu hoặc, chính là người tu hành đã đặt một chân vào cánh cửa xuất thế, đưa đến Niết Bàn. Với những lí do như vậy, bài Kinh có một ý nghĩa quan trọng, xứng đáng để người tu hành dành thời gian nghiên cứu, tư duy.

Ngoài ra, chủ quan người viết cảm nhận cách giảng giải theo lối bạch văn rất chi tiết, tỉ mỉ có thể nói là “cầm tay chỉ việc” của Đức Phật trong bài Kinh còn đem đến cho người đọc một giá trị ứng dụng cao vào thực tế đời sống.

  1. LÀM RÕ MỘT SỐ NỘI DUNG BÀI KINH

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN

Mở đầu bài kinh Tất cả các lậu hoặc, Phật viết:

“Này các Tỷ kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.”

Câu này có nghĩa một người chỉ có thể giải quyết các món lậu hoặc khi người đó đã thực sự thấy được những lậu hoặc rỉ chảy trong tâm trí mình và có những hiểu biết cụ thể nhất định về những lậu hoặc đó.

Đây là một sự thật hiển nhiên, giống như người lính ra trận muốn thắng lợi thì điều trước tiên nhất thiết phải biết là: quân giặc là ai, hình tướng đặc điểm nhận biết thế nào, trú xứ ở đâu. Nếu không biết những điều này không thể tránh khỏi việc lao vào trận chiến một cách hồ đồ, không trúng đích thậm chí có khi tự mình làm tổn hại chính mình.

Nguyên lý hiển nhiên là như vậy, nhưng trong thực tế không ít những người tu hành vẫn đang dấn thân trong sự mơ hồ, khổ nhưng không biết vì sao khổ, khổ nơi tâm trí này nhưng không quay lại tâm trí này để xem xét kĩ lưỡng nỗi khổ ấy, lại lao ra bên ngoài nương tựa nơi một tha lực mơ hồ nào đó cùng với một niềm tin không căn cứ, kết quả càng dấn thân càng rối rắm, bế tắc.

Cũng chính vì lí do như vậy mà chúng ta hiểu được vì sao việc học tập trong Lý Gia lại đề cao việc trang bị kiến thức chuẩn như vậy. Mỗi huynh đệ ngay khi vào Lý Gia đều được giảng giải cho nắm vững thế nào là lậu hoặc, hình tướng của lậu hoặc ra sao, thế nào là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, dấu hiệu nhận biết thế nào, do đâu mà có ...vvv…

3.2 VỀ “NHƯ LÝ TÁC Ý”

“Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý.”

Như lý tác ý – có nghĩa là chỉ nên y cứ vào chân lý, như chân lý, như bản chất, như giáo lý (cơ sở lý luận) người tu hành đã được trang bị mà tác thành trong suy nghĩ và hành động của mình. Như lý tác ý chính là tư duy như pháp, là Chánh tư duy.

Hiểu đơn giản hơn là muốn làm một việc thành công phải có phương pháp đúng và phải làm đúng như phương pháp. Nếu không có phương pháp đúng hoặc không làm đúng như phương pháp (không như lý tác ý) thì hệ quả tất yếu là “các lậu hoặc (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng”. Ngược lại, nếu có phương pháp đúng kết hợp với sự làm đúng như phương pháp (như lý tác ý) thì “các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.”

Tuy nhiên, tâm thức chúng sanh vốn như một ma trận tâm pháp với rất nhiều cạm bẫy và lối tẻ. Bản thân chúng sanh sơ cơ lại không thể đủ sức để biết thế nào là “như lý” và “không như lý”. Ngay cả với huynh đệ Lý Gia chúng ta, cũng không ít người mặc dù khi được nghe Thầy giảng giải có vẻ thấy mình đã rất hiểu như vậy nhưng trong quá trình thực hành, giải quyết từng vấn đề cụ thể của tự thân thì không tránh khỏi việc đôi khi “không thông”, thậm chí nhận lầm những suy nghĩ mông lung hư vọng là “như lý”. Đây là lí do vì sao người tu hành cần thường xuyên gần gũi thiện tri thức, gần gũi người Thầy và cởi mở chia sẻ, trao đổi những tâm tư, khúc mắc của mình để được nhân đó mà hiểu ra thế nào là “như lý” thế nào là “không như lý”, từ đó biết “như lý tác ý”.

3.3 CÁC CÁCH ĐOẠN TRỪ LẬU HOẶC

Có 7 cách đoạn trừ các lậu hoặc được Phật tuyên thuyết lần lượt theo thứ tự như sau:

“Này các Tỷ kheo,

- Có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ;

- Có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ;

- Có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ;

- Có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ;

- Có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ;

- Có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ;

- Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.”

3.3.1 DO TRI KIẾN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

“Phải do tri kiến được đoạn trừ” được xếp hàng đầu như một lời tái khẳng định muốn giải quyết, muốn đoạn tận các lậu hoặc, trước nhất người tu hành cần được trang bị một nhận thức đúng đắn, một tri kiến như pháp.

Kinh dạy: “Vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.” Có nghĩa: nếu không được trang bị chánh tri kiến sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng không nghĩ/không làm những điều cần nghĩ/cần làm, mà nghĩ/làm những điều không cần nghĩ/ không cần làm.

Đoạn kinh liệt kê hàng loạt các thứ kiến được coi là không như lý tác ý, những thứ rối rắm, hư vọng tồn tại trong tâm trí của chúng sanh từ trước đến nay: từ “ta có mặt trong quá khứ …” cho đến “ta sẽ có mặt trong thời vị lai …”, “chúng sanh từ đâu đến, đi về đâu …”, “ta có tự ngã”, “ta không có tự ngã”, “do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, “do tự mình ta tưởng tri ta không có tự ngã” ... vân vân…

Đức Phật phân định những thứ kiến này chính là tà kiến (thấy biết sai lệch, không như pháp), kiến trù lâm (thấy biết như một khu rừng rối rắm u tối), kiến hoang vu (bỏ không thấy biết), kiến hí luận (thấy biết sai lầm chỉ nhằm luận bàn thỏa mãn hơn thua), kiến tranh chấp (thấy biết xung đột, mâu thuẫn), kiến kiết phược (thấy biết ràng buộc, che mờ). Những thứ này tựu chung lại được gọi là “Kiến kiết sử” tức các thứ thấy biết, nghĩ suy cột trói, sai sử và làm tán loạn thân tâm, không đưa đến giác ngộ, giải thoát.

Ngược lại với Kiến kiết sử, Kinh dạy chánh trí kiến, chánh tư duy người tu hành cần phải có là:

“Vị ấy như lý tác ý: ‘Đây là khổ,’ như lý tác ý: ‘Đây là khổ tập,’ như lý tác ý: ‘Đây là khổ diệt,’ như lý tác ý: ‘Đây là con đường đưa đến khổ diệt. ‘Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ…”

Theo kinh dạy, dứt được 3 thứ là thân kiến, nghi và giới cấm thủ, người tu hành đạt được quả vị đầu tiên trong Phật đạo là Dự lưu, tức là Nhập vào dòng Thánh, hay còn gọi là quả vị Tu Đà Hoàn. Điều này cho thấy, để có được sơ ngộ trong Phật đạo (mầm mống đầu tiên của giác ngộ), điều kiện tiên quyết bắt buộc phải có là người tu hành phải được khai mở chánh tri kiến. Chỉ có nhận thức đúng đắn mới đem lại quả trí tuệ, không có con đường nào khác.

Cũng theo một bài kinh Trung Bộ khác (kinh 118) Phật dạy: “Có những Tỳ-khưu là những vị Dự lưu (Tu đà hườn), đã đoạn trừ ba kiết sử (giới thủ, thân kiến và nghi), không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ (Diệt đế) …”

Câu hỏi đặt ra: tại sao để sơ ngộ, 3 kiết sử đầu tiên người tu hành cần phải đoạn diệt là giới thủ, thân kiến và nghi, mà không phải là 3 kiết sử nào khác như tham, sân, si? Và vì sao một khi đoạn trừ được 3 kiết sử đó lại chắc chắn sẽ được giác ngộ triệt để Diệt Đế ở vị lai?

Kiến giải: Giới cấm thủ, thân kiến và nghi chính là 3 thứ kiến kiết sử, đại diện cho những vướng mắc của Thân (thân kiến) - Tâm (giới cấm thủ) - Trí (nghi) (3 thành tố tạo nên một hữu tình và cũng là 3 nơi chốn mà phiền não và vô minh sinh khởi), đoạn trừ được 3 kiến kiết sử này giống như người đào giếng đã thông được 3 huyết mạch chính yếu của dòng nước ngầm, khơi thông được rồi hệ quả tự nhiên từ đây nước sẽ tuôn trào, vị lai sẽ thành tựu viên mãn. Tham sân si chỉ là những biểu hiện của tâm hư vọng, là cái bóng, là hệ quả, là hiệu ứng của của một nhận thức sai lệch nào đó. Khi đã có chánh tri kiến, những thứ tâm hư vọng này tự mất (dứt thân kiến hết tham, dứt biên kiến hết si, dứt kiến thủ hết si).

3.3.2 DO PHÒNG HỘ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

Như lý giác sát tức là y cứ nơi giáo lý, nơi chân lý mà nhận biết mà quan sát, phòng hộ các căn tức là cảnh giác trong xúc đối, minh xúc. Có thể nói nội dung đoạn kinh là sự tóm lược bài Kinh các căn tu tập.

3.3.3 DO THỌ DỤNG ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

Đoạn kinh nói cụ thể về 4 vấn đề của Thân là: ăn, mặc, ngủ, trị bệnh; trang bị cho người tu hành Chánh tri kiến về Thân. Với nhận thức như pháp, người tu hành ra khỏi 2 xu hướng cực đoan: hoặc cung phụng quá mức thân này, tưởng rằng Niết bàn ở nơi Thân được thảo mãn đầy đủ, hoặc chiều ngược lại là mặc kệ hoặc hành xác đến kiệt quệ, tin rằng nơi khổ hạnh sẽ thành tựu điều gì đó.

3.3.4 DO KHAM NHẪN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

Là cách để đối trị với các cảm thọ. Cảm thọ bản chất chỉ là hiệu ứng do duyên. Đủ duyên thì thành, hết duyên tự mất. Người tu hành biết vậy, kham nhẫn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não không còn nữa.

3.3.5 DO TRÁNH NÉ MÀ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

Đoạn kinh mang tinh thần của phép gia trì gia hạnh, người tu hành phải biết lựa chọn môi trường thuận lợi, bảo vệ và trưởng dưỡng đạo tâm mới mong đạt thành quả giác ngộ.

3.3.6 DO TRỪ DIỆT ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

Đoạn kinh nói tới các dục niệm (tham), sân niệm (sân), hại niệm (si) các ác bất thiện pháp (vô minh, mờ tối). Đối trước các niệm này, người tu hành “như lý tác ý”, biết rõ đây chỉ là những nhớ nghĩ (niệm) xuất phát từ một thứ tâm hư vọng, không thật do vậy tự định hướng một thái độ rõ ràng, dứt khoát, cương quyết: không chấp nhận, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại.

3.3.7 DO TU TẬP ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ

Các cách thức đoạn trừ lậu hoặc được Phật tuyên thuyết mở đầu bằng Chánh tri kiến, tiếp theo chia chẻ theo nhiều phương cách khác nhau như: phòng hộ, thọ dụng, tránh né, đoạn trừ và cuối cùng là tu tập. Dù chia chẻ theo nhiều cách nhưng không ra ngoài 4 niệm xứ: Thân, thọ, tâm, pháp.

Giác chi: có nghĩa là các chi phần giác ngộ, tức là do một sự giác ngộ nào đó mà đưa đến các cành nhánh, các hệ quả của giác ngộ, như một cái cây đã mọc thì hệ quả tất yếu sẽ nảy nở ra cành, lá.

Đối tượng được Phật giảng giải trong bài Kinh này là chúng Tỳ Kheo, tức hàng Nhị Thừa, Thanh Văn và Duyên Giác. Đặc điểm của Nhị Thừa là thành tựu nhờ nương cậy vào thánh giáo, thông qua quá trình tu tập. Nói cách khác là nghe, nhớ nghĩ và làm đúng y như những lời giáo dạy cụ thể đến từng chi tiết, như một chiếc máy cứ thế chạy chuẩn một khuôn chương trình mực thước đã định sẵn.

Do vậy, các lậu hoặc do tu tập mà được đoạn trừ nằm cuối cùng trong trình tự thuyết của bài kinh và trong quá trình tu tập ấy, Niệm giác chi đi đầu.

“Tỷ kheo như lý giác sát, tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát, tu tập trạch pháp giác chi... (như trên) ... tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.”

Có nghĩa: Nhị thừa cần nhắm thẳng niệm xứ (thân và thọ) mà yểm ly (y viễn ly, y ly tham), không ngừng nhớ nghĩ đến triệt để yểm ly tất cả các tác động (cộng nghiệp và biệt nghiệp), các giá trị hư vọng, không thực (tham ái). Nhân nơi đoạn diệt, từ bỏ, yểm ly triệt để, nhị thừa “được nghĩa” giải thoát (thông qua thực chứng trên thân), từ đó giản trạch bản chất của các niệm xứ theo ngôn giáo (gọi là trạch pháp giác chi). Nhưng do giác ngộ (được nghĩa giải thoát) bằng phương cách “bỏ đây lấy kia”, nên Nhị thừa phải tiếp tục phòng hộ vững chắc, tiệm tiến tu hành cho đến khi tất cả các chi phần còn lại viên mãn: Tinh tấn, Hỷ, Khinh an, Định và cuối cùng là Xả giác chi mới hoàn thành tự thân. Xả giác chi chính là bỏ lại tất cả những gì của thế pháp, thể hiện trong lời tuyên bố của Nhị Thừa sau khi chứng quả A La Hán: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, thân này là thân rốt sau, không còn trở lại đời sống cũ nữa.”

3.4 Rộng bàn

Khác với hàng Nhị thừa, việc đoạn tận các lậu hoặc của Bồ Tát thừa không khởi nguồn từ Niệm giác chi, mà bằng Trạch pháp giác chi.

Trạch pháp giác chi đối với Bồ tát thừa là tiến trình xảy ra nhân nơi nghe pháp sư giản trạch một pháp hoặc tự thân mổ xẻ, phân tích một pháp, một vấn đề đến tận nguồn cơn (chân lý), tâm ý hoát nhiên chuyển biến, dứt nguồn tâm, ngộ bổn lai thanh tịnh.

Bùng vỡ “nguyên ủy”, “cớ sự”, “gốc rễ vấn đề”, Bồ Tát thừa hoát nhiên giác ngộ, rõ biết, thật biết:

“Bất động là sự thật hằng hữu của tâm này, nó đã có từ khi chưa sanh vạn pháp ...

Vạn pháp sinh ra, chúng sanh “mê pháp” rồi lầm tưởng “tâm này lay động” …

Một phen dứt mê, vị chúng sanh này “nhìn trở lại tâm này”, bây giờ mới chợt nhận ra: “xưa nay đã tự bất động” …

Như người ngủ mê ngàn năm, một phen thức giấc, ngàn năm không thật ...”

Do giác ngộ rốt ráo bổn lai tự tịnh như vậy mà các chi phần còn lại: niệm, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả không mang màu sắc tiệm tiến tu hành cho tới viên mãn như hàng Nhị thừa mà xảy ra thành một chuỗi như hệ quả tất yếu và ngay lập tức nơi tâm thức.

Cũng bởi đặc điểm như vậy mà có thể thấy thành tựu đạo quả Diệt đế đối với Bồ tát thừa không do tu mà thành.

Chữ “tu tập” trong ngữ cảnh “Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ” đối với Nhị thừa có thể được hiểu là tiến lên trong một môi trường đặc biệt đưa đến giải thoát. Thì đối với Bồ Tát thừa, tu tập có lẽ nên được hiểu theo nghĩa: tu là tư duy, tập là huân tập, tu tập là quá trình huân tập những chánh kiến, chánh tư duy cho đến khi bùng vỡ, thấu suốt.

  1. Kết luận

Trên đây là những ghi chép tóm lược lại nội dung học tập và trao đổi giữa các huynh đệ chúng mình trong một buổi sinh hoạt của nhóm liên quân Miền đông – Đà Nẵng, được trình bày lại dưới hình thức một bài tiểu luận ngắn.

Con xin thành kính tri ân công ơn giáo dưỡng của Thầy!!!

Muội xin tán thán tinh thần học tập của tất cả các huynh đệ chúng ta trong nhóm!!!

Mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy và các huynh đệ để việc học tập ngày càng hiệu quả.

Lý Phương Anh

26/8/2022 

Sinh Hoạt Lý Gia

Người Đánh Thức Con Sau Giấc Ngủ Dài

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023

Bài viết của Lý Hiền Long về ý nghĩa của từng chữ trong Logo Lý Gia và các chữ GIÁC, NGỘ, NGUYỆN và NGÃ được cảm nhận và tinh tấn áp dụng triệt để vào cuộc sống

       Logo Lý Gia

GALA LỜI TRI ÂN CÒN MÃI

Các bạn !!!

Mấy hôm nay, đội ngũ biên tập NÔỊ SAN LÝ GIA SỐ ĐẦU TIÊN và các tiểu ban khác của sự kiện làm việc cật lực, bởi số lượng bài dự thi mà BTC đã nhận được từ HĐ là rất lớn sau 4 ngày phát động !!!

Cụ thể, trên 25 bài thơ, 12 tiểu luận, 10 bức tâm thư, 12 tiết mục ca múa nhạc (đồng ca, tốp ca, đơn ca)... Theo mình, số lượng này còn tăng lên vào những ngày tới !!!

Sáng nay, nhận được bài viết của Lý Hiền Long gởi về Tiểu ban biên tập nội san...Mình đủng đỉnh đọc, đọc đến đâu "vỗ đùi đánh đét đến đó" !!! Ha ha ha ha !!! Bài viết hay mà không vỗ đùi đánh đét một cái thì chẳng phải là "tác phong Lý Gia" !!!

Phàm ở đời, miếng bánh ngon không thể ăn trước một mình !!! Tuy tất cả các bài dự thi gởi trực tiếp về ban biên tập nội san được coi là "tối mật", chỉ công bố trong buổi trao giải !!!

Nhưng mà, mật gì thì mật, bí mật gì rồi trước sau cũng được bật mí !!! Vả chăng, quyền hạn của Trưởng ban tổ chức mà HĐ giao cho mình cũng không phải là nhỏ !!! Lợi dụng quyền hạn này, mình xin xé rào chuyển đến mọi người bài viết của Lý Hiền Long để mọi người cùng đọc và cùng "vỗ đùi đánh đét" một cái...cho...vui...!!!

Mong, BTC niệm tình Trưởng ban tổ chức, xá cho cái tội "ăn cơm hớt" của Lão Lý !!!

12/07/2022

LÝ TỨ

NGƯỜI ĐÁNH THỨC CON SAU GIẤC NGỦ DÀI

Con kính lạy Thầy.

Con là Lý Hiền Long, là học trò thứ 863 của Thầy, được Thầy nhận vào Lý Gia vào ngày 3/3/2022, tính đến nay đã hơn 4 tháng. Long là tuổi con rồng của con. Hiền như lời Thầy dạy là kẻ có trí. Lý vì con là con của Lão Sư Lý Tứ.

Con tự nhận thấy bản thân là một đứa học trò có hơi kỳ lạ của Thầy, là đứa tự tìm đến Thầy mà không qua sự giới thiệu của Huynh Đệ nào. Như một đứa con lưu lạc bao lâu một ngày tự tìm về với Cha. Ngày bái Thầy, chắc con cũng là đứa duy nhất hiếu kỳ hỏi Thầy về thân thế riêng của Thầy, vì con muốn tìm hiểu nhiều nhất có thể về người Thầy tương lai của mình.

Năm nay, mừng sinh nhật Thầy 14/08/2022, con xin hướng về Thầy với niềm biết ơn vô hạn, vì Thầy là người đã từng bước đánh thức con tỉnh dậy sau một giấc ngủ mê dài. Con xin kính dâng lên Thầy những chữ con đã học được thông qua Thầy, như một đoá hoa nho nhỏ để tri ân công đức Thầy đã rưới mưa pháp hằng ngày cho con. Con tự nhận thấy mình chưa có một thành tựu gì đáng kể mà chỉ là những cảm nhận thoáng qua, nhưng qua những câu chữ trong sách của Thầy và những buổi giảng dạy trực tiếp, con nhìn ra được ý nghĩa của từng chữ con đã bắt gặp, và con cũng đang tinh tấn dùng những chữ đó áp dụng triệt để vào cuộc sống.

  • Những chữ đầu tiên con hỏi Thầy là những chữ trong logo Lý Gia.

 

Ngoài hai chữ Lý Tứ con có thể đọc được ở phía trên thì con được Thầy cho biết góc trái là logo cũ của Lý Gia, cách điệu từ hai chữ Nhật Quang, là Mặt trời và Ánh sáng. Mặt trời như Phật Tánh có sẵn trong mỗi người và sự giác ngộ như những ánh sáng chiếu rọi ra từ bản tâm của từng người. Con lại hỏi Thầy về 3 chữ CTP, Thầy trả lời “C: Cù = Họ của Phật...!!! T: Tống = Họ của Lão Trương...!!! P: Phan = Họ của Lão Lý...!!! Hồi chưa sinh ra Lý Tứ, mình có bút danh là Cù Tống Phan !!!”. Đến đây, con cảm nhận mạnh mẽ về một vị Thiện Tri Thức có đạo, có nghĩa, có trên trước, có cội nguồn, người đứng trước Thầy là sư phụ của Thầy, bên trên là Đức Thế Tôn, Thầy luôn không quên điều đó và đặt nó vào logo Lý Gia. Con trở nên rất tin tưởng vào đạo đức của Thầy và tin rằng sự dẫn dắt của Thầy sẽ dẫn con đi theo đúng chánh pháp.

Ngày con đọc bài Tản Mạn Nhân Mùa Phật Đản của Thầy viết về những trăn trở về việc phải biết tỏ lòng biết ơn, báo ơn Chư Phật bằng cách “tự nỗ lực bản thân, không rời chánh niệm, quyết tâm tu hành, thành tựu cho bằng được những lời Phật dạy. Có làm như vậy, theo mình thì: Đây chính là biện pháp thiết thực để "giữ gìn trọn vẹn tài sản" của Chư Phật để lại…”. Ngay tại thời điểm này, con bừng tỉnh và thật sự HẾT NGHI. Lời Thầy như một lời nhắc nhở phải luôn tinh tấn trên con đường Phật Đạo. Con hoàn toàn tin tưởng vào Thầy và con đường Thầy đang dẫn con đi là đúng con đường về nhà, tìm về với Phật Tánh sẵn có trong con.

  •  Chữ GIÁC.

覺

Chữ kế tiếp mà con cảm nhận được là chữ GIÁC.

Chữ GIÁC có nửa phần trên bắt đầu bằng hai nét (Không) ở giữa, các nét tiếp theo là các nét bên trái và bên phải, số nét tương đồng. Đặt nửa phần trên này lên một đường thẳng nằm ngang, không nghiêng bên nào, như ống nước để nằm ngang thì nước không chảy về phía nào, bên dưới là chữ 見 Kiến (nhìn, thấy). Không trái Không phải, Không đúng Không sai, Không sướng Không khổ, Không vinh Không nhục, Không ngã Không nhân, Không minh Không vô minh, Không hữu Không vô, Không bờ này Không bờ kia, Không tu Không đắc… Đặt tất cả các pháp nhị nguyên này trước mắt, chiếu kiến thâm sâu, TÂM KHÔNG HÀNH, dừng mọi phân biệt, không mê pháp nào, đó chính là nghĩa của chữ GIÁC.

  • Kế đến là chữ NGỘ.

悟

Chữ Ngộ bắt đầu bằng một chữ Tâm đứng 忄, sau đó là chữ 五 Ngũ (năm) và 口 Khẩu (cửa ngõ), nghĩa là BỔN TÂM đứng trước năm cửa ngõ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Nếu hai chữ 五 Ngũ và 口Khẩu đứng trước chữ Tâm, thì chẳng khác nào khi năm căn thân xúc đối với năm trần cảnh là sắc, thanh, hương, vị, xúc, Tâm Hư Vọng sẽ sanh ngay sau đó.

Tâm Hư Vọng sanh thì Pháp Hư Vọng sanh. Chừng nào năm căn thân xúc đối với trần cảnh mà không sinh Tâm Hư Vọng, thì sẽ thấy được BỔN TÂM. Khi đó, đặt BỔN TÂM trước các trần cảnh, dùng Bổn Tâm để quan sát trở lại năm cửa ngõ này, sẽ thấy Tánh Thấy, Tánh Nghe, Tánh Ngửi, Tánh Nếm, Tánh Xúc Chạm đều thanh tịnh, không có một chút ràng buộc hay gây bất cứ phiền não nào.

Khi BỔN TÂM đứng trước năm cửa ngõ của thân, nhìn ra thế giới qua Tánh Giác chân thật, sẽ thật sự NGỘ. Ngộ rồi mới biết hết thảy hữu tình đồng một bổn tâm thanh tịnh, chẳng qua một niệm bất giác mà có thân sau... Dứt mê mới biết, tôi và Lão Huynh nào có khác gì đâu!... Ha! Ha! Ha! Ha!...Kẻ giác ngộ, như người uống nước nóng lạnh tự biết, giác ngộ này chỉ có mình biết, bậc đạo sư biết và chư Phật biết...

Một ngày nhìn lại chữ GIÁC 覺, con cảm nhận GIÁC lại mang hai ý nghĩa Không khác là không kẹt nơi hữu (không tận hữu vi), cũng không kẹt nơi vô (không trụ vô vi). Chữ GIÁC mang trong nó hai pháp nhị nguyên nhưng bất nhị vì các pháp tự nó thanh tịnh, không sanh không diệt, không cấu không tịnh, không tăng không giảm. Hữu hay vô là tùy cảnh, tùy cơ sử dụng để hóa độ chúng sanh, đây chính là con đường Trung Đạo. Rồi một ngày con nhìn lại chữ NGỘ 悟, trong NGỘ không có bóng dáng của Thức, chỉ có Tâm đồng như hư không, Tâm đứng trước ngũ dục không động lay. Tâm vẫn đứng đó, vẫn ở đó mà như như bất động. Tâm hư không có thể dung chứa vạn vật nhưng vẫn không tán loạn, không biến đổi cho dù vạn vật có đổi thay.

Một ngày khác con lại nhìn lại hai chữ GIÁC NGỘ 覺悟, con cảm nhận chữ GIÁC mang bóng dáng của TRÍ, là y theo Phật Pháp. NGỘ mang bóng dáng của HUỆ: Là khả năng nhiếp Tâm người. “Học trí tuệ là học cách để chính mình có trí tuệ, chứ không phải học trí tuệ từ người khác”. Con cảm nhận đến một ngày nào đó, cả hai chữ GIÁC NGỘ này đều cũng sẽ tan biến, hòa vào hư không, mọi thứ sẽ xả rốt ráo, tâm trí hoàn toàn rỗng rang, không thọ thế pháp, cũng không thọ xuất thế pháp. Mỗi mỗi thời khắc nhìn lại hai chữ GIÁC NGỘ này, con đều cảm nhận có sự đổi thay từng chút một trong nhận thức như thế.

  • Chữ gây cho con xúc động mãnh liệt là chữ NGÃ

我

Chữ Ngã mang bên trong nó chữ Qua 戈 (vũ khí) và chữ Thủ 手 (tay). Trong tay cầm vũ khí, dùng NGÃ HƯ VỌNG đấu tranh với đời, mặt trận nào cũng tham gia, chiến trường nào cũng có mặt, con đã từng luôn tranh đấu như thế.

Rồi đến một buổi trưa trong giờ nghỉ trên công ty, con tranh thủ nghe file ghi âm lời Thầy dạy, nghe đến nội dung Ngã, hoát nhiên con thấy cái NGÃ trong con rơi rụng. Trước mắt con hiện lên rõ mồn một hình ảnh đức Phật Thích Ca đứng trước Ưng Quật Ma La và nói “Ta đã dừng, còn ngươi chưa dừng ?”. Con cảm nhận trong Phật không có cái Ngã nào, và con cũng y như vậy. Tay con cũng không còn cầm nắm bất cứ thứ gì. Con xúc động đến rơi nước mắt, vội nhắn tin cho chị Tịnh Hiền và muốn về nhà ngay để duy trì trạng thái này. Chị Tịnh Hiền khuyên “có việc thì làm, hết việc thì ở nơi vắng lặng ấy!!! Bạn nhớ hộ trì để chỗ đã thấy được viên mãn nhé!!!”… Và con đã duy trì trạng thái này được một thời gian… Con cảm nhận, đến một lúc nào đó, cũng vẫn là chữ NGÃnày, tay con sẽ cầm vũ khí Chân Lý để giúp chúng sinh cắt đứt hết mọi phiền não và vô minh.

  • Chữ gây cho con xúc động mãnh liệt nhất tính tới thời điểm này là chữ NGUYỆN

愿

Chữ Nguyện này chính là sự hòa quyện của Nguyên 原 (gốc, từ trước) và Tâm 心.

Một sáng cuối tuần con đọc sách Thầy trong quán cà phê, đọc đến đoạn Thầy lược lại tiền thân Bồ Tát khi tận mắt chứng kiến cảnh thống khổ ở địa ngục đã vô cùng thương xót và phát nguyện nhận lãnh hết mọi tội lỗi của chúng sanh, để không còn ai phải chịu thống khổ tương tự. Con chấn động vì ngay lập tức bắt gặp lại cái Tâm gốc từ trước của con.

Con từng vì thấy quá nhiều người khổ đau vì Covid, con đã phát nguyện nhận lãnh hết mọi bệnh hoạn thế gian, con nguyện cho mọi bệnh hoạn hãy để con gánh chịu, vì con có thể gánh chịu với tâm thế không khổ đau, trong khi người khác có thể không chịu đựng nổi. Khi đó mọi vật trước mắt con nhòe đi, người qua kẻ lại trong quán như những cái bóng mờ nhạt, nước mắt cứ thế lăn dài đến tận một lúc sau mới ngừng, vì tương ưng với lời trong sách mà con cảm nhận sự vắng lặng tịch tĩnh, cứ như vậy để cho nước mắt rơi…!!!

Đó chính là NGUYỆN, chính là những mong muốn từ trước phát xuất từ Tâm của một người vẫn đang khao khát hướng đến Thường, Ngã, Lạc, Tịnh, Từ, Bi, Hỷ, Xả. Một ngày con cảm nhận được lý do vì sao con mang thân này. Đó chính là vì con muốn nương vào nơi một người Phật Tử thuần thành như mẹ của con, để tiếp tục được học những gì mình cần phải học. Chính là chữ NGUYỆN này.

Con cảm nhận những chữ này: GIÁC, NGỘ, NGUYỆN và NGÃ sẽ theo con trên suốt con đường tu tập.

Cho đến nay, con đã nhận ra, đâu đó trong con sắc, thọ, tưởng, hành, thức vẫn còn giá trị, nhưng mình đã không mê chấp vào chúng và những giá trị này đang dần tiến về không. Con tin chắc một ngày nào đó con sẽ thấu suốt ngũ uẩn giai không, vì con đã được Thầy đánh thức sau cơn mê dài bằng những kiến thức chuẩn được trang bị đầy đủ. Với Tam Đao, Thầy đã chém hạ Ngu và Mê trong con. Con tin, rồi một ngày nào đó, con sẽ được Thầy hộ trì chém nốt đao thứ ba, vĩnh viễn dứt Lầm, thấu suốt được chân tướng của ngũ uẩn bằng một cái nhìn chân chánh của chư Phật.

Con vẫn khắc ghi những lời dạy của Thầy và con đường Giác Ngộ - Giải Thoát - Trí Tuệ. Con có niềm tin vững chắc vào Nhật Quang từ Lý Gia, ánh sáng mặt trời sẽ đem đến cho con Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Con không biết phải diễn tả bằng lời lẽ thế nào để tạ ơn Thầy đã lập ra Lý Gia, đã dày công viết sách và kiên nhẫn giảng dạy hàng tuần, để nhờ đó con tìm về được với Cha, thừa hưởng gia tài của Cha, được nghe lại giáo pháp của chư Phật, được học tập và thay đổi cuộc sống theo đúng con đường chư Phật đã đi qua. Con nguyện dùng sự tinh tấn này, tiếp tục học hỏi trí tuệ để độ tha, cùng Thầy và các Huynh Đệ Tỷ Muội Lý Gia mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất.

Thưa Thầy!

Con đã tỉnh giấc, và đang tinh tấn từng ngày, từng giờ, vững bước, không thối chuyển, trên con đường về nhà.

Con thành tâm cảm tạ Thầy!

Con kính lạy Thầy vô lượng lạy!

TP Hồ Chí Minh, 12/07/2022

Con, Lý Hiền Long - MĐ - 863

Hoạt động mở rộng

Nhật Ký Lớp Học K01

MB 857 Lý Diệu Sinh 01.05.2023

Nhật Ký Lớp Học K01

Tags:

Hoạt động mở rộng

Hạnh Phúc Quanh Ta | Buổi 14 Ngày 17.02.2023 | Vô Minh - Thế Gian và Xuất Thế Gian

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Hoạt động mở rộng

Hạnh Phúc Quanh Ta | Buổi 12 - Ngày 15.02.2023 | Nghiệp

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Subscribe to