Thư viện

Phần 17: Ẩn Khuất Cần Sáng Tỏ Trong Kinh Hoa Nghiêm; Bùng Vỡ Tâm Thức, Thành Tựu Thật Trí, Giáo Thọ Sư Ý Nghĩa Là Gì? (Trang 218 - 225)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 19.02.2023

Vô Đối Môn 
Tác giả: Lý Tứ 
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 17: Ẩn khuất cần sáng tỏ trong kinh hoa nghiêm; Bùng vỡ tâm thức, Thành tựu thật trí, Giáo thọ sư ý nghĩa là gì? (Trang 218 - 225)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh

Tags:

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Tâm - Hiểu - Thương

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Ba khái niệm này có cùng một bản chất !!! Khi người ta giải quyết được chữ TÂM, nhất định hai món là HIỂU và THƯƠNG sẽ chuyển biến theo !!!

Các bạn !!!
Kì này, mình xin trả lời ba câu hỏi của Thuỷ Anna !!! Trước khi trao đổi về nội dung ba câu hỏi của Thuỷ, mình xin giới thiệu đôi chút về bạn ấy !!!

Mình gặp Thuỷ trong một lần lên Tây Nguyên và quen Thuỷ từ đó !!! Có thể nói, lần đầu gặp Thuỷ, mình rất ấn tượng với cô gái Kinh Bắc trẻ, xinh đẹp, thông minh và ăn nói lưu loát !!!

Sau nhiều lần tiếp xúc… Mới biết Thuỷ là người con gái mang trong mình một nghị lực phi thường cùng với trái tim nhân hậu !!! Thuỷ mắc bịnh đã rất nhiều năm, mỗi năm phải trở về Hà Nội trị liệu một thời gian, nhưng vừa ra viện lập tức trở lại Sài Gòn để lao vào công việc !!!

Công việc của Thuỷ hiện tại là giám đốc công ty HaNoi Books; Phụ trách một số chuyên mục truyền hình; Phóng viên của một số tờ báo lớn; Nhà thơ; Tác giả nhiều cuốn sách… Đặc biệt, Thuỷ chịu trách nhiệm chương trình từ thiện mổ tim miễn phí cho trẻ em !!! Với khối lượng công việc như thế… Theo mình, cô bạn trẻ Kinh Bắc làm thế nào để có thể vượt qua những khó khăn nhất định của bản thân và hoàn thành đây ??? Quả là phi thường !!!

Thuỷ Anna cùng Thường Xuân Vân Đài là những người đã có công rất lớn giúp hai cuốn sách của mình là Vô Đối Môn và Tâm Pháp xuất bản !!! Mình cùng Lý Gia rất trân trọng và ghi ơn công sức của hai bạn trẻ ấy !!!

Chúc Thuỷ luôn trẻ, khoẻ để hoàn thành những gì mà cuộc đời đã trao cho bạn !!!

Các câu hỏi của Thuỷ Anna như sau:

“Lặng lẽ quan sát, không đưa ra kết luận. (Con rất thích lời dạy này của thầy, vì lời dạy này giúp con người trí tuệ, sâu sắc và nhân văn hơn.)

1) Con xin hỏi thầy về ý nghĩa sâu xa của ba chữ: Tâm – Hiểu – Thương, để thực hành được 3 từ này theo quan điểm Đạo Phật, người Phật tử phải hiểu thế nào để thực hành đúng?

2) Làm thế nào để buông cái Tôi xuống, thầy từng nói vui với con rằng: Đừng coi mình là cái đinh gì hết, thì cái Tôi khắc rơi rụng. Nhưng làm thế nào để buông đc tham, sân, si xuống thưa thầy?

3) Câu hỏi này của con có thể giống câu 2 một chút, làm thế nào để những lời nói, hành động vô tình của người khác không làm mình cảm thấy tổn thương, dậy sóng trong lòng? (Có thể không coi mình là cái đinh gì, nhưng con muốn được thầy khai thị thuyết phục hơn) Làm thế nào để ta có thể đủ kiên nhẫn với những người thường có lời nói, hành động làm tổn thương ta?
Xin kính thầy Lý Tứ!
Con Thủy Anna

Thuỷ thân mến !!!
* Về câu hỏi thứ nhất: “Con xin hỏi thầy về ý nghĩa sâu xa của ba chữ: Tâm – Hiểu – Thương, để thực hành được 3 từ này theo quan điểm Đạo Phật, người Phật tử phải hiểu thế nào để thực hành đúng?”

Mình xin trả lời như sau:

Tâm – Hiểu – Thương là ba khái niệm mới nhìn có vẻ khác nhau… Nhưng theo mình, ba khái niệm này có cùng một bản chất !!! Khi người ta giải quyết được chữ TÂM, nhất định hai món là HIỂU và THƯƠNG sẽ chuyển biến theo !!!

Điều này có nghĩa, Tâm là đầu mối của mọi vấn đề… Nếu Tâm ta rộng mở, nhất định ta sẽ Hiểu được người… Khi ta Hiểu được người, nhất định ta sẽ Thương người !!!

Vấn đề được đặt ra ở đây là: Làm thế nào để Tâm của ta có thể rộng mở trước mọi người, trong mọi hoàn cảnh ??? Đối với Phật đạo, để có thể thực hiện được điều này, người ấy phải phát đại nguyện “sống vì lợi ích của hết thảy chúng sinh” !!! Và quyết tâm “sống với đại nguyện ấy” cho đến bao giờ: “Người ấy là đại nguyện, đại nguyện là người ấy”… Nguyện và người phát nguyện không còn sai khác, nhất định Thuỷ sẽ là người: CÓ ĐẠI TÂM – HIỂU NGƯỜI NHƯ HIỂU MÌNH – VÀ THƯƠNG YÊU HẾT THẢY MUÔN LOÀI !!!

* Về câu hỏi thứ hai: “Làm thế nào để buông cái Tôi xuống, thầy từng nói vui với con rằng: Đừng coi mình là cái đinh gì hết, thì cái Tôi khắc rơi rụng. Nhưng làm thế nào để buông đc tham, sân, si xuống thưa thầy”?

Ha ha ha ha !!! Tham, sân, si là mặt trái của “cái Tôi” !!! Khi người ta không còn cái Tôi, nhất định tham, sân, si sẽ tự diệt !!! Giống như bóng đêm (cái Tôi) là môi trường tốt của những hãi sợ vô cớ (tham, sân, si) hiện hữu… Mặt trời lên, nhất định sợ hãi sẽ chấm dứt !!!

* Về câu hỏi thứ ba: “Câu hỏi này của con có thể giống câu 2 một chút, làm thế nào để những lời nói, hành động vô tình của người khác không làm mình cảm thấy tổn thương, dậy sóng trong lòng? (Có thể không coi mình là cái đinh gì, nhưng con muốn được thầy khai thị thuyết phục hơn) Làm thế nào để ta có thể đủ kiên nhẫn với những người thường có lời nói, hành động làm tổn thương ta”?

Giống như câu hỏi thứ nhất và thứ nhì !!! Cái Tôi và Tâm lượng nhỏ hẹp… Chính là môi trường tốt nhất tạo nên một ổ dịch lớn (Tâm là môi trường, Tôi là virus), để con virus ác bất thiện pháp sinh sôi nảy nở tàn phá tất cả mọi thiện pháp, khiến ta dễ bị tổn thương khi có tác động ngoại duyên !!!

Cách tốt nhất để tiêu diệt con virus quỷ quái ấy là: Hãy tự cách li, phun thuốc sát trùng, vệ sinh nhà cửa, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng ít nhất 20 giây, đeo khẩu trang khi ra ngoài, ăn uống đủ dinh dưỡng, tập thể dục giúp nâng cao sức đề kháng… Sau ba tuần (21 ngày), nếu thân nhiệt không tăng, không ho, không tức ngực, không khó thở, ăn ngon, ngủ kĩ…v..v…có thể dở bỏ việc cách li và hoà nhập với xã hội !!! Ha ha ha ha !!! Trường hợp sau khi tự cách li, mà cảm thấy bản thân có các dấu hiệu mắc bệnh, tâm thức bị tổn thương, phải đến cơ quan chuyên môn để người ta làm xét nghiệm và điều trị !!! Chú ý: Không được tự ý kê đơn bốc thuốc !!!

Chúc Thuỷ thực hiện thành công trong việc ngăn chặn và tiêu diệt con virus bất thiện pháp !!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
14/04/2020
LÝ TỨ

Tâm - Hiểu - Thương

Tác Phẩm Lý Tứ

Tỳ Bà Xá Na (Huệ Quán)

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2023

Tỳ Bà Xá Na là pháp quán thuần túy của hệ Bát Nhã dành cho đối tượng giác ngộ thâm sâu. Nương nơi trí thanh tịnh quan sát vạn pháp, thấy thân tâm và vạn pháp chỉ do mê hiện, huyễn hóa vô thường.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

“Này Thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh tịnh mà quán sát tâm tánh, thân căn và trần cảnh này đều là vật huyễn hóa. Lúc bấy giờ Bồ Tát khởi ra trí như huyễn để trừ các pháp như huyễn; làm các hạnh như huyễn để hóa độ chúng sanh như huyễn. Bởi Bồ Tát tu pháp quán như huyễn này, nên phát đại bi tâm thương xót cứu khổ tất cả chúng sanh mà vẫn nhẹ nhàng thư thới (đại bi khinh an) không tham trước luyến ái nơi chúng sanh.”[[1]]

Nếu pháp Xa Ma Tha nương sức thanh tịnh để huân lắng vọng niệm thì pháp Tỳ Bà Xá Na còn gọi Tam Ma Bát Đề hay pháp quán như huyễn là làm ngược lại. Đây là pháp quán thuần túy của hệ Bát Nhã dành cho đối tượng giác ngộ thâm sâu.

Nương nơi trí thanh tịnh quan sát vạn pháp, thấy thân tâm và vạn pháp chỉ do mê hiện, huyễn hóa vô thường. Kinh gọi: “Bồ Tát khởi trí tuệ như huyễn để trừ các pháp như huyễn, làm các hạnh như huyễn để hóa độ chúng sanh như huyễn.”

Các pháp như huyễn giống trăng trong nước còn trí huệ như huyễn là gì? Sau khi giác ngộ các pháp như huyễn, thấy các cảnh chỉ do tâm biến hiện như mộng, huyễn, bào, ảnh. Thấy như vậy Bồ Tát không mê mờ các pháp, nhưng tâm biết các pháp như huyễn vẫn còn, chính tâm này làm ngại, ngại vì bốn tướng chưa dứt.

  • Bốn tướng Bồ Tát không giống bốn tướng phàm phu, Thanh Văn, hay Duyên Giác. Tướng nhân là tâm năng giác, tướng ngã là tướng sở giác,  tướng chúng sinh là tướng ba cõi khổ đáng được độ,  tướng thọ giả là tướng có chúng sinh khổ cần phải độ.

Bốn tướng này y nơi huyễn trí hiện khởi, Bồ Tát quán sát trí huệ này cũng là một pháp. Trí biết này là một pháp nên trí này cũng huyễn, gọi là huyễn vì chưa phải thiệt, chỉ như chơn chứ chưa phải chơn. Trí này do giác ngộ mà được chứ không phải bản nhiên tự được.

Chưa phải tự nhiên trí vì đây là sự ảnh chiếu của Viên Giác mà có, nó là chân dung của một vật nào đó. Giống nơi ao nước thấy mặt trăng thứ hai, mặt trăng dưới ao không khác mặt trăng trên trời về mặt tướng trạng, cũng thanh tịnh cũng tròn sáng. Chỉ khác là mặt trăng dưới ao chỉ chiếu tự thân còn mặt trăng trên trời chiếu khắp vạn vật. Nơi nào tiếp được nguồn sáng sẽ được sáng và mát mẽ thanh lương, đây là hai cảnh giới khác nhau của Ba La Mật. Một bên trụ nơi Ba La Mật để bố thí một bên thí Ba La Mật.

Khi nào phát khởi huyễn trí, quán huyễn cảnh đến thấu suốt thì huyễn trí này sẽ phát huy tác dụng. Lấy đây hóa độ chúng sanh tích lũy công đức, khi đủ mới thấy thật trí hay căn bản trí.

Huyễn trí này với Như Lai tàng không phải hai, nên không thể rốt ráo diệt được. Nếu không diệt thì huyễn trí này sẽ chướng Viên Giác, diệt thì không thể diệt vì như mộng, huyễn. Biết các pháp như huyễn, chúng sanh như huyễn, nhưng thiệt có chúng sanh đang khổ và đáng được độ.

Bồ Tát phát khởi đại bi tâm hóa độ chúng sanh, phát nguyện xong huyễn trí kia chỉ thuần là bi tâm. Năng tâm trở thành năng bi. Trong quá trình hóa độ các phương tiện môn và giải thoát môn lần lượt hiện cho đến thiện xảo sẽ thành tựu nhất thiết trí gọi là thấy Phật tánh. Đây là sự thấy biết sau cùng của Bồ Tát. Trong quá trình dùng huyễn trí độ huyễn chúng sanh, bốn tướng lần lượt tịch diệt. Khi bốn tướng diệt thiệt tướng sẽ hiện, cái thấy viên mãn này mới đúng là chánh tri kiến.

  • Trong quá trình tịch diệt, bốn tướng chuyển thành bốn tâm đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Cho nên tứ vô lượng tâm bây giờ có ý nghĩa khác lớn lao hơn.

  • Bình đẳng không năng sở là tâm từ. Khởi phát các loại phương tiện giáo hóa chúng sanh là tâm bi. Thấy chúng sanh có Phật tánh là tâm hỷ. Biết rõ chúng sanh chẳng phải là chúng sanh gọi là tâm xả.

  • Tứ vô lượng tâm thành tựu, công việc hóa độ chúng sanh sẽ nhẹ nhàng vì có đủ phương tiện lực nên kinh mới nói: “Nên phát đại bi tâm thương xót cứu khổ tất cả chúng sanh mà vẫn nhẹ nhàng thư thới (đại bi khinh an) không tham trước luyến ái nơi chúng sanh.”

“Tất cả Bồ Tát, đều y theo pháp quán như huyễn này mà tu hành, lần lần tăng tiến. Ban đầu quán cảnh là huyễn, nhưng người quán chưa phải huyễn; sau người quán cũng là huyễn và cuối cùng hoàn toàn xa lìa các tướng huyễn (lúc bấy giờ cái phi huyễn hiện ra). Thế là Bồ Tát đã hoàn thành được pháp quán mầu nhiệm này. Bồ Tát lần lượt tiến tu, cũng như đất làm cho mầm mộng lần hồi được sanh trưởng. Phương tiện tu như thế, gọi là Tam Ma Bát Đề.”[[2]]

“Bồ Tát lần lượt tiến tu, cũng như đất làm cho mầm mộng lần hồi được sanh trưởng.” Bồ Tát xả bỏ tất cả mọi thứ nhưng tâm bi không xả. Bản tâm thanh tịnh không sanh không diệt, từ bi là mầm Vô Thượng Bồ Đề mọc trên đất vô sanh.

Tuy biết chúng sanh như huyễn nhưng Bồ Tát giáo độ không mỏi chán. Đây là sự huyền diệu của Phật pháp. Cho dù muôn pháp tịch diệt nhưng Phật pháp vẫn có nghĩa thường.

Tứ vô lượng tâm của chư Phật đều bắt nguồn từ bi tâm. Có bi tâm, trung đạo, Phật tánh dần dần tự hiện nên Bồ Tát tán Phật như sau:

“Thế gian ly sanh diệt

 Do như hư không hoa

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm

Nhứt thiết pháp như huyễn

Viễn ly ư tâm thức

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm.”

[[1]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.

[[2]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.

(còn nữa)

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Thiên Cảnh Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

“Nhất thiết Phật ngữ tâm”… Hay “Tam giới duy tâm” !!! Hai câu này có cùng một ý nghĩa, đó là: Hết thảy các pháp Phật thuyết ra nhằm chỉ nói đến tâm… Và, Phật cũng chỉ ra rằng, tất cả mọi cảnh giới mà chúng sinh trong ba cõi thấy được đều do tâm mê biến hiện !!!

Các bạn !!!
Kì này, mình tiếp tục trả lời hai câu hỏi của Lưu Bình – Quảng Ngãi !!!

Nội dung hai câu hỏi như sau:
3) Em cũng nghe nói đến các cõi thiên. Tiên (hay thiên) theo quan điểm của thầy là gì? Thầy có thể sơ lược các cõi thiên trong đạo Phật?

4) Ở nơi em ở tức Quảng Ngãi hay miền Trung có anh chị nào của Lý Gia hay không? Làm thế nào để gặp các anh chị ấy và tu tập theo họ? Điều kiện để được làm học trò của thầy là gì, có khắc khe lắm hay không?

Bạn đọc và Lưu Bình thân mến !!!
Về câu hỏi số 3 của bạn, mình xin được trả lời như sau:

* “Tiên (hay thiên) theo quan điểm của thầy là gì” ???

Không riêng gì bản thân mình mà, quan điểm thiên (hay tiên) trong Phật đạo nhằm chỉ đến một loại tâm cảnh !!!

Vì rằng, “Nhất thiết Phật ngữ tâm”… Hay “Tam giới duy tâm” !!! Hai câu này có cùng một ý nghĩa, đó là: Hết thảy các pháp Phật thuyết ra nhằm chỉ nói đến tâm… Và, Phật cũng chỉ ra rằng, tất cả mọi cảnh giới mà chúng sinh trong ba cõi thấy được đều do tâm mê biến hiện !!!

Kinh Lăng Già, khi nói về “bốn đại phương tiện tu hành” của một Đại Bồ Tát, phương tiện đầu tiên các Đại Bồ Tát phải thấu suốt đó là “khéo phân biệt tự tâm hiện lượng” !!! Và “bảy cảnh giới Đệ Nhất Nghĩa” của Phật đạo là: Tâm cảnh giới, tuệ cảnh giới, trí cảnh giới, kiến cảnh giới, siêu nhị kiến cảnh giới, siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới cũng không ra ngoài “tâm và trí” !!!

* “Thầy có thể sơ lược các cõi thiên trong đạo Phật” ????

“Thiên (zh. 天, sa., pi. deva) với nguyên nghĩa Phạn deva là “người sáng rọi”, “người phát quang”, là danh từ chỉ chư thiên, chỉ những chúng sinh sống trong thiện đạo (lục đạo), trong một tình trạng hạnh phúc, tuy nhiên vẫn nằm trong vòng luân hồi (sa. saṃsāra). Nhờ những nghiệp tốt đã tạo, chư thiên có thọ mệnh rất dài và rất sung sướng. Nhưng chính hạnh phúc này là chướng ngại trên đường giải thoát vì họ không hiểu được khổ đế trong Tứ diệu đế.

Theo Phật giáo, có 28 cõi thiên, gồm có 6 thuộc Dục giới (sa, pi. kāmaloka, kāmadhātu), 18 thuộc Sắc giới (sa., pi. rūpaloka, rūpadhātu) và 4 thuộc Vô sắc giới (sa., pi. arūpaloka, arūpadhātu, xem tam giới Sa. triloka)” !!! Theo Wikipedia !!!

Để có thể trở thành một thiên chúng và sống trong một thiên cảnh nào đó… Phật đạo chỉ ra rằng, có bốn cách để một người thực hiện thành công con đường đến với thiên giới !!! Bốn cách đó là:

– Cách thứ nhất: Tu thập thiện, làm phước, bố thí, cúng dường…v..v… Những người thực hiện cách này, khi phước đức hội đủ, tâm cảnh người ấy trở thành thiên chúng cõi Dục !!! Gọi là “Phước sanh thiên” !!!

Thiên cảnh cõi dục gồm có sáu tầng bậc, đó là:

1. Tứ đại thiên vương được cho là đang sống ở tầng trời Cātummahārājika, (tiếng Pali Cātummahārājika, “của Tứ Đại Vương”) trên sườn thấp của núi Tu Di, đó là mức thấp nhất của các chư thiên của Dục giới (Kāmadhātu). Họ là những người bảo vệ của thế giới và chống lại cái ác, mỗi người có thể chỉ huy một quân đoàn của những sinh vật siêu nhiên để bảo vệ chánh pháp.

2. Tam thập tam thiên (zh. 三十三, sa. trāyastriṃśa-deva), chư thiên sống trên đỉnh Tu-di.

3. Dạ-ma thiên (zh. 夜摩, sa. yāma-, suyāma-deva), sống hạnh phúc trường cửu.

4. Đâu-suất thiên (zh. 兜率天, sa. tuṣita-deva), cõi của thiên nhân “có niềm vui thầm lặng”, cõi Bồ Tát Di Lặc đang giáo hoá.

5. Hoá lạc thiên (zh. 化樂天, sa. nirmāṇarati-deva), loài thiên nhân thấy niềm vui nơi sự biến hoá.

6. Tha hoá tự tại thiên (zh. 他化自在天, sa. paranirmita-vaśavarti-deva), các chư thiên của dục giới còn tham ái xác thịt. (Từ 1 – 6 theo Wikipedia)

– Cách thứ hai: Tu tập thiền định để được sanh thiên… Những người tu tập thiền định và đạt được một số thiền thú nhất định, người này tâm cảnh sẽ tương ưng chư thiên cõi Sắc và Vô sắc !!! Gọi là “Định sanh thiên” !!!

Thiên cảnh của chư thiên cõi Sắc và Vô sắc gồm:

A) Cõi sắc có bốn cảnh giới, đó là:
* Sơ thiền, gồm ba cõi: Phạm chúng, Phạm phụ, Đại phạm !!!
* Nhị thiền, gồm ba cõi: Thiều quang, Vô lượng quang, Quang Âm !!!
* Tam thiền, gồm ba cõi: Thiều tịnh, Vô lượng tịnh, Biến tịnh !!!
* Tứ thiền, gồm chín cõi: Vô Vân, Phước sinh, Quảng quả (Vô tưởng), Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh, Ma-hê-thủ-la.

B- Cõi Vô sắc gồm bốn cảnh giới, đó là:
* Không vô biên xứ…
* Thức vô biên xứ…
* Vô sở hữu xứ…
* Phi tưởng phi phi tưởng xứ…

Các cảnh giới thiên của ba cõi, được chia thành chín địa:
1. Cõi dục:
* Ngũ thú tạp cư địa…
* Ly sinh hỷ lạc….
2. Cõi sắc:
* Định sinh hỷ lạc…
* Ly hỷ Diệu lạc…
* Xả niệm Thanh tịnh…
3. Vô sắc:
* Không vô biên…
* Thức vô biên…
* Vô sở hữu…
* Phi tưởng phi phi tưởng…

– Cách thứ ba: Đây là thiên cảnh của những người do giác ngộ trong Phật đạo nhưng chưa rốt ráo… Nên tâm cảnh tương ưng với chư thiên Sắc giới !!! Gọi là “Ngũ bất hoàn thiên” !!!

Ngũ bất hoàn thiên gồm năm cảnh giới là: Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh !!! Gọi Ngũ bất hoàn thiên là vì, chư thiên này tâm cảnh vĩnh viễn không còn thối lui để làm chúng sanh của Dục giới !!!

– Cách thứ tư: Đây là thiên cảnh của chư Phật và các Đại Bồ Tát có đầy đủ trí tuệ, sau khi thị hiện giáo hoá chúng sanh ở cõi Ta Bà, các vị ấy về lại cảnh giới này để nghỉ ngơi, gọi là Đâu Suất (nội viện) !!! Thiên cảnh này thuộc Dục giới gọi là “Trí sanh thiên” !!!

Để có thể về Đâu Suất, Phật dạy Ưu Ba Li trong kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất như sau:

“Này Ưu-ba-ly! Như có Tỳ-kheo và tất cả đại chúng nào muốn sanh lên cõi trời ấy thì đừng nhàm chán sanh tử, tâm yêu kính tuệ giác vô thượng, muốn làm đệ tử Bồ-tát Di Lặc thì hãy quán tưởng thế này: Vô lậu giới là tối thượng, thân tâm tinh tấn, không cầu đoạn kiết sử, tu tất cả pháp lành, luôn luôn tư duy về sự an vui tốt đẹp bậc nhất ở cõi trời Đâu-Suất. Quán như vậy gọi là Chánh quán, nếu quán khác đi là tà quán…” !!!

Ha ha ha ha !!! Vị nào thấu suốt đoạn kinh trên, tâm trí tương ưng…Trong chừng sát na, không rời chỗ ngồi, Đâu Suất hiện tiền !!!

4) Ở nơi em ở tức Quảng Ngãi hay miền Trung có anh chị nào của Lý Gia hay không? Làm thế nào để gặp các anh chị ấy và tu tập theo họ? Điều kiện để được làm học trò của thầy là gì, có khắc khe lắm hay không?

Lưu Bình thân mến !!!
Quảng Ngãi nói riêng và miền Trung nói chung, đều có HĐ Lý Gia !!!

Muốn gặp các HĐ ấy, bạn có thể để địa chỉ cụ thể và số điện thoại… vào phần bình luận dưới bài viết, hay trong messenger của trang… HĐ Lý Gia sẽ chủ động liên hệ với bạn !!!

Về điều kiện làm học trò của mình ??? Hầu như Lý Gia không có một điều kiện gì hết…!!! Miễn người nào ham thích nghiên cứu tu hành, đều có thể trở thành HĐ của Lý Gia !!!

Chúc bạn đọc và Lưu Bình an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
08/04/2020
LÝ TỨ

Thiên Cảnh Trong Phật Đạo

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Du Hí Tam Muội

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Thần thông trong Phật đạo, là cảnh giới sau khi giác ngộ: Căn, thân, tâm, ý, thức không bị ngăn bịt bởi những pháp hư vọng hay cảnh duyên hư vọng !!! Nhờ đó, tuy đang ở thế gian, một vị đã giác ngộ có thể “du lịch” qua “mọi miền tâm thức” mà không tốn…đồng…xu…cắc…bạc !!!! 

Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được một số thắc mắc của Lưu Bình ở Quảng Ngãi !!! Nội dung thắc mắc như sau:

“Kính thưa thầy Lý Tứ và các anh chị nhóm Lý Gia!
Em là Lưu Bình, 28 tuổi, hiện đang ở Quảng Ngãi, em theo dõi thường xuyên trang của thầy và nhóm Lý Gia. Theo em thấy cách diễn giải Phật pháp của thầy khoa học, cũng như rất thực tế, không mơ hồ huyễn hoặc hay mê tín. Em cũng rất ngưỡng mộ các anh chị trong nhóm Lý Gia, thấy họ còn trẻ như em nhưng qua các bài viết của các anh chị ấy, em nhận thấy họ hiểu đạo lý thâm sâu, đời sống vững vàng vượt qua nhiều điều mà lứa tuổi của em thậm chí các cô chú cao niên tu học nhiều năm mà em đã từng tiếp xúc cũng chưa chắc vượt qua được.

Từ đó em có một số thắc mắc về phương pháp học tập của họ. Vì em cũng đã từng học cách ngồi thiền, nghe giảng trên mạng, được quý thầy dạy rồi thực hành nhưng không thấy có gì thay đổi, cũng sân si, cũng buồn phiền, cũng tham lam. Mong thầy cho phép em mạo muội được hỏi một vài điều được không? Em có vài thắc mắc như sau:

1) Phương pháp học tập của anh chị trong Lý Gia là gì? Thầy có truyền riêng cho họ bí kíp hay bí quyết gì không? Em thường hay nghe người ta nói nhiều đến bí kiếp tu luyện, thầy có bí kiếp đó không?

2) Trong kinh hay nói đến người tu luyện thành công có thần thông, họ có thể bay lượn như chim. Nói chung thăng thiên độn thổ như trong phim, thầy và các anh chị trong Lý Gia có thần thông không? Thực tế thần thông là gì, dùng vào mục đích gì?

3) Em cũng nghe nói đến các cõi thiên. Tiên (hay thiên) theo quan điểm của thầy là gì? Thầy có thể sơ lược các cõi thiên trong đạo Phật?

4) Ở nơi em ở tức Quảng Ngãi hay miền Trung có anh chị nào của Lý Gia hay không? Làm thế nào để gặp các anh chị ấy và tu tập theo họ? Điều kiện để được làm học trò của thầy là gì, có khắc khe lắm hay không?

Chúc thầy có sức khoẻ để viết nhiều bài viết có giá trị thực tế, giúp mọi người thấy được cốt tuỷ của đạo Phật giảm bớt những hiểu biết huyễn hoặc mơ hồ. 29/03/2020 20:43:12 – Lưu Bình – Quảng Ngãi”

Lưu Bình thân mến !!!
Đọc những lời tâm sự cũng như các thắc mắc của bạn, mình rất hoan hỉ !!! Xin cảm ơn đánh giá tích cực của Lưu Bình đối với bản thân mình và HĐ Lý Gia !!! Hy vọng, sau lần trao đổi này, HĐ Lý Gia Quảng Ngãi có thêm một người bạn mới !!!

Về các câu hỏi của Lưu Bình, mình xin được trả lời như sau:

1) Phương pháp học tập của anh chị trong Lý Gia là gì? Thầy có truyền riêng cho họ bí kíp hay bí quyết gì không? Em thường hay nghe người ta nói nhiều đến bí kiếp tu luyện, thầy có bí kiếp đó không?

Câu hỏi này, mình xin chia thành hai ý để trả lời !!!

* Ý thứ nhất: “Phương pháp học tập của anh chị trong Lý Gia là gì”?

Phương pháp học tập của HĐ Lý Gia cũng giống như mọi phương pháp học tập văn hoá ở đời…Gồm, đọc sách hay nghe hoặc đọc các tư liệu của Lý Gia, sau đó nghe giảng để hiểu ý nghĩa, điều gì chưa biết hay chưa hiểu sẽ được mình hoặc các huynh trưởng của Lý Gia giảng giải trong các buổi sinh hoạt trực tuyến qua phần hỏi đáp, cuối cùng là ứng dụng hiểu biết vào đời sống !!!

Đầu tiên, người học sẽ được trang bị những kiến thức cơ bản một cách chuẩn xác nhất của Phật đạo… Vì rằng, kiến thức cơ bản mà không chuẩn, hiểu lệch hoặc hiểu sai, sẽ dẫn đến việc ứng dụng sai lệch, ứng dụng sai lệch kết quả sẽ sai lệch… Theo mình, hiểu biết không chuẩn là vấn nạn thường gặp của người tu hành đời nay !!!

Nói chung, Lý Gia rất chú trọng đến việc hiểu đúng… Nhất là các khái niệm, thuật ngữ, cảnh giới…v..v…của Phật đạo !!! Có lẽ nhờ Lý Gia chú trọng đến việc cần thiết phải hiểu đúng, là bí quyết giúp HĐ Lý Gia thành công mau chóng trong việc ứng dụng điều đã học vào thực tế cuộc sống !!!

Về ứng dụng vào thực tế cuộc sống: Hầu hết HĐ Lý Gia đều là cư sĩ (chỉ một ít xuất gia)… Do đó, môi trường sinh sống, điều kiện tu học không có nhiều thuận lợi… Để khắc phục những thiệt thòi này, những HĐ mới luôn được các HĐ đi trước giúp đỡ, hộ trì trong một thời gian dài bằng nhiều hình thức…!!!

Để tu học thành công, Lý Gia đề ra ba phương châm hành động, đó là:

– Xây dựng thái độ tu học: Thái độ học tập phải nghiêm túc… Có nghĩa học ra học, chơi ra chơi…Hai món này cần rạch ròi, không được lẫn lộn !!!

– Xây dựng phương pháp tu học: Phương pháp tu học phải khoa học, phù hợp với bản thân và hoàn cảnh từng người… Không bắt chước cách tu học của người khác, vì rằng thực tế cuộc sống mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người một điều kiện, mỗi người một tâm ý, không ai giống ai… Nói chung, không bắt chước, không chạy theo đám đông để tránh việc “uống lộn thuốc” hay “tim chích lộn chỗ”… dẫn đến hậu quả “tiền mất tật mang” !!!

– Nỗ lực tu học !!! Khi nào xây dựng được hai phương châm trên…Việc nỗ lực học tập mới có kết quả !!!

* Ý thứ hai: “Thầy có truyền riêng cho họ bí kíp hay bí quyết gì không? Em thường hay nghe người ta nói nhiều đến bí kiếp tu luyện, thầy có bí kiếp đó không”?

Trả lời:
Phật rất nhiều lần dạy: “Không có điều gì ta nói với người này mà không nói với người kia…” Theo lời dạy trên, Phật đạo là thứ đạo “minh bạch”… Pháp của Phật là “chân lí”… Lời của Phật là “thiệt ngữ”… Hành động của Phật là vì lợi ích đối với “quần sanh” trên tinh thần “bình đẳng”…!!!

Cho nên, Phật đạo không có cái gọi là “bí kíp” hay “bí quyết”…!!! Phật đạo cũng không có cái gọi là “đặc quyền” hay “ân sủng”…v..v… đối với bất kì một cá nhân nào !!! Phật đạo là “một nền giáo dục giúp người thay đổi nhận thức…Khi nhận thức thay đổi, hành vi sẽ thay đổi… Hành vi thay đổi như pháp, nhất định an vui sẽ đến…” Vì Phật đạo là một nền giáo dục, cho nên những ai cố công học tập, nhất định sẽ thành tựu !!! Ông bà ta cũng dạy: “Có công mài sắt, có ngày nên kim”…!!! Chỉ trừ, cái được mài “không phải là sắt”… Vật để mài, “không phải là đá mài” !!!

Phật cũng thường dạy: “Ta thương tất cả chúng sinh như con một là La Hầu La…” !!! Có nghĩa rằng, những gì thuộc về tài sản trí tuệ của Phật, được chia đều cho tất cả chúng sinh…Chỉ trừ những người không chịu nhận mình là “con của Phật”, hoặc do vô tình hay cố ý nhận lầm “mấy anh ba trợn” hay “anh hàng xóm” làm cha của mình !!!

Những phân tích trên, cho ta thấy một điều: Phật đạo không có gì dấu diếm hay riêng tư như một thứ đặc quyền, đặc lợi cho một ai đó… Mọi điều thuộc về giáo pháp được trình bày trước đại chúng một cách công khai minh bạch, trong sáng…như mặt trời giữa hư không !!! Vì thế, toàn bộ HĐ Lý Gia cũng như bản thân mình, không có cái được gọi là “bí kíp” hay “bí quyết” gì hết…!!!

Nếu bảo rằng, mình và HĐ Lý Gia có một bí kíp hay bí quyết tu tập thì, bí quyết đó là:

– Điều gì đã biết: Phải biết một cách đúng đắn, chuẩn xác và đến nơi đến chốn…!!!
– Điều gì đã học: Phải quyết tâm ứng dụng triệt để điều ấy vào thực tiễn cuộc sống, chưa thành công chưa xả…!!!
– Điều gì đã ứng dụng thành công: Quyết một lòng chia sẻ đến những người hữu duyên trên tinh thần: Tất cả vì lợi ích của người, không dấu diếm, không tư lợi, không để thoả mãn cái ngã…!!!

Nói chung, bí quyết thành công trong học tập của Lý Gia chỉ vỏn vẹn có mấy chữ: “Đam mê, dấn thân và quên mình”…!!! Tạo cảm hứng và truyền cảm hứng cho người hữu duyên theo tinh thần Bồ Công Anh: “Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất…”!!!

2) “Trong kinh hay nói đến người tu luyện thành công có thần thông, họ có thể bay lượn như chim. Nói chung thăng thiên độn thổ như trong phim, thầy và các anh chị trong Lý Gia có thần thông không? Thực tế thần thông là gì, dùng vào mục đích gì?

Trả lời:
Không riêng gì bản thân mình, mà hết thảy HĐ Lý Gia sau khi giác ngộ đều có thần thông… Thậm chí có người đầy đủ “tam minh lục thông” !!!

Thần thông của Lý Gia gồm:
– Thiên nhãn thông: Thấy biết rất rõ các thiên cảnh của ba cõi đều do tâm mê biến hiện, nên nó vô thường… Vì nó vô thường, nên họ không chấp bất kì thiên cảnh nào !!! Do không chấp, nên khi mắt đối sắc, họ không bị đẹp xấu, thân thù…làm cho ngăn ngại… Từ đó, nơi cái thấy được “Pháp Nhãn Thanh Tịnh”, tâm ý thức không bị ngăn bịt, thông thẳng đến Niết Bàn an vui, vô lậu !!!

– Thiên nhĩ thông: Họ biết rất rõ, âm thanh dù hay hay dở, phát ra do môi, lưỡi, răng, họng…v..v… hoà hiệp mà thành !!! Tự âm thanh ấy không tánh… Âm thanh muôn loài như tiếng vang trong hốc núi, như tiếng gió chạm vào lá cây… Từ đó, họ không bị tiếng khen, không bị tiếng chê, không bị tiếng tốt, không bị tiếng xấu…làm mê mờ !!! Với “Thiên nhĩ thuần tịnh siêu nhiên” như thế: Tâm ý thức của họ không bị cái nghe ngăn bịt như người đời… Thông thẳng đến Niết Bàn an vui !!!

– Tha tâm thông: Sau khi giác ngộ, các HĐ Lý Gia biết rất rõ: Bao nhiêu ý nghĩ, bao nhiêu suy lường từ tâm thức của chúng sanh đều phát xuất từ hư vọng tâm, hư vọng pháp… Cho nên, khi đối trước người, họ không khởi lên nhân ngã, hơn thua, được mất, tật đố, ghét ganh…v..v…Do đó, dù người đối diện trong tâm của họ có thương hay ghét, có thân hay thù… Tất cả HĐ Lý Gia đều đối xử bình đẳng, từ bi…Nhờ thế tâm ý thức thông thẳng đến Niết Bàn an vui !!!

– Túc mạng thông: Tất cả HĐ Lý Gia, sau khi giác ngộ đều hiểu rằng: Vô lượng kiếp trước của chính bản thân mình (hay của người) cho dù sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, dòng tộc sang hèn, tên gì, làm gì…v..v… Cũng chỉ là giấc mộng !!! Nên họ không nắm giữ quá khứ, không sống với bóng ma quá khứ (của mình và người)… Trên tinh thần “tam tâm bất khả đắc”… Nhờ thế, hiện tại cho đến vị lai không bị “quá khứ tâm” làm ngại !!! Do đó, tâm ý thức của họ thông thẳng đến Niết Bàn an vui !!!

– Lậu tận thông: Các HĐ Lý Gia sau khi giác ngộ, biết rất rõ con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu… Nhờ thế, họ có thể giúp mình, giúp người hoàn thành “đạo quả vô lậu”… Khổ, kiết sử, phiền não, lậu hoặc tự tịch diệt… Như người ngủ mê tỉnh giấc, tâm ý thức không còn lậu hoặc, một bề tịch tĩnh, thông thẳng đến Niết Bàn an vui !!!

– Thần túc thông: HĐ Lý Gia nhờ thần túc thông… Trong một niệm, họ thể nhập các Tam Muội Môn, chu du khắp các cảnh giới tâm thức một cách mau chóng mà không cần động thân… Thậm chí, họ có thể giúp người bằng thứ “thần thông ngôn thuyết”… Khiến kẻ mê hết mê, khiến người còn đắm chìm trong dục giới thẳng tiến đến sắc giới… Từ sắc giới thẳng tiến đến vô sắc giới… Từ vô sắc giới thẳng tiến đến Phật quốc trong khoảng một niệm, mà thân người ấy không hề động lay !!!

Ha ha ha ha !!! Còn chuyện “bay liệng như chim”… Hoặc “thăng thiên độn thổ” như phim ảnh thì…thì…thì… Lão Lý đây cũng “pó tay”, chứ nói gì đến HĐ Lý Gia !!!

* Thực tế thần thông của giáo pháp là gì ???
Thần: Hơn người; Thông: Không bị ngăn bịt !!!

Thần thông trong Phật đạo, là cảnh giới sau khi giác ngộ: Căn, thân, tâm, ý, thức không bị ngăn bịt bởi những pháp hư vọng hay cảnh duyên hư vọng !!! Nhờ đó, tuy đang ở thế gian, một vị đã giác ngộ có thể “du lịch” qua “mọi miền tâm thức” mà không tốn…đồng…xu…cắc…bạc !!!! ^^ Lý Gia gọi môn thần thông này là: “Chu Choa Chu Choa Du Hí Tam Muội Phu Nhơn Bất Hao Tổn Kim Ngân Đại Thần Thông Lực” Ha Ha Ha Ha !!! (Tạm dịch: Chu choa, đi du lịch thả ga mà không phải xin tiền má sắp nhỏ)

* Thần thông trong Phật đạo dùng vào mục đích gì ??? Thần thông trong Phật đạo là thuộc tính của giác ngộ… Vì thế, một vị đã giác ngộ nhất định phải có các thứ thần thông nêu trên !!! Giống như đã là mặt trời nhất định phải toả ánh sáng và sức nóng !!!

– Mục đích thứ nhất của những thứ thần thông ấy là: Giúp những người đã giác ngộ, tuy thân căn đang ở thế gian (như mọi người thế gian) nhưng không kẹt mắc hoặc bị cột trói !!! Giúp tâm thức chảy giữa dòng đời, nhưng không bị nhiễm ô bởi các pháp hư vọng của dòng đời !!!

– Mục đích thứ hai của những thứ thần thông ấy là: Giúp người đã giác ngộ, phân biệt giữa thần thông lực của Phật đạo và tà đạo !!! Đồng thời, giúp người đã giác ngộ phát hiện những ai giác ngộ chân thật… Những ai đang sử dụng hàng dỏm (rởm), hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng nhái…v..v…!!! Như Quản Lí Thị Trường phát hiện túi xách, ba lô, bóp ví da Louis Vuitton, Chanel, Gucci, Prada, Hermes; Thắt lưng Montblanc (đồ da và giả da); Đồng hồ IWC, Montblanc Watch, Rado, Valentino, Rolex, Cartier, Patek Philippe, Audemars Piguet; Giày thể thao Nike; Quần áo Burberry, Gucci, Louis Vuitton, Tommy Jeans, The North Face…bị bọn ác làm giả !!!

– Mục đích thứ ba của những thứ thần thông ấy là: Giúp người đã giác ngộ thấu suốt chắc thật điều trọng yếu mà Phật đã từng dạy là: “Trong các thứ thần thông, ma ngoại đều có thể giả được… Chỉ trừ thần thông ngôn thuyết là tối thượng và không thể giả mạo…” !!! Từ đó, các vị ấy ngày ngày có xem phim hay đọc các tài liệu nói về thần thông, cũng không bị các thứ thần thông của phim ảnh hay tài liệu…lòm…cho…loè…con…mét !!!

Lưu Bình thân mến !!!
Hy vọng, những giải thích ở trên…Có thể giúp Lưu Bình hiểu thêm về bí quyết tu học của Lý Gia, cũng như các thứ thần thông trong Phật đạo !!!

Kì sau, chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi câu hỏi số 3 và số 4 của bạn !!! Chúc Lưu Bình an vui, tinh tấn !!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
02/04/2020
LÝ TỨ

Du Hí Tam Muội

Thư viện

Phần 16: Giác Ngộ - Giải Thoát - Trí Tuệ Ở Đời Đại Thông Tin Bùng Nổ Là Như Thé Nào?; Ngũ Minh Là Gì? Giác Ngộ Để Bảo Vệ Đạo Tâm; Kiến Thiệt Tế Là Gì? (Trang 206 - 217)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 19.02.2023

Vô Đối Môn 
Tác giả: Lý Tứ 
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 16: Giác  ngộ - Giải thoát - Trí tuệ ở đời đại thông tin bùng nổ là như thé nào?; Ngũ minh là gì? Giác ngộ để bảo vệ đạo tâm; Kiến thiệt tế là gì? (Trang 206 - 217)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Xa Ma Tha

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Muốn tu pháp Xa Ma Tha phải dựa trên cơ sở giác ngộ triệt để. Trí tuệ phát sanh tâm tư vắng lặng, chỗ vắng lặng tịch nhiên này gọi là Xa Ma Tha.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Nếu như pháp Tam Ma Đề dùng huyễn giác để ngộ bổn tâm, thì pháp Xa Ma Tha ngược lại dùng chân ngộ để dừng huyễn giác. Pháp Tam Ma Đề thuần túy tiệm tu thì pháp Xa Ma Tha gần với đốn ngộ.

Vì vậy muốn tu pháp Xa Ma Tha phải dựa trên cơ sở giác ngộ triệt để. Độ sâu giác ngộ để tu pháp này tương đương với thanh tịnh tâm tức đã thấy căn nguyên hư vọng. Phần việc còn lại là y nơi cái thấy thanh tịnh lóng trong vọng niệm. Khi vọng niệm đã lắng trí tuệ phát sanh.

- Trí tuệ phát sanh tâm tư vắng lặng, chỗ vắng lặng tịch nhiên này gọi là Xa Ma Tha.

Sở dĩ pháp Xa Ma Tha không được gọi là đại ngộ, cũng chưa gọi là đốn tu bởi người tu pháp này tuy giác ngộ triệt để nhưng phải đợi vọng niệm lóng trong. Giống như gió cảnh đã dừng nhưng sóng biển chưa lặng. Khi lặng rồi mới hốt nhiên nhận ra sóng ấy tức nước, nước với sóng chẳng phải hai. Bây giờ mới được gọi đại ngộ.

Khi nói người tu pháp Xa Ma Tha phải giác ngộ triệt để, nói triệt để nhưng vì còn giác nên chỉ triệt để trong phạm vi của giác. Vì thế giác ngộ này có chừng ngằn, thuật ngữ thiền lý thú và chính xác ở chỗ người giác ngộ dù sâu đến đâu cũng kẹt phần giác. Vì kẹt phần giác nên phải tu, mà đã có tu thì nửa khắc cũng chưa được gọi là đốn. Khi ngộ rồi mới biết giác kia chẳng phải ngộ.

Chữ đốn ngộ có cái hay của nó là đốn ngộ hay đại ngộ không hề có chữ giác, nếu còn nửa chữ giác thì chưa phải là đốn.

Từ giác đến ngộ giống như thấy ly nước. Thấy rõ ly nước nhưng vị nóng lạnh ngọt đắng của nước chưa nếm qua, khi nếm qua rồi thì không còn gì nghi ngờ. Chỗ không còn gì nghi ngờ thiền ngữ gọi là ngộ. Người giác ngộ để tu pháp Xa Ma Tha giống như ly nước trước mặt, phải uống mới biết mùi vị, biết rõ mùi vị gọi là Thiền Na.

- Đoạn kinh Phật định nghĩa "pháp Xa Ma Tha".

“Này Thiện nam! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh tịnh này mà giữ cái hạnh yên lặng và lóng các vọng niệm. Khi các giác quán vọng thức phiền động đã lặng rồi, thì trí huệ thanh tịnh phát sanh. Lúc bấy giờ cái thân tâm hư vọng sanh diệt như khách và nhiễm ô như bụi này, từ đây diệt hết.

Khi đó trong nội tâm của hành giả sanh ra vắng lặng và nhẹ nhàng thư thới (tịch tịnh khinh an) nên chư Phật trong mười phương thế giới đều hiện ra trong tâm của hành  giả, rất rõ ràng như bóng hiện trong gương. Phương tiện tu hành như thế, gọi là ‘Xa Ma Tha’.”[[1]]

Trong hai kinh Thủ Lăng Nghiêm và Viên Giác đều đề cập đến pháp Xa Ma Tha. Theo định nghĩa trong đoạn kinh trên, Xa Ma Tha là “giữ cái hạnh yên lặng.” Như vậy, có thể hiểu đây là pháp tu định hoặc chỉ. Tức là dùng sức giác ngộ để chỉ tâm dừng mọi vọng niệm, không phải ức chế để tâm dừng, cũng không phải đem tâm duyên một sở pháp để tâm không lăng xăng.

Tất nhiên người tu thiền nào cũng muốn dừng vọng niệm. Vì ai cũng biết vọng niệm là gốc của mọi nguy hại trên con đường tiến tu, và cũng biết vọng niệm không thể tự dừng, trừ những vị giác ngộ sâu trong Phật đạo.

Vì thế hầu hết người tu hành đều tìm mọi biện pháp có được. Trong lúc chưa giác ngộ và chưa biết phải làm gì, biện pháp hay dùng đó là niệm Phật hoặc quán sổ tức.

Hai cách thông dụng này tuy chưa phải tối ưu nhưng có lợi là khi thực hành có thể tạm chế ngự một số vọng tâm, và không rơi vào tà nẻo. Sở dĩ không rơi vào tà nẻo vì tuy chưa thấu suốt, nhưng người tu hành chọn đúng pháp được Phật cho phép. Hai pháp này nằm trong ngũ đình tâm quán, một cách điều tâm trước khi vào thiền.

Như người lạc vào rừng sâu nhiều ngày đói lả, lượm quả chín ăn tạm, do phước đức quả chín này không độc, không độc tạm thời có thể cứu đói. Nhưng lâu dài không thể thay thế cơm cháo, nên nói tạm thời không rơi tà nẻo.

Hai pháp trên khi thực hiện có thể giữ tâm tạm dừng vọng tưởng hạn chế phiền não. Tâm tạm dừng không có nghĩa tâm này rốt ráo giải thoát dứt sạch phiền não. Phiền não chỉ dứt sạch khi nào trí tuệ thanh tịnh phát sanh. Có một số người tu hành dùng các biện pháp bức ngặt tâm ý. Như nhìn đốm sáng hoặc quán một cái gì đó không được Phật thọ ký trong kinh cho đó là thiền. Khi tu như vậy dẫn đến hậu quả tai hại là không kiểm soát được hành vi thì hãy coi lại.

Bởi Phật giáo là đạo trí tuệ. Tức phải biết chắc vì sao làm điều này, làm điều này vì cái gì và kết quả ra sao, dựa trên nguyên lý nào cho ra kết quả này? Nói chung dừng tâm là việc cần làm nhưng không dừng theo cách mê tín không có cơ sở.

Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật có cảnh báo việc trụ tâm không đúng pháp như sau: “Người trụ tâm một chỗ nói rằng dứt vọng tưởng, ta bảo đó là kẻ vọng tưởng.”

Trong Thập Lục Quán kinh, Phật có dạy bà Vi Đề Hi 16 pháp quán tưởng theo thứ lớp, vật tưởng được chỉ định. Tưởng vào đó để định tâm, nhằm làm chuyển biến tâm nghiệp. Trong các thứ lớp quán tưởng này, mỗi lớp đều có ý nghĩa đặc biệt, công dụng đặc biệt, và giá trị đặc biệt.

Đây là trình tự được Phật chỉ định, trong điều kiện người thính pháp đã đủ công đức để nhiếp tâm.

Trì Phật chú cũng là biện pháp một số ngưòi dùng để an tâm. Thường người trì chú ngoài việc làm cho an tâm như một pháp an tâm, còn vì phát nguyện thực hiện hay muốn thành tựu một điều gì đó, mỗi bài chú có một công năng đặc biệt. Vì sao làm điều này được điều kia, chỉ có bậc thấu suốt nhân quả và ý nghĩa các tự môn như Phật mới biết được. Trong các bài chú Phật cũng có nói rõ công năng từng chú. Do đó quán tưởng hay trì chú cũng là các pháp tạm dùng để định tâm. Công dụng như thế nào đã được Phật chỉ rõ khi tuyên nói các pháp này.

Trong kinh Phật cũng dạy khi tâm đang phiền não không được tu định, mà phải dùng trí tuệ quán cho tiêu phiền não, phiền não tạm không khởi mới tu định.

Phật cũng dạy, người làm nhiều ác nghiệp, lớn ác tâm, khi quán hoả đại, phép quán thành tựu, hoả đại sẽ quay lại thiêu đốt thân tâm người đó và sa hoả ngục. Do đó muốn tu định, điều tiên quyết là tâm phải không phiền não.

Phật giáo chưa bao giờ dạy người tu thiền dừng vọng niệm khi chưa thật sự giác ngộ. Chưa thật sự giác ngộ mà quyết tâm dừng vọng niệm giống như gói cất nghiệp quả. Khi viên mãn nghiệp quả sẽ hiện.

Nghiệp quả không thể tiêu bằng cách cất trong tủ sắt hay gởi nhà băng mà chỉ tiêu thất khi nào giác ngộ như pháp. Vì thế đạo Phật có tên là đạo giác ngộ. Phật là đấng đại giác chứ không phải là chủ nhà băng. Vì thế không tự mình giữ nghiệp phiền não cũng không bảo người cất giữ.

Chính vì thế tứ diệu đế ra đời. Bốn đế ra đời để dạy cho chúng sanh giác ngộ, biết cách phân tích một pháp theo đúng chân lý và thấy nguyên nhân tại sao tâm phiền não. Biết rõ nguyên lý làm sao dừng phiền não, khi giác ngộ rồi sẽ tự biết làm thế nào để phiền não hay nghiệp không hiện. Thực hiện đúng nguyên lý, việc giác ngộ và tu hành sẽ không gặp khó khăn.

Vì những điều như vậy, nên chưa bao giờ Phật dạy đệ tử tu hành ngay. Tức là không dạy pháp tu trước, mà thuyết pháp đến lúc đệ tử giác ngộ rồi tự biết nẻo vào. Chỉ khi đệ tử không tự biết cách thức, hoặc Bồ Tát vì chúng sanh đời sau tha thiết mong cầu chỉ bày phương tiện tu hành, các vị này mới tạm nói.

  • Và cũng chưa thấy đệ tử nào của Phật ngộ rồi mà không biết cách điều tâm.

Ta thường thấy trong kinh: “Sau khi nghe xong kinh này, vô số người chứng Tu Đà Hoàn, vô số người vào các địa vị khác….” Chưa rời đạo tràng đã chứng, không thấy nói họ làm gì để chứng.

Tất nhiên trong lúc nghe pháp, túc duyên, công đức, căn cơ những vị này đã đủ, đủ túc duyên mới sinh thời Phật, mới nghe Phật thuyết, nghe đến đâu nguồn tâm hướng đến đó. Phật như người khơi dòng, người thính pháp dẫn tâm theo mạch nước pháp mà chảy, điều tâm theo từng câu Phật nói, do vậy khi Phật thuyết xong cũng vừa lúc nguồn tâm đến đích.

  • Người đời trước làm được, đâu vì thế mà đời sau không làm được! Ví như Tổ Huệ Năng, khi nghe “ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm” liền có chỗ vào.

  • Trong khi đó có vô lượng người nghe câu này, có người nghe cả trăm, cả ngàn lần vẫn đứng xa nguồn cội. Tại sao không đặt câu hỏi, Tổ đã nghe câu kinh đó như thế nào, ta nghe câu kinh đó như thế nào? Tổ nghe bằng gì, ta nghe bằng gì? Tổ nghe lấy ý nghĩa nào, ta nghe lấy ý nghĩa nào?

Khi đặt câu hỏi như vậy, mới thấy nhiều vấn đề cần điều chỉnh, như cách đọc kinh, thính pháp, mục đích đọc kinh, nghe pháp. Nếu điều chỉnh hợp lý, đọc kinh hay thính pháp sẽ đưa tâm vào vị trí thích hợp. Hướng tâm theo mạch kinh, nếu đủ túc duyên thì giác ngộ không khó, chưa đủ túc duyên phải tư duy, làm các hạnh lành.

Kinh dạy: “Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có người tu tập thân giới tâm huệ như đã nói ở trên, có thể thấy các pháp đồng với hư không, chẳng thấy trí huệ cũng như chẳng thấy người trí, chẳng thấy ngu si cũng như chẳng thấy kẻ ngu, chẳng thấy tu tập và người tu tập, đây gọi là người trí. Người nầy có thể tu tập thân giới tâm huệ. Người nầy có thể làm cho báo địa ngục trở thành quả nhẹ hiện đời: Giả sử người nầy gây tạo ác nghiệp rất nặng, nhờ tư duy quan sát có thể làm cho nghiệp nặng thành nhẹ. Người nầy nghĩ rằng: Nghiệp của ta dầu nặng nhưng chẳng bằng nghiệp lành. Như bông vải dầu nhiều nặng cả trăm cân, nhưng chẳng thể sánh bằng một lượng vàng ròng. Như đem một thăng muối ném vào trong sông Hằng, nước sông không vị mặn người uống chẳng biết. Như người giàu to dầu thiếu người ngàn muôn vật báu cũng không ai bắt bớ làm khổ được. Như đại hương tượng có thể bức dây xích sắt mà đi tự tại. Người trí huệ cũng như vậy, thường suy nghĩ rằng công đức lành của tôi nhiều, nghiệp ác yếu kém, tôi có thể phát lồ sám hối trừ hết tội ác, tôi có thể tu tập trí huệ làm cho sức trí huệ nhiều, sức vô minh ít.”[[2]]

Có thể ngay lúc đó hỏi Huệ Năng ý nghĩa văn tự của câu “ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm” là gì?

Huệ Năng chưa chắc đã giải thích trôi chảy, đúng từ điển, lưu loát, có ca có kệ như người đời sau! Chính không lưu loát, chỉ nhằm lấy nghĩa như người ăn mía hưởng dụng vị ngọt từ nước và nhả bã văn tự, nên lợi ích xảy ra tức thì.

Kinh cũng có ví dụ: “Như con nga vương nhúng mỏ vào hỗn hợp hòa tan sữa và nước, con nga vương chỉ hút sữa còn nước thì để lại.” Phật tử chúng ta đã hút được những gì trong kinh điển?

  • Sở dĩ đề cập đến những vấn đề trên vì đây là những vấn nạn người tu thiền hay mắc phải.

  • Những vấn đề này tuy không mới nhưng ít người giải quyết tận gốc, chính không lưu ý giải quyết rốt ráo. Đọc kinh như đọc sách, tư duy kinh như tư duy triết, học kinh như học bài, đời sống thiếu các hạnh lành, phóng dật trong suy nghĩ, đọc kinh với đầy đủ ngã tướng.

Thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp đọc vô số kinh điển, mà ứng dụng chẳng được bao nhiêu, thậm chí không thể ứng dụng và cảm thấy kinh Phật là cái gì đó xa vời, khó hiểu. Cuối cùng tìm cách giải quyết kiến thức bằng con đường lý giải theo thế pháp, hay triết lý. Phật giáo có cách tư duy đặc thù của Phật giáo, không theo quy luật tư duy thông thường thế gian.

Cũng một câu kinh, nếu suy nghĩ theo thế gian sẽ cho ra nghĩa thế pháp. Nếu tư duy theo quy luật Phật giáo sẽ cho ra giác ngộ ứng dụng tu hành.

Do đó cần có căn bản, hiểu đúng giáo lý là điều cần thiết trước khi bước vào nghiên cứu những điều lớn lao trong Phật đạo. Và điều quan trọng bậc nhất của kinh là một bài, một đoạn, một câu đều có chung ý nghĩa.   

Đó là: Làm cho người nghe thanh tịnh tâm năng nghe, làm cho người thấy thanh tịnh tâm năng thấy, làm cho người hay biết thanh tịnh tâm năng hay biết, làm cho hết thảy chúng hữu tình thanh tịnh bản tâm. Văn tự kinh như thứ thuốc chữa năng sở, không phải liều thuốc bổ làm tăng kiến thức.

Kinh Kim Cang Phật dạy: “Nếu có người thọ trì (thấu suốt) kinh này, cho đến một bài kệ bốn câu (thấu suốt rồi) đem giảng cho người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia (những người đã làm việc bố thí ở đoạn kinh trước). Tại sao? Tu Bồ Đề! Tất cả chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này ra. Tu Bồ Đề, gọi là Phật pháp, tức phi Phật pháp.”

Pháp tu ‘Xa Ma Tha’ được coi là pháp tu khó nhất trong Phật giáo. Đòi hỏi điều giác ngộ phải tỏ tường, người ứng dụng pháp tu này có năng lực trú tâm vững vàng, giới luật không khuyết.

Tuỳ chỗ cạn sâu của tri kiến, trụ tâm vào điều giác ngộ để hướng đến cứu cánh. Công việc trú tâm vào giác là mượn sức huân lắng của cứu cánh để tịch diệt những gì làm ngăn ngại.

“Này Thiện nam tử! Nếu có Bồ Tát giữ tâm rất vắng lặng, nhờ sức vắng lặng này, mà đoạn các phiền não, được vĩnh viễn thành tựu rốt ráo tánh Viên Giác, thì vị Bồ Tát ấy lúc bấy giờ chẳng rời chỗ ngồi mà vẫn nhập được Niết Bàn, Bồ Tát tu như thế, gọi là chỉ tu một pháp Xa Ma Tha.”[[3]]

Trong đoạn kinh trên, mới đọc ta thấy gần như mâu thuẫn. Có hai mệnh đề rõ rệt, mệnh đề thứ nhất: “Nếu có Bồ Tát giữ tâm vắng lặng,” mệnh đề thứ hai: “Mà đoạn các phiền não.” Nếu tâm đã vắng lặng thì phiền não đâu ra mà đoạn, nếu có phiền não để đoạn thì sao gọi tâm vắng lặng? Hai mệnh đề này đúng là mâu thuẫn. Chính mâu thuẫn này xuất sinh ra pháp Xa Ma Tha.

Mệnh đề thứ nhất: “Nếu Bồ Tát giữ tâm vắng lặng.” Ở đây ta thấy Bồ Tát cần phải giữ tâm vắng lặng, có nghĩa Bồ Tát đã thấy tâm vắng lặng rồi nhưng không giữ sẽ mất. Vì sao lại mất? Cái gì cướp mất? Xét tột cùng đoạn kinh, Bồ Tát giác ngộ vắng lặng nhưng không thường hằng, nếu thường hằng không cần phải giữ.

  • Như vậy, tâm không giữ được chỉ có tâm năng giác, vì giác bằng năng tâm mới không giữ được cái đã giác. Hễ có năng tất nhiên có sở, như vậy thứ giác ngộ được đó là sở giác. Chính giác ngộ có năng sở nên mới có phiền não để đoạn. Phiền não ở đây là gì? Phiền não ở đây không phải như phiền não của chúng phàm phu, mà do Bồ Tát rõ biết bổn tâm vắng lặng thanh tịnh không năng sở.

  • Tuy đã giác ngộ không năng sở nhưng năng giác, sở giác vẫn còn nên gọi đó là phiền não.

Bây giờ Bồ Tát mượn sức thanh tịnh bổn tâm để huân lắng, làm tịch diệt năng giác và sở giác.

  • Khi năng giác sở giác tịch diệt, kinh gọi: “Được vĩnh viễn thành tựu rốt ráo tánh Viên Giác.” Bồ Tát không rời chỗ ngồi mà được Niết Bàn.

Được Niết Bàn ở đây là thấy được thanh tịnh bổn lai không năng sở, không năng sở nên gọi vô sở đắc. Kinh Kim Cang nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.”

Bồ Tát tu pháp Xa Ma Tha khi đã vào Niết Bàn khó khởi bi tâm, vì duyên chúng sanh và nhân cứu độ đã tịch diệt. Vì thế thập địa ra đời để giải quyết mối tịch diệt này, kinh Hoa Nghiêm gọi là nhập pháp giới.

Tóm lại Xa Ma Tha là pháp tu định hay tu chỉ, nghĩa là giác ngộ tâm thanh tịnh. Lấy thanh tịnh làm chất liệu huân lắng vọng niệm. Giống như bỏ phèn vào nước để nước tự trong. Nếu chưa giác ngộ có thể dùng một trong các pháp đình tâm được Phật khuyến khích như quán sổ tức, quán bất tịnh, quán từ bi, niệm Phật (trì chú), quán hình tượng Phật, Bồ Tát, hoặc bạch cốt quán.

Tuy đây là những pháp quán nhưng có khuynh hướng làm tâm an định, giảm bớt phiền não nhưng phải tụng đọc kinh điển thường xuyên để giác ngộ. Khi nào giác ngộ tâm mới dừng triệt để. Không nên cột tâm vào sở pháp như quán một điểm trong hoặc ngoài thân hay trú tâm vào pháp nào khác để dừng vọng niệm bằng mọi giá. Nếu cố dừng vọng tâm bằng tất cả nỗ lực khi chưa thật sự giác ngộ là tự làm cho nghiệp cô kết mau hiện quả. Vì thế Xa Ma Tha đặt nặng giác ngộ, coi giác ngộ là then chốt đưa đến rốt ráo thanh tịnh tự tâm. Đây là chỉ thú quan trọng của Phật pháp.

[[1]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.

[[2]] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn –HT. Thích Trí Tịnh dịch.

[[3]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.

(còn nữa)

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Các Tầng Bậc Kiến Tánh

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Kiến tánh là khái niệm chung, nhằm chỉ cho ba giai đoạn, ba cảnh giới mà một người tu hành trong Phật đạo (cần) đạt đến, đó là: Thấy tánh giác, thấy tự tánh, thấy Phật tánh (kiến = thấy) !!!

Các bạn !!!
Trong tuần, BQT đã nhận được câu hỏi của Nguyễn Ngọc Tới !!! Nội dung câu hỏi như sau:

“Ở trang Lý Tứ khác với các vị khác mà tôi được nghe giảng ‘không có điều gì là không thể’, vậy tôi đặt rất nhiều câu hỏi mong các vị không phiền.

Trong Phật Đạo có hai từ Kiến Tánh.
– Ví dụ lúc thấy tham sân khởi lên và diệt đi (trong chính niệm) thì được gọi là kiến tánh chưa ?
– Có phải chứng hai vô ngã đồng nghĩa với vụ nổ “Big Bang” và cũng được gọi là Kiến Tánh hay không ?
– Cái thấy và cái được thấy phản chiếu trung thực được gọi là Kiến Tánh ?

Những điều này vượt ngoài nhận thức của tôi nên mong nhận được câu trả lời”. 18/03/2020 – 11:34:46 Lê Ngọc Tới

Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
Khi nhận được câu hỏi của bạn, hoặc các độc giả khác gởi về…Chẳng những BQT trang không lấy đó làm phiền, mà ngược lại rất hoan hỉ !!!

Vì rằng, khi mở chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI – LÝ TỨ TRẢ LỜI… BQT đã xác định mục tiêu của chuyên mục cũng như của trang !!! Trong các kinh, Phật thường hay khen ngợi “người khéo hỏi và người khéo trả lời”… Bởi lẽ, đối với Phật đạo, hỏi và trả lời câu hỏi là một nghệ thuật…!!!

Nghệ thuật ấy giúp người hỏi nâng cao năng lực tu tập, từ đó tạo thói quen hình thành phép đặt câu hỏi có trọng tâm, cũng như sáng tỏ những điều mình chưa sáng tỏ… Đồng thời đối trước câu hỏi, sẽ giúp người trả lời phát huy sức thiện xảo trong nghệ thuật vấn đáp, một trong những nghệ thuật không thể thiếu đối với bất kì lãnh vực học tập nào !!!

Về các thắc mắc của bạn, mình sẽ không trả lời trực tiếp từng ý… Mà chỉ phân tích “khái niệm kiến tánh”, cũng như “các điều kiện cần có của cảnh giới kiến tánh” !!! Từ đó, bạn sẽ tự trả lời cho bản thân những thắc mắc mà bạn đã nêu !!!

I- KIẾN TÁNH LÀ GÌ ???
Kiến tánh là khái niệm chung, nhằm chỉ cho ba giai đoạn, ba cảnh giới mà một người tu hành trong Phật đạo (cần) đạt đến, đó là: Thấy tánh giác, thấy tự tánh, thấy Phật tánh (kiến = thấy) !!!

Về khái niệm kiến tánh… Cho đến thời điểm hiện tại, mình chưa tìm thấy sự thống nhất trong giới tu hành là: Khái niệm này nhằm chỉ cho việc thấy tánh giác hay thấy tự tánh hoặc thấy Phật tánh !!!??? Mà phần lớn tuỳ theo tông phái, tuỳ theo quan điểm tu hành, mỗi một nơi dùng khái niệm kiến tánh để chỉ cho một cảnh giới trong ba cảnh giới nêu trên theo cách hiểu riêng (hay thói quen) của họ !!! Vì thế, chỉ khi nào, nghe họ mô tả, và phân tích ngữ cảnh trong câu nói, chừng ấy mới biết hai chữ kiến tánh mà người kia đã nói lên nhằm chỉ cho cảnh giới nào !!!

Điều này giống như cùng một cái cây, người thấy ngọn cây cũng bảo rằng “thấy cái cây” !!! Người thấy thân cây, cũng bảo rằng “thấy cái cây” !!! Người thấy gốc cây, cũng bảo rằng “thấy cái cây” !!! Ba người thấy ba phần khác nhau của cái cây đều bảo rằng “nay tôi đã thấy cái cây”… Như vậy, muốn biết những người ấy thấy phần nào của cái cây, phải nghe người ấy mô tả cái thấy của mình… Chừng ấy, “thấy cái cây” là thấy phần nào của cái cây mới được sáng tỏ !!!

Ví dụ: Người thấy ngọn cây, sẽ mô tả cái cây tôi thấy có nhiều cành nhánh !!! Người thấy thân cây, sẽ mô tả cái cây tôi thấy, có dáng hình trụ, cao to, vỏ bọc xù xì !!! Người thấy gốc cây, sẽ mô tả cái cây tôi thấy, to lớn có nhiều rễ cắm sâu xuống đất…v..v…!!!

Tất nhiên trong đời, không thiếu những người chưa một lần kiến tánh…Nhưng họ vẫn nhầm lẫn (do vô tình hay cố ý) bản thân đã kiến tánh…Để kiểm chứng việc người đó cho rằng bản thân đã kiến tánh là thật hay giả, chỉ cần nghe họ mô tả về điều họ đã thấy, từ đó mới có những đánh giá chính xác về cái thấy của người kia là đúng hay sai về cảnh giới kiến tánh !!! Ví dụ, có người bảo: “Nay tôi đã thấy cái cây ấy”… Nhưng khi mô tả, người đó lại mô tả hình dáng một…con…mèo…thì…thì…thì, biết chắc rằng, người ấy chỉ thấy con mèo chứ….chưa…thấy…cái…cây !!!

Tất nhiên, để có thể đánh giá một người đã kiến tánh hay chưa, người đánh giá phải là người “thấy đầy đủ ba phần của một cái cây” !!! Những người thấy một phần, thì không thể nhận định, đánh giá các phần cây mình chưa thấy !!! Đây cũng là lí do vì sao, khi bàn về cảnh giới kiến tánh, phần lớn người tu học trong Phật đạo thường không thống nhất ý kiến hoặc quan điểm của nhau !!!

II- KIẾN TÁNH GIÁC, KIẾN TỰ TÁNH, KIẾN PHẬT TÁNH LÀ THẤY ĐIỀU GÌ ???

A- Kiến tánh giác: Khái niệm “kiến tánh giác”, dùng để chỉ cho cảnh giới người tu hành sau khi thấy biết (của họ) đã hoàn toàn không còn bị nhiễm ô bởi tri thức thế gian… Do thấy biết không còn bị nhiễm ô bởi tri thức thế gian nên, cái thấy, cái nghe…v..v…trở về đúng chức năng thấy biết bản nhiên của tánh giác… Cho nên, người ấy không còn bị khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc hiện khởi !!! (Tất nhiên sân si cũng đã tịch diệt, nên ý thứ nhất trong câu hỏi của bạn Lê Ngọc Tới có thể dùng phần này để đối chiếu)

Và, một điều cực kì quan trọng của người đã kiến tánh giác là, vị ấy biết chắc rằng: Sau khi tịch diệt “kiến văn giác tri” thế gian, sẽ không rơi vào đoạn diệt (như những người không kiến tánh suy lường rồi hiểu nhầm) !!! Giống như nguồn nước bị nhiễm ô, sau khi loại bỏ các thứ nhiễm ô, nguồn nước không vì thế mà cạn kiệt, trái lại nguồn nước sẽ trở nên trong sạch hơn !!! Để mô tả sự không đoạn diệt này, kinh gọi cảnh giới sau khi kiến tánh giác là “Tam Muội Giác Gia Trì” !!! Tánh giác (hay tánh thấy) chính là Tam Muội Giác, một thứ Tam Muội hình thành gần như đầu tiên của người tu hành !!!

B- Kiến tự tánh: Sau khi tâm thức vị tu hành không còn nhiễm ô, tánh giác phát huy tác dụng… Người tu hành sử dụng “tánh giác như một công cụ” nghe nhìn tối ưu… Người ấy quay trở vào tự tâm, nhìn ngắm tự tâm… Vị ấy trực nhận ra (không phải tưởng tượng hay suy lường) bổn tâm có những tính chất tự nhiên (tự tánh) của nó như: Thanh tịnh, bất động (không động lay), không sanh diệt (chẳng phải không sống chết), thường tự an vui, thường tự tịch tĩnh, thường tự chiếu soi, đầy đủ công đức của cảnh giới Niết Bàn…v..v…!!!

Do thấy được tự tánh, vị tu hành cũng biết chắc một điều: “Bản lai, chư Phật và chúng sanh đồng một tự tánh” !!! Đây là cơ sở quan trọng để người tu hành biết rõ đâu là thế gian đâu là xuất thế, cũng như thế gian hay xuất thế thực chất là ở đâu và đi về đâu !!!

Khi thấy được tự tánh, Lục Tổ Huệ Năng bất ngờ trước những tính chất mà trước đây cho dù bản thân đã kiến tánh giác trong lần sơ ngộ nhưng cũng không thể thấy… Vì thế bèn thốt lên: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không động lay, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, nào dè tự tánh vốn tự đầy đủ (công đức), nào dè tự tánh có thể chiếu soi muôn pháp (nếu mê sẽ sanh muôn pháp, như nước bị nhiễm ô sẽ làm vẩn đục hình bóng các thứ chiếu vào nó)…” !!!

C- Kiến Phật tánh: Kiến Phật tánh là cái thấy gần như sau cùng của người tu hành trong Phật đạo !!! Người thấy Phật tánh, đích đến Vô Thượng Bồ Đề được coi là rất gần… Vì thế, người xưa hay nói “kiến tánh thành Phật” !!!

Để có thể kiến Phật tánh, người tu hành phải trải qua hai cảnh giới trước đó là, thấy tánh giác và thấy tự tánh !!! Thấy tánh giác, hết nhiễm ô !!! Thấy tự tánh biết được bản chất cùng tánh chất tự nhiên của tự tâm !!!

Sau khi thấy được hai món trên, vị tu hành phát khởi từ bi tâm, học tập tất cả các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của chư Phật, có được trí tuệ, thực hành công hạnh giáo hoá dày sâu…!!! Trong quá trình giáo hoá, vị này trực nhận ra: Tâm trí (bây giờ) cũng đầy đủ những tính chất như một vị Phật, đó là: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi, hỉ, xả…mà trước đây các tính chất trên chưa hiện đầy đủ !!!

Nói khác hơn, thấy Phật tánh là khái niệm để chỉ cho những vị trực nhận ra, tâm và trí (bây giờ) cũng đầy đủ những tính chất ưu việt, siêu quá ba thừa như một vị Phật !!! Nhờ cái thấy cuối cùng này, vị ấy lần lượt thành tựu Thập Bát Bất Cộng của chư Phật !!!

Để mô tả việc thấy Phật tánh quan trọng như thế nào, Phật tuyên thuyết các giai đoạn phải trải qua bằng lời dạy như sau: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân… Sau khi thọ thực, Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hoá thức ăn, biến nhục thân thành Kim Cang Thân… Thấy Phật tánh, thành Đẳng Chánh Giác…” !!! Thiết nghĩ, lời dạy trên đã khái quát những cảnh giới tiêu biểu (hay các tầng kiến tánh) mà một Bồ Tát phải kinh qua, trước khi thành Đẳng Chánh Giác !!!

III- Kết luận: Kiến tánh là khái niệm để chỉ cho ba cảnh giới mà một người tu tập trong Phật đạo muốn thành tựu Vô Thượng Bồ Đề phải thành tựu !!!

Ba lần thấy này, có sự kế thừa lẫn nhau theo một quy trình nhất định !!! Để dễ hiểu, ta có thể ví dụ như sau: “Giống như một người xa xứ lâu năm, nay trở về quê hương… Sau khi trải qua một đoạn đường dài, người ấy từ xa thấy bóng dáng của cây đa đầu làng (kiến tánh giác)… Nhờ bóng dáng đặc trưng của cây đa đầu làng làm dấu hiệu cho làng của mình, người ấy cứ nhắm thẳng hướng có cây đa mà đi tới (bất thối)… Về đến cổng nhà, người này thấy rõ thân cây đa cao to với lớp vỏ sần sùi (kiến tự tánh)… Sau khi vào nhà, người này tiếp tục quan sát gốc đa và nhận ra gốc rễ (cũng như toàn thân) của nó (kiến Phật tánh)…!!!

Điều đặc biệt, tuy kiến tánh giác chỉ là cái thấy đầu tiên trong quy trình kiến tánh gồm ba thứ nhãn lực của ba cảnh giới khác nhau… Nhưng, kiến tánh giác đóng một vai trò cực kì quan trọng, đó là cái thấy đầu tiên nhưng cũng là cái thấy giúp người tu hành bất thối, thành tựu Bất Cộng Phàm Phu Pháp… Giống như người xa quê, trên đường trở về, thoạt thấy bóng dáng đặc trưng của cây đa đầu làng, người ấy biết chắc mình đã về đúng quê hương… Từ đấy an lòng (chánh định), mạnh chân (tinh tấn), vững bước (không còn nghi ngờ đi lộn đường) !!!

* Riêng câu hỏi: Có phải chứng hai vô ngã đồng nghĩa với vụ nổ “Binh Bang” và cũng được gọi là Kiến Tánh hay không ? Về câu hỏi này, xin được trả lời như sau:

– Người tu hành chứng hai vô ngã, sau khi được khai thị một lần nữa (giống Ngũ Tổ thuyết Kim Cang cho Lục Tổ), vị ấy chỉ mới thấy được tự tánh (cũng gọi là kiến tánh)… Và cái thấy này, cũng chưa đủ công đức để tạo ra một vụ nổ Big Bang của tâm thức !!! Nổ Big Bang tâm thức là vụ nổ sau cùng để thấy Phật tánh !!! Sau khi nổ Big Bang, vị này tự thành tựu Vô Sư Trí (một thứ trí tuệ không có thầy, và dùng để dạy tất cả các địa vị ‘hữu sư trí’ trong Phật đạo… Chừng nào đủ duyên, vị ấy thành Đẳng Chánh Giác) !!!

Lê Ngọc Tới thân mến !!!
Hy vọng những giải thích ở trên, có thể giúp bạn nhận ra một vị đã kiến tánh là thấy điều gì… Và điều kiện để có được ba thứ thấy trong quá trình kiến tánh hoàn hảo là như thế nào… Từ đó, giúp bạn đối chiếu với những thắc mắc của mình và tự trả lời cho bản thân !!!

Cách đây khoảng nửa tháng, BQT có gởi cho bạn một món quà (gồm các cuốn sách của Lý Tứ) qua đường bưu điện… Không biết bạn đã nhận được hay chưa !!!??? Rất mong phản hồi từ bạn, để BQT biết chắc bưu phẩm mình đã gởi, có đến tay người nhận hay không !!!??? Chúc bạn an vui, tinh tấn !!!

BQT rất mong, nhận được những câu trả lời lí thú và bổ ích từ bạn đọc !!!
24/03/2020
LÝ TỨ

Các Tầng Bậc Kiến Tánh

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Vô Lượng Nghĩa Là Gì? Làm Sao Để Thành Tựu?; Quá Trình Tu Tập Của Tác Giả Lý Tứ

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Bồ-tát muốn tu học Vô lượng nghĩa ấy, phải nên quán sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tánh tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, không an trú không lay động, không tới không lui, dường như hư không không có hai pháp...

Các bạn !!!

Kì này, chúng ta tiếp tục trao đổi hai câu hỏi của bạn Nguyễn Phúc Bửu Khoa !!! Nội dung hai câu hỏi như sau:
2) Ngoài ba thứ thắc mắc nêu trên, tôi thấy Phật đạo còn đề cập đến vô lượng nghĩa. Xin hỏi vô lượng nghĩa là gì? Muốn có được vô lượng nghĩa phải thành tựu những điều gì!

3) Thầy có thể bật mí về quá trình tu tập của bản thân hay không? Thầy đã đắc được điều gì trong Phật đạo?

Xin cảm ơn thầy và quý trang, chúc thầy nhiều sức khoẻ”. 04/03/2020 16:20:16. Nguyễn Phúc Bửu Khoa”.

Bạn Nguyễn Phúc Bửu Khoa thân mến !!!

* Về câu hỏi số 2, bạn hỏi: “Ngoài ba thứ thắc mắc nêu trên, tôi thấy Phật đạo còn đề cập đến vô lượng nghĩa. Xin hỏi vô lượng nghĩa là gì? Muốn có được vô lượng nghĩa phải thành tựu những điều gì”! Mình xin được trả lời như sau:

Vô Lượng Nghĩa là một môn học (pháp môn) của Bồ Tát Đạo, môn học này được Phật dạy trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa !!!

Theo tinh thần kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, Bồ Tát học được pháp môn này, từ một pháp có thể giảng nói vô lượng ý nghĩa khác nhau, tuỳ vào căn tánh, tuỳ vào địa vị tu tập của từng người... Hay khác hơn, chúng sanh có vô lượng căn tánh sai biệt, Phật đạo có vô lượng cảnh giới sai biệt... Nên Bồ Tát cũng phải tuỳ thuận từng căn tánh, từng đạo quả mà giảng nói vô lượng ý nghĩa sai biệt (của mỗi pháp), khiến từng căn tánh, từng đạo quả lần lượt nâng cao nhận thức theo tiến trình khai mở ngũ nhãn, để cuối cùng thành tựu mục tiêu tối hậu của Phật đạo !!!

Đây là lí do vì sao Phật pháp lại có quyền, có thiệt, có bất liễu nghĩa, có liễu nghĩa, có thế gian, có xuất thế gian..v..v...Lại có ba thừa và Nhất thừa !!!

* Về việc bạn hỏi: Muốn có được vô lượng nghĩa phải thành tựu những điều gì”?

Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa dạy: “Bồ-tát muốn tu học Vô lượng nghĩa ấy, phải nên quán sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tánh tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, không an trú không lay động, không tới không lui, dường như hư không không có hai pháp...” !!! Trích Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa - HT Thích Mật Thể dịch !!!

Theo tinh thần đoạn kinh trên, Bồ Tát muốn tu học pháp môn Vô Lượng Nghĩa...Bồ Tát ấy phải thấy thiệt tướng các pháp (thiệt tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng) !!! Do thấy thiệt tướng các pháp...Bồ Tát có thể dùng cái thấy này, quán sát tâm thức hư vọng của chúng sinh (hay đạo quả hiện tại của họ), từ đó tuỳ bịnh cho thuốc !!!

Theo mình, ngoài việc Bồ Tát quán sát tánh tướng của các pháp như trên để học pháp môn Vô Lượng Nghĩa... Bồ Tát ấy muốn tuyên thuyết Diệu Pháp, phải thành tựu thêm ba pháp quan trọng của Phật đạo, đó là: Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội, Tứ Vô Ngại Biện và Tứ Vô Sở Uý !!!

Vì rằng, Bồ Tát có thành tựu Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội mới đủ năng lực quán sát tâm cảnh giới của đại chúng thính pháp !!! Thành tựu Tứ Vô Ngại Biện mới có thể thông suốt ngữ nghĩa cùng các pháp thế gian, xuất thế và xuất thế gian thượng thượng !!! Thành tựu Tứ Vô Sở Uý mới tự tại thiện xảo tuyên thuyết tất cả các cảnh giới của Phật đạo mà không rơi vào tà kiến hay hoa ngôn !!!

Để giúp Bửu Khoa cùng các bạn tìm hiểu xuất xứ của môn học Vô Lượng Nghĩa... Mình xin giới thiệu, một đoạn trích của kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa !!!

“Khi ấy Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát cùng tám vạn liền đồng thanh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn ! Các Bồ-tát ma-ha-tát muốn chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề, phải tu học pháp môn gì, và pháp môn gì khiến các Bồ-tát ma-ha-tát được chóng thành đạo Vô thượng Bồ- đề ?”

Phật bảo Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát với tám vạn Bồ-tát rằng: “Thiện nam tử! Có một pháp môn hay khiến Bồ-tát chóng được đạo Vô thượng Bồ-đề, nếu có Bồ-tát tu học pháp môn ấy thì liền đặng thành đạo Vô thượng Bồ-đề”

- Bạch Thế Tôn! Pháp môn ấy gọi là gì? Nghĩa lý ra sao? Và các vị Bồ-tát làm sao tu trì?

Phật dạy: “Thiện nam tử ! Pháp môn ấy gọi là “Vô Lượng Nghĩa” Bồ-tát muốn tu học Vô lượng nghĩa ấy, phải nên quán sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tánh tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, không an trú không lay động, không tới không lui, dường như hư không không có hai pháp. Bởi các chúng sinh mê lầm chấp trước là đây là kia, là đặng là mất, khởi niệm chẳng lành, gây các nghiệp dữ, luân hồi sáu thú chịu các khổ độc, không lường ức kiếp chẳng ra khỏi được. Bồ-tát ma-ha-tát quán sát như vậy, sanh tâm lân mẫn phát tâm Đại từ bi cứu vớt chúng sinh. Lại còn thâm nhập tất cả các pháp, pháp tướng như vậy thì sanh pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì trú pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì dị pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì diệt pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy mà vẫn sanh ra các ác pháp, pháp tướng như vậy mà vẫn sanh ra các thiện pháp, cho đến trú, dị, diệt cũng như vậy. Bồ-tát cứ thế quán sát gốc ngọn bốn tướng sanh, trú, dị, diệt, liền đặng biết khắp tất cả. Thử lại để quán sát tất cả các pháp niệm niệm không an trú, liền sanh liền diệt. Lại quán một thời, một niệm đủ có bốn tướng sanh, trú, dị, diệt. Bồ-tát quán sát như vậy rồi, thấu rõ tâm ưa muốn của các chúng sinh. Mà lòng ưa muốn vô lượng nên thuyết pháp cũng vô lượng, bởi thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa ấy cũng từ trong một pháp sanh ra. Một pháp ấy tức là vô tướng vậy. Pháp vô tướng ấy, không có tướng và không không tướng, không có tướng, không không tướng gọi là thật tướng. Bồ-tát ma-ha-tát an trú trong tướng chơn thật ấy rồi phát tâm từ bi, rõ ràng chắc thật không dối, đối với các chúng sinh thiết thực cứu vớt được khỏi các khổ não. Khổ não đã cứu vớt rồi, lại vì thuyết pháp khiến các chúng sinh được hưởng an vui.

Thiện nam tử ! Bồ-tát nếu được tu tập pháp môn vô lượng nghĩa ấy chắc được chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề. Thiện nam tử ! Pháp đại thừa Vô lượng nghĩa này rất sâu xa mầu nhiệm, văn lý chơn chánh, không gì cao quý hơn, ba đời các đức Phật đều cùng giữ gìn, tất cả tà ma ngoại đạo không thể xâm phạm, không bị tà kiến...” Trích kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. HT Thích Mật Thể dịch !!!

* Về câu hỏi số 3: “Thầy có thể bật mí về quá trình tu tập của bản thân hay không? Thầy đã đắc được điều gì trong Phật đạo”?

Bửu khoa và các bạn thân mến !!!

Chuyện tu học của bản thân mình chẳng có gì đặc biệt...Thuở nhỏ, mình cũng từng sinh hoạt Gia Đình Phật Tử, thường xuyên đến chùa chuông mõ kinh kệ...!!!

Về sau, biết được ngoài chuông mõ kinh kệ, cầu nguyện...v..v...Phật đạo còn dạy người tu hành để thành Phật, thế là mình “tầm sư học đạo”... Mình có thời gian rất dài ngồi thiền, niệm Phật, trì chú...thậm chí, mình theo học phép nhịn ăn 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày để chuyển pháp luân tu tinh khí thần, học mở luân xa, xuất hồn, bùa chú chữa bệnh...v..v...và tìm đọc rất nhiều sách vở dạy những thứ ấy !!!

Có thể nói, khối lượng sách vở mình đã đọc, cũng như kiến thức về các môn này bản thân không đến nỗi tệ !!! Trải qua nhiều năm tháng miệt mài ứng dụng những thứ đó và tự kiểm điểm bản thân...Mình nhận ra, sau nhiều chục năm tu luyện, kiến thức có tăng, miệng lưỡi có dẽo hơn...v..v...nhưng tâm trí không thay đổi nhiều...Kiết sử, phiền não, lậu hoặc...nhất là cái ngã không dứt, thậm chí hẩy hừng vì sở cậy vào những thứ đã học...!!! Và, mình quyết tâm từ bỏ không thương tiếc những thứ ấy, sau khi nhận ra những thứ này không phù hợp tâm nguyện, cũng như không giúp mình thành tựu trí tuệ... Thế là, mình quyết định tự thân khai phá một hướng đi khác !!!

Mình tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng những điều Phật dạy từ kinh điển chính thống...Lúc này, mình kết thân với Trương Tam, hàng ngày hai anh em gặp nhau luận bàn ý nghĩa kinh điển [trước đây Lão Trương cũng lâm vào hoàn cảnh tu học như mình và ông ta cũng đã từ bỏ các thứ tu tập ấy] !!!

Mình nhận ra trong con người Trương Tam ngoài dáng vẻ bình thường, tận cùng sâu thẳm con người này còn ẩn chứa điều gì đó khác thường, rất khó nhìn thấy !!! Mình lắng nghe, quan sát cách nói chuyện, và học được ở vị cao nhân này, phương pháp đặt vấn đề, cách tư duy cũng như phương pháp luận !!! Nhưng, những thứ ấy cũng không giúp mình thấy được thật nghĩa !!!

Sau ngày Lão Trương tạ thế !!! Trong cái trống vắng và bất lực trước thật nghĩa của Phật đạo là gì ??? Mình phát đại nguyện...!!! Và may mắn, mình đã thấy được vấn đề !!! Từ đó, mình rút ra kết luận: “Người ta học được cả ngàn bài toán sai, cũng chẳng thể biết được đâu là bài toán đúng !!! Chỉ cần người ta giải được một bài toán đúng, có thể biết tất cả mọi bài toán sai”...!!! Từ kết luận trên, mình hướng HĐ Lý Gia vào việc học bài toán đúng...Nhờ thế, các HĐ của mình không mất thời gian học và giải những bài toán sai !!!

Nói chung, chuyện tu tập của mình không có gì đặc biệt...Nó gần giống với việc tu học của bao người !!! Chỉ có điều, mình dám từ bỏ không thương tiếc những gì cần từ bỏ, nếu xét thấy điều đó không đưa đến những lợi ích như pháp, cho dù điều mình từ bỏ có là công sức tu luyện của nhiều năm tháng !!! Và cuối cùng, mình dám khai phá con đường mới...nếu nhận ra, con đường này mới thật sự giúp ta thay đổi tâm trí và đưa ta đạt được những mục tiêu của giáo pháp đề ra !!!

* Bạn hỏi: Thầy đã đắc được điều gì trong Phật đạo”? Để trả lời câu hỏi này, mình xin kể một câu chuyện !!!

“Cách đây gần mười năm, có một người cũng hỏi mình câu hỏi tương tự như câu hỏi của bạn !!! Sau một hồi ngẫm nghĩ, mình trả lời như sau:

- Đến giờ này, cho đến phiền não tôi thấy mình còn không đắc được, thì biết đắc cái gì đây...” !!!??? Ha ha ha ha !!!

Các bạn !!!

Phật đạo là đạo Trí tuệ !!! Với phương châm “Duy Tuệ Thị Nghiệp”...Có nghĩa, sự nghiệp của người tu học trong Phật đạo là Trí tuệ chứ chẳng phải thứ gì khác !!!

Để có được Trí tuệ, cách đặt vấn đề, phương pháp tư duy, phương pháp lí luận và tự phản biện một cách khoa học cũng như có hệ thống ...là điều không thể thiếu !!!

Mình đã từng tâm sự với các bạn: “Khi đọc một đoạn kinh, để hiểu thấu thật nghĩa của đoạn kinh ấy, các bạn phải giải quyết thoả đáng các phần việc sau:

Một là, vì sao Phật thuyết đoạn kinh này !!!???

Hai là, Phật thuyết đoạn kinh này để làm gì, cho ai !!!???

Ba là, ta phải ứng dụng lời dạy này ra sao...!!!???

Cuối cùng, nếu ứng dụng thành công lời dạy trên, ta sẽ thành tựu điều gì trong Phật đạo” !!!??? Nếu các bạn, giải quyết thoả đáng các câu hỏi trên khi tụng đọc kinh điển, nhất định Phật đạo không còn là một ẩn số !!!

* Trước khi kết thúc buổi trao đổi hôm nay, mình có một câu hỏi...Rất mong nhận được trả lời thoả đáng từ các bạn !!! Nội dung câu hỏi như sau:

Phật dạy: “Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng” !!! Vì sao Phật không dạy thẳng, thật tướng là vô tướng ??? Mà lại dạy thêm “thật tướng là nhất tướng...rồi nhất tướng là vô tướng” để làm gì ???

Các bạn có thể trả lời ngắn gọn trong phần bình luận phía dưới bài viết !!!

Chúc Bửu Khoa và mọi người thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo !!!

18/03/2020
LÝ TỨ 

Vô Lượng Nghĩa Là Gì? Làm Sao Để Thành Tựu?; Quá Trình Tu Tập Của Tác Giả Lý Tứ

Tác Phẩm Lý Tứ

Tam Ma Đề

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Cũng giống Tứ Thiền, pháp Tam Ma Đề chỉ là công cụ dừng huyễn tâm, sau đó mới thấy chân tánh, kinh gọi là tánh thấy tánh nghe. Khi thấy nghe từ chân tánh, hành giả dùng thấy nghe này một lần nữa ngộ bổn tâm thanh tịnh, kinh gọi tiếp dòng nước pháp.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Loại thiền thứ hai khảo sát đến đó là phép tu Tam Ma Đề. Phép tu này gồm các pháp được thuyết chủ yếu trong kinh Thủ Lăng Nghiêm và rải rác trong các kinh đại thừa.

A. Tam Ma Đề còn gọi là như huyễn Tam Ma Đề.

Đây là phương tiện hiệu quả thanh lọc nguồn tâm. Thật khó xác định pháp tu này là chỉ hay quán vì nó gồm đủ cả hai. Bước đầu nương huyễn pháp rồi lập huyễn phương tiện, quán huyễn pháp này để dừng huyễn tâm. Khi huyễn tâm dứt thì huyễn phương tiện và huyễn pháp cũng tự mất. Vì thế nói rằng Tam Ma Đề là chỉ hay quán đều đúng.

Cũng giống Tứ Thiền, pháp Tam Ma Đề chỉ là công cụ dừng huyễn tâm, sau đó mới thấy chân tánh, kinh gọi là tánh thấy tánh nghe. Khi thấy nghe từ chân tánh, hành giả dùng thấy nghe này một lần nữa ngộ bổn tâm thanh tịnh, kinh gọi tiếp dòng nước pháp.

B. Quả Càn Tuệ Địa.

Chỗ chứng cao nhất của Tam Ma Đề là quả Càn Tuệ Địa, trong kinh định nghĩa quả này như sau:

“A Nan, thiện nam tử ấy, dòng dục ái mới vừa khô cạn, căn và cảnh không ngẫu hợp, thân tàn hiện tiền, không còn tiếp tục sinh nữa, nắm cái tâm rỗng sáng, thuần là trí tuệ; tính trí tuệ sáng suốt cùng khắp, soi thấu thập phương thế giới; chỉ có cái tuệ khô khan ấy, nên gọi là Càn Tuệ Địa, tập khí ngũ dục mới khô cạn, chưa tiếp giáp với dòng nước Pháp của các đức Như Lai.”[[1]]

Nếu Tứ Thiền y thánh giáo lập phương tiện, thì Tam Ma Đề giác ngộ trước lập phương tiện sau, nên thiên về chân giáo. Tức giác ngộ bản chân rồi dùng phương tiện làm cho bản chân hiện rõ, thuật ngữ trong kinh gọi là Diệu Minh Chơn Tâm hay nói gọn là chân tâm. Giống như người lạc giữa rừng sâu trong đêm tối, muốn thoát khỏi hiểm nguy phải thấy được ánh lửa từ xa. Khi thấy ánh lửa, người này lần hồi hướng theo ánh sáng đến nơi an toàn.

Vì thế trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật gạn hỏi A Nan nhiều lần về tâm. Đây là phương pháp loại suy để xác định cái đúng. Vọng tâm như rừng rậm, vô minh như bóng đêm, chân tâm như ánh sáng, nếu không phân rõ chân vọng thì không thể nào thấy phương hướng đúng đắn. Các thứ tâm A Nan trình bày là tâm hư dối chẳng phải tâm. Phật dùng nhiều hình thức để chỉ tâm, khi thật sự giác ngộ A  Nan mới xin Phật nói rõ phương tiện tu hành.

Đặc điểm của phép tu này phá vỡ sự mê lầm của ý thức. Lý luận chủ yếu nâng tri kiến hàng Thanh Văn lên một chuẩn mới để bắt kịp tri kiến Bồ Tát, từ đây tuyên nói nguyên lý: “Vạn pháp duy tâm.”

Đặc điểm của thiền này xử lý rốt ráo thấy nghe.

Khi thấy nghe được xử lý rốt ráo sẽ không bị thức chi phối mà y vào tánh thanh tịnh để thấy biết gọi là tánh thấy tánh nghe. Từ tánh thấy nghe, hành giả mới đủ sáng suốt thấy được chân tâm. Thiền này giác ngộ bổn tâm tự vắng lặng.

Một phen mê lầm vọng sinh muôn pháp. Pháp đã sanh ra lại lầm nơi pháp tưởng pháp thật có. Lầm pháp là thật nên có khổ vui. Như trong bóng tối lầm sợi dây thành con rắn, rồi sợ con rắn. Giác được bản tâm như biết trong tối kia không phải con rắn, lần hồi đi đến mới thấy đấy chỉ là sợi dây. Thấy sợi dây gọi là ngộ bản tâm. Vì thế từ giác đến ngộ phải trải qua tu hành, phép Tam Ma Đề là làm phần việc này.

Muốn ứng dụng thành tựu pháp Tam Ma Đề điều kiện tiên quyết phải giác ngộ bản chân, sau đó làm sạch những gì che chướng. Vì thế, người tu hành ứng dụng phép Tam Ma Đề là làm sạch pháp chướng.

Khảo sát kinh Thủ Lăng Nghiêm và Viên Giác để có sự so sánh từ đâu sinh ra các thứ chướng này. Kinh Thủ Lăng Nghiêm phân tích rất cụ thể về các nguyên nhân phát sinh mê lầm và dạy cách tu để dứt mê.

Phật chỉ ra rằng sở dĩ có mê vì lầm nhận tiền trần hư dối cho là tâm nên không thấy bổn tâm. Giống như người ngủ mê nghe tiếng giã gạo lầm tưởng tiếng chuông, hoặc thùng nước bị ván dầu nổi trên mặt che lấp nước trong lầm tưởng thùng dầu.

Kinh Viên Giác Phật dạy do chúng sinh điên đảo nên mờ tính giác, tính giác bị mờ vọng sinh các pháp. Như người nhặm mắt thấy trong hư không có hoa đốm, lại lầm rằng hư không thiệt có hoa đốm. Diệu Minh Chơn Tâm và Viên Giác là hai tên gọi khác của một tâm. Theo kinh mô tả thì đặc tính của tâm này là thuần tịnh, trong sáng, không lầm.

- Giác là biết rõ vạn pháp đều do mê sanh, từ mê cho rằng pháp thiệt có rồi chạy theo đánh mất bản tâm. 

- Ngộ là thấy được bản tâm vốn tự thanh tịnh. 

Kinh Viên Giác: “Nầy Thiện nam tử, tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, bị nhiều món điên đảo làm mê mờ tánh "Viên Giác," như người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Điên đảo vọng hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ đại giả hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng niệm sanh diệt duyên theo bóng dáng của sáu trần cho là thật tâm mình. − Như người nhặm con mắt, thấy trong hư không có các hoa đốm, hoặc mặt trăng thứ hai. Thật ra trong hư không chẳng có hoa đốm hay mặt trăng thứ hai, nhưng vì người nhặm  mắt vọng chấp. Bởi vọng chấp, nên chẳng những không biết được hư không, mà lại thêm mê lầm, chấp thật có hoa đốm sanh. Vì mê lầm mà có sanh tử luân hồi, nên gọi là "Vô minh."[[2]]

Kinh Thủ Lăng Nghiêm:  “Nhưng Như Lai Tạng bản tính diệu viên, không phải là tâm, là không, là địa, là thủy, là phong, là hỏa; không phải là nhãn, là nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không phải là sắc, là thanh, hương, vị, xúc, pháp; không phải là nhãn thức giới, cho đến không phải là ý thức giới; không phải là minh, là vô minh, là hết minh, là hết vô minh, cho đến không phải là lão, là tử, là hết lão tử; không phải là khổ, là tập, là diệt, là đạo; không phải là trí, là đắc; không phải là bố thí, là trì giới, là tinh tiến, là nhẫn nhục, là thiền định, là trí tuệ, là Ba La Mật Đa, cho đến cũng không phải là Như Lai, là Ứng Cúng, là Chánh Biến Tri; không phải là Đại Niết Bàn, là đức Thường, đức Lạc, đức Ngã, đức Tịnh, vì cái đó, đều không là các pháp thế gian và xuất thế gian vậy.”[[3]]

Kinh Viên Giác nói: Do điên đảo nên chúng sinh không thấy giác tánh. Kinh  Thủ Lăng Nghiêm nói: Bản tính diệu viên không phải là tâm hay nhận thức từ tâm mà bổn tâm vốn tự diệu minh.

Mê lầm có bản minh làm mất tính diệu nên hư không thành sắc: “Do mê vọng mà có hư không, nương hư không, lập thành thế giới, tư tưởng chăm chú, thành cõi nước.”

Cách đặt vấn đề, cách dùng từ ngữ và các thí dụ khác nhau, nhưng xét ý nghĩa hai kinh tương đồng. Theo lý của hai kinh, chúng sanh không biết bản tâm thanh tịnh nên sinh các món sanh tử.

Hoặc ngược lại, chúng sinh chỉ nhận thức theo sinh diệt nên không biết bản tâm. Căn cứ vào ý nghĩa này ta thấy dường như một chúng sinh có đến hai thứ tâm, một tâm nào đó cực tịnh, cực sáng, và một tâm nào đó đen tối vô minh.

Theo nguyên lý Phật giáo, bổn tâm giống như mặt trời, luôn sáng, luôn chiếu, luôn đầy đủ các món tự tại. Tâm này chúng sinh sẵn có. Sở dĩ hiện tại chúng sinh không thấy do vô minh che đậy, như đám mây che khuất mặt trời, khi nào mây hết che thì mặt trời tự hiện. Theo lý luận này thì :

C. Bổn tâm và tâm mê không phải hai tâm. 

Vì có vật cản nên bản tâm không hiện, không hiện chúng sinh lầm lấy vật che làm tâm tạm gọi tâm mê. Vì thế muốn thấy bổn tâm phải phá bỏ vật che chướng, tức là tâm mê, giống như muốn thấy được vật bên kia bức tường phải phá bỏ bức tường. 

Kinh Viên Giác: “Này Thiện nam tử! Tất cả các cảnh vật huyễn hóa (thế giới, chúng sanh) của chúng sanh, đều sanh trong tâm Viên Giác mầu nhiệm của Như Lai. Các pháp hư huyễn có diệt, mà tánh Viên Giác vẫn không diệt. Cũng như hoa đốm sanh trong hư không, các hoa đốm hư huyễn kia có hoại diệt, mà tánh hư không chẳng hề hoại diệt.”[[4]]

Kinh Thủ Lăng Nghiêm: “Tôi lấy tính diệu minh, không diệt không sinh, hợp với Như Lai Tạng, thì Như Lai Tạng chỉ là tính giác diệu minh, soi khắp pháp giới; vậy nên trong ấy, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện ra lớn, trong lớn hiện ra nhỏ, đạo trường bất động cùng khắp thế giới mười phương, thân trùm cả hư không vô tận mười phương, nơi đầu một mãy lông, hiện ra cõi Bảo Vương, ngồi trong vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn; diệt trần tướng, hợp giác tính, nên phát ra tính giác chân như nhiệm mầu sáng suốt.”[[5]]

Hai kinh đồng khẳng định: Viên Giác hay Diệu Minh không sanh không diệt, sanh diệt là tâm mê. Giác ngộ tu hành dứt mê, không ảnh hưởng gì đến bổn tâm. Ví như người nhặm mắt thấy hoa đốm, chữa lành bệnh mắt, hoa đốm tự diệt không ảnh hưởng gì đến hư không, cũng như con mắt.

Hư không không sinh hoa đốm, cũng không diệt hoa đốm. Hoa đốm ngay trong hư không mà hiện một lúc nhiều hoa đốm, hay một hoa đốm hiện các hoa đốm khác, cũng không tranh chấp nhau, và cũng không tranh chấp với hư không hoặc ngược lại.

Tu hành cũng giống như cung thủ. Muốn bắn trúng mục tiêu, điều đầu tiên phải thấy mục tiêu. Càng thấy rõ mục tiêu bắn càng dễ trúng. Gần mục tiêu chừng nào tỷ lệ bắn trúng lớn chừng đó. Nếu đứng sát mục tiêu nhất định không thể nào bắn trật. Muốn dứt mê người tu hành phải thấy được những gì là mê. Hiểu cặn kẽ bao nhiêu điều phục dễ dàng bấy nhiêu.

a. Vậy tâm mê là gì?

Chúng sanh sinh tử không có thủy chung, nên mê lầm cũng không thủy chung. Sanh tử không có đầu mối, nên mê lầm không có nhân sinh. Một phen ‘khởi minh’ thì ‘mê’ liền hiện.

Như người soi gương, gương chưa từng có bóng, trong gương cũng không có nhân sinh bóng. Vì nếu có nhân bóng thì gương đã tự sinh bóng, không đợi có cảnh. Biết gương không bóng, nhưng khi nhìn vào thì thấy bóng hiện trong gương.

Hoặc như đến để chứng minh gương không bóng, thì bóng tức thì hiện trong gương. Như chàng Diễn Nhã Đạt Đa thành Thất La Phiệt, buổi sáng soi gương, ham thích mặt người trong gương, giận mình sao không tự thấy, giận quá tưởng mình là quỷ tâm phát điên cuồng.

Hoặc như người nhà giàu đêm nằm ngủ mê, mơ thấy mình nghèo đói khóc than oán trách đói nghèo, giật mình tỉnh giấc biết thiệt không nghèo. Giả sử nhà giàu kia không thức giấc thì cả cuộc đời trong mê phải chịu đói nghèo.

Cứ như thế gương và cảnh đắp đổi lẫn nhau không dứt, không dứt này tạm gọi tâm mê, nên tâm mê không có nhân sanh. Từ diệu minh mê thành minh giác, bởi mong thấy được chỗ minh. Thấy được chỗ minh, chấp minh sanh giác, năng sở lập bày. Từ đây bỏ diệu lấy minh, minh này mê vọng lầm thấy ba đời.

“Nếu không có sở minh là không có minh giác, thì có sở không phải là giác, mà không sở, lại không phải là minh; và không minh, thì lại không phải là giác tính trạm minh. Vậy tính giác chắc là minh, do vọng tưởng mà làm ra có minh giác. Giác không có gì là sở minh, nhân có minh mà lập ra thành sở; đã giả dối lập ra có sở, mới sinh ra cái năng hư vọng của các ông.

Tính diệu giác viên mãn sáng suốt, bản lai là diệu minh cùng khắp; đã gọi là vọng, thì làm sao có nhân, nếu có nguyên nhân, thì sao gọi là vọng? Chỉ tự các vọng tưởng xoay vần làm  nhân cho nhau, theo cái mê, chứa cái mê, trải qua kiếp số như vi trần; tuy Phật phát minh, còn không biết trở về. Nguyên nhân cái mê như vậy, là nhân mê tự có, biết cái mê không có nhân, thì cái vọng không chỗ nương tựa, còn không có sinh, thì muốn đem cái gì mà làm cái diệt.

Người được đạo Bồ Đề như người tỉnh giấc kể chuyện trong chiêm bao; tâm dầu rõ ràng, nhưng không thể có nhân duyên gì lấy được những vật trong chiêm bao; huống nữa, cái mê lại không có nhân, vốn không có gì cả. Như anh Diễn Nhã Đạt Đa trong thành kia, đâu có nhân duyên, mà tự sợ đầu mình bỏ chạy, bỗng nhiên hết điên, thì cái đầu đâu phải từ ngoài đưa tới; dầu chưa hết điên, cái đầu cũng không hề mất. Phú Lâu Na, tính của cái vọng là như vậy, làm sao còn có nguyên nhân được.”[[6]]

Từ không nhân lâu dần tưởng thiệt có nhân, chấp có nhân sanh lầm có nhân chịu, mà thật “không thọ giả không tác giả.”

Từ không năng sở bỗng thành có y báo, chánh báo, nhân quả lập bày, thiện ác sanh ra, ba đời luân chuyển.

Từ Như Lai tàng huân thành tàng thức, y theo nghiệp báo bốn đại thành thân. Thức nhập vô thân sanh ra sáu món.

Chỗ trạm nhiên nay thành lộn lạo như mắt nhặm vọng sanh hoa đốm, tưởng thiệt có hoa đốm thế giới lập bày. Cứ như thế căn thân thế giới, y báo chánh báo xoay vần lẫn nhau tình tưởng phát sanh. Tình tưởng phát sanh ái sanh, ái sanh nghiệp sanh, nghiệp sanh dục sanh, dục sanh duyên sanh, duyên sanh sanh diệt sanh, sanh diệt thứ lớp nên sanh tử lập bày. Sanh tử lập bày luân hồi xoay chuyển, lại tiếp tục vô minh thêm dày vô minh. Hoa đốm ban đầu cô kết thành sắc, cứ thế phát triển. Tiến trình này từ mê đến lầm dần không tự biết, chỗ lầm thành thiệt, tưởng pháp là thiệt dường như có tâm, tưởng nơi không thiệt tạm gọi là tâm mê.

Nơi Như Lai tàng huân thành tàng thức theo nghiệp, nhập thai thành thức, từ đồng sanh dị.

“Lại nữa Đại Huệ! Kẻ ngu có ba thứ tương tục. Nghĩa là: Tham, sân, si, và ái vị lai có hỷ chung.

Do tương tục này nên có thú tương tục. Tương tục ấy là tiếp nối trong ngũ thú.

Đại Huệ! Tương tục dứt thì không có tướng tương tục cùng chẳng tương tục.   

Lại nữa, Đại Huệ! Ba hòa hợp duyên tạo phương tiện chấp trước nên thức tương tục vô gián sanh. Phương tiện chấp trước thì có tương tục.  

Ba hòa hợp duyên thức dứt thì thấy ba giải thoát, tất cả tương tục chẳng sanh.”[[7]] 

Theo như những gì kinh dạy thì tâm chúng sanh chỉ là sự nhận biết một pháp nào đó của thức. Có thể pháp quá khứ có thể pháp vị lai mà thật quá khứ hay vị lai chỉ là niệm hiện tiền mê muội.

Lấy hiện tiền mê muội làm tâm, không có gì thiệt là tâm. Chính không có gì thiệt là tâm mà tâm chỉ là bóng dáng của nhận thức, nên người tu hành dừng mọi nhận thức bằng cách không phân biệt.

Tức không cho thức làm chủ ý căn, khi ý căn không bị thức nhiễu loạn thì vấn đề sáng tỏ. Thức không theo dòng lưu chuyển của nghiệp quả quay trở về chỗ trạm nhiên vắng lặng ban đầu lúc chưa bị sinh diệt chi phối (tính trạm). Từ đây hướng tâm đến cứu cánh sẽ thấy bản nguyên thanh tịnh.

Một số đoạn trích sau đây trong kinh minh họa vấn đề: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh hương vị xúc pháp sanh tâm,” hoặc “Ông hãy đình chỉ mọi duyên, chớ sinh một niệm, không nghĩ thiện không nghĩ ác, ngay lúc ấy cái gì là bản lai diện mục của Thượng toạ Huệ Minh,” hoặc “Năm ấm ấy vốn trùng điệp sinh khởi; sinh, nhân Thức ấm mà có, diệt, từ Sắc ấm mà trừ; lý, thì ngộ liền, nhân cái ngộ đều tiêu; sự, không phải trừ liền, theo thứ lớp mà diệt hết,” hoặc “Này Thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh tịnh này mà giữ cái hạnh yên lặng và lóng các vọng niệm,” hoặc “Vô lượng tất cả pháp như nghĩa đã nói chấp trước tương tục. Nghĩa là tướng kế trước tương tục, như tằm nhã tơ làm kén…tướng có không có tương tục chấp trước…ba hòa hợp duyên thức dứt thì thấy giải thoát.”

Các đoạn trích tiêu biểu này đều nói đến việc làm quan trọng đầu tiên của người tu thiền là phải dừng các nhận thức sai lầm hay nói khác dừng mê tâm. Thứ tâm do các duyên hòa hợp, thứ tâm do vọng mà thấy. Cách dừng thức tương tục hoặc dừng mê tâm về lý mà nói, đầu tiên phải giác ngộ các duyên hòa hợp bị thức làm chủ nên sinh mê.

b. Muốn dứt mê phải loại thức ra khỏi ba duyên. 

Hay nói khác đi là rút thức ra khỏi thân căn, để căn và cảnh không còn hệ phược lẫn nhau. Sự không hệ phược này cực kỳ quan trọng, bởi lẽ căn và cảnh tự nó thanh tịnh vì căn chỉ là bốn đại. Cảnh chỉ là các duyên. Hai món này tự nó giải thoát. Khi thức phân biệt dự phần vào thì pháp sẽ sanh.

Pháp đã sanh tâm mê nơi pháp nhận pháp làm tâm thành ra trói buộc. Nếu dứt phân biệt quả vị đầu tiên ra đời đó là Càn Tuệ Địa.

Càn Tuệ là khô cằn vọng tưởng, kinh định nghĩa như sau: “A Nan, thiện nam tử ấy, lòng dục ái mới vừa khô cạn, căn và cảnh không ngẫu hợp, thân tàn hiện tiền, không còn tiếp tục sinh nữa, nắm cái tâm rỗng sáng, thuần là trí tuệ; tính trí tuệ sáng suốt cùng khắp, soi thấu thập phương thế giới; chỉ có cái tuệ khô khan ấy, nên gọi là Càn Tuệ Địa, tập khí ngũ dục mới khô cạn, chưa tiếp giáp với dòng nước Pháp của các đức Như Lai.”[[8]]

Đối với người tu Tam Ma Đề, quả Càn Tuệ Địa hay những quả vị của thiền tương đương quả vị này rất quan trọng.

Như đệ Tứ Thiền thì: (Bất khổ bất lạc) “Định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản.”

Còn Càn Tuệ Địa: “Thân tàn hiện tiền, căn cảnh không phối ngẫu, dòng nước dục ái mới vừa khô cạn, thuần là trí tuệ, chưa tiếp dòng nước pháp... .”

Ta thấy ở hai cảnh giới này tuy từ hai cách tu khác nhau, một bên giản trạch tâm từ thô đến tế (thiền) nên tâm nhu nhuyến. Một bên do giác ngộ bản tâm dừng các thứ thức nên vọng tâm khô cằn.

Hai cảnh giới có khác nhưng hai chỗ chứng đồng một tính chất. Quan trọng ở đây khi thành tựu phép tu gần như không còn bóng dáng hay sự nhận biết của thức. Một bên bất khổ bất lạc, một bên các căn không còn thọ dụng hiện hành.

Giống như người ngủ mê mới thức, chưa kịp định thần có chút gì đó của giác, có chút gì đó của mê. Vừa chớm thoát mê nhưng chưa sờ đến giác, bảo hết thức thì chưa phải, bảo được trí thì cũng chưa đúng. Trí vừa chớm thoát ra khỏi giam nhốt của thức, lại cũng chưa vào dòng nước pháp, chưa phải thánh chẳng còn phàm.

Chính tâm này là giềng mối của thánh trí. Tâm này chưa phải thánh (tạm coi như chuẩn thánh), và nếu không hướng tâm đến cứu cánh để giác ngộ triệt để, thì sẽ phải vào lục đạo trở lại. Vì tương tục chưa dứt, nhân sinh tử chưa dứt.

Ở cảnh giới này: Thức chỉ tạm dừng như người lấy cát chặn dòng nước chảy, chất liệu này không đủ vững chắc để ngăn dòng, nếu không được gia cố bởi chất liệu khác vững bền hơn thì dòng chảy ngày kia sẽ cuốn trôi cát.

Vì thế, ở địa vị này mới có thuật ngữ “chưa tiếp dòng nước pháp,” hoặc “vị ấy hướng tâm đến....”

Nếu tiếp tục tu hành thì đây là “Phật nhân.”

Nói Phật nhân bởi từ chất liệu này, nhân này mới sinh quả Phật. Từ đây mới chớm vào thánh vị, được coi là nấc thang đầu tiên của con đường giác ngộ.

“Như Lai ngược dòng trở lại, vị Bồ Tát đó thuận dòng đi tới, giác ngộ vào chỗ giao tiếp với nhau, gọi là Đẳng Giác.

A Nan, từ tâm Càn Tuệ đến Đẳng Giác rồi, giác đó mới bắt đầu được Sơ Càn Tuệ Địa trong tâm Kim Cương; như vậy lớp lớp tu đơn, tu kép 12 vị mới cùng tột Diệu Giác, thành đạo Vô Thượng.

Các thứ địa ấy, đều lấy trí Kim Cương quán sát mười thứ ví dụ như huyễn sâu xa, trong Xa Ma Tha, dùng phép Tỳ Bà Xá Na của các đức Như Lai mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt đi sâu vào.

A Nan, như thế, đều dùng ba tiệm thứ tăng tiến, nên khéo thành tựu 55 địa vị trong đường Bồ Đề chân thật. Làm cái quán như vậy, gọi là chánh quán; nếu quán cách khác, gọi là tà quán.”[[9]]

Đoạn kinh trên cho thấy tầm mức quan trọng của Càn Tuệ Địa, đây là nơi xuất phát của Bồ Tát thuận dòng tiến về Phật quả, Như Lai từ quả Phật ngược dòng hướng về chúng sanh, chỗ gặp nhau gọi là Đẳng Giác. Từ Đẳng Giác Bồ Tát cần khổ tu hành, dùng tâm Kim Cương tức trí tuệ thanh tịnh trải qua mười hai quả vị (11 thứ trí) mới vào Diệu Giác.

Thật ra từ Càn Tuệ Địa đến Phật địa phải trải qua 55 quả vị. Suốt đoạn đường này Bồ Tát dùng trí Kim Cương quán sát các thứ huyễn, bao giờ hai pháp Xa Ma Tha và Tỳ Bà Xá Na bình đẳng, bây giờ tâm Bồ Tát ở yên nơi nghĩa Thiền Na.

Phật dạy đây mới là chánh quán còn mọi thứ quán khác đều tà. Cho nên nói Càn Tuệ Địa là ‘nhân Phật’, vì không lấy nhân này tu hành thì không thể có ‘quả Phật’. Như người đào giếng được nước, không còn nghi ngờ, tín căn phát sinh nên các hạnh như thập tín, thập trụ được kinh qua, khai mở con đường Bồ Tát đạo.

  • Nếu ‘Tứ Thiền Thanh Văn’ y nơi thân ngũ ấm, giác ngộ các dục là đầu mối của mọi khổ não, giới luật làm khiên giáp, kiên cố trong tường thành yểm ly, lấy bốn niệm xứ làm chánh niệm, chọn ly lìa đoạn dứt làm chỗ tu hành, các dục không gây tổn hại, hết khổ gọi là Niết Bàn. Đây được coi là quy phạm của Thanh Văn chứng bốn thiền, thì pháp ‘Tam Ma Đề’ cũng có những nguyên tắc nhất định của nó.

Đã là nguyên tắc phải bất di bất dịch. Người tu hành muốn chọn pháp tu này để tiến tới an vui, nhất định phải giữ nguyên tắc không thể sai lệch, không có miễn trừ.

Như người leo lên đỉnh núi cao, vách núi dựng đứng trơn trượt, ngoài việc am tường địa hình, phương hướng, thời tiết, kỹ thuật leo núi, không sơ suất trong thao tác, có các trang bị chuyên môn cần thiết và đầy đủ lương thực nước uống, điều tối cần để không mất mạng đó là phải buộc giây an toàn.

Trong bất kỳ pháp tu nào của Phật giáo cũng đều có nguyên tắc riêng của nó. Đây là sợi dây an toàn để người tu hành không đánh mất thiện căn. Rất nhiều người tu hành khinh xuất không tôn trọng nguyên tắc nên dẫn đến thất bại.

Chính những khinh xuất này, trong mỗi kinh Phật đều nói lên sự nguy hại của phóng dật, coi thường giới luật, không am tường nguyên lý, và chưa thật sự giác ngộ như pháp.

Phật giáo là đạo giác ngộ không thể viện dẫn lý do để được chế giảm hoặc miễn trừ. Nhất là pháp Tam Ma Đề, vì đây là pháp dành cho những căn cơ lớn trong Phật giáo. Dành cho hàng Bồ Tát hiện đời tu hành, có thể các Bồ Tát này không tự biết mình là Bồ Tát lúc còn địa vị tu hành, nhưng làm sao đoan chắc mình là gì? Cho nên điều khôn ngoan nhất là thực hiện những nguyên tắc đã được chế định, và nuôi dưỡng bi tâm.

Khi chưa thành tựu quả vị, thân tâm nhất định tạo tác các pháp hữu vi, đây là nguyên nhân phát sinh phiền não. Thì giới luật và nguyên tắc là chiếc nôi an toàn của người tu hành, và từ bi là chất liệu tốt nhất dưỡng nuôi thánh quả. Đến khi thành tựu, giới luật và lòng từ là hai món làm nên một Bồ Tát đúng nghĩa.

Phật giáo có hai điều cấm kỵ đó là tự tôn và tự ti. Cả hai thứ này đều phá hoại Bồ Tát tâm.

Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh,” hãy gắng công nhất định sẽ được những gì cần được, vì pháp Phật là pháp dành cho hết thảy chúng sanh.   Kinh Đại Niết Bàn Phật nói rõ: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân, thọ thực xong Bồ Tát dùng Kim Cang tam muội tiêu hóa thức ăn biến nhục thân thành Kim Cang thân.”

Vì vậy, ‘tự tôn’ hay ‘tự ti’ đồng nghĩa với ác pháp. Hai tâm này là lực cản rất lớn đối với người tu hành nói chung và pháp Tam Ma Đề nói riêng.

  • Pháp Tam Ma Đề đòi hỏi giác ngộ rộng sâu hơn thiền Thanh Văn. Chẳng những giác ngộ triệt để căn thân, giác ngộ thế giới, còn phải hiểu biết tường tận căn nguyên xuất sinh thân tâm và thế giới. Pháp này yêu cầu người tu hành phát huy hết thảy trí huệ có được, như pháp mà rộng hiểu và tư duy. Rộng hiểu để không nhầm lẫn, tư duy để đạt được chiều sâu cần thiết.

Nếu Tứ Thiền lấy ‘thân niệm xứ’ làm chánh niệm, thì Tam Ma Đề lấy ‘thanh tịnh tâm’ làm chánh niệm. Những tâm nào không phù hợp với thanh tịnh giới luật và từ bi đều phải dùng sức giác ngộ mà quở trách.

Đây là biện pháp hỗ trợ người tu hành trong tán tâm, nhất là đối với cư sĩ tại gia đời sống còn nhiều hệ lụy. Ngoài những giờ chuyên tu không thể không tiếp xúc đời sống thế tục, nếu không biết quở trách ‘tán tâm’ chạy theo các pháp hư vọng thì không thể thành tựu pháp Tam Ma Đề.

Giống như người tát nước, ban đêm tát nước ra ngoài, ngày tháo cho nước chảy vào mà mong rằng khô cằn dục ái, thì đó là chuyện không tưởng. Nói lấy thanh tịnh tâm làm chánh niệm là cảnh giác cao độ với vọng tâm.

Để phát hiện ‘tâm vọng’, người tu lấy ý làm chỗ nhận biết, để kiềm giữ ý phải ‘dừng thức phân biệt’.

Ý thức như cửa ngõ của tâm, trước khi vào nhà phải đi qua cửa. Tất cả nhận biết phân biệt đều là kinh nghiệm. Kinh nghiệm này có được bởi A Lại Gia huân từ vô thủy.

Nay ý thức theo hiện nghiệp diễn giải các pháp đúng như lăng kính nghiệp, và kết luận mọi vấn đề theo lăng kính đó, nên mới có các pháp đối đãi. Khi đối đãi hình thành cũng là lúc tâm tòng theo mê.

Người tu Tam Ma Đề, mọi ý thức (thức phân biệt) phải được kiểm soát và thường xuyên quở trách, tự giáo dạy mình.

Chỉ trừ ‘ý thức’ rằng chính nó (ý thức) tự sai lầm, cái biết sai lầm này không sai.

Thường xuyên giáo dạy và quở trách phân biệt là liệu pháp tốt nhất để pháp Tam Ma Đề đắc dụng.

Như chống giặc có thành vững hào sâu, cửa nẻo đóng chặt. Giới giúp tâm thuận theo chánh nghiệp. Mọi tạo tác của thân tâm luôn rõ biết do mê tâm hiện khởi.

Cần cảnh giác với mọi hoạt động của tâm ý thông qua căn thân. Nơi thân nghiệp này, biết được nghiệp thức đã nhiều đời kiếp dẫn ta đi trong lục đạo với vô số thân nghiệp khác nhau.

Khi quán về thân phải biết thân này cũng là sản phẩm của mê. Từ không thân nghiệp quả cô kết thành thân, thân bị thức làm chủ trở thành công cụ giam nhốt trí tuệ. Biến trí thành thức quay lại làm tay sai cho nghiệp quả. Khi xúc trần các cảm thọ nổi lên, phải biết đây là tướng của mê lầm, cảm nhận của dục ái.

Quán về tâm phải biết tâm này vô thường, huyễn hóa, không phải cái đáng giữ gìn trông cậy, cần phải dừng lại. Khi tâm vọng ra thế giới, phải biết thế giới là hoa đốm trong hư không.

  • Lúc vọng ra là lúc tâm đang tìm đến vô minh.

Nói chung đối với thân căn thế giới phải quyết chắc chỉ do mê tâm mà hiện. Đây là đầu mối của mọi nguy hại. Những hiểu biết này là chánh kiến đưa người từ mê lầm ra ánh sáng.

Đó là lý do tại sao Phật nhọc công phân tích cho A Nan và đại chúng, đợi họ giác ngộ rồi mới dạy pháp tu.

Tức là phải thông hiểu, từ thông hiểu mới giác ngộ, giác ngộ tức là biết rõ con đường mình sẽ qua và đích phải đến. Từ hiểu biết này mới chọn phương tiện hợp lý cho mỗi cung đường.

Tất cả các pháp tu của Phật giáo không ra ngoài thông lệ này. Pháp Tam Ma Đề cũng vậy, muốn thành tựu phải thật sự giác ngộ, nếu không giác ngộ mà lập phương tiện tu hành thì giống như người mù không có kẻ dẫn đường thì không tự đến đích.

D. Có bảy điều cần tuân thủ.  

Bảy điều (hỗ trợ pháp tu này) trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật đã dạy gồm: Bốn quyết định đoạn và ba tiệm thứ tu hành.

Bốn quyết định đoạn là đoạn ‘nhân’ sanh ‘ba cõi’. Ba tiệm thứ tu hành là làm cho các duyên trưởng dưỡng nhân kia không hội hiệp. Giống như đốt cháy hạt giống, hoặc không tạo điều kiện cho hạt giống ba cõi nảy mầm.

Bốn quyết định đoạn là lấy hạt giống Phật ra khỏi nơi giam nhốt của phàm tình. Ba tiệm thứ tu hành là tẩm ướt hạt giống Bồ Đề chóng thành đạo quả thanh tịnh.

a. Bốn quyết định đoạn: Dâm, sát, đạo, vọng.

Vì sao phải quyết định đoạn bốn điều này? Như đã nói ở phần trước về tầm quan trọng của quả Càn Tuệ Địa. Quả này là nhân Phật, có nhân Phật mới có quả Phật. Bốn quyết định đoạn thuộc về nhân chúng sanh. Nếu không đoạn nhân chúng sanh, đem tâm tu hành cầu thành Phật quả thì không có lẽ. Chính vì quan trọng như vậy mới có tên  “bốn quyết định đoạn.” Tóm lại không ra tay đoạn dứt thì khó thành tựu Tam Ma Đề pháp.

b. Ba tiệm thứ tu hành là...

○ Tu tập, trừ các trợ nhân; 

○ Chân tu, nạo sạch chánh tính; 

○ Tăng tiến, làm trái hiện nghiệp.

b.1. Tu tập, trừ các trợ nhân: 

Sao gọi là trừ các trợ nhân?  Trợ nhân còn gọi là duyên nhân tức những pháp nào hỗ trợ làm nhân cho hạt giống nảy mầm. Trong đó có ăn uống làm tâm đắm nhiễm, Phật dạy không ăn năm món hành, hẹ, tỏi, nén, và hưng cừ (có tài liệu ghi một loại dầu mè lên men, có tài liệu nói thứ củ dùng làm gia vị).

Nói chung các món làm tăng sự ưa thích của vị giác, pháp Tam Ma Đề là dừng các cảm nhận phân biệt sai lầm từ thức, và ngăn không cho thức đắm nhiễm thêm. Trọng tâm ở đây là vì ăn mà sinh ra các nghiệp sai khác, cho nên tu hành là để tiến tới dứt ăn và chỉ ăn như pháp.

Ví như lọc nước, nước bẩn muốn sử dụng được phải lắng trong. Trong quá trình này quan trọng giữ không cho chất bẩn thêm vào. Lọc là loại chất bẩn ra ngoài. Lắng là để yên cho các thứ bẩn tự lắng. Giữ không cho cáu bẩn bay vào thì nước sẽ sạch. Trừ các trợ nhân như không thêm cáu bẩn vào nước.

b.2. Chân tu, nạo sạch chánh tính:

Chánh tính là tính chất chính của chúng sanh, như tính lửa thì nóng. Chúng sanh có ba tính chất chính: ‘Dâm, sát, đạo’.

  • Tính chất ‘dâm’ làm nên sinh tử, trừ dâm để thoát sanh tử.

  • Tính chất ‘sát’ là gốc của vô thường, trừ sát để cầu không yểu tử, được thân bền lâu như bản nguyện.

  • Tính chất của ‘đạo’ là lấy của không cho, gốc không chơn thiệt, trừ thâu đạo để được đạo chơn thiệt.

Ví như thợ kim hoàn, nấu quặng vàng ở nhiệt độ cao, nhiệt độ cao sẽ loại các tạp chất không đồng tính chất với vàng, phần còn lại sau khi đã loại là vàng với đầy đủ tính chất tự nhiên. Nạo sạch chánh tính giống như nấu quặng vàng ở nhiệt độ cao.

b.3. Tăng tiến, làm trái hiện nghiệp:

Hiện nghiệp là nghiệp hiện tiền của chúng sanh. Hiện tiền chúng sanh theo nghiệp mượn  căn giong ruổi nơi tiền trần khiến thức sanh các thứ phân biệt.

Muốn dứt mê lầm, phải câu thúc các căn kể cả ý căn, làm ngược lại những điều các căn cảm nhận theo thói quen. Thói  quen và kinh nghiệm là sản phẩm của nghiệp thức. Nếu dừng hai thứ này, thì thức giảm dần thói quen phân biệt, cho đến thức sẽ thôi không phân biệt. Khi hết phân biệt thì vọng tình tự dứt, vọng tình dứt thì hiện nghiệp trong sạch.

Ví như người bịnh phong hàn, phải ở nơi kín đáo, ăn uống kiêng cữ. Thuốc men chỉ làm hết bệnh khi nào bệnh nhân ở yên nơi kín đáo và ăn uống theo chỉ định. Làm trái hiện nghiệp như người bệnh nằm trong nhà đắp chăn, không ăn thức ăn có hại.

  • Bốn quyết định đoạn và trừ ba trợ nhân có ý nghĩa gì trong Tam Ma Đề pháp?

Pháp Tam Ma Đề là đoạn nhân chúng sanh, lấy nhân Phật để tu thành Phật. Đoạn bảy món này góp phần triệt tiêu chúng sanh tánh. Như người bơi qua biển lớn, bảy món này giống như: cọc nhọn, đá ngầm, qủy La Sát, giông bão, sương mù, nước xoáy, không lương thực nước uống, bảy mối nguy hiểm này luôn chực chờ cơ hội để dìm chết kẻ kia trên biển. Vì vậy, bảy thứ cần trừ thuộc về nguyên tắc phòng hộ để người tu Tam Ma Đề không bị nhận chìm trong biển dục.

Nguyên lý của Tam Ma Đề là dùng một pháp từ căn thân hoặc thế giới để nhiếp tâm, dừng mọi hoạt động của ý thức thông qua sự nhiếp tâm này.

Ví dụ khi dùng nhĩ căn để tu, hành giả nhiếp tâm vào nhĩ căn, ban đầu do chưa thuần thục, thinh trần vẫn tiếp tục vọng đến nhĩ căn và có phân biệt. Từ có phân biệt, hành giả ý thức rằng phân biệt này vốn luống dối, cần phải đoạn trừ.

Do gìn giữ và đoạn trừ đến thuần thục, cho dù âm thanh có đến hay không đến, thức cũng đều không phân biệt. Khi phân biệt không còn, nhĩ căn không tiếp nhận thinh trần, hay dù có thinh trần hay không có thinh trần, căn và thức bây giờ tuy có nhưng hầu như vô dụng. Vô dụng với thế pháp nhưng sẽ là căn bản của thánh dụng. Từ đây sẽ làm một cuộc chuyển đổi lớn đó là tiếp nhận thánh pháp.

Khuynh hướng của ý thức là phân biệt các pháp theo nghiệp, để ba nghiệp tạo tác.  

Ví dụ thấy tướng nữ phát sinh ham muốn, từ ham muốn này cho ra các tạo tác khác, chính ham muốn huân lớn dục ái và tác thành những nghiệp quả mới. Chạy theo ham muốn là thuận dòng sanh diệt, thuận dòng sanh diệt nên sanh các thứ tâm.

Pháp Tam Ma Đề khởi đầu giác ngộ sự thấy biết và ham muốn này chỉ là mê tâm. Tướng  nữ kia chỉ là tướng nghiệp, do nghiệp biến hiện nên thấy có tướng nữ nam. Nơi không có tướng bỗng nhiên hiện tướng sai khác, biết đây là huyễn cảnh.

  • Do hiện nghiệp sai sử, nên ngoài chấp trần trong sinh thức.

Pháp chỉ do thức biến hiện, chấp các pháp biến hiện này nhầm tưởng đây là tâm, đem tâm chấp thủ thành có phiền não. Cho nên tâm và các pháp cả hai không thật, chỉ là bóng dáng của tiền trần.

  • Bổn tâm chưa từng có các nghiệp thấy biết hư dối này.

Do giác ngộ như vậy, người tu Tam Ma Đề dùng một căn như đã nói trên, nhiếp tâm vào đó để dừng các phân biệt. Một căn hết phân biệt, năm căn còn lại dừng theo. Sở dĩ một căn dừng, năm căn dừng theo là vì ban sơ chỉ một thức đồng. Nương nội lục nhập, thức duyên vào sáu căn, ý căn bị thức làm chủ. Khi tiếp trần, ý thức chủ động phân biệt cho ra thứ hiểu biết như nghiệp.

Ví dụ như người đánh cờ, chăm chú vào bàn cờ, các căn khác có tiếp trần nhưng người đó không cảm nhận, hoặc cảm nhận không rõ rệt. Vì thế chỉ cần dùng một căn để nhiếp tâm dừng mọi phân biệt, hết phân biệt ‘trần’ không thành ‘pháp’.

Giác pháp thanh tịnh các căn thanh tịnh, các căn thanh tịnh trí tuệ hiện hành, kinh gọi “pháp nhãn thanh tịnh.”

Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy: “Người trụ nơi phân biệt, làm hư thanh tịnh nhãn, lại thêm lớn si mê, người này không thấy Phật.”

  • Khi thức lặng yên, căn không có động cơ tiếp trần, căn không tiếp trần thì căn và trần không đủ duyên xúc đối. Xúc đối không sanh thì thọ không sanh, cái này diệt nên cái kia diệt.

  • Ngược lại, căn thôi duyên trần, thức cũng tự huân lắng, hai thứ này làm nhân cho nhau sinh thức. Khi nhân không còn duyên đã tận, thì thức và căn rời nhau. Sự tách rời nhau này là yếu tố cho thức tự diệt.

  • Hay nói khác hơn phân biệt là thức ăn nuôi thức tồn tại, dừng phân biệt là cách bỏ đói để thức tự chết. Khi thức đã chết các căn đồng trở về bản nguyên đó là tánh chơn.

Nội pháp ngoại pháp có hiện, thức cũng không còn tồn tại để phân biệt, nên kinh gọi là “thân tàn hiện tiền.” Thân tàn hiện tiền là tàn phàm tình, phàm tình đã tàn bản minh tự hiện, vì thế không rơi vào đoạn diệt. Ví như lau hết bụi, gương thêm tỏ.

Đến lúc thức phân biệt hầu như đã lặng, muôn pháp không làm ảnh hưởng, căn không còn chịu sai sử của thức, thức không còn nương nhờ căn, mọi giong ruổi hư vọng theo trần chấm dứt.

Kinh gọi là “các căn thọ dụng không còn hiện hành.” Đến đây mọi hoạt động của thân căn đều không chuyển theo hư vọng.

Thân căn có tác là do tập khí chuyển. Đây là kết quả của bi tâm và giới luật, chuyển này có khuynh hướng thiên về vô lậu. Ví như đến ngọ đứng dậy trì bình, hết giờ trì bình thọ trai, thọ trai xong trải toạ cụ vào thiền định. Tập khí chuyển là tập khí vô lậu không phải dục chuyển, nên kinh gọi “dòng nước dục ái mới vừa khô cạn.”

Thức không duyên vào căn, ý trở về chỗ trạm nhiên ban sơ, phân biệt thô trọng đã dứt, ý nhận biết các pháp gọi là trí, kinh nói “chỉ còn thuần trí tuệ.”

Thật ra đây chưa phải là chân trí tuệ, chỉ thứ trí tuệ mới gạn lọc phàm tình nên còn phải đợi “tiếp dòng nước pháp.”   Trước khi chờ tiếp dòng nước pháp, tâm này tạm có tên là Càn Tuệ Địa.  Tiếp dòng nước pháp là giác ngộ thật sự bản nhiên thanh tịnh, từ đây mới dứt hẳn mê, như người qua biển lớn đã đến được bờ kia.

Người đời sau khi giác ngộ sở dĩ tiệm tu vì tập khí ái dục nhiều đời nay phải từ từ đoạn dứt. Nếu là căn cơ lớn, khi nghe đến Diệu Minh Chơn Tâm hay Viên Giác Thuần Tịnh, và những tánh chất tốt đẹp của nó, với công đức thắng trí, người tu có thể vào thẳng không phải qua giai đoạn tu hành.

  • Khi giác ngộ mọi sản phẩm của vô minh rơi rụng, năng sở đều không.

Như hang động tăm tối ngàn năm, nay được soi sáng, liền được sáng không chờ bóng tối lui đi, nghĩa phi sát na liền hiện. Bởi thiệt tướng của bóng tối kia và ánh sáng hiện tại không phải hai thứ. Không có thứ lớp từ tối chuyển sang sáng, không phải bóng tối lui đi ánh sáng mới đến, hay ánh sáng tranh chấp với bóng tối, mà hễ thắp đèn là sáng. Giống như con rắn trở lại sợi dây, không thể có chỗ lại vì xưa nay dây chưa thành rắn, nay rắn cũng không trở lại dây.

Vì thế nghĩa sát na ‘rắn’ thành ‘dây’ không thể lập bày, cũng không có phương tiện gì làm cho thành hay hết thành.    Bài kệ tán Phật của Bồ Tát Đại Huệ trong kinh Lăng Già nói lên điều này:

“Thế gian ly sanh diệt

Do như hư không hoa

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm

Nhứt thiết pháp như huyễn

Viễn ly ư tâm thức

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm

Viễn ly ư đoạn thường

Thế gian hằng như mộng

Trí bất đắc hữu vô

Nhi hưng đại bi tâm

Tri nhơn pháp vô ngã

Phiền não cập nhĩ diệm

Thường thanh tịnh vô tướng

Nhi hưng đại bi tâm

Nhứt thiết vô Niết Bàn

Vô hữu Niết Bàn Phật

Vô hữu Phật Niết Bàn

Viễn ly giác, sở giác

Nhược hữu, nhược vô hữu

Thị nhị tất cu ly

Mưu ni tịch tịnh quán

Thị tắc viễn ly sanh

Thị danh vi bất thủ

Kim thế hậu thế tịnh.”

[[1]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm - Tâm Minh dịch.

[[2]]  Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.

[[3]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.

[[4]] Trích kinh Viên Giác –HT. Thích Thiện Hoa dịch.

[[5]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.

[[6]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.

[[7]] Trích  kinh Lăng Già –HT. Thích Thanh Từ dịch.

[[8]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.

[[9]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch

(còn nữa)

Subscribe to