Tục Đế, Đệ Nhất Nghĩa Đế, Đệ Nhất Tối Liễu Nghĩa
Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa là ba loại văn hoá đặc trưng, ba cảnh giới tiêu biểu, ba ý nghĩa quan trọng… Mà chư Phật và các Thiện tri thức căn cứ vào đó để tuyên thuyết quyết định nghĩa, hoặc giảng nói ý nghĩa nhằm hướng người tu hành thành tựu từng cảnh giới !!!
Các bạn !!!
Vừa rồi, BQT có nhận được câu hỏi của bạn Nguyễn Phúc Bửu Khoa…Nội dung câu hỏi như sau:
“Thưa thầy Lý Tứ! Tôi và gia đình theo đạo Phật, là một tín đồ Phật giáo thuận thành ở miền Trung, cho nên cũng có tìm hiểu đôi chút về đạo Phật. Gần đây, tôi và những người thân của mình thường xuyên theo dõi facebook của thầy, đọc các bài viết trên đó thấy hay nên rất quý mến trang. Chúng tôi đồng tình với quan điểm tu tập cũng như cách giải thích của thầy về các vấn đề liên quan đến Phật đạo.
Hôm nay tôi và bạn bè có một vài thắc mắc, mong thầy giải đáp. Các thắc mắc này chúng tôi cũng đã tham khảo nhiều người cũng như nhiều tài liệu, nhưng chúng tôi chưa thoả mãn, không biết do trí não của mình kém hay các vị đó giải thích quá cao sức mình không leo tới được? Chúng tôi có thắc mắc như sau:
1) Đọc kinh sách tôi thường bắt gặp các từ như: Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa. Xin thầy giải thích ý nghĩa và chỉ rõ sự khác nhau của ba từ này? Có phải Đệ nhất nghĩa là thứ không thể dùng ngôn ngữ diễn bày?
2) Ngoài ba thứ thắc mắc nêu trên, tôi thấy Phật đạo còn đề cập đến vô lượng nghĩa. Xin hỏi vô lượng nghĩa là gì? Muốn có được vô lượng nghĩa phải thành tựu những điều gì!
3) Thầy có thể bật mí về quá trình tu tập của bản thân hay không? Thầy đã đắc được điều gì trong Phật đạo?
Xin cảm ơn thầy và quý trang, chúc thầy nhiều sức khoẻ”. 04/03/2020 16:20:16. Nguyễn Phúc Bửu Khoa.
Bạn Nguyễn Phúc Bửu Khoa thân mến !!!
Lời đầu tiên, thay mặt BQT, xin chân thành cảm ơn tình cảm tốt đẹp của bạn và những người yêu mến Fanpage Lý Tứ !!!
Nghe tên họ, lại được biết bạn là người miền Trung, mình nghĩ ngay đến Huế và những Phật tử có dòng dõi Hoàng thất ở đó !!! Đọc kĩ ba câu hỏi, mình có cảm giác bạn là người có bề dày nghiên cứu Phật giáo, đã từng rộng đọc kinh điển cũng như tra cứu nhiều tài liệu Phật pháp !!! Rất hân hạnh được làm quen với bạn !!!
Về các câu hỏi của bạn, mình xin trả lời như sau:
1) Đọc kinh sách tôi thường bắt gặp các từ như: Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa. Xin thầy giải thích ý nghĩa và chỉ rõ sự khác nhau của ba từ này? Có phải Đệ nhất nghĩa là thứ không thể dùng ngôn ngữ diễn bày?
Trả lời:
Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa là ba loại văn hoá đặc trưng, ba cảnh giới tiêu biểu, ba ý nghĩa quan trọng… Mà chư Phật và các Thiện tri thức căn cứ vào đó để tuyên thuyết quyết định nghĩa, hoặc giảng nói ý nghĩa nhằm hướng người tu hành thành tựu từng cảnh giới !!!
* Tục đế hay thế đế là, cảnh giới thế gian…Chư Phật và các Thiện tri thức dùng “pháp thế gian” để cắt nghĩa một pháp, khiến người nghe khi nghe được lời cắt nghĩa này, có thể thành tựu các pháp lành của thế gian, hay hướng đến xuất thế gian !!!
Ví dụ:
a) Dùng thế đế (thế gian pháp) để cắt nghĩa một pháp, nhằm giúp người thành tựu pháp lành thế gian:
“Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Long vương rằng:
– Tất cả chúng sanh do tâm tưởng khác nhau, nên tạo nghiệp khác nhau, vì vậy mà có sự luân chuyển trong các cõi.
Này Long vương! Ngươi có thấy trong hội này và trong biển cả, hình sắc chủng loại mỗi loài khác nhau không? Tất cả như thế đều do tâm, tạo nghiệp thiện hay bất thiện nơi thân, nơi khẩu, nơi ý mà ra….
Nay ngươi như thế mà tu học và khiến cho chúng sanh thấu rõ nhân quả, tu tập nghiệp lành. Ngươi nên nương nơi chánh kiến bất động, chớ đọa vào trong tà kiến đoạn thường. Đối với các bậc phước điền nên vui vẻ cung kính cúng dường, thì các ngươi cũng được người trời tôn trọng cung kính cúng dường…”
Trích kinh Thập Thiện !!!
b) Dùng Tục đế (thế gian pháp) để cắt nghĩa các pháp, nhằm hướng người đến xuất thế gian:
“Dùng Niệm xứ trang nghiêm nên khéo tu tập Tứ niệm xứ quán. Dùng Chánh cần trang nghiêm nên hay đoạn trừ tất cả pháp bất thiện, thành tựu tất cả pháp thiện. Dùng Thần túc trang nghiêm nên hằng khiến cho thân tâm nhẹ nhàng vui vẻ. Dùng Ngũ căn trang nghiêm nên lòng tin sâu xa kiên cố, siêng năng không biếng nhác thường không mê vọng, vắng lặng điều hòa đoạn dứt các phiền não. Dùng Ngũ lực trang nghiêm nên các oán dứt sạch, không gì hoại được. Dùng Giác chi trang nghiêm nên thường khéo giác ngộ tất cả các pháp. Dùng Chánh đạo trang nghiêm, nên được trí tuệ chân chánh thường hiện ở trước. Dùng Chỉ trang nghiêm nên dứt sạch tất cả kiết sử. Dùng Quán trang nghiêm, nên hay biết như thật Tự tánh của các pháp. Dùng Phương tiện trang nghiêm, nên chóng được thành tựu viên mãn cái vui hữu vi vô vi….” Trích kinh Thập Thiện !!!
* Đệ nhất nghĩa đế (còn gọi là Đệ nhất nghĩa, Chân đế, Thắng nghĩa đế…): Là những nghĩa (hoặc quyết định nghĩa) của xuất thế gian, thuộc cảnh giới “Thánh trí tự chứng” !!! Những nghĩa này ra ngoài suy nghĩ, luận bàn của người thế gian, nên gọi là “bất khả tư nghì”, “bất khả lí giải” !!!
Một đoạn kinh tiêu biểu về Đệ nhất nghĩa đế:
“Lại nữa, Thiện Hiện! Vì pháp môn giải thoát không thanh tịnh nên sắc thanh tịnh; vì sắc thanh tịnh nên trí nhất thiết trí thanh tịnh. Vì sao? Vì hoặc pháp môn giải thoát không thanh tịnh, hoặc sắc thanh tịnh, hoặc trí nhất thiết trí thanh tịnh đều không hai, không hai phần, không phân biệt, không đoạn diệt. Vì pháp môn giải thoát không thanh tịnh nên thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh; vì thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh nên trí nhất thiết trí thanh tịnh. Vì sao? Vì hoặc pháp môn giải thoát không thanh tịnh, hoặc thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh, hoặc trí nhất thiết trí thanh tịnh đều không hai, không hai phần, không phân biệt, không đoạn diệt…” Trích Kinh Đại Bát Nhã, Phẩm Khó Tin Khó Hiểu, HT Thích Trí Nghiêm dịch !!!
* Đệ nhất tối liễu nghĩa: Là những nghĩa thuộc cảnh giới “Xuất thế gian thượng thượng”…Được chư Phật và các Thiện tri thức tuyên nói các nghĩa (hay quyết định nghĩa) thuộc “cảnh giới tối hậu” của Phật đạo !!!
Một đoạn kinh tiêu biểu về Đệ nhất tối liễu nghĩa:
“Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác là thường hay vô thường?
Phật bảo Đại Huệ: Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác chẳng phải thường chẳng phải vô thường. Nghĩa là cả hai đều có lỗi. Nếu thường thì có lỗi làm chủ, thường ấy tất cả ngoại đạo nói tác giả vì không có chỗ tác, thế nên Như Lai thường phi thường. Chẳng phải tác thường, vì có lỗi. Nếu Như Lai vô thường, có lỗi tác vô thường, sở tướng của ấm tướng thì không tánh, ấm hoại nên đoạn, mà Như Lai chẳng phải đoạn.
Đại Huệ! tất cả sở tác đều vô thường, như bình, y v.v… tất cả đều là lỗi vô thường thì Nhất thiết trí đầy đủ phương tiện ưng vô nghĩa, vì cho là sở tác. Thế thì, tất cả sở tác đều ưng là Như Lai. Vì không nhân tánh sai biệt. Thế nên, Đại Huệ! Như Lai phi thường phi vô thường.
Lại nữa, Đại Huệ! Như Lai chẳng phải như hư không thường. Như hư không thường thì mắc lỗi tự giác thánh trí đầy đủ phương tiện thành vô nghĩa. Đại Huệ! Thí như hư không phi thường phi vô thường, lìa thường lìa vô thường, một khác, chung chẳng chung. Thường vô thường đều lỗi nên không thể nói, vì thế Như Lai phi thường. Lại nữa, Đại Huệ! Nếu Như Lai vô sanh thường như sừng thỏ, sừng ngựa v.v… cho vô sanh thường thì phương tiện vô nghĩa. Bởi vô sanh thường là có lỗi nên Như Lai phi thường. Lại nữa, Đại Huệ! Còn có các việc khác biết Như Lai thường. Vì cớ sao? Vì đã được trí vô gián thường nên Như Lai thường.
Đại Huệ! Hoặc Như Lai ra đời hoặc chẳng ra đời, pháp quyết định trụ, Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai vô gián trụ, chẳng trụ hư không, cũng chẳng phải chỗ hiểu biết của ngu phu. Đại Huệ! Như Lai đã được trí là do bát-nhã huân, chẳng phải tâm ý ý thức các ấm giới nhập xứ huân. Đại Huệ! Tất cả ba cõi đều là vọng tưởng chẳng thật sanh, Như Lai chẳng từ tưởng hư vọng chẳng thật sanh. Đại Huệ! Do hai pháp nên có thường vô thường, chẳng phải chẳng hai, chẳng hai là lặng lẽ, vì tất cả pháp không hai tướng sanh…” Trích Kinh Lăng Già, HT Thích Thanh Từ dịch !!!
* Bạn hỏi: “Có phải Đệ nhất nghĩa là thứ không thể dùng ngôn ngữ diễn bày?”
Bửu Khoa thân mến !!!
Đối với Phật đạo, không một cảnh giới nào là cảnh giới mà Phật và các Thiện tri thức không thể dùng ngôn ngữ để diễn bày !!! Ba đoạn kinh tiêu biểu được trích ở trên, chính là ba thứ ngôn ngữ đặc trưng mà Phật đã dùng thiện xảo ngữ ngôn để giảng nói về ba cảnh giới, trong đó có cảnh giới Đệ nhất nghĩa !!!
Tuy nhiên, để có thể trình bày một cảnh giới nào đó, điều kiện tiên quyết là, người nói phải là người đã từng kinh qua và am tường về cảnh giới mà mình trình bày !!! Về phần người nghe, tất nhiên muốn nghe hiểu một cảnh giới nào đó, đòi hỏi tâm trí người đó phải tương ưng với cảnh giới mình sắp được nghe !!! Nếu thiếu một trong hai điều nêu trên, tất nhiên người nói sẽ không nói được và người nghe sẽ không nghe thấu !!!
Về câu hỏi thứ 2 và thứ 3 của bạn, tuần sau chúng ta sẽ trao đổi tiếp !!!
Trước khi chấm dứt buổi trò chuyện hôm nay, mình có câu hỏi vui liên quan đến câu hỏi vừa rồi của bạn Bửu Khoa !!! Rất mong được nghe kiến giải lí thú của mọi người !!! Câu hỏi như sau:
– Vì sao trong ba cảnh giới: Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế, Đệ nhất tối liễu nghĩa…Chỉ có Tục đế và Đệ nhất nghĩa đế có CHỮ ĐẾ… Còn Đệ nhất tối liễu nghĩa lại không có chữ ĐẾ ??? [Các bạn có thể giải thích ngắn gọn trong phần bình luận dưới bài viết] !!!
Chúc Bửu Khoa và các bạn an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
08/03/2020
LÝ TỨ

Người Vô Minh Thì Thiền Định Có Thể Có Chánh Kiến Hay Không?
Một người có nhận thức tốt, nhận thức như pháp… Siêng năng “thiền tư” (ta quen gọi là thiền định) là cách tốt nhất giúp người ấy mau chóng thông suốt nhận thức đã có để thành tựu chánh kiến (trong Phật đạo gọi hành động này là văn, tư) !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được câu hỏi của Lê Ngọc Tới, câu hỏi như sau:
“Hiện nay trong gia đình tôi có thành viên học một môn phái (không tiện nêu tên) điều nếu không ảnh hưởng tới gia đình (đoạn này tối nghĩa – LT).
Họ ngồi thiền định hàng giờ, rất mất thời gian có lúc lại múa máy. Họ bảo của đạo Phật ngồi được an lạc chữa bách bệnh…vv…
Vậy nếu người còn vô minh thì thiền định có thể có Chánh Kiến hay không ?
Các hoạt động múa máy có phải do ảo tưởng sinh hay không ?
Chủ trương của Đạo Phật là thấy ra vô thường, khổ và vô ngã, còn họ thiền để được an lạc ..vv…thì có phải là của Phật dạy hay không ?
Rất mong Ngài LÝ TỨ trả lời cho thành viên trong gia đinh tôi, cũng như những ai quan tâm tới trang hiểu thêm về điều này.” 17/02/2020 10:18:27 Lê Ngọc Tới
Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
Từ trước đến nay, quan điểm của Lý Gia là: Không tham gia bình luận những vấn đề thuộc phạm vi gia đình, đời tư của một cá nhân, tổ chức, hay tông phái, tôn giáo, tín ngưỡng, chính trị, xã hội…v..v…Lý Gia chỉ đề cập đến những gì liên quan đến giáo pháp của đức Phật, nhằm làm sáng tỏ chân lí trên tinh thần giáo dục của Phật đạo (Lý Gia coi Phật đạo là một nền giáo dục, một hình thái văn hoá) !!! Vì thế, trong câu hỏi của bạn, BQT cũng chỉ như pháp mà trả lời, không nhằm đả phá hay cổ xuý một thiên hướng tu tập bất kì nào !!! Mong bạn thông cảm !!!
Bạn hỏi:
a) “Họ ngồi thiền định hàng giờ, rất mất thời gian có lúc lại múa máy. Họ bảo của đạo Phật ngồi được an lạc chữa bách bệnh…vv…” ???
Trả lời:
Ngồi thiền hàng giờ hay nhiều giờ, việc này thường được đa số người tu hành áp dụng…Tuy nhiên, trong khi ngồi các vị ấy “thực hành những gì” chúng ta không biết… Vì không biết, nên khó có thể đánh giá hay kết luận việc ngồi ấy là như thế nào !!!
Hỏi:
“Ngồi thiền mà có lúc múa máy” ???
Trả lời:
Trong kinh Phật, không thấy nói đến hiện tượng này !!!
Hỏi:
“Họ bảo của đạo Phật ngồi được an lạc chữa bách bệnh…vv…”???
Trả lời:
Bảo rằng, ngồi như thế là của đạo Phật, có lẽ cần coi lại phát biểu trên… Để kết luận một hành động nào đó có phải của Phật đạo hay không, cần tìm hiểu mục tiêu, ý nghĩa, động cơ cụ thể của hành động đó mới được…Nhưng, cho dù đó là phép tu do bất kì ai đặt ra, mà khi áp dụng, đưa đến an lạc và chữa được bách bệnh thì rất đáng hoan nghênh !!! Tuy nhiên, việc tu tập như thế có thật sự đưa đến an lạc và chữa được bách bệnh hay không, điều này cần có thời gian để kiểm chứng…Việc kiểm chứng đối với những người gần gũi, chắc là không khó với bạn !!!
b) “Vậy nếu người còn vô minh thì thiền định có thể có Chánh Kiến hay không” ?
Trả lời:
Minh hay vô minh, chánh kiến hay tà kiến là do nhận thức chứ không do thiền định…!!!
* Một người có nhận thức tốt, nhận thức như pháp… Siêng năng “thiền tư” (ta quen gọi là thiền định) là cách tốt nhất giúp người ấy mau chóng thông suốt nhận thức đã có để thành tựu chánh kiến (trong Phật đạo gọi hành động này là văn, tư) !!!
* Một người nhận thức không tốt, nhận thức không như pháp…Cho dù có siêng năng thiền định (không như lí tác ý) cũng không thể phát sinh chánh kiến !!! Thậm chí, do nhận thức sai lệch, hiểu không đúng tinh thần giáo pháp…v..v…mà cố sức thiền định (phi lí tác ý), sau một thời gian thực hành rất dễ phát sinh tà kiến !!!
c) “Các hoạt động múa máy có phải do ảo tưởng sinh hay không” ???
Trả lời:
Ngoài việc múa máy (bình thường) mang tính chuyên môn như vũ đạo, võ thuật, các bộ môn nghệ thuật…Còn lại, phần lớn các hành động múa máy bất thường khác, đều phát xuất từ việc ý thức mất kiểm soát (cũng có thể do ảo tưởng) !!!
d) “Chủ trương của Đạo Phật là thấy ra vô thường, khổ và vô ngã, còn họ thiền để được an lạc ..vv…thì có phải là của Phật dạy hay không” ???
Trả lời:
* Phật đạo dạy người thấu suốt vô thường, khổ, vô ngã để tâm thức an lạc…Do tâm thức an lạc nên các thiền thú (thiền định, thiền cảnh) tự sinh !!!
* Các thứ thiền định chỉ giúp người an lạc, mà không đưa đến thành tựu những pháp ấn như vô thường, khổ, vô ngã…Đều không phải chủ trương của Phật đạo !!!
Ngọc Tới thân mến !!!
Từ ngày BQT mở chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI đến nay được 29 kì !!! Bạn là một trong những bạn đọc có nhiều đóng góp cho chuyên mục !!! Để tri ân những đóng góp của bạn, BQT có nhã ý mong muốn gởi tặng bạn một món quà nhỏ mang ý nghĩa tinh thần…Nhưng, không biết địa chỉ !!!
Bạn có thể để lại tên, địa chỉ, số điện thoại cụ thể trong phần bình luận giúp chúng tôi tiện liên hệ…Nếu thấy bất tiện về việc để địa chỉ trong phần bình luận, bạn có thể viết địa chỉ vào đường dẫn (link) đặt câu hỏi (như cách bạn vẫn thường làm) hoặc trong messenger trang Lý Tứ !!! Xin cảm ơn !!! Chúc Lê Ngọc Tới an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
24/02/2020
LÝ TỨ

Tứ Thiền – Tứ Thiền Của Bồ Tát Thừa

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
C. Tứ Thiền Của Bồ Tát Thừa.
Bồ Tát sử dụng phương tiện này sau khi xuất ly trở lại ba cõi giáo hóa chúng sanh không bị trở ngại, cuối cùng chỗ cao quý chung nhất mà tất cả thánh đệ tử của Phật đều có, đó là danh hiệu Ứng Cúng. Danh hiệu tối tôn ba cõi ban tặng, cúng dường để tán thán công đức tu tập, và là cách để vinh danh Thích Ca Mâu Ni giáo chủ, Như Lai Đẳng Chánh Giác. Vị Phật đã quay bánh xe pháp làm đảo lộn tam giới, giành giật với tử ma, đem từng chúng sanh một thoát khỏi biển lửa ái dục, đến bờ an vui đích thực.
Hết thảy đồng tuyên bố tứ thành tựu như một thông điệp gởi đến ba cõi:
“Đối với tự thân đã giải thoát, vị ấy tuyên bố như sư tử rống: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm xong, thân này là thân rốt sau, không còn trở lại đời sống như xưa nữa.”[[1]]
[[1]] Trích kinh Trung Bộ -HT. Thích Minh Châu dịch.
(còn nữa)
Phật Tánh Và Pháp Tánh
Phật tánh và Pháp tánh là hai thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo nhằm chỉ cho hai lãnh vực, hai phạm trù khác biệt !!! Phật tánh, nhằm chỉ cho các đức tính của một Đẳng Chánh Giác…Pháp tánh, nhằm chỉ cho những tính chất tự nhiên, thường hằng của các pháp !!!
Các bạn !!!
Thời gian qua, BQT nhận được câu hỏi của Đình Vân…Nội dung câu hỏi như sau:
“Thưa BQT Lý Gia, tôi có tham gia nhóm và thường theo dõi các bài viết được đăng trong trang. Nhờ những bài viết trong đó giúp tôi hiểu ra nhiều điều mà trước đây tôi đã hiểu sai về Phật pháp. Hiện nay tôi có một thắc mắc, xin BQT giải đáp dùm. Tôi thường hay nghe nói đến Phật tánh và Pháp tánh, không biết Phật tánh và Pháp tánh có khác nhau không? Tu đến đâu mới thấy được Phật tánh và Pháp tánh. Xin cảm ơn BQT”!
Đình Vân thân mến !!!
Trước khi trả lời câu hỏi của bạn… Thiết nghĩ, chúng ta cần hiểu rõ và thống nhất ý nghĩa hai thuật ngữ mà bạn đã thắc mắc !!! Nếu, chưa hiểu và thống nhất ý nghĩa thuật ngữ (mỗi người hiểu một cách), chắc chắn mọi trả lời đều khó có thể làm vừa lòng nhau !!!
* Phật tánh là gì ???
Phật tánh là các đức tính (tính chất) cao đẹp đặc biệt của một vị Phật (đã chứng Đẳng Chánh Giác)…Khi một bậc giác ngộ rốt ráo (Đại Giác) sẽ viên mãn các đức tính đặc biệt ấy !!!
Trong các kinh Đại Thừa, mà cụ thể là kinh Đại Bát Niết Bàn, Phật dạy Phật tánh có tám đức tính đặc biệt, đó là: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi, hỉ, xả !!! Những đức tính này, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cũng có nhưng không đầy đủ !!! Khi nào tám tính chất này hiện viên mãn, Phật tánh bây giờ chính là Đại Niết Bàn !!!
Trong quá trình tu hành, từ sơ giác đến giác ngộ rốt ráo, tám tính chất nói trên sẽ lần lượt hiện ra, người tu hành trong từng giai đoạn cụ thể, sẽ hưởng dụng lợi ích từ một đức tính cụ thể cho đến đầy đủ tám món…Đây là lí do vì sao, sơ ngộ đã có “chủng tử bất thối” và “tinh tấn lực” !!!
Điều này giống như một người bị lạc giữa rừng sâu trong đêm tối, không biết hướng đi…Bất chợt nhìn thấy đốm sáng ở bìa rừng…Nhờ đốm sáng và sức chiếu của nó, người ấy nhận ra phương hướng…Từ đó hãi sợ chấm dứt, trong lòng phát sinh an vui, tinh tấn bước về hướng đốm sáng !!! Có hai đặc tính đầu tiên trong tám đức tính của Phật tánh mà một người sơ giác ngộ có thể cảm nhận được đó là, an lạc và thanh tịnh (lạc và tịnh) !!!
* Pháp tánh là gì ???
Pháp tánh là tính chất tự nhiên (tự tính) của tất cả các pháp…Tất cả các pháp đều có những tính chất tự nhiên, thường hằng như: Tính chất không tính chất (không tánh), không tướng mạo (không tướng), không sinh diệt (bất sinh, bất diệt), không lớn lên hoặc nhỏ lại (bất tăng, bất giảm), không sạch dơ (bất cấu, bất tịnh), chẳng phải có chẳng phải không (phi hữu, phi vô), chẳng phải minh chẳng phải vô minh (phi minh, phi vô minh)…v..v…!!!
Ví dụ: Khi ta quan niệm về nóng hay lạnh, trong quan niệm ấy không có tính chất của nóng hay lạnh, gọi là không tánh !!! Khi ta quan niệm người này đẹp, kẻ kia xấu…Trong quan niệm ấy không có tướng đẹp hay xấu gọi là không tướng !!! Khi ta quan niệm, quan niệm này sinh ra, sau đó mất đi…Trong quan niệm ấy không có tính chất của sinh ra hay mất đi, gọi là không sanh diệt !!!…v..v…Nói chung, tất cả các pháp đều có những tính chất tự nhiên, thường hằng như vậy, nên Phật dạy: “Các pháp bình đẳng” (bình đẳng vì bản chất của các pháp không khác nhau) !!!
Từ các giải thích trên ta có thể hiểu, Phật tánh và Pháp tánh là hai thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo nhằm chỉ cho hai lãnh vực, hai phạm trù khác biệt !!! Phật tánh, nhằm chỉ cho các đức tính của một Đẳng Chánh Giác…Pháp tánh, nhằm chỉ cho những tính chất tự nhiên, thường hằng của các pháp !!!
– Về việc bạn hỏi, tu tập đến địa vị nào sẽ thấy được Phật tánh và Pháp tánh…Mình xin trả lời như sau:
Bắt đầu từ sơ giác ngộ, người tu hành đã có thể cảm nhận được ý vị của Phật tánh và Pháp tánh…!!!
Về Phật tánh, như đã nói ở trên, người sơ ngộ sẽ cảm nhận được hai tính chất đặc biệt của Phật tánh đó là an lạc và thanh tịnh !!! Về Pháp tánh, người sơ ngộ có thể “mang máng” nhận ra bản chất của các quan niệm là không tánh, không tướng !!!
* Tuy nhiên để có thể nhận rõ (viên mãn) Phật tánh, người tu hành phải dứt hoàn toàn hai phần “sở trí ngu”, tức đã tịch diệt vĩnh viễn ba thứ vô minh là Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa…Điều này được minh hoạ qua ví dụ sau: Giống như một người trên đường đi, thấy từ xa một dãy màu đen, người ấy không biết đó là đàn trâu hay dãy núi (Nhuận chi vô minh)… Càng đi đến gần, người ấy nhận ra, đó là dãy núi chứ không phải đàn trâu (dứt Căn bản vô minh)…Khi đến dãy núi, người ấy biết rõ trong núi này gồm các loại cây gì, cây nào có quả ăn được, cây nào có quả không ăn được, nơi nào hiểm nguy, nơi nào an toàn…v..v… (tịch diệt Vô minh trụ địa, viên mãn Phật tánh) !!!
* Để có thể nhận ra những tính chất tự nhiên, thường hằng của các Pháp (Pháp tánh), người sơ ngộ chỉ “mang máng” cảm nhận một vài ý vị của nó như không tướng, không tánh… Đến khi thành tựu “ý sinh thân thứ hai” là “Giác pháp tự tánh tánh ý sinh thân” mới thấy hoàn hảo các tính chất tự nhiên, thường hằng của vạn pháp !!! Nếu tính theo địa vị, thấy Pháp tánh hoàn hảo thuộc về nhãn lực của Bát Địa Bồ Tát sau khi “từ bất động bước ra” để tiến về Cửu Địa !!! Bát Địa Bồ Tát sau khi từ bất động bước ra nhờ thấy được những tính chất thường hằng của các pháp, nên vị ấy vượt qua đặc tính cố hữu của “Pháp Môn Bất Nhị” là “trụ vô vi”, để thành tựu “Pháp Môn Tận Vô Tận Giải Thoát” thuộc cảnh giới “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” của bậc “Hướng Nhất Thiết Trí Trí” !!!
Đình Vân thân mến !!!
Những điều bạn hỏi, thuộc về chuyên môn kĩ thuật của Phật đạo… Phật tánh và Pháp tánh là thuật ngữ nhằm chỉ cho hai cảnh giới của các tầng bậc giác ngộ khác nhau !!! Vì thế, việc giải thích, cũng chỉ nhằm giới thiệu để người đọc có một số “kiến thức bỏ túi” về một vài cảnh giới đặc trưng của Phật đạo hơn là thấy biết cụ thể !!!
Muốn thấy biết cụ thể các cảnh giới nói trên, không có con đường nào khác, ngoại trừ bản thân bạn phải trải qua nhiều lần giác ngộ (gọi là thực chứng) !!! Giống như muốn nhìn thấy và hiểu rõ một thành ấp nào đó, bạn phải đi đến đó và làm cư dân sinh sống tại chính thành ấp ấy… Mọi việc nghe người khác nói, hoặc học thuộc các thông tin từ sách báo rồi nói lại…v..v…đều không giúp người tu hành hoàn thành công việc tu học của mình !!!
Hy vọng, đám mây tâm thức đang nổi trôi của Đình Vân sẽ sớm dừng lại, để có thể nhận ra điều cần nhận ra, như cái tên tốt đẹp “Đình Vân” của chính bạn !!! Chúc Đình Vân an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
17/12/2020
LÝ TỨ

Làm Gì Sau Khi Thực Hành Thiểu Dục Tri Túc
Sau khi thành tựu đời sống thiểu dục tri túc, phải tiếp tục tư duy, quan sát tâm thức để thành tựu “hai vô sanh”… Đó là “không sanh tâm” và “không sanh pháp” !!! Khi thành tựu hai vô sanh, những thứ như ghét, yêu, đây, kia…v..v…nói chung các pháp đối đãi, nhị nguyên của thế gian sẽ tự tịch diệt…
Các bạn !!!
Mùng năm Tết Canh Tý, BQT nhận được câu hỏi “mở hàng” của HĐ Phạm Thuỳ !!! Đầu năm mới, BQT chúc Thuỳ an vui, tinh tấn, thành công mọi mặt !!!
Câu hỏi của Thuỳ như sau:
“Con xin kính chào Thầy và các huynh đệ Lý Gia.
Nhân dịp đầu năm mới con kính chúc Thầy sức khoẻ dồi dào, cùng kính chúc các huynh đệ tỉ muội luôn tinh tấn tu học, gia đạo bình an.
Đầu năm mới con có một câu hỏi rất mong thầy có thể chỉ dẫn cho con sáng tỏ trong bước đường tu học.
Một vị tu học sau khi thực hành sống thiểu dục tri túc sau một thời gian tâm vị này không còn cảm thấy ham thích những thứ như ngày trước như được ăn ngon, mặc đồ đẹp, nhiều tiền bạc, hay nghe những lời khen ngợi… vị này nhận ra được cái không chân lý của hạnh phúc tạm thời nơi được ăn món ngon, được mặc đồ đẹp, được nghe những lời tốt đẹp khen ngợi, hay tận hưởng đi chơi như trước kia, và trở lên nhàm mỏi trần thế, cảm nhận này đôi khi thật sâu sắc, dẫn đến chán tiếp xúc với đời sống, chỉ muốn ở nơi thanh vắng để tư duy Phật pháp.
Con xin hỏi vị này cần tiếp tục tu học hay dẫn tâm như thế nào để không bị xa rời đời sống, vào được cảnh giới không còn chán ghét cũng không còn yêu thích, đạt được tâm thanh tịnh và nếu sống ở hiện đời nhưng vẫn tỉnh giác, không bị quay lại mê đắm các pháp thế gian”.
Con, Phạm Thuỳ – 29/01/2020 11:11:19
Thuỳ thân mến !!!
Trước khi trả lời câu hỏi, cá nhân mình có những lời ngợi khen đặc biệt đến Thuỳ !!! Thuỳ là một trong những HĐ của Lý Gia tuổi còn rất trẻ, có học vị không nhỏ ở đời, công việc làm ổn định…Thuỳ trở thành môn đệ Lý Gia chỉ mới trên một năm, nhưng sau lần nói chuyện vừa rồi (hình như hôm mùng 2 tết), mình nhận ra Thuỳ trưởng thành rất nhiều và đã bắt đầu đi vào quỷ đạo…!!!
“Đi vào quỹ đạo” là một trong những bước khởi đầu quan trọng đối với người tu hành…Nó giống như một con thuyền đã có những chuyển động đầu tiên để rời bến !!! Mọi thứ đều thay đổi trên đường đi của nó, vì thế chỉ có những người cùng đi trên con thuyền đó mới cảm nhận hết những đổi thay liên tiếp diễn ra !!! Và, những người còn trên bến đồng thời cũng nhận ra “người kia đã rời bến, đi xa ta và…mất…hút” !!! Ha ha ha ha !!! Người trên thuyền và kẻ dưới bến “đều ngạc nhiên” trước sự đổi thay !!!
Chắc giờ này, với một thứ tâm thức “mới rợi” này, Thuỳ dần dần sẽ thấm thía với hai chữ “cảnh giới” trong Phật đạo !!! Thuỳ ơi !!! Cảnh giới, chẳng phải là cái gì ghê gớm như người ta thường ảo tưởng về nó, mà nó chỉ là sự chuyển đổi ngoạn mục từ “tâm thức thế gian sang tâm thức xuất thế” !!! Có nghĩa là, cũng tại nơi này, cũng con người này, cũng việc làm này, cũng tô hủ tiếu này, cũng ổ bánh mì này, cũng những bằng hữu này…Nhưng, bây giờ mọi thứ mang một ý nghĩa khác, một nhãn quang khác, chẳng giống như hồi trước !!! Và cuối cùng, một thế giới khác đang hình thành trong tâm thức, ta tạm gọi là cảnh giới cho oai vậy thôi !!!
Dân gian có câu nói: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” !!! Câu này hàm ý rằng, những người “cùng cảnh giới” sẽ tìm nhau, còn “khác cảnh giới” sẽ khó thân thiện vì không hiểu, không hợp nhau !!! Đây là lí do vì sao, “mà……”, chắc giờ này Thuỳ hiểu sâu sắc chữ “mà…..” này !!! Nhưng không sao !!! Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, mình tin rằng, mọi thứ lại tốt đẹp !!! Cái ngỡ ngàng ban đầu rồi cũng sẽ quen đi…mọi việc lại “đâu vào đấy” !!!
Về câu hỏi của Thuỳ, mình xin trả lời như sau: (đây cũng là trả lời chung cho những HĐ Lý Gia bắt đầu rời bến thế gian) !!!
* Khi thực hành thành công phép “thiểu dục tri túc”, những chuyển biến dễ thấy như, không còn ham ăn ngon, chẳng thích mặc đẹp, chẳng ưa hội hè hát xướng, chẳng thích chuyện thiên hạ, chán ghét thị phi…v..v… xảy ra trong tâm thức là chuyện tự nhiên…nó tự nhiên như con bò thích cỏ !!!
Nếu giác ngộ mà đời sống không có gì thay đổi, tâm ý chẳng khác người đời, gặp gì cũng ham, thấy gì cũng thích, chuyện gì cũng có mình, ham ưa hội hè đình đám đông vui, bạ đâu cũng tham gia phê phán, chẳng ưa độc cư đọc tụng tư duy…v..v…thì, giác ngộ mà làm gì ???!!!
Vì thế, thành tựu phép thiểu dục tri túc là bước khởi đầu của những đổi thay quan trọng, giống như con nòng nọc bắt đầu xa rời cái đuôi thân yêu của nó, để sau đó trở thành một con ếch, con ếch mới có thể lên bờ và trở thành loài lưỡng cư, tự tại cả dưới nước lẫn trên khô !!!
* “Con xin hỏi vị này cần tiếp tục tu học hay dẫn tâm như thế nào để không bị xa rời đời sống, vào được cảnh giới không còn chán ghét cũng không còn yêu thích, đạt được tâm thanh tịnh và nếu sống ở hiện đời nhưng vẫn tỉnh giác, không bị quay lại mê đắm các pháp thế gian”.
Để có thể thành tựu những điều Thuỳ viết, sau khi thành tựu đời sống thiểu dục tri túc, phải tiếp tục tư duy, quan sát tâm thức để thành tựu “hai vô sanh”… Đó là “không sanh tâm” và “không sanh pháp” !!! Khi thành tựu hai vô sanh, những thứ như ghét, yêu, đây, kia…v..v…nói chung các pháp đối đãi, nhị nguyên của thế gian sẽ tự tịch diệt…Từ đó, tuy đang sống ở đời, trước cái lao xao của thiên hạ mà tâm thức vẫn tự thanh tịnh Niết Bàn, gọi là chứng “Giải Thoát Bất Động”, vĩnh viễn không còn thối lui, gọi là thành tựu “Bất thối chuyển” !!!
Nói chung, thành tựu thiểu dục tri túc chỉ là thành tựu bước đầu trên con đường tiến về đạo quả xuất thế…Đây là một trong những thành tựu quan trọng, nhưng chỉ quan trọng đối với người sơ ngộ, cho nên thành tựu này chưa phải là tất cả !!! Con đường phía trước còn rất dài, cách thức thực hiện các bước tiếp theo như thế nào, tài liệu tu tập hiện tại Thuỳ và HĐ Lý Gia đang có trong tay, mình đã viết đầy đủ ở đó, các bạn hãy đọc và tìm hiểu thêm !!!
Chúc Thuỳ có những thành công tiếp theo…đẹp…mắt… trên con đường tu tập, để mấy con nòng nọc nó thấy…mà…ớn…chơi !!!
BQT rất mong, nhận được các câu hỏi hay và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Tứ Thiền – Thiền Nguyên Thủy Hay Như Lai Thiền
Lấy bốn niệm xứ làm căn bản tu hành. Đây là chỗ xuất sinh mọi khổ đau trên đời. Tất cả khổ đau đều nương tựa nơi bốn món là căn thân (thân, thọ) và thế giới (tâm, pháp) mà có.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
B. Thiền nguyên thủy hay Như Lai Thiền.
Lấy bốn niệm xứ làm căn bản tu hành. Đây là chỗ xuất sinh mọi khổ đau trên đời. Tất cả khổ đau đều nương tựa nơi bốn món là căn thân (thân, thọ) và thế giới (tâm, pháp) mà có.
Thiền này quy mọi nguyên nhân khổ đau do dục ái, dục ái y nơi thân ngũ ấm mà hiện, kinh dạy: “Nếu ái sanh thì cũng sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, ảo não.” Nếu dừng dục ái thì khổ cũng dứt. Ái đầu tiên của chúng sinh là ái về thân. Thân là tài sản quý giá bậc nhất của chúng sinh, mọi nỗ lực trong đời cũng chỉ để cung phụng và gìn giữ thân này. Chúng sinh quyết gìn giữ để thân không bị “biến dịch.”
Chính thương yêu, giữ gìn này đã làm cho thân tâm có mối liên hệ khắng khít. Thân tâm hai món bây giờ in tuồng là một, gọi là câu sinh lưỡng chấp.
Tâm luôn luôn mong cầu thân tồn tại dài lâu, hễ thân biến dịch thì tâm đau khổ (thân do tứ đại vô tri làm thành không tự biết khổ vui, ví như thây ma). Sở dĩ tâm khổ đau khi thân biến dịch do tâm ái thân. Sự hệ phược câu sanh này, nếu được đoạn trừ thì tâm sẽ không khổ não cho dù thân có như thế nào.
Để trưởng dưỡng thân này, tâm đòi hỏi thỏa mãn các cảm thọ, đòi hỏi phải chiếm đoạt và tích chứa ngũ dục. Vì vậy cơ sở đầu tiên để nhị thừa được thiền là: “Ly dục, ly ác bất thiện pháp.”
Dục là ngũ dục, ác pháp là ngũ triền cái, bất thiện pháp là tâm yếu ớt. Các món này đối với nhị thừa y cứ trên thân ngũ ấm mà có, nên yểm ly triệt để ngũ ấm là biện pháp tối ưu để nhị thừa bức phá khỏi sức hút ba cõi. Quá trình lần lượt đi từ cõi này sang cõi khác gọi là thiền.
Nếu như Thanh Văn vào thiền theo lộ trình yểm ly ngũ dục thì Duyên Giác vào thiền bằng giác ngộ pháp nhân duyên. Thừa này ý thức rất rõ sở dĩ các pháp có được do duyên hòa hợp, duyên này không nhân. Như cây và bóng cây, cây tự thân không bóng và không có nhân sinh bóng, nếu hội đủ ánh sáng, không gian, mặt đất, và người mắt sáng sẽ thấy bóng cây. Từ một bóng cây, các nhận thức sai biệt về nó theo nghiệp hình thành. Người lấy đây làm bóng mát sinh tham ưa. Kẻ thấy đây là trở ngại cho việc trồng trọt sinh tâm chán ghét. Từ nhận thức này tâm sinh pháp, pháp làm rối loạn tâm khiến tâm mê mờ. Muốn pháp không sanh chỉ cần rút một trong các duyên ra khỏi quy trình sinh pháp. Quá trình làm chậm, nhẫn đến triệt tiêu nguyên nhân sinh pháp thiền sẽ hiện.
Như con mắt thấy các trần sinh ra nhãn thức, từ nhãn thức sinh ra các phân biệt sai khác theo nghiệp, đồng một pháp kẻ ghét người ưa.
Giống như thây ma giữa ngã ba đường, quyến thuộc thì ưu bi khổ não, kẻ thù vui mừng, khách lạ thì vô ký. Tự thân thây ma kia không có nhân buồn vui hay vô ký, mà ba người lại có ba cảm nhận khác nhau. Những pháp sai biệt này đều do nghiệp quả sai biệt sinh ra: Nghiệp quyến thuộc, nghiệp thù hằn, nghiệp vô ký. Kỳ thật, thây ma là pháp không nhân, chỉ do các duyên như ái sân.
Nghiệp sai khác cho ra các món phân biệt sai khác, tâm tình duyên theo ái sân phát sinh hệ phược. Muốn hết hệ phược phải phòng hộ các căn, ý thức vị ngọt của các dục, diệt trừ tham ái, thiểu dục tri túc.
Nói chung phải tu các pháp lành để tăng ích trí huệ, giới luật không khuyết để ngăn ngừa ái dục, và giác ngộ không nhân để thanh tịnh các duyên, hoặc quán 12 nhân duyên mà giác ngộ. Quán luân chuyển để thấy nhân sanh, quán hoàn diệt để thấy nhân diệt.
Mười hai nhân duyên vô minh đi đầu. Vô minh tự thể không luân chuyển, nhờ ‘hành’ mà vô minh duyên vào thức, vô minh làm động lực để hành diêu động, ‘hành’ diêu động để làm thỏa mãn ham muốn ‘diêu động của vô minh’.
Vô minh muốn biết tướng trạng của mình và thế giới nên thúc đẩy hành chuyển tải mình vào căn. Nơi căn vô minh muốn nhận biết nên thức duyên vào. Do vì thức nhập vào sáu căn nên sinh ra sáu thức (vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập…), cứ như thế 12 chi hoàn thành. Thức y nơi căn nhận biết rồi phân biệt theo nghiệp. Từ nghiệp phân biệt sanh tham ưa, tham ưa không dứt nên phân biệt không dứt. Phân biệt và tham ưa làm nhân đắp đổi thúc đẩy nhau nuôi lớn dục ái. Dục ái huân nhau làm lớn vô minh. Vô minh tạo nghiệp, và nghiệp thành quả, lấy quả làm nhân, trong nhân lại có vô minh.
Cứ như thế vô minh ở khắp 11 chi kia, diêu động như dòng nước chảy. Dòng nước nghiệp quả chảy mãi không dừng. Có thể hiểu hành là lực vô hình làm cho nước chảy. Thấy nghe phân biệt của nghiệp như dòng nước, nghiệp lành dữ như độ dốc, những thứ này là tướng của vô minh.
Đoạn kinh sau mô tả vô minh nhiếp đồng nghiệp mà có thân sau gọi là luân hồi:
“Đồng nghiệp ràng buộc lẫn nhau mà hợp, mà ly, mà thành, mà hóa. Cái thấy phát minh, thì các sắc phát ra; nhận rõ nơi sự thấy, thì thành có tư tưởng; rồi ý kiến khác nhau, thì thành ra ghét, tưởng niệm đồng nhau, thì thành ra yêu. Lan cái yêu ra, thành hạt giống, thu nạp tưởng niệm, thành ra cái thai, giao xen phát sinh, hấp dẫn bọn đồng nghiệp, nên có nhân duyên sinh ra yết la lam, át bồ đàm, vân vân.... Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hay hóa sinh là tùy phần sở ưng: Noãn chỉ do tưởng niệm mà sinh, thai thì nhân ái tình mà có, thấp sinh thì cơ cảm mà hợp lại, còn hóa sinh thì phân ly mà ứng hiện. Khi tình, khi tưởng, khi hợp, khi ly thay đổi lẫn nhau, nên các loài chịu nghiệp báo cũng theo đó mà lên xuống; do nhân duyên ấy, chúng sinh tiếp tục….”[[1]]
Từ một thức đồng hiện ra sáu thức, thức theo nghiệp nhận biết, do biết theo nghiệp nên sanh đảo tưởng. Từ đây pháp giới chúng sanh thành lập. Bản nhiên không thứ lớp nay dường như có thứ lớp, chỗ không trược bỗng nhiên thành trược, giống như đem cát bụi ném vào nước trong.
Phật dạy: “A Nan, ông thấy hư không khắp thập phương thế giới: Bên không, bên thấy, không tách rời nhau; có cái không mà không thật thể, có cái thấy mà không hay biết, hai bên xen lộn giả dối thành ra lớp thứ nhất, gọi là kiếp trược.
Thân ông hiện ôm bốn món đại làm tự thể, che bít những sự thấy, nghe, hay, biết, thành bị ngăn ngại và trở lại làm cho các thứ địa, thủy, hỏa, phong, thành có hay biết; các điều đó xen lộn giả dối thành ra lớp thứ hai, gọi là kiến trược.
Lại trong tâm ông, những sự nhớ biết học tập, phát ra tri kiến, hiện ra tướng sáu trần, thì những sự đó, rời tiền trần không có tướng, rời tri giác không có tính, xen lộn giả dối thành ra lớp thứ ba, gọi là phiền não trược.
Lại tâm ông ngày đêm sinh diệt không ngừng, tri kiến thì muốn lưu mãi ở thế gian, nhưng nghiệp báo xoay vần thì lại thường dời đổi cõi nầy cõi khác, những điều đó xen lộn giả dối thành ra lớp thứ tư, gọi là chúng sinh trược.
Cái thấy, cái nghe của ông, bản tính vốn không khác nhau, do các trần cách trở, mà không duyên cớ gì, lại sinh ra khác nhau; trong tính thì vẫn biết nhau, nhưng trong dụng thì trái ngược nhau, cái đồng và cái khác đã mất hẳn chuẩn đích, xen lộn giả dối thành ra lớp thứ năm, gọi là mạng trược.”[[2]]
Quán như vậy tột cùng mới biết thức này khi mới nhập thai là thức đồng. Từ đồng khi duyên vào các căn sinh dị, nơi dị duyên ra sáu món thấy nghe sai khác. Chưa vào sáu căn, thức không bị giới hạn có thể biến mãn khắp pháp giới. Nay vào các căn bị các căn chi phối. Con mắt chỉ thấy mà không nghe, lỗ tai chỉ nghe mà không thấy. Thấy nghe bị giới hạn theo nghiệp. Với con mắt hễ vật quá nhỏ không thấy, quá lớn không thấy, quá gần không thấy, quá xa không thấy, lỗ tai cũng như vậy. Khi thức chưa nhập thai biến mãn thập phương, nay có thân bị chi phối bởi thân nghiệp như ông thần vào cái chai.
Phép quán này cho thấy vô minh luân chuyển trong 12 chi. Vô minh khiến thức làm tay sai, từ một thức không già chết, nay theo nghiệp chịu khổ bởi già chết. Vô minh xích xiềng chúng sanh trong vòng luân chuyển của sinh tử, sở dĩ vô minh duyên vào các chi kia là nhờ có hành.
Vô minh làm nhân hành làm duyên, hành chuyển tải vô minh đi khắp các chi, sai sử mỗi chi làm theo ý muốn của mình. Thức bị vô minh sai sử nên duyên vào danh sắc, từ chỉ có danh và sắc bị vô minh duyên vào thành ngũ ấm. Vô minh làm chủ thể thúc đẩy thức duyên vào sáu căn gọi là lục nhập. Lục nhập theo nghiệp duyên vào xúc… thọ… ái … lão tử, cứ thế vô minh được hành cho đi dạo khắp 10 chi để làm lớn thêm nghiệp. Mười hai chi đều có bóng dáng của vô minh và hành. Từ chỗ rỗng rang nay thành có chủ, ông chủ vô minh ngự trị. Quán như vậy để thấy sự luân chuyển của vô minh.
Do có luân chuyển này nên có sinh tử, “tùy chiếu thất tông.” Muốn thoát khỏi sinh tử phải lội ngược dòng, “nghịch dòng được chỉ.” Như nước không thể chảy ngược.
Giác như vậy hành giả quán ngược lại, để thấy sở dĩ có chi sau là vì do chi trước luân chuyển duyên vào. Nếu dừng chi trước, thì chi sau không bị vô minh duyên. Không duyên vào được nên chi này chỉ có tên mà không có chủ thể. Chi này không có chủ thể thì chi kế tiếp không sanh, không sanh nên không có tên gọi. Như ông chủ không mua cây thì không thể làm nhà, không có cây làm nhà thì không có cái nhà, không có cái nhà thì danh tự nhà không có. Như xúc duyên thọ, nên thọ duyên ái, nếu không có xúc thì thọ không thành, thọ không thì ái không, và các chi sau tự mất. Một chi mất thì 11 chi còn lại tự rã.
Hành dừng thì vô minh trở lại thể ban đầu chỉ có tên gọi. Giống như vòng lửa chỉ cần dừng lại thì vòng lửa tự mất.
Phép quán hoàn diệt này cho phép hành giả chọn một chi nào thấy cần đoạn. Quán ngược trở lại chi trước để dừng mối luân chuyển của chi sau. Khi chi sau dừng thì chi kế không thành lập.
Nguyên lý này quán thọ để dừng ái, gọi là quán hoàn diệt, hoặc có thể quán xúc để dừng thọ. Khi 12 nhân duyên dừng, thức trở về chỗ đồng vô thủy từ đây ngộ được chỗ diệt, hướng tâm đến cứu cánh.
Quá trình quán hoàn diệt, thân tâm không bị các duyên ràng rịt như người thoát khỏi bụi gai độc cảm thấy an ổn. Càng quán hỷ lạc an tịnh càng thêm lớn, gọi là được thiền. Vì thế Duyên Giác thừa nhân giác ngộ nhân duyên mà chứng Tứ Thiền.
Đoạn kinh sau Phật chỉ nguyên nhân mê lầm:
“Tất cả chúng sinh từ vô thủy đến nay điên đảo nhiều cách, giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người tu hành không thành được đạo vô thượng Bồ Đề, đến nỗi lại thành Thanh Văn, Duyên Giác hoặc thành ngoại đạo, chư Thiên, Ma Vương hay bà con Ma, đều do không biết hai chữ cỗi gốc, tu tập sai lầm, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp như vi trần, rốt cuộc vẫn không thể thành được.
Thế nào là hai thứ cỗi gốc?
A Nan, một là cái cỗi gốc sống chết vô thủy, tức như ông ngày nay cùng các chúng sinh dùng cái tâm phan duyên mà làm tự tính.
Hai là cái thể bản lai thanh tịnh Bồ Đề Niết Bàn vô thủy thì như hiện nay cái tính bản minh thức tính của ông, sinh ra các duyên mà lại bị bỏ rơi.
Do các chúng sinh bỏ rơi cái bản minh ấy nên tuy cả ngày sống trong tính bản minh mà không tự giác, oan uổng vào trong lục đạo.”[[3]]
Kinh Đại Niết Bàn Phật dạy đời sau trong mười hai nhân duyên nên quán thọ, quán thọ sẽ dễ giác ngộ. Sở dĩ có thọ là vì có xúc, nhân xúc sinh thọ, các cảm thọ có được là bởi căn xúc đối với trần.
Phật dạy có ba thứ xúc là: Minh xúc, vô minh xúc, phi minh phi vô minh xúc.
Quán lỗi lầm căn thân, ở yên nơi giới, đoạn trừ ‘vô minh xúc’. Tăng ích thiện căn dứt trừ si ám, hết si ám rời được ‘phi minh phi vô minh’. Giữ gìn tịnh hạnh sẽ được ‘minh xúc’. Minh xúc là ‘thọ như pháp’, thọ như pháp ‘không sanh phiền não’, không sanh phiền não gọi là ‘vô lậu tâm’.
Thanh Văn, Duyên Giác, hai tri kiến khác nhau khi nhìn một pháp. Hai tri kiến này, mỗi tri kiến có đặc thù của nó nên giác ngộ cũng rất đặc thù.
Tuy thấy rất riêng nhưng nét đồng thì cực đồng, đó là đồng có nguyện vọng thoát ly ba cõi. Chính tương đồng này đã làm cho Thanh Văn, Duyên Giác ngồi chung một cỗ xe thẳng đến cứu cánh gọi là nhị thừa. Nhị thừa đi chung một thứ phương tiện đó là Tứ Thiền, nên rốt ráo đồng chứng một quả vị như nhau.
Đoạn kinh sau giới thiệu cách quán mười hai nhân duyên để sanh thiền:
“Nầy A Nan! Ông Nan Đà trước kia rất nặng ái dục, tánh rất xấu ác, Đức Như Lai dùng thiện phương tiện chỉ dạy cho ông ấy được lợi ích vui mừng. Phật rõ biết căn tánh của ông ấy, dùng huệ Bát Nhã mà giảng thuyết mười hai nhơn duyên: Chính là vô minh duyên hành, hành duyên thức, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não, đều là rừng bụi vô minh yêu ghét, tất cả hành khổ đầy tràn trong ba cõi, chạy khắp trong lục đạo. Cội gốc sự khổ từ vô minh khởi lên. Dùng huệ Bát Nhã hiển bày tánh tịnh, quán sát kỹ cội gốc thời dứt được tội lỗi trong ba cõi. Vì cội gốc vô minh dứt nên vô minh dứt, vô minh dứt thời hành dứt, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não đều dứt.
Lúc được quán niệm nầy nhiếp tâm đứng dừng thời được nhập Tam Muội, do sức Tam Muội được nhập sơ thiền lần lượt nhập Tứ Thiền không rời chánh niệm luôn tu tập như vậy, rồi sau tự sẽ được chứng thượng quả thoát khỏi khổ trong ba cõi. Nan Đà Tỳ Kheo, tin sâu lời dạy của Phật, siêng năng tu tập trong một ít lâu được chứng quả A La Hán.”[[4]]
Tóm lại đặc tính của hệ Tứ Thiền là khiến chúng sanh thích nghi với môi trường giác ngộ bằng cách thay đổi dần dần môi trường sống.
Trong cõi dục người tu hành từ chối các dục bằng hiểu biết mới gọi là thắng giải sau đó vào cõi sắc.
Trong cõi này quở trách thân tâm bằng hình thức xả giác quán hỷ lạc, vượt cõi sắc vào vô sắc. Chia nhỏ ý thức và bẻ gãy nó, thân tâm ý thức được sạch hóa phát sanh trí tuệ vô lậu chứng giải thoát.
Giống như con cá nước ngọt muốn ra biển khơi phải tập sống trong những vùng nước có độ mặn khác nhau từ ít mặn đến mặn nhiều. Khi nào thích nghi hoàn toàn sẽ bơi vào biển lớn mà không bị chết bởi xốc môi trường. Ưu thế của thiền này là khi con cá trở về với nước ngọt sẽ dễ hòa nhập.
[[1]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.
[[2]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.
[[3]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm -Tâm Minh dịch.
[[4]] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn –HT. Thích Trí Tịnh dịch.
(còn nữa)
Giới Định Huệ Hữu Lậu Và Vô Lậu
Tất cả những động lay (hành hoạt) của tâm thức đều vô thường (hữu vi, hữu lậu), đó là cảnh giới sinh diệt của các pháp (hư vọng), đến khi nào tâm thức cùng các pháp hư vọng chấm dứt vĩnh viễn, đây mới thật sự là cảnh giới an vui, giải thoát của Phật đạo…!!!
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT đã nhận được câu hỏi của Lê Tới !!! Nội dung câu hỏi như sau:
“Trong lúc vô minh bị đối phương súc phạm, thì tâm sân khởi lên. Lúc tâm sân khởi lên thì liền chánh niệm (vô ngã) vì tâm sân này rất mạnh nên lúc nó diệt đi thì tim cũng đập rất mạnh. Nhưng tại thời điểm đó có một tâm sợ hãi khởi lên và diệt đi cũng rất nhanh chỉ còn lại sự thở vào ra.
Như vậy 3 yếu tố giới định tuệ đã đúng chưa ?
Hiện tương đó được gọi là gì ?
Rất mong nhận được câu trả lời của Ngài” ! 19/01/2020 23:46:44 – Lê Tới
Lê Tới thân mến !!!
Lời đầu tiên, BQT chân thành cảm ơn bạn đã gởi câu hỏi đến chuyên mục để cùng nhau bàn bạc, trao đổi về việc tu học !!! Mình thắc mắc, không biết Lê Tới có phải là Lê Ngọc Tới hay không ??? Đọc nội dung câu hỏi và cách đặt vấn đề, mình thấy cách viết và hỏi của bạn rất giống bạn Lê Ngọc Tới !!!
Về câu hỏi, mình xin trả lời như sau !!!
Theo phỏng đoán và dựa vào những gì bạn đã hỏi, có lẽ bạn đang dùng phép “quán niệm hơi thở” để điều phục vọng tâm !!!
Theo mình biết, mỗi một người trong chúng ta, đều có một ngưỡng chịu đựng nhất định, có người sức chịu đựng rất cao, có người sức chịu đựng trung bình, có người sức chịu đựng kém !!! Khi gặp một tác động bất như ý, tuỳ vào ngưỡng chịu đựng của từng người mà tâm thức hư vọng của người ấy sinh khởi nhanh hay chậm !!!
Tuy nhiên, do người tu tập có được chánh kiến, có được chánh niệm và được hỗ trợ bởi một phép tu nào đó… nhờ huân tập thường xuyên, huân tập một cách liên tục, nên ngưỡng chịu đựng cũng theo đó tăng lên !!! Nhưng vì, đã là “một ngưỡng” thì nhất định phải có giới hạn của nó !!! Khi nào, sức chịu đựng vượt qua ngưỡng ấy, thân tâm cùng các pháp hư vọng sẽ bùng phát, các dấu hiệu của sự bùng phát ấy là “sân hận”, “rối loạn tim mạch” cũng như “sợ hải” như bạn đã nêu !!!
Nhưng, nhờ có chánh kiến, chánh niệm nên các thứ ấy cho dù có hiện khởi cũng chỉ thoáng qua rồi diệt đi rất nhanh !!! Đây được coi là thắng lợi ban đầu trong việc tu học, và cũng là một trong những thắng lợi trên bước đường chế ngự vọng tâm bằng các pháp hữu lậu !!!
* Bạn hỏi rằng: “Như vậy 3 yếu tố giới định tuệ đã đúng chưa” ???
Theo mình, việc tu tập như vậy chỉ là bước khởi đầu của người thực hành “giới, định, tuệ hữu lậu” !!! Có nghĩa rằng, nếu ta thực hành thường xuyên và liên tục phương pháp này, kết quả cuối cùng đạt đến, cũng chỉ thành tựu “học pháp hữu lậu”… Tức, có dụng công, có để tâm, có chế ngự…v..v..thì hữu lậu tâm không hiện !!! Khi nào thất niệm, bất giác thì, phiền não, lậu hoặc sẽ hiện trở lại !!!
* “Hiện tượng đó được gọi là gì” ???
Theo mình, đây là hiện tượng của người “dùng sức giác để tu tập”…!!!
Về việc “dùng sức giác để tu tập”, mình có một chia sẻ nhỏ như sau !!! Nếu ta tu tập như thế đến nhất tâm…Có nghĩa, mọi thời, mọi lúc, mọi nơi chỉ một tâm, không sinh các thứ tâm khác (dị tâm), không bị tán tâm do tác động cảnh duyên, người ấy sẽ thành tựu “giác lực” !!!
Khi có được giác lực, người tu hành dùng giác lực để quán chiếu bốn niệm xứ nhằm phát hiện quy luật sanh diệt của thân, của cảm thọ, của hư vọng tâm và của hư vọng pháp (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã) !!!
Quán chiếu như thế, đến khi nào thấy rõ bản chất sanh diệt, không bền chắc, nhiều phiền toái, vô ngã, không chân lí…v..v… của bốn món ấy !!! Thấy được như thế, vị này xả bỏ, không nắm giữ bốn niệm xứ trong lòng, đồng thời cũng xả luôn phép quán !!! Giai đoạn này, người tu hành bắt đầu quy trình mới của việc tu tập “vô xứ, vô trụ” !!!
Xả bỏ và trong lòng không nắm giữ bất kì một niệm xứ nào, cũng không khởi quán…Nhưng, mọi thời, mọi lúc, mọi nơi tâm thức vị ấy đều tĩnh lặng…đây là lúc tốt nhất, đây là cơ duyên lành để vị ấy “trực nhận” tính chất hư dối của tâm thức cùng vạn pháp, nhận ra con đường nào dẫn ta đến hữu lậu, con đường nào đưa ta đến vô lậu !!! Sự thấy biết này, giúp người tu hành thành tựu “huệ lực” !!!
Huệ lực là cảnh giới của người sơ ngộ, bắt đầu hiểu ra thế nào là ba học pháp vô lậu !!! Nhờ biết được thế nào là ba học pháp vô lậu, vị ấy hướng tâm đến việc tu tập ba học pháp này (từ bỏ ba học pháp hữu lậu) !!! Bạn có thể tìm hiểu cách ứng dụng cụ thể về cách tu tập ba học pháp vô lậu từ bài kinh Các Căn Tu Tập !!!
Khi có được huệ lực, người tu hành dùng huệ lực ấy phân tích (trạch pháp) sự sinh khởi cũng như sự diệt tận của một pháp cùng vạn pháp, và tìm con đường thoát ra khỏi sự sinh khởi và diệt tận ấy !!! Tìm thấy con đường này gọi là “ngộ” !!!
Khi nào thấy con đường giải thoát khỏi sự sinh diệt cũng như trói buộc của các pháp, tâm thức người này tự dừng lặng…Tâm thức tự dừng lặng (không do dụng công) là thuộc tính tự nhiên của học pháp vô lậu !!!
Đây là bước khởi đầu quan trọng để quy trình vận hành của Thất giác chi hình thành !!! Thất giác chi hình thành, các chi phần giác ngộ như niệm, hỉ, khinh an, tinh tấn, định và xả giác chi hình thành theo !!! Đến đây, mới được coi là viên mãn ba học pháp vô lậu là: Giới vô lậu, định vô lậu và tuệ vô lậu !!!!
Lê Tới thân mến !!!
Ba học pháp hữu lậu chỉ cho ra kết quả hữu lậu của thế gian pháp !!!
Muốn thành tựu đạo quả giải thoát, phải thực hành ba học pháp vô lậu !!! Khi thành tựu các học pháp vô lậu, có được vô lậu quả, cảnh giới giải thoát mới hiện !!! Chỉ có thực hành ba học pháp vô lậu, tính chất “ba trong một” là nhân giới có định, nhân định có tuệ mới phát huy triệt để…!!! Điều này, không thể có được từ việc thực hành các học pháp hữu lậu, tức những người hy vọng dụng công (hữu tác, hữu sự) để tìm thấy cứu cánh xuất thế (vô tác, vô sự) !!!
Người thành tựu cảnh giới giải thoát, là người đã thoát ra khỏi sự sanh diệt cũng như trói buộc của các hữu vi pháp “nhân giác ngộ mà được”, vì thế nó thuộc về đạo quả xuất thế (một thứ đạo quả chỉ có từ việc giác ngộ) !!!
Vì nó là đạo quả xuất thế, nên các tác động bất như ý của thế gian giới mới vĩnh viễn không tác động lên tâm thức họ được… Giống như mưa bão từ tầng đối lưu không thể tác động lên tầng ngoại quyển hay vùng không gian liên hành tinh !!! Từ đó các thứ sân hận, tim đập nhanh, sợ hải, hồi hộp…v..v… như bạn hỏi mới dần dần tịch diệt !!!
Sự tịch diệt này diễn ra mau hay chậm, tuỳ thuộc vào tập khí (thói quen vô thức) của từng người !!! Đây là lí do vì sao một số Tì Kheo như, Liên Hoa Sắc, Ngưu Tinh, Hầu Nhi, Xá Lợi Phất…v..v…tuy rằng trong hiện đời đã chứng đạo quả giải thoát của một A la hán, mà các tập khí chưa thể tịch diệt hoàn toàn trong đời sống của họ !!!
Để minh hoạ sự diệt tận các hữu vi pháp quan trọng như thế nào đối với đời sống tu hành, Kinh Đại Niết Bàn có bài kệ như sau: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” !!! Câu này có nghĩa là: Tất cả những động lay (hành hoạt) của tâm thức đều vô thường (hữu vi, hữu lậu), đó là cảnh giới sinh diệt của các pháp (hư vọng), đến khi nào tâm thức cùng các pháp hư vọng chấm dứt vĩnh viễn, đây mới thật sự là cảnh giới an vui, giải thoát của Phật đạo…!!!
Hy vọng, những giải đáp trên, có thể giúp Lê Tới tìm thấy con đường hàng phục tâm thức, thoát khỏi những hệ luỵ do tác động ngoại duyên gây nên nhờ ứng dụng thành công các học pháp vô lậu !!!
Năm mới Canh Tí (2020) BQT kính chúc tất cả bạn đọc của CHUYÊN MỤC BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI từ FANPAGE LÝ TỨ một năm mới an vui, hạnh phúc, thành công trên đường đời, gặt hái nhiều quả lành trong đạo pháp !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
23/01/2020
(29 tháng Chạp năm Kỉ Hợi)
LÝ TỨ

Tứ Thiền – Tứ Thiền Của Nhị Thừa
Đối với nhị thừa, để được thiền phải theo lộ trình nhất định, tức là vượt qua sơ nhị tam tứ thiền, mỗi thiền phải đủ các chi. Ví như sơ thiền phải đủ năm chi là tầm tứ hỷ lạc và nội tĩnh nhất tâm, nhị thiền xả tầm tứ, tam thiền xả hỷ lạc, tứ thiền bất khổ bất lạc.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
A. Tứ Thiền Của Nhị Thừa.
Được triển khai khá cụ thể: có phân tích, tổng hợp, chỉ bày khúc chiết, nói rõ nguyên nhân, nói rõ mục đích đi theo lộ trình nhất định. Thiền này được nhiều đệ tử Phật ứng dụng tu chứng hiện đời như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, và cứu cánh giải quyết khổ ba cõi.
Bồ Tát tân học đã phát tâm nhưng tri kiến là tri kiến của nhị thừa nên cũng y thiền này để tu. Nếu là Duyên Giác thì giác ngộ các pháp không nhân chỉ do duyên hòa hợp sanh. Thấy được chỗ dừng một chi trong 12 chi nhân duyên, đưa tâm vào tĩnh lặng gọi là giác, dùng ý quở trách vọng niệm gọi là quán. Nương sức huân lắng của cứu cánh các thiền thú cũng lần lượt trải qua và đích đến không khác Thanh Văn.
Thanh Văn, Duyên Giác giác ngộ không giống nhau nhưng lộ trình đưa đến giải thoát không khác vì thế đồng chứng A La Hán quả. Phật dạy chỗ chứng của các thừa này và từ bi tâm chỉ đủ tự cứu nên gọi chung là nhị thừa. Hai thừa đồng lấy thân niệm xứ làm tiền đề dẫn khởi phương tiện.
Đối với nhị thừa, để được thiền phải theo lộ trình nhất định, tức là vượt qua sơ nhị tam tứ thiền, mỗi thiền phải đủ các chi. Ví như sơ thiền phải đủ năm chi là tầm tứ hỷ lạc và nội tĩnh nhất tâm, nhị thiền xả tầm tứ, tam thiền xả hỷ lạc, tứ thiền bất khổ bất lạc.
Sau đây là lộ trình tiêu biểu của Tứ Thiền nhị thừa[[1]]
a. Giữ giới luật, làm sạch ba nghiệp sáu căn.
“Vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sinh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và thiểu dục tri túc.”
b. Dùng bốn niệm xứ để chế ngự tham ưu ở đời.
“Này các Tỷ Kheo, ở đây vị Tỷ Kheo sống, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.”
c. Thiểu dục tri túc.
“Ở đây Tỷ Kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Đại vương[[2]], cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Đại vương, vị Tỷ Kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Như vậy, này Đại vương, là Tỷ Kheo biết đủ.”
d. Diệt trừ tham sân và ngũ triền cái.
“Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.”
e. Được thiền.
“Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ Kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ Kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.”
g. Hướng tâm đến cứu cánh.
“Này Đại vương, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi giây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi giây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, hay màu vàng nhạt. Cũng vậy, này Đại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ Kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.” [[3]]
Trong hệ thống tu tập thiền nguyên thủy, thiền thứ tư cực kỳ quan trọng bởi lẽ ở trong thiền này tùy vào căn cơ và túc duyên, công đức phát sinh trong quá trình tu tập, hành giả có thể thấy được nhiều vấn đề trọng đại của Phật giáo.
Đệ tứ thiền hay thiền thứ tư biểu hiện nguồn tâm linh mẫn như: “Nhu nhuyến dễ sử dụng, bình thản và vững chắc.” Tâm này có thể hoạt dụng hết thảy chỗ, là bờ mé để vào cứu cánh nên sau khi chứng được thiền này, hành giả có thể hướng tâm đến bất kỳ mục tiêu nào, miễn mục tiêu đó phù hợp với tri kiến đã giác.
Nhờ tri kiến và định lực vững chắc, hành giả có thể thúc đẩy tâm mau chóng tương ưng cứu cánh.
Nếu tri kiến hoặc chỗ cần giác chưa giác, có thể hướng tâm đến thiên nhãn để biết nhân nào sinh ra quả này. Hướng tâm đến túc mạng để biết quả này từ đâu mà có, và hướng tâm đến lậu tận để biết đầu mối sinh tử trong ba cõi.
Từ đây dùng huệ trí thoát khỏi ba cõi, nhờ giác ngộ đầu mối xuất sinh chứng Diệt Tận định.
Hoặc có thể hướng tâm đến tứ không định bẻ gãy ý thức sau đó chứng Diệt Thọ Tưởng định.
Thậm chí chư Phật, chư Đại Bồ Tát lấy đây làm hang ổ nghỉ ngơi, hoặc hướng trí tuệ vào giác ngộ sâu thẳm, thuật ngữ kinh gọi là: “Tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân.”
Nói chung đây là bệ phóng tốt nhất để đẩy con tàu thân tâm vượt khỏi tâm, ý, ý thức, mọi công đức có được đều huân về thiền này. Vì thế kinh đại thừa Phật thường dạy: “Như Lai đặt yên người tu hành nơi trời sắc cứu cánh.”
Trong Tứ Thiền, hai thiền khó đạt đến là thiền thứ nhất và thiền thứ tư.
− Thiền thứ nhất khó vào, bởi lẽ đây là ranh giới của đa chủng tánh và nhất chủng tánh. Vô minh thì tập nhiễm lâu đời, có thể nói toàn thân tâm là vô minh. Còn giác ngộ và ứng dụng giác ngộ để tu hành là sơ tâm, đã là sơ tâm thì khó an định vì đa chủng tánh nhiễu loạn. Nếu không giác ngộ mãnh liệt và khéo thiện xảo trong việc điều tâm, thì không thể vào được thiền thứ nhất.
− Thiền thứ hai và thiền thứ ba chỉ việc thúc đẩy cho các chi sung mãn thì sẽ tự xả. Một số chi dần dần mất đi là do nội tĩnh tăng trưởng hoặc khi sung mãn tự nó bảo hòa. Giống như ăn no sẽ không thèm ăn.
− Thiền thứ tư là bờ mé giữa mê và giác nên đòi hỏi phải hội đủ nhiều yếu tố như: “Định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản.”
Những yếu tố này gần như hội tụ đủ tịnh hạnh, công đức, và trí tuệ. Nơi đây còn chút gì đó của mê và một chút gì đó của giác, chưa thật sự hết mê, chưa thật sự đã giác. Như một người đứng trên đỉnh núi cao, chỉ có một chút da bàn chân tiếp xúc với đất, thân đã ở trong hư không, nhưng phải còn quyết định cuối cùng rời khỏi ngọn núi này bằng hướng nào.
[[1]] các đoạn trích nằm trong kinh Sa Môn Quả -HT. Thích Minh Châu dịch.
[[2]] Danh xưng Đại vương ở đây Phật nói với vua A Xà Thế.
[[3]] Trích kinh Sa Môn Quả -HT. Thích Minh Châu dịch.
(còn nữa)
Tứ Thiền
Nói Tứ Thiền vì nó gồm có bốn giai đoạn sơ nhị tam tứ. Vấn đề được đặt ra là: Tứ Thiền giúp gì cho người tu hành, giác ngộ cái gì thì dùng phương tiện này, và kỹ thuật sử dụng ra làm sao?

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Tứ Thiền được đời sau đặt cho nhiều tên như thiền nguyên thủy, thiền tiểu thừa, Như Lai thiền. Những tên gọi như vậy không phải vô cớ mà có. Nó xuất phát từ nhiều mục đích khác nhau mà Tứ Thiền có nhiều tên, mỗi tên nói lên một tính cách.
Nói Tứ Thiền vì nó gồm có bốn giai đoạn sơ nhị tam tứ. Nguyên thủy hoặc tiểu thừa vì nó có xuất xứ từ rất lâu xa. Thậm chí trước Phật ra đời và được Phật gia thêm vị giải thoát để dạy cho đệ tử của mình, được coi như phép tu chủ yếu của hệ Phật giáo nguyên thủy. Có tên Như Lai thiền vì Phật và các Bồ Tát sử dụng như một ngôi nhà tĩnh lặng. Nói chung tên gọi chỉ để phân biệt với loại hình tu tập khác.
Vấn đề được đặt ra là: Tứ Thiền giúp gì cho người tu hành, giác ngộ cái gì thì dùng phương tiện này, và kỹ thuật sử dụng ra làm sao?
Khi nói đến Tứ Thiền, người ta mặc nhiên coi đó là thứ thiền của nhị thừa được tu hành để kinh qua bốn giai đoạn của sắc giới, và bốn giai đoạn của vô sắc giới. Cứu cánh là giải thoát của Thanh Văn thừa.
Hiểu như vậy chỉ thấy một mặt của thiền này, thực tế bốn thiền có mặt trong tất cả các thừa, kể cả nhất thừa.
Lý do khi thân tâm an định lập tức bốn thiền xảy ra. Trong đó sơ thiền có đầy đủ mùi vị hỷ lạc giác quán, đồng một hỷ lạc nhưng tri kiến khác nhau nên vị hỷ lạc sâu cạn cũng khác. Giác quán cũng rất không giống nhau, mỗi tri kiến sẽ cho ra một thứ giác quán, không thể bảo giác quán của Bồ Tát giống giác quán Thanh Văn.
Ví dụ đồng quán thân mà nhị thừa quán thân bất tịnh, còn Bồ Tát Phật dạy quán thân đồng như hư không. Thành ra Tứ Thiền sâu cạn không giống nhau, do đó chỉ một bề khăng khăng nói Tứ Thiền là phép tu của Thanh Văn thì e rằng nhận định này chưa thỏa đáng.
Nếu nhị thừa thì Tứ Thiền là phương tiện chủ đạo để tìm cách vượt ba cõi.
Bồ Tát dùng bốn thiền để vào các tam muội môn. Đó là tam muội có giác có quán, tam muội không giác có quán, hai tam muội này tương đương sơ thiền. Tam muội không giác không quán tương đương nhị tam tứ thiền.
Bồ Tát nhất thừa dùng bốn thiền như hộp báu đựng tri kiến (cách nói của Bồ Tát Long Thọ trong Đại Trí Độ Luận). Cho nên Tứ Thiền tính chất của nó rất linh hoạt, nếu đạt đến cứu cánh thì Tứ Thiền lại là thuộc tính của Niết Bàn vì trong đó có vị lạc giải thoát.
Tứ Thiền của nhị thừa là quy trình tu tập được thuyết chủ yếu trong tạng Nikaya.
Tứ Thiền của Bồ Tát được tuyên thuyết rải rác trong các kinh đại thừa.
(còn nữa)
Thiền Của Phật Giáo & Các Loại Thiền
Thiền của Phật giáo được coi như công cụ hỗ trợ giúp người tu hành đạt mục đích. Giống như con người lấy chiếc xe làm phương tiện đi lại.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Nếu cách dạy và học thế gian ngoài bài giảng còn có đồ dùng dạy học và các hỗ trợ kỹ thuật để học sinh dễ tiếp thu, thì trong Phật giáo cũng có một số biện pháp hỗ trợ cho người học thực hành những gì mình tiếp thu được nơi người thầy. Biện pháp này vừa là trợ huấn cụ vừa là phần kỹ thuật có giá trị thực nghiệm. Thiền trong Phật giáo là loại công cụ này.
Trước khi tìm hiểu các loại thiền Phật giáo, cũng nên có cái nhìn tổng quát về thiền. Căn cứ kinh điển ta thấy thiền có nhiều loại, mỗi loại tiêu biểu cho một dạng người học và một hình thức giảng dạy nào đó vào thời điểm nhất định gọi là hợp thời, hợp căn cơ.
Mỗi căn cơ trong thời điểm thích hợp, vị thầy sẽ có một số bài giảng tương ứng với tâm tình và trí tuệ người học. Người học đem những điều tiếp thu ứng dụng thực tế để tìm kiếm cứu cánh, công việc này Phật giáo gọi là thiền.
Vì thế thiền của Phật giáo được coi như công cụ hỗ trợ giúp người tu hành đạt mục đích. Giống như con người lấy chiếc xe làm phương tiện đi lại.
Thật ra khi nói thiền chỉ là cách nói vắn tắt của hai từ thiền định. Bởi thiền như cỗ xe, định như bến đỗ, chiếc xe không thể thiếu bến đậu, vì vậy thiền có mục đích của nó.
Cũng chính việc tìm kiếm mục đích mà các loại thiền khác nhau ra đời. Mỗi loại thiền tương thích với một hành trình mà quãng đường và loại hình giao thông quyết định phương tiện. Không thể dùng phương tiện giao thông này cho loại hình giao thông kia. Giống như không thể dùng xe hơi để đi biển, hay không thể dùng xe lớn đi vào đường nhỏ.
Tu thiền nếu không am tường một số khái niệm cơ bản thì sẽ rất khó khăn. Không muốn nói là không khả thi nếu dùng sai phương tiện. Thực tế không thiếu những trường hợp sử dụng loại phương tiện không hợp lý.
Vì sao người tu hành lại không sử dụng đúng phương tiện? Rất đơn giản là vì không biết rõ mục tiêu phải đến, và chưa tìm hiểu cặn kẽ đoạn đường mình phải đi qua.
Vì thế giáo lý cơ bản, cứu cánh của ba thừa, và giác ngộ chính là những điều kiện quyết định phương thức tu hành. Giáo lý cơ bản giống như học lái xe hay thuyền. Cứu cánh ba thừa là nơi chốn phải đến, giác ngộ là biết rành con đường mình đi qua, trạm dừng cuối cùng, và gặp gỡ mục tiêu.
Trong tu thiền người thầy hay còn gọi thiện tri thức đóng vai trò rất quan trọng, là người hướng dẫn am tường mọi ngõ ngách của tâm để đưa ra các biện pháp hay phương tiện hợp lý.
Thiếu thiện tri thức người tu thiền tự mày mò tìm cách tu tập giống như người đi biển tự bơi trên con thuyền của mình mà không có thuyền trưởng nhất định sẽ thất bại. Trong đời không thiếu những người tự bơi và lênh đênh nhiều ngày, cuối cùng nhìn lại thấy mình còn ở nguyên chỗ cũ hoặc lạc vào bến bờ nào đó xa lắc không can dự gì đến mục đích tìm kiếm.
Có thể thấy điều này khi tiếp xúc với những người mệnh danh là tu thiền, họ kể về hành trình điểm đến hoàn toàn xa lạ với những gì Phật giáo đề ra.
Nói như vậy không có nghĩa không có thiện tri thức thì người tu hành không tu được. Người tu thiền nếu biết dựa vào một số điều cơ bản thì đây chính là thiện tri thức của mình. Những điều cơ bản đó là ‘kinh điển’ và ‘giới luật’. Đây là hai ông thầy quyết định thành công hay thất bại trong hành trình dài để bơi qua biển lớn sanh tử. Mà Phật là vị thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm đã để lại cho người sau.
Kinh điển chính là bài học được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn của vị thuyền trưởng đã khai sinh ra con đường vượt biển sanh tử và là thực tế truyền dạy các học trò của mình. Tất cả đều thành công trong hải trình gian nan đầy sóng dữ.
Giới luật như những biện pháp phòng ngừa mọi tai ách nhất định xảy ra. Đây là giáp trụ, là chiếc phao cứu sinh khi gặp bảo tố phong ba, là ngọn hải đăng, là chiếc hải bàn chỉ đường cho con thuyền không lạc lối.
Chính xác hơn ‘kinh điển và giới luật’ là những trang bị tối cần thiết cho một chuyến đi xa. Thiếu một thứ mà mong rằng chuyến đi thành công là điều không tưởng.
I. CÁC LOẠI THIỀN
Nếu phân tích cụ thể Phật giáo có mấy loại thiền thì không dễ. Bởi lẽ người tu hành khi giác ngộ thấu đáo sẽ có thể dùng nhiều phương tiện để đạt mục đích cao nhất.
Tùy theo lộ trình khi nào dùng loại phương tiện gì phù hợp sẽ tự biết. Giống như người đi xa qua nhiều lộ trình với nhiều địa hình khác nhau sẽ tùy nghi sử dụng phương tiện hợp lý.
Tuy nhiên vẫn có những phương tiện dẫn khởi, những phương tiện này được coi là tiêu biểu cho các loại thiền. Căn cứ vào sức giác ngộ của ba thừa tạm phân chia để có một vài khái niệm căn bản về thiền.
(còn nữa)