Hoạt động mở rộng

Hạnh Phúc Quanh Ta | Buổi 11- Ngày 14.02.2023 | Tam Vô Lậu Học

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Sinh Hoạt Lý Gia

Luận Về Bát Chánh Đạo

MN 168 Lý Hoài Thanh 19.02.2023


Bài viết Luận Về Bát Chánh Đạo của Lý Nữ Phương Danh Lý Diệu Tâm


Chiều nay, công việc tạm giải quyết xong, một chút rỗi rảnh hiếm hoi, bèn moi lại bài viết và đọc một mạch !!! Đúng là một bài luận hay !!! Luận về bát chánh như thế này mới gọi là luận !!! Luận như thế này mới đích thị là sản phẩm của trí tuệ !!!

Viết đến đây, sực nhớ câu chuyện trao đổi với một HĐ Lý Gia hồi mấy năm trước liên quan đến bát chánh, lúc ấy HĐ đó vừa mới vào Lý Gia nên còn hơi hám luận giải của những người tu tập bên ngoài !!! Nhờ mấy câu trao đổi ngắn hôm nọ, mà anh bạn "xi ba chao" của chúng ta trực nhận ra thế nào mới được coi là chân chánh đích thực trong Phật đạo...Từ đây y ta mới hết đòi lấy bát chánh đạo...để...tu...ha ha ha ha !!! !!!

Xin lược kể câu chuyện như sau:

-........!!!

 


- Trước đây con vẫn tu theo bát chánh nhưng không thành công !!!

- Bát chánh là cái gì mà anh đòi dùng nó để tu tập ???

- Thì con sống theo tám điều chân chánh như thấy nghe, nghĩ suy..vv… chân chánh !!!

- Anh có nói lộn không ??? Bát chánh trong Phật đạo là kết quả của giác ngộ !!! Một người chưa giác ngộ thì làm sao sống trong cái chánh ấy được !!! Giống như người mù thì làm sao sống trong ánh sáng ???

- Nghe thầy nói, con mới vỡ lẽ ra, hèn gì tu hoài mà không thành !!!

- Đối với Phật đạo, chánh hay tà là tại tâm thức này !!! Khi tâm thức chưa hết u tối, chưa giác ngộ… thì cái mà họ cho là chân chánh chỉ là những việc chân chánh của thế gian chứ đâu phải chân chánh trong Phật đạo !!!

- Vậy, muốn thấu suốt, muốn có được cái được gọi là chân chánh trong Phật đạo thì con phải làm gì ???

- Chỉ nên biết cái gì là tà và xả bỏ nó !!! Hết tà lập tức chánh sẽ hiện !!!

- Những gì là tà ???

- Một đời anh đã sống với tà cho tới hôm nay, vì thế không cần chỉ !!! Nếu là người trí, nhất định anh sẽ nghiệm ra cái gì là tà !!! Không lẽ anh không nhận ra các “tà bằng hữu” đã chung sống cả đời với mình hay sao ??? Đâu, anh thử xem bọn nó gồm những thứ gì ???

- ......!!! Con vẫn đang quan sát !!!

- Cố lên Bà La Môn !!! Nó theo anh như bóng với hình đó !!!

- Thầy ơi !!! Con đã thấy diện mạo của nó rồi !!! Cảm ơn thầy !!! Vậy mà bao năm tu học, con lầm tưởng mấy bằng hữu tốt của con như nói năng, suy nghĩ, thấy biết, công phu…vv… mà con cưu mang xưa nay là chánh !!! Không có thầy gợi ý, sống với bọn ác mà cứ ngỡ là quyến thuộc !!!

- Đâu chỉ riêng anh !!! Đa số đều hiểu lầm như thế, nên tu hoài mà vẫn như thế !!! Nhưng, bây giờ anh đã thấy cái được gọi là chân chánh trong Phật đạo là gì chưa ???

- Con thấy rồi !!!

- Thấy gì ???

- Không thấy gì là chánh mới thật sự chân chánh !!! Còn có điều gì mà ta và thế gian thấy biết và cho điều ấy là chánh thì thấy biết và điều ấy chưa thật sự chân chánh trong Phật đạo !!!

- Anh có thể mô tả ngắn gọn, đầy đủ ý vị của đạo pháp được không ???

- Thưa thầy !!! Vô kiến mới tạm gọi là chánh kiến, vô niệm mới tạm gọi là chánh niệm, không động lay bởi thế gian đạo mới tạm gọi là chánh định...!!!

- Giỏi lắm Bà La Môn !!! Hay lắm Bà La Môn !!! Cứ như vậy...mà...sống...chết... !!! Xin chúc mừng !!! Ha ha ha ha !!!

Xin giới thiệu đến mọi người bài viết Luận Về Bát Chánh Đạo của Lý Nữ Phương Danh Lý Diệu Tâm !!! Bài viết không hổ danh là Lý Nữ Phương Danh của Lý Gia !!!

09/05/2022

LÝ TỨ

LUẬN VỀ BÁT CHÁNH ĐẠO

Bát chánh đạo được coi là mục tiêu, là đích đến của những người học tập theo con đường Phật Đạo. Về mặt ngữ ngôn, Bát Chánh Đạo được hiểu là 8 điều chân chánh mà người tu hành cần phải đạt được, đó là chánh kiến (nhận thức đúng đắn), chánh tư duy (suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (lời nói chân chánh), chánh nghiệp (tiếp nhận đời sống chân chánh), chánh mạng (đời sống đúng đắn), chánh tinh tấn (luôn tiến tới), chánh niệm (nhớ nghĩ đúng đắn), chánh định (thân tâm an định).

Nếu nhìn lại 8 điều chân chánh được nêu ra ở trên thì thấy rõ, đây là 8 yếu tố tạo nên đời sống của một hữu tình. Giống như 7 dải màu của ánh sáng, dù là khái quát hóa thành 7 màu nhưng không có một màu sắc nào nằm ngoài dải của 7 màu sắc đỏ, vàng, da cam, lục, lam, chàm, tím.

Một người muốn có được 8 điều chân chánh này thể hiện trong đời sống của họ, điều trước tiên họ cần hiểu rõ thế nào được gọi là chân chánh. Bản thân quá trình học tập trong Phật Đạo nhằm thấy được những sự thật về con người và thế giới. Như vậy sự chân chánh này chính là những sự thật mà người học tập nhận thức được thông qua quá trình thay đổi nhận thức của mình. Hay nói cách khác, bát chánh đạo chính là đời sống của một hữu tình dựa trên sự nhận thức về bản chất của con người và thế giới. Hay cũng có thể nói, một người khi có được nhận thức đúng đắn về con người và thế giới thì họ sẽ có được 8 điều chân chánh này.

Muốn sống với những điều chân chánh như vậy, con người ta phải có khả năng nhận thức ra được điều đó ở đâu, như thế nào, ra làm sao? Khả năng đó chính là năng lực nhìn nhận ra đúng bản chất vấn đề, đấy chính là "nơi" được gọi là Niết Bàn hay Diệt Đế hay Minh Tâm.

Sở dĩ để miêu tả cho một năng lực mà có nhiều tên gọi như thế là vì mặc dù chỉ là một năng lực nhưng nó có nhiều tính chất khác nhau. Gọi là Niết Bàn vì chính khi có được năng lực đó người này thấy được cái an vui thực sự từ nay mãi mãi trong tay mình? Gọi là Diệt Đế vì đây là nơi toàn bộ vô minh được tịch diệt để người này luôn có được sự sáng suốt, có được năng lực trực nhận mà không cần phải phân tích, chia chẻ thông qua sự cân đong đo đếm của đời. Gọi là Minh Tâm vì từ đây người này thấy rõ được bản chân Tâm thức này là gì, như thế nào và vì sao, mọi thứ sáng tỏ như chưa bao giờ thấy rõ như vậy.

"Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh", có nghĩa rằng những năng lực tốt đẹp, những tánh chất của Niết Bàn, của Diệt Đế, khả năng Minh Tâm đều nằm trong mỗi con người. Giống như khoáng vật luôn có sẵn ở trong lòng đất. Tuy nhiên, không phải có sẵn đồng nghĩa với việc luôn có thể dùng được ngay. Muốn có khoáng vật thì con người cũng cần phải khai thác, cần làm giàu, cần tinh luyện để ra được một thứ khoáng chất hữu dụng cho cuộc sống. Tương tự như vậy, những năng lực này vốn có sẵn trong mỗi chúng sanh, nhưng cũng cần học tập, cần có nhận thức đúng đắn để thấy được nó hay để dùng được nó.

Phật Đạo cũng chỉ ra rằng, chính chúng sanh tánh là yếu tố làm che mờ những tánh chất tốt đẹp này của con người. Hay có thể miêu tả giống như một chiếc radio chỉ có thể bắt sóng được trên 1 tần số duy nhất. Một khi chiếc radio tâm thức đã bắt "tần số chúng sanh" thì không thể bắt được "tần số Niết Bàn". Đây là lý do vì sao trong giai đoạn đầu, những người học tập trên con đường Phật đạo được yêu cầu rời lìa sự phân biệt. Rời lìa sự phân biệt chính là rời khỏi "tần số chúng sanh", mặc dù chưa dò được đến "tần số Niết Bàn" nhưng nếu như không rời bỏ "tần số chúng sanh" thì không có cơ hội bắt được sóng ở tần số khác.

Có thể nói rằng, tính chất chúng sanh mà đặc trưng là sự loạn động trong tâm thức chính là yếu tố khiến cho hữu tình không có cơ hội để nhận ra bản chất hay năng lực của chính mình. Chính vì vậy trong Kinh có dạy: "Chư Phật đặt yên chúng sanh nơi thanh tịnh" hay "Như Lai đặt yên người tu hành nơi trời Sắc cứu cánh…”.

Như vậy, có thể thấy, Bát chánh đạo hay con đường đưa đến Bát Chánh Đạo cũng trải qua nhiều tầng bậc biến đổi trong nhận thức. Trong mỗi một sự thay đổi nhận thức, người tu hành nhận ra những điều chân chánh đối mới mình tại thời điểm đó. Với giai đoạn đầu, đặt yên tâm thức này nơi thanh tịnh được coi là chánh, thanh tịnh này bây giờ là điều kiện cần, là yêu cầu nhất định phải làm đối với người tu hành. Đến giai đoạn tiếp theo thì "nhận thức về tự tâm đúng như pháp" được coi là chánh. Chánh này lấy pháp làm thước đo chuẩn mực để xác định chánh - tà. Nhưng tiến lên nữa để thấy được bản chất các pháp, ngay nơi này vị này thong dong ung dung hoạt dụng toàn bộ các pháp theo đúng bản chất của nó, đây chính là đỉnh cao của "Duy tuệ thị nghiệp" - một đời sống chân chánh với đầy đủ các tính chất tốt đẹp mà người này nhận thức được từ trong quá trình học tập trí tuệ của mình.

Hoạt động mở rộng

Khoá Học Hạnh Phúc Quanh Ta K01 | Buổi 07 - Ngày 08.02.2023 | Giao Lưu Trao Đổi

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Hoạt động mở rộng

Khoá Học Hạnh Phúc Quanh Ta K01 | Buổi 05 - Ngày 06.02.2023 | Các Cảnh Giới Trong Phật Đạo, Luân Hồi

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Hoạt động mở rộng

Khoá Học Hạnh Phúc Quanh Ta K01 | Buổi 04 - Ngày 03.02.2023 | Pháp Môn Và Phép Tu

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Hoạt động mở rộng

Khóa Học Hạnh Phúc Quanh Ta K01 - Buổi Khai Giảng

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Tags:

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Vô Niệm - Vô Tâm

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Chữ vô tâm (hay không tâm) trong Phật đạo, là thuật ngữ để chỉ cảnh giới của người giác ngộ đã chứng diệt đế…Nó hoàn toàn không giống ý nghĩa chữ vô tâm ở đời !!!

Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được câu hỏi của Phạm Thuỳ ở TP Hồ Chí Minh…Câu hỏi của Thuỳ như sau !!!

“Thưa thầy con có một câu hỏi rất mong được thầy giải đáp đó là nhiều người hiểu rằng một người tu tập sống thiểu dục tri túc, đối với chuyện trên đời không còn ham thích. Vô niệm hay không chấp một niệm nào thì dần dần sẽ trở thành vô tâm? Con hiểu rằng không phải vô tâm mà khi tâm lặng dừng phiền não sinh diệt nhất định từ bi sẽ hiện thì sao lại thành người vô tâm…nhưng con vẫn mong thầy có thể từ bi chỉ dậy cho con ạ”. 14/01/2020 11:19:46 Phạm Thuỳ – TP Hồ Chí Minh

Thuỳ thân mến !!!
Câu hỏi của Thuỳ, mình xin chia thành ba phần để trả lời !!!

* Hỏi: “Thưa thầy, con có một câu hỏi rất mong được thầy giải đáp, đó là: Nhiều người hiểu rằng một người tu tập sống ‘thiểu dục tri túc’, đối với chuyện trên đời không còn ham thích.

* Trả lời: Bản thân cụm từ “thiểu dục tri túc” có nghĩa là, ít ham muốn và luôn biết đủ !!! Đây là điều kiện cơ bản để người tu hành hết phiền não, tìm đến an vui chân thật !!!

An vui chân thật theo tinh thần Phật đạo, là thứ an vui do “ham muốn đã được chế ngự” và “bằng lòng với những gì đang có”…Có nghĩa là, vị ấy thản nhiên trong đời sống, không tham vọng khi chưa có, không thất vọng khi chưa đạt, và không hi vọng khi hành động !!!

Có năm thứ ham muốn thuộc về cõi dục người ấy phải chế ngự, đó là: Chế ngự khi mắt thấy sắt, chế ngự khi tai nghe âm thanh, chế ngự khi mũi ngửi mùi hương, chế ngự khi lưỡi nếm các vị, chế ngự khi thân xúc chạm !!!

Bằng lòng với những gì đang có là: Giàu hay nghèo, nhiều hay ít, thắng hay thua, được hay mất…v..v… Cũng không vì thế sinh tâm muộn phiền, luôn tự biết rằng “nhân duyên nó như vậy” !!!

Chính cách sống này, sẽ giúp người tu hành an bình trước mọi cảnh duyên…Nhờ thế, tâm thức không dao động, an tâm tu tập, có được niềm vui không do được, mất, hơn, thua làm nên, Phật đạo gọi niềm vui này là tự vui hay niềm vui chân thật !!! Chân thật vì bởi an vui đó không do cái gì làm ra, nên nó sẽ không bị mất đi !!!

Trong kinh cũng dạy: “Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất chi túc chi nhơn, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý”. Nghĩa là: Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý.

Theo những gì trao đổi ở trên, cái câu: “Nhiều người hiểu rằng một người tu tập sống thiểu dục tri túc, đối với chuyện trên đời không còn ham thích” !!! Theo mình thì, câu nói này rất đúng với một người đang bước chân vào con đường tu hành !!!

* Hỏi: “Vô niệm hay không chấp một niệm nào thì dần dần sẽ trở thành vô tâm”?

* Trả lời: Để trả lời câu hỏi này, đầu tiên chúng ta phải thống nhất thuật ngữ !!! Vì rằng, khi chưa thống nhất thuật ngữ, mọi kết luận giữa người nói và người nghe khi đưa ra sẽ không thống nhất !!! Đây là lí do vì sao, hai người tu hành hay hai người không cùng cảnh giới, khi trao đổi Phật pháp thường xảy ra bất đồng ý kiến !!! Giống như chuyện, “ông nói gà, bà hiểu vịt” !!! Một vật thể đặt trước mặt, khi chưa thống nhất quan điểm còn xảy ra tranh luận, huống gì cảnh giới tâm thức !!!????

Trong câu hỏi Thuỳ, có hai thuật ngữ chúng ta cần làm sáng tỏ để thống nhất ý nghĩa của nó: đó là: “Vô niệm” và “vô tâm” !!!

– Vô niệm: Đồng thời là chữ vô niệm, nhưng người nói và người nghe hiểu như thế nào về thuật ngữ này, cả hai đã đạt được cảnh giới đó hay chưa ??? Theo mình thì, nếu cả hai, hoặc một trong hai người chưa hiểu ý nghĩa, chưa chứng thật cảnh giới vô niệm thì bàn sao đây !!!??? Nếu cố bàn, nhất định “ô hô ai tai” !!! Không giận hờn nhau mới là…chuyện…loạ !!! Hu hu hu hu !!! Mình có đọc một vài “bình loạn” về vô niệm và vô tâm, đúng là chẳng khác gì mấy anh mù lẻo mép cao hứng bàn về màu sắc !!! Thực tế này, không im lặng để ẵm vàng, thì biết mần chi đây !!!

Để giúp Thuỳ hiểu vô niệm là gì, xin trích một bình luận về vô niệm… Theo mình thì, bình luận này đầy đủ ý nghĩa và dễ ứng dụng: “Vô niệm: Không khởi trong lòng một quan niệm nào hết (đúng, sai, thiện, ác…) về sự việc đã diễn ra…Không phán xét, không đem sự việc ấy vào trong lòng…!!!….
Lục Tổ dạy: Lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc” !!!

– Vô tâm: Chữ vô tâm được cả thế gian lẫn xuất thế sử dụng…Thế gian hiểu vô tâm như một tính từ, vô tâm có nghĩa rằng: Không hay để ý, cả đến những điều người khác thường chú ý…”vô tâm nên nói trước quên sau”, “người vô tâm”, “đàn ông vô tâm”…v..v…!!!

Còn chữ vô tâm (hay không tâm) trong Phật đạo, là thuật ngữ để chỉ cảnh giới của người giác ngộ đã chứng diệt đế…Nó hoàn toàn không giống ý nghĩa chữ vô tâm ở đời !!! Vô tâm của cảnh giới của người đã giác ngộ là, khi đối cảnh, vị ấy không sinh khởi các thứ tâm hư vọng như những gì kinh Kim Cang đã dạy: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm…Bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm…Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm” !!!

Theo những gì đã trình bày trên, ta có thế thấy “vô tâm” và “vô niệm” trong Phật đạo chỉ là hai mặt của một vấn đề !!! Cái này thành tựu, tức thì cái kia thành tựu !!! Cái này sanh diệt, tức thì cái kia sanh diệt !!! “Nhất chơn, nhất thiết chơn” !!!

Cho nên, câu nói: “Vô niệm hay không chấp một niệm nào thì dần dần sẽ trở thành vô tâm” !!! Câu nói này nhất định có vấn đề (theo quan điểm Phật đạo), và người nói chắc chắn không phải là người am tường Phật đạo !!! Vì rằng, người thật sự giác ngộ cảnh giới vô niệm chẳng bao giờ nói như thế, do họ biết rõ niệm và tâm tuy hai mà một, hai thứ ấy như bóng với hình…Cái này là thể, thì cái kia là dụng…Làm gì có chuyện dần dần !!!

* Hỏi: “Con hiểu rằng, không phải vô tâm. Mà khi tâm lặng dừng phiền não sinh diệt, nhất định từ bi sẽ hiện thì sao lại thành người vô tâm…nhưng con vẫn mong thầy có thể từ bi chỉ dậy cho con ạ” !!!

* Trả lời: Thuỳ thân mến !!!
Kết luận của Thuỳ, theo mình là “có thể chấp nhận” đối với cảnh giới tu tập hiện nay của bạn !!! Cứ như kết luận (tạm thời) ấy mà tu tập !!! Cứ như hiểu biết đó mà ứng dụng vào đời sống, nhất định phiền não sinh diệt sẽ tịch diệt và từ bi sẽ nảy nở !!! Đây là con đường đúng !!! Ha ha ha ha !!! Lúc này, vô tâm hay hữu tâm chưa quan trọng, mà ưu tiên một là, làm thế nào để phiền não sinh diệt chấm dứt, từ bi tâm phát khởi !!!

* Một vài góp ý !!! Thuỳ thân mến !!! Đối trước phát biểu của ai đó về đạo pháp, không nên vội kết luận phát biểu ấy là đúng hay sai, cũng không nên tranh biện, mà phải “lặng lẽ quan sát” và sau đó, ta thực hiện những bước sau:

– Đánh giá mức độ tu tập của người nói: Ở đời, có rất nhiều người chưa từng tu tập, không hiểu gì về Phật đạo, hoặc hiểu rất mơ hồ nhưng thích phê phán (bình luận) người tu hành !!!

– Để ý xem, người nói có hiểu đúng điều mình đã nói hay chưa: Ở đời, có rất nhiều người học thuộc văn tự mà không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa…Vì thế, khi người ấy nói hay viết, văn tự cùng ý nghĩa không chính xác (lộn lạo giữa thế gian và xuất thế)…Nói, viết để thoả mãn nhu cầu được nói (hay viết), hơn là nói có trọng tâm và đúng ý nghĩa để lợi mình, lợi người !!!

Xem xét từng đối tượng cụ thể, sau đó ta có những ứng xử thích hợp !!! Ví dụ:

* Với người nói sai nhưng biết lắng nghe, ham thích tu tập…Xét thấy hợp thời, ta ôn tồn điều chỉnh tri kiến của họ, có những giải thích phù hơp tâm cơ hiện tại của người đó, và giúp họ đi đúng hướng !!!

* Với người hiểu sai, không biết lắng nghe, tâm tình cố chấp, bụng dạ hẹp hòi, chỉ muốn đấu tranh, đầy rẫy tà kiến, ham nói hơn nghe…Ta nên im lặng, tìm cơ hội “chuồng” cho lẹ để khỏi phiền phức !!!

* Với người không hề biết Phật pháp là gì, chẳng thích tu hành, không ưa đạo pháp…Nhưng gặp người tu hành là chỉ trích, bắt bẻ…Đối với hạng người này, nên dấu kín chuyện tu tập…Giả lả cho qua chuyện, nếu cần, nịnh vài câu cho họ mát dạ để mai mốt được ăn nhậu, uống cà phê miễn phí !!!

Cuối cùng !!! Mỗi một thuật ngữ của Phật đạo, đều là những từ ngữ chỉ cảnh giới tu hành…Không cùng cảnh giới, không đồng thuận ý nghĩa, rất khó bàn luận !!!

Hy vọng, những gì đã trao đổi, Thuỳ sẽ có đủ tự tin trong tu học, cũng như có những hành xử phù hợp trong giao tiếp !!! Chúc Thuỳ và bạn đọc an vui, tinh tấn !!!

Để kết thúc chuyên mục kì này, xin giới thiệu đến các bạn môn THÁM PHÚC CÔNG, trích từ TÂM PHÁP của LÝ TỨ !!!

“Lão Huynh ơi! Lão Huynh chuyên nghề mua bán, để tránh lầm đồ dỏm đồ giả, tôi có môn công phu gọi là Thám Phúc Công, môn công phu này có cái hay riêng của nó, đó là sờ cái bụng mà biết cái tâm. Vì thế mới có tên là Thám Phúc. Luyện thành công phu này, cái miệng người đời dù nói nhiều hay ít cũng không gạt được Lão Huynh, bán buôn nhất định thắng lợi…!!!

Để tôi nói sơ lược công phu này cho Lão Huynh nghe, vui thì luyện, buồn thì thôi thành hay không chẳng hại gì…!!!

Khi gặp người tu hành, muốn biết thiệt giả, chỉ cần Lão Huynh lấy năm ngón của bàn tay phải của mình, lật ngược gõ gõ vào bụng của họ…Nếu nghe tiếng bịch bịch như trái mít chín cây, Lão Huynh lại chú tâm định thần, thoảng nghe có mùi khai khai thì biết hạng này trong bụng chỉ chứa toàn xôi chuối, mau mau cúng dường một ít rồi đảnh lễ mà lui….!!!

Nếu Lão Huynh gõ gõ bàn tay vào bụng mà nghe lộc cộc như cua ốc bò trong thau đồng, lại có mùi hôi mốc thì Lão Huynh biết người này tạp văn chứa đầy trong bụng, tà kiến toàn thân, mau mau cúng đương một liều thuốc xổ, để lâu có hại cho người…!!!

Còn nếu đó là tiếng cạch cạch như gõ vào gỗ quý, lại có mùi thơm giáng hương, thì biết người này đầy bụng Kinh Điển nhưng chưa tiêu hoá được, phải cấp tốc cúng dường vài hộp thuốc tiêu…!!!

Cuối cùng nếu Lão Huynh gõ vào mà nghe như tiếng thùng rỗng, kêu dậy trời lại có mùi chiên đàn thì mau mau sụp gối lễ lạy để nghe đạo lý. Bằng không được thì phải đấm lưng, cạo chân để tìm chút phước, họa may nghe đặng pháp âm…!!!

Môn này tôi đã luyện thành, chưa sai một ly, chưa trật một lần. Vì thế từ ngày ra giang hồ đến nay chỉ bị gạt ngân lượng, chứ chưa từng bị gạt về đạo lý. Lão Huynh thử xem, học thần công này, may ra làm ăn có lãi”….(Trích Tâm Pháp – Lý Tứ)

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Vô Niệm - Vô Tâm

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Tu Ba La Mật

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Trong Phật đạo, để giúp người tu hành có những phản xạ tối ưu trong đời sống, ngoài việc học tập hầu có tri kiến tốt, người ta còn phải tu tập các pháp Ba la mật !!! Ba la mật là đáo bỉ ngạn !!! Đáo bỉ ngạn có nghĩa đưa tất cả mọi thứ tâm thức (thế gian) sang bờ giải thoát (bờ kia) !!!

Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được câu hỏi của bạn Lê Ngọc Tới !!!

Lời đầu tiên, thay mặt BQT xin gởi đến bạn Lê Ngọc Tới lời chúc sức khoẻ !!! Năm mới 2020 chúc bạn tinh tấn, thành công trong cuộc sống cũng như việc tu học !!!

Bạn Lê Ngọc Tới hỏi:

“Mục Bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời rất cần với người tu học Phât Đạo. Cám ơn Ngài LÝ TỨ và BQT đã tạo ra trang này để nhiều người tìm hiểu Phật Đạo qua trang mạng. Đầu năm mới xin chúc sức khỏe đến Ngài và BQT chân thành.

Tôi có câu hỏi như sau:
Ví dụ lúc mình đi xe, trong vô minh gặp chướng ngại thì giật mình. Đúng ra là trở về với lái xe nhưng lại trở về với tư tưởng trước rồi sau đó với đến chướng ngại của lái xe. Vậy theo Phật học thì giải thích hiện tượng này như thế nào ?
Mức độ của Tâm không khăng khít với sự kiện đang diễn ra thì nên niệm như thế nào cho đúng” ? 03/01/2020 11:16:41 – Lê Ngọc Tới

Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!

“Giật mình (startle) là một phản ứng tự nhiên của cơ thể con người chống lại các kích thích bất ngờ và đột ngột, một cơ chế tự phòng thủ của chúng ta. Kể từ thuở sơ khai, phản ứng tự nhiên này đã ra đời nhằm bảo vệ loài người…” (Theo Kênh 14.vn)

Như vậy ta có thể thấy, giật mình trước một sự cố bất ngờ là một trong những phản xạ tự nhiên của cơ thể…Chính nhờ những phản xạ tự nhiên này, cơ thể tránh được một số rủi ro nhất định khi lí trí chưa kịp can thiệp !!! Ví dụ, một vật lạ bỗng dưng bay vào mắt, cơ thể sẽ giật mình và nhắm mắt lại !!! Khi đang lái xe, sự cố bất ngờ xảy ra, người lái xe giật mình đánh lái để tránh…v..v…!!!

Phản xạ, hay phản xạ tự nhiên, là một phản ứng tự phát và gần như tức thời để đáp ứng với các kích thích bên ngoài và bên trong. Phản xạ xảy ra khi các dây thần kinh phản xạ có thể tác động lên xung lực trước khi xung lực đó di chuyển tới não. Phản xạ sau đó là một phản ứng tự nhiên với một tác nhân kích thích mà không cần ý thức của não bộ. (Theo Wikipedia) !!!

Cơ chế giật mình sẽ giảm dần khi con người được trang bị nhiều kinh nghiệm sống và các giác quan ít nhạy bén ở tuổi già !!! “Khi lớn lên, kinh nghiệm sống nhiều hơn, con người ít giật mình hơn. Đơn giản chỉ bởi vì khả năng nhận biết mối nguy hiểm của chúng ta ngày một tốt lên và không dễ để “hú òa” như thời bé nữa”. (Theo Kênh 14.vn)

Theo như những gì đã lí giải ở trên thì, kinh nghiệm sống (hoặc tu tập) càng phong phú, bản lãnh sống được trang bị tốt hơn thì, tầng suất “những cú giật mình” sẽ giảm theo !!! Điều này cho phép chúng ta liên hệ đến việc giật mình và thành quả tu tập !!!

Theo mình biết, đối với đạo pháp, tuỳ vào thành quả tu tập của mỗi cá nhân, mức độ giật mình và sự can thiệp của lí trí vào sự việc đó đến chậm hay mau hoàn toàn không giống nhau !!! Người có công phu hàm dưỡng cao, trí tuệ sâu, ít giật mình cũng như việc xử sự của lí trí sau cú giật mình đến nhanh hơn !!! Ngược lại, người có công phu hàm dưỡng thấp, trí tuệ chậm lụt dễ giật mình và xử lí sự cố chậm !!!

Nói chung, như bạn hỏi: “Đúng ra là trở về với lái xe nhưng lại trở về với tư tưởng trước rồi sau đó với đến chướng ngại của lái xe. Vậy theo Phật học thì giải thích hiện tượng này như thế nào” ?

Hiện tượng này theo mình thì, tuỳ vào mỗi người, như những gì phân tích ở trên, nó không có một chuẩn chung !!! Vì thế, tinh tấn tu tập, là cách tốt nhất để có thể bình tĩnh trước mọi tình huống, và là việc chúng ta nên làm để giảm thiểu tầng suất giật mình cũng như giúp trí tuệ can thiệp mau chóng hơn !!!

Bạn hỏi: “Mức độ của Tâm không khăng khít với sự kiện đang diễn ra thì nên niệm như thế nào cho đúng” ?

Theo mình, khi một sự việc nào đó xảy ra, để tâm trí không xa rời đạo pháp, tốt nhất là “nên vô niệm” đối trước mọi cảnh duyên !!! Vì rằng, cho dù lúc đó ta khởi lên niệm thiện hay niệm ác…hai niệm này đều thuộc về thế gian pháp !!! Mà những gì thuộc về thế gian pháp đều chẳng có chân lí và không đưa đến an vui đích thực !!!

Trong Phật đạo, để giúp người tu hành có những phản xạ tối ưu trong đời sống, ngoài việc học tập hầu có tri kiến tốt, người ta còn phải tu tập các pháp Ba la mật !!! Ba la mật là đáo bỉ ngạn !!! Đáo bỉ ngạn có nghĩa đưa tất cả mọi thứ tâm thức (thế gian) sang bờ giải thoát (bờ kia) !!! Đưa sang bờ giải thoát chính là vô niệm !!! Vì rằng, còn bất kì một niệm nào, niệm đó cũng của bờ này (bờ thế gian), vô niệm chính là bờ kia (bờ giải thoát) !!!

Tu Ba la mật là một trong những cách rèn luyện để tâm thức có một phản xạ đáo bỉ ngạn như pháp trước mọi tình huống !!! Ứng dụng phép tu này bằng cách, người tu hành lập các tình huống giả định xảy ra đối với tự thân, sau đó cứ như pháp mà ứng xử !!!

Tập như thế đến khi tâm thức thuần thục (thành tựu Ba la mật tâm)…Khi sự thật có xảy ra, tâm người tu hành cũng không sanh sợ hãi, lí trí sáng suốt, vô niệm, vô uý !!!

Giống như người lính cứu hoả, thường xuyên luyện tập chữa cháy bằng cách lập các tình huống giả định, đưa ra những kịch bản cháy nổ khác nhau !!! Người lính tập luyện thường xuyên, tạo nên những phản xạ nhất định và chuyên nghiệp !!! Khi có một đám cháy thật, người lính cứu hoả vẫn không giật mình, không lúng túng, không sợ hãi và tự tại hoàn thành công việc của mình một cách chuyên nghiệp !!!

Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Ngọc Tới không còn băn khoăn trước những “cú giật mình” !!!

Mời Ngọc Tới và các bạn xem một đoạn TÂM PHÁP nói về Ba La Mật (Trích TÂM PHÁP – LÝ TỨ)

“Lý Tứ tiếp:
− Hòa Thượng Đại Ca! Trong con mắt của đệ, cuộc đời này chỉ là vở tuồng dài mà tác giả chính là nghiệp quả! Vở tuồng này có bi, có hài, có tráng… Người đời như những diễn viên, cứ theo kịch bản kia mà diễn suốt cuộc đời… Nghiệp quả đã bắt những diễn viên của mình vừa mới sinh ra phải đóng vở tuồng này…!!!

Đóng ngày đóng đêm, đóng riết nhập vai, khóc cười buồn vui theo vai diễn… Lâu rồi ngỡ rằng thân phận vai diễn là cuộc đời mình… Họ chưa từng một lần trong đời cởi chiếc áo diễn viên trả lại sân khấu, chưa từng thoát khỏi kịch bản đã trói buộc mình… Cứ thế trôi lăn theo tử sanh của vở diễn, hết đời này đến đời khác !!!!

Người giác ngộ, giống như kẻ từ bỏ sân khấu, làm một khán giả ngồi đấy xem tuồng… Tuy rằng đã làm khán giả, đã không còn là một diễn viên, nhưng máu nghệ sĩ hãy còn trong mình, thói quen nghề nghiệp đâu dễ dứt hẳn… Vì thế lâu lâu lại quên vai trò khán giả, lâu lâu lại phải máy động tay chân theo từng phân cảnh, theo từng điệu nhạc, theo từng lời ca…!!!

Hòa Thượng Đại Ca! Tu sáu Ba La Mật là những động thái tích cực xoá đi thói quen nghề nghiệp của người nghệ sĩ một thời, nay đã từ bỏ sân khấu cuộc đời nhưng trong lòng hãy còn vương vấn…

Tu sáu Ba La Mật chính là gọt rửa trong tâm những vết tích đã hằng sâu một thời bởi các vai diễn làm nên… Tu sáu Ba La Mật là rèn luyện cho thân tâm này chuyên chính trở thành một khán giả…!!!

Hòa Thượng Đại Ca! Hầu hết các kinh Đại Thừa, Phật đều khuyên Bồ Tát nên tu sáu Ba La Mật… Tu sáu Ba La Mật khi thành tựu, tâm này sẽ là Ba La Mật Tâm…

Người giác ngộ, nếu không tu hạnh này, đối trước nghiệt ngã cuộc đời, đối trước bất như ý của thấy nghe… trong phút chốc bất giác, trong phút giây bất chợt… trước những sự việc vượt quá kham nhẫn; nếu tâm chưa đáo bỉ ngạn, nhất định sẽ phát sinh tổn hại lớn làm cho hồ Tự Tâm lại nổi sóng mòi…

Tu sáu Ba La Mật… là tập cho tâm này “phản xạ có điều kiện”, như người võ sĩ phản xạ tốt vì đã được rèn luyện quen tay…, như người lính cứu hỏa không còn bất ngờ trước tình huống có cháy… Muốn tạo những phản xạ tích cực này, người võ sĩ, người lính cứu hỏa… phải lập những “tình huống giả định”, tập tành rèn luyện thường xuyên trước những tình huống đặt ra. Tập đến khi các vị này không còn bất ngờ trước sự thật xảy ra trước mắt… Nếu không tập luyện như thế, tính chuyên nghiệp sẽ không có trong con người này…

Vì nó là những tình huống giả định, nó là những kịch bản không thật, nên thuần thục rồi, tình huống giả định này không tồn tại trong tâm. Nhưng nếu có biến cố thật sự thì một “ứng xử chuyên nghiệp” sẽ hiện ra tức thì… Cái phản xạ chuyên nghiệp này, tạm coi như là thứ Ba La Mật tâm…

Đại Ca thử nghĩ đi… Ba La Mật là gì? Nó chính là thứ tâm không còn bất ngờ trước muôn pháp.
Nó là một thứ tâm chỉ như pháp mà ứng xử…
Nó không như tâm đời, không như ứng xử của người đời… (Trích TÂM PHÁP)

Chúc bạn đọc an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Tu Ba La Mật

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Trần Sa.

MB 857 Lý Diệu Sinh 19.02.2023

Con người bị rất nhiều thứ làm cho mê mờ, từ đó phát sinh các món phiền não !!! Một khi trí bị che mờ, tâm bị phiền não thì người ấy không còn sáng suốt, dẫn đến mất thanh tịnh…Gộp chung hai thứ mê mờ và phiền não, Phật đạo gọi là lậu hoặc !!!

Các bạn !!!
Trong tuần BQT nhận được câu hỏi của Tâm Đức (Huế)…Câu hỏi như sau:

Xin hỏi BQT cùng thầy Lý Tứ, con nghe nói có ba thứ hoặc là kiến hoặc, tư hoặc và trần sa hoặc. Xin BQT và thầy giải thích dùm ý nghĩa, sự khác biệt cũng như cách đoạn trừ ba thứ hoặc nói trên? 29/12/2019 22:37:52 Tâm Đức

Tâm Đức thân mến !!!
Mình xin lần lượt trả lời các thắc mắc của bạn như sau:

Con người bị rất nhiều thứ làm cho mê mờ, từ đó phát sinh các món phiền não !!! Một khi trí bị che mờ, tâm bị phiền não thì người ấy không còn sáng suốt, dẫn đến mất thanh tịnh…Gộp chung hai thứ mê mờ và phiền não, Phật đạo gọi là lậu hoặc !!! Lậu: Rĩ chảy; Hoặc: Che mờ !!!

Ta có thể hiểu tâm và trí của một con người giống như tấm kính chắn gió của chiếc xe hơi…Nếu tấm kính trong suốt (dụ cho trí không bị che mờ), người lái xe sẽ thấy rõ mọi thứ, những sai lầm khi điều khiển chiếc xe sẽ không xảy ra (dụ cho tâm thanh tịnh, không phiền não) !!!

Nếu tấm kính chắn gió bị nước mưa chảy lên làm mờ đi (dụ cho các lậu xuất hiện), người lái xe không thấy đường điều khiển (dụ cho hoặc loạn hiện hữu), nhất định phiền não sẽ xuất hiện !!! Không thấy đường là phiền, sự cố xảy đến là não !!!

Liên hệ ví dụ trên, ta sẽ thấy người tu hành khi chưa giác ngộ, tâm và trí luôn luôn gặp những sự cố như vậy từ lậu hoặc, khiến không thể thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo !!! Để trả lại sự trong sạch cho bổn tâm, sáng suốt cho trí tuệ, Phật đạo chỉ ra rằng có hai thứ làm che mờ tâm trí, đó là kiến hoặc và tư hoặc !!! Muốn thanh tịnh, sáng suốt, không phiền não phải tịch diệt hai thứ này !!!

* Kiến hoặc: Là những thứ che mờ do nhận thức không đúng với chánh pháp !!! Kiến hoặc thuộc về lỗi nhận thức, người xưa gọi là lợi sử, gồm các món: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến !!!

* Tư hoặc: Là những thứ thuộc lỗi hành vi, khi ba nghiệp (thân, khẩu, ý) tạo tác sẽ phát sinh phiền não !!! Tư hoặc thuộc lỗi hành vi, người xưa gọi là độn sử, gồm các món: Tham, sân, si, mạn và nghi !!!

Để đoạn trừ kiến hoặc, người tu hành phải được trang bị những kiến thức cơ bản của Phật đạo nhằm tránh những nhận thức sai lầm, gọi là người có chánh kiến…Các thứ nhận thức cơ bản cần được trang bị là:

* Thấy biết chân chánh về thân và các cảm thọ, thoát khỏi thân kiến !!!
* Thấy biết chân chánh về các pháp, thoát khỏi biên kiến !!!
* Thấy biết chân chánh về ngã và tám thức, thoát khỏi kiến thủ kiến !!!
* Thấy biết chân chánh về nguồn tâm, thoát khỏi giới cấm thủ kiến !!!
* Thấy biết chân chánh về con đường đưa đến giác ngộ, thoát khỏi tà kiến !!!

Khi có được nhận thức như pháp, người này y theo những nhận thức đó mà quan sát thân tâm và thế giới, gọi là người có “giác lực” !!!

Sau khi thành tựu giác lực, vị này lấy những hiểu biết ấy làm chánh niệm và chánh tư duy !!! Niệm và tư duy đến khi nào những nhận thức từ giác lực trở nên nhất tâm, gọi là “thường giác quán”…!!!

Giác quán chi phối toàn bộ đời sống người ấy đến không thể đảo ngược (gọi là sơ bất thối)…Thành tựu đạo quả sơ bất thối, “giác lực” biến thành “huệ lực” !!!

Sức mạnh của huệ lực giúp mọi hành động, nghĩ suy của người ấy không xa rời chánh pháp, từ đây các thứ chánh còn lại là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng…v..v…thành tựu theo !!! Lỗi hành vi hay độn sử là tham, sân, si, mạn…v..v… sẽ tự tịch diệt !!! Đây là lí do vì sao một Tu đà hoàn (sơ ngộ) đoạn ba kiết sử cơ bản là thân kiến, giới cấm thủ và nghi…Mà không đoạn ngay ba độn sử tham, sân, si !!!

Thành tựu sơ ngộ của một Tu đà hoàn dựa trên cơ sở: Nhận thức thay đổi, hành vi thay đổi, hành vi thay đổi các độn sử tự diệt !!! Giống như một người thấu suốt nguyên lí giải toán, sẽ có thể giải tất cả các bài toán dưới mọi dạng thức !!!

Về nguyên tắc, người tu hành thành tựu những điều nêu trên, phiền não, kiết sử, lậu hoặc sẽ tịch diệt vĩnh viễn, chứng nhập đạo quả vô lậu !!! Thế nhưng, tập khí phiền não, sinh pháp, sinh tâm của một hữu tình vẫn còn thừa sót do nhiều đời vị ấy đã sống trong ba cõi, những thừa sót trong tâm thức của đạo quả vô lậu giống như một vết hằn trên da thịt từ vết thương quá sâu… Tuy giờ đây vết thương đã lành, nhưng vết hằn hãy còn đó, đôi khi âm thầm phát tác, kinh gọi là “nọc của chuột độc ba cõi hãy còn” !!! Thứ phiền não, kiết sử, lậu hoặc nhỏ nhiệm còn thừa sót trong thánh quả, Phật đạo gọi là Trần sa hoặc !!!

Cho nên, trần sa hoặc là những hoặc loạn nhỏ nhiệm như hạt bụi, còn thừa sót trong tâm trí của những vị đã chứng thánh quả, tuy đã chứng thánh quả nhưng lâu lâu lại tái phát như nọc chuột độc lâu lâu phát tác !!!

Muốn đoạn dứt trần sa hoặc, có hai cách:
* Một là, vị này phải ở yên nơi Niết Bàn chân đế, đợi đến khi được Phật khai Phật tri kiến mới hồi tâm học trí tuệ để tịch diệt vĩnh viễn (Trường hợp các La Hán nhập Niết Bàn) !!!

* Hai là, vị ấy phải phát tâm Vô thượng Bồ đề ngay hiện đời để học trí tuệ…Trong quá trình học trí tuệ và làm công hạnh, trần sa hoặc sẽ trở thành một trong những đối tượng giúp hành giả quan sát để phát khởi từ bi tâm và sanh trí tuệ !!!

Tóm lại: Kiến hoặc thuộc về nhận thức !!! Tư hoặc thuộc về hành vi !!! Trần sa hoặc thuộc về di chứng !!! Để hoàn toàn tịch diệt ba thứ hoặc này, Phát tâm Vô thượng Bồ đề để thành tựu Vô thượng Trí tuệ là con đường duy nhất giúp người tu hành vĩnh viễn tịch diệt ba thứ hoặc nêu trên !!!

Tâm Đức thân mến !!!
Hy vọng những giải thích trên, sẽ giúp bạn hiểu thêm về ba thứ hoặc mà người tu hành cần phải đoạn trừ !!! Chúc bạn mau chóng thành tựu đạo quả vô lậu !!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Trần Sa.

Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Trần Sa.

Kiến Hoặc, Tư Hoặc, Trần Sa.

Subscribe to