Giới Thiệu Về Tâm Pháp
Các bạn !!!
Hôm qua, nhận được demo bìa cuốn sách Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ do Thuỷ Ana (Giám đốc Hanoibooks) gởi cho mình và đề nghị có ý kiến !!! Hình vẽ bản demo dựa vào ý tưởng từ bản vẽ của Lý Ngân Thoa gởi cho mình lúc trước !!!
Tất nhiên, đây chỉ là bản demo, chưa phải bìa chính thức !!! Vì rằng để có bìa chính thức, từ bản demo này sẽ được các bên đóng góp ý kiến, sửa chữa, thêm bớt..v..v...sau đó mới được hoạ sĩ vẽ bìa hoàn thiện và chuyển đến Nhà xuất bản !!!
Nhận được bản demo, mình nhớ lại quá trình những cuốn sách của mình ra đời !!! Trong chặng đường đã qua, mỗi cuốn sách chính thức lên kệ, là niềm vui vô bờ của tất cả HĐ Lý Gia với bao chờ đợi !!! Vô Đối Môn ra đời bằng những dòng nước mắt hạnh phúc của HĐ Lý Gia từ Bắc đến Nam !!! Các bạn đã ôm nhau khóc, những giọt nước mắt của hơn mười năm chờ đợi và rồi ngày vui cũng đến !!! Lúc ấy hình ảnh Vô Đối Môn cũng như những nụ cười hạnh phúc xen lẫn nước mắt của HĐ Lý Gia tràn ngập các trang mạng !!! Xin tri ân Thường Xuân Vân Đài và Thuỷ Ana...hai người bạn đã có công đầu đưa các cuốn sách của Lý Tứ đến với đông đảo bạn đọc !!! Hôm nay, Thuỷ Ana đã là HĐ Lý Gia và Thường Xuân Vân Đài trở thành tri kỉ !!!
Từ lần đầu tiên ấy, thế là các cuốn như Tâm Pháp, Phật Giáo Và Thiền, Anh Lạc Luận 1, Chuyện Trên Mây cũng nối gót lên kệ...và hôm nay, Anh Lạc Luận 2, Chuyện Chi Đây, Tâm Tông và Trò Chơi Trí Tuệ sắp sửa chào đời !!!
Để đánh dấu chặng đường đã qua về những cuốn sách mình !!! Xin chuyển đến các bạn, đoạn văn ghi lại buổi phỏng vấn của một phóng viên báo chí với Lý Tứ xoay quanh chuyện viết sách !!!
01/07/2021
LÝ TỨ
KHÁCH:
1) Tâm Pháp ra đời cùng thời điểm với hai tác phẩm Vô đối môn, Phật giáo và thiền. Nhiều độc giả nói rằng Tâm Pháp là cuốn sách vượt ra khỏi những tác phẩm trước đây của ông bởi có chất văn chương cổ trang trong tác phẩm đậm màu sắc Phật đạo này. Ông có thể chia sẻ nguồn cảm hứng từ đâu để ông viết Tâm Pháp và xây dựng nên dòng Ô Giang cùng các nhân vật đậm chất cổ trang như thế? Ông từng đọc tiểu thuyết cổ trang nhiều không???
LÝ TỨ:
Có thể nói, hồi còn nhỏ, mình thuộc loại “ghiền chữ”, cứ thấy ở đâu có chữ là đọc và đọc, “thượng vàng hạ cám”, mình đọc bất kể những gì bắt gặp! Hồi ấy, trẻ con không có nhiều thứ giải trí như bây giờ. Thế hệ của mình, đọc sách vừa là niềm vui, vừa là văn hoá, và mình đã đọc rất nhiều tiểu thuyết cổ trang. Có lẽ, hình ảnh cũng như văn chương từ tiểu thuyết cổ trang đã một phần nào đó ảnh hưởng đến cách viết của mình sau này!!!
Về cuốn Tâm Pháp, trong một lần mổ mắt, tuy thầy thuốc không cho sử dụng máy tính, nhưng yêu cầu mỗi ngày phải viết điều gì đó để “hộ trì” cho Huynh Đệ đang tu tập, thế là mình viết về chuyện hai con mắt. Dự tính chỉ viết một số bài về đề tài này, nhưng rồi mọi người yêu cầu viết tiếp, thế là mình không dừng được và viết thành một câu chuyện dài.
Trong một lần tình cờ, xem video du lịch giới thiệu về các thắng cảnh, bắt gặp video nói về thôn Lưu Khanh và dòng Ô giang, bối cảnh ở đó phù hợp với câu chuyện dự định viết. Thế là, mình tìm kiếm, tập trung tư liệu có liên quan, xây dựng nhân vật, và bắt tay vào viết Tâm Pháp!!!
KHÁCH:
2) Viết tiểu thuyết cổ trang đã khó, viết tiểu thuyết cổ trang lại mang sứ mệnh “chở những kiến thức Phật đạo” đến với độc giả còn khó hơn. Trong Tâm Pháp, ông không chú tâm khai thác đời sống nội tâm của nhân vật. Mà đi sâu vào nhận thức của nhân vật trên con đường cầu đạo, tu tập. Sự xuất hiện của Trung Nguyên Cửu Tuyệt rồi câu chuyện của Hạng Vũ tự vẫn bên dòng Ô Giang vì nghiệp đao kiếm ... ông muốn gửi gắm tới nhân vật của mình câu chuyện nhân quả của đạo Phật: Một đời phòng hộ bằng gươm đao lại chết vì gươm đao? Hay còn câu chuyện về hư danh của con người không thể buông bỏ???
LÝ TỨ:
Những gì mình viết trong Tâm Pháp, chủ yếu giới thiệu đến người đọc các giá trị cao đẹp của Phật đạo. Một trong những giá trị tuyệt vời đó là, Phật đạo không coi trọng quá khứ của một con người. Dưới nhãn quan của Phật đạo, mọi người trong hiện tại đều bình đẳng, tâm thức của người chưa giác ngộ giống như một hang động, cho dù hang động ấy tăm tối cả ngàn năm, chỉ cần một ngọn đuốc được đốt lên, tức thì hang động đó bừng sáng. Cái sáng của hôm nay, xua tan tất cả tăm tối từ quá khứ và soi sáng đến tận vị lai!!!
Giá trị đẹp nhất của Phật đạo theo mình, là đem đến cho mỗi con người trong hiện tại một đời sống hạnh phúc và bình yên đích thực... Hạnh phúc và yên bình đích thực là thứ mà xưa nay con người luôn ước ao và tìm kiếm... Phật đạo chỉ ra rằng, cái được gọi là hạnh phúc và bình yên đích thực không thể có được từ những thứ bên ngoài như danh vọng, tiền tài, hơn thua, được mất, v.v... vì tính nhân quả của các thứ ấy... mà nó ở ngay trong tâm thức của mỗi người! Cho nên, những ai muốn đi tìm giá trị đích thực của Phật đạo, trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức phải biết xả bỏ những gì được coi là hư ảo theo quan điểm của Phật đạo, đây chính là tinh thần vô niệm, vô cầu trong triết lí nhà Phật...!!!
Trung Nguyên Cửu Tuyệt từ bỏ đao kiếm, dòng Ô Giang hết đục đến trong, Hạng Vũ tự vẫn vì thua cuộc... được nêu trong Tâm Pháp chính là những nét chấm phá nổi bật, giúp người đọc tìm thấy những gì cốt lõi nhất của Phật đạo mà Tâm Pháp muốn gởi gắm !!!
KHÁCH:
3) Từng câu chuyện với các nhân vật đều có những luận giải cặn kẽ về kiến thức Phật đạo của nhân vật Lý Tứ trong cuốn sách này giúp nhân vật nhận thức sâu sắc hơn trên con đường tu tập. Tại sao ông lại chọn những nhân vật: Trung Nguyên cửu tuyệt, Người lái đò, Thương gia để giúp ông chở niệm xứ “Tâm – Pháp” mà không phải những thân phận khác???
LÝ TỨ:
Trên đời, mỗi người một hoàn cảnh, một số mệnh, không ai giống ai, tuy nhiên theo mình, tất cả đều có một mẫu số chung đó là, mỗi một nhóm người có thân phận giống nhau, thường cưu mang những trăn trở giống nhau. Cho nên, những nhân vật được chọn trong Tâm Pháp là những con người tiêu biểu mang những thân phận tiêu biểu của xã hội mà chúng ta thường thấy... Vả chăng, trong chừng mực một cuốn truyện, khó có thể đưa vào đó tất cả mọi thân phận ở đời!!!
Khi viết Tâm Pháp và đưa ra những luận giải khác nhau cho từng nhân vật khác nhau để giúp nhân vật ấy giác ngộ, lúc đó mình muốn giới thiệu đến các Huynh Đệ của mình một số kĩ thuật dẫn tâm và khai ngộ... Kĩ thuật dẫn tâm và khai ngộ, có thể nói là một thứ kĩ thuật đặc thù của Phật đạo mà mọi Huynh Đệ Lý Gia cần nắm bắt cho được... Nó chính là “đòn quyết định” để hạ “knock out” phàm tâm của đối tượng trước khi đưa người ấy vào cảnh giới xuất thế! Giống như thầy thuốc phải chữa lành đôi mắt của người mù bẩm sinh trước khi đưa họ đi xem vườn hoa đẹp với những sắc màu!!!
KHÁCH:
4) Ông từng nói với cho học trò, trong tứ niệm xứ có: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Nhưng trong cuốn sách này ông lại nhấn mạnh Tâm Pháp. Ông có thể giải thích kỹ hơn về điều này được không???
LÝ TỨ:
Bốn niệm xứa Thân, thọ, tâm, pháp là bốn nơi chốn người tu hành phải gởi gắm tâm ý vào đó để tư duy, quan sát và tu tập, vì rằng phiền não khổ (hay nghiệp) tác động trực tiếp lên bốn món này.
Tuy nhiên, thân và cảm thọ sở dĩ có nhận lấy quả khổ, chỉ vì tâm và thức mê mờ, câu hữu (gắn chặt, không rời) hai món ấy... Nếu tâm không câu hữu, thức không sinh pháp thì, thân trở thành sắc giải thoát (thân không trói buộc) và cảm thọ trở thành thanh tịnh thọ (ra khỏi khổ vui) ... Do đó, có thể nói tâm và pháp mới là hai đối tượng chính khiến người ta đau khổ hay an vui, nếu giải quyết được hai niệm xứ này là giải quyết tận gốc trận chiến sanh tử khổ! Giống như muốn giải quyết tận gốc chiến tranh, người ta chỉ cần bắt vị tướng chỉ huy đầu hàng, tức thì cuộc chiến kết thúc, bình yên hiện hữu!!!
Còn một lẽ nữa, Phật đạo là đạo giác ngộ, đạo giải thoát và là đạo trí tuệ. Nên khi giải quyết rốt ráo hai niệm xứ là tâm và pháp thì, tâm bây giờ trở thành cơ sở giác ngộ và giải thoát gọi nôm na là Niết Bàn, còn thức sẽ biến thành trí tuệ (hết mờ tối).
KHÁCH:
5) Trong các chương, ông đều có trích dẫn, ví dụ: “Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp, Ai biết được pháp sẽ biết được không pháp, Ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không, Ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp. Ai thấy được thật pháp sẽ thấu được Phật pháp.” Tuy nhiên, để thấu được Phật pháp, với một người lần đầu bước chân vào con đường tu tập, cần phải học kiến thức từ đâu giữa vô vàn tác phẩm Phật đạo hiện nay???
LÝ TỨ:
Câu trích dẫn trên, hàm chứa đầy đủ quy trình học tập từ thấp lên cao của Phật đạo. Theo quy trình này, người mới bắt đầu bước chân vào con đường tu tập phải thấu rõ lý duyên khởi để thấy đâu là nguyên nhân hình thành và cách tịch diệt những quan niệm hữu vi từ bốn món thân, thọ, tâm, pháp. Tiếp theo, người ấy tu tập để thành tựu không tâm và không pháp gọi là chứng hai vô sanh. Kế đến thấu suốt nghĩa không đích thực, chân thật chứng nhập cảnh giới vô vi. Sau đó học tập vô lậu trí để thể nhập thật pháp phi hữu phi vô. Và cuối cùng thành tựu viên mãn Phật pháp! Tất cả các tác phẩm viết về Phật đạo chân chánh, mọi kiến thức trong đó đều không rời quy trình trên. Vì thế, người tu hành tìm thấy ở bất kì nơi đâu có các kiến thức theo thứ lớp như vậy, đều có thể học tập !!!
KHÁCH:
6) Chữ Ngã (cái Tôi) không chỉ là vật cản lớn nhất cho con người tu tập học đạo, mà còn là vật cản lớn nhất để con người có thể tìm được cảm giác bình yên trên đường đời. Ông có thể chia sẻ con đường nhanh nhất để diệt ngã cho người tu tập???
LÝ TỨ:
Theo quan niệm của Phật đạo, Ngã (hay cái Tôi) là vật cản lớn nhất trong việc tu hành, và nó cũng chính là tác nhân gây ra mọi hệ luỵ khiến người ta không có được bình yên chắc thật!!!
Tuy vậy, Phật đạo cũng chỉ ra rằng, cái ngã lại không thật có, nó giống như giấc mơ tuy không thật có, nhưng lại xuất hiện trong giấc ngủ! Mà cái gì đã không thật có thì chẳng thể tiêu diệt. Cho nên chủ trương diệt ngã là hình thức “giết người trong mộng”, là phương pháp “dùng lửa dập lửa”, hay “lấy nước làm khô nước”, nhất định những chủ trương như thế sẽ không khả thi! Vì thế, Phật đạo không chủ trương diệt ngã, mà chỉ giúp người giác ngộ tự thân vô ngã, khi giác ngộ đúng đắn điều ấy, cái ngã tự mất. Giống như thức dậy, giấc mơ tự mất! Hoặc mắt hết nhặm, quầng đèn tự diệt! Thiện Tri Thức chính là người có đầy đủ phương tiện thiện xảo đánh thức kẻ ngủ say đang chìm đắm trong mộng mị hữu ngã!!!
KHÁCH:
7) Trong Tâm Pháp, ông đúc kết trong những thân phận nhân vật của ông rằng: Hư danh rỗng tuếch, đánh đổi mạng sống bằng những nghi kỵ, che giấu bằng trang sức hào nhoáng hư ảo, v.v... thứ bền vững trong mỗi cuộc đời chúng sinh là có Phật tánh, sống chân thật giữa người với người quan trọng hơn đầu môi chót lưỡi. Để diệt những hư danh rỗng tuếch trên, thấu hiểu Tâm và Pháp đã đủ để đưa những người còn vô minh đến bến bờ giác ngộ???
LÝ TỨ:
Thấu hiểu Tâm và Pháp trong bốn món thân, thọ, tâm, pháp là hai cơ sở quan trọng giúp người ra khỏi vô minh đến bến bờ giác ngộ... Giống như người ta hiểu rõ bốn phép tính cơ bản của toán học là cộng, trừ, nhân, chia cùng mối liên hệ của những phép tính ấy, nhất định người ta sẽ giải quyết mọi bài toán trên đời!!!
KHÁCH:
8)Ông có cho rằng, pháp môn mà ông đã truyền dạy cho học trò của mình là ưu việt nhất hay không? Theo ông, pháp môn nào mới là tối thượng???
LÝ TỨ:
Mình không theo một pháp môn (riêng biệt) nào! Và, cũng không cho rằng, những điều đã trao đổi với HĐ của mình là ưu việt nhất. Vì rằng, tu tập trong Phật đạo là để giúp ta nhận ra “bản lai các pháp tự nó bình đẳng”!!! ... Khi nào còn thấy điều mình dạy là hay là ưu việt, điều người kia nhận thức là tầm thường, v.v... Thì phải biết rằng, sự so sánh, phân biệt cao hạ này đang là cản trở lớn nhất trên con đường tìm về chân lí!!! ... Phân biệt cao thấp là tại tâm người, chứ chẳng phải pháp có cao thấp!!!
Về câu hỏi pháp môn nào là tối thượng? Theo quan điểm cá nhân, mình không thấy có một pháp môn riêng lẽ nào gọi là tối thượng... Và theo mình, tất cả các pháp môn của Phật đều tối thượng nếu biết ứng dụng cho từng trường hợp cụ thể...!!!
Pháp môn là những lời Phật dạy, mỗi lời dạy phù hợp với một số đối tượng nhất định, khi người ta đem lời dạy đó để thực hành trong đời sống gọi là pháp môn!!! Giống như không có một thứ thuốc nào là tối thượng, mỗi loại thuốc chỉ trị được một số bịnh nhất định... Trên đời, không có thứ thuốc nào chữa tất cả các bệnh!!! ... Vì thế, cái được cho là tối thượng hay không, còn tuỳ thuộc vào thứ thuốc ấy có trị đúng bệnh của ta hay không???
Giống như không có một món ăn nào được coi là tối thượng!!! ... Món ăn nào hợp với khẩu vị của mình món ăn đó là tối thượng (với ta), nhưng không nhất định phù hợp (hay tối thượng) với người khác!!! ... Và, tuy tất cả lời dạy của Phật đều là thuốc chữa (tâm) bệnh... Nhưng, một người không rành về y học, không biết bắt mạch kê toa, mà tự ý bốc thuốc cho mình hoặc cho người uống (hoặc tất cả các thứ bệnh đều dùng chung một loại thuốc), hành động này nhất định sẽ phải trả giá!!! ...
Xin cảm ơn các câu hỏi thú vị!!!
LÝ TỨ
- HÌNH ẢNH DEMO BÌA TÂM TÔNG VÀ TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ !!!



Bát Niết Bàn
(21) BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI
Các bạn !!!
Vừa rồi, có một số HĐ hỏi mình: Thưa Thầy !!! Trong Vô Đối Môn Thầy có viết: “Phật dạy: Một hữu tình trong quá trình tiến về Vô Thượng Bồ Đề, không nhất thiết phải kinh qua Bát Niết Bàn” !!! Xin hỏi: Câu này nên hiểu như thế nào ???
Mình xin trả lời chung cho mọi người như sau !!! Để có thể hiểu đúng lời dạy trên, đầu tiên ta phải xác định mục tiêu tối thượng của Phật đạo là gì ??? Khi xác định được mục tiêu, chúng ta sẽ hiểu lời kinh vừa nêu một cách dễ dàng !!!
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật dạy: “Mục đích của chư Phật ra đời là để khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho chúng sanh” !!! Câu này có nghĩa, mục đích chư Phật ra đời là để giúp chúng sanh có được trí tuệ tối thượng như chư Phật !!! Thành Phật chính là thành tựu trí tuệ tối thượng (như chư Phật) chứ không phải thành cái gì khác !!!
Để phá bỏ các kiến chấp sai lầm của người đời khi nhìn Phật và hiểu Phật thông qua danh tướng, rồi chấp rằng một đức Phật phải là thế này hay thế kia, mà quên mất Phật chính là trí tuệ tối thượng, nên kinh Kim Cang Phật đã dạy: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai” !!! Câu này hàm ý rằng, những ai chấp nhất vào hình tướng bên ngoài, chấp nhất vào danh xưng hay truyền thuyết mà cho rằng đây là một vị Phật...Những người như thế, đang theo đạo tà (hiểu biết không chân chánh), hiểu và chấp nhất như vậy sẽ không giúp (những người ấy) thấy được ý nghĩa một đức Phật (Như Lai) đích thực (chính là trí tuệ vô tướng) !!!
Như vậy ta có thể hiểu, học tập trong Phật đạo là học tập trí tuệ, khi viên mãn trí tuệ thì sẽ trở thành một vị Phật như tất cả các vị Phật khác, không luận về hình tướng, danh xưng, xuất thân, địa vị, nơi chỗ..v..v...!!! Giống như trong giáo dục, mọi người đều có thể học tập nền giáo dục ấy, bản chất của giáo dục là không phân biệt, cũng không phải đặc quyền cho bất kì một đối tượng nào...miễn bản thân người theo học có đủ năng lực tiếp thu kiến thức, và không bỏ cuộc giữa chừng !!!
Tuy lí thuyết là như vậy, nhưng trong thực tế, người học phần lớn bị chi phối bởi nhiều thứ như: Hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, điều kiện kinh tế...v..v...khiến người ta không thể theo đuổi công việc học tập !!! Để giải quyết các vấn nạn này, xã hội và những nhà giáo dục buộc phải có các hình thức hỗ trợ cụ thể để giúp người học có thể tiếp tục công việc học tập !!!
Giáo dục trong Phật đạo, cũng có một phần nào đó giống giáo dục quốc dân !!! Tuy rằng mục tiêu của Phật đạo là trí tuệ...Thế nhưng, một người muốn học tập đạo trí tuệ, nhưng trong lòng có nhiều nỗi khổ, tâm thức tích chứa phiền não, niệm mê không dứt, ngã chấp nặng nề...v..v...Thì, những người lâm vào hoàn cảnh như vậy, cũng rất khó lòng học được thứ trí tuệ tối thượng của chư Phật !!!
Để giải quyết vấn nạn này, đạo Tứ Đế ra đời !!! Đạo Tứ Đế là một trong những công cụ tối ưu, giúp người học vượt qua những khổ hoạn của tự thân bằng ba cấp học cơ bản là Khổ Đế, Tập Đế và Diệt Đế... Cuối cùng, Đạo Đế là công cụ hỗ trợ, giúp hữu tình khắc phục những yếu kém cố hữu, đó là không biết rằng đằng sau những hình tướng hư vọng của thân tâm và thế giới mà một hữu tình đang thấy biết...Nó còn một thứ tướng khác, mà chỉ những ai thành tựu trí tuệ vô lậu mới có thể nhìn thấy, đó là thiệt tướng (thiệt tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng) !!! Từ đây, khái niệm khai Huệ Nhãn ra đời, khái niệm Trí Tuệ Vô Tướng ra đời !!!
Như vậy, ta có thể hiểu: Đạo Tứ Đế hay Hoá Niết Bàn chỉ là công cụ tạm thời, giúp hữu tình vượt qua một số trở ngại nhất định của tự thân, mà chính những trở ngại này khiến họ không thể an ổn cũng như sáng suốt để tiếp nhận trí tuệ tối thượng của chư Phật !!! Đây là lí do vì sao, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật dạy: “Chỉ có nhất thừa, không có hai ba thừa”...Hoặc kinh này cũng dạy: “Phương tiện cho ba xe, nhưng rốt cùng chỉ một xe trâu trắng” !!! Kinh Bát Nhã cũng nói với đại ý: “Vô khổ, tập, diệt, đạo” !!!
Lịch sử đã ghi nhận, có những thực tế trong đạo cũng như ngoài đời...Không thiếu những người tự vượt qua trở ngại bản thân để chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ !!! Nhưng, những người như vậy quá hiếm hoi !!! Đây là lí do vì sao chư Phật phải hoá hiện Bát Niết Bàn thông qua con đường Tứ Đế, trong khi đó cốt tuỷ của đạo Phật là dạy người thành tựu trí tuệ chứ chẳng phải Niết Bàn !!!
Các lời dạy như: “Ông trưởng giả phải một phen lột chiếc áo cao quý (Trí Tuệ Tối Thượng), khoác lên mình chiếc áo hôi nhơ (Tứ Đế và Ba Thừa) để đồng sự cùng gả cùng tử (dạy các pháp quyền tiểu của Bát Niết Bàn)” !!! Hay, “Chư Phật xưa dùng ba thừa, nay ta cũng dùng ba thừa mà giáo huấn” !!! Các câu nói này, có lẽ đến giờ này các bạn không còn lấy làm lạ !!!
Như vậy câu nói: “Một hữu tình trong quá trình tiến về Vô Thượng Bồ Đề, không nhất thiết phải kinh qua Bát Niết Bàn” là một sự thật của giáo dục Phật đạo !!! Nhưng, trường lớp, bản đen, phấn trắng, ăn no, mặt đẹp, đồng phục uy nghi...v..v...tuy không can dự gì đến việc cung cấp kiến thức, nhưng thiếu nó, việc dạy và học khó có thể hoàn thành...đây cũng là một sự thật của giáo dục !!!
Viết đến đây, Lão Lý bỗng dưng cảm thấy trở nên thông tuệ, bèn cao hứng sáng tạo ra “Triết Lí Ổ Bánh Mì”...Dựa trên cơ sở lí luận được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống như sau: “Ổ bánh mì không làm nên nhà Bác Học...Nhưng, thiếu ổ bánh mì, nhà Bác Học có nguy cơ sẽ trở thành nhà Thất Học dễ...như...chơi !!! Vì thế, bánh mì vẫn là...muôn...năm trong cuộc sống” !!! Ha ha ha ha !!!
GHI CHÚ:
Bát-niết-bàn (zh. 般涅槃, sa. parinirvāṇa, pi. parinibbāna) là tịch diệt hoàn toàn, đồng nghĩa với Niết Bàn (sa. nirvāṇa). Thường thường người ta hiểu Bát-niết-bàn là Niết-bàn vô dư, nhưng cũng có người hiểu Bát-niết-bàn là Niết-bàn hữu dư, thậm chí có người hiểu cái chết một vị tăng, ni cũng là Bát-niết-bàn. (Theo Wikipedia) !!! Hi hi hi hi !!! Chữ bát (pa) ở đây không phải là tám, cũng chẳng phải là rộng lớn !!! Chớ có hiểu lầm !!!
Để kết thúc CHUYỆN MỤC BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI kì này !!! Xin chuyển đến các bạn bài viết của HOÀNG TUẤN CÔNG đăng trên Blog TUẤN CÔNG THƯ PHÒNG !!!
“Đời Tấn (晉) có người học trò tên là Xa Dận (車胤), tự Vũ Tử (武子), thông minh dĩnh ngộ ham học, nhưng gia cảnh bần hàn. Nhà nghèo, không đủ tiền mua dầu thắp sáng, nên vào những đêm hè, Xa Dận bắt đom đóm bỏ vào một cái túi lụa, gọi là “nang huỳnh” 囊螢 (túi đom đóm) để tạo ra ánh sáng đọc sách thâu đêm. Đến khi trưởng thành, Xa Dận càng nổi danh mẫn tiệp, thông tuệ, sau làm tới chức Lại bộ thượng thư.
Cũng vào đời Tấn, còn có một anh học trò khác, tên Tôn Khang (孫康), nhà cũng rất nghèo. Tối đến không có dầu đèn để xem sách, Tôn Khang cảm thấy đêm dài như vô tận. Đến mùa đông tuyết rơi, anh học trò nghèo Tôn Khang thường ngồi cạnh cửa sổ, nhờ ánh sáng phản chiếu của tuyết trong đêm để đọc sách, sau thành tài, làm quan tới chức Ngự sử đại phu.
Người đời sau đặt nên thành ngữ “Nang huỳnh độc thư” 囊螢讀書 (Đọc sách bằng túi đựng đom đóm) hay “Ánh tuyết độc thư” 映雪讀書 (Đọc sách bằng ánh sáng của tuyết) chỉ những tấm gương hiếu học, vượt qua mọi gian khổ. Các dị bản “Nang huỳnh tích tuyết”; “Tập huỳnh ánh tuyết”; “Tụ huỳnh tích tuyết”; “Chiếu huỳnh ánh tuyết”.v.v…đều chỉ hai tấm gương hiếu học Xa Dận và Tôn Khang đời Tấn.
.........
Chính vì khó, mà trải qua hàng ngàn năm, đất nước Trung Quốc rộng lớn với hàng tỉ người, nhưng đọc sách bằng ánh sáng đom đóm cũng chỉ dừng lại con số 1 duy nhất-một người duy nhất sống ở thời kỳ mà hư thực thường hay ẩn hiện trong màn sương huyền hoặc. Bởi vì khó, nên mới được sử sách lưu danh. Nếu đọc được sách dễ dàng, thì chắc hẳn “đèn đom đóm”, hay “ánh tuyết” đã trở thành một thứ “năng lượng” được người khai thác rộng rãi, chứ không chỉ dừng ở những giai thoại trong sách vở.
.........” !!!
20/12/2019
LÝ TỨ
Các bạn có thể gởi câu hỏi theo đường link sau:
👉https://bit.ly/38Z5V0Q
THÔNG BÁO
Đến giờ này, BQT đã nhận các câu trả lời TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 05/2019 của: Lý Ca Ca (Cần Thơ), Lý Ngọc Thuý (Cần Thơ), Lý Hậu Vệ (Cần Thơ), Lý Anh Tị (Quảng Nam), Lý Nhạn Ảnh (Quảng Nam), Lý Thái Đăng (Buôn Ma Thuột), Lý An Lạc (Houston), Lý Giác Thư (Hà Nội), Lý Thiện Huệ (An Giang)....Hạn chót nhận bài viết: 23/12/2019 !!!


Bình Thường Tâm Thị Đạo
Về ý nghĩa của câu “bình thường tâm thị đạo”, để có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của nó, mình xin đưa ra hai cảnh giới tiêu biểu, nhằm nêu lên tính chất sai khác của cái được gọi là “bình thường (tâm) của đời”, và “bình thường (tâm) của đạo” !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được các câu hỏi của Trần Trọng Tuệ TP Đà Nẳng, và của Huệ Nghi (không địa chỉ)…Mình xin lần lượt trả lời từng bạn như sau:
1) Bạn Trần Trọng Tuệ hỏi: Trong giới tu hành thường hay nói “tâm bình thường là đạo”. Theo Trọng Tuệ, những người sinh ra trên đời nếu không có vấn đề thần kinh đều là người bình thường. Xin hỏi hai chữ bình thường ở đây được hiểu như thế nào để đúng với đạo? Và bình thường tâm đã là tâm cuối cùng trong đạo hay chưa? Mong ngài Lý Tứ cùng BQT giải nghi cho Trọng Tuệ! 02/12/2019 2:30:15 Trần Trọng Tuệ Đà Nẳng
– Bạn Trần Trọng Tuệ thân mến !!!
Câu nói “bình thường tâm thị đạo” là câu nói mà hầu như người tu hành nào cũng từng được nghe qua, và cũng là mục tiêu người trong Thiền môn nhắm đến !!!
Câu nói này, gần như tư tưởng chủ đạo trong các bài thuyết pháp của Lục Tổ Huệ Năng, sau đó được nhắc đến trong mẫu đối đáp giữa Triệu Châu và Nam Tuyền:
“Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện:
– Như hà thị đạo ? (Thế nào là đạo?)
Ngài Nam Tuyền trả lời:
– Bình thường tâm thị đạo (Tâm bình thường là đạo)”
Xét về tính chân lí của câu nói trên, theo mình đây là câu trả lời tuyệt vời, tuy ngắn gọn nhưng bao hàm đầy đủ ý nghĩa của Đạo Giải Thoát !!!
Về ý nghĩa của câu “bình thường tâm thị đạo”, để có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của nó, mình xin đưa ra hai cảnh giới tiêu biểu, nhằm nêu lên tính chất sai khác của cái được gọi là “bình thường (tâm) của đời”, và “bình thường (tâm) của đạo” !!!
* Bình thường (tâm) của đời: Là một thứ tâm thức của những người không có vấn đề về bệnh lí thần kinh, không có vấn đề về tâm sinh lí, mọi sinh hoạt như: Học tập, nghĩ suy, lao động, lối sống..v..v… thực hiện theo những chuẩn mực chung (của xã hội) giống mọi người bình thường khác !!!
* Bình thường (tâm) của đạo: Là cảnh giới của người giác ngộ !!! Đây là một loại tâm thức không bị tác động bởi cảnh duyên…Hay nói khác hơn, một thứ tâm thức đã thấu suốt bản chất của cảnh duyên cùng các pháp, cho nên dù có đối trước cảnh duyên hay các pháp…Các thứ tâm hư vọng như: Phiền não, kiết sử, lậu hoặc không thể sinh khởi !!!
Để có thể thành tựu “một cái tâm bình thường trong đạo pháp”…Kinh Kim Cang dạy: “Không trụ nơi cái thấy sinh tâm, không trụ nơi nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay nghĩ suy sinh tâm…Không nên trụ bất kì một nơi nào để sinh tâm” (Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm…Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm) !!!
* Về điều bạn hỏi: “Và bình thường tâm đã là tâm cuối cùng trong đạo hay chưa?” Mình xin trả lời như sau:
Theo thiển ý của mình, bình thường tâm chỉ là một trong những cảnh giới quan trọng mà người tu hành cần đạt đến, chứ chưa được gọi là cuối cùng !!! Bình thường tâm thuộc về Diệt Đế…Đây là một thứ tâm đã hoàn toàn tịch diệt hư vọng tâm (của một chúng sanh) nó thuộc về Thánh tâm (tâm không phiền não, kiết sử, lậu hoặc của bậc Thánh), chứ chưa phải Phật tâm (Phật tâm mới là tâm rốt sau trong Phật đạo) !!!
Muốn thành tựu Phật tâm, sau khi thành tựu bình thường tâm, vị tu hành này phải phát tâm cầu học trí tuệ, phát nguyện hoá độ chúng sanh và một lòng một dạ thực hành rốt ráo hai thứ tâm nguyện nói trên…Cho đến khi nào tám đức tính tốt đẹp là “từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc, tịnh” viên mãn mới được gọi là tâm cuối cùng !!!
Để dễ hiểu, người thành tựu bình thường tâm ra khỏi “phần đoạn sanh tử” của một chúng sanh… Sau đó, phát tâm cầu học trí tuệ, phát nguyện hoá độ chúng sanh để bước vào giai đoạn tu tập thứ hai của Bồ Tát Đạo, gọi là “bất tư nghì biến dịch sanh tử”…Trong quá trình chuyển hoá nhận thức của “bất tư nghì biến dịch sanh tử”, Huệ nhãn và Phật nhãn được khai, các tính chất tốt đẹp của Đại Niết Bàn dần dần thành tựu cho đến viên mãn mới được coi là tâm cuối cùng !!! Đây là lí do vì sao kinh Diệu Pháp Liên Hoa và các kinh Giáo Bồ Tát ra đời !!! Đây cũng là lí do vì sao ba cảnh giới của Phật đạo được nêu theo thứ lớp là GIÁC NGỘ – GIẢI THOÁT – TRÍ TUỆ !!!
⚜️Giác Ngộ: Thấu rõ tâm nào là vô thường (của chúng sanh), tâm nào là bình thường (của Thánh đạo) !!!
⚜️Giải Thoát: Tịch diệt tâm vô thường (của phàm phu), thành tựu tâm bình thường (của Thánh đạo) !!!
⚜️Trí Tuệ: Từ bỏ thánh tâm (của ba thừa), thành tựu Đại Niết Bàn tâm (của Phật thừa)
Tiến trình sau, minh hoạ các bước cần phải thành tựu những thứ tâm trong Phật đạo: Bình Đẳng (tâm) ➡️ Đẳng (tâm) ➡️ Vô Đẳng Đẳng (tâm) ➡️ Vô Thượng Chánh Đẳng (tâm) !!!
Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Trọng Tuệ hiểu ra quy trình tu tập các thứ tâm của Phật đạo và nhận ra tâm nào mới là tâm cuối cùng (Viên Giác) !!! Chúc bạn thành tựu những điều cần thành tựu !!!
2) Bạn Huệ Nghi hỏi như sau: “Thưa thầy Lý Tứ, con chỉ biết thầy và lý gia qua mạng xã hội. Đọc các bài viết của thầy cũng như huynh đệ con rất thích rồi hiểu ra nhiều điều mà trước đây không thể hiểu, xem hình con thấy thầy và mọi người trong lý gia là những người bình thường, không có gì khác với những người khác. Thầy có thể cho con biết lý gia tu theo pháp môn nào, nghe nói đệ tử lý gia có người giác ngộ thiệt hay không, điều kiện để con có thể học theo học như các huynh đệ của lí gia như thế nào! Cảm ơn thầy và huynh đệ lý gia” 04/12/2019 19:47:25 Huệ Nghi
– Bạn Huệ Nghi thân mến !!!
Lời đầu tiên, xin thay mặt tất cả HĐ Lý Gia, chân thành cảm ơn những tình cảm tốt đẹp mà Huệ Nghi đã dành cho bản thân mình và Lý Gia !!!
* Mình và mọi người trong Lý Gia đều là dân tại gia, gồm những người bình thường như những người bình thường khác ngoài xã hội, không có gì đặc biệt !!! Thậm chí hơi cù lần nữa là khác, cù lần là do HĐ Lý Gia hạn chế các tiếp xúc bất lợi cho việc tu tập, cũng như không đua đòi, không hơn thua, chịu thiệt một chút chả chết thằng Tây nào, vì thế lâu dần trở thành…cù…lần…so với người đời là chuyện hiển nhiên !!! Nói theo ngôn ngữ của Lỗ Tấn trong AQ thì, đây là “phép thắng lợi tinh thần” !!! “Nó mắng chửi ông, là nó đang mắng chửi cái đầu gối của…Bố…Dượng…chúng nó” !!! Ha ha ha ha !!!
* Mình và Lý Gia không theo một pháp môn nào, mà chỉ học tập theo những điều Phật dạy, điều nào thấy ứng dụng được thì lập tức ứng dụng, điều nào cao siêu quá thì để đó mai mốt tính !!! Nói nôm na, qua sông dùng thuyền, leo núi chống gậy, đường bộ đi xe, xa quá đi tàu bay, không tiền cuốc bộ..v..v…Không sử dụng một phương tiện nhất định !!! Nói chung, Lý Gia linh hoạt trong tu tập cũng như giáo huấn !!! Tuỳ bệnh cho thuốc !!! Bệnh nặng quá thì…mua…hòm, và sẳn sàng lo chuyện…hậu…sự !!!
* Đệ tử Lý Gia có giác ngộ hay không ??? Điều này thiệt khó nói !!! Bởi lẽ, giống như: Chỉ những người cùng chung sống trên một dòng sông, mới có thể đồng cảm với nhau khúc sông nào sâu, khúc sông nào cạn, khúc sông nào hung dữ, khúc sông nào hiền hoà…Người chưa từng sống ở đó, rất khó cảm nhận khi chỉ nghe nói về những đặc điểm của dòng sông ấy !!!
Tuy nhiên, theo đánh giá của mình cũng như tất cả HĐ Lý Gia, sau một thời gian chữa trị, hầu hết HĐ Lý Gia đều không thấy muộn phiền gì nhiều trong đời sống khi gặp sự việc bất như ý !!! Tham, sân, giận hờn “cao chạy xa bay” !!! Sáng, trưa, chiều, tối…vui vẻ trong lòng !!! Những thói xấu như tật đố, ganh ghét, thị phi, hơn thua, rao lỗi người khác, ham nói, nói điều chưa thật biết, nói để chứng minh ta đang tồn tại…v..v…trốn biệt ngàn !!! Thường xưng tán và tuỳ hỉ khi thấy người khác thành tựu điều tốt đẹp !!!
Tóm lại, HĐ Lý Gia chẳng thấy mình được gì, ngoại trừ mỗi ngày bớt đi một chút ngu, theo phương châm: “Học một điều để bớt ngu một điều, chứ không phải học một điều để khôn thêm một điều…” Theo quan điểm của Lý Gia, bớt ngu tạm gọi là có trí… Còn cố học để khôn thêm mà cái ngu không giảm bớt thì, nhất định một ngày nào đó trời u đất ám, Thiên Lôi say xỉn, Thượng Đế mất cảnh giác, nguy cơ trong đám mù một anh lẻo mép cao hứng leo lên làm…cha…nội, quơ gậy vung vít, giảng giải lung tung, chỉ trỏ lộn lạo, cả đám mù [đi tìm chơn lí] mà không té giếng hay sụp hầm…chết nhăn răng mới là…chuyện…loạ !!!
* Lý Gia không phân biệt thành phần, xuất thân, tôn giáo, tuổi tác, nghề nghiệp, dân tộc..v..v…Và, cũng không có luật lệ gì hết !!! Những ai ham thích nghiên cứu Phật pháp đều có thể tham gia !!! Vui thì ở !!! Buồn thì đi !!! Lý Gia đề cao “Triết Lí Con Chuồn Chuồn”: “Khi vui nó đậu, khi buồn thì nó cứ bay đi thoải mái” !!!
Tóm lại, Lý Gia là như thế !!! Như thế !!! Và như thế !!!
Chúc Huệ Nghi an vui !!! Rất mong, một ngày đẹp trời, Huệ Nghi sẽ trở thành con chuồn chuồn của Lý Gia cho thêm vui cửa vui nhà !!! Thân !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ



Ba Sắc Thái Và 12 Phương Thức Tu Học; Mối Liên Hệ Giữa Thiền Và Tâm Linh; Tứ Cú
"Hỡi nầy các Tỳ Kheo, ngày nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về Tứ Đế dưới ba sắc thái và mười hai phương thức chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì, cho đến chừng ấy, Như Lai không xác nhận rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác"
Các bạn !!!
Thời gian qua, BQT đã nhận được ba câu hỏi của Anh Khánh, của Tuấn ở Trà Vinh và của Vũ Tuấn !!! Mình xin trả lời theo thứ tự như sau:
1) Anh Khánh hỏi: Tứ đế là nền tảng của Phật đạo, con có nghe nói đến tứ đế có ba sắc thái và mười hai phương thức….! Như vậy theo cách hiểu này thì Tứ đế được giải thích như thế nào..? Con xin thầy giải thích để con có thể hiểu tường tận…!!! 22/11/2019 9:13:40 Nguyễn Quang Khánh
– Anh Khánh thân mến !!!
Trước khi trao đổi về câu hỏi của Anh, chúng ta cùng nhau đọc một đoạn trích kinh Chuyển Pháp Luân !!!
Đây là bài kinh đầu tiên, Phật thuyết cho năm anh em Kiều Trần Như tại Vườn Lộc Uyển, kết quả sau thời thuyết ấy, kinh ghi lại như sau: “Khi thời Pháp chấm dứt, Kondanna (Kiều Trần Như), vị đệ tử cao niên nhất trong năm vị, thấu triệt Giáo Pháp và đắc Quả Tu Đà Hườn, tầng đầu tiên trong bốn tầng Thánh. Ngài chứng ngộ rằng cái gì đã có sinh ra tức phải hoại diệt – Yam kinci samudayadhammam sabbam tam nirodha-dhammam”
* Về việc anh hỏi: “Ba sắc thái và mười hai phương thức” đoạn kinh Chuyển Pháp Luân mô tả như sau:
“Hỡi nầy các Tỳ Kheo, ngày nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về Tứ Đế dưới ba sắc thái và mười hai phương thức chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì, cho đến chừng ấy, Như Lai không xác nhận rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (anuttara sammasambodhi).
Khi tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về Tứ Đế trở nên hoàn toàn sáng tỏ, chỉ đến chừng ấy, Như Lai mới xác nhận rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Và lúc ấy phát sanh tri kiến và tuệ giác: Tâm của Như Lai đã hoàn toàn giải thoát một cách vững chắc, không còn lay chuyển, và đây là kiếp sống cuối cùng, không còn đời sống nào khác nữa” (Trích Kinh Chuyển Pháp Luân)
* Theo hiểu biết của tôi về đoạn kinh trên thì, để có thể thành tựu viên mãn Tứ Đế, người tu hành phải trải qua ba giai đoạn, hay ba sắc thái sau đây:
A- Tri kiến về Tứ Đế (Sacca-nana): Đây là giai đoạn tiếp nhận (hoặc tìm thấy) giáo pháp Tứ Đế…Ta quen gọi là Văn !!!
B- Tri kiến có liên quan đến cơ năng vận hành của Tứ Đế (Kicca-nana): Đây là giai đoạn tư duy để thấu suốt nguyên lí và sự vận hành của Tứ Đế…Ta quen gọi là Tư !!!
C- Tri kiến rằng cơ năng của mỗi đế đã được thành tựu (Kata-nana): Đây là giai đoạn ứng dụng cụ thể từng đế vào thực tiễn đời sống cho đến viên mãn…Ta quen gọi là Tu !!!
* Và, mỗi ĐẾ được coi là một nền tảng hay một phương thức làm thay đổi tận gốc nhận thức, giúp tâm thức hoàn toàn giải thoát khỏi mọi ràng buộc hoặc hệ luỵ của thế gian pháp (bao gồm nhận thức về thân tâm và thế giới)
Như vậy, ta có thể thấy !!! Mỗi đế có ba sắc thái (3 giai đoạn tu học gồm A, B, C)… Để có thể thành tựu hoàn hảo Tứ Đế, người tu hành phải tuần tự trải qua mười hai nền tảng hay 12 phương thức tu học, theo phép tính sau: 3 [sắc thái] x 4 [phương thức] = 12 [phương thức] !!!
Theo tôi, cách dịch này khá lạ so với cách dịch từ các bản Hán tự, nên những người đã quen đọc các bản dịch Hán tự cảm thấy khó hiểu !!! Chúc Anh an vui, tinh tấn !!!
2) Một bạn có tên là Tuấn ở Trà Vinh hỏi: THIỀN LÀ NÓI VỀ TÂM LINH, TÂM LINH LÀ KHÔNG THỂ BIẾT QUA SÁU CĂN, VẬY LẤY GÌ ĐỂ CHỨNG MINH ĐƯỢC? XIN CÁM ƠN. 22/11/2019 19:57:21 Tên Tuấn ở Trà Vinh.
– Bạn Tuấn (Trà Vinh) thân mến !!!
Phật dạy có bốn loại thiền như sau: Ngu Phu Sở Hành Thiền, Phan Duyên Như Thiền, Quán Sát Nghĩa Thiền và Như Lai Thiền !!!
* Ngu Phu Sở Hành Thiền: Đây là loại thiền của phàm phu và ngoại đạo nương tựa một sở pháp để nhiếp phục tâm ý, cầu mong tìm thấy cứu cánh từ phép tu này !!!
* Phan Duyên Như Thiền: Đây là loại thiền của những người không giác ngộ, chấp lấy một ý nghĩa nào đó, đem tâm ý duyên vào ý nghĩa đã chấp, lầm tưởng tự thân thấu triệt ý nghĩa ấy !!!
* Quán Sát Nghĩa Thiền: Đây là cảnh giới thiền của người tu hành tự chứng do thực hành đúng đắn phép tu Thất Giác Chi…Được mở đầu bởi Trạch Pháp Giác Chi !!!
* Như Lai Thiền: Đây là cảnh giới thiền tự được, do người tu hành giác ngộ như pháp !!!
Trong bốn thứ thiền nêu trên, không có một thứ thiền nào “nói về tâm linh” hay “có mối liên hệ đến tâm linh” như bạn hỏi…Mà hoàn toàn chỉ là những cách điều phục “tâm thức” !!! Vì thế, câu hỏi của bạn có lẽ cần xem lại !!!
Bạn có thể tìm hiểu bốn thứ thiền vừa nêu trong Kinh Lăng Già !!! Chúc bạn an vui !!!
3) Bạn Vũ Tuấn hỏi: Kính thưa Thầy !!! Con chưa hiểu rõ lắm về câu (tứ cú), (không kẹt tứ cú) và (kệ tứ cú) xin Thầy từ bi giảng cho chúng con ạ. 29/11/2019 1:37:52 Vũ Tuấn
– Vũ Tuấn thân mến !!!
Về câu hỏi của Tuấn, mình xin khái quát như sau: Tứ Cú là bốn mệnh đề tiêu biểu, có tính đối đãi của thế gian !!! Bốn mệnh đề đó là: Một, khác; Có, không; Chẳng phải có, chẳng phải không; Thường, vô thường !!! Nói khác hơn, những pháp thuộc về đối đãi của thế gian đều không đưa đến giác ngộ (của đạo xuất thế) Phật đạo gọi chung đó là kẹt tứ cú !!!
Trong đạo giác ngộ, có một thứ văn tự, ta quen gọi “văn tự Bát Nhã”, đây là loại văn tự không kẹt mắc bởi các mệnh đề đối đãi (của thế gian pháp)…Vì thế, văn tự này khi tuyên thuyết, có thể khiến người đoạn dứt mọi thứ chấp nhất trên đời, mau chóng giác ngộ !!!
Những bài kệ không bị kẹt mắc như vậy gọi chung là tứ cú kệ (đẳng) !!! Những lời thuyết không kẹt mắc như vậy gọi là văn tự không kẹt tứ cú !!!
Để có thể thành tựu văn tự Bát Nhã, người tu hành phải thành tựu Nhất Thiết Trí, sau đó thành tựu hai thứ thông là Thuyết Thông và Tông Thông !!! Thuyết thông không kẹt tứ cú !!! Tông thông không mắc bốn bệnh !!! Không kẹt tứ cú, không mắc bốn bệnh mới được coi là giác ngộ viên mãn (viên giác) !!! Chúc Tuấn tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ



Tạp Niệm
Còn niệm là còn hữu vi !!! Vô vi là cảnh giới của vô niệm !!! Và đến khi nào, tâm thức chỉ còn duy nhất một niệm được coi là chân chánh, trong đó các hoạt động như: Thấy biết, tư duy, nói năng, hành động, đời sống, nhớ nghĩ…v..v…đều được dẫn đạo bởi niệm chân chánh ấy, bây giờ tạm coi thành tựu Bát Chánh Đạo !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được câu hỏi của Lê Ngọc Tới và Tarzan !!! Mình xin tuần tự trả lời từng bạn như sau:
1) Bạn Lê Ngọc Tới hỏi:
“Trong khi chính niệm ở thực tại mà còn tưởng xen vào có thể gọi là hữu vi hay đoạn hành giảm hay không ?
Nếu tưởng không xen vào thì thành tựu Bát Chánh Đạo ?
Nếu Tâm dao đông liên tục không thể dùng Tầm Tứ của Định An Chỉ , thì niệm Phật để làm phương tiện ?
Lúc tâm thụ động có thể dùng Trach Pháp ?
Rất mong nhận được sự Khai Thị của Ngài LÝ TỨ”. 16/11/2019 21:01:43 Lê ngọc Tới
Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
– Về lí mà nói, một người được gọi là đang ở trong chánh niệm, có nghĩa ở thời điểm tu tập đó “tạp niệm và tạp tưởng” không hiện khởi trong tâm thức !!! Vì rằng, chánh niệm có nghĩa tâm thức chỉ niệm duy nhất một điều mà đối với cảnh giới của người ấy trong hiện tại được cho là chân chánh !!! Ví dụ: Một người lấy niệm Phật làm chánh niệm, vị ấy để “niệm Phật trước mặt” và trong tâm thức chỉ có một niệm này !!! Bất kì “một niệm hoặc tưởng” nào khác chen vào đều không được coi là chánh niệm !!!
– Còn niệm là còn hữu vi !!! Vô vi là cảnh giới của vô niệm !!!
– Và đến khi nào, tâm thức chỉ còn duy nhất một niệm được coi là chân chánh, trong đó các hoạt động như: Thấy biết, tư duy, nói năng, hành động, đời sống, nhớ nghĩ…v..v…đều được dẫn đạo bởi niệm chân chánh ấy, bây giờ tạm coi thành tựu Bát Chánh Đạo !!! Xin nói thêm, Bát Chánh Đạo có ba tầng bậc chủ yếu, đó là: Bát Chánh thế gian, Bát Chánh xuất thế và Bát Chánh xuất thế gian thượng thượng !!!
– Thông thường, trước khi tu tập giác quán, người tu hành có thể dùng các phép đình tâm nhằm giúp tâm an định (chế ngự tạp niệm) như: Niệm Phật, sổ tức quán..v..v…
– Theo mình, tâm thụ động là một thứ tâm không ưa thích hoạt động, không ham thích học tập hay tu hành…Vì thế, loại tâm này khó có thể kích hoạt trạch pháp như ý !!! Chúc Ngọc Tới an vui !!!
2) Bạn Tarzan có câu hỏi như sau:
“Thưa thầy! Con thắc mắc khi đọc Pháp Bảo Đàn Kinh. Tại sao Thần Tú là người học rộng hiểu nhiều lại không được Ngũ Tổ truyền y bát lại truyền cho Huệ Năng một người không biết chữ? Xin cảm ơn thầy”. 18/11/2019 03:08:50. Tarzan
Tarzan thân mến !!!
Nghe tên của bạn, mình nhớ hồi còn học lớp bốn lớp năm cách đây mấy chục năm, học trò thời ấy thường hay đọc truyện tranh Tarzan (mình cũng mê chuyện ấy) !!! Tarzan là tác phẩm nổi tiếng của Edgar Rice Burroughs có tên là Tarzan of the Apes. Tarzan là một nhân vật hư cấu, một đứa trẻ hoang dã nguyên mẫu lớn lên trong rừng rậm châu Phi với các loài khỉ lớn Mangani; sau đó anh trải nghiệm nền văn minh và rồi lại từ chối nó và trở về thiên nhiên hoang dã với tư cách một nhà thám hiểm dũng cảm !!!
Về câu hỏi của bạn, mình cho đây là một câu hỏi thú vị…Và cũng là thắc mắc của rất nhiều người !!! Mình xin trả lời như sau:
Phật đạo là đạo giác ngộ !!! Vì thế, Phật đạo chỉ truyền y bát cho người tu hành nào đã thật sự giác ngộ !!! Y bát là biểu tượng của sự thấu suốt Phật đạo thông qua con đường giác ngộ !!! Cho nên, những người cho dù học rộng như Thần Tú mà không thật sự giác ngộ, sẽ không được truyền y bát !!!
Giác ngộ là cảnh giới tâm chứng chứ không phải cảnh giới của tri thức…Do đó, người không giác ngộ, cho dù học nhiều (như Thần Tú), cũng không thể dùng tri thức để xâm nhập cảnh giới thậm thâm của giác ngộ (như Ngũ Tổ, Huệ Năng) !!! Và một người không thật sự giác ngộ thì, chẳng thể dạy người khác giác ngộ !!!
Cho nên trong ba cảnh giới của Phật đạo là GIÁC NGỘ – GIẢI THOÁT – TRÍ TUỆ thì, giác ngộ là cảnh giới đầu tiên và cũng là tiêu chí quan trọng làm tiền đề cho việc thành tựu hai tiêu chí sau !!! Có nghĩa rằng, chưa đạt được tiêu chí thứ nhất (giác ngộ) thì, tiêu chí thứ hai (giải thoát) và thứ ba (trí tuệ) coi như vô phương !!! Đây là lí do vì sao Ngũ Tổ lại dạy: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”! Câu này có nghĩa, chưa ngộ được bổn tâm, mọi thứ học tập trong Phật đạo chỉ như “muỗi đeo trâu sắt” !!! Chẳng khác nào con nai (văn hoá sơn lâm) học tập văn hoá con cá (văn hoá thuỷ tộc) !!!
Giống như muốn trở thành huấn luyện viên bơi lội, tiêu chí đầu tiên là anh phải biết bơi, sau đó mới nói đến các cách thức cùng kĩ năng bơi lội, cuối cùng mới tính đến chuyện dạy người học bơi !!! Một người (cho dù ở trên bờ) do đọc sách báo biết hết mọi cách bơi cùng các kĩ năng…v..v…nhưng khi rớt xuống nước chẳng khác hòn đá chìm nghỉm thì, hiểu biết đó đối với Phật đạo chỉ là một mớ kiến giải vô bổ, không thể tự mình bơi cũng chẳng thể dạy người bơi qua biển lớn sanh tử !!! Giống người mang trong mình cả đống Đô La Âm Phủ…nhưng khi đói, tiền đó chẳng thể mua nổi…cục…xôi !!!
Huệ Năng tuy dốt chữ, nhưng đã bơi qua biển lớn tâm thức, nên được Ngũ Tổ truyền y bát !!! Còn Thần Tú học rộng, nghe nhiều mà không hiểu thâm nghĩa…lại mắc phải cái tội ham làm thầy, nên chẳng thể tự bơi qua cửa ải sanh tử, đành phải ngồi đó mà “thời thời thường sợ nước” !!! Không được y bát, Thần Tú mới làm bài kệ than thân trách phận, để rồi đời mạt thế bọn văn chương lá mít cao hứng phỏng dịch như sau: “Thân nặng như hòn đá, tâm trí lại tối om, nhiều chữ không biết nghĩa, đừng có thấy y bát…mà…ham” !!!
Ha ha ha ha !!! Giác ngộ quan trọng như thế đó !!! Chúc Tarzan mau mau từ bỏ U Minh Lâm cùng bọn khỉ đột Mangani để trở về với thế giới Văn Minh !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ


Cảnh Giới Và Hình Ảnh Giác Ngộ
Giác ngộ là giây phút bất chợt, tâm thức bùng vỡ sau thời gian dài “nhất tâm tư duy” một vấn đề nào đó của Phật đạo, từ sự bùng vỡ ấy, người tu hành tìm thấy điều cần thấy !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT chỉ nhận được một câu hỏi của bạn Lê Ngọc Tới !!! Câu hỏi như sau:
“Trong kinh có viết .Lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt. Điều kiện để đươc tham gia kết tập kinh điển là A lahan. Ngài A Nan lúc đó vì mong muốn tham gia, mà cố gắng để giác ngộ nhưng không được, đến khi mệt quá ngài nằm xuống thì Giác Ngộ xảy ra.Phải chăng ở đây có sự mâu thuẩn? Giữa chuyên mệt quá nằm xuống và chuyện Giác Ngộ là hai việc khác nhau.Hay nguồn kinh không đáng tin cậy? Đây thuộc chuyện “bên lề” nhưng vẫn mong nhận được câu trả lời của Ngài LÝ TỨ. 12/11/2019 20:43:42 - Lê Ngọc Tới”
Lê Ngọc Tới thân mến !!!Lời đầu tiên, thay mặt BAN QUẢN TRỊ LÝ GIA xin chân thành cảm ơn Ngọc Tới !!! Từ ngày CHUYÊN MỤC BẠN ĐỌC HỎI LÝ TỨ TRẢ LỜI ra đời đến nay đã được 17 kì...Bạn là người đặt câu hỏi nhiều nhất !!! Rất mong trong những ngày đến, Ngọc Tới và tất cả bạn đọc yêu mến chuyên mục, thường xuyên đưa ra những câu hỏi bổ ích và lí thú để cùng nhau trao đổi, giúp chúng ta thăng tiến trên con đường học tập !!!
Về câu hỏi của bạn, mình xin có ý kiến như sau:
Theo mình, câu chuyện của Ngài A Nan giác ngộ sau cú vấp ngã hay trong lúc nằm xuống (điều này các tư liệu không thống nhất) không có gì mâu thuẩn !!! Chuyện có nhiều người giác ngộ từ những cơ duyên bất ngờ, chẳng phải là việc lạ trong Phật đạo !!! Phật sử cũng đã ghi lại những trường hợp giác ngộ tương tự như thế không phải là hiếm !!!
Tại sao lại có chuyện như vậy ??? Theo mình, giác ngộ là giây phút bất chợt, tâm thức bùng vỡ sau thời gian dài “nhất tâm tư duy” một vấn đề nào đó của Phật đạo, từ sự bùng vỡ ấy, người tu hành tìm thấy điều cần thấy !!! Nó giống như anh học trò gặp phải một bài toán khó, bỏ rất nhiều công sức tư duy, huy động tất cả kiến thức đã tích luỹ để giải quyết bài toán, nhưng không thành công...Rồi có một phút giây bất chợt nào đó, trong một tư thế (hay việc làm) nào đó, anh học trò tìm ra lời giải bài toán !!! Đây cũng là lí do vì sao phẩm Nhất Tâm Như Ý Túc lại là phẩm sau cùng của Tứ Như Ý Túc trong Tư Lương Vị !!! Nhất tâm chính là hành trang tối thiểu giúp người tu hành chuyển từ Tư Lương Vị sang Kiến Đạo Vị (từ thế gian sang xuất thế) !!!
Đây chính là nét đặc thù của Thất Giác Chi trong Phật đạo !!! Một hình ảnh tâm thức chín mùi và rơi rụng !!! Tất nhiên, muốn có sự rơi rụng do chín mùi, trái cây ấy phải trải qua quá trình hình thành, chăm sóc, dưỡng nuôi như pháp..v..v...và cuối cùng mới đến giai đoạn rơi rụng !!!
Trong cuộc đời tu tập của mình, cũng có một vài lần như thế (có lúc xe của mình đâm vào biển báo giao thông, có lúc mình ngồi quên trong nhà vệ sinh) mà thấy được vấn đề !!! Cách đây trên 20 năm, có những đề tài của Phật đạo đeo đuổi mình nhiều năm trời...Thức, ngủ, đi, đứng, ngồi, nằm, làm việc...đề tài đó không rời khỏi tâm trí, nhưng bản thân không thể hiểu nổi !!! Trong lúc tưởng như tuyệt vọng, bất chợt mình hoát nhiên hiểu ra điều cần hiểu, thấy được điều cần thấy !!!
Theo kinh nghiệm cá nhân của mình, giác ngộ là giây phút tâm thức chuyển đổi ngoạn mục “từ một nghiệp sang một nghiệp” !!! Đây là điểm khác biệt giữa cách học thế gian và cách học của Phật đạo !!!
Các môn học thế gian, giúp người học hiểu sâu về một lãnh vực nào đó của thế gian, và người ấy chỉ tăng trưởng kiến thức chứ không làm cho người ấy hoàn toàn biến thành một con người khác trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức !!! Ví dụ: Anh A trở thành kĩ sư, bác sĩ...Anh A vẫn là Anh A của ngày trước !!!
Còn học tập trong Phật đạo thì khác...Sau khi tiếp nhận giáo pháp, người ấy miệt mài tư duy ý nghĩa, đến lúc vỡ lẽ ra (ta tạm gọi là giác ngộ, hay thân chứng)...Người ấy bỗng dưng biến thành một con người khác, sống bằng một thứ văn hoá khác !!! Để dễ hiểu, mình xin đưa ra vài hình ảnh minh hoạ như sau:
- Giống như người mù bẩm sinh, người ấy sau khi được chữa trị bởi thứ thuốc giáo pháp...Phút giây bất chợt nào đó, người ấy hết mù...Với đôi mắt sáng, người ấy sống và nhìn đời với một nhãn quan rất khác... Đời sống và nhận thức của người ấy, bây giờ hoàn toàn không giống những gì trước đó người mù ấy đã sống và nhận thức !!!
- Hoặc con nai học cách bơi của con cá !!! Sau khi con nai tìm hiểu hoạt động của con cá và rèn luyện như một con cá !!! Con nai bỗng dưng biến thành con cá...Từ đó, con nai sống dưới nước và bơi lội như một con cá !!! Chứ không phải con nai ở trên bờ hiểu cách sống con cá dưới nước bằng lí trí...rồi khi rớt xuống nước con nai lại... chết...chìm !!! Hay có người do đọc tụng rồi hiểu Niết Bàn là gì (thông qua lí trí, suy luận)... Nhưng, cuối cùng khổ đau và kiết sử vẫn không thể tịch diệt bằng chính hiểu biết (theo kiểu thế gian) ấy !!!
Tóm lại, học Phật đạo là để giác ngộ, chứ không phải học Phật đạo để hiểu Phật đạo nói gì !!! Nếu ta học Phật đạo mà không giác ngộ thì, thứ Phật đạo mà ta đã học chẳng khác gì học vấn thế gian !!! Có nghĩa rằng, sự học ấy chỉ giúp ta tăng trưởng kiến thức chứ không giúp ta “bùng vở tâm thức” và thành tựu các đạo quả xuất thế thông qua chuyển đổi cảnh giới của tâm thức !!! Đây là lí do vì sao trong Phật đạo lại có cảnh giới xuất thế và cảnh giới xuất thế gian thượng thượng !!! Chính vì điều này, Ngũ Tổ đã có một câu nói bất hủ nhưng khó hiểu, đó là: “Bất thức bổn tâm học pháp vô ích” !!!
Lục Chủng Tánh Anh Lạc trong Phật đạo, chính là sáu (6) lần quả giác ngộ hình thành, được dưỡng nuôi như pháp và rơi rụng theo quy trình từ thấp lên cao của đạo Phật !!! Và đây cũng là lí do vì sao, ba cảnh giới của Phật đạo là GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT - TRÍ TUỆ luôn được người tu hành coi là ba mục tiêu phải hướng đến (chứ không nhằm học thuộc lòng) !!!
Trên đây, chỉ là những nét khái quát về cảnh giới và hình ảnh giác ngộ !!! Hy vọng, có thể giúp Ngọc Tới tìm thấy một chút gì đó trong cách học tập đặc thù để đưa đến giác ngộ trong Phật đạo !!! Chúc Ngọc Tới an vui, tinh tấn !!!
Các bạn!!! Hôm qua, mình nhận được email của Phương Anh !!! Có thể nói, Phương Anh là hình bóng của một thứ “kì lân trong loài người” như kinh thường miêu tả !!!
Phương Anh làm HĐ Lý Gia chưa được một năm, nhưng sức tinh tấn của bạn ấy là một tấm gương sáng !!! Xin chuyển đến mọi người email của Phương Anh !!!
Thầy ơi,Thầy nói học Nhất thiết trí muốn viên mãn công hạnh phải viên mãn 4 điều: Nguyện ba la mật, phương tiện ba la mật, lực ba la mật và huệ ba la mật.
Đến nay, con tư duy 4 ba la mật, thấy chìa khoá nằm ở 2 ba la mật đầu là nguyện và phương tiện, thấu suốt 2 thứ này thì 2 thứ sau theo đó tự viên thành như một hệ quả tất yếu.
Sau khi chứng diệt đế, con thấy “Phát nguyện” và “Nhìn thấy phương tiện” là 2 thứ đưa con đến cửa lớp học nhất thiết trí. Con ra sức tư duy sâu chuỗi kiến thức, quan sát học hỏi cách thấu thị, thẩm sát, đẳng ngữ nơi thầy. Con được thấy bao nhiêu sự thâm sâu thiện xảo mà cũng rất đỗi giản đơn. Nhưng đến khi đem ra thực hành con lại thấy sao mà khó vậy, vẫn có thứ gì đó mắc ở đây ... Con tự thấy mình đã về nhà, đã ở trong ngôi nhà của mình ... nhưng tại sao chỉ đường cho người khác lại không dễ dàng như thầy viết ...
Rồi con quay lại mình, nhận ra chính “nguyện” và “phương tiện” là kì đà cản mũi, là thứ chướng nếu không “vứt bỏ” không “xả” không “dẹp” nó đi thì không thể ngộ nhập tri kiến Phật. Bởi giống như anh sinh viên mỹ thuật, nếu không có hoài bão trở thành hoạ sĩ thì không thể trở thành hoạ sĩ, nhưng nếu mỗi lần cất bút mà hoài bão ấy cứ chướng nơi suy nghĩ thì nét vẽ chẳng thể bay; anh sinh viên mỹ thuật học trường mỹ thuật thấy được, hiểu được bao nhiêu kĩ thuật của những hoạ sĩ tiền bối nhưng khi cất bút mà những phương tiện ấy chướng nơi đầu bút thì giỏi lắm cũng chỉ có thể là anh chép tranh, mà đã là tranh chép dù kĩ thuật chép có giỏi đến đâu cũng chẳng phải tranh thật.
Theo con, phương tiện ấy, kĩ thuật ấy “cũng có mà cũng không có”. Phương tiện ấy thật có nhưng nếu không xả nó đi thì thật phương tiện cũng không thể có cơ mà hiện. Nay con đã hiểu 3 chữ ba la mật, xuất thế gian thượng thượng ba la mật chẳng giống như xuất thế gian ba la mật lại càng xa thế gian ba la mật.
Đạo Phật đúng là cái đạo xả, cái đạo dẹp bỏ hết đi (sau khi thấu suốt LT). Nay con lại hiểu thêm một tầng nghĩa của 2 chữ không và vô lượng. Nay con đã cảm nhận được thêm rằng tại sao kẻ nào chỉ còn một chút ngã, dù nhỏ như đầu cọng lông cũng sẽ vô phương học những thứ này.
Không thành tựu những thứ này thì tính chất hồ tự tánh cũng không có phương cách nào hiện đủ được. Con cũng hiểu luôn nguyện ba la mật, cũng có cũng không, không mà muốn có thì nó phải cà rị cà mọ lượm từng hạt thóc công đức. Con cũng hiểu luôn lực ba la mật, ngày ngày dấn thân lăn lóc nơi ba cõi. Và ngay tức khắc con cũng cảm nhận một chút hương vị của huệ ba la mật, thứ hương vị ngữ ngôn không đến được nhưng suy cho cùng vẫn chỉ là thứ hương vị mang tên giải thoát ấy mà thôi ...
Con đã hiểu ra rồi thầy ơi!!!!! Nhờ công ơn của thầy, ngọn đèn trong con vừa tự tăng công suất .... cái chuyện kì khôi này chỉ có nơi đạo Thầy nhỉ ahihi hihi !!!!!!!!
Con, Lý Phương Anh
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ










Chủng Tử Của Phật Độc giác?; Hiểu Về Tam Muội Môn
Độc Giác Phật là những vị ra đời vào thời kì “không có Phật và không có Phật pháp”…Chỉ một mình tự tu tự chứng… Cảnh giới chứng ngộ của Độc Giác Phật chưa đủ thành tựu trí tuệ… Cho nên, Độc Giác Phật không thể thuyết pháp độ sinh !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT nhận được các câu hỏi của hai bạn Lê Ngọc Tới và Vũ Tuấn !!! Mình xin trả lời từng bạn như sau:
1) Bạn Lê Ngọc Tới hỏi: Một vị chưa biết Phật Pháp, cũng chưa có ý định học Đạo , tình cờ nghe được Pháp qua Google liền mở được Tri Kiến
Vậy vị ấy có phải có chủng tử của Phật Độc Giác không ?
Trong kinh Phật có nói vị Độc Giác không sử dụng ngôn ngữ của Tướng Dụng măc dù những Sự chứng thực rất sâu .
Nếu thực sự như vậy thì tu tập cách nào để Tướng Dụng có thể diễn đạt lại những gì thực chứng !
Về điều này tôi cón mù mờ rất mong nhận được câu trả lời của ngài LÝ TỨ ! 02/11/2019 8:27:19 Lê ngọc Tới
– Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
Trước khi trao đổi về những gì bạn thắc mắc, chúng ta thử xem khái niệm Độc Giác được giải thích như thế nào !!!!
“Bích-chi Phật (Devanagari): प्रत्येक बुद्ध; pratyeka-budhha; pacceka-buddha; chữ Hán: 辟支佛), còn được gọi là Độc giác Phật (chữ Hán: 獨覺佛) hay Duyên giác Phật (chữ Hán: 緣覺佛), là một thuật ngữ dùng trong Phật giáo để chỉ khái niệm một vị Phật đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ, nhưng chưa đạt được các năng lực như Nhất thiết trí (sarvajñatā) hay Mười lực (daśabala) của một vị Tam-miệu Tam-phật-đà (samyak-sambodhi). Độc giác Phật được xem như bậc ở quả vị giữa A La Hán và Phật. Có khi Độc giác Phật là danh hiệu chỉ người đạt giác ngộ trong thời không có vị Phật nào xuất hiện trên Trái Đất. (Nguồn, Wikipedia)
Như những gì đã giải thích ở trên thì, Độc Giác Phật là một vị đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ !!! Có nghĩa rằng, vị này chứng ngộ mà không có thầy, hoặc không được học giáo pháp từ bất kì một cơ sở nào !!!
Theo mình biết, Độc Giác Phật là những vị ra đời vào thời kì “không có Phật và không có Phật pháp”…Chỉ một mình tự tu tự chứng… Cảnh giới chứng ngộ của Độc Giác Phật chưa đủ thành tựu trí tuệ… Cho nên, Độc Giác Phật không thể thuyết pháp độ sinh !!!
Trong thời kì có Phật xuất thế, hoặc Phật pháp đang hiện hữu…Những vị tu hành do quán 12 nhân duyên, thành tựu quả chứng tương đương với Độc Giác, gọi là Duyên Giác Phật !!! Quả vị của Duyên Giác và Độc Giác cùng có tên là Bích Chi Phật !!!
Vì thế, những người trong hiện tại, tuy không có Phật xuất thế, nhưng Phật pháp vẫn đang hiện hành trong thế gian…Người ấy cho dù được nghe Phật pháp từ bất kì nhân duyên nào (kể cả băng đĩa, sách báo, mạng internet…), rồi lấy lí thuyết ấy mà tu chứng, cũng không được gọi là Độc Giác !!! Do đó, khó có thể kết luận họ có chủng tử Độc Giác !!!
Một vị Độc Giác muốn thành tựu trí tuệ (độ sinh)…Sau khi chứng quả, đến lúc có Đẳng Chánh Giác ra đời, phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề…Phát nguyện độ hết thảy chúng sanh…Cầu học Nhất Thiết Trí !!! Sau khi thành tựu Nhất Thiết Trí, vị ấy trải qua quá trình làm công hạnh (Bồ Tát) dài lâu…Đến khi nào công đức và nhân duyên hội đủ, sẽ có trí tuệ như một Đẳng Chánh Giác !!! Chúc Lê Ngọc Tới an vui !!!
2) Bạn Vũ Tuấn hỏi: Kính thưa Thầy ! Trong bài viết Ngư Tiều Vấn Đáp có nói đến Tam Muội Môn , con chưa hiểu rõ ( tam muội có giác có quán , tam muội không giác có quán và tam muội không giác không quán ) kính mong Thầy từ bi giảng cho chúng con. 06/11/2019 15:33:32 Vũ Tuấn
– Vũ Tuấn thân mến !!!
“Tam muội là cách phiên âm từ chữ Samâdhi trong Phạn văn…Cũng viết: Tam ma địa, Tam ma đề, Tam ma đế. Dịch là Chỉ, Chỉ Quán, Quán, Thiền, Thiền định, Định, Đại định, Giải thoát, Chánh thọ. Cảnh Thiền bực cao, khi ấy thân thể và tâm trí của nhà Đạo chẳng còn xao động, lìa tất cả sự tà loạn.
Chư Phật và chư Đại Bồ Tát và La Hán đều có thể nhập phép Tam Muội. Các ngài đắc rất nhiều phép Tam Muội tiện giúp cho các ngài hộ thân và độ đời. Như đức Diệu Âm Bồ Tát: Gadgadasvara Bodhisattva có đắc những phép Tam Muội dưới đây:
Diệu tràng tướng Tam Muội Dhvadjâgrakiyura,
Pháp hoa Tam Muội Saddharma pundarika
Tịnh đức Tam Muội Vimaladatta,
Túc Vương Hý Tam Muội Nakchatrarâdjavikridita,
Vô duyên Tam Muội Anilâmbha
Trí ấn Tam Muội Djnânamura
Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn Tam Muội SarvarutaKâucalya
Tập nhứt thiết công công đức Tam Muội Sarvapunya samutchtchaya
Thanh tịnh Tam Muội Prasâdavati
Thần thông du hý Tam Muội Riddhivikridita
Huệ cự Tam Muội Djnânolka,
Trang nghiêm Vương Tam Muội Vyuharâdja
Tịnh quang minh Tam Muội Vimalaprabhâ,
Tịnh tạng Tam Muội Vimalagarbha
Bất cọng Tam Muội Apkritsna,
Nhựt triền Tam Muội Suryâvarta,
Diệu âm Bồ Tát lại còn dùng phép Tam Muội Hiện nhứt thiết sắc thân mà biến hiện ra các thứ thân hình, hoặc thân Phật, thân Thánh hay thân các hạng chúng sanh mà ra đi độ thế cho đắc nhập quả Phật.
Mỗi đức Phật Như Lai đều đắc trăm ngàn vạn ức phép Tam Muội” (Nguồn, Hoa Linh Thoại)
Tóm lại, Tam muội là một loại định thành tựu từ trí tuệ vô lậu (giác ngộ) của Phật giáo !!!
Để hiểu rõ Tam Muội có giác có quán, Tam muội không giác có quán, Tam muội không giác không quán…Xin xem bài viết Giác Quán Ba Phép Tu Tam Muội được đăng trong Kênh Youtube Lý Gia
Chúc Vũ Tuấn an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ


Vô Đối Môn
“Vô đối môn” được những người tu học nhận xét là một cuốn sách giúp họ tìm được sự thảnh thơi, lợi lạc ngay trong chính cuộc sống của mình.
VÔ ĐỐI MÔN tiếp tục nhận được sự quan tâm của báo đài gần xa. Xin gửi tới các bạn bài phỏng vấn của báo Dân Việt.
Cuối tháng 7/2019, tác phẩm Phật giáo “Vô đối môn” của tác giả Lý Tứ ra mắt tại TP.HCM và thu hút hàng trăm Phật tử cả nước về dự buổi ra mắt. “Vô đối môn” được những người tu học nhận xét là một cuốn sách giúp họ tìm được sự thảnh thơi, lợi lạc ngay trong chính cuộc sống của mình. Đó là lý do hàng trăm Phật tử đã về Sài Gòn để kịp tham dự buổi ra mắt của tác giả Lý Tứ – người đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu về Phật đạo.
Tác giả Lý Tứ sinh năm 1954, là cán bộ Đại học An Giang đã về hưu. Ông được nhiều Phật tử gọi bằng sự cung kính và thân mật: Thầy Tứ. Sách do HanoiBooks và Nhà xuất bản Dân trí ấn hành.
Danviet.vn có cuộc trò chuyện với tác giả Lý Tứ về nhân duyên của tác phẩm “Vô đối môn” vừa xuất bản.
Tác phẩm vô đối môn được trình bày theo hình thức hỏi đáp. Xin hỏi cư sĩ, tại sao ông lại giấu tên người hỏi? Người hỏi có thật không? Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong ‘Vô đối môn’ liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?
– Năm 2015, có hai vị khách trẻ là vợ chồng đều là bác sĩ, đi cùng một người học trò đến thăm tôi. Trong lúc nói chuyện, hai vị khách có hỏi tôi một số câu hỏi về Phật pháp, mình trả lời cụ thể từng câu, và hai vị khách rất hài lòng với những gì mình đã trình bày (đó là những câu hỏi nằm ở phần đầu cuốn “Vô đối môn”).
Sau khi hai vị khách ra về, tôi suy nghĩ, tại sao ta không ghi lại những câu hỏi và trả lời về Phật pháp mà mình đã trao đổi với mọi người trong thời gian qua thành một cuốn sách. Nhân duyên “Vô đối môn” ra đời trong hoàn cảnh như thế.
Về việc tại sao không có tên người hỏi, tôi xin trả lời như sau: Các câu hỏi được nêu lên trong sách, không phải xảy ra một lúc, mà nó gồm những mẩu chuyện trải dài trên 20 năm, đến nay có những vị đã qua đời. Sau này khi viết lại, tôi cũng không tiện đến gặp họ để xin phép được nêu tên người hỏi trong sách, vì thế cách tốt nhất là chỉ viết lại câu hỏi và câu trả lời, coi như một đương cơ làm sáng tỏ những khúc mắt trong lòng người tìm hiểu Phật pháp hơn là ai hỏi! Các câu hỏi và trả lời là hoàn toàn có thật!
Hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong “Vô đối môn” liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo chưa, thưa ông?
– Như mọi người đều biết, Phật đạo như biển lớn, các câu hỏi và trả lời trong “Vô đối môn” chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi trong biển lớn ấy, nên bảo rằng các câu hỏi đó đã đủ kiến thức giúp một Phật tử hiểu sâu về Phật đạo là không thoả đáng. Nhưng có thể nói, các câu hỏi và trả lời trong “Vô đối môn”được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu…, được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!
Một cuốn sách ra đời sẽ gây nhiều tranh cãi. Với “Vô đối môn”là cái tên sách: Cửa Vô đối và thông điệp của cuốn sách: Cửa lớn mở tâm trí. Với 30 năm nghiên cứu Phật đạo, điều gì ông muốn gửi gắm trong lần xuất bản tác phẩm Phật đạo đầu tiên này?
– Không riêng gì cuốn “Vô đối môn”, mà theo tôi, bất kì một sản nào ra đời, việc tranh cãi, đánh giá về sản phẩm ấy là chuyện tự nhiên. Với tôi, “Vô đối môn” cũng chỉ là một sản phẩm, và sản phẩm này tốt hay xấu, có ích hay không… xã hội và người đọc là những vị Thầy thông tuệ, nghiêm khắc, công tâm nhất. Vì thế mọi đánh giá, phán xét về “Vô đối môn” sẽ được kết luận sau cùng bởi độc giả.
Khi viết “Vô đối môn”, tôi chỉ có một tâm niệm, những ai có nhân duyên đọc Vô đối môn, hi vọng sẽ tìm thấy trong đó một chút lợi ích thiết thực từ cuốn sách, trong quá trình tìm hiểu Phật pháp.
Với mục tiêu cho người học đạo là Giác ngộ – Giải thoát – Trí tuệ…, ông có sợ mục tiêu này của mình cao siêu quá không dù ông đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu? Ông có thể giải thích cho độc giả hiểu thấu chân lý: Giác ngộ – Giải thoát – Trí tuệ?
– Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ là ba mục tiêu của Phật đạo, chứ không phải của tôi tự đề ra, cho nên Phật đạo còn có tên là Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát và Đạo Trí Tuệ!
Mục tiêu này có cao siêu quá hay không? Xin thưa, không riêng gì Phật đạo, mà bất kì nền giáo dục nào cũng có những mục tiêu của nó, và bổn phận của giáo dục là bằng mọi cách giúp người học hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Theo tôi, việc hoàn thành mục tiêu của giáo dục đề ra không liên hệ đến chuyện cao siêu hay tầm thường, mà nó là kết quả tất yếu của quá trình dạy và học.
Về ba phương châm Giác ngộ – Giải thoát – Trí tuệ, tôi xin tóm tắt ý nghĩa của như sau: Giác ngộ, là thấy biết và thấu suốt điều mình đang học, đang hướng đến; Giải thoát là không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm (các pháp) hư vọng từ thân tâm đến thế giới; Trí tuệ là biết cách giúp mình và người thành tựu rốt ráo hai phương châm Giác ngộ và Giải thoát.
Tâm và Pháp là 2 vấn đề ông nhấn mạnh trong cuốn sách. Nếu có thể nói ngắn gọn hơn cho một người học đạo Phật thấu hiểu để vận dụng vào thực tế cuộc sống, ông sẽ tóm tắt 2 ý trên như thế nào?
– Phật đạo đề ra 4 nơi chốn mà người tu hành phải giải quyết tận gốc nếu muốn được an vui, đó là Tứ niệm xứ, gồm: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.
Trong “Vô đối môn”, tôi chỉ đề cập nhiều đến Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ mà ít đề cập đến hai niệm xứ còn lại, vì trong các mẩu đối thoại mà tôi đã trao đổi, toàn bộ là cư sĩ, phần lớn họ chỉ đề cập đến những khúc mắc trong phạm vi của tâm và pháp, cho nên người đọc chỉ thấy Vô đối môn nói nhiều đến tâm và pháp là lý do như vậy.
Về tâm và pháp tôi xin sơ lược: Chữ Tâm trong Phật đạo nhằm chỉ ra một hiệu ứng mê lầm, khi các giác quan xúc đối với trần cảnh rồi chấp chặt, mê mờ và sinh các quan niệm hư dối từ nơi trần cảnh ấy, để rồi cuối cùng một hiệu ứng tình cảm khởi lên. Ví dụ: Một bức tranh tự thân nó không có ý nghĩa đẹp xấu, nhưng khi ta tiếp cận bức tranh, tuỳ vào góc nhìn, tuỳ vào quan điểm, tình cảm…, ta sẽ thấy bức tranh đó đẹp hay xấu (theo quan điểm riêng của ta).
Nếu ta mê mờ, chấp chặt quan điểm này, trong lòng sẽ sinh các hiệu ứng tình cảm như thương hay ghét bức tranh, thương thì khởi tâm tham (muốn có được), chán ghét thì sẽ sân hận (muốn xa lánh), những hiệu ứng như vậy Phật đạo gọi là tâm hay phàm tâm.
Pháp là đối tượng của ý căn, nó là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, quan điểm… Phật đạo chỉ ra rằng, các pháp hay nhận thức, quan niệm, khái niệm như thế không có chân lý, chỉ đúng với nơi này, người này, văn hoá này, không đúng với nơi khác, người khác, văn hoá khác. Vì thế một pháp tự nó không có những tính chất nhất định, không bền chắc vì không đại diện cho chân lí, Phật đạo gọi là không tánh. Nếu ta mê say các quan niệm ấy, sẽ bị các quan niệm ấy trói buộc, làm cho u tối và phát sinh phiền não cũng như các thứ kiết sử là tham, sân…
Về ứng dụng, nếu trong cuộc sống, ta tỉnh táo trước mọi cảnh duyên, không mê mờ để cho tâm và pháp hư vọng chế ngự hay làm chủ bản thân, nhất định trước mọi hoàn cảnh ta không động lay hay bị cám dỗ bởi bất kì việc gì. Từ đó, đời sống sẽ an vui.
Một khi không bị cảnh duyên làm vướng bận trong lòng, không phân tâm bởi những tác động bên ngoài, người ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, lao động hay học tập, nhờ đó sẽ cho ra hiệu quả cao.
Văn – Tư – Tu là điều kiện cần và đủ để nuôi dưỡng con đường của một người tu hành. Không một bậc thầy cao siêu nào có thể dạy được học trò nếu học trò không chịu trải qua con đường rèn luyện trên. Xin ông cho hỏi, Văn – Tư – Tu trong giáo lý ông dạy học trò có khác Phật tử tu học từ các tăng ni trên chùa không?
– Bản thân là một Phật tử, thấm nhuần lời dạy của Phật: “Thấy Tăng như thấy Phật”, do đó việc làm, việc dạy, và học của tăng, ni, Phật tử như thế nào, mình không được phép can dự và cũng không được quyền có ý kiến (khi chưa nhận được yêu cầu từ các vị tôn túc). Vì thế, tôi chỉ xin phép trả lời những gì có liên hệ đến mình và bạn bè cùng tu học với nhau.
Theo tôi, Văn: Tiếp nhận kiến thức; Tư: Suy nghĩ thấu đáo kiến thức đã tiếp nhận; Tu: Ứng dụng triệt để những nghĩa lý đã thấu đáo vào thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ: Phật dạy “Tham là giềng mối của khổ, phiền não”. Nghe được lời dạy này gọi là Văn. Nghe xong, suy nghĩ thấu đáo ý nghĩa: Vì sao tham là giềng mối của khổ phiền não, vì sao tham lại hiện hữu trong ta, hiện hữu bằng cách gì, làm sao để nó tịch diệt vĩnh viễn… Suy nghĩ như thế gọi là Tư (tức tư duy quan sát, thuật ngữ hay dùng là Thiền tư). Suy nghĩ thấu đáo rồi, ứng dụng triệt để hiểu biết này vào đời sống, đến khi nào tham không còn hiện khởi trong ta gọi là Tu.
Học trò ông rất nhiều tầng lớp, người già nhất năm nay đã 102 tuổi, người trẻ nhất vẫn đang là sinh viên. Người là nông dân, kỹ sư, cán bộ, kinh doanh… nhưng đều theo học ông như một con đường giúp họ thấu hiểu rõ hơn chân lý nhà Phật. Ông có điều gì căn dặn học trò khi học pháp của mình không?
– Tôi có bốn phương châm học tập và hành xử thường căn dặn bạn bè của mình: Phải xây dựng thái độ học tập; Phải siêng năng, nỗ lực học tập; Phải nắm vững phương pháp học tập, và thấu đáo những điều mình đã học; Phải biết mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất.
Lời nói đầu ông viết về hình ảnh tráng sĩ là thái tử Tất Đạt Đa trên con đường đi tìm con đường giác ngộ. Ông muốn gửi gắm điều gì trong khúc tráng ca đầy cảm xúc ấy?
– Bài “Tráng Ca” tôi viết với một cảm xúc đặc biệt khi gặp phải một sự việc khó giải quyết, tôi có ghi lại hoàn cảnh ra đời của bài ca ấy trong Chuyên mục Chuyện Bên Lề số 09, được đăng trong Fanpage Lý Tứ.
Khi đưa Bài Tráng Ca Bất Tử vào “Vô đối môn”, tôi muốn gửi gắm đến bản thân và bạn đọc, khi gặp một chuyện khó xử trên đời, hình ảnh đi tìm con đường giác ngộ của thái tử Tất Đạt Đa sẽ cho ta một giải pháp tốt nhất, đó là không giải quyết sự việc theo hướng cực đoan… Vì rằng, giải quyết cực đoan sẽ là con đường đưa mọi thứ đến bế tắc và rời xa chân lý.
Xin cám ơn ông!
Thảo Nguyên (thực hiện)

Tứ Thánh Quả Và Quả Vị A La Hán; Trạch Pháp Giác Chi
Tứ thánh quả gồm có: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Chỉ có quả vị A La Hán mới hoàn toàn đoạn mười kiết sử, chứng giải thoát hiện tiền và đạt được cảnh giới Niết Bàn (hữu dư), còn ba quả vị còn lại thì chưa
Các bạn !!!
Trang tuần, mình nhận được câu hỏi của hai bạn Lê Ngọc Tới và Vũ Tuấn… Mình xin lần lượt trả lời từng bạn !!!
1) Câu hỏi của Lê Ngọc Tới như sau:
Trong Kinh Phật có nói .
Các vị Thánh từ Tu đà hoàn ,Tư đà hàm, A na hàm đã chứng được Niết Bàn hữu dư .
Vậy các cảnh giới của các vị ấy đã tu chứng đã là Thực Tánh Chân Đế chưa hay chỉ chứng được Thực Tánh của các Pháp
Vấn đề này ‘ở bên lề”” nhưng cũng mong nhận câu trả lời của ngài LÝ TỨ .” 25/10/2019 10:21:38 Lê ngọc Tới
Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
– Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotāpatti):
Còn gọi là Nhập lưu, nghĩa là bắt đầu nhập vào dòng Thánh. Đây là Thánh vị đầu tiên sau khi đệ tử Phật phá được ba kiết sử Thân kiến, Giới cấm thủ, và nghi.
* Sơ quả (Sotapatti): Chứng quả này gọi là Tu-đà-hoàn, người đoạn trừ ba kiết sử đầu gồm: Thân kiến, Nghi, Giới cấm thủ. Quả Tu-đà-hoàn còn được gọi là quả Nhập lưu (vào dòng Thánh)
– Nhị quả Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī):
Còn gọi là Nhất lai, nghĩa là còn trở lại cõi người này một lần nữa. Quả vị này hiện hữu nơi người đã phá xong ba kiết sử trên và tiếp tục làm mỏng nhẹ tham và sân.
* Nhị quả (Sakadagami): Quả này được gọi là Tư-đà-hàm, người đã đoạn trừ ba kiết sử đầu và giảm dần hai kiết sử kế tiếp (Dục và Sân)
– Tam quả A-na-hàm (anāgāmī):
Còn gọi là Bất lai, nghĩa là Không trở lại cõi người nữa, quả này xuất hiện nơi vị đã diệt sạch hai kiết sử tham và sân.
* Tam quả (Anagami): Người chứng quả này được gọi là A-na-hàm, đoạn trừ năm kiết sử đầu. A-na-hàm còn được gọi là Bất lai (không trở lại cõi người nữa), chỉ tái sinh ở cõi Sắc hay Vô sắc để tiếp tục tu hành).
– Tứ quả A La Hán (Arahanta):
Là quả vị cuối cùng (trong tứ thánh quả), đạt được vô ngã, giải thoát hoàn toàn (ba cõi).
* Tứ quả (Arahant): Người chứng quả này được gọi là A-la-hán, vị đã đoạn trừ mười kiết sử, hoàn toàn giải thoát, đạt được Niết Bàn, không còn nằm trong vòng luân hồi.
Ghi chú: Những câu có dấu (-) nguồn Wikipedia; Những câu có dấu (*) nguồn Thư Viện Hoa Sen !!!
Như vậy, ta có thể thấy, trong tứ thánh quả, chỉ có quả vị A La Hán mới hoàn toàn đoạn mười kiết sử, chứng giải thoát hiện tiền và đạt được cảnh giới Niết Bàn (hữu dư), còn ba quả vị của bạn nêu trong câu hỏi thì chưa !!! Tuy nhiên ba quả vị, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm đều đã có hạt giống bậc thánh (thánh chủng) trong tâm thức của họ, cho nên được liệt vào tứ thánh quả !!!
Theo những gì định nghĩa ở trên, ta có thể hiểu, một vị chứng A La Hán mới có thể tạm coi là đã chứng Niết Bàn Chân Đế !!! Việc các A La Hán đã thấu suốt “thực tánh các pháp” hay chưa, thì không thấy nói đến !!!
Nhưng, theo mình biết, Nhị thừa chứng A La Hán, chỉ mới thành tựu Vô Sanh Tâm, nhưng chưa thành tựu Vô Sanh Pháp… Do đó, khó có thể thấu suốt “thực tánh các pháp” !!! Vì rằng, thấu suốt “thực tánh” hay “thực tướng” các pháp, là cảnh giới của “trí chứng”, chứ không phải cảnh giới “tâm chứng” như Niết Bàn Chân Đế !!!
Chúc Lê Ngọc Tới tinh tấn !!! Hy vọng mỗi tuần, BQT đều nhận được những câu hỏi lí thú của bạn !!!
2) Bạn Vũ Tuấn hỏi: Thưa Thầy . Trong 37 phẩm trợ đạo có phần Trạch Pháp Giác Tri , con chưa hiểu lắm . Xin Thầy từ bi giảng cho chúng con hiểu ạ . 25/10/2019 10:32:51 Con Vũ Tuấn
Vũ Tuấn thân mến !!!
Có lẽ, bạn muốn hỏi về Trạch Pháp Giác Chi trong Thất Giác Chi !!!???
Trạch Pháp Giác Chi, là bước đầu tiên trong bảy bước (bảy chi phần, bảy yếu tố, bảy giai đoạn…) giúp một người (đã hoàn thành Tư lương vị) bắt đầu từ Sơ giác tiến về Giải thoát (chứng Diệt đế, hoàn thành Kiến đạo vị) !!! Thất Giác Chi gồm: Trạch pháp giác chi, Niệm giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỉ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi và Xả giác chi !!!
Trạch pháp giác chi là giản trạch, phân tích, tư duy một pháp (một câu kinh, một lời dạy…) cho đến khi nào thấu suốt ý nghĩa của pháp đó, còn gọi là “như lí tác ý” !!!
Trạch pháp giác chi thuộc về “Thiền tư” trong ba pháp “văn, tư, tu”… Đây là cách dùng “Huệ lực” xuyên phá một pháp (bất kì) để thấu suốt ý nghĩa giải thoát đích thực của pháp ấy…Do đó, Trạch pháp giác chi luôn luôn đi sau Huệ lực (của ngũ lực) !!! Vì rằng, nếu chưa thành tựu Huệ lực (của ngũ lực) mà sử dụng Trạch pháp giác chi thì, Trạch pháp giác chi và Niệm giác chi bây giờ trở thành “giác quán” (tầm, tứ) của Thế gian thiền !!!
Từ Trạch pháp giác chi (giác chi đầu tiên) đến Xả giác chi (giác chi cuối cùng), là chuỗi “liên hệ nhân quả” có tính tất yếu, xảy ra trong quá trình tâm thức chuyển hoá như pháp (của người Sơ giác ngộ) !!!
Chính sự chuyển hoá tâm thức như pháp xảy ra có tính nhân quả này, mà các tính chất đặc trưng của Niết Bàn lần lượt xuất hiện cho đến viên mãn như, hỉ lạc, khinh an, định và xả !!! Đây là tướng trạng của các “thiền chi” thuộc về “Thiền giải thoát”, tức là nhân nơi Giác ngộ mà được thiền… Sự xuất hiện các thiền chi của Thất Giác Chi hoàn toàn khác hẳn các thiền chi của Thế gian thiền (loại thiền do dụng công mà thành của những người chưa Giác ngộ) !!!
Tóm lại Trạch pháp giác chi là chi phần đầu tiên và cũng là chi phần rất quan trọng của Kiến đạo vị… Ở đó, Huệ lực làm nhân tố quyết định thúc đẩy “Trạch pháp” trở thành “Giác chi” (chi phần giác ngộ) !!! Nếu không có Huệ Lực thì “Trạch pháp” chỉ là “Trạch pháp”…Có nghĩa rằng, trong việc giản trạch ấy, không có ý vị của “Giác Ngộ” !!! Đây cũng là lí do vì sao ba cảnh giới của Phật đạo là: GIÁC NGỘ – GIẢI THOÁT – TRÍ TUỆ lần lượt xuất hiện trước sau như pháp không thể hoán đổi !!!
Vũ Tuấn thân mến !!!
Trên đây chỉ là những gì được coi là sơ lược về những điều Vũ Tuấn hỏi !!! Chúc an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
P/S: Mình có một câu hỏi gởi đến HĐ Lý Gia, tạm xem là “đố vui có thưởng cà phê” !!! HĐ nào trả lời “đúng và hay nhất” trong số các câu trả lời, LÝ TỨ sẽ mời một chầu cà phê linh đình !!!
Câu hỏi đó là: Bạn hãy đưa ra một định nghĩa như pháp (trong định nghĩa phải hàm chứa các tính chất cơ bản và đặc trưng) về hai chữ “Huệ lực” thuộc ngũ lực của Kiến đạo vị (tất nhiên không định nghĩa hai chữ Huệ lực theo cách hiểu thế pháp) !!!
* Các bạn có thể trả lời trong phần bình luận dưới bài viết này !!! Thời hạn trả lời, từ nay đến hết ngày Chủ Nhật, 03/11/2019 !!!
LÝ TỨ



Vì Sao Có Nhiều Tông Phái Trong Phật Đạo?; Thế Nào Là Tu Tâm?; Làm Thế Nào Để Diệt Tâm Và Pháp Hư Vọng?
Mỗi một tông phái xuất hiện ở đời luôn luôn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử… Cũng như tôn chỉ, mục đích của tông phái đó có được cộng đồng những người tu tập chấp nhận hay không !!!
Các bạn !!!
Tuần này, mình xin lần lượt trả lời các câu hỏi của: Nga Nga, Quỳnh Nga, Lê Ngọc Tới và Đào Thị Thu Hường !!!
Bạn Nga Nga hỏi như sau:
1) Tại sao lại có nhiều tông phái trong Phật giáo vậy ạ ? Và làm sao để biết căn cơ mình phù hợp với pháp môn nào. 17/10/2019 4:41:19 – Nga nga
Nga Nga thân mến !!!
Câu hỏi của bạn, mình tạm chia thành hai phần để trả lời !!!
– Phần 1) Tại sao lại có nhiều tông phái trong Phật giáo vậy ạ ?
Đúng là cho đến thời điểm hiện tại, theo mình biết, Phật giáo (toàn thế giới) có rất nhiều tông phái, bản thân mình cũng không thể biết hết !!!
Còn việc, để có thể trả lời “vì sao lại có nhiều tông phái như vậy”, cũng không phải chuyện dễ !!! Muốn trả lời thoả đáng câu hỏi này, cần phải căn cứ vào một công trình nghiên cứu khoa học đáng tin cậy, chứ không thể kết luận một cách võ đoán rằng tại vì thế này hay thế kia, mang tính chủ quan !!! Cho đến nay, bản thân mình cũng chưa được may mắn tiếp cận một công trình nghiên cứu nào như thế !!!
Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, mỗi một tông phái xuất hiện ở đời luôn luôn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử… Nếu muốn tồn tại, phải đáp ứng các yêu cầu về văn hoá, phong tục, tập quán, lễ nghi… Cũng như tôn chỉ, mục đích của tông phái đó có được cộng đồng những người tu tập chấp nhận hay không !!!
Cũng theo suy nghĩ chủ quan của mình, không riêng gì Phật giáo, mà bất kì một tôn giáo hay tổ chức nào…Trong quá trình phát triển, đến một giai đoạn nhất định nào đó, việc phân thành nhiều nhánh (tông phái) là điều khó tránh khỏi !!! Giống như một cái cây, càng lớn, cành nhánh càng nhiều, cành nhánh cành nhiều, càng xa cái gốc của nó !!!
Ở một góc nhìn khác, ta có thể hiểu (việc xuất hiện tông phái), giống như một ống dẫn nước (triết lí hay giáo pháp nguyên thuỷ)… Sau một thời gian sử dụng, một đầu ống bị nghẽn (bế tắc trí tuệ, không thấu suốt triết lí nguyên thuỷ)…Trong khi đó, nước vẫn tiếp tục đẩy lên khiến áp lực trong ống gia tăng (nhu cầu tu tập của quần chúng tăng cao), đến lúc hội đủ điều kiện, các tia nước sẽ tìm cách thoát ra bên ngoài (tông phái xuất hiện) !!! Bạn có thể tìm hiểu thêm điều này trong bài viết BA VỊ HUYNH ĐỆ BÀN VỀ MẠT PHÁP từ Facebook LÃ THỊ HẠ ĐẾ !!!
– Phần 2) Bạn hỏi: Và làm sao để biết căn cơ mình phù hợp với pháp môn nào?
* Một người mới bắt đầu tu hành (chưa thật sự giác ngộ), khó có thể nhận biết “căn cơ của chính mình” !!! Phần lớn, chỉ có bậc đạo sư (đã thật sự giác ngộ), mới có thể biết rõ căn cơ của người học (giống thầy giáo biết năng lực học trò)…Nhờ biết rõ căn cơ của người học, vị đạo sư mới có thể điều chỉnh cách dạy như thế nào để phù hợp với căn cơ của người học, giúp người học mau chóng thành tựu những điều cần thành tựu !!!
Trong mười một thứ trí của Phật đạo, người thành tựu “Tỷ Trí” biết rõ căn cơ người khác…Người thành tựu “Đạo Tướng Trí” biết rõ mọi chủng tánh của hữu tình !!! Giống như người săn thú, bẫy chim lành nghề, chỉ cần thấy dấu chân, thoáng nghe tiếng kêu… Vị ấy tức thì biết rõ đó là loài chim hay giống thú nào, tập tính ra sao, nơi trú ngụ, tập quán di chuyển, thức ăn ưa thích, đánh bắt bằng công cụ gì…v..v… !!! Khi nào đủ duyên, chúng ta bàn sâu đề tài này… !!!
Vì thế, kinh thường hay nói: “tuỳ căn cơ mà thuyết pháp”…Hay kinh cũng dạy: “Như Lai tuỳ căn tánh của chúng sinh mà khiến hết thảy ngộ nhập Phật tri kiến” !!! Chứ chưa thấy nói: “Ta tuỳ vào căn cơ của mình, mà tìm thầy học đạo” !!! Nga Nga có thể tìm hiểu về những món như: Pháp môn, phép tu, căn cơ…v..v…Trong sách VÔ ĐỐI MÔN hoặc vào Website LYTU.VN để xem các bài viết liên quan đến những thứ ấy !!!
* Còn chuyện làm thế nào để biết ở đâu dạy dỗ phù hợp với mình !!! Theo mình thì, đầu tiên bạn phải xác định mục tiêu của bạn là gì (có nghĩa bạn phải biết chắc, bản thân mong muốn tu học để thành tựu điều gì) !!! Sau đó, bạn tìm hiểu những nơi bạn có ý định đến đó tu học, tìm xem nơi đó có đáp ứng được nguyện vọng của mình hay không !!! Nơi nào đáp ứng được, thì đến đó tu học !!! Giống như học trò, tìm trường nào dạy ngành nghề mình ưa thích thì sẽ học ở trường đó !!!
Tuy nhiên, cho dù ở đâu, nếu ở đó dạy Phật pháp thì cũng dạy bốn mục tiêu của giáo pháp đề ra, đó là: Đầu tiên họ sẽ giúp bạn hết khổ…Kế đến, dạy bạn chấm dứt phiền não, kiết sử (tham, sân, si…), lậu hoặc (mê mờ)…Thứ ba, sau khi thành tựu hai điều trên, vị thầy sẽ giúp tâm thức của bạn hết sanh diệt, thấy được bổn tâm, bổn tánh, chứng Niết Bàn an vui…Cuối cùng, sẽ dạy bạn trí tuệ chân thật của Phật đạo !!!
Chúc Nga Nga mau chóng tìm được nơi chốn tu học phù hợp với sở nguyện !!!
2) Bạn Quỳnh Nga hỏi như sau: Em thường nghe người thế gian bảo: Tu tâm là được rồi, vậy phải hiểu như thế nào là tu tâm ạ. 17/10/2019 23:28:57 – Quỳnh nga
Quỳnh Nga thân mến !!!
Tu tâm là câu nói của thế gian, câu nói này hàm ý chỉ ra mục tiêu trước mắt mà người tu hành cần phải điều phục !!!
Trong Phật đạo, người tu hành không chỉ có tu tâm mà tu đến bốn món, gọi là Tứ Niệm Xứ !!! Trong đó có Tâm Niệm Xứ !!!
Tất nhiên, muốn tu tâm, người ta phải biết tâm là gì…Giống như đi chợ, muốn mua món đồ A, bạn phải biết món đồ đó ra sao, nếu không biết món đồ ta dự tính mua, nhất định sẽ không thể mua được món đồ ấy !!!
Để hiểu tâm như thế nào và tu làm sao…Bạn có thể đọc bài viết BA VỊ HUYNH ĐỆ LUẬN VỀ TÂM PHÁP từ Facebook LÃ THỊ HẠ ĐẾ !!! Còn nếu muốn biết tu cả bốn món thân, thọ, tâm, pháp như thế nào…Bạn có thể đọc bài TIỂU LUẬN TỨ NIỆM XỨ vừa đăng trên Fanpage Lý Tứ !!!
Chúc Quỳnh Nga an vui, tinh tấn !!!
3) Bạn Lê Ngọc Tới viết: Vì tôi chưa từng đi Chùa, chưa từng thiền định nên các pháp hành không biết đúng, sai, do trình độ sơ cơ nên không biết hỏi như thế nào cho đúng.
Câu hỏi kỳ trước:
* Trong khi ăn mà không trọn vẹn với cái ăn, khi tôi biết như vậy, nhưng vẫn bị tư tưởng lôi đi ra khỏi cái ăn thì tôi sử dụng Thất Giác Chi hay phương tiện nào ?
Trả lời: Trong khi ăn, hoặc làm bất kì điều gì đó mà bạn bị tư tưởng lôi đi, chứng tỏ tạp tâm, tạp niệm vẫn chưa dứt… Ở cảnh giới này, bạn không thể dùng Thất Giác Chi để chế ngự dị tưởng, mà bạn phải tu tập Tứ Như Ý Túc, trong đó có Nhất Tâm Như Ý Túc !!! Khi bạn thành tựu Nhất Tâm Như Ý, dù ăn, uống hay làm bất kì công việc gì, các thứ dị tưởng (tư tưởng khác) cũng không hiện khởi trong tâm thức của bạn (cũng không lôi bạn đi) !!!
* Trong khi ăn mà tôi quan sát thấy có tạp niệm xen vào thì nói (hay nó ???LT) hết, trong tình huống này thì cứ thấy vậy thôi. Tôi làm vậy đã đúng chưa ?
Giống trả lời ở trên !!! Còn tạp niệm bạn phải tu tập “đến nhất tâm” cho hết tạp niệm…Chứ không phải để nó hiện trong tâm thức rồi nhìn ngó hoặc nói cho nó hết !!! Giống như tấm vải (hay cái áo) dính vết nhơ, ta phải giặt cho sạch, chứ không thể để vết nhơ tồn tại rồi nhìn ngó hay nói hết là nó hết !!! Xem cách tu tập trong kinh Niệm Xứ !!!
* Trong khi ăn mà chỉ cảm nhận chỉ có ăn thì có phải là Thực Tánh Chân Đế không ? Rất mong nhận được câu trả lời của Ngài LÝ TỨ ! 18/10/2019 9:45:23 – Lê ngọc Tới
Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
– Chân đế là cảnh giới Niết Bàn (chân thiệt) !!!
– Thực tánh là cái thấy của Trí Tuệ (thấy thiệt tướng) !!!
Vị nào thành tựu hai thứ trên, nhất định xứng đáng làm thầy của trời, người (ba cõi) !!!
Hai thứ này thuộc về cảnh giới “xuất thế gian” và “xuất thế gian thượng thượng”, không can dự đến chuyện ăn cùng không ăn theo suy nghĩ của thế gian…!!!
Nếu ăn mà “cảm nhận chỉ có ăn” là cảnh giới của chân đế và thực tánh, thì không lẽ khi kẻ trộm “cảm nhận mình đang trộm cắp” là chân đế và thực tánh hay sao ???!!!
Hình như có điều gì không ổn trong vấn đề này !!! Mong bạn tìm hiểu kĩ hơn hai nghĩa đặc thù của cảnh giới xuất thế và xuất thế gian thượng thượng là “chân đế” và “thực tánh” !!! Chúc bạn thành công !!!
4) Bạn Đào Thị Thu Hường viết: Thưa thầy, con đang đọc cuốn “Vô đối môn” của thầy và muốn được thầy hướng dẫn thêm về việc xây dựng cho mình đời sống thiểu dục tri túc. Tự con cảm thấy bằng lòng với cuộc sống của mình, không quá tham lậm vào cuộc sống vật chất. Tuy nhiên, con vẫn luôn có cảm giác tâm mình chưa thực sự an yên. Bằng trực giác của mình con thấy giấc ngủ của con còn nhiều mê man, không được thoải mái như những người đạt được sự an tịnh. Thi thoảng trong cuộc sống, con dễ bị sợ hãi một điều gì đó không đoán định được trước hay một điều gì bất thường xảy ra có thể hút hết toàn bộ năng lượng của con trong ngày hôm đó và có thể kéo dài đến những ngày sau đó. Con đã cố gắng quan sát, phân tích để nhận diện ra hư vọng tâm nào và ý thức nào đang chiếm hữu thân tâm con nhưng chưa thực sự sáng rõ. Con rất mong nhận được sự chỉ dẫn của thầy và các anh chị trong Lý Gia. Con cảm ơn thầy. 23/10/2019 16:24:44 – Đào Thị Thu Hường
Bạn Thu Hường thân mến !!!
“Thiểu dục tri túc” (ít muốn biết đủ), chỉ là bước đầu xây dựng đời sống tu hành…Mục đích của việc làm này, nhằm giúp cho hành giả “bớt sinh các thứ tâm hư vọng” chứ “chưa phải là tất cả” !!! Theo những gì Thu Hường mô tả, như vậy là bạn đã thực hiện tốt đời sống thiểu dục tri túc !!!
Tuy nhiên, muốn tâm và pháp hư vọng tịch diệt hoàn toàn, bạn phải trải qua quá trình học tập như pháp… Có nghĩa, phải tu tập cần mẫn và có những bước giác ngộ cụ thể, chứ chẳng phải tự nhiên mà được !!!
Các bước tu tập trong Phật đạo gồm:
– Hết khổ: Tịch diệt tám món khổ nhân sinh gồm: Sinh khổ, lão khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt li khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ và ngũ ấm xí thịnh khổ !!!
– Dứt tập: Sau khi các thứ khổ đã giảm thiểu đến mức thấp nhất…Bạn phải tu tập để các kiết sử, lậu hoặc, phiền não không còn hiện khởi !!!
– Chứng diệt: Đây là giai đoạn quan trọng, sau khi tâm thức hoàn toàn vắng lặng, như nước đã được lóng trong…Bạn sẽ được hướng dẫn để thấy bổn tâm, bổn tánh…Chứng Niết Bàn chân đế, thành tựu đạo xuất thế !!!
Đến giai đoạn này, “tâm hư vọng” và các “pháp hư vọng” sẽ không hiện khởi trong tâm thức của bạn…Chừng ấy, những thứ như bạn mô tả (ngủ mê, sợ hải vô cớ, mất năng lượng…v..v…) sẽ tự không còn nữa !!! Chúc Thu Hường sớm giác ngộ !!!
BQT rất mong, nhận được nhiều câu hỏi lí thú từ các bạn !!!
LÝ TỨ


