Không và Bất Không
“Không, Bất Không” là: Tâm thức không có các thứ hư dối như: Kiết sử, phiền não, hư vọng, ngu si, ba cõi. Nhưng trong đó lại có các Pháp Lành như: Từ Bi, Trí Tuệ và bốn đức Thường Ngã Lạc Tịnh của Đại Niết Bàn.

Các bạn!
Hôm qua, mình có cuộc trao đổi thú vị với một HĐ của chúng ta, chung quanh đề tài Hữu và Vô.
Trong buổi nói chuyện, một số câu hỏi được nêu lên. Hôm nay, mình muốn chuyển những câu hỏi này đến tất cả HĐ, để mọi người cùng giải đáp, nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của chữ Vô (không) và Phi Vô (chẳng phải không, hay còn gọi là Bất Không, hoặc Không mà chẳng Không) trong Phật Đạo.
Khi nói chuyện, một đề tài không kém phần hấp dẫn cũng được đưa ra thảo luận, đó là bài Bát Nhã Tâm Kinh, trong đó ý nghĩa của các câu đại loại: “Sắc tức thị không... sắc bất dị không...” cũng được mổ xẻ. Sau đây là nội dung các câu hỏi:
1.CÂU HỎI VỀ NGHĨA “KHÔNG”; “BẤT KHÔNG”
1) Trong Phật Đạo, “nghĩa Không” đích thực, nhằm chỉ cho điều gì (có nghĩa, Phật Đạo đặt ra yêu cầu người tu hành phải thành tựu những thứ không nào)?
2) Trong Phật Đạo, ngoài nghĩa không, còn có nghĩa “Không, Bất Không” (tức là không mà chẳng không, hay Phi Vô), Kinh Lăng Già gọi là “Bất Không Như Lai Tàng”. Xin hỏi các bạn:
a) Vì sao gọi là Bất Không??? Cái gì chẳng không (Bất Không)?
b) Vì sao đã “Không” mà còn “Bất Không”??? Cái gì Không, cái gì Bất Không? Hai điều này (Không, Bất Không) cùng tồn tại (có mặt) trong một nguồn tâm thanh tịnh (Bổn Tâm), có chống trái nhau không? Xin giải thích cụ thể?
c) Khi nói đến “Không, Bất Không”, Phật Đạo muốn nhắn nhủ điều gì ở người tu hành?
3) Phần mở đầu bài Bát Nhã Tâm Kinh đã viết như sau: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử!!! Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị...” Tạm dịch: Khi Bồ Tát Quán Tự Tại, vào sâu trong Trí Tuệ Giải Thoát, (vị ấy) thấy rõ năm uẩn đều không, (vì thế, những ai thấu suốt điều này bằng Trí Tuệ Giải Thoát, sẽ) vượt qua tất cả khổ ách. Này Xá Lợi tử, (vị nào thể nhập được Trí Tuệ Giải Thoát, sẽ tự xác chứng rằng, bản chất của) Sắc (thân) chẳng khác (bản chất của) không (hư không), không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Đoạn kinh trên, thường được người tu hành phân tích để tìm xem vì sao kinh bảo rằng: “Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, v.v...”
Xin hỏi các bạn:
a) Trong đoạn kinh đã nêu, đâu là “chiếc chìa khoá” để người tu hành có thể giải mã ý nghĩa đích thực của các câu như: Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc...?
b) Nếu ta không tìm được “chiếc chìa khoá bí ẩn” để giải mã những ý nghĩa vừa nêu. Mà chỉ nhắm thẳng đến “Sắc hoặc Không” rồi phân tích, để tìm ý nghĩa tương đồng của Sắc và Không. Xin hỏi, việc làm như thế có thoả đáng chăng, và có đưa người tu hành thành tựu việc “độ nhất thiết khổ ách” (vượt qua tất cả khổ ách) hay không? Vì sao?
Rất mong nhận được những câu trả lời thú vị từ các bạn. Những câu trả lời thoả đáng, được chuyển đến HĐ vào thời điểm kết thúc phần trả lời, sẽ được thông báo sau.
(17-12-2015)
2. GỢI Ý…
Mình nhận được bốn bài trả lời của HĐ… Rất thú vị là bốn câu trả lời đều rất giống nhau, giống từ điều đúng lẫn điều chưa đúng. Đọc bốn bài này, người đọc cứ ngỡ rằng, tất cả từ một người viết ra!
Điều này cho thấy, nó giống như những mũi tên được bắn ra từ một người, tất cả đồng bay về một hướng và cùng đến một mục tiêu nhất định. Đây là tín hiệu đáng mừng trong tu tập của HĐ chúng ta!
Về nội dung trả lời, nhìn chung bốn vị HĐ đều cơ bản trả lời đúng với Giáo Pháp về nghĩa Không và Bất Không, chỉ thiếu phần mở rộng nghĩa Bất Không theo tinh thần kinh Đại Niết Bàn hoặc Lăng Già. Vì thế, về mặt dẫn chứng và lập luận còn thiếu sức sống!!! Mình nhớ trong Kinh Lăng Già, Phật có cho một ví dụ minh họa cho Bất Không, ví dụ đại ý như sau: “Như nhà Lộc Tử Mẫu, không có Tỳ Kheo, chứ chẳng phải không có voi ngựa...”
Như vậy, đối với Đạo Giác Ngộ, cái gì Không, cái gì Bất không... hẳn ví dụ trên đã nêu rõ, nếu tinh ý sẽ nhận ra ngay!
Về ý nghĩa Bất Không nhằm nhắn nhủ điều gì. Hầu như các bài trả lời, HĐ đều chưa thấy được “dấu hiệu quan trọng” giúp người tu hành khi tư duy nghĩa không sẽ không bị rơi và tà nẻo.
Về chiếc chìa khoá để thấy sắc chẳng khác không, và đây cũng chính là mấu chốt mở cái nút thắt hầu giải mã điều gì đã làm cho sắc và không trở thành sai biệt, hình như các HĐ chưa nhận ra nó. Vô tình, lại lầm nhận “người thợ làm chìa khoá trở thành chiếc chìa khoá”!
Hy vọng, sau những gợi ý này, sẽ có những bài trả lời với những phân tích, lập luận sâu hơn, rộng hơn, có sức sống và tạo ra những nét nổi bật qua sức thiện xảo từ các bạn.
(18-12-2015)
3…TRAO ĐỔI VỀ…“KHÔNG VÀ BẤT KHÔNG”
Mục đích đặt ra những câu hỏi như thế là muốn các bạn có cơ hội nhìn ngắm và tư duy thấu đáo về tâm này. Cũng như nắm vững và hiểu sâu hơn giáo pháp, để có những bước chuẩn bị cho việc tu tập sắp tới. Ý nghĩa của những trao đổi vừa qua như sau:
1) Vì sao Phật Đạo tuyên thuyết nghĩa “Không”, và yêu cầu người tu hành phải thành tựu cho được nghĩa này?
Nghĩa “Không” trong Phật Đạo, chỉ cho sự thành tựu rốt ráo Diệt Đế. Có nghĩa rằng, khi thành tựu rốt ráo Diệt Đế, còn gọi rốt ráo “Không”. Tâm thức của vị ấy không còn bóng dáng của 25 cõi (gồm: Tứ vức, tứ ác thú, lục dục thiên, phạm thiên, tứ thiền thiên, tứ vô sắc thiên, vô tưởng thiên, cập bất hườn thiên).
Hay nói khác, Phật Đạo nói không, là nói đến trong tâm vị tu hành thôi không còn kiết sử, không còn phàm tâm, không còn nhân ngã, không còn mê muội, không còn các nhận thức hư dối. Có thể tóm tắt đó là: Không tâm, không pháp, không tánh, không tướng, Kinh Bát Nhã gọi là thành tựu 18 pháp không. Điều này giống như một cái bình chứa nước bẩn, nay được súc sạch. Khi thành tựu rốt ráo không, tâm thức của hữu tình cũng được súc sạch hữu vi pháp, không còn hiện khởi các pháp nhiễm ô. Sự tinh sạch này, trong VĐM, gọi là: “Các chủng tánh sai biệt đồng nhập Vô Vi chủng tánh...”
Khi chứng Diệt Đế, thành tựu rốt ráo không, vị hữu tình này vĩnh viễn chấm dứt đời sống một chúng sinh, không còn trôi lăn trong ba cõi, còn gọi là 25 cõi hữu. Muốn thành tựu rốt ráo không, vị tu hành này phải trải qua hai giai đoạn, đó là dứt Tập đế và chứng Diệt đế.
2) Đã tu cho tâm thức hoàn toàn không, tức rốt ráo không. Vì sao còn tuyên thuyết “Bất Không”?
Sau khi tâm thức của vị tu hành này hoàn toàn tịch diệt, các hữu vi pháp không còn hiện khởi, đã thành tựu rốt ráo không. Vị ấy trực nhận ra Bổn Tâm của mình có Tánh Giác. Cho nên, có thể nói Tánh Giác là thứ “Bất Không Đầu Tiên”, vì nó chẳng thể tịch diệt.
Bổn tâm là một cái tâm không có gì trong ấy. Sau khi thấy được Bổn Tâm, vị này tiếp tục dùng Tánh Giác học các “Pháp Lành” của Đạo Đế. Bây giờ các Pháp Lành được tích chứa trong Bổn Tâm của vị ấy. Nó giống như một cái nhà kho, trước đây cho ba cõi thuê để chứa các thứ nhiễm ô của cõi hữu gọi là “Hàm Tàng Thức”. Nay người chủ dọn dẹp sạch cái kho, trong ấy không còn một thứ gì, chỉ có một cái kho trống rỗ̃ng, toàn không, gọi là Bổn Tâm hay chơn tâm. Sau khi cái kho trống rồi, vị ấy xin Chư Phật các món đồ quý gồm các Pháp Lành cùng Pháp Bảo chứa vào trong đó. Bây giờ cái kho chứa toàn đồ quý của Phật, nên gọi là “Như Lai Tàng Tâm”. Khi cái kho chứa đầy đủ Pháp Bảo của Chư Phật, gọi là Bổn Giác. Bổn Tâm nay đã được tích chứa các Pháp Lành của Chư Phật, nên gọi là “Bất Không”.
Vì thế, “Không, Bất Không” là: Tâm thức không có các thứ hư dối như: Kiết sử, phiền não, hư vọng, ngu si, ba cõi. Nhưng trong đó lại có các Pháp Lành như: Từ Bi, Trí Tuệ và bốn đức Thường Ngã Lạc Tịnh của Đại Niết Bàn.
3) Phật Đạo đưa ra thông điệp “Không, Bất Không”. Nhằm nhắn nhủ người tu hành điều gì?
Khi gởi đến người tu hành thông điệp “Không, Bất Không”. Phật Đạo muốn nhắn đến người tu hành rằng: Đừng nên chấp không, chấp không là một trong những nguyên nhân rơi vào tà kiến. Vì, trong Phật Đạo ngoài nghĩa “rốt ráo Không”, còn có nghĩa “Bất Không”. Tức là, không có phiền não chứ chẳng phải không có trí tuệ. Không có ác tâm chứ chẳng phải không có tứ vô lượng tâm. Không có ngu si chứ chẳng phải không có tính giác.
Nói chung, ý nghĩa không bất không nhằm nói rằng: Các bạn đừng có lo, tuy rằng rốt ráo không nhưng chẳng phải đoạn diệt vì Tánh Giác là thường. Tuy rằng rốt ráo không, nhưng chẳng phải không có Thánh hiền!
4) Điều gì trong Bát Nhã Tâm Kinh là “chìa khoá” để thấy được sắc bất dị không hay sắc tức thị không?
Uẩn, chính là chiếc chìa khoá để thấy được sắc (thân) chẳng khác không. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều thấy như vậy.
Năm món: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tự bản chất của nó đồng với hư không, tức là nó chẳng phải pháp, cũng như hư không chẳng phải pháp. Khi người ta mê mờ năm món này, cho rằng mỗ̃i món có một giá trị nào đó, rồi tích chứa các giá trị hư ảo này vào tâm trí, sự tích chứa này, Phật Đạo gọi là “uẩn” hay “pháp”. “Uẩn” hay “pháp” chính là cái cớ sự gây nên mọi rắc rối cho chúng sinh!
Khi tâm trí tích chứa các giá trị không thật, năm món kia từ không trở thành “pháp có”, từ pháp có đó, người ta nắm giữ nó, gọi là “ngũ thủ uẩn”. Người tu hành, nắm được chiếc chìa khoá uẩn này, thôi không định đặt các giá trị hư ảo lên sắc thọ tưởng hành thức nữa, và cũng không nắm giữ các giá trị không thật này trong lòng, gọi là “bất thủ uẩn”. Bây giờ, năm món: sắc; thọ; tưởng; hành; thức, được trả về đúng bản chất thật của nó là “năm món không uẩn”. Tức là năm món này, giá trị đồng với giá trị của hư không. Kinh gọi sắc tức thị không hay sắc bất dị không.
Từ đâu có chiếc chìa khoá này? Ta có thể tưởng tượng: Bát Nhã Trí giống như người thợ làm chìa khoá. Anh thợ Bát Nhã này sản xuất ra vô lượng chiếc chìa khoá để giúp chúng sinh mở cửa Niết Bàn, chấm dứt phiền não. Sau khi làm ra những chiếc chìa khoá, Bát Nhã Trí đem từng chiếc trao cho chúng sanh, tuỳ duyên mà mở từng cửa giải thoát, gọi là Pháp Môn. Trong bài Bát Nhã Tâm Kinh, được Bát Nhã Trí trao cho đời sau chiếc “chìa khoá ngũ uẩn” để mở cánh cửa uẩn, sau khi cánh cửa uẩn được mở thành không uẩn, bây giờ người tu hành mới hết phiền não và thấy được rằng, sắc tức thị không. Nếu không có chiếc chìa khoá này, thì sắc uẩn không thể nào là không, và các thứ uẩn còn lại nhất định sẽ khác không.
5) Nếu không dùng chiếc chìa khoá “uẩn” để mở cửa. Có thể nào để nguyên sắc uẩn và các uẩn còn lại, chia chẻ, phân tích thành không được hay không và có đưa đến “độ nhất thiết khổ ách”?
Sẽ không bao giờ được, vì cho dù có chia chẻ sắc (thân) đến cuối cùng như lân hư trần, hoặc cho đến hư không, nhưng tâm thức không mất nó, tức uẩn (cái rắc rối) vẫn còn tích chứa trong tâm thức, thì phiền não nhất định sẽ còn. Cho nên, muốn “độ nhất thiết khổ ách”, phải làm cho uẩn mất đi, tức ngũ uẩn giai không mới độ nhất thiết khổ ách. Vì sắc thọ tưởng hành thức không uẩn, nên không có khổ hoạn, từ đó mới trực nhận rằng: “Bản chất của sắc tự chẳng khổ vui, giống như bản chất của hư không tự chẳng khổ vui”, gọi là sắc tức thị không hay sắc bất dị không!
Có một câu chuyện vui về Bát Nhã, xin kể để mọi người nghe chơi, giải sầu cái vụ sắc tức thị không! Một hôm, mình gặp một vị bằng hữu trẻ, bằng hữu này sau đó trở thành HĐ của chúng ta.
Vị bằng hữu hỏi: Thầy có thể giải thích dùm ý nghĩa của câu "sắc tức thị không” được không?
"Chú muốn giải thích điều gì trong đó"?, mình hỏi lại.
Hỏi: "Thầy có thể giải thích tại sao 'Sắc lại không' được không?
"Chú hiểu thế nào về câu này", mình hỏi?
Vị bằng hữu liền đem bình, bàn, lu, hủ, tô, tộ, bát, chén... chia chẻ từ lớn đến nhỏ, cho đến cực vi để buộc các món ấy trở về không!
Mình quay sang hỏi những người ngồi chung quanh: Bài kinh này có tên là gì? Mọi người đồng trả lời: “Bát Nhã Tâm Kinh”!
Lúc ấy, mình nói lớn với mọi người: Theo cách cắt nghĩa của anh bạn trẻ này, phải nấu nồi chè, đổi tên bài kinh thành “Bát Nhã Vật Kinh” mới đúng!
Sau đó, mình giảng giải thế nào là Tâm Kinh, khi hiểu được chữ Tâm Kinh, mình tiếp tục giảng nghĩa Uẩn, sau khi hiểu nghĩa Uẩn, mình giảng tiếp bản chất của sắc, sau khi thấy được bản chất của sắc, mình mới giảng ý nghĩa sắc tức thị không! Sau khi thấu hiểu ý nghĩa đích thực của đoạn kinh, anh bạn trẻ trở thành huynh đệ của chúng ta!
Mình cũng có hỏi thêm anh bạn một câu: Sắc thì bạn có thể chia chẻ để nó trở thành không, tạm chấp nhận được rồi. Còn thọ, tưởng, hành, thức chia chẻ bằng cách gì, chỉ cho mình biết với?
Vị huynh đệ đó!
(20-12-2015)
Phương Pháp Triển Khai Một Đề Tài
Triển khai một đề tài Phật Pháp phải đạt được hai mục đích, đó là: Vì sao phải thảo luận đề tài này, và thấu suốt đề tài này nó sẽ giúp ích gì trong quá trình tu tập.

Các bạn!!!
Theo mình biết, trong thời gian gần đây, các nhóm HĐ tu tập khắp nơi đồng loạt triển khai việc học tập Vô Đối Môn mỗ̃i tuần. Việc làm này là rất tốt, nhưng đâu đó còn những lời than phiền cách triển khai của các Trưởng Lão. Nhân tiện, mình xin chia sẻ một số kinh nghiệm khi triển khai một đề tài trong Phật đạo.
Hôm qua và những ngày trước, mình có trao đổi với một số HĐ về phương pháp triển khai một đề tài trong Phật Pháp. Từ trước đến nay, mỗ̃i nơi, mỗ̃i vị HĐ khi lãnh nhiệm vụ triển khai một đề tài, không có sự thống nhất với nhau, mỗ̃i người triển khai một cách. Vì thế, đề tài được được triển khai, có lúc thiếu, có lúc thừa, có lúc quá cao, có lúc quá thấp, ít khi đề cập đến giáo pháp căn bản. Điều này dẫn đến, không sâu sát, không đạt mục đích, không làm thoả mãn toàn bộ những người thính pháp. Để khắc phục, mình có một vài ý kiến nhỏ như sau:
Khi triển khai một đề tài bất kỳ trong Phật Đạo, chúng ta cần thực hiện theo các bước sau:
1) Giới thiệu với đại chúng đề tài thảo luận hôm nay, có nội dung chính là gì, trong đó gồm có mấy phần. Ví dụ có bốn phần là: Ngũ ấm, ngũ dục, ngã và giác ngộ.
2) Triển khai từng phần một theo thứ lớp như sau:
a) Từ: Định nghĩa từ. Ví dụ: Thế nào là ngũ ấm, khái niệm ngũ ấm gồm mấy món, các món này nhằm chỉ cụ thể cho điều gì trong Phật Đạo.
b) Nghĩa: Nói rõ nguyên lý hình thành và tác hại. Ví dụ, giải thích vì sao ngũ ấm hình thành trong một hữu tình. Nó sẽ gây ra những tác hại gì, trở thành chướng đạo như thế nào nếu không tịch diệt nó. Cho ví dụ để minh họa về việc cột trói của ngũ ấm.
c) Pháp: Trình bày phương pháp làm cho pháp ấy tịch diệt, có mấy phương cách làm cho tịch diệt pháp này, và cứu cánh cũng như đạo quả sau khi tịch diệt. Ví dụ: Làm sao để ngũ ấm tịch diệt, cứu cánh sau khi tịch diệt là gì trong Phật Đạo. Cho ví dụ minh họa khi thành tựu cứu cánh.
d) Biện tài: Giải đáp những thắc mắc liên hệ đến nội dung vừa nêu của đại chúng nếu có, sau khi đã nghe triển khai các phần trên.
3) Tiếp tục triển khai phần kế tiếp, cũng theo trình tự của những bước trước.
4) Cuối cùng, tóm lược những phần đã triển khai, và tìm xem các phần đã triển khai có mối liên hệ nào đến đề tài chính của hôm nay, và phân tích sâu ý nghĩa của đề tài chính. Đề tài chính cũng triển khai theo bốn bước nói trên.
Các bạn!!!
Theo mình, nếu chúng ta tuần tự thực hiện việc triển khai một đề tài theo các bước vừa nêu, chúng ta có thể đào sâu giáo pháp, từ căn bản đến nâng cao. Giáo pháp cơ bản giúp những HĐ mới, nắm vững vấn đề. Nâng cao giúp mọi người thấy được cứu cánh của một pháp.
Triển khai một đề tài Phật Pháp phải đạt được hai mục đích, đó là: Vì sao phải thảo luận đề tài này, và thấu suốt đề tài này nó sẽ giúp ích gì trong quá trình tu tập. Thực hiện được hai yêu cầu trên, chính là giúp người nghe hiểu rõ pháp đó, và ngay trong hiện tại có thể ứng dụng pháp đã nghe vào đời sống tu hành. Vì thế, ngoài việc trang bị kiến thức, giải thích thuật ngữ, triển khai ý nghĩa, còn có phần hướng dẫn thực hành gọi là pháp vô ngại.
Nếu triển khai một đề tài, thoả mãn các yêu cầu nêu trên. Về phía diễn giả, sẽ giúp vị đó thành tựu Tứ Vô Ngại Biện là từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại và biện tài vô ngại. Về thâm đạt, thực hiện như vậy, người nghe lẫn người nói, sẽ thấm nhuần giáo pháp theo tinh thần Tam Thân là: Danh, Cú, Hình thân.
Danh thân: Nắm vững tên gọi và khái niệm.
Cú thân: Biết rõ ý nghĩa, nguyên nhân hình thành và phương cách tịch diệt.
Hình thân: Thấu triệt quả chứng, cũng như cảnh giới cứu cánh nơi tự tâm.
Vài ý kiến nhỏ, mong rằng sẽ giúp các buổi sinh hoạt của HĐ chúng ta thành công hơn.
(14-12-2015)
Biết Ơn Và Đền Ơn Chư Phật… Đừng Làm Kẻ Phản Bội
Hai điều đáng sợ đó là: “Kẻ ngu mà không biết mình ngu” và “chịu ơn mà không biết báo ơn”!

Các bạn!
“Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”! Người xưa đã nói như thế chẳng phải vô cớ. Nếu không một lần, tự nhìn ngắm lại chính mình, không tìm xem mình đang đứng ở đâu trong Giáo Pháp của chư Phật, thì làm sao có thể chiến thắng “vô minh trụ địa”!
Trong cuộc đời này, nếu chỉ tu hành cho chính bản thân. Theo mình nghĩ, đến giờ này, mọi người trong HĐ chúng ta không còn gì phải bàn. “Cứ đắp chăn mà ngủ thẳng giấc”!
Nhưng, nếu còn vì chúng sanh, còn phải gìn giữ tài sản trí tuệ của ba đời chư Phật, thì có lẽ mọi người trong HĐ chúng ta chưa thể “chăn ấm nệm êm” đánh một giấc dài trong lúc này!
Vị khổ hạnh ngày xưa, sau khi nghe hai câu kệ, tâm trí bừng sáng của kẻ Giác Ngộ. Sẵn sàng cúng dường thân này mong được nghe thêm hai câu kệ nữa, để lời Phật xưa viên mãn, sau đó tìm cách lưu giữ lại cho vạn loại chúng sinh! Hôm nay nhìn lại, HĐ chúng ta đã nghe được mấy phần của bài kệ, mà vội bằng lòng tưởng đủ!?
Người tu hành trong Phật Đạo có hai điều đáng sợ. Nếu ai chưa biết sợ hai điều này, thì khó có thể ra khỏi lớp vỏ vô minh, để báo ơn chư Phật cùng tất cả chúng sinh.
Hai điều đáng sợ đó là: “Kẻ ngu mà không biết mình ngu” và “chịu ơn mà không biết báo ơn”! Không biết mình đang ngu điều gì, chính là ngọn núi Tu Di che mờ Trí Tuệ. Hết ngu mà không biết báo ơn kẻ giúp ta hết ngu, đây là hành vi của kẻ phản bội hết thảy hữu tình.
Đã không thành tựu Trí Tuệ, lại phản bội chúng sinh, làm sao vị lai có thể ngồi toà Sư Tử...!? Vị tu khổ hạnh ngày xưa, đã làm được hai điều này trong khoảnh khắc bừng sáng của người Giác Ngộ, vì thế chuyện hy hữu của quá khứ còn lưu dấu đến hôm nay, để HĐ chúng ta đem ra bàn luận mà học tập điều gì đó!
Ngẫm lại, chúng ta đã làm được gì để hết cái ngu, và đã đáp đền một chút công ơn cho dù nhỏ nhất đối với thập phương chư Phật và vạn loại chúng sinh hay chưa, mà tự cho là đủ? Có lẽ, câu hỏi này không ai có thể trả lời chính xác hơn là chính chúng ta!
(16-10-2015)
Tâm Sự Của Đại Sư Huynh
Con xin đời đời tri ân công ơn dạy dỗ̃ của Thầy. Nếu cuộc đời chúng con không có may mắn gặp được Thầy, không biết đến bao giờ mới hết ngu si. Công ơn này mà không ghi nhớ, thì đời này, đời sau làm sao có Trí Tuệ!?

Kính Thầy!!!
Thưa các bạn!!!
Mang tiếng làm ĐSH, mà chỉ một cái email tri ân, ba ngày rồi viết không xong. Cứ viết được mấy câu, đọc lên, dở quá, xoá đi, viết lại, ba ngày nay chỉ loay hoay có bấy nhiêu. Thú thiệt, ĐSH dốt văn chương, nhiều năm không cầm viết, thành ra cuối cùng, sáng nay phải lên nói ý rồi nhờ Thầy viết hộ. Xin các HĐ thông cảm!
Lời đầu tiên, ĐSH chân thành cảm ơn tất các các HĐ, những vị viết email tán thán, cùng không viết email nhưng ĐT hoặc tán thán trong lòng.
Nghe các HĐ tán thán, bản thân làm ĐSH cũng vui, nhưng cũng lấy làm hổ thẹn. Trước đây, Thầy có dạy:
“Thân làm ĐSH như các ông, không lo học tập, chỉ lo dòm ngó nhau. Mai này các HĐ đi sau, họ tiến lên và qua mặt, các ông nói họ không nghe, đừng có trách...”
Và, lời dạy của Thầy đã thành hiện thực. Hiện tại, rất nhiều HĐ mới có nhận thức cùng tri kiến tốt hơn, họ đã bóp kèn qua mặt. Đây là động lực mà ĐSH phải tinh tấn. May mắn là, nhờ tinh tấn đúng hướng nên được Thầy khen chút đỉnh!
Điều ĐSH thành tựu, cũng không có gì ghê gớm lắm. Chỉ là, ĐSH phát hiện ra, tám năm nay Thầy chỉ cho thuốc trị bệnh. Nay ai hết bệnh, Thầy mới cho những giọt sữa đầu tiên để nuôi dưỡng Trí Tuệ. Nhờ biết được điều này, nên thân làm ĐSH từ đây cũng phải vừa uống thuốc chữa một số bệnh còn thừa sót lại, vừa uống sữa để tăng ích Trí Tuệ. Vì thế, Thầy mới nói: “ĐSH chỉ sờ cái chuôi đao”. Bản thân ĐSH giờ đây cũng biết: Cái mình thấy được hôm nay, chỉ là bước khởi đầu trên con đường rất dài tiến về Trí Tuệ. Còn nhiều, rất nhiều điều phải học!
Kính Thầy!
Con biết, khi Thầy khen, mục đích chính là để động viên chúng con tinh tấn. Con cũng biết, khi Thầy khen con, có một vài HĐ không vui, đây là bịnh của con ngày trước, nhân đương cơ này, Thầy chỉ ra chỗ̃ còn kẹt mắc và che chướng Trí Tuệ của HĐ chúng con, để giúp chúng con vượt qua.
Kính Thầy!
Thưa các HĐ!
Con xin đời đời tri ân công ơn dạy dỗ̃ của Thầy. Nếu cuộc đời chúng con không có may mắn gặp được Thầy, không biết đến bao giờ mới hết ngu si. Công ơn này mà không ghi nhớ, thì đời này, đời sau làm sao có Trí Tuệ!?
Con.
Thấu Thị Môn
Thấu thị là nhìn thấu bản chất của sự việc, là thấu suốt những ý vị sâu xa của kinh điển qua lớp vỏ văn tự, là phát hiện “tạng vi mật” của Chư Phật ẩn tàng trong Giáo Pháp, là đọc được tâm người và thấy chỗ̃ vướng mắc của họ.

Các bạn!
Thấu thị là nhìn thấu bản chất của sự việc, là thấu suốt những ý vị sâu xa của kinh điển qua lớp vỏ văn tự, là phát hiện “tạng vi mật” của Chư Phật ẩn tàng trong Giáo Pháp, là đọc được tâm người và thấy chỗ̃ vướng mắc của họ. Thấu thị chính là “Thiên Nhãn Minh”, một trong tam minh làm nên Bồ Tát Trí!
Vì thế, năng lực thấu thị, hay thành tựu Thiên Nhãn Minh là một trong những yêu cầu bắt buộc không thể thiếu, khi đặt chân vào cửa ngỏ Nhất Thừa của một Bồ Tát. Thấu Thị Môn là một phần của Nhất Thiết Trí Môn, người không có khả năng soi thấu những điều ẩn mật của kinh điển, không có khả năng đọc được tâm người để thấy đâu là vướng mắc, người này khó có thể lãnh hội Đạo Nhất Thừa. Vì rằng, cái nhìn của Đạo Nhất Thừa siêu quá giới hạn văn tự, cái nhìn của Đạo Nhất Thừa xuyên thấu danh tướng, nó rất khác với cái nhìn của ba thừa hay nhân thiên thừa.
1. … TRỢ GIÚP… THỰC TẬP THẤU THỊ MÔN
Để tập làm quen với cách nhìn mới, làm quen với sự trực nhận trước mọi vấn đề. Trong thời gian tới nếu đủ duyên, mình sẽ lần lượt đưa ra các câu hỏi, để các bạn dần dần thành tựu "Thấu Thị Môn".
Tiếp theo ba câu hỏi của kỳ trước. Hôm nay, các bạn sẽ tập sử dụng khả năng trực nhận, để trả lời ba câu hỏi sau. Phần trả lời cũng theo nguyên lý cũ, đó là đưa ra kết quả trực nhận trước, sau đó là chứng minh để bảo vệ trực nhận này là đúng.
Các bạn!
Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Thánh Hạnh có kể câu chuyện, tiền thân Phật là một vị tu khổ hạnh. Một hôm nghe được nửa bài kệ của Phật quá khứ, do quỷ La Sát đọc, nửa bài kệ như sau: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp”. Nghe xong hai câu kệ, vị tu khổ hạnh muốn con quỷ La Sát đọc tiếp hai câu còn lại. Con quỷ ra điều kiện, muốn nghe thêm hai câu nữa, phải cho nó ăn thịt!!!. Vị tu khổ hạnh đồng ý!!! Trước khi nghe hai câu kệ còn lại, vị tu khổ hạnh bèn lấy tấm da nai đang mặc trên thân, trải làm toà ngồi, rồi thỉnh quỷ La Sát lên ngồi, với câu nói: “Bạch Hoà Thượng, xin thỉnh ngài lên toà này” (mặc dù quỷ La Sát lúc đó mang thân tướng của quỷ, chứ không phải là thân tướng của một Sa Môn). Sau đó vị tu khổ hạnh quỳ dài để nghe hai câu kệ!!! Hai câu kệ tiếp theo như sau: “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”(1). Nhân câu chuyện kinh kể trên, mình có ba câu hỏi như sau:
Câu 1: Trong câu chuyện, chữ “hành” của câu “chư hành vô thường”, trước nay thường được người tu hành giải thích: Hành là việc làm (hành động), hành là những hiện tượng biến đổi, hành là các thứ tướng, v.v...Theo bạn, ngoài các ý nghĩa đã nêu, trong sâu thẳm nhất, chữ “hành” ở câu này nhằm chỉ cụ thể điều gì?
Câu 2: Trong câu chuyện trên, việc vị tu khổ hạnh gieo mình cho quỷ La Sát ăn thịt, từ trước đến nay, người tu hành thường tán thán đây là hành động “xả thân cầu đạo”...!
2.a. Theo bạn, kết luận vị khổ hạnh xả thân cầu đạo trong tình huống này, đã thật sự thuyết phục hay chưa? Vì sao chưa, yêu cầu chứng minh?
2.b. Bạn còn thấy ý nghĩa nào sâu xa hơn trong hành động này của vị tu khổ hạnh, (thay vì điều đó chỉ là hành động đơn thuần của việc xả thân cầu đạo)? Yêu cầu lập luận chứng minh rằng, cái thấy của bạn mới là đúng nhất trong tình huống này của vị khổ hạnh?
Câu 3: Hai câu hỏi trên, ngoài việc kiểm tra năng lực tu hành thông thường. Theo bạn, khi đặt câu hỏi này, nếu bạn trả lời đúng, mình (LT) sẽ nhìn thấy cụ thể điều gì về năng lực giáo hoá của bạn?
Rất mong, nhận được những câu trả lời lý thú từ các bạn!
(13-10-2015)
2. NHỮNG GỢI Ý …
Mặc dù có mấy câu trả lời được coi là đúng, nhưng điều đó không có nghĩa rằng, các HĐ đó đã thật sự thấy được vấn đề!!! Cho nên, những câu trả lời đúng trong thời gian qua chỉ mang tính động viên, khích lệ, an ủi nhau tiếp tục cuộc hành trình chinh phục ngọn núi Nhất Thừa, hơn là sự toả sáng như mong đợi. Điều này làm mình hết sức băn khoăn, mình tự hỏi: Không lẽ, Đạo Nhất Thừa còn xa chúng ta đến thế. Không lẽ, nó là thứ đẳng cấp “xa xỉ” trong lúc này!
Trong hầu hết các câu trả lời mà mình nhận được qua hai lần đặt câu hỏi, không thể giúp mình yên tâm về các bạn. Nó giống như một đội tuyển bóng đá, giao hữu thì có thể cầm hoà đội mạnh. Nhưng nếu, căng sức ra thi đấu, thi đấu sòng phẳng, nhất định nắm lấy phần thua!
Sau những trận thua, mọi người mới giật mình với những ảo tưởng về sức mạnh trước đó. Đến lúc này, mới tự đặt câu hỏi: “chúng ta đang đứng ở đâu trong cuộc chơi này”? Trong cuộc chơi chinh phục Nhất Thừa Đạo, tính khắc nghiệt và đào thải luôn chực chờ. Nếu người chơi không tự rèn luyện để có “một đẳng cấp tương xứng” thì, nó giống như người khổ hạnh, tu bao nhiêu thứ, cầu bao nhiêu ngày tháng cũng không thể thấy Đại Đạo!
Có thể trong hiện tại này, lúc mình đang viết bài này, một số HĐ đang nghiền ngẫm đoạn kinh để tìm lời giải đáp. Theo như những gì mình thấy được sau hai lần đặt câu hỏi để kiểm tra mức độ thấu thị, hầu như tất cả HĐ chúng ta, khi đối diện một bài kinh, đối diện một đối tượng, chưa biết điều gì là trọng tâm cần khai thác để tìm ra chiếc chìa khoá giải quyết vấn đề. Nếu không được gợi ý, nhất định các bạn sẽ định hướng sai!
Trong lần đặt câu hỏi này cũng vậy. Hầu hết các HĐ chưa thật sự có cái nhìn sắc bén cần thiết, chưa đặt mũi khoan đúng mục tiêu, vì thế “khoan lung tung”, cả bài kinh đầy dấu mũi khoan, mà chẳng có mũi nào khoan thủng mục tiêu!
Đọc bài kinh vừa rồi, chúng ta cứ chạy theo hành động, chạy theo câu nói của vị khổ hạnh, nói chung là chạy theo hiện tượng được ghi lại trong câu chuyện, mà chúng ta quên mất điều gì đã làm nên những hiện tượng, làm nên những hành động và làm nên các câu nói đó? Hình như các bạn chưa một lần thẩm xét toàn bộ bối cảnh câu chuyện rằng: Trước khi nghe bài kệ, tâm thế của vị khổ hạnh như thế nào? Nghe được nửa bài, tâm thế vị khổ hạnh như thế nào? Sau khi nghe hết bài kệ, tâm thế vị khổ hạnh như thế nào? Nếu thẩm xét đầy đủ những nhân duyên này, nhất định ta sẽ tìm thấy “chiếc chìa khoá” làm nên câu chuyện.
Không phải vô cớ mà câu hỏi thứ nhất, mình gợi về ý nghĩa của chữ “hành” trong hoàn cảnh này. Có bao giờ các bạn soi xét ý nghĩa của chữ “hành” trong bài kệ, nếu chữ “hành” tuyên thuyết đúng thời điểm, nó sẽ phát huy tác dụng như thế nào không...!?. Chữ “hành”, chính là phát pháo khai hoả cho trận chiến tiêu diệt tâm thức của người khổ hạnh, để từ đó làm nên chiến thắng “xả thân không ngần ngại”!
Để có một lý luận sắc bén, chúng ta không thể không xét đến lý do: Vì sao, trước đó vị khổ hạnh đã được nghe bài kệ này rồi mà không có hành động xả thân, có đã từng được nghe mới biết bài kệ còn lại hai câu nữa, chứ nếu chưa từng được nghe, làm gì vị khổ hạnh có thể biết điều này! Như vậy, lần nghe này, khác những lần nghe trước ở điều gì? Chưa xét điều này, lý luận chứng minh về “chuyện bỏ thân” chưa thuyết phục!
Xét tổng thể câu chuyện, xét cách tu hành và những thành tựu của vị khổ hạnh trước đó. Xét thời điểm được nghe bốn câu kệ hiện tại, xét sức mạnh bốn câu kệ trong thời điểm này và những tác động tích cực sau khi vị khổ hạnh nghe được (tất cả những dữ kiện này có đủ trong bài kinh). Ta mới thấy sức thiện xảo của người thuyết, và độ chín mùi của người nghe. Chính những điều này đã làm nên sự bùng nổ ghê gớm, coi thân mạng như đồ chơi của vị khổ hạnh trong hiện tại này. Đây cũng là nguyên nhân để vị khổ hạnh nhìn thấy con quỷ La Sát với thân tướng đáng ghê sợ, trở thành một vị Hoà Thượng trên tinh thần Đệ Nhất Nghĩa Tăng và xin được làm đệ tử suốt đời! Cũng chính độ sâu, thật sâu đó, nếu không có một cái nhìn tinh tế, không có một năng lực thấu thị vừa đủ, sẽ rất khó nhận ra những ẩn mật trong bài kinh.
Các bạn!
“Hãy như con sư tử, nhắm thẳng đối tượng mà tấn công”, nhất định sẽ thắng lợi. Hy vọng, qua những gợi ý trên, các HĐ sẽ tìm ra đáp án có sức thuyết phục.
(15-10-2015)
3. ĐẠI PHẪU THUẬT
Mấy hôm nay, mình ngẫm nghĩ rất nhiều đến HĐ. Nhất là những HĐ thuộc hàng “trưởng lão”, mình vẫn chưa tìm thấy “tính ổn định” nơi các bạn. Tất nhiên, khi đề cập đến giáo pháp ba thừa, các bạn rất thông thuộc, thậm chí là những thượng thủ trong đời. Nhưng, chỉ cần nâng tri kiến của các bạn lên một chút xíu, đặt một chân của các bạn vào Nhất Thừa Đạo, lập tức “các trưởng lão của ta” lại loay hoay níu nó trở xuống ngang bằng “tư duy ba thừa”. Có thể, chúng ta chưa kịp làm quen với cách trực nhận của Trí, nên còn bị cái Đạo chi phối.
Các bạn!
Đây là giai đoạn, chúng ta phải đập luôn cái vỏ trứng "vô minh trụ địa" đang bao phủ tâm trí của chúng ta. Nếu không đập bể được cái vỏ trứng này, nó giống như một con chim đẹp có tiếng hót hay, bị nhốt trong một cái lồng sơn son thếp vàng. Bầu trời bao la ngoài kia, chỉ cách có một cái lồng mỏng manh, mà con chim không thể tự do bay liệng. Không tự do bay liệng ngoài bầu trời xanh, làm sao con chim có thể "khoe cái đẹp cùng với tiếng hót hay" đến tận mười phương!
Vô minh trụ địa, nó như cái lồng sơn son thếp vàng. Thành tựu giáo pháp ba thừa, giống như con chim đẹp lại có tiếng hót hay. Nếu con chim này không biết phá vỡ cái lồng để đến với bầu trời xanh, thì số phận của con chim kia chỉ là món đồ “để các gia chủ nuôi làm kiểng trong nhà”. Con chim bây giờ chẳng sinh nhiều ích lợi, cũng chẳng thể làm đúng chức năng của một con chim đẹp lại có tiếng hót hay!
Những câu hỏi vừa qua, và có thể những câu hỏi sắp tới, đôi khi làm cho một vài HĐ cảm thấy hụt hẫng. Nhưng, nó giống như một người đẹp, lại mang trong mình khối u ác tính. Nếu không có liệu pháp mạnh, bệnh nhân sợ đau không chấp nhận mổ xẻ, thì biết đến bao giờ mới chữa lành khối u ác tính này đây, để trả lại cái đẹp hoàn hảo cho người đó?
Đây là lúc HĐ chúng ta phải quyết tâm, quyết tâm thật cao. Cùng nhau phá tan cái lồng Vô Minh Trụ Địa, để giúp những con chim đẹp lại có tiếng hót hay, có thể bay khắp mười phương mang cái đẹp, cái hay đến mọi người.
(17-10-1015)
4. HỌC SĂN VOI
Nhìn chung, phần lớn trả lời của các bạn tương đối đáp ứng được yêu cầu của câu hỏi số một. Điều này cho thấy, trong thời gian qua, các bạn đã nắm rõ tiến trình của Phật Đạo, đồng thời hiểu được thế nào là nhãn quan của năm thừa. Cái thấy này là tiền đề quan trọng, để thời gian tới chúng ta tìm hiểu sâu về Đạo Tướng Trí, một trong những môn học của Nhất Thiết Trí, có thành tựu Trí này, vị lai mới có thể thành tựu viên mãn mười một loại Trí.
Trong công hạnh, Đạo Tướng Trí chiếm một vị trí rất quan trọng. Giống như người săn voi, chỉ cần thấy dấu chân là có thể biết được hình tướng, tánh nết, thói quen, đường đi... của con voi, cũng như cách săn bắt nó. Đạo Tướng Trí cũng vậy, khi thuần thục trí này, sẽ nhìn thấy căn cơ và đạo quả trước mắt của một người, từ đó chúng ta sẽ có biện pháp thích hợp để định hướng cho họ và đề ra các bước kế tiếp hợp lý. Đồng thời cũng thấy được trở ngại chính của người đó, và biết cách làm thế nào để giúp người này vượt qua chướng đạo để thành tựu Đạo quả.
Riêng câu hỏi số hai, hôm qua đến nay, chưa thấy HĐ nào trả lời đúng. Điều này cho thấy, các bạn chỉ nhìn ra một phần của vấn đề, vì thế chưa đưa ra được giải pháp tối ưu. Đây là một trong những hạn chế trong việc giáo hoá, chưa khắc phục được điều này, hiệu quả thuyết pháp không cao. Nó giống như một cung thủ, từ chỗ̃ đứng so với mục tiêu còn xa, vì thế xác suất đưa mũi tên trúng mục tiêu là rất khó. Vị lai, chúng ta sẽ khắc phục hạn chế này.
(19-10-2015)
5. ĐẠO NHẤT THỪA RA KHỎI SUY LƯỜNG
Mình nhận thấy, các bạn càng cố gắng trả lời câu hai, càng đi xa mục tiêu câu hỏi đặt ra. Thậm chí, có HĐ lần trả lời trước có chút gì đó những tưởng như thấy được manh mối, đến khi điều chỉnh, thì lại đặt vấn đề quá xa mục tiêu.
Theo mình nghĩ, có lẽ các bạn càng tư duy, càng bị luồng tư duy dẫn đi sai hướng. Đúng như câu nói của Ngũ Tổ, “hễ thấy là thấy liền, khởi suy lường liền sai”!
(21-10-2015)
Các bạn!
Mình nghĩ, đến giờ này có lẽ đã có một chút manh mối gì đó để các bạn nhìn thấy cái thẳm sâu trong câu chuyện người khổ hạnh và con quỷ vô độc dưới lớp vỏ văn tự ngữ ngôn. Hãy bỏ tất cả xuống, lặng lẽ quan sát, nhất định sẽ thấy những gì cần thấy!
(24-10-2015)
6. TÁN THÁN
Sau khi gởi đến các bạn email nói về chỗ̃ thành tựu của Đại Sư Huynh (ĐSH) trong hiện tại qua lần trao đổi hôm qua. Mình nhận được rất nhiều emails tán thán ĐSH, đồng thời, cũng nhận được mấy cuộc ĐT của HĐ nhờ mình chuyển lời đến ĐSH.
Có những HĐ đã tâm tình với mình, nghe tin ĐSH có điều tốt, HĐ đã bật khóc vì vui mừng. Thế đấy các bạn! Đạo pháp là như vậy!
Đại Tâm luôn luôn là thứ ánh sáng xua tan những u ám của phàm phu tâm. Nếu chưa có được "ánh sáng của Đại Tâm", chưa biết hoan hỷ trước thành tựu của HĐ khác, thì lậu hoặc và phiền não là khó tránh khỏi!
Hãy xét tâm lượng hiện tại của mình ra sao khi nghe HĐ có điều tốt, phản ứng của tâm này như thế nào khi nghe điều ấy là “phép thử” hiệu quả nhất!
Có thể nói, HĐ chúng ta dù ở đâu, xa hay gần. Giống như một “bầy chim nhạn”, con bay trước, con bay sau... tất cả đồng hướng về mục tiêu!
Con đường tu tập còn dài, còn rất dài. “Trường đồ tri mã lực”, đường xa mới biết sức ngựa! Thật ra, chỉ một thành tựu nhỏ nhoi của ngày hôm nay, chưa nói được gì nhiều, nó chỉ là một đốm sáng le lói ở cuối chân trời!!! Nếu không biết giữ gìn, không biết phát huy và không biết cầu tiến. Thì một chút ánh sáng ấy có thể vụt tắt bất kỳ lúc nào!!! HĐ chúng ta, kể cả ĐSH còn phải vượt qua rất nhiều, rất nhiều trở ngại của tự thân, mới có thể nắm bắt một phần nào đó Giáo Pháp, chưa nói những kỹ năng hỗ̃ trợ để phát huy trọn vẹn Giáo Pháp ấy được liệt kê trong VĐM chúng ta còn phải tôi luyện nhiều hơn nữa. Hiện tại HĐ chúng ta đang thiếu nghiêm trọng.
Vì rằng, chỉ một Giáo Pháp không thôi, cũng không đủ sức giúp một người tu hành tạo ra một vụ nổ “Big Bang” như mình từng đề cập. Mà muốn hình thành một vụ nổ như thế, đòi hỏi rất nhiều yếu tố, cộng với những tố chất tạm coi là “tài hoa” hay “thiên bẩm” trong con người ấy!!! Cho nên, tự rèn luyện để thông thuộc Giáo Pháp và hình thành những tố chất đặc biệt như vừa nêu là việc làm hằng ngày, như hơi thở, như sự sống. Giống như người “cưa cây lấy lửa”, phải cưa liên tục, không được hở tay. Chỉ cần lơi lỏng một chút là mọi thứ sẽ “nguội lạnh” và cơ hội có được lửa sẽ bằng không (= 0)!
Qua gần tám năm gần gũi các bạn, mình nghiệm ra nhiều điều. Giống như những con ngựa chạy đường xa, có con “hoan hỷ bám theo bầy đàn tiến bước”, có con “không bắt kịp bầy đàn bị bỏ lại phía sau”, có con chùn chân mỏi gối, chấp nhận ngồi đó “nhai cỏ khô trần gian cho đỡ đói”. Điều này không có gì là lạ, nó là thứ quy luật tất yếu của bất kỳ sự học nào trên đời này!
Viết đến đây, mình nhớ lại chuyện nhiều chục năm về trước, xin kể để các bạn nghe cho vui. Hồi đó tính vừa mới đưa vào xứ ta, cơ quan của mình mở một lớp học để phổ cập tin học cho mọi người, mình cũng ghi danh theo học. Lớp học gồm 120 người và 30 cái máy, như vậy bốn người sử dụng chung một máy. Những ngày đầu, để được ngồi vào bàn máy bấm bấm bấm, là một vinh dự và cạnh tranh với nhau quyết liệt. Sau nửa tháng, còn lại hai người một máy, đúng một tháng sau, một người một máy. Và ngày cuối khoá ở tháng thứ tư, mình cùng ba người nữa, mỗ̃i người gần mười cái máy.
Ngày thi tốt nghiệp, chỉ có mình cộng ba học viên và sáu anh Thầy giáo chấm thi với 30 cái máy. Một không gian học tập “ảm đạm và lạnh lẽo”...Thế đấy, trong vòng bốn tháng, từ 120 người chỉ còn lại 4 người đeo đuổi, trong đó có mình. Nhờ thế, hôm nay mới có khả năng viết, viết và viết cho các bạn. Nếu không quyết tâm đeo đuổi ngày ấy, không biết giờ này phải làm thế nào để hằng ngày nói chuyện với các bạn bằng bàn phím và con chuột!
Những ngày qua, khi giới thiệu đến các bạn cái tốt nho nhỏ của ĐSH. Nhân cơ duyên này, mình có đề cập nhiều đến Đại Tâm. Đến chuyện phải rộng mở hoan hỷ tâm. Phải biết sinh tâm tuỳ hỉ. Phải biết hân hoan trước thành tựu của người. Phải biết từ bỏ những thứ tâm nhỏ nhen ở đời như: Tật đố, ganh ghét, so bì, tôi anh, tư niệm, không vì cái chung! Những điều như vậy, được nhắc đi nhắc lại bằng cách này hay cách khác trong các emails trước, không phải không có lý do của nó...!
Kinh nghiệm giáo hoá cho mình thấy, trong giai đoạn này, giai đoạn tối hậu trước khi rời xa Tam Thừa, đặt chân vào Nhất Thừa. Nếu HĐ nào chưa phát được Đại Tâm, còn vương vấn đây kia trong lòng, còn cưu mang những thứ tâm nhỏ nhặt như đã đề cập ở trên, HĐ đó sẽ như những “con ngựa bị bầy đàn bỏ rơi”, thậm chí sẽ là con ngựa “đành phải ngồi đó nhai cỏ khô trần gian cho đỡ đói”. Giống như chuyện 500 gã Tăng Thượng Mạn phải rời xa Pháp Hội Diệu Pháp Liên Hoa khi Phật tuyên thuyết Phật Tri Kiến để chuẩn bị khai diễn Nhất Thừa!
Cho nên, cái mong muốn của mình trong hiện tại là: Các HĐ phải xem lại lòng mình, phải “Phản Quang Tự Kỷ”, phải mở cho được “Đại Tâm”, phải phát sinh cho được “Hoan Hỷ Tâm”, phải biết quở trách “Tiểu Tâm” còn thừa sót lại trong lòng để cùng bầy đàn tiến bước! Thiếu các thứ tâm này. Xin thưa, muốn đặt chân vào Nhất Thừa Đạo, chỉ là chuyện “nằm mơ giữa ban ngày”! Mình xin nhắc lại câu nói cũ mèm hôm trước: "Đại Tâm là thứ ngân lượng để mua, bán, sang, nhượng cỗ̃ xe Đại Thừa. Thiếu thứ này, phải ngồi đó chờ... khuyến mãi... hàng... tồn... kho... ở kiếp sau”!
(05-11-2015)
-----------------------
(1) Các bạn có thể tìm đọc toàn bộ câu chuyện này ở Kinh Đại Bát Niết Bàn. HT Thích Trí Tịnhdịch, quyển một, Phẩm Thánh Hạnh, (tr. 478 - 487).
Thế Giới Hoa Tạng
Thế Giới Hoa Tạng, gồm một hạt nhân là Trí Tuệ làm trung tâm, thuật ngữ Phật Giáo gọi hạt nhân này là Tỳ Lô Xá Na hay Pháp Thân, nó giống như một cái gương sen.

Các bạn!!!
Từ rất lâu rồi, mình muốn giải thích cho các bạn về một số điều khó hiểu của Kinh Hoa Nghiêm. Đó là phẩm Đại Hội Vân Tập, Thế Giới Hoa Tạng và phẩm Nhập Pháp Giới.
Ba phần vừa nêu của Kinh, chính là tảng đá lớn, làm người đọc khó hiểu và cũng là điều mà khiến nhiều người hoài nghi về bộ kinh này với câu hỏi, Kinh Hoa Nghiêm có phải là của Phật thuyết ra chăng!
Bao nhiêu lần, mình có ý định trao đổi, phân tích những vấn đề trên, để các bạn có cái nhìn thấu suốt về bộ Kinh này, nhưng rồi đành phải để đó, vì xét thấy nhân duyên chưa hội đủ, cũng như chưa tìm được một đương cơ thù thắng.
Thế rồi, nhân dịp Vô Đối Môn ra đời, sau đó các bài cảm nhận từ các bạn gởi về. Mình nghĩ, có lẽ đây là một trong những “nhân duyên hy hữu” có thể giúp các bạn hiểu bộ Kinh nói trên. Vì thế, những câu hỏi vừa rồi hình thành.
Các câu hỏi đặt ra, giúp các bạn trực nhận, như thế nào là Thế Giới Hoa Tạng của Chư Phật.
Thế Giới Hoa Tạng, gồm một hạt nhân là Trí Tuệ làm trung tâm, thuật ngữ Phật Giáo gọi hạt nhân này là Tỳ Lô Xá Na hay Pháp Thân, nó giống như một cái gương sen.
Từ hạt nhân Trí Tuệ này, sản sinh ra các vệ tinh quay quanh nó, thuật ngữ Phật Giáo gọi đó là các Bồ Tát Thích Ca, các vệ tinh quay quanh này, giống như những cánh sen, tạo thành một đài sen lớn gọi là Liên Hoa Đài Tạng. Từ những cánh sen là các Bồ Tát lớn dần, lớn dần theo ngày tháng, và giúp nhiều cánh sen tiếp nối mọc ra cho đến vô tận, gọi là Đại Hoa Tạng Thế Giới.
Những Bồ Tát trong các cánh sen, xuất thân từ những tầng lớp và giai cấp sai biệt theo quan điểm thế gian, ban đầu họ cứ tưởng mình là những tầng lớp đó như thiên, nhân, ma, phạm, thần núi, thần sông, chủ cõi... Sau khi được Đức Tỳ Lô Xá Na là bậc có Trí Tuệ giáo huấn, các Bồ Tát này mới biết rằng, bản lai họ không phải là những chúng sinh thuộc các tầng lớp, địa vị như vậy, mà bản chất của họ chính là bản chất của Giải Thoát, của Thích Ca Mâu Ni, họ trở thành những vị có Giác Ngộ và họ cũng biết rằng, Bổn tánh của họ đồng Pháp Giới Thanh Tịnh chiếu soi của Chư Phật.
Đến khi Thế Giới Hoa Tạng thành lập, Kinh Hoa Nghiêm ra đời, lấy Hoa Sen báu lớn trang Nghiêm Phật quốc, họ đồng vân tập, tụ họp về đó, nói lên chỗ̃ Giác Ngộ của mình, tuyên xưng Pháp Giới Tánh Giải Thoát, và ngợi khen Thế Giới Hoa Tạng của Đức Tỳ Lô Xá Na.
Câu hỏi thứ ba, giúp bạn nhận ra phần cuối của Kinh Hoa Nghiêm, đó là phẩm Nhập Pháp Giới, nói về Thiện Tài Đồng Tử cầu Nhất Thiết Trí. Theo kinh, Thiện Tài là một Bồ Tát đã chứng không tâm không pháp, kinh gọi là tâm như hư không, nay đến các Thiện Tri Thức để cầu Trí Tuệ. Khi đến gặp các Thiện Tri Thức, không thấy các vị này giảng dạy như thế nào, Thiện Tài chỉ quan sát hành động, nghề nghiệp của các vị đó, và nghe họ kể về các Tam Muội Môn cũng như các Giải Thoát Môn mà họ có được. Thế là, Thiện Tài trực nhận ra tất cả!!!Vì thế, trong các câu hỏi, mình yêu cầu các bạn "trực nhận". Tập làm quen với phương pháp trực nhận hay thấu thị, đến khi phép này trở thành kỹ xảo, thì kỹ xảo bây giờ chính là chìa khoá để mở cửa Trí Tuệ!!! Mình thường hay nói với một số HĐ: "Các bạn tu tập như thế nào, để ban đầu là những kiến thức, sau đó phải biết biến kiến thức thành kỹ năng, khi kỹ năng hoàn hảo, phải biết biến kỹ năng trở thành kỹ xảo. Lúc đó, các bạn sẽ là những Pháp Sư siêu hạng trong đời"! Đến đây, có lẽ các bạn đã nhận ra dụng ý của mình!
Theo như giao ước ban đầu, mình sẽ chuyển đến các bạn toàn bộ những câu trả lời đúng, nhưng mình nhận thấy, hầu như các câu trả lời này hoàn toàn giống nhau về nội dung, giống như những bài toán đúng, sẽ giống nhau về lời giải và đáp số. Vì thế, mình chỉ chuyển đến các bạn bài trả lời tiêu biểu, không nhất thiết phải đọc hết.
Xin gởi đến các bạn bài viết tiêu biểu để tham khảo.
Thưa Thầy,
Khi đọc Vô Đối Môn và những bài cảm nhận của huynh đệ, con liên tưởng đến kinh Hoa Nghiêm và Thế Giới Hoa Tạng.
Chúng con thiệt may mắn và hội đủ duyên lành, chiêm ngưỡng bản sao của kinh Hoa Nghiêm, được ghi lại trong bối cảnh của Thế Kỷ 21 bằng công nghệ thông tin.
Hiện nay, huynh đệ chúng con với đủ tầng lớp trong xã hội, vân tập về Đạo Tràng Ảo này để xưng tán Giải Thoát Môn, tuyên thuyết Pháp Giới Tánh và tán thán Vô Đối Môn cùng Trí Tuệ Vô Đối của Thầy. Giống như ngày xưa Thiên, Nhân, Ma, Phạm, thánh, thần, chủ cõi, Bồ Tát... Vân tập về đạo tràng Bồ Đề xưng tán các môn Giải Thoát cùng Trí Tuệ Bất Khả Tư Nghì của Phật, để thành lập nên Hoa Tạng Thế Giới.
Kinh Hoa Nghiêm, Thiên, Nhân, Ma Phạm... Nhờ tu học nơi đức Tỳ Lô Xá Na, tức Trí Tuệ Vô Thượng của Pháp Thân Phật, mà Giác Ngộ. Và họ hiểu ra, họ chính là Giải Thoát, thể tánh đồng Pháp Giới Tánh, bổn lai chẳng phải các loài kia...
Đến khi Thế Giới Hoa Tạng thành lập, họ đồng vân tập và tán thán!
Nay chúng con, cũng gồm những con người khác nhau, địa vị khác nhau, địa phương khác nhau, nhờ trước đây học nơi Trí Tuệ Vô Đối của Thầy, mà biết rằng bổn lai của mình chẳng phải những con người ấy, địa vị ấy. Chúng con chính là Giải Thoát, thể tánh thanh tịnh đồng pháp giới... Hôm nay, Thế Giới Vô Đối thành lập, chúng con đồng vân tập và nói lên chỗ̃ Giác Ngộ của mình, cũng như xưng tán Trí Tuệ Vô Đối của Thầy.
Chúng con là những cánh sen được mọc ra từ gương sen là Thầy, tất cả đồng tụ hội để trở thành Liên Hoa Đài Tạng của thế giới Hoa Nghiêm.
Kinh Hoa Nghiêm vẽ ra lộ trình Bồ Tát phải trải qua năm mươi chặng đường tu chứng là Thập Tín, Thập Trụ, Thập hạnh, Thập Hồi hướng và Thập Địa. Thì Vô Đối Môn cũng vẽ lên một sơ đồ giáo pháp để tu tập từ thấp lên cao... Chỉ rành từng cung đường cho huynh đệ chúng con lần lượt đi qua, để thành tựu tự thân, và sau đó thật hành Bồ Tát đạo để viên mãn phần độ tha. Tiến trình triển khai từ sơ phát tâm (Thập Tín) cho đến giác ngộ được Bổn Tâm (Thập Trụ), kiến tự bổn tánh (Thập Hạnh) để rồi dùng Tánh Giác này đi cầu học Nhất Thiết Trí (Thập Hồi Hướng) và sau cùng là học cách trực nhận vấn đề, để sau này có cơ may chứng Thật Trí (Thập Địa).
Con nghiệm ra, Vô Đối Môn và Hoa Nghiêm không hai không khác. Có khác chăng, chỉ khác ở thời đại, hoàn cảnh xã hội, địa lý, con người và kỹ thuật giáo hoá cùng ngữ ngôn!
Phần còn lại, muốn Đạo Tràng viên mãn, chúng con cũng phải cầu học Nhất Thiết Trí như Thiện Tài Đông Tử ngày xưa. Con cúi đầu, kính xin Thầy triển khai tiếp phần này, để chúng con tu học!
Con nghĩ, đến khi nào trí tuệ của chúng con toả sáng, đạo nghiệp vững vàng, chúng con sẽ là những người tiếp nối giáo pháp của Thế Tôn được Thầy truyền dạy. Nhất định giáo pháp Vô Đối này sẽ lan truyền, và hạt giống Phật sẽ nhân rộng, để vị lai hình thành Vô Đối Đại Hoa Tạng Thế Giới.
Con.
(11-10-2015)
Về Tác Phẩm Vô Đối Môn
Phật dạy: “Pháp như chiếc bè sang sông, qua sông rồi, chớ có mang vác nó trên vai”

Các bạn!!!
Sáng nay, mình có buổi nói chuyện với một vài HĐ về những điều xoay quanh Vô Đối Môn (VĐM). Và, mình phát hiện ra, để lãnh hội trọn vẹn những gì đã viết trong VĐM thiệt không dễ!!! Càng dùng Giác Tri để hiểu, càng lạc sâu vào "rừng rậm suy lường", như con cá mắc phải lưới lớn!!!
Mình biết, các bài VĐM càng về sau, càng khó hiểu. Vì bởi quy trình học pháp nó phải như vậy, nâng dần từ thấp lên cao. Từ sơ đẳng đến thâm sâu. Từ suy tư đến trực nhận. Từ từ trực nhận đến thấu triệt.
May thay, trong buổi trò chuyện sáng hôm nay có HĐ đã lãnh hội được phần nào đó những gì mà VĐM đã viết. Xin chuyển đến các bạn, tâm sự của một HĐ sau buổi nói chuyện.
Rất mong tất cả HĐ chúng ta, đều có thể thấy điều cần thấy, biết điều cần biết, như lời Ngũ Tổ nhắn nhủ; “Bất thức Bổn Tâm, học Pháp vô ích... Nhược thức tự Bổn Tâm, kiến tự Bổn Tánh... Thị danh Trượng Phu...”
1. TÁN THÁN VÔ ĐỐI MÔN (VĐM)
Sau đây là tâm sự của một HĐ, sau khi thấy được chút gì đó từ Vô Đối Môn.
Thưa Thầy,
Lạ lùng thay Vô Đối Môn!
Vi diệu thay Vô Đối Môn!
Thiện xảo thay phạm âm khai thị của Thầy ban rải cho con hôm nay!!! Đúng là lời nói thấu đến tâm. Đúng là lời nói khéo chỉ bày cách dụng tâm. Đúng là lời nói khéo chỉ bày: "Như gương sáng đốn soi sắc tượng”!
Trước hết, con xin cung kính đảnh lễ Thầy ba lễ.
Lễ thứ nhất từ nay vĩnh viễn dứt ngu.
Lễ thứ hai từ nay vĩnh viễn dứt mê.
Lễ thứ ba từ nay vĩnh viễn dứt lầm.
Khi lễ đủ ba lạy từ nay con nguyện “Thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh”.
Thưa Thầy,
Cái vi diệu mà Thầy đã khéo từ bi chỉ bày qua Vô Đối Môn chính thật là cam lồ diệu dược có công năng làm cho tự thân con thành tựu một phần huyễn trí… Nguyện tất cả mọi HĐTM đều nhân tu tập Vô Đối Môn, có thể tịch diệt bóng dáng “Tảng đá pháp giới chư Phật” để bước vào nhất thừa đạo.
Thầy ơi!... Nếu không có Thầy, nếu không có Vô đối Môn, và nếu không có buổi trực tiếp nghe Thầy chỉ giáo hôm nay, thì làm sao tự thân con có thể chấm dứt hết ngu mê lầm, để trở thành bậc đại trượng phu không hổ thẹn là đệ tử Phật, đệ tử Thầy.
Thầy ơi!... Trong vô vàn cảm xúc, tràn đầy hỷ lạc, khi được Thầy khai thị làm sao con có thể viết hết, trong những dòng cảm tạ này, lòng cung kính vô hạn Bậc Đạo Sư của con đối với Thầy... Làm sao con có thể nói hết được cái lợi ích bất khả tư nghì của Vô Đối Môn đối với chúng con hiện tiền và chư Bồ Tát đời vị lai. Con xin cung kính đảnh lễ Vô Đối Môn ba lễ.
Thầy ơi!... Nào dè...! Nào dè...! Nào dè cái khó nói khó chỉ, mà bằng cái trí tuệ bất khả tư lường, Thầy đã chỉ rõ cho con cái chưa từng thấy, cái chưa từng biết! Đây mới là "Hạnh phúc giữa trời xanh".
Cái lạ lùng là, theo từng lời nói của Thầy, cái đầu của con nó đã rụng mất không còn dấu vết. Từ nay, con nguyện biết bằng tự tâm này và thấy bằng tự tánh này để lợi mình lợi người.
Nguyện theo Thầy cho đến khi thành quả Vô Thượng Bồ Đề mới thôi. Xin Thầy từ bi minh chứng cho con.
(08-09-2015)
2. KIỂM TRA NĂNG LỰC THẤU THỊ
Xưa nay, ngoài đời thường hay truyền tụng, có một số người, bằng năng lực nào đó, họ có được khả năng thấu thị, tức là có thể nhìn thấy những đồ vật bị che khuất, có thể là một bức tường hoặc dưới lòng đất, thậm chí thấy cả ruột gan phèo phổi của một con người mà không cần đến hỗ̃ trợ kỹ thuật! Tất nhiên điều này, bản thân mình cũng chỉ nghe thiên hạ... đồn... chứ chưa tận “mắt thấy tai nghe”. Vì thế, thật hư thế nào, thì xin... miễn bàn!
Hai hôm nay, mình đang chuẩn bị cho một cuộc trắc nghiệm nho nhỏ về “khả năng thấu thị” của các bạn. Tất nhiên, không phải mình đặt ra yêu cầu, bắt mọi người nhìn thấy tim gan tỳ phế thận của người khác, hay nhìn thủng tường, xuyên đất như thiên hạ vẫn đồn.
Mà mình muốn biết rằng, sau khi đọc VĐM cùng các bài cảm nhận của HĐ. Các bạn đã nhìn xuyên qua lớp chữ nghĩa của VĐM và các bài cảm nhận, có trực nhận ra điều gì ở đó hay không!
Sáng nay, một HĐ của chúng ta gặp mình, và trình bày những gì bạn ấy “trực nhận” trong lúc đọc VĐM và các bài của HĐ. Mình rất không ngờ... không ngờ... và không ngờ! Lại có người, bằng năng lực thấu thị siêu nhiên...Đã nhìn thấy tim gan tỳ phế thận, lẩn ruột non, ruột già, hoành cách mô... của Lão Lý một cách rõ ràng đến thế. Và đã trả lời đúng 100% những câu hỏi mà mình chuẩn bị đưa ra. Tất nhiên là HĐ đó tự trình bày, chứ không phải mình chủ động đặt câu hỏi.
Các bạn biết không, trong lúc nghe HĐ đó trình bày, quá cao hứng, lại gãi đúng chỗ̃ ngứa, ít ra gần mười lần, mình vỗ̃ đùi đánh đét và khen bạn ấy... hay!!! hay!!! hay!!! theo từng phần đoạn trình bày. Để chiêu đãi khả năng siêu nhiên này, mình khao bạn ấy một đĩa hột Macadamia và Wasabi Peas, cùng uống trà King Tea 313! Mười phút trước đây, bạn ấy vừa thông báo, đang gởi bài viết về mình để "hồi sau trình làng".
CÁC CÂU HỎI VỀ… TRỰC NHẬN VÔ ĐỐI MÔN
1) Sau khi đọc VĐM và các bài cảm nhận của HĐ. Bạn “trực nhận” ra điều gì ở trong đó?
2) Bạn có thể trình bày điều bạn trực nhận theo thứ lớp cụ thể 1, 2, 3... Ví dụ: Phần 1 phải thế này...
Phần 2 phải thế này... Phần 3 phải thế này...thì nó sẽ giống với cái... cái... cái? (Cái mà bạn muốn chứng minh rằng, điều bạn thấy giống cái đó. Ví dụ: Đó là củ khoai và nếu xếp từng phần như thế, điều tôi thấy nhất định cũng trở thành củ khoai)
3) Sau khi bạn trực nhận ra điều đó (điều mà bạn đã thấy). HĐ chúng ta nên làm gì tiếp theo, để điều bạn đã trực nhận trở nên viên mãn?
Mình đang chờ đợi “năng lực thấu thị” từ các bạn!
(04-10-2015)
3. HOA TRÁI ĐẦU MÙA
Các bạn!
Sáng nay, sau khi pha trà và cà phê xong, mở máy theo thói quen, mình nhận được bài trả lời của “một nữ tín chủ phương xa”. Đọc lần một, lần hai, lần thứ ba, rồi lần thứ tư... Hoan hỷ tăng dần theo mỗ̃i lần đọc! Và mình quyết định, thôi không vội uống cà phê, cà phê giờ đây đã trở thành nhạt nhẽo đối trước vị ngọt và hương thơm của hoa trái đầu mùa mình vừa nhận được. Và, nhất định phải thông báo ngay "quả chín thứ hai" từ VĐM đến các bạn, không thể chần chừ!
Từ hôm qua đến bây giờ, ngay cả sáng hôm nay, mình cứ suy nghĩ: “Không lẽ, các câu hỏi đưa ra, lại quá tối nghĩa, tối nghĩa đến độ khiến các bạn định hướng sai...”. Mình đã có ý định, sau vài hôm nữa, nếu không có hoa nào kết thành trái, sẽ điều chỉnh câu hỏi và thêm chút gợi ý... Nhưng bây giờ, sau bài trả lời vừa nhận được, giúp mình vững tin, giữ nguyên các câu hỏi đã gởi... Vì rằng, có người trả lời đúng các câu hỏi, có nghĩa rằng câu hỏi không đến nỗ̃i mơ hồ hay tối nghĩa.
Hôm qua, trong lúc tâm sự với HĐ Lý Thái Đăng. Câu nói của HĐ này làm mình suy nghĩ, câu nói như sau: " VĐM ra đời, đã xuất hiện trái đầu tiên, có nghĩa rằng, những trái tiếp theo sẽ kết tụ theo thời gian. Điều này cho thấy, cây VĐM đã và đang phát triển tốt...!!!”. Giờ đây, câu nói của HĐ này đã trở thành hiện thực. Trái thứ hai lại ra đời, mình tin rằng trái thứ ba, thứ tư... đến vô tận sẽ xuất hiện như điều HĐ ấy đã nói!
(06-10-2015)
4. TRỰC NHẬN…
Các bạn!
Hầu như những câu trả lời của HĐ chỉ loay hoay nói về đạo quả (đạo), mà chưa thể hiện sự trực nhận của Trí.
Đạo là cái ở trong tâm... Như vầy!
Trí là sự trực nhận cái trước mắt... Như kia!
Muốn có trực nhận của Trí, phải rời Đạo. Có nghĩa phải “lìa mê lìa giác”!
Đạo chỉ có thể đưa người đến chỗ̃ rốt ráo của tâm. Trí mới có thể làm ra các Đạo quả và tiến về Vô Thượng Trí.
Có nghĩa Trí vạch ra con đường cho Đạo đi... Trí mới có thể “biến ấu thành sen”, còn Đạo chỉ có thể làm cho “sen nhân giống sen”... Vì thế kinh thường hay nói: “Thích Ca (Đạo) học Đạo của Đức Tỳ Lô Xá Na (Trí)...”
Yêu cầu của các câu hỏi là:
Sau khi “đọc VĐM và các bài cảm nhận của HĐ”, bạn trực nhận nó giống cái gì, tức dùng Trí mới trực nhận được. Và chứng minh những điểm giống nhau, chứng minh thuộc về Trí, Đạo không thể làm được, vì Đạo tịch tĩnh vô vi.
Mình nhớ VĐM (49) mình có đề cập: “Chỗ cuối cùng của Đạo chưa phải chỗ cuối cùng của Trí...”. Các câu hỏi đặt ra, mục tiêu là: Nâng các bạn lên một bậc, tức phải rời Đạo, để có cái nhìn thông qua trực nhận của Trí.
Các bạn có hiểu mình nói gì không?
(07-10-2015)
5. TỐ CHẤT VÀ YÊU CẦU
Các bạn!
Thật hoan hỷ! Sáng nay mình nhận thêm “hai quả chín” của một HĐ Nam và một Nữ từ phương xa. Xin tán thán “sự trực nhận” của hai vị!
Đặc biệt, mình cũng nhận được bài viết của Lý Câu Liêm. Tuy rằng bài viết chưa đáp ứng được hoàn toàn yêu cầu câu hỏi đặt ra. Nhưng, cho thấy có một góc nhìn tốt, rời được "tảng đá đạo quả" trong lòng. Bài viết của Liêm, cho ra cái nhìn rất đạt, nhưng có lẽ do ít đọc tụng kinh điển vì thời gian quá ngắn, nên chỉ nói được những điều trực nhận theo cách thế gian. Bài viết rất “dễ thương”!!! Mình nghĩ, vị lai Liêm sẽ có cái nhìn rất thoáng.
Các bạn!
Những gì thuộc về Đạo, có thể nói cho đến giờ này, mình đã trang bị cho HĐ “tận răng”... Từ thô sơ đến hiện đại, từ lạc hậu đến văn minh. Có nghĩa rằng, trong bảy tám năm qua, những gì cần thiết cho một người tu tập, để thành tựu tất cả Đạo quả trong Phật Đạo không thiếu. Nếu chỉ dùng những kiến thức này, để hoàn thành Đạo nghiệp tự thân, thì không còn gì phải bàn!
Nhưng, để bước từ Đạo sang Trí, là một quá trình dài và đòi hỏi một con người phải “có những tố chất cần thiết”. Những tố chất đó, có khi do rèn luyện mà thành, cũng có khi do bẩm sinh, hoặc cả hai.
Cho dù đó là những tố chất nào chăng nữa, để thể nhập Trí và biến thành Trí Lực, đều là những yêu cầu bắt buộc phải có, gần như “điều kiện ắt có và đủ”, thiếu bất kỳ một yêu cầu nào cho dù nhỏ nhất, nhất định không thể học được “chiêu thức của Đao Thứ Ba” này!
Vì thế, để chuẩn bị “Khai Đệ Tam Đao”. Các câu hỏi vừa rồi, và những câu hỏi mình sẽ đặt ra trong thời gian tới, chính là những “bài tập cơ bản” để giúp HĐ bắt đầu làm quen với sự trực nhận của Trí. Đã là trực nhận, nên nó không theo một quy luật nào cả, nhưng lại đòi hỏi phải có độ chính xác rất cao, đây thật sự là một việc làm khó. Không theo quy luật, không có lô gích nhưng phải đúng, chuyện mới nghe, như “chuyện cõi trên”, nhưng lại cần thiết để về với Thật Trí. Chính tính chất ngược đời, không theo quy luật thế gian, lại là yếu tố cần thiết để có thể “tạo ra một vụ nổ Big Bang tâm thức”!
Nó giống như Thiện Tài cầu Nhất Thiết Trí, như Tát Đà Ba Luân cầu Bát Nhã... Không nghe vị Thầy đề ra phải học điều gì, cũng không thấy giảng nói, hay giải thích gì hết, nhưng hai vị ấy lại học được! Cái khó là chỗ̃ này, vì thế "tố chất" và "năng lực trực nhận" là cực kỳ quan trọng. Chưa có được hai điều này, chẳng thể "cầm nổi đao thứ ba"!
Có lẽ, đã qua rồi cái thời, huynh đệ chúng ta cứ “vo ve cái Đạo quả trong Tâm” để làm phép ứng xử. Hỏi gì cũng lấy đạo trả lời. Đi đâu cũng mang tảng đá Đạo trên lưng! Mở miệng là Đạo! Đạo! Và Đạo! Có lìa mê, lìa Giác, thì Trí mới mọc. Có năng lực sáng tạo thì Huệ mới thành! Phật dạy: “Pháp như chiếc bè sang sông, qua sông rồi, chớ có mang vác nó trên vai”. Và Phật cũng dạy: “Ta không có một chút pháp (Đạo) gì, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ta”.
Từ bài trả lời, chúng ta làm một cuộc rèn dũa dài ngày, hầu tạo ra những tố chất cần thiết và sự trực nhận hoàn hảo. Có như thế, mai này những “vụ nổ Big Bang” mới có thể xảy trong tâm thức các HĐ!
(07-10-2015)
Chuyện Bướm Và Tằm

Sáng hôm qua, sau khi giải quyết xong công chuyện, bèn xách xe đi rửa, vì mấy hôm nay ngày nào cũng mưa, chiếc xe toàn là bùn đất, nhìn không khác gì con trâu!!!
Trong lúc chờ đến lượt xe được làm đẹp, mình bèn tạt qua tiệm cà phê đối diện để làm một li xây chừng (cà phê đen nóng của miền Nam)... Cái thú buổi sáng nhâm nhi li xây chừng nóng hổi, kèm bình trà quạu (trà đặc)... Một mình một cõi ở quán cà phê vỉa hè, nhìn thiên hạ ngược xuôi, rồi ngẫm nghĩ cái sự đời cái sự đạo là thứ thú vui của bọn mình hồi mấy chục năm về trước!!!
Quán cà phê là căn nhà cấp bốn thấp lè tè, nhưng được một cái nằm ở góc hai con đường của một khu dân cư, một bên là con đường lớn, một bên là con đường vừa vừa vì thế tầm nhìn không bị che khuất, thoả sức ngắm thiên hạ lại qua...
Mình chọn một cái bàn trống sát vách nhìn ra con đường lớn, bên kia là tiệm rửa xe... Trong quán, một vài bàn cờ tướng bày ở mái hiên bên phải, chừng chục người tụm lại hò hét ăn con xe, con pháo... Kế bàn của mình là một nhóm những người già cùng vài người bán vé số dạo đang bàn nhau chiều nay xổ con gì...!!!
Mình lặng lẽ nhâm nhi li cà phê nóng, dạo này buổi sáng bận quá nên cái thú cà phê vỉa hè một mình không thường xuyên!!! Hồi xưa, HĐ Lý Gia chưa có, lúc ấy Lão Trương còn sống, hai anh em ngày nào cũng ngồi vỉa hè đàm đạo...!!! Ha ha ha ha!!! Cái đạo thâm u của thánh hiền, những góc khuất triết lí... phần lớn được mình khám phá “ở vỉa hè” bên những li cà phê đen rẻ tiền khét mùi bắp rang chứ chẳng phải dưới gốc Bồ Đề linh thiêng như các cụ ngày xưa..!!!
Bây giờ, hồi ức lại cái thời được bọn mình mệnh danh “đạo xây chừng” lại hoá ra đắc dụng... Thế mới biết, đạo giác ngộ và chuyện giác ngộ chẳng luận nơi chốn sang hèn, vấn đề là “ở cái đầu” và xuất phát điểm “anh đi con đường nào”...!!!
Cũng những ngày ấy, cũng bên li xây chừng, cũng tụm năm tụm ba để luận bàn đạo pháp, nhưng nhìn lại, bây giờ mình và những con người ngày ấy nay tóc đã bạc phơ... Và cũng vì những cái đầu khác nhau, xuất phát điểm khác nhau nên đến hôm nay, bấy nhiêu con người ngày ấy gặt hái thành quả từ đạo pháp cũng rất khác nhau...!!!
Đang trầm tư những chuyện đã qua, bàn tay của ai đó đặt trên vai!!! Mình ngước lên, bắt gặp một khuôn mặt quen thân trong nhóm “đạo xây chừng” ngày ấy...!!!
⁕ Mình nói: Chào anh Ba!!! Anh khoẻ không??? Lâu quá không gặp!!!???
− Lâu lắm mới thấy chú!!! Sao hôm nay lại ngồi một mình ở đây???
⁕ Anh uống cà phê đi!!! .. Thế là ông bạn già kéo ghế ngồi đối diện với mình!!!
− Sao??? Lúc này chú làm gì??? Ông bạn già hỏi mình!!!
⁕ Hết đát sử dụng, nhà nước cho nghỉ ngơi, ngày ngày làm nhà báo!!!
− Thế chú được mấy sui???
⁕ Một sui (thông gia) và hai đứa cháu nội!!! Còn anh???
− Tôi không được cái thong dong như chú!!! Không may mắn làm nhà báo như chú, mà bị con cháu nó báo!!!
⁕ Ủa!!! Con anh lớn hơn con tôi!!! Ngày trước nghe nói mấy đứa có việc làm ổn định!!! Sao lại báo anh???
− Lớn thì lớn chớ!!! Nhưng mình không theo sát, không chỉ bảo, không hoà giải, không giữ con cho tụi nó, không viện trợ, v.v... tụi nó sống sao đây!!!??? Hồi tụi nó còn nhỏ, mình phải làm gà bươi hết chỗ nọ đến chỗ kia kiếm tiền cho nó ăn học!!! Tụi nó lớn khôn, ngoài chuyện dựng vợ gả chồng, có công ăn việc làm, hai ông bà già như tụi tui phải chia phe làm hai con cún giữ nhà, ngoài việc làm cún, còn kiêm nhiệm thêm nghề tài xế chở mấy đứa cháu nội ngoại đi học, thậm chí tuần nào tui và bà xã cũng thêm cái nghề tư pháp hoà giải xung đột gia đình, ô xin ô xiết đủ hết... Nói chung, già cũng không yên, khổ vẫn hoàn khổ, lỡ sinh ra mấy cái huân chương đặng ngày sau có người nối dõi tông đường, bây giờ phải đeo lủng lẳng trên cỗ cho vinh quang với bà con, không có bọn mình tụi nó rách việc, thiên hạ lại cười...!!! Như bắt đúng tần số, ông bạn già kể khổ đến nỗi quên uống cà phê!!!
⁕ Thế anh định chừng nào mới vứt mấy tấm huy chương để được thảnh thơi???
− Chắc đợi ngày đóng nắp quan tài!!!
⁕ Thế lâu nay anh có tụng đọc kinh điển ngồi thiền gì không???
− Thì con đường mình đã chọn đâu có bỏ được!!!
⁕ Anh bận như thế, thì giờ đâu mà tụng đọc, ngồi thiền???
− Đọc thì bây giờ mắt kém, thỉnh thoảng năm ba tháng tui và bà xã đi chùa lễ bái... Còn bữa nào khoẻ, ngồi thiền mươi lăm phút chớ ngồi lâu cũng không nổi, nhưng đạo tâm nhất định không bỏ!!!
⁕ Mình nói đùa: Anh không bỏ đạo tâm, nhưng cái đạo tâm nó có chịu chung sống với anh hay không???
Nghe thế, ông bạn già có vẻ không hài lòng... Ông ta nói:
− Giọng của chú xưa nay không khác, câu nào cũng móc họng thiên hạ!!!
⁕ Tui hỏi thiệt chứ đâu có móc họng, mà họng anh tui móc để làm gì??? Xâm phạm thân thể người khác là vi phạm luật pháp!!! Anh đừng có chụp mũ à nghe!!!
− Tui nói móc họng ở đây là cách nói ngược bản họng, khiến người khác đau đầu chớ không phải lấy ngón tay mà móc vào họng người ta!!!
⁕ Thôi mình nói chuyện nghiêm chỉnh đi!!! Lâu ngày gặp nhau, sao chỉ nghe anh kể khổ, có chuyện gì vui nói cho tôi nghe với!!! Chuyện thiên hạ khổ tui nghe đầy lỗ tai rồi!!! Khổ có gì hay mà gặp ai tui cũng nghe họ tự nhận mình là “người khổ nhất”!!!
− Có gì vui chú ơi!!! Sinh làm kiếp con tằm phải nhã tơ!!! Hết tơ con tằm chết!!!
⁕ Ủa!!! Mà anh đâu phải con tằm!!!???
− Tui ngẫm nghĩ, đời người chẳng khác chi con tằm!!!
⁕ Ha ha ha ha!!! Con tằm làm hết việc của con tằm thì con tằm phải hãnh diện và vui sướng chớ!!! Khi nào con tằm mà bị buộc làm chuyện con sâu mới đáng oán trách!!! Anh đã làm đúng chức trách của một con tằm, sao lại thở than!!!
− Nữa!!! Cũng cái giọng móc họng nữa!!! Bộ chú không biết nói lời nào cho người khác mát dạ hay sao???
⁕ Có chớ!!! Gặp anh tui cũng muốn nói điều gì đó cho anh mát dạ chớ!!! Nhưng anh tự nhận mình là con tằm thì tôi biết nói cái gì đây, ngoài chuyện tằm... và... tơ!!!???
Xe rửa xong rồi!!! Tôi xin kiếu!!! Hẹn anh dịp khác mình nói chuyện bướm cho vui!!!
Thế đấy các bạn!!!
Ông bạn già trong câu chuyện trên, ngày xưa thường uống xây chừng đàm đạo với bọn mình!!!
Ngày ấy, gặp nhau là anh ta hô hào kiến tánh!!! Mở miệng là đốn ngộ!!! Buông bỏ là khẩu hiệu đầu môi!!!
Nhóm người của anh ấy thường chê mình và Lão Trương là Thần Tú, chỉ biết nhai kinh thay cơm!!! Nhưng rồi đến hôm nay, theo thời gian, “kiến tánh” và “đốn ngộ” của anh ta đã “cao chạy xa bay”, có còn lại chăng là một mớ khổ do “đạo chẳng thông”, “đời chẳng khéo”, lại tự nhận làm “kiếp con tằm” buông cũng không xong, bỏ cũng không đành!!! Còn thứ kinh mình nhai thay cơm và bị chê bai thời ấy, sau khi tiêu hoá xong, lại trở thành Lý Tứ của hôm nay đấy các bạn ạ!!!
Viết đến đây, mình không thể không tri ân lời khuyên của Lão Trương ngày mình còn trẻ: “Bây giờ, mắt chú còn sáng, không tận dụng sức lực của tuổi trẻ để tụng đọc kinh điển, không tận dụng tinh anh của bản thân để tư duy nghĩa lí đặng soi sáng tâm trí... Mà ngày ngày chỉ biết chạy theo những hô hào hư ảo nhưng thực tế rỗng tuếch như mấy người kia... Ngày sau lớn tuổi, mắt mờ tai điếc có muốn đọc cũng không được, có muốn tư duy cũng không xong... Rốt cuộc, đạo chẳng thông, đời chẳng thấu, cuối cùng trở thành kẻ tôi mọi cho áo cơm”!!!
Nhờ những lời khuyên ấy, mình đã nhai không biết bao nhiêu bộ kinh, đã nghiền ngẫm nghĩa lí bằng không biết bao nhiêu ngàn li xây chừng ở vỉa hè... mình đã hiểu ra nhiều điều ‘không dễ hiểu’ từ kim khẩu Thế Tôn!!!
Và những gì của đạo pháp mà HĐ Lý Gia thừa hưởng hôm nay, chính là kết tinh của việc nhai kinh thâu đêm trong căn nhà lá rách tả tơi nhìn thấu trăng sao, và mỗi sáng nhâm nhi li xây chừng vỉa hè ở quán cóc ven đường... khét... mùi... bắp... cháy!!!
(27/06/2020)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tri-hanh-phuc
Trân trọng,
Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Hoa Nghiêm thuộc về hệ Phương Quảng, tuyên xưng Phật cảnh giới

1. TỤNG ĐỌC… KINH HOA NGHIÊM
Các bạn!
Thật lý thú!... Từ lúc gởi Vô Đối Môn (38) nói về Kinh Hoa Nghiêm. Mình nhận được rất nhiều kiến giải của HĐ trình bày thấy biết về Kinh Hoa Nghiêm… Theo mình, những HĐ này thật sự ham thích “Trí Tuệ”, đang tìm cách xâm nhập lãnh vực Trí Tuệ. Nhưng mình vẫn chưa thấy một kiến giải của HĐ nào trả lời thoả mãn yêu cầu đặt ra… Phần lớn các HĐ của chúng ta dựa trên nền tảng của “giáo” để lý giải và xâm nhập lãnh vực “Trí”. Vì thế, các câu trả lời không đạt yêu cầu.
Câu hỏi đặt ra là, Kinh Hoa Nghiêm đã bị “nghi án nguỵ thuyết của Bà La Môn”. Nay, chúng ta làm sao chứng minh kinh này là của Phật Trí tuyên nói về Phật cảnh giới chứ không phải của Bà La Môn.
Tất nhiên, giống như đau ở đâu chữa ở đó. Chỗ̃ nào trong kinh người ta cho rằng của Bà La Môn, thì chúng ta phải chứng minh chỗ̃ đó chính là của Phật trí.
Kinh Hoa Nghiêm thuộc về hệ Phương Quảng, tuyên xưng Phật cảnh giới. Nếu chứng minh được điều này là của Phật trí, tuyên thuyết từ thật trí, người chứng minh tất nhiên phải là người hiểu chắc thật thế nào là thật trí. Còn chưa chứng minh được, thì chỉ là người còn loay hoay trong phạm vi của “giáo”.
2. CHỈ THÚ… KINH HOA NGHIÊM…?
Hôm nay đang viết VĐM (39), nhưng mình cũng tạm phải gác lại, để dành thì giờ trao đổi “phản biện” các HĐ có câu trả lời. Và, chưa có HĐ nào vượt qua ải phản biện của mình để bảo vệ thành công lập luận của họ!
Mình rất mong muốn, trong HĐ chúng ta, có vị nào đó, chứng minh một cách thuyết phục rằng: “Kinh Hoa Nghiêm chính là của Phật trí...”
Nói đến chứng minh, có nghĩa phải nêu lên những ý nghĩa cùng các bằng chứng thuyết phục. Ví dụ: Một cái bình trà để trước mặt, ba người A, B, C đều nói rằng cái bình trà này là của mình. Một trong ba người này, người nào trưng đủ bằng chứng hoặc lý luận thuyết phục, đủ cơ sở để chứng minh cái bình là của mình, chắc chắn cái bình là của người đó. Vì thế, chứng minh là đưa ra bằng chứng, chứ không chỉ là những lý luận khơi khơi.
Rất mong, thấy được một “con rồng nhỏ” xuất hiện. Như người xưa xuất hiện ở Long Cung để đem Hoa Nghiêm về.
(11-08-2015)
3. LỜI HỨA VÀ YÊU CẦU
Mình nhận được rất nhiều... Rất nhiều câu trả lời của HĐ chứng minh Kinh Hoa Nghiêm là của Phật thuyết.
Nhìn chung, có thể nói, phần lớn lập luận chứng minh của HĐ là tốt, tư duy đúng hướng. Tuy nhiên, theo mình thì HĐ đã tư duy đúng hướng, nhưng để có một kết luận đủ sức thuyết phục, nêu bật được lý do vì sao kết cấu của kinh theo hình thức văn hoá Bà La Môn, hầu như lập luận của các bạn chưa được thuyết phục cho lắm!
Vì bởi, đây mới là mấu chốt vấn đề, đây chính là những gì đặc thù nhất của Kinh Hoa Nghiêm. Có nghĩa rằng, “đa thần” vân tập để làm gì? Điều này, phần lớn HĐ đưa ra ý kiến chủ quan có tính văn hoá, hoặc quy về phương tiện hoá hiện, mà chưa thấy được nguyên uỷ sâu xa của việc làm này.
Mình cũng có cảm nhận, chỉ trong vài ba ngày mà các HĐ đã tìm thấy một chút gì đó manh mối vấn đề, điều này hơn hẳn bản thân mình ngày xưa. Để có một kết luận, một chứng minh đủ sức thuyết phục và hoàn toàn sáng tỏ mọi việc đúng với bản chất của câu chuyện trong kinh, mình đã mất một thời gian dài trên năm năm. Điều này nói lên rằng, các HĐ đã có một căn bản Giáo Pháp vượt trội, một định hướng tu tập đúng đắn, một cơ sở tư duy rất tốt và một hệ thống lý luận tương đối vững vàng, vượt xa bản thân mình ngày trước!
Mình cũng nhận thấy rằng, ít ra trong thời gian qua, đây là dịp tốt nhất để một số HĐ chúng ta “ghé mắt” đến bộ kinh Hoa Nghiêm. Điều này được coi là một thắng lợi tinh thần.
Hoa Nghiêm là một đề tài không dễ, hy vọng có một ngày đẹp trời nào đó, có thể là một chút nữa, có thể là ngày mai, có thể là một năm, có thể là mười năm, có thể lâu hơn... Khi nào nhận được bài viết đạt yêu cầu, mình sẽ chuyển bài đó tức thì đến mọi người, để mọi người cùng chiêm ngưỡng!
(13-08-2015)