Thường Tự Tỉnh Giác
Trong kinh Lăng Già Phật dạy: “Đầu hôm, giữa khuya, gần sáng phải thường tự tỉnh giác.."

Các bạn!!!
Khuya nay, mình có khởi quán: Nguyên nhân vì sao, một số huynh đệ chúng ta tuy có giác ngộ, nhưng thường hay bất giác, phiền não vẫn còn, dễ giận hờn, đôi khi phát sinh tà kiến, v.v... Không khác gì người đời...!
- Mình thấy rằng, các vị huynh đệ này tuy có giác ngộ, nhưng chỗ̃ giác ngộ chưa sâu, hoặc giác ngộ sâu mà không khéo hộ trì. Vì thế, thường để cho tập nhân hiện khởi, từ đó phát sinh bất giác... Một khi bất giác hiện khởi, giác trí bị che mờ, cho nên phiền não tâm và những hệ lụy kể trên lôi kéo, khiến vị ấy rời xa chánh pháp, sinh tâm giận hờn từ bỏ bạn lành, phát sanh tà kiến, thậm chí là ác kiến!
- Để giúp Bồ Đề tâm tăng thượng, làm cho bất giác đẩy lùi. Người tu hành phải thường nhớ nghĩ đến việc tu tập, như trong kinh Lăng Già Phật dạy: “Đầu hôm, giữa khuya, gần sáng phải thường tự tỉnh giác...”. Thường tự tỉnh giác là cách tốt nhất để ngăn chận bất giác.
“Thường tỉnh giác” bằng cách gì?
- Đối với người chưa giác ngộ, hoặc giác ngộ không sâu. Dùng phép Tam Ma Đề, dừng cho được phân biệt, dập tắt mọi quan niệm (pháp) đang hiện sanh. Tu như vậy, đến khi nào các pháp và phân biệt không còn hiện khởi, chỉ còn lại giác trí. Vị này dùng giác trí quán (tầm tứ) trở lại thân và tâm này, lúc đó thiền định với đầy đủ năm chi sẽ sanh khởi... Nhờ sự an ổn của thiền định, vị tu hành này phát hiện ra thế nào là bản chất thật của thân và tâm. Thấy được bản chất thật của thân và tâm, vị ấy an trú nơi không thân tâm gọi là Xa Ma Tha. Trong Xa Ma Tha, tập nhân và bất giác (ngã) dần dần tự diệt. Vị lai sẽ thấu suốt được thế nào là Diệt đế.
- Đối với người đã giác ngộ. Dùng huệ trí, phát khởi pháp Tỳ Bà Xá Na. Dùng Tỳ Bà Xá Na quán tột cùng “bản lai của các pháp”, khi thấy được bản lai của các pháp chỉ là sự huyễn hoá của tâm ý này. Khi thật biết rằng các pháp chỉ là huyễn hóa, bản chất của tâm này là “rốt ráo không”, vị này an trụ nơi “thực tướng vắng lặng của tâm” gọi là Xa Ma Tha.
Trong Xa Ma Tha, không cần phát khởi tâm ý, Thiền Na sẽ tự hiện. Trong Thiền Na, vị tu hành này dần dần thấu suốt thế nào là Viên Giác. Trong Viên Giác, Tuệ giác sẽ tự toả sáng. Đây là “ngọn đuốc vĩnh cữu” giúp người tu hành thành tựu những gì cần thành tựu của Diệt đế.
Thường tự tỉnh giác là một trong những hình thái của tu “Thiền Định Ba La Mật”. Thành tựu Thiền Định Ba La Mật sẽ có được chiếc chìa khoá để mở cánh cửa Trí Tuệ Ba La Mật. Việc tu tập này phải duy trì thường xuyên, nếu không bất giác sẽ chiếm giữ tâm ý mà không tự biết, đôi khi người tu hành nhầm tưởng đó là trí tuệ!
Người tu hành, chỉ khi nào thành tựu được Trí Tuệ Ba La Mật thì bất giác mới vĩnh viễn được đoạn trừ. Nếu không hoặc chưa thành tựu Ba La Mật này, giống như người cầm ngọn đuốc đi trong đêm tối. Đuốc tắt, bóng tối tức thì hiện hữu.
Đây cũng là lý do vì sao, cho đến tận bây giờ, trong huynh đệ chúng ta vẫn còn một số người hay phát sinh bất giác, chưa thể trừ sạch tập nhân và phiền não, thậm chí đôi lúc phát sanh tà kiến hoặc bị tà kiến lôi kéo, không ham thích gần gũi bạn lành, chán nghe chánh lý!
(01/2015)
Phần 10: Kiết Sử Từ Đâu Sanh? Lý Do Phải Học Rộng, Sâu, Kiến Thức, Phật Pháp Sau Khi Giác Ngộ. (Trang 133 – 145)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 10: Kiết Sử Từ Đâu Sanh? Lý Do Phải Học Rộng, Sâu, Kiến Thức, Phật Pháp Sau Khi Giác Ngộ. (Trang 133 – 145)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần 9: Giáo Trình Khung Đào Tạo Bồ Tát, Phật Quả; Lấy Tâm Làm Gốc,Kết Sử Do Đâu? Dừng Vọng Khởi Phân Biệt; Bốn Lần Giác Ngộ Quan Trọng Phải Trải Qua. (Trang 119 - 132)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 9: Giáo trình khung đào tạo Bồ Tát, Phật quả; Lấy tâm làm gốc,kết sử do đâu? Dừng vọng khởi phân biệt; Bốn lần giác ngộ quan trọng phải trải qua. (Trang 119 - 132)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Giáo Tông và Tâm Tông; … Vô Sư Trí và Tự Nhiên Trí
Tự nhiên trí không phải là sự kế thừa của Nhất thiết trí. Khi vào bất động, Tự nhiên trí hiện

1. GIÁO TÔNG VÀ TÂM TÔNG
Hôm nay, mình nhận được câu hỏi lý thú của một HĐ:
Kính Thầy!
Con xin cám ơn tấm lòng từ bi vô hạn của Thầy. Thầy đã luôn hộ trì cho HĐ chúng con, và con cũng thán phục trí tuệ và khả năng tư duy của HĐ Lý Gia. Con cảm thấy mình nhỏ bé quá, nhưng Thầy hãy tin ở con. Nhất định sẽ có một ngày: "Con dã can hôm nay sẽ hoá thành sư tử"!
Nhân đây, con xin gởi đến Thầy cùng HĐ Lý Gia vài thắc mắc mà tự thân con chưa thể giải quyết được. Thắc mắc như sau: Nhất thiết trí là hữu sư trí, Tự nhiên trí là vô sư trí. Và Thầy cũng đã dạy: "Tự nhiên trí không phải là sự kế thừa của Nhất thiết trí. Khi vào bất động, Tự nhiên trí hiện”. Như vậy, tại sao ở bất động không nhận lấy Tự nhiên trí, mà phải đi học Nhất thiết trí?
Xin Thầy và HĐ giải đáp dùm!
Kính lễ Thầy, cùng kính lễ HĐ Lý Gia.
Con.
Các bạn!
Sáng nay, nhận được các câu trả lời của HĐ gởi về. Những gì thuộc về Giáo Tông, phần lớn HĐ thấm nhuần nên lý luận sắc sảo… Khi thử nâng lên một bậc, thì HĐ chúng ta bị hụt hẫng. Những gì các bạn lý luận, vừa không thể hiện được chiều sâu, vừa sai kiến thức...!
2. BÂY GIỜ, CHÚNG TA CỦNG CỐ MỘT VÀI KIẾN THỨC CƠ BẢN:
Giáo Tông. Đây là học pháp của ba thừa, thâm nhập phần này, người tu hành có thể thành tựu Vô Sanh Pháp Nhẫn hoặc Bất Động. Trong Giáo Tông chỉ giới thiệu được sơ lược về những gì thuộc về Tâm Tông, sơ lược này có ý nghĩa phổ thông hơn là chuyên sâu. Giống như chương trình học phổ thông, cái gì cũng biết, nhưng không có gì biết thấu đáo.
Nhất Thiết Trí Trí (ta hay nói gọn là Nhất Thiết Trí). Đây là trí của Bồ Tát (Bồ Tát Trí), muốn theo học trí này, trước hết người tu hành phải hoàn thành tám mươi bốn ngàn tín chỉ Giáo Tông, có nghĩa rằng: Không một điều gì của Giáo Tông vị này không biết. Tín chỉ Giáo Tông đã xong, người này phải đầy đủ dõng tâm, dõng lực. "Một thân một mình, không hành lý, đói ăn rau rừng, khát uống nước suối, vượt qua ba mươi bảy ngọn núi thấp cao và phá tan tám mươi bốn ngàn ma sự của Ngã, đến Tiếu Lâm Sơn một lòng tầm cầu Tâm Pháp nơi Thiện Tri Thức...”.
Vì thế Nhất Thiết Trí còn có tên là Hữu Sư Trí. Để viên mãn công hạnh, Bồ Tát nhất định phải cầu học trí này. Nếu không có trí này, thì có giỏi bằng trời công hạnh cũng không thể viên vì “cái ngu chưa dứt”. Công hạnh không viên, Tự Nhiên Trí không hiện. Tự Nhiên Trí không hiện, không thể có chủng tử huân thành Nhất Thiết Chủng Trí!
Nhất Thiết Chủ̉ng Trí. Đây là Phật Trí (Trí Tuệ của một Đức Phật). Trí này không do học mà thành, không ai có thể dạy được, nên gọi là Vô Sư Trí. Chủng tử để huân nên trí này gồm hai phần: Một là Tự Nhiên Trí, hai là công đức chúng sanh. Vì thế nó có tên là Tự Nhiên Trí.
Tâm Tông. Là cách nói gọn của Phật Tâm Tông, tên gọi khác của Nhất Thừa Đạo, tên gọi này nhằm chỉ chung cho quá trình học và thành tựu Nhất Thiết Trí của Đạo Đế. Học xong Tâm Tông, vị tu hành sẽ thành Bồ Tát chuyên nghiệp, gọi là Đại Bồ Tát.
Trên đây là những kiến thức cơ bản của Tâm Tông. Hy vọng, với những kiến thức này, sẽ giúp các bạn có câu trả lời thoả đáng đối trước câu hỏi nói trên.
(30-01-2015)
3. CHẤT VẤN
Câu hỏi của HĐ trên, trọng tâm xoay quanh thắc mắc: Vì sao ở bất động không nhận lấy Tự nhiên trí mà phải đi học Nhất thiết trí??? Câu hỏi này phát xuất từ một câu nói mà HĐ ấy cho rằng “Thầy đã dạy”.
Hôm qua đến giờ, mình nhận được trên mười câu trả lời, và hình như không có câu trả lời nào trực tiếp giải quyết đúng trọng tâm của câu hỏi. Duy chỉ có một câu trả lời của Tịnh Pháp gởi về nhờ chuyển cho Ngộ Tánh.
Tịnh Pháp “không chạy theo câu hỏi để cố tìm cách trả lời” mà chất vấn, đặt thẳng vấn đề, yêu cầu làm rõ tính xác thực của câu nói, nghi ngờ tính khả dụng của câu hỏi.
“Chào SĐ Ngộ Tánh.
Trước khi trả lời câu hỏi, xin cho Tịnh Pháp hỏi là SĐ trích câu của Thầy dạy từ đâu??? Khi SĐ viết:
“Thầy dạy: Tự nhiên trí không phải là sự kế thừa của Nhất thiết trí. Khi vào bất động thì Tự nhiên trí hiện”???
- Vì sao hỏi vậy? Vì Tịnh Pháp chưa được nghe qua Thầy nói "khi vào bất động thì Tự nhiên trí hiện”. Rất mong SĐ xác minh câu nói này, trước khi chúng ta tiếp tục đào sâu vấn đề” … Tịnh Pháp.
“Kính chào ST Tịnh Pháp!
Đệ xin trả lời câu hỏi của ST: Đầu năm 2014 khi về Đà Nẵng, Thầy đã dạy: “Khi tất cả đều tịch diệt, nhưng có một thứ không tịch diệt, nhưng càng tịch diệt thì nó càng chiếu sáng”.”
************
Mình ngẫm nghĩ hoài, vẫn không tìm ra ý nghĩa của câu nói khi về Đà Nẵng, lời nào can dự đến Tự nhiên trí và bất động?
Các bạn!
Mình đã viết: “Có thể nói, câu hỏi của Ngộ Tánh là câu hỏi lý thú...”. Cho đến tận giờ này, các bạn vẫn không tìm thấy “cái lý thú” trong câu hỏi của Ngộ Tánh... Đó là: “Trong bất động tại sao không nhận lấy Tự nhiên trí”... Giống như “Bạn không biết chữ, tại sao không ngồi đó chờ chữ đến để nhận mà phải đi học!"
Đọc trả lời của các bạn, mình tìm thấy thêm một điều lý thú khác nữa, đó là: Một việc không thể xảy ra mà các bạn vẫn cứ chạy theo nó để lý luận, cố chứng minh rằng: "điều này có thể thực hiện được”!
Chất vấn của Tịnh Pháp, mới là câu trả lời thoả đáng nhất, mình có lời khen ngợi!
Để làm sáng tỏ vấn đề, mình xin đưa ra một ví dụ, nhân ví dụ này các bạn có thể tạm hình dung ra "Đạo lộ đưa đến Nhất thiết chủng trí”
Có một người vừa mù, vừa què. Người đó muốn đến một nơi khó đến là núi Diệu Bảo để tìm viên Bảo Châu Như Ý. Người này biết rằng, nếu có viên Bảo Châu Như Ý, vĩnh viễn sẽ không mù, không què, và vị lai không thể tái mù, tái què và thành tựu Như Ý Trí.
Mù: Dụ cho chúng sanh; Què: Dụ cho bất động; Đường lên núi Diệu Bảo: Dụ cho hành trình học Nhất Thiết Trí;Bảo Châu Như Ý: Dụ cho Nhất Thiết Chủng Trí.
Trước hết, người này phải chữa cho hết mù (thành tựu Giáo Tông), tiếp theo người này chữa cho hết què (ra khỏi bất động). Hết mù hết què, người này lên đường với đôi mắt sáng và đôi chân lành lặn, tìm người có trí hỏi đường đến núi Diệu Bảo để thực hiện ước nguyện (học Nhất thiết trí)... Đến núi Diệu Bảo, vị đó lấy được viên Bảo Châu Như Ý (thành tựu Tự nhiên trí)...”
Như vậy, viên Bảo Châu Như Ý và công năng như của nó, có sự kế thừa nào của những kiến thức trước khi sở hữu nó hay không?
Hy vọng, với ví dụ ở trên, sẽ giải đáp thắc mắc của Ngộ Tánh và HĐ... Về chuyện… “Tại sao ở trong bất động không nhận lấy Tự Nhiên Trí, mà phải đi học Nhất thiết Trí...chi cho...mệt cái xác...phàm...”
Các bạn!!!
Đối trước một câu hỏi của Phật Đạo. Bình tĩnh! Bình tĩnh! Bình tĩnh đọc thật kỹ, nghiền ngẫm thật sâu, xem câu hỏi này có hợp lý hay không... Nhất định sẽ có câu trả lời thoả đáng, nếu không bình tĩnh, không sáng suốt... vội vã chạy theo câu hỏi rồi tìm cách cố cắt nghĩa. Nhất định sẽ bị "lạc vào mê hồn trận của ngữ nghĩa"... Ha ha ha ha!!! Chữa bệnh kiểu này... trâu cũng chết... hà huống... người... ta!
(30-01-2015)
4. TỔNG KẾT CÂU HỎI VỀ... TỰ NHIÊN TRÍ
Sau khi đọc kỹ các câu trả lời của HĐ. Mình nhận thấy, phần lớn HĐ chúng ta hiểu lầm chữ Tự Nhiên Trí.
1) Hiểu lầm Tự Nhiên Trí là Tánh Giác.
2) Hiểu lầm hai chữ Tự Nhiên. Cho rằng Tự Nhiên Trí là tính chất tự nhiên của cái thấy sau khi tịch diệt tất cả.
Mình xin nói rõ: Danh xưng Tự Nhiên Trí là cách nói khác của Phật Trí (có kinh gọi Phật là Đấng Tự Nhiên Trí), chữ Tự Nhiên Trí nhằm chỉ cho thấy biết của một vị đã Giác Ngộ đồng Chư Phật, còn gọi là Đẳng Chánh Giác.
Nói "Tự Nhiên" là, những vị nào Giác Ngộ đồng như thế, đủ điều kiện như thế, công đức như thế, thông tuệ như thế, nhân duyên như thế... sẽ "tự nhiên" có được thấy biết như thế.
Chứ chữ tự nhiên ở đây không phải tự nhiên mà có. Nó giống một vụ nổ Big Bang, khi vũ trụ hội đủ các yếu tố nhất định, vụ nổ sẽ xảy ra. Không phải tự nhiên, chưa có hoặc thiếu một yếu tố bất kỳ, mà vụ nổ hình thành. Ví dụ này, có thể giúp các bạn hiểu một chút gì đó về hai chữ tự nhiên trong Tự Nhiên Trí.
(31-01-2015)
Phần 8: Có Công Thức Chung Trong Tu Tập Phật Đạo ??? Kiến Thiệt Tế, Trụ Thiệt Tế Là Gì? Chữ Hiếu Trong Phật Đạo; Ý Nghĩa Thức, Trí, Giác Trí, Huyễn Trí Là Gì?; Hai Con Đường Tu Phật, …. (Trang 100 – 118)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 8: Có Công Thức Chung Trong Tu Tập Phật Đạo ??? Kiến Thiệt Tế, Trụ Thiệt Tế Là Gì? Chữ Hiếu Trong Phật Đạo; Ý Nghĩa Thức, Trí, Giác Trí, Huyễn Trí Là Gì?; Hai Con Đường Tu Phật, …. (Trang 100 – 118)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần 7: Tam Ma Đề Như Huyển, Tam Ma Đề Viên Thông Là Gì?; Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ; Năm Hạnh Tu Hành Từ Thấp Đến Cao; Sự Khác Biệt Giữa Huyển Trí Và Thật Trí Là Gì? (Trang 89 - 99)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 7: Tam ma đề như huyển, tam ma đề viên thông là gì?; Nhận biết một người đã giác ngộ; Năm hạnh tu hành từ thấp đến cao; Sự khác biệt giữa huyển trí và thật trí là gì? (Trang 89 - 99)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần 6: Lặng Thinh Của Duy Ma Cật"; Ba Giai Đoạn Cơ Bản Nhận Thức "Bát Chánh Đạo' Trong Tu Tập.... (Trang 78 - 88)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 6: Lặng thinh của Duy Ma Cật"; Ba giai đoạn cơ bản nhận thức "Bát chánh đạo' trong Tu Tập.... (Trang 78 - 88)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần 5: Nhận Thức "Thường, Lạc, Ngã, Tịnh'' Của Sơ Ngộ.; Pháp Môn Tối Thượng Thừa ( Trang 63 - 77)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 5: Nhận thức "Thường, lạc, ngã, tịnh'' của sơ ngộ.; Pháp môn tối thượng thừa (Trang 63 - 77)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần 4: Nhận Biết Một Vị Thành Tựu Phật Đạo Như Thế Nào?; Tang, Bảo, Đệ Nhất Nghĩa Tăng, Bồ Tát, Tâm, Ngã, Pháp Bất Nhị Nghĩa Là Gì? (Trang 49 - 62)
Vô Đối Môn
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Dân Trí
Phần 4: Nhận biết một vị thành tựu Phật đạo như thế nào?; Tang, bảo, đệ nhất nghĩa Tăng, Bồ Tát, tâm, ngã, pháp bất nhị nghĩa là gì? (Trang 49 - 62)
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Khái Niệm Nhất Thiết Trí
Nhất thiết trí được coi như đích đến của Bồ Tát. Có thể nói nhất thiết trí là nhân, Vô Thượng Bồ Đề là quả, vì rằng không có trí này thì không thể chứng đạo quả cao nhất là Phật quả.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
- Nhất thiết trí được coi như đích đến của Bồ Tát.
Đây là trí huệ sau cùng phải đạt được. Có thể nói nhất thiết trí là nhân, Vô Thượng Bồ Đề là quả, vì rằng không có trí này thì không thể chứng đạo quả cao nhất là Phật quả.
Nhất thiết trí là tên gọi một thứ trí trong mười một trí đó là: Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tỷ (loại) trí, pháp trí, tận trí, vô sanh trí, nhất thiết trí, đạo tướng trí, và nhất thiết chủng trí.
Từ nhất thiết trí đến nhất thiết chủng trí khoảng giữa là đạo tướng trí. Trí này chỉ là sự kế thừa của nhất thiết trí, nó cho phép biết rõ căn cơ của mỗi chúng sanh nên việc giáo hóa chính xác. Nếu không có trí này thì phương tiện sẽ không thiện xảo.
Nhất thiết trí về phần căn bản không khác Phật trí (nhất thiết chủng trí), nhưng độ sâu thì không thể nào bằng. Đây là đặc thù của Phật giáo.
Mọi Phật tử dù thâm sâu đến đâu cũng là tướng đệ tử. Ví như khi Phật tuyên cáo trước đại chúng:
“Những gì Ta biết Ca Diếp cũng biết, những gì Ta thấy Ca Diếp cũng thấy, những gì Ta chứng Ca Diếp cũng chứng, vậy Ca Diếp ông hãy lên đây Ta chia nửa tòa ngồi.
Ca Diếp nói: Bạch Thế Tôn, con chỉ được phép ngồi ở đây. Vậy Ta hỏi ông, này Ca Diếp Ta là thầy hay ông là thầy. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là thầy còn con là đệ tử. Phật bảo: Đúng thế, này Ca Diếp, vậy ông tiếp tục ngồi ở dưới.”
Phật tuyên cáo trí tuệ Ca Diếp không thua Phật, nhưng công đức chỉ đủ là tướng đệ tử. Hoặc ngài Văn Thù Sư Lợi giáo hóa vô số người thành Phật, nhưng khi gặp Phật phải đảnh lễ và nghe Phật thọ ký cho mình.
Thọ ký là một đặc điểm của nhất thiết chủng trí mà nhất thiết trí thì không bao giờ biết được.
Ví dụ Văn Thù có thể đủ trí tuệ giáo hóa người thành Phật, nhưng khi nào người đó chứng Vô Thượng Bồ Đề thì Văn Thù không thể biết. Đây là một trong những nét khác nhau của hai loại trí này.
Vì thế Phật thọ ký từ Phật này đến Phật sau khoảng giữa không Phật, nghĩa là từ Thích Ca Mâu Ni đến Di Lặc trong cõi Diêm Phù khoảng giữa không có Phật ra đời. Phật ở đây là Phật đủ mười danh hiệu hay còn gọi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Phần trước có đề cập một trong những điều kiện để học nhất thiết trí, tâm phải hoàn toàn tinh sạch, không còn dấu vết của phiền não, và phải cầu thiện tri thức.
Cầu thiện tri thức gần như điều kiện bắt buộc mà trong các kinh giáo Bồ Tát Phật luôn luôn đề cập. Vì chúng sinh tự thân không thể thoát ra khỏi chính mình, cũng như không thể nắm tóc để tự nhắc mình lên khỏi mặt đất.
- Nhất thiết trí là gì?
Là phần hội tụ cao nhất của công đức và trí tuệ.
Vì thế làm sạch phiền não để tích lũy công đức và gần gũi thiện tri thức để sinh trí tuệ, thiếu một trong hai thứ này thì không thể có được nhất thiết trí.
Hai bộ kinh tiêu biểu cho việc này là Hoa Nghiêm và Đại Bát Nhã, Hoa Nghiêm có Thiện Tài Đồng Tử, Đại Bát Nhã có Tát Đà Ba Luân đi cầu thiện tri thức để học nhất thiết trí là một điển hình.
Tiền thân Thích Ca Mâu Ni cũng đã từng gieo mình cho quỷ ăn thịt cầu học bốn câu kệ của Phật xưa. Huệ Năng sau khi nghe kinh Kim Cang giác ngộ bổn tâm, nhưng phải đến Ngũ Tổ cầu học.
Trong phần trình kệ khi nói: “Bổn lai vô nhất vật,” có nghĩa bổn tâm đã sạch. Về nguyên tắc bổn tâm đã sạch thì còn cầu gì nữa. Nhưng sự thật không phải như vậy, đêm vào tịnh thất khi nghe Ngũ Tổ giảng lần nữa kinh Kim Cang, Huệ Năng thốt lên những lời lẽ đầy bất ngờ: “Nào dè tự tánh...” Một phát hiện mới không giống những gì trước đây Huệ Năng đã hiểu. Bây giờ mới chính thức nối truyền y bát làm Tổ đời thứ sáu.
Những ví dụ điển hình trên để thấy phần việc làm sạch phàm tâm ba thừa có thể tự giác ngộ, nhưng học nhất thiết trí thì không thể tự mình đảm đang.
- Học nhất thiết trí là học những gì?
Chữ nhất thiết trí có nghĩa trí biết khắp các môn giải thoát của chư Phật. Biết tất cả các loại phương tiện giáo dạy chúng sanh trong Phật đạo. Biết căn nguyên thành lập pháp giới chúng sanh và pháp giới thanh tịnh.
Nói chung nhất thiết trí có thể giải mã không sai lệch tất cả những gì chư Phật nói ra. Tổ Huệ Năng không biết chữ, nhưng có thể giảng thuyết tất cả kinh điển nếu có người đọc cho nghe phần văn tự.
Không nên nhầm tưởng học xong nhất thiết trí bỗng dưng mình có thể biết tất cả ngoại ngữ hay có thể chế máy bay. Vì đây là chuyện thế gian, cái gì học thì biết cái đó, cái gì không học thì không thể biết. Học nhất thiết trí là học Phật pháp, không phải học thế gian pháp.
Nhất thiết trí là môn học, khi học xong sẽ sanh một thứ trí tuệ mới nên kinh thường dịch là nhất thiết trí trí tức là cái trí nhất thiết trí.
Đạo Phật là đạo trí tuệ, lấy trí tuệ làm mục tiêu tối thượng: “Duy tuệ thị nghiệp.” Phật thành đạo quả vô thượng là nhờ đầy đủ trí tuệ.
Trí tuệ Phật giáo không giống trí tuệ thế gian.
Trí tuệ thế gian là học và hiểu biết những gì nhằm phục vụ cho đời sống con người trong ý nghĩa thế tục, có khuynh hướng thiên về vật chất.
Trí tuệ Phật giáo học và hiểu biết những gì nhằm phục vụ cho những ai có mong muốn thoát ra khỏi phiền não trong đời, có khuynh hướng tinh thần.
Vì thế giữa hai thứ trí cách học và cách dạy không giống nhau, thế gian việc học mang tính kế thừa và tỷ lệ thuận thời gian, phải qua từng cấp lớp và độ tuổi. Phật pháp có người học một đời có người học một ngày, từ học đến thành tựu không theo một quy luật nào cả.
Thế gian học hành phải có trường lớp, giáo trình, và được trợ giúp bởi các thành tựu kỹ thuật.
Phật giáo không giáo trình, giáo án, chỉ một gốc cây là đủ. Cho nên trong cách học và dạy giữa hai loại trí, không thể so sánh và đòi hỏi giống nhau. Đối với Phật pháp nếu có được sự hỗ trợ công cụ như thế pháp thì tốt, không có hoàn toàn chẳng ảnh hưởng gì đến cách giáo dạy của mình.
Liên quan đến nhất thiết trí có khái niệm ba thân tức: Báo thân, hóa thân, và pháp thân.
Ba thân Phật được tuyên nói rải rác trong các kinh.
‘Báo thân’ là thân được sinh ra lớn lên đi tu thành Phật mà mọi chúng hữu tình nếu đủ phước đức, sinh cùng thời, và có duyên sẽ thấy. Ví dụ như ngày xưa người ta thấy sa môn Cù Đàm.
‘Hóa thân’ là thân hóa sanh, thân này chúng sanh đủ công đức làm nên. Ví như các Bồ Tát thấy Phật thuyết pháp phóng quang.
‘Pháp thân’ là thân hư không, chỉ khi nào viên mãn trí tuệ mới thấu suốt.
Ba thân Phật là sự thị hiện mang tính đánh giá cấp độ tu hành công đức trí tuệ, khi nào đủ phước đức nhân duyên sẽ gặp Cù Đàm. Nếu theo học sẽ được giáo dạy ra khỏi sanh tử, chứng thánh vị nhị thừa, được thiên nhãn, huệ nhãn.
Những ai đủ công đức sẽ được thấy hóa Phật, nếu theo học sẽ được giáo dạy Bồ Tát thừa, viên mãn có được pháp nhãn.
Người nào có sức trí tuệ lớn sẽ thấy pháp thân, một khi thấy thân này nhất định viên mãn trí tuệ có đủ ba nhãn trước và một phần Phật nhãn.
Cho nên có thể nói học nhất thiết trí là một loại hình học tập khi tốt nghiệp sẽ được cấp văn bằng thấy pháp thân Phật.
Mỗi thứ đều có cái giá của nó, không thể niềm tin trí tuệ như thế này mà có thể thấy hoặc biết cái kia, đây là đặc trưng của Phật giáo. Vì thế không nên hỏi vì sao trong kinh nói Phật phóng quang như thế này như thế kia mà tôi không thấy.
Điều này chỉ nên hỏi lại chính mình có được bao nhiêu công đức, thiếu thì chịu khó tích lũy. Phật giáo không có chuyện thiếu đến ngân hàng vay để mua rồi trả góp. Làm cái gì để phát sanh công đức? Khi nào khái niệm ‘làm’ chấm dứt thì công đức phát sanh. Công đức là thể của thanh tịnh.
Bao giờ hoàn toàn thanh tịnh không còn một khái niệm hiện hữu thì công đức sẽ hiện.
Như thế nào được gọi là trí tuệ Phật giáo?
Không như thế nào mới được gọi trí tuệ?
Như cái gì thì là cái đó chứ không thể gọi trí tuệ.
Vì thế trí tuệ này không do học mà được, nhưng không đi cầu học thì sẽ không bao giờ có trí tuệ.
Xin trích một vài đoạn kinh mô tả cung cách đi học nhất thiết trí:
Kinh Đại Bát Nhã: “Thiện Hiện phải biết: Do lý thú này Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu oai đức thù thắng khiến các Bồ Tát mau năng dẫn được Nhất thiết trí trí. Vậy nên, Thiện Hiện! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát muốn học sáu món Ba La Mật Đa cho mau viên mãn, muốn đủ thông đạt cảnh giới chư Phật, muốn được thần thông tự tại chư Phật, muốn mau chứng được Nhất thiết trí trí, muốn năng rốt ráo an vui lợi ích tất cả hữu tình, thời nên học Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế, nên đối Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế cung kính lóng nghe, thọ trì đọc tụng, rốt ráo thông lợi, như nói tu hành, như lý suy nghĩ nghĩa thú thẳm sâu, biên chép lưu bố, vì người giải nói. Nên đem các thứ thượng diệu tràng hoa, hương xoa rải thảy, áo mặc, anh lạc, bảo tràng, phan lọng, kỹ nhạc, đèn sáng, và bao nhiêu các thứ ngọc quý tạp vật cúng dường, cung kính tôn trọng ngợi khen.
Sở dĩ vì sao? Do sở thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu đây là mẹ chơn sinh dưỡng các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, là thầy chơn khuôn phép chúng các Bồ Tát Ma Ha Tát. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều chung tôn trọng cung kính ngợi khen, tất cả chúng Bồ Tát Ma Ha Tát không ai chẳng cúng dường tinh siêng tu học. Đây là nơi dạy bảo chơn thật của Như Lai.
Thiện Hiện phải biết: Bồ Tát Thường Khóc liền đứng chỗ này khi khởi nghĩ đây, đối trong tất cả pháp sanh khởi tri kiến vô chướng. Do tri kiến đây liền năng hiện vào được vô lượng tam ma địa môn thù thắng, chỗ gọi Quán tất cả pháp tự tánh tam ma địa, Đối tất cả pháp tự tánh vô sở đắc tam ma địa, Phá tất cả pháp vô trí tam ma địa, Được tất cả pháp vô sanh diệt tam ma địa, thấy tất cả pháp không biến khác tam ma địa, Đối tất cả pháp lìa tối tam ma địa, Được tất cả không ý thú riêng tam ma địa, Biết tất cả pháp đều vô sở đắc tam ma địa, Rải tất cả hoa tam ma địa, Dẫn phát tất cả pháp vô ngã tam ma địa, Lìa huyễn tam ma địa, Dẫn phát gương tượng soi sáng tam ma địa, Dẫn phát tất cả hữu tình ngữ ngôn tam ma địa, Khiến tất cả hữu tình vui mừng tam ma địa, Khéo tùy thuận ngữ ngôn tất cả hữu tình tam ma địa, Dẫn phát nhiều thứ ngữ ngôn văn tự tam ma địa, Không sợ không dứt tam ma địa, Năng nói bản tánh tất cả pháp bất khả thuyết tam ma địa, Được vô ngại giải tam ma địa, Xa lìa tất cả trần tam ma địa, Khéo léo danh cú văn từ tam ma địa, Đối tất cả pháp khởi thắng quan tam ma địa, Được tất cả pháp vô ngại tế tam ma địa, Như hư không tam ma địa, Kim cương dụ tam ma địa, Tuy hiện hành sắc mà không bị phạm tam ma địa, Đắc thắng tam ma địa, Được mắt không lui tam ma địa, Xuất pháp giới tam ma địa, An ủi điều phục tam ma địa, Sư tử phấn tấn khiếm khư hao hống tam ma địa, Ánh sáng đoạt tất cả hữu tình tam ma địa, Xa lìa tất cả cấu tam ma địa, Đối tất cả pháp được vô nhiễm tam ma địa, Liên hoa trang nghiêm tam ma địa, Dứt tất cả nghi tam ma địa, Tùy thuận tất cả kiên cố tam ma địa, Xuất tất cả pháp tam ma địa, Được sức thần thông vô úy tam ma địa, Hiện tiền thông đạt tất cả pháp tam ma địa, Hoại tất cả pháp ấn tam ma địa, Hiện tất cả pháp không sai tam ma địa, Lìa tất cả tối tăm tam ma địa, Lìa tất cả tướng tam ma địa, Tháo tất cả dính tam ma địa, Lìa tất cả biếng nhác tam ma địa, Được thâm pháp minh tam ma địa, Như núi Diệu cao tam ma địa, Chẳng khá dẫn đoạt tam ma địa, Xô dẹp tất cả tam ma quân tam ma địa, Chẳng dính ba cõi tam ma địa, Dẫn phát tất cả thù thắng quang minh tam ma địa, như thế cho đến Hiện thấy chư Phật tam ma địa….”[[1]]
Kinh Hoa Nghiêm: “Thiện Tài thưa: Bạch vâng! Ðây là do sức của đức Thánh thiện tri thức vậy.
Tiên Nhơn nói:
Này thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Bồ Tát vô thắng tràng giải thoát này. Như chư đại Bồ Tát thành tựu tất cả tam muội thù thắng, được tự tại trong tất cả thời gian. Trong khoảng một niệm xuất sanh chư Phật vô lượng trí huệ. Dùng đèn Phật trí làm trang nghiêm để chiếu khắp thế gian. Trong một niệm vào khắp cảnh giới tam thế. Phân thân qua khắp cõi nước mười phương. Trí thân vào khắp tất cả pháp giới. Tùy theo tâm chúng sanh mà hiện ra trước họ, xem xét căn hành của họ để làm lợi ích, phóng tịnh quang minh rất đáng mến thích.
Như thế, ta làm sao biết được tất cả, nói được tất cả công đức hạnh đó, thù thắng nguyện đó, trang nghiêm độ đó, trí cảnh giới đó, tam muội cảnh giới đó, thần thông biến hóa đó, giải thoát du hí đó, thân tướng sai biệt đó, âm thanh thanh tịnh đó, trí huệ quang minh đó.
Này thiện nam tử! Phương Nam này có một tụ lạc tên là Y Sa Na, có Bà La Môn tên là Thắng Nhiệt. Người đến đó hỏi Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?
Thiện Tài Đồng Tử vui mừng hớn hở, đảnh lễ Tiên Nhơn Tỳ Mục Cù Sa, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua phương Nam.
Bấy giờ Thiện Tài Đồng Tử nhờ Bồ Tát vô thắng tràng giải thoát chiếu đến nên được trụ chư Phật bất tư nghì thần lực, được chứng Bồ Tát bất tư nghì giải thoát thần thông trí, được Bồ Tát bất tư nghì tam muội trí quang minh, được tất cả thời gian huân tu tam muội trí quang minh, được biết rõ tất cả cảnh giới đều nương tưởng mà an trụ tam muội trí quang minh, được tất cả thế gian thù thắng trí quang minh. Ðều hiện thân mình ở tất cả chỗ.
Dùng trí cứu cánh nói pháp bình đẳng không hai không phân biệt. Dùng trí sáng sạch chiếu khắp cảnh giới. Phàm những pháp được nghe đều có thể nhẫn thọ tin hiểu thanh tịnh. Nơi pháp tự tánh quyết định rõ ràng. Tâm luôn chẳng bỏ Bồ Tát diệu hạnh. Cầu nhứt thiết trí trọn không thối chuyển. Chứng được thập lực trí huệ quang minh. Siêng cầu diệu pháp thường chẳng nhàm đủ. Dùng chánh tu hành nhập Phật cảnh giới.
Xuất sanh Bồ Tát vô lượng trang nghiêm, vô biên đại nguyện đều đã thanh tịnh. Dùng trí vô cùng tận mà biết vô biên thế giới võng. Dùng tâm không khiếp nhược mà độ vô lượng chúng sanh hải. Rõ vô biên công hạnh cảnh giới của Bồ Tát.
Thấy vô biên thế giới những thứ sai biệt, những thứ trang nghiêm. Nhập vô biên thế giới những cảnh vi tế. Biết vô biên thế giới những danh hiệu, những ngôn ngữ. Biết vô biên chúng sanh các tri giải, các công hạnh, các hạnh thành thục, những tưởng sai biệt….”[[2]]
[[1]] Trích kinh Đại Bát Nhã –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
[[2]] Trích kinh Hoa Nghiêm –HT. Thích Trí Tịnh dịch.
(còn nữa)