Thư viện

Phần V: 16. Hai Anh Quảng Nôm Bàn Về Tánh Không; 17. Về Ngã Và Vô Ngã; 18.Ăn Chay Hay Ăn Mặn (Trang 84 - 102)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn

Tác giả: Lý Tứ

Phần V: 16. Hai Anh Quảng Nôm Bàn Về Tánh Không; 17. Về Ngã Và Vô Ngã; 18.Ăn Chay Hay Ăn Mặn 

Giọng đọc: Lý Xuân Mai

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Tập Nhân và Giao Báo

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Phật giảng nói mười tập nhân, sáu giao báo để gởi đến thông điệp cho ba cõi nếu muốn an vui đời này đời sau thì trong tâm đừng nên tích chứa mười tập nhân xấu xa này. Nếu trong tâm không hề tích chứa điều gì thì ngay hiện tiền đã hưởng một giao báo an lạc, không cần đến viên mãn báo thân.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Tập nhân và giao báo là hai khái niệm căn bản của Phật pháp. Tập nhân, Phật dạy là mười thứ tích chứa trong tâm:

1) Tập quán dâm dục;

2) Tập quán tham lam;

3) Tập quán ngã mạn;

4) Tập quán nóng giận;

5) Tập quán giả dối;

6) Tập quán lừa gạt;

7) Tập quán thù oán;

8) Tập quán ác kiến;

9) Tập quán vu vạ;

10) Tập quán kiện thưa.

Giao báo gồm sáu món:

1) Giao báo về thấy;

2) Giao báo về nghe;

3) Giao báo về ngửi;

4) Giao báo về vị;

5) Giao báo về xúc;

6) Giao báo về ý nghĩ.

Tập nhân là một thứ tập quán hay thói quen tích chứa nhiều đời trong tâm. Khi tâm tích chứa mười điều này thì tâm điên đảo, tâm điên đảo nhiễu loạn các căn cho ra những hình ảnh không thật gọi là giao báo. Vì thế trong kinh Phật dạy: “Sáu thú đều từ tâm này mà ra.”  Nơi không có mà thấy là có, ví như mắt bệnh thấy hư không có hoa đốm hay con nai khát nước thấy sóng nắng tưởng nước.

Gọi là tập nhân vì đây là các thứ tích tập lâu ngày làm nguyên uỷ phát sanh các tưởng.

  • Niệm tưởng đầu tiên gọi là ‘khí phần’. Nó chỉ là ý tưởng nhỏ nhiệm nào đó, giống như hơi gió thoảng qua trong tâm, các niệm liên tục nhớ nghĩ khí phần tăng trưởng thành tướng phần.

  • ‘Tướng phần’ như bức họa chỉ mới phát thảo một vài đường nét cơ bản, tướng phần viên mãn thành nghiệp.

  • Nghiệp giống như bức tranh hoàn hảo, nghiệp cô kết thành thắng khí, ‘thắng khí’ chính là giao báo do các căn chiêu cảm chúng sanh thấy nghe hay biết được, giống như bức tranh bày bán giữa chợ những người cùng nghiệp hội họa mê tranh vẽ đồng đến thưởng thức khen chê.

Có thể ví dụ như chiếc điện thoại di động, do nhu cầu liên lạc từ xa, con người ao ước có một công cụ nào đó làm nhiệm vụ này.

− Ao ước nhỏ nhiệm đầu tiên về một phương tiện liên lạc chính là ‘khí phần’.

− Do nhu cầu bức bách ao ước này huân lớn trong tâm, nhiều người đồng ao ước như vậy và là nhu cầu có thực cho nên bản vẽ chiếc điện thoại di động ra đời gọi là ‘tướng phần’.

− Khi bản vẽ hoàn hảo thì chiếc điện thoại di động thực sự xuất hiện có thể cầm nắm xem nghe gọi là ‘thắng khí’.

Xét cho cùng căn nguyên chiếc điện thoại chỉ là khái niệm mơ hồ, nhưng khi cộng nghiệp chúng sanh đồng hướng tâm đến thì chiếc điện thoại thật sự bằng vật chất hiện hữu.

Tập nhân và giao báo cũng vậy, trong tâm tích chứa thiện ác nhiều điều, khi tích chứa này tăng trưởng đến viên mãn thì tùy theo cộng nghiệp mà chiêu cảm ra các cảnh giới cõi nước. Cảnh giới cõi nước theo thấy nghe mà biết được, thật ra cái thấy nghe biết được chỉ là hư không.

Có thể ví dụ như con cá lia thia nuôi trong lọ thủy tinh trong suốt, đặt một tấm kiếng phản chiếu, con cá thấy hình ảnh mình trong đó tưởng lầm là con cá khác. Nếu trong lòng con cá nỗi giận, con cá sẽ thấy đối thủ bên kia cũng nỗi giận. Phồng mang cắn nhau, cắn một miếng con kia trả một miếng cứ thế sân hận tăng lên đá nhau đến sứt môi chảy máu. Con cá lia thia không tự biết hình ảnh bên kia chỉ là sự phản chiếu chính bóng dáng của mình trong hư không, ngoài mình ra thì không hề có một con cá nào khác. Giả sử con cá lia thia trong tâm hoan hỷ thì con cá bên kia cũng hoan hỷ vui vẻ chuyện trò, nếu con cá lia thia yểm ly bỏ đi thì con cá bên kia cũng bỏ đi.

Tập nhân và giao báo của chúng sanh là vậy, trong lòng tích chứa như thế nào chiêu cảm ra thấy biết như thế ấy, tất cả chỉ là hư không phản chiếu bóng dáng của mình. Con cá lia thia ngu mê đá chính mình đến chảy máu miệng, con người khôn ngoan hơn “đá” nhà cửa, xe cộ, chức vị, danh vọng đến chảy máu tâm.

Vọng tưởng chẳng từ đâu sanh, thiên đường địa ngục chẳng từ đâu sanh, ngay nơi giường nằm báo thân này mãn, thức giong ruổi đi tìm hình bóng chính mình nơi hư không.

Phật giảng nói mười tập nhân, sáu giao báo không hề hù dọa chúng sanh mà chỉ nói lên một sự thật.

  • Đây là thông điệp gởi đến ba cõi nếu muốn an vui đời này đời sau thì trong tâm đừng nên tích chứa mười tập nhân xấu xa này. Khi tích chứa chỉ là một niệm nhằm thỏa mãn ích kỷ cá nhân, đến khi thành tựu niệm này sẽ là đồng sôi tường lửa thiêu đốt thân tâm.

  • Nếu trong tâm không hề tích chứa điều gì thì ngay hiện tiền đã hưởng một giao báo an lạc, không cần đến viên mãn báo thân. Giống như con cá lia thia trong tâm an vui thì con cá bên kia là bằng hữu.

(còn nữa)

Thư viện

Phần IV: 13. Sự Khác Biệt Giữa Thiền Của Phật Giáo Và Các Loại Thiền Khác; 14. 'Thiền - Tịnh Song Tu; 15. Hai Anh Quảng Nôm Luận Về Buông Xả (Trang 65 - 83)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn

Tác giả: Lý Tứ

Phần IV: 13. Sự Khác Biệt Giữa Thiền Của Phật Giáo Và Các Loại Thiền Khác; 14. 'Thiền - Tịnh Song Tu; 15. Hai Anh Quảng Nôm Luận Về Buông Xả 

Từ trang:  65 - 83

Giọng đọc: Lý Xuân Mai

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Thư viện

Phần III: 10. Các Cảnh Giới Trong Phật Đạo; 11. ''Chữ Hiếu" Trong Phật Đạo; 12. Ý Nghĩa "Từ Bi" Trong Phật Đạo. (Trang 48 - 65)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn Tác giả: Lý Tứ 

Phần III: 10. Các Cảnh Giới Trong Phật Đạo; 11. ''Chữ Hiếu" Trong Phật Đạo; 12. Ý Nghĩa "Từ Bi" Trong Phật Đạo. 

Từ trang: 48 - 65 

Giọng đọc: Lý Xuân Mai 

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Nguồn Gốc Của Phân Biệt, Cửa Ngõ Tâm Tông

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Không thấy rõ, không biết rõ, không giác ngộ thiệt tướng của sự vật, sự việc... chính là nguyên nhân dẫn đến phân biệt... từ đó đem tâm suy lường... Do suy lường, nên nơi không pháp bỗ̃ng dưng thành có pháp. Nơi không tâm bỗ̃ng dưng sanh tâm..

1.NGUỒN GỐC CỦA PHÂN BIỆT VÀ SỰ MÊ MUỘI

Sáng nay, mình có trao đổi với một số HĐ về nguồn gốc của phân biệt và sự mê muội mà Phật Đạo gọi đó là vô minh. Buổi trao đổi có nội dung như sau:

Không thấy rõ, không biết rõ, không giác ngộ thiệt tướng của sự vật, sự việc... chính là nguyên nhân dẫn đến phân biệt... từ đó đem tâm suy lường... Do suy lường, nên nơi không pháp bỗ̃ng dưng thành có pháp. Nơi không tâm bỗ̃ng dưng sanh tâm...

Nó giống như, ban đêm nhìn thấy tàu lá chuối khô lủng lẳng trên cây. Vì không biết rõ, không thấy rõ trên kia thật sự chỉ là tàu chuối khô, nên lầm tưởng đó là ma quỷ, và những phiền não, ưu tư, quan niệm từ con quỷ sẽ sanh.

Phật Đạo ra đời, trong chừng mực nào đó, giúp người “giác ngộ thiệt tướng”. Khi thấy được thiệt tướng, phân biệt, suy lường, thầm ý, sanh tâm, sanh pháp...Các thứ mê muội này bỗ̃ng dưng tự dừng. Đã giác ngộ và dừng rồi, thì “chẳng làm sao hết”... Chẳng làm sao hết, tức thị chân chánh tu hành, Phật đạo gọi là vô tác!

(21-01-2015)

2. CỬA NGÕ TÂM TÔNG

Để từng bước ra khỏi Giáo Tông, dần dần thể nhập Tâm Tông. Mấy hôm nay, chúng ta đã bàn nhiều về cách hiểu của Giáo Tông cũng như Tâm Tông đối với Tứ Đế.

Để tìm ra chiếc chìa khoá mở cánh cửa đầu tiên của Tâm Tông, mình có một câu hỏi liên quan đến sự việc này, xin gởi đến các bạn.

  • Vì sao trong Phật Đạo, “Tứ Đế” là con đường dẫn đến Tâm Tông hoàn hảo nhất?

Thời gian trả lời câu hỏi, không hạn lượng... Khi chưa có câu trả lời đúng nhất về văn tự lẫn ý nghĩa, thời hạn trả lời vẫn còn. Một HĐ có thể gởi nhiều câu trả lời qua nhiều thời điểm khác nhau.

Trong thời gian này, các đề tài khác về Phật Pháp, chúng ta vẫn trao đổi bình thường. Mình cũng sẽ không giải thích thêm về câu hỏi. Vì thế, khi chưa hiểu nội dung câu hỏi, các bạn tự suy nghĩ... Tâm Tông là như thế, giống như kinh Đại Thừa, những cảnh giới thuộc về Tâm Tông, Đức Phật cũng không giải thích, người đọc “tự thầm hội”.

(22-01-2015)

3. ĐÁNH GIÁ

Đọc đi đọc lại bài viết của các vị HĐ này, cảm nhận đầu tiên của mình là: Ba bài viết rất chuẩn, chuẩn cả về văn phong lẫn ý nghĩa. Đọc lên, cứ ngỡ những bài viết này là của mình. Từ cách đặt vấn đề, đến lý luận và ngạc nhiên nhất là văn phong, loại văn chương đặc trưng của Tâm Tông... Như vậy là “con cá trong ao lạch ngày xưa, đã bắt đầu hoá kiếp”...

Các bạn!!!

Thấm nhuần Giáo Tông có nhiều lợi ích như thế... Đã thấm nhuần Giáo Tông, chỉ cần một phen hoá kiếp nữa, thì “cây đa già không thể không thành mặt trời”...Rất mong, nhìn thấy được “câu chuyện cổ tích của thế kỷ 21” từ các bạn!

(23-01-2015)

4. NHẬN RA “BẢN CHẤT”… “LỰC HẤP DẪN…” Đọc các câu trả lời, mình có vài cảm nhận sau:

  • Tất cả các bài (đã nhận) của HĐ là một bài. Nội dung, ý nghĩa không khác, chỉ khác cách viết.

  • Những HĐ có câu trả lời, đều thấm nhuần Giáo Tông từ ý nghĩa đến văn tự (thấu đạt ngữ nghĩa). Xin chúc mừng thành quả này. Nó giống như những người trồng táo, nắm vững quy trình từ khi quả táo mới đậu đến lúc quả táo chín.

  • Nhưng cũng “chính cái nhìn chuyên nghiệp của người trồng táo”, mà khi thấy quả táo rơi, họ không thể thảnh thơi đứng ngoài cuộc để tìm ra “quy luật rơi” hay “lực hấp dẫn” như một Newton ngày xưa.

  • Đọc các câu trả lời của HĐ, mình lại liên tưởng đến câu chuyện quả trứng gà của Cristoforo Colombo. Mọi người lo đi tìm cái sâu xa, mà “quên những điều đơn giản trước mắt...”.

Xin chuyển đến các bạn “hai câu chuyện đời”. Như là một gợi ý xa xa trong lúc đi tìm câu trả lời.

Câu chuyện thứ 1 (khám phá củ̉a Cristoforo Colombo).

...Năm 1492, sau khi Kha Luân Bố (Cristoforo Colombo) tìm ra châu Mỹ (mà lúc đó ông tưởng là đất của xứ Ấn độ). Lúc trở về nước ông được bà hoàng Tây ban nha rất hậu đãi, mở tiệc linh đình để thết đãi người đã có công tìm ra con đường mới trong ngành hàng hải.

Trong bữa tiệc có nhiều người ganh tị với ông mới to nhỏ rằng “nếu không có Kha Luân Bố tìm ra mảnh đất này, thì cũng sẽ có người khác tìm ra thôi”. Kha Luân Bố không nói gì cả, nhưng đến khi gần tàn tiệc ông mới đứng lên, cầm một quả trứng và ra câu đố cho mọi người rằng “nếu ai để đứng được quả trứng trên bàn mà không ngã lăn, thì ông xin bái phục và từ bỏ chức tước quan trưởng của ngành hàng hải Tây ban Nha”.

Mọi người trong bữa tiệc đều thử qua, kể cả những người đả kích ông lúc nãy cũng hăm hở vén tay áo lên làm thử nhưng không một ai dựng đứng được quả trứng đứng giữa bàn. Tức giận ông khách đả kích nọ cho rằng Kha Luân Bố đã đưa ra một câu đố không có lời giải đáp. Lúc đó Kha Luân Bố mới từ tốn đứng lên cầm quả trứng gõ nhẹ xuống bàn cho một đầu vỏ bị vỡ, như thế quả trứng đứng thẳng mà không lăn qua một bên. Lúc ấy mọi người mới ồ lên và ông khách đả kích lên tiếng "có thế thôi chứ đâu có gì là khó, nếu làm như vậy thì ai chẳng làm được". Kha Luân Bố trả lời:

“Dĩ nhiên là khi đã có người chỉ cho ông thấy phải làm sao rồi, thì không có gì khó cả. Cũng như việc tìm ra châu Mỹ vậy, khi tôi đã tìm ra rồi thì ai cũng cho là dễ, nhưng nếu các người không tìm ra được cách để đứng quả trứng thì liệu có tìm ra được châu Mỹ hay không?”.

Câu chuyện thứ 2 (khám phá củ̉a Newton).

...Vào một ngày mùa thu, Niu-tơn (Newton) ngồi trên chiếc ghế trong vườn hoa đọc sách, bỗ̃ng dưng một quả táo từ cây rơi xuống trúng đầu.

Ông xoa đầu, nhìn quả táo chín lăn xuống vũng bùn. Quả táo đã cho ông một gợi ý làm ông nghĩ miên man. Tại sao quả táo chín lại rơi xuống đất? Nguyên nhân của nó là gì? Tại sao nó lại phải rơi xuống mà không bay lên trời. Như vậy trái đất có cái gì hút nó sao? Mọi vật trên trái đất đều có sức nặng, hòn đá ném đi rốt cuộc lại rơi xuống đất, trọng lượng của mọi vật có phải là kết quả của lực hút trái đất không?

Qua quá trình nghiên cứu, Niu-tơn đã tìm ra câu trả lời: Mọi vật trên trái đất đều chịu sức hút của trái đất. Nói một cách khác là vạn vật trong vũ trụ đều có lực hấp dẫn lẫn nhau, vì có loại lực hấp dẫn này mà mặt trăng mới quay quanh trái đất, trái đất mới quay quanh mặt trời. Đối với mặt trời thì trái đất cũng là một quả táo khổng lồ, nó quay quanh mặt trời. Đây chính là định luật “Vạn vật hấp dẫn” nổi tiếng của Niu-tơn mà đến bây giờ mỗ̃i khi nhắc đến nhà bác học nổi tiếng này là nhiều bạn nhớ ngay đến câu chuyện thú vị về ông.

Các bạn!!!

Trên đây chỉ là một câu chuyện vui trong đời, nhưng nếu có khả năng liên tưởng và tư duy logic bạn sẽ nhận thấy nó còn hàm chứa những ý nghĩa sâu xa hơn thế rất nhiều. Những nhà khoa học đi trước chúng ta hàng trăm năm chỉ thông qua những hiện tượng rất đơn giản trong cuộc sống đã tìm tòi và nghiên cứu để lí giải chúng. Nhiều thành quả mà chúng ta đang sử dụng ngày nay chính là kết quả của những sự nỗ̃ lực ấy. Nhưng, trong cuộc sống hàng ngày vẫn còn rất nhiều hiện tượng được cho là bí ẩn?

Có thể bạn đã biết? Có thể bạn đã từng suy nghĩ và mong muốn tìm ra những câu trả lời? Và cũng rất có thể chỉ từ một hiện tượng nào đó, bạn sẽ tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc hàng ngày giống như khi quả táo rơi Niu-tơn đã suy nghĩ, nghiên cứu và tìm ra định luật "Vạn vật hấp dẫn"… Hy vọng sau câu chuyện, sẽ nhận được những câu trả lời “rất bất ngờ” trong cái đơn giản nhất từ trước mắt của các bạn...

(25-01-2015)

5. ÔNG THẦN VE CHAI

Sau khi gởi đến HĐ hai “câu chuyện đời” hôm qua, một số HĐ đã nhận ra: Dùng sức hiểu biết của Giáo Tông để trả lời câu hỏi là không thoả đáng. Các HĐ này, không dùng cách cắt nghĩa dài dòng, ê a, có đầu đuôi của Giáo Tông để trả lời. Thay vào đó, các HĐ này cô đọng ý nghĩa, dùng lời văn ngắn gọn dứt khoát để trả lời. Cách thể hiện này, có chút gì đó của Tâm Tông, nhưng không thoát ra khỏi cái nhìn cũng như cách tư duy Giáo Tông. Nó giống như “người thợ giỏi”, nhìn mọi việc qua lăng kính chuyên môn. Thế mới biết, muốn bức phá ra khỏi một định kiến, cho dù đó là định kiến tốt (của tu chứng), nhưng đã ăn sâu vào đời sống… thật không dễ!!!

Viết đến đây, mình chợt nhớ một câu chuyện kinh, câu chuyện đại khái như sau:

“...Một hôm, Đại Sĩ Văn Thù Sư Lợi với thân tướng một Đại Sĩ, đến thuyết pháp cho một chúng hội tu hành rất đông, sau buổi thuyết pháp, có hai trăm người từ bỏ pháp hội ra đi...

Để giúp hai trăm người tu hành này có chánh kiến, Đại Sĩ Văn Thù Sư Lợi hoá hiện thành "một vị Đạo Sư có tu có chứng", đối trước hai trăm người này, và cũng thuyết lại những điều lúc trước đã thuyết. Kết quả, hai trăm người này có chánh kiến và cúng dường cho Ngài Văn Thù Sư Lợi y Tăng Già Lê...”.

Theo mình nghĩ, chắc lúc đó Ngài Văn Thù ngồi kiết già, lim dim hai con mắt, dáng vẻ rất trịnh trọng!... Cũng con người đó, cũng trí tuệ đó, cũng ngữ ngôn đó, cũng ý nghĩa đó... Nhưng thêm một chút gia vị tu hành vào, sẽ hấp dẫn được một số người!

Thế đấy Các bạn! Sức hấp dẫn của Giáo Tông rất lớn, vượt ra khỏi nó thiệt không dễ dàng!

Các bạn!

Câu hỏi về Tứ Đế mình đưa ra, là một câu hỏi không khó, thậm chí dễ như “quả trứng gà đặt trên bàn”! Nhưng cái khó ở chỗ̃, làm thế nào để thoát ra khỏi những “định kiến cũng như thành tựu bản thân” mà nhìn sự việc. Còn giữ chặt định kiến tu hành và kết quả tâm chứng để nhìn sự việc, chẳng khác nào quả trứng đã bị vô hiệu hoá hai hạt nhân là lòng đỏ và lòng trắng, nhưng cái vỏ mỏng manh thì hãy còn đó.

“Tâm tông chính là sự thoát ly vĩnh viễn cái vỏ này”. Như Ông Thần Ve Chai, chỉ nhìn thấy và lý giải sự việc một cách khách quan trung thực, khi nào “Ông Ta” dám từ bỏ và thoát khỏi cái... ve chai...!

(26-01-2015)

6. TẢN MẠN… NHÂN ĐỌC EMAIL

Trong các câu trả lời, một bài viết mà theo mình, có phần mở đầu lý thú nhất: “...Mấy hôm nay, con đã tư duy và trả lời rồi tự phản biện nhưng vẫn chưa thỏa mãn, bây giờ mới thiệt thông cảm với Đại Sư Thần Tú!

Từ ngày biết đến giáo pháp đến giờ, đọc rất nhiều tư liệu Phật Giáo, nói chuyện với không biết bao nhiêu người... Nhưng con chưa thấy tư liệu nào, hoặc một ai “thông cảm với Đại Sư Thần Tú”. Và hầu như, người tu hành thời nay, ai mà không biết chê Đại Sư Thần Tú thì kẻ đó thuộc loại “tu dở nhất thiên hạ”, mặc dù… thực tế người ấy có xứng đáng làm “đồ tử, đồ tôn” của Thần Tú hay chưa thì còn phải... coi lại!”

Các bạn!

Đọc lời tự sự trên, mình ngẫm nghĩ hoài, không biết tiền kiếp Tú Đại Sư làm nên cái nghiệp gì, mà lại bị hậu bối chê không thương tiếc, chê cả ngàn năm rồi mà chưa dừng...

Nay trong HĐ chúng ta, có người thông cảm với Tú Đại Sư, chắc cái nghiệp của vị đạo sư ấy sắp mãn, để công bằng trả lại cho Đại Sư sự tôn trọng nhất định mà môn đồ của ông và người đương thời đã từng vinh danh: “Nam Năng Bắc Tú” (phương Nam có Huệ Năng, phương Bắc có Thần Tú)...!

Theo suy nghĩ riêng của mình, Đại Sư Thần Tú rất đáng được tôn trọng, bởi sức rộng và sự chuẩn mực mang màu sắc Giáo Tông của ông ta. Song “cái bóng của Lục Tổ quá lớn”, cái hào nhoáng của Tâm Tông đã làm cho Tú Đại Sư trở thành mục tiêu để hậu bối chê bai.

Có thể nói, thảm họa của sự tu hành xưa nay manh nha từ những chấp nhất cực đoan này! Nhân đọc lời tự sự của HĐ, mình càng thêm trân trọng HĐ chúng ta. Chúng ta không giống ngoài kia “nghe thiên hạ chê quá, mình cũng... chê... theo”!

(26-01-2015)

7. TỔNG KẾT CÂU HỎI VỀ... TỨ ĐẾ

Đặc biệt, chiều hôm qua và sáng hôm nay, mình có hai cuộc nói chuyện bằng ĐT với Cụ Bà Nhuận Bình để nghe bà trả lời câu hỏi.

  • Cuộc nói chuyện chiều hôm qua: Bà Cụ nói rõ về tiến trình Tứ Đế và kết luận: Tiến trình này hoàn hảo, nên nó là con đường đưa đến Tâm Tông hoàn hảo.

  • Cuộc nói chuyện sáng nay: Bà Cụ cho biết suốt đêm không ngủ, chỉ nằm tư duy về Tứ Đế. Và bà kết luận: Tứ Đế là chân lý, nên là con đường hoàn hảo.

Để tìm ra một nguyên lý, tìm ra một giải pháp, tìm ra một hướng đi, tìm ra chân lý, tìm ra lời giải đủ sức thuyết phục. Không có con đường nào tốt hơn là con đường thâm nhập bằng Trí Tuệ. Có Trí Tuệ là có tất cả. Và Phật Đạo cũng không ngoại lệ!

Con đường đến với Tâm Tông cũng giống như vậy. Cho dù một pháp được coi là thù thắng nhất, nhưng nó không xây dựng trên nền tảng Trí Tuệ, không đưa đến thành tựu trí tuệ, thì pháp đó không thể cho ra kết quả Trí Tuệ. Mà Tâm Tông chính là Trí Tuệ, Trí Tuệ là Tâm Tông!

Phật Tâm Tông chính là Trí Tuệ Vô Thượng. Đức Thế Tôn có danh xưng là Vô Thượng Giác, danh xưng này cho thấy đây là bậc đầy đủ Trí Tuệ.

Nỗ̃ lực tư duy trong mấy ngày qua, không phải các HĐ đang đi trên con đường Trí Tuệ để tiến đến đích Trí Tuệ là gì? Chánh tư duy là những viên ngọc quý. Trí Tuệ được tìm thấy từ những tư duy này là Viên Ngọc Chủ. Chúng ta đang lục lọi tìm kiếm trong núi ngọc để tìm Viên Ngọc Chủ.

Và, cho dù khó khăn cách mấy, nếu ta đi đúng hướng, vào đúng núi ngọc, thì nhất định Viên Ngọc Chủ sẽ hiện. Câu trả lời tốt nhất mà mình chờ đợi từ HĐ, đã xuất hiện, như những gì hứa trước đó, khi nào có câu trả lời đúng nhất, mình sẽ: “Khui thùng và chuyển toàn bộ đến các bạn”.

Hôm nay, mình gởi đến các bạn câu trả lời đúng nhất để các bạn chiêm nghiệm. Sau khi đọc câu trả lời được coi là đúng nhất, có thể có một vài HĐ sẽ nghĩ rằng: “Để quả trứng gà đứng được trên bàn, đâu có gì là khó” .

Đúng, không có gì là khó, nhưng cũng không phải... dễ, nếu chưa tìm ra giải pháp... tốt nhất! Cái Ấn mới thiệt là hên...

Mình đang chuẩn bị gởi đi, thì lại nhận được một câu trả lời “đúng nữa”! Trăm hoa đua nở!... Cái Ấn hên thiệt! Xin chuyển câu trả lời đúng thứ nhì vừa nhận còn nóng hổi đến các bạn luôn một thể...

Kính Thầy,

Mấy hôm nay, con đọc kỹ những bài Thầy viết, nghiền ngẫm những lời Thầy dạy, rời bỏ danh tướng để hầu tìm về hang ổ Tâm Tông. Con đặt câu hỏi của Thầy trước mặt, tập luận giải, phản biện, liên kết tất cả các tư liệu có được hòng thấu suốt vấn đề, tìm ra lời giải đáp chính xác.

Con nghiệm rằng trước một sự việc như cái vụ câu hỏi đợt này, nếu không suốt thấu câu hỏi, không rõ mục đích của người hỏi, không suốt thấu mấu chốt để mở chỗ̃ gút mắc, không thể liên kết các tư liệu có được, không có phương tiện thù thắng... thì không thể giải quyết được sự việc như Pháp.

Thì cũng vậy, trước một đối tượng, nếu không đọc được tâm trí của họ qua lời tâm sự, qua chỗ̃ trình bày, qua hành động, không suốt thấu chỗ̃ kẹt mắc, không rõ biết cái gì họ cần giác, cái gì cần ngộ, cái gì cần thấu suốt, không rõ biết cột mốc để cắm cho người, không đủ phương tiện để giúp người thành tựu cái cần thành tựu... Thì làm sao gọi là Tâm Tông?

Nhưng muốn làm được điều này, ngoài việc thông thuộc thế nào là tục đế, thế nào là thánh đế, thế nào là chân đế. Còn phải có một công cụ hữu hiệu của trí tuệ mới có thể phát huy ưu thế của Tứ Đế trong Giáo Pháp. Công cụ hữu hiệu đó là gì? Muốn có được công cụ hữu hiệu, đầu tiên phải thành tựu cho được chiếc chìa khoá, mà “chìa khoá này phải là chìa khoá của trí tuệ”. Vì thế, thành tựu Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí chính là chiếc chìa khoá vàng để vào Tâm Tông... Đây là bốn thứ trí căn bản làm cơ sở thành tựu hoàn hảo mười một loại trí, mà bốn trí này chỉ có trong bốn đế (khổ, tập, diệt, đạo). Cho nên con nghiệm ra: “Tứ Đế là cơ sở để thành tựu Tứ Trí”, nên nó là con đường dẫn đến Tâm Tông hoàn hảo nhất, mà không có một pháp nào hội đủ các yếu tố quan trọng này.

Con cảm ơn Thầy đã và đang dạy con tập giải quyết một vấn đề như Pháp. Con lại nhớ đến đại thần công mà Thầy đã truyền trao: "Chiếc Phát Đẳng Pháp, Tu Rị Tu Mọ, Ta Rị Ta Mọ Đại Thần Công".

Thưa Thầy!!!

Con xin được trả lời câu hỏi: Vì sao trong Phật Đạo, Tứ Đế là con đường dẫn đến Tâm Tông hoàn hảo nhất?

Nói đến Phật đạo là nói đến Tứ Đế.

Đích đến trong Phật đạo là thể nhập Tâm Tông. Vì thế Lý Tứ bèn làm Sư tử hống: "Lý viên dung Diệu Pháp. Tứ thông đạt Tâm Tông.”

Tâm Tông là do tự thể nhập chứ không do tu mà thành.

Tuy nhiên, chẳng phải không cần đến giáo pháp. Giáo pháp ấy chính là Tứ Đế. Nhờ thấm nhuần Tứ Đế, nên vị tu hành dần dần phát sinh Tứ Trí. Một khi Tứ Trí phát sinh thì cơ hội thể nhập Tâm Tông rất cao.

Có thể nói Tứ Trí là thuộc tính củ̉a Tâm Tông.

Ví như Tứ Trí là ánh sáng mặt trời, thì Tâm Tông chính là mặt trời. Cho nên mới nói Tứ Đế là con đường dẫn đến Tâm Tông hoàn hảo nhất. Cũng như ánh sáng mặt trời là con đường dẫn đến mặt trời hoàn hảo nhất...!

Trên đây là sự hiểu biết thô thiển của con. Mong Thầy chỉ dạy thêm.

Các bạn!!!

Sáng nay, đọc lại những câu trả lời của HĐ. Có thể nói: Mỗ̃i câu trả lời là một áng văn, một tiểu luận “kiệt xuất trong Phật Đạo”. Chúng ta có thể tự hào rằng: Mỗ̃i HĐ là một viên ngọc quý chánh pháp, còn sót lại trong thời mạt pháp!!!

(28-01-2015)

Thư viện

Phần II: 4. Hai Con Đường Tu Học Phật; 5. Đức Phật Do Tu Cái Gì Mà Thành?; 6. Chữ Tu Trong Phật Đạo Là Như Thế Nào? 7. Mù Và Điếc Trong Phật Đạo; 8. Pháp Môn Và Phép Tu.(Trang 29 - 47)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn

Tác giả: Lý Tứ

Phần II: 4. Hai Con Đường Tu Học Phật; 5. Đức Phật Do Tu Cái Gì Mà Thành?; 6. Chữ Tu Trong Phật Đạo Là Như Thế Nào? 7. Mù Và Điếc Trong Phật Đạo; 8. Pháp Môn Và Phép Tu.

Từ trang: 29 - 47

Giọng đọc: Lý Xuân Mai

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Ngũ Trược

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Ngũ trược là tiến trình dẫn dắt từ mê lầm này đến mê lầm khác... Hiểu biết thấu đáo ý nghĩa ngũ trược chính là hiểu biết thân tâm và pháp giới này.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Ngũ trược là khái niệm đặc trưng của Phật giáo, khái niệm này nếu hiểu rõ sẽ giúp người tu hành có thể ngay trong cõi đời được mệnh danh là ác thế ngũ trược được an vui.  Ngũ trược gồm năm món:

Kiếp trược;

Kiến trược;

Phiền não trược;

Chúng sanh trược; và

Mạng trược.

Năm món trược là tiến trình dẫn dắt từ mê lầm này đến mê lầm khác. Vì vậy ngũ trược cũng có tính kế thừa của nó, tức cái này có nên cái kia có, và cái này không nên cái kia không.

  • Thật ra năm món này chỉ từ một mê lầm ban đầu là ‘kiếp trược’ cho ra hệ quả của nó là những trược sau, do vậy chỉ cần một món không bị trược thì các món khác tự thanh tịnh.

Để thấu suốt năm món này, quan trọng là thấu suốt chữ ‘trược’ và hiểu vì sao nó trược, khi hiểu biết tận nguồn cơn thì khái niệm này sẽ giúp người tu hành rất lớn trong con đường tìm kiếm thanh tịnh tự thân.

Sau đây là đoạn kinh Phật định nghĩa về chữ trược: “Thế nào là trược? A Nan, ví như nước trong, bản nhiên là trong sạch, lại như những thứ bụi, đất, tro, cát bản chất là ngăn ngại; hai bên bản nhiên thể chất khác nhau, không hợp nhau được. Có người thế gian lấy đất bụi kia, ném vào nước sạch, thì đất mất ngăn ngại, nước mất trong sạch, hình trạng vẩn đục, gọi đó là trược; năm lớp ô trược của ông cũng giống như vậy.”[[1]]

Theo tinh thần đoạn kinh “trược” là sự vẩn đục làm ngăn ngại, vấn đề ở đây được đặt ra là cái gì bị vẩn đục? Cái gì bị ngăn ngại?

        “Nhất thiết Phật ngữ tâm”;

Có nghĩa hết thảy Phật nói về tâm, tức tâm (chơn tâm) bị cái gì đó làm vẩn đục và ngăn ngại.

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật nói rất nhiều về sự ngăn ngại và vẩn đục này, nếu loại sạch thứ đã làm vẩn đục thì ngăn ngại không còn hay ngược lại.

Vẩn đục ngăn ngại như thế nào, có thể đưa thêm một ví dụ để làm sáng tỏ vấn đề?

Giống như một hồ thủy tinh trong suốt người ta đổ đầy nước sạch và nuôi cá trong đó, con cá bơi lội trong hồ nước trong này, nếu đem một vài giọt mực màu đỏ đổ vào lập tức hồ nước biến thành màu đỏ. Con cá bây giờ sinh hoạt trong vùng nước đỏ, thấy biết của con cá không thoát ra khỏi sự vẩn đục và che chướng bởi môi trường có màu sắc này.

Thì cũng vậy, chơn tâm vốn thanh tịnh trong suốt như hư không nhưng đã bị thân và các kiến chấp do dục ái nhiễm vào tâm này bị vẩn đục và ngăn ngại từ đó làm sai lệch thấy biết, biến trong sạch thành nhiễm ô. Bây giờ mọi thấy biết không ra khỏi thân nghiệp và dục ái.

Lẽ ra các pháp không phải tướng sở tri nhưng tham ái làm cho thấy biết sai lệch thành sở tri, sở tri quay lại làm chướng bổn tâm sanh phiền não. Phiền não cấu vào tâm làm chướng nguồn tâm gọi là phiền não chướng. Khi hai thứ chướng này hiện khởi, tâm đồng biến thành dị, các pháp bản lai không đối đãi tự dưng thành đối đãi. Pháp giới thanh tịnh trở thành pháp giới chúng sanh, có sinh diệt, từ đây mọi thứ lập bày.

Đoạn kinh sau nói rõ điều này: “Do nghĩa đó, ông nên xét các pháp làm ra trong thế gian, đều thay đổi sinh diệt. A Nan, các pháp đó không có gì tồn tại vì nó là thứ làm ra, duy chỉ có hư không là không thể diệt, vì sao? Vì hư không không phải cái làm ra, mà cái gì không do làm ra thì chẳng thể diệt mất. Suy lại trong thân ông, tướng cứng là địa đại, thấm ướt là thủy đại, hơi ấm là hoả đại, lay động là phong đại, bốn món này ràng buộc lấy ông chia thành thấy nghe hay biết làm cho tâm tính diệu minh bỗng dưng bị chia cắt tạo thành thứ lớp, thấy có thứ lớp nên gọi ngũ trược.”[[2]]

Tâm tính diệu minh bị thân ngăn che, các căn thân bị chi phối bởi nghiệp thức, thức làm cho năm căn thân lay động, ý thức xét sự việc theo nghiệp. Chúng sanh thấy không khỏi mắt, nghe không khỏi tai, các căn theo ý thức nhiếp trần cảnh chia chẻ pháp được thấy dường như sai khác, vì thế một tâm mà hiện ra nhiều thứ.

Giống như cái đèn trên sân khấu, chỉ một ngọn đèn nhưng khi chiếu qua các màu khác nhau, biến sân khấu thành nhiều màu.

  • Tâm (tên gọi khác của thức) chiếu qua các căn biến bản nguyên thanh tịnh trở thành sai biệt.

Muốn chấm dứt sai biệt loạn động, người tu hành không chạy theo thấy nghe của căn hư dối, căn hư dối không nhiễu loạn tâm, tâm được trả trở về bản lai thanh tịnh. Ý thức không bị thức chi phối chỉ còn lại ý căn, pháp giới chúng sanh ô trược trở lại bản nguyên thanh tịnh, giống như hang động tối ngàn năm nay được sáng, hay chiếc đèn chiếu không bị các tấm giấy màu làm sai lệch màu sắc ánh sáng.

Khi rút tấm giấy màu khỏi đèn chiếu thì cái làm ra là màu sắc (ngăn ngại sự sáng) bị diệt chứ không phải ánh sáng bị diệt. Các pháp hư vọng do thấy nghe làm ra bị diệt mất, không phải thấy biết thanh tịnh bị diệt.

  • Nguồn tâm không bị nhiễu loạn gọi là chơn tâm.

Hư vọng tâm bị diệt chơn tâm sẽ hiện, giống như nước đục lắng trong, nước đục bị lắng nước trong sẽ hiện.

Thân tâm chúng sanh bơi lội trong hồ nước nhiễm ô ái dục. Giống con cá bơi lội trong hồ nước màu, con cá từ sống đến chết gắn bó với hồ nước nhiễm ô màu sắc không thể tự thoát.

− Con người sống chết hít thở ăn ngủ trong pháp giới nhiễm ô gọi là ‘kiếp trược’.

− Ở trong kiếp trược mọi thấy nghe đều ảnh hưởng bởi kiếp trược gọi là ‘kiến trược’.

− Khi thấy nghe đã bị trược làm cho sai lầm cái biết thì nhất định phiền não sẽ sanh gọi là ‘phiền não trược’.

− Trong tâm có phiền não và bị phiền não che mờ làm ngăn ngại bổn tâm thanh tịnh gọi là ‘chúng sanh trược’.

− Đã là chúng sanh thì thân tâm bây giờ là thân tâm chúng sanh, mọi hoạt động từ thân tâm phát ra đều là của một chúng sanh nên gọi là ‘mạng trược’.

Năm trược là hệ lụy của một chuỗi sai lầm từ trược ban đầu là kiếp trược. Nếu chúng sanh không nhỏ giọt nước ái dục vào pháp giới thì pháp giới này đâu bị trược. Giống như hồ nuôi cá kia không bị nhỏ giọt mực màu thì hồ nước đâu bị nhiễm ô. Nếu tâm ông A Nan không bị giọt nước ái dục làm nhiễm ô thì đâu bị nạn Ma Đăng Già.

Chúng sanh cũng vậy nếu không có dục ái thì đâu có thân, không thân thì thấy nghe hay biết đâu bị chi phối bởi các căn, các căn không bị ái dục chi phối thì thân tâm đâu thành nghiệp, ba nghiệp nhiễm ô thì kiếp đời trở thành kiếp trược. Sự xoay vần trói buộc lẫn nhau này cột trói kiếp đời chúng sanh.

Muốn thoát ra khỏi cột trói này phải từ sự vận hành của nó mà mở. ‘Giác ngộ bản lai thanh tịnh’ thì ‘kiếp trược’ tự mất, mở gút trói đầu tiên. Nếu không thanh tịnh được bản tâm thì nhắm ngay thấy nghe tu tập, lắng trong thấy nghe thì gút thứ hai chấm dứt, hai gút này mở được thì các gút sau tự mở. Phiền não trược chỉ là hệ quả của kiếp trược và kiến trược, giống như thấy đèn có quầng là hệ quả của con mắt (trên thân) bị bệnh. Chúng sanh trược và mạng trược là kết quả của phiền não thân tâm, vì thế Phật dạy: “Thân chúng sanh do phiền não và nghiệp làm thành.”

Hiểu biết thấu đáo ý nghĩa ngũ trược chính là hiểu biết thân tâm và pháp giới này. Thân tâm và pháp giới không phải hai, cái này hết trược thì cái kia thanh tịnh và ngược lại.

Chính nguyên lý này chư Phật lập nên các tịnh quốc độ để chúng sanh về đó sống trong môi trường không bị nhiễm ô.

Môi trường không nhiễm ô thì kiếp đời không bị trược, cái này làm nhân cái kia làm quả, quả nhân đắp đổi cho nhau, cái này sanh cái kia sanh, cái này diệt cái kia diệt, triết lý căn bản này làm chúng sanh khổ đau và cũng làm chúng sanh thanh tịnh.

[[1]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm – Tâm Minh dịch.

[[2]] Trích kinh Thủ Lăng Nghiêm – Tâm Minh dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Về… Biên Tập… Và Thực Phẩm Sạch

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Nếu ta có cách trình bày “khéo hơn, gãy gọn hơn, mạch lạc hơn, đúng trọng tâm hơn...” thì mức độ thành công sẽ cao hơn, người đọc ít nhàm chán hơn!

1. BIÊN TẬP

Thông thường, khi nhận một email của HĐ nào đó, và để chuyển đến các bạn, mình đọc email này không dưới năm bảy lần, chưa nói là sau khi gởi đi, mình lại đọc thêm vài lần nữa, để xem khi gởi có gì thiếu sót, có gì không ổn... Làm như vậy, mà có lúc vài ba hôm sau đọc lại mình vẫn thấy chưa vừa ý.

Lần thứ nhất, mình đọc sơ khởi trực tiếp trên email. Lần thứ hai, đọc lại và copy sang công cụ note để sửa những lỗ̃i chính tả thông thường dễ thấy. Lần thứ ba... lần thứ tư, mình nghiền ngẫm ý nghĩa. Lần thứ năm, mình sửa những câu văn tối nghĩa hoặc có thể đưa đến hiểu lầm, và định dạng lại văn bản để thống nhất cách viết với nhau. Lần thứ sáu, tìm xem bài viết có nhất quán và đã xuyên suốt ý nghĩa của tác giả muốn nói hay chưa. Lần thứ bảy, nếu cần sẽ thêm hoặc bớt một vài điều gì đó để lời văn hoàn chỉnh và nghĩa lý thoáng hơn...

Nói chung, với bài viết của một số HĐ thì công việc này đơn giản hoặc không cần, nhưng một số HĐ khi gởi bài về, phải bỏ công rất nhiều.

Có lẽ, niềm vui chính của chúng ta là được đọc, được nghe HĐ của mình trình bày chỗ̃ thấy biết của họ về giáo pháp. Thức ăn tinh thần này đều đặn hằng ngày, sẽ nuôi lớn chúng ta trong môi trường bát chánh... Tự nó trở thành một phần của Đạo Đế, và là điều kiện tốt nhất để thâm nhập trí tuệ.

Tuy nhiên, nói, viết, chia sẻ, truyền đạt... phụ thuộc nhiều vào “năng khiếu” và “sự thông hiểu” cũng như “văn hoá”. Vì thế, không phải mọi người đều có thể viết hay nói giống nhau và thành công như nhau. Do sai biệt này, ngoài việc thâm nhập giáo pháp, chúng ta còn phải học nhiều thứ, cụ thể là cách trình bày (nói, viết)... Nếu ta có cách trình bày “khéo hơn, gãy gọn hơn, mạch lạc hơn, đúng trọng tâm hơn...” thì mức độ thành công sẽ cao hơn, người đọc ít nhàm chán hơn!

Trong Phật Đạo, không luận viết dài hay ngắn, không luận nói nhiều hay ít, điều cần viết (nói) dài thì ta viết dài, không cần thì ta viết (nói) ngắn gọn. Cái quan trọng nhất ở đây là: Anh muốn nói hay viết điều gì??? Điều Anh nói hay viết đã đúng thời và có cần thiết hay không? Khi viết (nói) mà chưa, hoặc không đạt các yêu cầu trên, thì bài viết đó được coi là thất bại.

Con đường thể nhập Trí Tuệ, thể nhập Tâm Tông, mình luôn luôn khuyến khích các bạn phản biện. Phản biện để làm sáng tỏ vấn đề, để soi thấu chân lý, phản biện là hình thức tu tập trọng yếu của Phật Đạo. Vì thế Phật thường khen “người khéo hỏi và người khéo trả lời...”!

Tóm lại, với bản thân của mình, khi nhận được bài viết của HĐ, không luận bài viết của HĐ đó là dài hay ngắn, hấp dẫn hay chán ngắt, mình đều trân trọng và đọc rất kỹ. Nếu thấy cần thiết và có lợi ích cho nhiều người, mình trau chuốt, sửa chữa, nâng niu như nâng niu một báu vật... Ha ha ha ha!!! Tất nhiên cũng có lúc đọc lên “phát ngán”, nhưng mình dẹp cái ngán qua một bên, dành hết tâm trí cho sự trân trọng... Vì bởi: Với những bài viết của HĐ, cho dù dở hoặc hay, theo mình thì trong đó cũng có “cái mầm của đạo...”!

(19-01-2015)

2. THỰC PHẨM SẠCH

Sáng nay, trao đổi với một vài HĐ về việc: “Vì sao các bài viết của HĐ gởi đến, mình phải chỉnh sửa đôi chút, mà không để nguyên như vậy chuyển cho mọi người.” Xin tâm sự như thế này:

1) Phần lớn, mình chỉ sửa lỗ̃i chính tả nếu bắt gặp...Vì thế không phải email nào cũng sửa.

2) Nếu bài viết: Văn tự sai, mà ý nghĩa đúng, thì mình sắp xếp lại câu văn để người đọc dễ hiểu.

3) Nếu ý nghĩa sai, mình sửa lại ý nghĩa. Vì rằng mọi kiến giải khi chuyển đến HĐ, phải bảo đảm một điều là: Khi đọc, là lúc HĐ được tiếp nhận ý nghĩa đúng nhất, không thể gởi ý nghĩa sai đến mọi người...

Nó giống như thực phẩm đến tay người tiêu dùng, phải là thứ thực phẩm an toàn cho sức khoẻ, đã qua kiểm định chất lượng.

4) Trong bài viết, HĐ thường ghi “Có gì sai sót, xin Thầy sửa chữa…” và… mình đã làm đúng yêu cầu này!!!

5) Khi “được sửa”, người viết sẽ nhận ra chỗ̃ chưa đúng của mình, để tự điều chỉnh tri kiến. Nếu không sửa, thì làm sao biết họ biết chỗ̃ sai mà sửa.

6) Có HĐ hỏi: “Nếu bài viết đã bị đã sửa, thì biết ai viết mà tán thán?” Mình xin nói rõ “Chúng ta tán thán là tán thán ý nghĩa tốt mà chúng ta đã học được, chứ chẳng phải tán thán cá nhân, hay tán thán cái tên được ghi phía dưới”… Tác giả là ai không quan trọng, điều quan trọng ở đây là ta học được gì ở những điều đã đọc. Chưa vượt qua cái ải "danh tướng” này, thì… còn lâu mới có thể thâm nhập Tâm Tông...

Vì… Tâm Tông không dành cho những “tâm địa còn kẹt mắc nơi danh tướng”!!!

7) Nói chung, nhiệm vụ của mình là “gửi đến HĐ những kiến giải được cho là tốt nhất”... Vì thế, sửa chữa rồi mới gởi đi là điều phải làm, mình không thể chuyển đến mọi người khi “biết rằng… Thức ăn này có vấn đề”!!!

Xin mọi người hoan hỷ!!!

(20-01-2015)

Tác Phẩm Lý Tứ

Bối Đa… Cây Đa Già Và Mặt Trời

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Có vào được Tâm Tông thì cơ may: "Cây đa già hoá thành ánh sáng mặt trời...”

1. BỐI ĐA (CÂY ĐA GIÀ)

Thật trùng hợp!!!... Mình vừa nói chuyện với một HĐ về bài viết: “Tản mạn trong phút giây không hạnh phúc” của mình hôm trước. Nói chuyện xong, mở email, mình lại nhận được bài viết của Lý Anh Lạc cũng viết về những ưu tư đề tài này. Sau bài viết hôm trước, mình cứ ngỡ “bài viết như gió thổi qua đầu ngọn cây, rồi lại lãng quên theo thời gian”. Nhưng không ngờ, hiện tại cũng có vài HĐ ưu tư về nó...!

Viết đến đây, mình lại chợt suy nghĩ, không thể bỗ̃ng dưng mà: “Cây đa già phút chốc hoá thành ánh sáng mặt trời”... Có nghĩa rằng: Cây đa muốn trở thành ánh sáng mặt trời, điều kiện phải ắt có và đủ ở đây: Nó phải là cây đa già và cây đa phải biết ưu tư trăn trở...

Có như vậy khi đủ duyên, cây đa mới trở thành bốn đế. Và, bốn đế mới tức thị cây đa!!!!!! Nói theo văn tự Bát Nhã thì: “Đế tức thị đa, đa tức thị đế. Đế bất dị đa, đa bất dị đế...”

Cây đa già mà không biết ưu tư những điều cần ưu tư, không biết trăn trở những điều cần trăn trở, không dẹp bỏ được cái già nua ngàn năm của tự thân để hoá kiếp, không mang nặng hoài bão ước mơ, thì chắc rằng: Vị lai cây đa này sẽ chỉ là chỗ̃ trú ngụ của thần thánh để hù doạ người nhát gan!... 

Hy vọng năm mới, được nhìn thấy những tia sáng phát ra từ những gốc đa già ba thừa ngay trong Lý Sự Đường này. Hy vọng ở vị lai, những lá đa già cỗ̃i sẽ trở thành “những lá bối mà trên đó được chép ghi trí tuệ”!

(09-01-2015)

2. HOÁ THÀNH MẶT TRỜI

Mình vừa nhận được trình bày của một HĐ về cách vận dụng để thành tựu chữ Đế trong đời sống. Những gì HĐ này kiến giải, cho thấy đã mở ra một hình thức tu tập mới đối với tự thân. Hy vọng, từ cách tu tập này, các bạn có thể dần dần thấy và hiểu được thế nào là Tâm Tông.

Từ Giáo Tông đến Tâm Tông là một bước ngoặt lớn, đòi hỏi sự bức phá mãnh liệt trong đời sống tu hành. Có vào được Tâm Tông thì cơ may: "Cây đa già hoá thành ánh sáng mặt trời...” mới trở thành hiện thực. Còn nếu không vào được tông này, thì mãi mãi sẽ là “cây đa già lụ khụ của Giáo Tông”!

Xin tặng các bạn hai câu đối của Lý Tứ:

"Lý viên dung diệu pháp

 Tứ thâm đạt tâm tông”.

 (12-01-2015)

Thư viện

Phần I: Thay Lời Tựa Lý Gia Học Tập; I Tổng Quan Sinh Hoạt Tu Học Lý Gia; 1. Mục Tiêu Tu Học Phật Là Gì? 2. Hai Anh Quảng Nôm Bàn Chuyện Đạo Phật Và Phật Pháp; 3.Ba Mục Tiêu "Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ". (Trang 9 - 27)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn

Lý Tứ

Phần I: Thay Lời Tựa Lý Gia Học Tập; I Tổng Quan Sinh Hoạt Tu Học Lý Gia; 1. Mục Tiêu Tu Học Phật Là Gì? 2. Hai Anh Quảng Nôm Bàn Chuyện Đạo Phật Và Phật Pháp; 3.Ba Mục Tiêu "Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ"

Từ trang (9 - 27)

Giọng đọc: Lý Xuân Mai

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Subscribe to