Tác Phẩm Lý Tứ

Thiền - Tịnh Song Tu

MN 102 Lý Thanh Liêm 18.02.2023

(55) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI

CHỦ ĐỀ: THIỀN TỊNH SONG TU !!!

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được thắc mắc của Tấn Trí !!! Tấn Trí hỏi như sau:

“Kính thưa thầy Lý Tứ!

Con biết thầy rất bận vì chống dột gì đó, nhưng mấy hôm nay có một thắc mắc mà bản thân không thể giải nghi. Mong thầy nhín chút thời gian trả lời để con tỏ tường.

Trước đây con có tu nhiều pháp môn, có lúc ngồi quán sổ tức hay tham cứu như một người tu thiền để mong an vui. Có lúc niệm Phật cầu vãng sanh về Cực Lạc. Có lúc tụng chú đại bi hay thập chú để mong được gia hộ. Nói chung con tu lung tung như người mất phương hướng, sau một thời gian tu tập những pháp môn đó phiền não tham sân si trong con không dứt. Bây giờ thì con không còn theo pháp môn nào hết mà chỉ tư duy lời Phật dạy, rồi ứng dụng vào đời sống theo cách của thầy, nhờ vậy mà con thấy mình rất an ổn, cũng như cảm nhận hiểu sâu hơn về giáo pháp.

Mấy hôm nay con đọc trên mạng, thấy có bác đăng trên facebook khuyên người nên theo cách “thiền tịnh song tu”, tức phối hợp hai pháp môn thiền và tịnh. Có bác lại bảo rằng hai pháp tu đó không thể dùng chung vì khác đường, con thấy bác nào cũng có lý. Con xin hỏi: Hai pháp môn thiền và tịnh có tu chung được không? Và chủ trương thiền tịnh song tu có phải do Phật dạy hay không?

Con cảm ơn thầy, không dám làm phiền thầy nhiều trong lúc này.” 21/10/2020 23:29:34 - Tấn Trí

Tấn Trí thân mến !!!

Về việc thiền tịnh song tu, hay thiền tịnh mật tam tu... Mình sẽ không trực tiếp trả lời rằng, hai hay ba phép tu đó dùng chung được hay không !!! Mà mình chỉ nêu lên chủ trương của thiền và tịnh (về mặt lí thuyết) !!! Sau khi hiểu rõ chủ trương, Tấn Trí chắc chắn sẽ tự trả lời cho bản thân các thắc mắc của mình !!!

Về lí thuyết, thiền và tịnh chủ trương như sau:

- Mục đích: Thiền chủ trương vô sanh !!! Tịnh chủ trương vãng sanh !!!

- Chỉ thú: Thiền chủ trương vô niệm !!! Tịnh chủ trương hữu niệm (niệm Phật) !!!

- Cảnh giới: Thiền chủ trương vô trú xứ !!! Tịnh chủ trương lấy Cực Lạc làm trú xứ !!!

- Quả chứng: Thiền chủ trương tu chứng hiện tiền !!! Tịnh chủ trương sau khi mạng chung mới có kết quả !!!

- Tâm: Thiền chủ trương vô tâm !!! Tịnh chủ trương nhất tâm !!!

- Tướng: Thiền chủ trương vô tướng (thiệt tướng) !!! Tịnh chủ trương Cực Lạc ở tây phương là cõi nước có đầy đủ hảo tướng !!!

- Học pháp: Thiền chủ trương hiện đời hoàn thành 37 phẩm trợ đạo !!! Tịnh chủ trương hiện đời chỉ giải quyết 12 phẩm tư lương vị, các phẩm còn lại sẽ được tu tập sau khi vãng sanh (vì thế, ở Cực Lạc mới phát ra các âm thanh ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi và bát thánh đạo phần mà không đề cập đến các phẩm tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc) !!!

- Lực: Thiền chủ trương tự lực !!! Tịnh chủ trương tha lực !!!

- Dụng: Thiền chủ trương giải ngộ !!! Tịnh chủ trương tín nguyện hạnh !!!

Nhìn chung, về mặt lí thuyết giữa thiền và tịnh có rất nhiều khác biệt về chủ trương !!! Tuy chủ trương khác biệt là như thế, nhưng trong thực tế lại cũng có những người vừa tu thiền vừa tu tịnh... Thậm chí thiền tịnh mật tam tu (như Tấn Trí trước đây), tức lúc tu thiền, lúc niệm Phật, lúc trì chú !!! Mình đố Tấn Trí vì sao lại xảy ra thực tế này đối với không ít người tu hành ???

Riêng việc Tấn Trí hỏi, thiền tịnh song tu có phải do Phật dạy hay không thì mình không thấy kinh điển đề cập đến !!! Tuy nhiên việc kết hợp thiền tịnh được ngài Vĩnh Minh thiền sư đời đầu nhà Tống (904-975) nói trong bài kệ Tứ Liệu Giản (Bốn phép độ người) !!!

Mời Tấn Trí và bạn đọc nhâm nhi bài thơ tuyệt vời của nhà thơ Vũ Hữu Định, sau này nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc !!! Đọc và nhâm nhi bài thơ dưới đây, biết đâu gặp hên sẽ...”ngộ”...ra...điều...gì...đó...chăng !!!

Còn Một Chút Gì Để Nhớ

Tác giả: Vũ Hữu Định

Phố núi cao phố núi đầy sương

Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn

Anh khách lạ đi lên đi xuống

May mà có em đời còn dễ thương

Phố núi cao phố núi trời gần

Phố xá không xa nên phố tình thân

Đi dăm phút đã về chốn cũ

Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

Em Pleiku má đỏ môi hồng

Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông

Nên mắt em ướt và tóc em ướt

Da em mềm như mây chiều trong

Xin cảm ơn thành phố có em

Xin cảm ơn một mái tóc mềm

Mai xa lắc bên đồi biên giới

Còn một chút gì để nhớ để quên

Chúc Tấn Trí và bạn đọc an vui, tinh tấn !!!

BQT rất mong, nhận được nhiều câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!

22/10/2020

LÝ TỨ

Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau

👉[http://bit.ly/2K0aWfn]

- CÂY BỒ ĐỀ CÓ DÁNG ĐẸP !!! ẢNH COPY TỪ INTERNET !!!

(55) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI CHỦ ĐỀ: THIỀN TỊNH SONG TU !!!

(55) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI CHỦ ĐỀ: THIỀN TỊNH SONG TU !!!

(55) BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI CHỦ ĐỀ: THIỀN TỊNH SONG TU !!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn… Phút Giây Không Hạnh Phúc

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Không thấy được bản chất thật của bốn đế, bản thân vị tu hành này, vĩnh viễn chỉ là công dân gương mẫu của Ba Thừa!

Các bạn!!!... Nhân câu hỏi của HĐ về sự khác biệt giữa hai phép tu Tam Ma Đề và Tỳ Bà Xá Na, mình có nhận thêm mấy câu hỏi, trong đó có câu hỏi đại loại:

“Người tu hành dùng những pháp gì (như Tam Ma Đề, Xa Ma Tha, Tỳ Bà Xá Na, v.v...) để thành tựu từng đế, cho đến viên mãn bốn đế...”…!...!

Câu hỏi này đã không được chuyển đến các bạn, bởi cái vô lý trong câu hỏi, nó đã để lại cho mình mối bận tâm rất lớn!... Vì đã nói lên "giới hạn nhận thức về Phật Đạo” trong hiện tại của một vài HĐ chúng ta!!!

Các bạn!... Trong mấy ngày qua và cả giờ này, câu hỏi: “làm thế nào để HĐ chúng ta biết rõ ý nghĩa đích thực của bốn đế” là nỗ̃i trăn trở, cho dù đã nghiền ngẫm và tự đặt ra rất nhiều phương cách, nhưng vẫn chưa có được phương thức thoả đáng... Đúng là… hoàn cảnh này, LT bỗ̃ng dưng trở thành kẻ... bất tài!

Bốn đế của Phật Đạo là kết tinh của vô lượng công đức, là nhận thức siêu việt của những trí tuệ siêu việt, là thần thông lượng và thân tướng đích thực của ba đời Chư Phật. Tất nhiên, sự cao quý và siêu việt này không dễ gì tất cả người tu hành đều có thể lãnh hội hết được trong thời gian ngắn. Nhưng, nếu tu hành mà không lãnh hội hết tinh yếu của bốn đế, thì đó là “điều bất hạnh nhất trong những điều bất hạnh”! Vì sao như vậy?

Vì rằng: Không thấy được bản chất thật của bốn đế, bản thân vị tu hành này, vĩnh viễn chỉ là công dân gương mẫu của Ba Thừa!

Vị này sẽ sống trong một quốc độ mà Chư Phật ba đời không bao giờ mong muốn!

Mình lại suy nghĩ, nếu tiếp tục đặt câu hỏi, hoặc viết bài gợi ý về bốn đế, thì HĐ chúng ta lại tiếp tục hiểu và kiến giải theo ý nghĩa Giáo Tông. Sự luẩn quẩn này, như con tằm nhả tơ tự trói!!! Dùng Giáo Tông kiến giải bốn đế như xưa nay chúng ta vẫn thường làm, chẳng khác gì đem núi vàng đổi vài lít (kg) gạo hẩm. Thế thì, biết đến ngày nào, mới thành người giàu có thật sự, trong khi bản thân vị này đang sở hữu cả núi vàng.

Sự không biết, hoặc không thấy được giá trị đích thực, làm bản thân trở thành nghèo cùng như thế đấy Các bạn! Dùng ba pháp Tam Ma Đề, Tỳ Bà Xá Na và Xa Ma Tha để hoàn thành bốn đế là cách của người lấy núi vàng đổi lấy nắm cơm hẩm... Tại sao không hỏi, “Giác ngộ những gì để thành tựu bốn đế”? Xin thưa, “muốn thành tựu bốn đế, chỉ có con đường duy nhất là giác ngộ. Mọi phép tắc tu hành, không thể thành tựu bốn món này...” Điều mình trăn trở về các bạn, là ở chỗ̃ này!

Còn nếu đợi qua thời gian, để rồi một ngày đẹp trời nào đó có HĐ hoắt nhiên thấy được cái vĩ đại, cái thâm sâu vô cùng của bốn đế đúng như Tâm Tông, thì biết đến chừng nào đây? Các bạn có cảm nhận được những ưu tư của mình không!

Các bạn!

Mình đã băn khoăn và đang băn khoăn!

Giờ này, tại đây... Mình chỉ ước ao, có một HĐ nào đó, bất chợt đến và thảng thốt nói với mình rằng: “Con đã thấu suốt bốn đế, đã hiểu được Phật Giáo đích thực là gì rồi... Thầy ơi!!!”. Có lẽ đây chính là giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của mình!

(06-01-2015)

Tác Phẩm Lý Tứ

Khai Trương Lý Sự Đường

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Bồ Tát đạo thuộc về tay nghề, vì thế việc lặp đi lặp lại một thao tác sẽ có tác dụng rất tốt cho nghề nghiệp. Người tu hành, sau khi được trang bị số vốn kiến thức nhất định và chuẩn xác, việc thực tập dùng số vốn kiến thức này để truyền đạt cho người là tối cần thiết, sự lặp đi lặp lại của công việc, sẽ giúp chúng ta từ cái vụng về lọng cọng ban đầu, dần dần đưa đến thiện xảo và hiệu quả trong tương lai là chuyện tự nhiên.

Để mở hàng cho buổi đàm luận đầu tiên của năm mới làm nóng "Lý Sự Đường", xin chuyển đến các bạn câu hỏi của HĐ về hai phép quán Tam Ma Đề, Tỳ Bà Xá Na:

1) Pháp quán Tam Ma Đề khác pháp quán Tỳ Bà Xá Na ở chỗ̃ nào??? Tam ma đề dùng (cái) gì để quán, Tỳ Bà Xá Na dùng (cái) gì để quán???

2) Cứu cánh của hai pháp quán này là đồng hay khác??? Nếu khác thì xin các bạn nêu rõ cứu cánh (thành tựu) của từng pháp quán???

(31-12-2014)

1. LÝ GIA NGHỊ LUẬN

Thật hoan hỷ, khi “Lý Sự Đường” vừa khai trương, HĐ chúng ta đã có những luận đàm lý thú, thắm màu đạo vị!!!

Đọc các câu trả lời, mình có một vài nhận xét sau:

  • Tuy cách trình bày của HĐ có khác nhau, nhưng mọi người đều nói lên được chỗ̃ đặc thù “khác hay giống” giữa hai pháp Tam Ma Đề và Tỳ Bà Xá Na.

  • Góc nhìn và mức độ sâu cạn của mỗ̃i HĐ không đồng, vì thế các kết luận về cứu cánh của hai pháp này có sự sai biệt. Nhưng theo mình, các kiến giải sai biệt này giống như những dòng sông chảy vào biển lớn, mỗ̃i dòng sông, mỗ̃i khúc sông có sai khác, nhưng những dòng sông này, nhất định vị lai sẽ chảy về một mối.

Mình cũng chờ đón thêm những kiến giải lý thú từ các bạn. Sau đó nhờ chủ nhân câu hỏi, bình chọn câu trả lời được coi là hay nhất và lợi ích nhất đối với bản thân.

Vì sao phải làm như vậy?... Đây là giai đoạn chúng ta tập "truyền đạt kiến thức tu tập cho người”, nên bình chọn của người đặt câu hỏi, tức đối tượng thu nhận kiến thức, sẽ giúp các bạn rất nhiều. Nó sẽ là bài học lớn, để từ đó các bạn tự kết luận đánh giá về bài viết của bản thân cũng như bài viết của HĐ, nhằm rút ra những kinh nghiệm quý báu cho công hạnh sau này.

(01-01-2015)

 2.TỔNG KẾT TRẢ LỜI CÂU HỎI…"TAM MA ĐỀ"

Sau khi gởi các câu hỏi, rất nhiều câu trả lời từ HĐ gởi về. Mỗ̃i câu trả lời một vẻ, nhưng tất cả đều mang đậm nét đẹp của giáo pháp.

Tất nhiên, mọi người trong chúng ta đang còn trong giai đoạn tập tành “học Bồ Tát Hạnh, tu Bồ Tát Đạo”, có nghĩa vẫn còn phải miệt mài tu học thí pháp.

Vì thế, các câu trả lời của chúng ta trong hiện tại chỉ thoả mãn và lợi ích cho một vài đối tượng nhất định, đó là điều tất yếu. Nhưng, chính điều tất yếu này, sẽ giúp chúng ta rút ra vô số kết luận thực tế về bản thân.

Đây là cơ hội tốt nhất để tìm xem trong cách trình bày của mình về một pháp khi có yêu cầu, chúng ta đã làm tốt hay chưa. Trong quá trình trình bày cho người, ta xem lại điều nào thiếu, điều nào thừa, những gì lập luận đã đủ sức thuyết phục? Có đi vào trọng tâm câu hỏi? Những gì đã nói hay viết, có hướng người nghe (đọc) đến cứu cánh ta muốn truyền trao?

Những điều nêu trên, sau bài viết hôm nay và trong vị lai, nếu các bạn chịu khó đọc thật kỹ và nghiền ngẫm thấu đáo từng bài, nhất định các bạn sẽ tìm ra “chiếc chìa khoá vàng vạn năng, khai mở tâm người”!!!

Các bạn!!!… Bồ Tát đạo thuộc về tay nghề, vì thế việc lặp đi lặp lại một thao tác sẽ có tác dụng rất tốt cho nghề nghiệp. Người tu hành, sau khi được trang bị số vốn kiến thức nhất định và chuẩn xác, việc thực tập dùng số vốn kiến thức này để truyền đạt cho người là tối cần thiết, sự lặp đi lặp lại của công việc, sẽ giúp chúng ta từ cái vụng về lọng cọng ban đầu, dần dần đưa đến thiện xảo và hiệu quả trong tương lai là chuyện tự nhiên. Người đời có câu nói: “Trăm hay không bằng tay quen”. Nó giống như người thợ trước khi vào đời, phải có thời gian thực tập để làm quen với nghề nghiệp.

Hai chữ “thiện xảo” trong Phật Đạo không đơn giản. Hiểu là một chuyện, thiện xảo truyền đạt lại là một chuyện. Cũng số vốn kiến thức đó, người thiện xảo truyền đạt, sẽ gặt hái được kết quả tốt, sinh nhiều lợi ích. Bằng ngược lại, kết quả sẽ không như mong muốn, đôi khi phản tác dụng. Hy vọng trong thời gian đến, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để “thực tập thí pháp”.

(02-01-2015)

 

Thư viện

Video Sách Nói Giáo Pháp Nhập Môn

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Sám Hối

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Pháp sám hối tức đem ba nghiệp sám hối đến khi ba thời thanh tịnh được gọi là ‘giải thoát’; vì thế muốn pháp sám hối hiệu quả phải biết ‘nguyên lý nghiệp quả’ và ‘cách thức sám hối’... Phật dạy pháp sám hối để giúp người tu hành nhân pháp này thoát khỏi mọi hệ lụy ràng buộc ba cõi.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Sám hối là khái niệm mà mọi người tu hành đều biết, đều thực hành ít nhất một vài lần trong đời với hy vọng thành tâm sám hối tội nghiệp sẽ tiêu trừ. Thành tâm sám hối là điều đáng hoan nghênh nhưng như thế nào được gọi là thành tâm thì phải coi lại.

  • Sám hối, ý nghĩa hai từ này không xa lạ gì với người tu hành, ai cũng biết sám hối là ăn năn chừa bỏ thói cũ và không lặp lại lỗi này trong vị lai.

  • Đúng là như vậy không lặp lại lỗi này trong vị lai thì được rồi nhưng lỗi đã làm thì sao đây?

Không lẽ bắt con gà ông A ăn thịt rồi đứng trước bàn thờ Phật bảo rằng tôi nay thành tâm sám hối, hết lỗi này chăng?

Con gà của ông A đâu phải con gà của Phật, Phật có thể tha thứ nhưng liệu ông A có tha thứ hay không?

Những điều như vậy không đơn giản, chưa nói chúng sanh trong nhiều đời kiếp tạo vô số lỗi ác nay làm sao hóa giải.

Chuyện con gà ông A là chuyện trước mắt có thể đến năn nỉ xin bồi thường mong ông A tha thứ, nhưng những chuyện từ lũy kiếp biết kiếm ai mà bồi thường.

Tu hành ai cũng biết gieo nhân nào gặt quả ấy, vô lượng kiếp gieo biết bao nhân lành dữ nay không khéo phương tiện sẽ thành quả, sám sao đây?

Có người lại luận biện ‘làm ác mà không nghĩ đến’ thì lỗi ác coi như không có, ba cõi đâu có chấp nhận thứ luận biện kỳ khôi này.

Anh bắt con gà ông A ăn thịt, xong anh có quyền không nghĩ đến hoặc quên đi, nhưng ông A và pháp luật có quên anh không?    Ông A và pháp luật không quên thì bản thân anh sẽ có vấn đề với ông A và pháp luật, chuyện bảo là quên hoặc không nghĩ đến của anh vô dụng.

Đây là chuyện thế gian còn chuyện quả báo sâu xa thì ba cõi rất công bằng. Anh có thể trả con gà nhưng chuyện anh ăn thịt con gà can tội sát sanh hại mạng thì trả bằng cái gì?

Sám hối không đơn giản chỉ là lý luận suông, hoặc quỳ lạy mà được. Người tu hành thường đề cập đến nhiều loại sám hối, nào sám hối hữu tướng, sám hối vô tướng, thậm chí sám hối thiệt tướng.

Những thứ này trong kinh luận có nói, nhưng để ứng dụng nó trong đời sống thì không như những gì người đời kiến giải.

Trước khi tìm hiểu cặn kẽ pháp sám hối, thử xem vì sao người tu hành lại phải sám hối?

  • Phật dạy pháp sám hối vì chúng sanh ba nghiệp đã từng phạm lỗi ác hiện đời hoặc những đời trước, trong vô minh thân khẩu ý không thanh tịnh nên thường phạm lỗi lầm.

Trong kinh Địa Tạng ngài Địa Tạng nói rằng: “Chúng sanh trong ba cõi nhướng mắt nhíu mày đều tạo nghiệp.”

Kinh Tiểu Bộ Phật cũng dạy: “Chúng sanh là chủ của nghiệp, nghiệp là thai tạng của chúng sanh,” có nghĩa chúng sanh tạo tác sinh nghiệp và nghiệp quay lại làm thành chúng sanh. Cái vòng lẩn quẩn này nếu không có cách dứt trừ thì luân hồi sẽ bất tận.

  • Như vậy sám hối là cách thức nào đó để nghiệp cũ không thành quả, hiện tại thân khẩu ý không tạo tác, nghiệp cũ tiêu trừ nghiệp mới không tạo, vị lai vô sanh.

Vì thế pháp sám hối tức đem ba nghiệp sám hối đến khi ba thời thanh tịnh được gọi là ‘giải thoát’; vì thế muốn pháp sám hối hiệu quả phải biết ‘nguyên lý nghiệp quả’ và ‘cách thức sám hối’.

Cách thức sám hối như thế nào là điều cần sáng tỏ, giống như một người muốn đi xa, điều đầu tiên phải là người đó không bị trói buộc và tự tại trong các phương tiện. Phật dạy pháp sám hối để giúp người tu hành nhân pháp này thoát khỏi mọi hệ lụy ràng buộc ba cõi.

Kinh Tiểu Bộ Phật cũng dạy: “Những ai có tư niệm, tư lường, thầm ý, đây là cảnh sở duyên cho thức an trú, thức an trú thức tăng trưởng, thức tăng trưởng thức chọn lựa.”   

  • Vâng! Nếu không biết sám hối ‘thức’ sẽ chọn cho mình con đường phù hợp ‘thức nghiệp’, đấy là luân hồi vay trả.

1. Giữ giới để không tạo tác nghiệp mới.

Hối trong sám hối là không tạo tác nghiệp mới, muốn giải thoát khỏi khổ đau phiền não điều đầu tiên không tạo tác nghiệp mới là đúng. Nhưng căn cứ vào đâu và làm những gì để thân khẩu ý không phạm lỗi tạo nghiệp thì chúng sanh không làm sao biết được.

Phật là đấng thấu suốt nhân quả nên biết rõ tác hành nào là ‘nhân hữu lậu’ tác hành nào là ‘nhân vô lậu’, có tạo nhân vô lậu mới gặt hái quả vô lậu. Vì thế vừa thành Đẳng Chánh Giác Phật kiết giới Bồ Tát gọi là Ba La Đề Mộc Xoa, còn có tên Tâm Địa Pháp Môn, đây là pháp môn mà tất cả chư Phật và Phật tử phải học.

Đoạn kinh sau nói rõ: “Rồi từ cung thiên vương ấy, Như Lai trở xuống, ngồi dưới cây bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh phàm phu mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô Xá Na của Như Lai đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới pháp mà từ khi mới phát tâm ngài đã thường tụng. Giới pháp ấy như ngọc kim cang sáng chói, và là bản nguyên của chư Phật, của Bồ Tát, là hạt giống Phật tánh. Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh, và đương nhiên có cái nhân như vậy thì đương nhiên thực hiện pháp thân thường trú.

Về mười Ba la đề mộc xoa mà Như Lai sẽ nói lại như sau đây, khi xuất hiện ở thế giới này, thì đó chính là giới pháp của Phật pháp, là giới pháp mà hết thảy chúng sinh trong quá khứ vị lai và hiện tại nên kính phụng thọ trì.

Như Lai sắp sửa vì cả đại chúng ở đây mà trùng tuyên phần Giới pháp vô tận - giới pháp của hết thảy chúng sinh, bản nguyên là tự tánh thanh tịnh.”[[1]]

Vì thế chỉ có y như giới để giữ gìn thân khẩu ý mới không tạo nghiệp nhân, tác hành những gì không trái giới, không trái giới nên thân khẩu ý không lỗi lầm gọi là nhân vô lậu. Đây là vô lậu giới con đường đưa đến đạo quả vô lậu.

Tóm lại ‘hối’ là y như giới để sám hối, đây là mực thước người tu hành căn cứ để biết đúng sai mà ngăn chừa.

2. Tu thiền định để sám lỗi xưa

Về nguyên tắc làm lỗi với ai thì gặp người đó xin lỗi, phạm tội ở đâu thì phải được nơi đó tha tội. Chúng sanh từ vô lượng kiếp trôi lăn trong ba cõi thân khẩu ý phạm nhiều lỗi ác, vì thế muốn sám hối phải từ ba cõi mà sám. Khi ba cõi xả bỏ hết lỗi lầm mới gọi sạch nghiệp, từ đây ba thừa có ba cách sám hối khác nhau. Sở dĩ có ba cách sám hối vì ba thừa giác ngộ ý nghĩa lỗi lầm ba cõi khác nhau.

A. Nhị thừa

Giác ngộ ba cõi thật có, nên sám hối đối với thừa này là tuần tự xả bỏ ba cõi đó là: Sám hối trước tiên với cõi dục, khi nào thân tâm hết dục, cõi dục không còn trói buộc mới bước vào cõi sắc; ở cõi sắc, sám hối khi nào lỗi cõi sắc không còn thoát khỏi cõi sắc vào vô sắc; vô sắc hết lỗi, thân tâm tự tại gọi dùng huệ thanh tịnh vào cảnh giới giải thoát, giống như người phạm lỗi từ ba xứ sở khác nhau phải tuần tự đến từng nơi xin tha bằng cách thành tâm chừa bỏ những ngu mê ở nơi đó.

  • Sau khi ba xứ sở kia hoàn toàn không còn cột trói vì lỗi cũ, mới tự tại ra đi. Pháp sám hối này gọi là ‘sám hối hữu tướng’, tức y như hữu vi pháp xả bỏ, cho nên Niết Bàn nhị thừa gọi là hữu dư y Niết Bàn.

B. Bồ Tát

Do giác ngộ tam giới duy tâm nên dùng tâm thanh tịnh để sám. Muốn thực hiện sám pháp này phải giác ngộ chơn thiệt, tức giác được bản nguyên của tâm, y bản nguyên mà xả bỏ vọng tưởng ba cõi. Hết vọng tưởng ngộ bản tâm thanh tịnh tự tại lại qua ba cõi vì đã hết lỗi lầm.

Pháp sám này giống người say ăn trộm gà, trong cơn say đến nhà người khác bắt trộm gà về ăn thịt, khi tỉnh dậy hối hận việc làm xưa ray rứt trong tâm, đến gặp chủ gà xin tạ lỗi.

Chủ gà là người có trí bảo rằng con gà anh tưởng là bắt trộm thực tế con gà đã chết vì bệnh dịch, tôi quăng bỏ nơi hố rác sau nhà định sáng ra đi chôn. Hôm qua say quá anh tưởng con gà còn sống đem về ăn thịt, anh không lỗi gì chỉ về uống thuốc cho khỏi nhiễm dịch. Người kia nghe xong tâm trí vui mừng về nhà chỉ còn uống thuốc phòng bệnh và chí thú làm ăn mọi thứ vô sự.

  • Pháp sám này gọi là ‘sám hối vô tướng’, tức y như vô vi mà sám cho dứt vọng tưởng ngu mê, hết ngu mê như người say được tỉnh, thấy được bản nguyên nhưng chưa sạch mê muội gọi là hữu dư y Niết Bàn vì còn thừa sót hai phần sở trí ngu.

Hạng Bồ Tát này tự tu và làm công hạnh giáo hóa chúng sanh. Giống như người mồi đèn trong động tối, một cây đèn không đủ sức sáng chỉ thấy các vật trong động nơi mình đứng, đi khắp hang động để mồi đến bao giờ tất cả cây đèn đều sáng mọi thứ trong hang động được chiếu không còn chút bóng tối gọi là thành tựu trí tuệ (vô tận đăng). Cảnh giới này mới được gọi là vô dư Niết Bàn vì không thừa sót mê lầm.

C. Nhất thừa

Từ thánh ngôn lượng mà giác ngộ thiệt tướng vạn pháp, hàng Bồ Tát này dùng thiệt tướng để sám. Pháp sám này giống như người ngủ mê giật mình tỉnh giấc mọi thứ chỉ là chiêm bao. Nhìn cảnh vật chung quanh mới biết cảnh tượng đã gặp vừa qua trong giấc ngủ không thật, biết như vậy tâm trí an vui, pháp sám này gọi là ‘sám hối thiệt tướng’.

Đại Bồ Tát lại qua ba cõi giáo hóa chúng sanh không thể không có lỗi lầm cho dù lỗi lầm không lớn nhưng phải sám hối, y nơi thiệt tướng để sám gọi là sám pháp thiệt tướng. Trong kinh Đại Bảo Tích có chuyện kể: “Ngài Văn Thù Sư lợi giáo hóa một ngàn tỳ kheo, sau khi thuyết pháp xong có hai trăm tỳ kheo không giác ngộ từ nơi ý chỉ ngài Văn Thù Sư Lợi nói ra, buồn phiền bỏ đi Phật chỉ cho Văn Thù Sư Lợi biết, Văn Thù Sư Lợi hóa hiện trước mặt hai trăm vị đó thuyết lại, sau khi nghe xong rất hoan hỷ.”   

Đại Bồ Tát sám pháp là như vậy.

3. Y trí tuệ sám hối thiệt tướng.

Có thể nói pháp sám hối là phương tiện tối ưu để thành tựu đạo pháp, sám hối trong Phật pháp tức là y như học pháp vô lậu là giới-định-huệ vô lậu để sám. Đầy đủ giới định sẽ cho ra tuệ quả vô lậu.

Trong phạm vi tài liệu này không đề cập tuệ sám, vì chỉ cần y nơi giới định mà sám đối với người tu hành đã đủ, không cần thiết tìm hiểu tuệ sám, sám pháp của các Đại Bồ Tát là ‘tuệ sám’ hay ‘sám thật tướng’ đã giới thiệu ở phần trước.

4. Phạm vi ứng dụng của pháp sám hối.

Như vậy người chỉ có năm giới hoặc ít hơn và chưa biết ba học giới vô lậu có thực hiện sám pháp được không?

  • Phật dạy, pháp sám hối cho hết thảy hữu tình không dành riêng cho loại nào hạng nào, vì thế mọi Phật tử hay người ngoài đạo đều có thể ứng dụng pháp sám này.

Nơi sám pháp điều cốt lõi là sự thành tâm, trong đời sự thành tâm luôn đưa đến kết quả tốt đẹp. Sám lỗi trước hối lỗi sau là phương châm của người hướng thiện và thật sự cầu thị.

Đời người không thể không lỗi lầm, dù lỗi lầm có lớn đến bao nhiêu mà biết ăn năn chừa bỏ thì nhất định sẽ được tha thứ. Mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo, mỗi thể chế chính trị đều cùng là nhân loại và mục đích chung của con người là đem đến hạnh phúc cho mình và cho người.

Trong dân gian có câu nói: “Đánh người chạy đi không ai đánh người chạy lại,” một câu nói đáng trân trọng và thể hiện đầy đủ tính nhân bản. Câu nói trên ám chỉ những ai biết lỗi lầm mà sám hối sẽ được tha thứ.

  • Chính vì thế pháp sám hối là cứu cánh trong đời sống nếu muốn an vui. Phật là đấng thập lực, những gì được tuyên xưng từ đấng này đều có giá trị vĩnh hằng và bình đẳng, vì thế sám pháp vẫn mãi tồn tại như một chân lý bất diệt.

Trong Phật pháp tính linh hoạt của sám pháp rất rộng, trong thánh pháp độ sâu của sám pháp là vô tận. Cho nên ngoài việc y học pháp vô lậu để sám, người xưa còn sáng tác ra nhiều văn sám có giá trị lưu truyền đến ngày nay như: Từ Bi Thuỷ Sám, Lương Hoàng Sám. Đây là những tác phẩm Phật giáo có giá trị thực tế rất lớn để mọi người có thể ứng dụng, phương thuốc an tâm chữa mọi căn bệnh lỗi lầm.

Xin giới thiệu một đoạn văn sám tiêu biểu trích trong Lương Hoàng Sám:

“Ngày nay Đại chúng đồng nghiệp trong Đạo tràng đã cùng nhau nguyện vì chư Thiên, chư Tiên Long thần bát bộ mà lễ Phật rồi.

Nay đây nguyện vì nhơn đạo, hết thảy nhơn vương, lễ Phật mà báo ơn nhơn loại.

Lại nguyện cha mẹ, Sư trưởng và hết thảy nhơn dân mà lễ Phật. Vì sao vậy?

Vì nếu không có quốc chủ thì hết thảy chúng sanh không biết nương nhờ vào đâu. Nhờ có quốc chủ nên tất cả mọi người đều an cư lạc nghiệp; đi lại trên đất quốc chủ, sống trên đất quốc chủ, và được nhiều lợi ích khác không thể kể xiết; cho nên Đại chúng phải có lòng biết ơn và báo ơn.

Kinh dạy rằng:

Nếu người nào, ngày đêm sáu thời hay chịu khổ, vì muốn lợi ích nên nguyện báo ơn, thì phải phát tâm nghĩ như thế ấy để tu tập hạnh từ bi.

Do nguyện lực ấy, nên nghĩ báo ơn che chở của quốc chủ, nghĩ báo ơn cung cấp của thí chủ, nghĩ báo ơn sinh thành của cha mẹ; nghĩ báo ơn dạy bảo của Sư trưởng, nghĩ báo ơn tế độ của chư Phật.

Nếu người nào hay chí tâm thường niệm tưởng như vậy, người ấy nhập đạo rất mau.

Ngày nay Đại chúng đồng nghiệp trong Đạo tràng nhận thấy ơn lành của chư Phật, Đại thánh khai hóa dụ dỗ chúng ta, ân cần như thế, khiến chúng ta phải biết báo ơn.

Ngày nay chúng ta sanh vào đời mạt pháp, mong nhờ ơn quốc chủ mà hưng hiển được Phật pháp; nhờ quốc chủ cúng dường đầy đủ, không tiếc của báu, làm cho khắp cả nhơn dân đều noi gương quốc chủ và sanh tâm quy kính Phật Pháp Tăng.

Lại nữa người xuất gia được an tâm hành đạo, đi đứng nằm ngồi được tự do, không bị trở ngại; quốc chủ không cho người xuất gia tham dự việc đời; chỉ lo khuyên người làm lành, nguyện cho chúng sanh mau thoát khỏi sanh tử khổ đau; chỉ lo xiển dương vô lượng Pháp môn, chỉ bày đường chơn nẻo chánh cho trời và người. Nhờ ơn quốc chủ nhiều như vậy thì chúng ta đâu được không hết lòng lễ Phật để báo ơn quốc chủ, phải cùng nhau chí thành đảnh lễ nguyện vì quốc chủ mà quy y thế gian Đại từ bi phụ.”[[2]]

[[1]]  Trích kinh Bồ Tát Giới –HT. Thích Trí Quang dịch.

[[2]] Trích Lương Hoàng Sám – Thích Viên Giác dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Về Ba Ý Sanh Thân Trong Kinh Lăng Già,… Kỷ Niệm Tu Hành

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Ba “ý sanh thân”, thuộc về cứu cánh, nó là cảnh giới thực chứng chứ không nằm trong suy luận.

Các bạn!!!

Nhân đọc các câu trả lời của HĐ về ý sanh thân, mình chợt nhớ một kỷ niệm của hai mươi bốn năm trước. Xin sơ lược, để HĐ nghe cho vui...!!!

1. KỶ NIỆM TU HÀNH

Cách đây hai mươi bốn năm, năm đó cũng là năm con ngựa, mình có viết một cuốn sớ giải về Kinh Lăng Già. Cuốn sách hoàn thành, độ chừng trên sáu trăm trang viết tay (hồi 1990 mình chưa có và chưa biết vi tính)

Để hoàn thành cuốn sách này, bản thân phải bỏ công trên hai năm nghiền ngẫm nhiều bản dịch Kinh Lăng Già của các tác giả khác nhau, như bản của Daisetz Teitaro Suzuki, của Sư Bà Diệu Không, của Hoà Thượng Thích Thanh Từ... Mình đọc đến nỗ̃i những bản dịch này "te tua tơi tả", thậm chí có cuốn mất luôn cái bìa. Mục đích của việc làm này là: Nhằm đối chiếu sự khác biệt giữa các bản dịch, để tìm ra ý nghĩa đích thực của lời Phật dạy.

Hoàn cảnh nghiên cứu lúc bấy giờ không thuận lợi. Như: Quan điểm xã hội, điều kiện kinh tế gia đình, việc tìm các tư liệu... Nói chung nhiều thứ...!!!

Thông thường, mình bắt đầu đọc tụng, viết lách từ sau mười giờ đêm đến gần sáng. Mình miệt mài trong hoàn cảnh như vậy, nhưng rồi tập sách cũng hình thành. Có thể nói, cuốn sách đã đánh dấu một bước trưởng thành rất lớn trong cuộc đời tu học và phương hướng nghiên cứu của mình.

Khi viết cuốn sách xong, mình có trình cho Thầy của mình thẩm định, “coi như đó là kết quả học tập”. Sau đó, cuốn sách (viết tay) được chuyền qua tay cho một số HĐ xem, trong đó có một số vị hiện đang là HĐ của chúng ta. Kiến giải của mình lúc bấy giờ đã được mọi người khen ngợi, không thấy ai chê hoặc đủ sức phản biện, cho đến hôm nay một vài HĐ còn nhắc lại!!!

Sau nhiều năm tháng, vật đổi sao dời và một vài lý do khách quan... Hai mươi hai năm sau (2012), trong một nhân duyên tình cờ, mình tìm thấy mấy trang chép tay, được sao chép lại từ cuốn sách đó. Mấy trang viết tay này, do một người bạn cũ đọc lên thấy hay đã tự ý chép lại... để... nghiền ngẫm!!!

Viết lên những dòng này, mình muốn nói với các bạn rằng: Luận về ba ý sanh thân mà không nghiền ngẫm đọc tụng Kinh Lăng Già cho đến rách cả bìa, chỉ viết khơi khơi theo kiến giải cá nhân thì làm sao trả lời thoả đáng?????? Ha ha ha ha!!! Bỏ gốc mà lấy ngọn, thì cái ngọn đó có đứng vững không???!!!

Các bạn thử suy nghĩ xem:

Ba ý sanh thân là cứu cánh, được Phật thuyết cho Bồ Tát Đại Huệ, một vị Bồ Tát mà đối trước Phật, dám xưng mình “thông thuộc đại thừa”!!! Thử hỏi các bạn, không lẽ ý nghĩa của một pháp được Phật thuyết cho hàng “Bồ Tát thông thuộc đại thừa” lại đơn giản và cạn cợt như những điều các bạn kiến giải hay sao?

Kinh Lăng Già, trang 259 (bản dịch của HT Thanh Từ), Phật dạy như sau: “… Khi ấy, Thế Tôn bảo Bồ Tát Đại Huệ rằng: Nay ta sẽ nói phân biệt tướng chung (tổng tướng) của ý sanh thân. Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó. Đại Huệ bạch Phật: Thế Tôn, lành thay! Xin vâng thọ giáo. Phật bảo Đại Huệ: Có ba thứ ý sanh thân. Thế nào là ba? Là: Tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân, giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân, chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân. Người tu hành (nhân đây) rõ biết tướng sơ địa tiến lên các địa (viên mãn thập địa) được ba thứ thân...”

Trong bài kệ trùng tuyên có tám câu như sau: “Thừa ta phi (siêu quá) Đại thừa. Phi thuyết cũng phi tự. Phi đế phi giải thoát (siêu quá ba thừa). Phi cảnh giới có không (siêu quá cứu cánh). Song thừa Đại thừa (nhất thừa) này. Được chánh quán (chánh trí) tự tại. Các thứ ý sanh thân (đời sống như vậy). (là) Hoa trang nghiêm tự tại”… (Các chữ trong ngoặc (...) là của mình thêm vào để các bạn dễ hiểu).

Các bạn!!!

  • Dựa vào ý nghĩa đoạn kinh trên và các đoạn kế tiếp được Phật giảng giải ba thứ ý sanh thân. Theo các bạn, điều Phật đã tuyên thuyết là cứu cánh hay phương tiện???

  • Và cứu cánh (hay phương tiện) này Phật thuyết cho địa vị nào???

  • Tri kiến thế nào mới thể nhập và lãnh hội được???

  • Tổng tướng Phật đã thuyết như vậy, thì biệt tướng của nó ta kiến giải sao đây???

  • Nếu Bồ tát cần phải tu hành ba thân này thì phải tu làm sao???

  • Không lẽ Bồ Tát Đại Huệ chưa giác ngộ những điều các bạn đã giác ngộ hay sao mà Phật lại còn dạy thêm???

  • Vì sao trong lúc thuyết kinh này không có Nhị Thừa???

  • Như vậy Nhị Thừa cho dù có hồi tâm mà chưa giác ngộ bản tâm (giác ngộ các pháp do tự tâm hiện) thì Nhị Thừa đó có phần trong cảnh giới này không???

Hy vọng, với những gợi ý trên. Nếu đọc kỹ Kinh Lăng Già và tư duy đến nơi đến chốn, nhất định các bạn sẽ có câu trả lời thoả đáng!!!

(31-10-2014)

2. BA “Ý SANH THÂN”

Ba “ý sanh thân”, thuộc về cứu cánh, nó là cảnh giới thực chứng chứ không nằm trong suy luận. Vì thế, các bạn chỉ có thể trả lời được những ý nghĩa nào thuộc phạm vi suy luận, còn phần thực chứng để lấy đó làm bảng tham chiếu, mọi người chưa thể thực hiện được. Cho nên, các câu trả lời của HĐ gần như giống nhau về nội dung tổng thể, thiếu hẳn phần phân tích về chiều sâu cũng như sự sai khác giữa các thừa.

Mình xin sơ lược một vài ý nghĩa chính có liên quan đến câu hỏi. Hy vọng với những gì mình tóm tắt sau đây, sẽ là cơ sở tốt để các bạn y vào đó mà tư duy, hầu có thể thành tựu “ý sanh thân”.

 2.1. Ý sanh thân trong kinh Lăng Già muốn nói lên điều gì???

sanh thân: Là cứu cánh của Bồ Tát Thập Địa do sức giác ngộ làm nên. Cứu cánh này, chính là đời sống của vị ấy, tức giác ngộ và vị ấy không phải là hai. Ta có thể hiểu: Thân; khẩu; ý của vị này hành động theo những gì đã giác.

2.2. Ba loại ý sanh thân, do giác ngộ những gì mà thành tựu???

Tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân: Do Bồ Tát này giác ngộ “bổn tâm thanh tịnh” mà thành tựu.

Khi giác ngộ đúng với bổn tâm, vị này có một đời sống như đời sống của thiền định, nên gọi là Tam muội lạc chánh thọ ý sanh thân.

Giác pháp tự tánh tánh ý sanh thân: Bồ Tát này, giác ngộ rằng: Các pháp, thân, tâm, và thế giới bản lai không tánh. Nhân giác ngộ như vậy, mà đời sống của vị này: “Không chấp nhất, không nương tựa, không nắm giữ việc gì trên đời...”. Giống như chim bay giữa hư không, con chim không có tánh nắm giữ hư không, hư không không có tánh nắm giữ con chim. Như gương sáng và cảnh vật, gương kia không có tánh nắm giữ cảnh vật, nên vật hiện trong gương cũng không tánh.

Chủ̉ng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân: Đây là cảnh giới của trí tuệ. Trí tuệ như mặt trời, những ai không bị che khuất, có đủ duyên lành. Nhất định sẽ hưởng được sự soi sáng của nó. Gọi là có duyên lành, vì duyên lành này là đầu mối của câu sanh. Gọi vô hành tác, là vì mặt trời kia không có ý riêng chiếu.

Tóm lại: Ba ý sanh thân, chính là ba cứu cánh phải đạt được qua ba lần giác ngộ khác nhau của Thập Địa Bồ Tát. Muốn viên mãn mười địa vị Bồ Tát mà không từng trải qua ba lần giác ngộ này là không có lẽ!!!

Lần giác ngộ thứ nhất, giống trăng mùng mười. Lần giác ngộ thứ hai, giống trăng mười bốn. Lần giác ngộ thứ ba, giống trăng tròn mười sáu. Chính những lần giác ngộ cho ra cứu cánh khác nhau như vậy, cho nên sức toả sáng của mặt trăng này cũng dần dần sáng như vậy. Vì thế cho nên: Sự tự tại, ngôn thuyết, sức nhiếp phục người của các hạng Bồ Tát này không giống nhau. Phật dạy: “Bồ Tát địa dưới, vô lượng lần không thể nghĩ bàn Bồ Tát địa trên...”

2.3. Nhị thừa và Bồ Tát Thập Địa đối với ba thứ sanh thân là khác hay đồng?

Chỗ khác: Ý sanh thân: Nhằm chỉ cho giác ngộ mà thành tựu một đời sống hoàn toàn mới (ý sanh). Cho nên Nhị thừa không gọi là thành tựu ý sanh thân. Vì rằng, thành tựu của Nhị thừa là do tu hành sanh, nên không được gọi là ý sanh. Ngài Xá Lợi Phất thường nói: “Con từ miệng Phật sanh...” Tức là đời sống của Ngài Xá Lợi Phất do vâng tin theo lời (pháp) của Phật rồi tu hành mà thành tựu, chứ không phải do giác ngộ thấu suốt.

Chỗ đồng: Dù Bồ Tát do giác ngộ mà được lạc chánh thọ (lạc thượng diệu), hay Nhị thừa do tu hành sanh hỷ lạc (lạc thiền định), thì hai thứ lạc này đều đồng một vị. Giống như hai đĩa mật, khối lượng mật của hai đĩa tuy lớn nhỏ, nhiều ít khác nhau, nhưng vị ngọt của hai đĩa mật này không khác. Vì thế Bồ Tát và Nhị thừa đồng chung hưởng “lạc chánh thọ vị” như nhau.

Tóm lại: Ta có thể hiểu, Nhị thừa và Bồ Tát giống nhau ở tính chất của lạc vị. Khác nhau một bên là ý sanh, một bên là tu hành như chánh pháp mà sanh.

Ví dụ: Hai người có hai thứ nghề nghiệp khác nhau, đồng đi làm kiếm tiền. Giá trị đồng tiền của hai người này khi sử dụng không khác (cùng mua một ổ bánh mì một ngàn), nhưng công sức và cách kiếm tiền của hai người không giống.

Hỏi: Một vài thành tựu nào đó của người chưa giác ngộ (còn mê) có được coi là ý sanh thân hay không???

Trả lời: Không thể gọi là ý sanh thân...!!!

Vì sao như vậy??? Vì ý sanh thân là thuật ngữ đặc trưng của Phật Đạo, nhằm chỉ cho một đời sống "có bản chất hoàn toàn mới”, được tạo ra (bùng nổ) bởi giác ngộ...

Chính vì điểm này mà những người còn trong sự buộc ràng của ba cõi, không được gọi là ý sanh. Vì rằng, dục giới, sắc giới và vô sắc giới, tuy dường như khác cảnh, nhưng đồng một bản chất. (Bản chất đó là mê, trong mê thấy in tuồng có ba). Vì thế, với người còn mê thì thấy có ba, người đã giác ngộ, ba thứ kia chỉ là một và một đó thật sự là không!!!

Ví như người ngủ mê, trong chiêm bao thấy mình đi qua ba thành ấp khác nhau. Một thành có tên gọi là Dục Thành, một thành có tên gọi là Sắc Thành, một thành có tên gọi là Vô Sắc Thành. Trong chiêm bao, người kia lầm tưởng rằng có ba cái thành mà mình đã đi qua với ba cảnh tượng khác nhau. Nhưng kỳ thật, người đó không rời khỏi chiếu mền, chẳng đi đâu hết, cũng chẳng có thay đổi gì ráo trọi. Và, người ấy vẫn là người ấy, chẳng có sự biến đổi nào hết, xưa nay, không từng có sự sanh nào trong... mơ!!!

Các bạn!!!

Không biết, những kiến giải của mình ở trên, có giúp các bạn hiểu rõ ý nghĩa ba ý sanh thân và những phân tích chung quanh đề tài này hay không??? Nếu vị nào còn thắc mắc, xin nêu lên để chúng ta cùng sáng tỏ.

Chúc các bạn mau chóng thành tựu cứu cánh ý sanh thân. Để từ đây, các bạn có thể từ từ soi sáng cho vạn loại hữu tình đúng với mong muốn của Chư Phật.

(09-11-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn Tình Huynh Đệ

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Hôm qua, khi viết cái email dài thòng, mở màn cho Cù Gia Tạp Luận CGTL29.

Theo thói quen, trước khi viết, mình đo huyết áp. Bắt đầu viết, huyết áp là 124, thông thường dao động từ 100 - 120 viết được một phần ba, mình đo lại, tăng lên 136...Viết đến hơn phân nửa, tăng 150... Ghét quá, đi tắm một cái... rồi viết tiếp.

Đến gần xong, tăng 160...rồi 163...165...!!! Lúc đó, mình cảm giác có cái gì đó lạ lạ... Nhưng, nhất định phải viết cho xong...!!!

Sau khi gởi cho mọi người, đã hơn 12 giờ trưa. Không ăn trưa, nằm một chút “dưỡng thần” hy vọng nó sẽ bình thường trở lại.

Đến chiều, con số trên 160 vẫn duy trì, gần tối mình gọi cho BS Nguyên để hỏi thăm nó như thế nào. Và ngay tức thì, Nguyên yêu cầu phải uống thuốc cấp cứu và nghỉ ngơi tránh biến chứng có thể xảy ra. Chờ một chút, Nguyên đến xem nó thế nào. Lúc này, mình bắt đầu thấy tất cả hình ảnh chung quanh có màu hơi đỏ đỏ giống người say rượu, bèn vào phòng nằm nghỉ. Một cảm giác thanh thản và yên vui đến lạ thường!!!

Trong lúc nằm, mình suy nghĩ: Trên đời này, nhiều thứ mình đã biết, chỉ có một sự kiện quan trong mà tự thân chưa một lần được chứng kiến, đó là cái chết. Lúc này mà nó diễn ra thì thật tuyệt vời...!!!

Cơ hội duy nhất của cuộc đời này là đây!!! Khó có thể có lần thứ hai trong sáu mươi năm tồn tại!!! Nhất định phải quan sát cho bằng hết mọi diễn tiến của nó, chắc là thú vị lắm...!!! Và mình nằm để chờ xem diễn tiến thú vị này xảy ra như thế nào!!!

Người ta đồn rằng: Người chết, lạnh từ đôi chân lạnh lên. Mình nằm bất động, lặng lẽ quan sát thật lâu đôi chân... 

Nó không lạnh gì hết. Thất vọng!!! Một cơ hội hiếm hoi trong đời đã qua đi...!!!

Nguyên và Sul lên đến... Nguyên làm công việc chuyên môn... Mọi thứ trở lại bình thường!!!

Sau đó, nhân lúc mọi người đến thăm, mình nói đề tài “sau khi chết, con người về đâu”, sau buổi nói chuyện, hình như mọi người có chút hoan hỷ!!!

Cảm ơn Các bạn!!! Một đêm mưa gió của bão Kalmaegi... các bạn vẫn đến với mình!!!

(16-09-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thẩm Sát Môn

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Năng lực “thẩm định ngôn thuyết trong Phật Đạo” rất quan trọng. Nếu người tu hành không có năng lực này thì, không thể phân biệt đúng sai từ những câu nói có liên hệ đến giáo pháp, vị lai rất khó thâm nhập chỗ̃ sâu kín của đạo.

Các bạn!!!

Phật Đạo là chân lý. Vì thế, văn tự của Phật đạo phải là quyết định nghĩa, là đệ nhất nghĩa, là chân nghĩa, là thật nghĩa, là bất nhị nghĩa, là bất dị nghĩa, là bất di nghĩa, là vô đối nghĩa, là tương ưng nghĩa...

Có nghĩa rằng, ngôn thuyết trong Phật Đạo là thiệt cú, là tuyệt cú, là bất dị cú, là quyết định cú... Vì thế nó đòi hỏi độ chuẩn xác rất cao, tính chân thật không thể thiếu và chính ngôn thuyết này hiển bày “tâm lượng”, chỗ̃ thấu suốt của người tu hành.

Nó giống như tiếng chim hót, người săn chim lành nghề, chỉ cần nghe tiếng chim thoáng qua tai, liền biết được đó là loại chim gì, trống mái.

Giống như người săn voi thiện nghệ, chỉ cần thoáng thấy dấu chân voi là biết ngay con voi đó là loại voi gì cùng giòng giống ra sao.

Người tu hành đến một mức độ nào đó, sức thiện xảo của thanh minh cũng như vậy, khi nghe một câu nói, đọc một đoạn văn... Liền biết rằng điều đó là đúng hay sai, tâm địa người nói như thế nào, chỗ̃ tu hành của họ đến đâu, lỗ̃i lầm còn bao nhiêu thứ.

Vì thế, năng lực “thẩm định ngôn thuyết trong Phật Đạo” rất quan trọng. Nếu người tu hành không có năng lực này thì, không thể phân biệt đúng sai từ những câu nói có liên hệ đến giáo pháp, vị lai rất khó thâm nhập chỗ̃ sâu kín của đạo. Cho nên, trong Bồ Tát Pháp có môn học “Thanh Minh”, một trong ngũ minh. Thanh minh là môn học giúp người tu hành khả năng lắng nghe, nhìn xem để đánh giá đối tượng mà “chẩn mạch, kê toa”. Nếu không có hoặc thiếu khả năng này, rất dễ bị “thế trí biện thông” nó gạt, và chẳng biết đâu là chánh lý, đâu là tà lý. Thiếu năng lực này, vị lai khó có thể thành tựu “Tứ Vô Ngại Biện”!!!

Muốn thẩm định một câu, một nghĩa nào đó trong Phật Đạo có như pháp hay không. Nó đòi hỏi người thẩm định phải giác ngộ chắc thật, trí tuệ bừng sáng, tư duy chính xác, phân tích hữu hiệu, đang sở hữu gia tài kiến thức Phật pháp chuẩn mực, bằng một cái tâm trong sáng, một cái tánh quyết đoán, một thẩm xét lô gích, một quyết định như pháp và một thấu suốt vừa đủ... Những điều liệt kê trên, là “điều kiện ắt có và đủ” để thành tựu “thẩm sát môn”.

Trong thời buổi “vàng thau lẫn lộn”, “chân giả khó phân”, “thực hư lẫn lộn” của mạt pháp, người tu hành lại càng cần đến năng lực thẩm định dựa vào ngôn thuyết văn tự. Nếu thiếu điều này, cầm chắc sẽ chẳng nhìn ra căn cơ sai khác của các chủng tánh, đã không phân định được chủng tánh, khó có thể thành tựu loại trí, pháp trí, chứ nói gì đến đạo tướng trí hoặc những thứ trí cao hơn.

Câu hỏi mình đặt ra, không ngoài mục đích giúp các bạn tập làm quen với môn học mới này. Mình nhận được sáu câu trả lời. Bốn câu trả lời rằng: Câu nói được viện dẫn là sai, một kết luận vừa sai vừa đúng, một kết luận hoàn toàn đúng. Sáu câu trả lời này xét ra cũng đã đủ cho thấy “năng lực thẩm định” của HĐ chúng ta.

 

(25-08-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Chuyện Ba Mươi Bảy Phẩm

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Bốn món thân, thọ, tâm, pháp. Giống như bốn miếng ruộng để người tu hành gieo trồng hạt mầm Bồ Đề lên đó

Hôm qua mình có nói chuyện với một số HĐ về Ba mươi bảy phẩm. Câu chuyện như sau:

1. TỨ NIỆM XỨ.

Bốn món thân, thọ, tâm, pháp. Giống như bốn miếng ruộng để người tu hành gieo trồng hạt mầm Bồ Đề lên đó. Bốn miếng ruộng này, không gieo giống Bồ đề, nó sẽ mọc cỏ vô minh, phiền não.

2. TỨ CHÁNH CẦN.

Giống như kỹ thuật canh tác cây trồng. Chăm bón đúng gọi là thiện, chăm bón sai gọi là ác. Thiện thì thành tựu như ý, ác thì cây trồng “chết queo”!!!

3. TỨ NHƯ Ý TÚC.

Gồm bốn món dục, tinh tấn, nhất tâm và niệm. Đây là bốn món người tu hành phải thực hành thường xuyên, thực hành đến khi nào tâm nghiệp không còn rong ruổi nơi tiền cảnh, chỉ "một lòng một dạ" nhớ nghĩ con đường và mục tiêu mình đã chọn, gọi là "nhất tâm như ý túc". Làm gì, suy nghĩ gì cũng không rời chuyện này gọi là "Niệm như ý túc". Thành tựu Tứ Như Ý Túc sẽ dừng hiện nghiệp, chuẩn bị bước vào dòng Thánh.

4. NGŨ CĂN.

Giống như hạt giống đã nảy mầm ra năm cái rễ, năm cái rễ đó là: Tín, tấn, niệm, định, huệ. Khi hạt giống nảy mầm ra rễ, người nông phu lại tiếp tục chăm bón, để mấy cái rễ này phát triển, giúp thân cây tăng trưởng.

5. NGŨ LỰC.

Như năm cái rễ bám chặt vào đất, năm cái rễ bây giờ là công cụ hút dinh dưỡng từ đất, dưỡng chất từ đất chính là công đức, công đức này do thân; thọ; tâm; pháp hoà hiệp từ phân thiện giải thoát cùng nước thiện thanh tịnh mà thành. Năm cái rễ còn có công dụng đặc biệt nữa là, giữ cho thân cây không bị gãy đổ.

Do đó, năm cái rễ này thuộc loại rễ cọc, gồm một rễ cái và bốn rễ con. Năm cái rễ, mỗ̃i cái làm một chức năng, khi cây còn nhỏ, năm cái cùng một chức năng là hút dinh dưỡng...

Đố các bạn: 1) Khi cây trưởng thành, đã có cành nhánh, năm cái rễ: Tín; tấn; niệm; định; huệ... Rễ nào là rễ cái (rễ cọc, rễ chính). Đừng nói là cây Bồ Đề thuộc họ dừa không có rễ cọc mà chỉ có rễ chùm... Ha ha ha ha!!!

6. THẤT GIÁC CHI.

Sau khi cây đã trưởng thành, nó mọc ra bảy cái nhánh. Bảy nhánh này vươn xa tìm đến ánh mặt trời, đâm chồi nảy lộc, chờ ngày kết trái.

Đố các bạn: 2) Bảy nhánh giác chi, hút ánh sáng mặt trời là hút cái gì???; 3) Sau khi quang hợp, thành chất gì để “Cây Bồ Đề” kết trái mà không đơm hoa”??? Không tin, các bạn đi hỏi mấy cây Bồ Đề, nó sẽ nói là trong tự điển của giòng họ nhà mình không thấy có “từ hoa”!!!

7. BÁT CHÁNH ĐẠO.

Đến ngày đến tháng, cây Bồ Đề ra được tám cái trái. Ban đầu thì xanh, già chín thành đỏ, giống như trái ớt, "hồi nhỏ em mặc áo xanh, khi lớn bằng anh, em mặc áo đỏ"!!!

Đố các bạn: 4) Tám quả chánh này có giống quả chanh không??? Giống chỗ̃ nào??? Không giống chỗ̃ nào???

Bốn câu đố trên, các bạn để dành đó mà nghiền ngẫm, khi nào rảnh rỗ̃i lấy ra tư duy cho vui, đừng trả lời liền. Trả lời liền, nhất định sẽ trật lất...!!!

(18-08-2014)

Các bạn!!!

Hy vọng, chúng ta sẽ rút ra được điều gì đó trong đợt câu hỏi này. Lợi mình đã xong, nay ta phải tính đến chuyện lợi người chớ...!!!

Trong Tâm Pháp có nói rằng: “Phật đạo không chủ trương tồn tại trên những lý luận...”. Chiến lược tổng thể, cái vĩ mô trong Phật Giáo và Thiền không thiếu. Nếu đọc kỹ Tâm Pháp, các bạn sẽ thấy từng chiến thuật một, được áp dụng cho từng đối tượng cụ thể.

Mình có nhận được phần trả lời của một vị HĐ. “ Trả lời Câu số 1: Khi đã thể nhập, chữ “Lực” trong Ngũ lực lấy Nhất tâm và Tinh tấn như ý túc làm sức mạnh.”

Xin hỏi: Câu trả lời trên đúng hay sai??? Các bạn cho biết điều sai hay đúng nằm ở chỗ nào (có lý luận bảo vệ). Rất mong nhận được nhiều phân tích “như pháp” của các HĐ!!!

(21-08-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Nghiệp

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Khi nói đến nghiệp, Phật giáo muốn nói đến sự ràng buộc hoặc hữu hình hoặc vô hình nào đó tác động trực tiếp lên một chúng sanh hoặc cộng đồng chúng sanh đó, và đưa ra biện pháp giúp chúng sanh này thoát khỏi sự ràng buộc trên theo tinh thần Phật giáo gọi là thoát nghiệp hay giải thoát.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

PHẦN III. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN "THIỀN"

Phật giáo có rất nhiều khái niệm, mỗi khái niệm được coi như một cửa vào đạo, đã là cửa thì phải có lối vào và có đóng mở, hiểu sai là tự đóng bít cửa vào. Vì thế khái niệm càng minh bạch thì cánh cửa vào đạo sẽ mở dễ dàng.

Ở đây chỉ nêu một số khái niệm có liên quan đến người tu thiền, không tham vọng nói hết mọi vấn đề và cũng không đào sâu đến nơi đến chốn, vì bởi đào sâu đến nơi đến chốn thì khái niệm không còn là khái niệm.

I. KHÁI NIỆM NGHIỆP

Khái niệm nghiệp trong Phật giáo rất rộng, tất cả mọi hoạt động của thân khẩu ý đều có liên quan đến nghiệp và bị nghiệp chi phối, nghiệp có nghiệp chung và nghiệp riêng.

Nghiệp chung để chỉ mối tương quan giữa cá nhân và cộng đồng còn gọi là cộng nghiệp.

Biệt nghiệp hay nghiệp riêng là nói đến cái riêng của từng cá nhân.

Ví dụ con người và những gì chỉ thuộc cá nhân là biệt nghiệp, nhân loại và những gì nhân loại đang tiếp cận là cộng nghiệp của biệt nghiệp người.

Nghiệp chung và nghiệp riêng không tách rời nhau và không nhất thiết chịu chung quy luật thiện ác như nhau, những gì có tính chất tốt đẹp là thiện nghiệp và ngược lại là ác nghiệp.

Ví dụ trong một trận lũ lớn, mọi gia đình đều bị thiệt hại nặng, được coi như ác hay bất thiện nghiệp tùy mức độ thiệt hại, nhưng đồng thời có những người tận dụng cơ hội đó dùng thuyền chở mướn kiếm được nhiều tiền hơn bình thường, tuy có chịu chung nghiệp lũ lụt (ác) nhưng bản thân lại được điều tốt lành (thiện). Vì thế khái niệm nghiệp khó mô tả hoàn toàn, chỉ có thể tự cảm nhận, nhưng dù thiện hay ác Phật giáo đều gọi chung đó là nghiệp.

Khi nói đến nghiệp, Phật giáo muốn nói đến sự ràng buộc hoặc hữu hình hoặc vô hình nào đó tác động trực tiếp lên một chúng sanh hoặc cộng đồng chúng sanh đó, và đưa ra biện pháp giúp chúng sanh này thoát khỏi sự ràng buộc trên theo tinh thần Phật giáo gọi là thoát nghiệp hay giải thoát.

Và thực tế người tu hành nào cũng sợ nghiệp, nhất là nghiệp ác. Vì thế chủ trương tăng thiện nghiệp để hóa giải ác nghiệp được đông đảo Phật tử chấp nhận, biện pháp này gọi nôm na là giải nghiệp. Nghiệp ác như nước muối, nghiệp thiện như nước ngọt, thêm nhiều nước ngọt thì nước mặn sẽ ngọt dần.

Trong đạo giải thoát biện pháp này chỉ mang tính đối phó tạm thời, không phải biện pháp căn cơ giúp thoát ra khỏi trói buộc của nghiệp.

Trong thâm sâu Phật giáo quan niệm dù nghiệp thiện hay nghiệp ác cũng đều là thứ ràng buộc đối với giải thoát, vì thế Phật giáo không chủ trương dừng lại ở Thiên thừa.

  • Về nguyên tắc muốn thoát ra khỏi nghiệp phải biết cơ chế vận hành của nghiệp, biết rõ cơ chế vận hành thì việc tìm phương tiện thoát ra khỏi cơ chế này sẽ khả thi.

Nói đến nghiệp là nói đến tiến trình tổng quát của cỗ máy nghiệp vận hành. Cỗ máy này được vận hành qua nhiều công đoạn mới hình thành, tuy nhiều công đoạn nhưng có bốn công đoạn chính mà cỗ máy nghiệp phải trải qua nếu thiếu một trong bốn công đoạn này thì nghiệp không thành tựu.

  • Thậm chí khi nghiệp thành tựu Phật giáo chỉ ra thành tựu này có thể thay đổi vì Phật giáo biết chắc nghiệp chỉ là hiệu ứng của mê và nó vô thường. Vô thường nên có thể dừng và chỉ là kết quả của mê nên không thật, không thật thì có thể thay đổi.

  • Bốn công đoạn của nghiệp đó là: Nhân, duyên, quả, báo. Trong giới tu hành hay gọi là: Nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả, nghiệp báo.

Nghiệp nhân có thể hiểu như đem hạt giống về nhà;

Nghiệp duyên như đem hạt giống gieo trồng và thực hiện các kỹ thuật canh tác;

Nghiệp quả tương tự như giai đoạn đơm hoa kết trái;

Nghiệp báo là các tính chất có được của quả (trái) như ngọt, đắng, lớn, nhỏ, tốt, xấu.

Thấu suốt cơ chế vận hành của nghiệp nên Phật giáo tận dụng sự hiểu biết này làm vô hiệu hóa thành tựu của mỗi công đoạn. Giống như biện pháp canh tác, hạt giống được canh tác tốt sẽ cho ra kết quả tốt và ngược lại từ nhân đến quả sẽ không thành.

  • Bốn công đoạn trên là tiến trình từ nhân đến quả gọi là nhân quả. Như vậy có thể hiểu nghiệp chỉ thành tựu khi nào viên mãn yếu tố nhân quả.

Hiểu nghiệp theo cách vừa nêu giống như trồng cây thì có thể dừng từng công đoạn để cây không ra trái, tức không thành quả báo. Nếu lỡ đem hạt giống về nhà mà không đem hạt giống này trồng tỉa thì hạt giống vô dụng;  nếu trồng tỉa rồi nhưng ngưng chăm sóc không tưới nước bón phân hạt giống không thể nảy mầm; nếu đã nảy mầm mà không đủ duyên tăng trưởng thì chờ ngày hoại diệt; khi đủ duyên kết trái nếu kỹ thuật canh tác đúng khoa học, dùng kỹ thuật cao có thể làm cho trái này thay đổi tính chất của nó, giống như người ta bơm thuốc cho trái cam chua thành ngọt.

Nói chung, từ ‘nhân’ đến ‘quả’ phải trải qua thời gian, trong thời gian này nếu hiểu biết sẽ làm ‘chậm’ hoặc ‘dừng hẳn’ sự vận hành của cỗ máy nghiệp.

• Nhân hay hạt giống (chủng tử)

Luôn thuộc quá khứ, cho dù việc vừa mới xảy ra nhưng khi ý thức về nó thì sự việc đã thuộc niệm trước, chỉ là hiện tại nhớ nghĩ. Vì chúng sanh niệm niệm không dừng như dòng nước chảy, vừa tác niệm thì niệm này trôi theo quá khứ, không một ai có thể đem quá khứ về hiện tại, giống như chiêm bao khi thức dậy chỉ là sự nhớ nghĩ cho dù giấc chiêm bao này có ảnh hưởng như thế nào.

Vì vậy Phật dạy các pháp như mộng, khi ý thức tiếp cận pháp thì pháp này thuộc niệm đã qua như giấc chiêm bao.

Phân tích vòng đời của một chúng sanh Phật chỉ ra vòng đời này gồm 12 công đoạn duyên cho nhau nên có tên 12 nhân duyên.

  • Trong kinh Phật chỉ ra rằng vô minh, hành, thức, danh sắc thuộc nhóm ‘nhân quá khứ’, kinh gọi là tiền tế, có nghĩa là thuộc về mé trước (quá khứ tâm hay niệm trước).

  • Một trong ngũ triền cái là hối quá, tức nhớ nghĩ hối hận chuyện đã qua làm tâm yếu ớt, Phật dạy người tu thiền phải từ bỏ hối quá thì thiền mới sanh. Không truy tìm quá khứ chính là hình thức giúp người tu hành an tịnh nơi hiện tại.

• Duyên

Là những tác nhân làm cho hạt giống nảy mầm và tăng trưởng thuộc về hiện tại. Hiện tại có gieo trồng chăm bón thì mầm mới lớn lên thành cây, do đó để dừng nghiệp phải ý thức hiện tại đang mê, không để thân khẩu ý thi vi tạo tác.

  • Trong 12 nhân duyên các khâu: Xúc, thọ, ái, thủ thuộc về hiện tại, kinh gọi là trung tế.

Vì thế Phật thường dạy người tu hành trong hiện tại phải hộ trì các căn, dừng tâm phân biệt, không chạy theo cảnh duyên để dừng xúc đối hay khác hơn phải minh xúc, tức luôn luôn sáng suốt khi thân căn tiếp xúc nội pháp hoặc ngoại pháp.

  • Khi xúc dừng thì thọ dừng, hoặc quán thọ để dừng ái, quở trách ái để không nắm giữ gọi là vô xúc, vô thọ, vô ái, vô thủ.

Duyên có nhiều thứ, duyên gần gọi là thân cận duyên, duyên xa gọi là duyên duyên, duyên ngoài gọi là sở duyên. Tất cả mọi duyên đều phải dừng vì hiện tại đang mê, các pháp có thấy có biết đều là ảnh tượng của nghiệp thức nên Phật dạy các pháp như ảnh, như hưởng, như vang, như bóng.

Biết vậy kẻ có trí không chạy theo ảnh tượng hư dối, không chạy theo thì các duyên tự dừng. Tóm lại dừng các duyên là hình thức không giúp nghiệp đủ duyên thành quả, việc làm này phải thực hiện ngay trong hiện tại đang mê này.

• Quả hay trái.

Là kết quả viên mãn một pháp thuộc vị lai, hiện tại dừng các duyên vị lai quả sẽ không hiện. Như cây không tưới nước bón phân thì ngày mai cây không ra quả, vị lai không thật có vì nó chưa đến, chỉ là thức giong ruổi tìm kiếm nơi không hoặc chưa có tưởng là có.

Vị lai thuộc về pháp tưởng, Phật ví như huyễn ảo, giống như nhà ảo thuật nơi không có bồ câu mà làm thành bồ câu, ảo pháp này chỉ làm mờ mắt dối gạt kẻ vô trí lầm tưởng thiệt có sự tướng.

  • Trong 12 nhân duyên các chi: Hữu, sanh, lão, tử thuộc hậu tế. Vị lai chưa đến nên không thể đem vị lai ra tu hành hay sửa đổi vì cái chưa thành hình thì lấy gì để sửa. Dứt mong cầu vị lai cũng chính là cách giúp người tu hành hiện tại dừng duyên để an trú trong chánh niệm.

• Báo.

Là tính chất của quả, báo có báo lành báo dữ. Trên thực tế đã hiện quả thì khó mà thay đổi tính chất của quả, tuy nhiên không nhất thiết như vậy.

  • Phật giáo biết rõ các pháp không tánh, chính yếu tố không tánh của các pháp đã giúp Phật giáo giải quyết nan đề quả báo. Giải quyết nan đề này bằng cách làm thay đổi tính chất của một pháp hiện hữu. Bản lai các pháp không tánh chỉ do duyên mà các thứ tánh giả tạm hiện ra, ví như nước gặp duyên nóng thì thành tánh nóng, gặp duyên lạnh thì tánh nó là lạnh.

Các thứ tánh chúng sanh thấy được chỉ là kết quả của mê lầm và vô thường, vì thứ tánh chúng sanh thấy chỉ là giả tánh nên tánh này có thể thay đổi, tức dừng các duyên trả pháp về bản nguyên không tánh của nó.

Bởi nếu các pháp tánh thật có thì tánh ấy là thường, nếu thường thì không thể thay đổi được.

  • Nếu chúng sanh có tánh thì chúng sanh này vĩnh viễn là chúng sanh, khổ đau có tánh thì khổ đau không thể chấm dứt, nhưng thực tế khổ đau tự hết.

Do thấu triệt nguyên lý này, cho dù nghiệp đã thành quả vẫn có thể thay đổi tính chất hiện tại của nó. Phật pháp lý giải được vấn đề nên mới giúp chúng sinh có điều kiện tu hành.    

Cũng từ lý giải này chỉ ra rằng ‘thân chúng sinh là quả nghiệp’, tu hành chỉ có thể ‘thay đổi tính chất bên trong là tâm’.

  • Vì thế chúng sanh này có tu hành thành thánh thì cũng không thể mọc cánh tay thứ ba hay cái miệng thứ hai. Chứng thánh giống như thứ bình cũ thay đổi loại rượu bên trong mà dân gian gọi là “bình cũ rượu mới”. Vì thế ngài Xá Lợi Phất khi chứng quả thường nói: “Con từ miệng Phật sanh”.

Hay câu nói bất hủ của Ương Quật Ma La: “Tôi từ ngày được thánh pháp sinh ra đến nay, chưa sát hại một chúng sinh nào,” mà thật ra trước khi gặp Phật, Ương Quật Ma La đã bị ngoại đạo xúi dục giết gần 100 người.

  • Điều này cũng nói lên vì sao ngài A Na Luật bị mù mắt lại có được thiên nhãn thấy khắp mười phương, nhưng khi xỏ kim vá chiếc y phải nhờ đến Phật. Quả nghiệp không thể đổi chỉ thay đổi nhãn lực bên trong, tức là thay đổi bản chất thấy nghe suy nghĩ từ phàm thành thánh chứ không phải thay đổi thân này.

  • Trong đau khổ cũng vậy, Phật giáo chỉ giải quyết phần khổ bên trong của ‘tâm’, tức là có đau mà không khổ, chúng sanh đau khổ chịu cả hai; đau thuộc về ‘thân’ phần này có y học giải quyết.

Chuyện kinh kể rằng ngài Xá Lợi Phất đang ngồi thiền bị con quỷ đánh vào đầu, ngài Mục Kiền Liên thấy được hỏi ngài Xá Lợi Phất có kham chịu nỗi không, ngài Xá Lợi Phất nói tuy rất đau nhưng tôi có thể kham nhẫn được. Tuy đã chứng thánh nhưng thân vẫn phải chịu đau khi duyên tác động, do đó đừng nên hiểu lầm tu hành khi chứng quả ‘thân’ như cây cỏ vô tri.

Đoạn kinh sau Phật dạy đệ tử vượt qua khổ thọ bằng cách chế ngự tâm:  “Tỳ Kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.”[[1]]

Tóm lại khái niệm ‘nghiệp’ không đơn giản, Phật giáo tuyên nói nghiệp quả không chỉ để giới thiệu một kiến thức, mà giúp người tu hành biến kiến thức này thành cửa vào đạo gọi là pháp môn.

  • Mỗi thứ Phật đề cập đến đều giúp chúng sanh mở cánh cửa Niết Bàn. Nghiệp hay nghiệp quả là hành động của thân khẩu ý ngay trong mỗi người tu hành, nếu muốn đóng cánh cửa nghiệp, mở cửa Niết Bàn phải hiểu biết tường tận về nó.

  • Không điều gì Phật vô cớ nói ra và không điều gì Phật nói ra không chỉ cách giải quyết, chỉ vì người tu hành có chịu tìm hiểu tư duy đúng chánh lý hay không.

Tìm hiểu cặn kẽ nhất định có cửa vào, cho nên Phật dạy người tu hành phải đủ bốn pháp: Văn, tư, tu, huệ là vậy.

[[1]] Trích kinh An Trú Tâm –HT. Thích Minh Châu dịch.

(còn nữa)

Subscribe to