Tác Phẩm Lý Tứ

Tuổi Già… Và Đạo Pháp

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Phật dạy: “Người già không có được ba lợi ích. Một là lợi ích xuất gia, hai là lợi ích đọc tụng, ba là lợi ích tư duy thiền định...”

Phật dạy: “Người già không có được ba lợi ích. Một là lợi ích xuất gia, hai là lợi ích đọc tụng, ba là lợi ích tư duy thiền định...”

Sức mạnh của tuổi già vô địch, sự già không có đối thủ. Nó đã “đánh đuổi tuổi trẻ cao chạy xa bay”, không dám quay trở lại. Nó thiêu đốt tất cả tinh anh của một con người đến nỗ̃i người đời phải ta thán bằng câu nói rất tội nghiệp “lão lai tài tận”… Nếu “không có đạo pháp”, con người sẽ mất tất cả vì bị tuổi già cướp lấy.

Vì thế, lúc còn trẻ chúng ta phải đọc nhiều, tư duy nhiều, viết nhiều, đợi đến tuổi già những điều này rất khó thực hiện. Cho nên, mình luôn luôn thúc đẩy các bạn làm chuyện này từ ngày chúng ta mới quen biết nhau đến nay.

Hôm nay các bạn còn trẻ, sức khoẻ và tinh thần hãy còn. Phật đạo là đạo của trí tuệ, trong lúc các bạn đang còn tất cả những gì được gọi là tinh anh của một con người, các bạn không chịu đọc tụng, tư duy, học, hỏi, viết, giải, trình bày, v.v... Mai này tuổi già sẽ đến và nhất định nó đến, cơ hội thấm nhuần giáo pháp, có được trí tuệ là điều không thể. Chừng đó “lực bất tòng tâm” dù có muốn, các bạn cũng không thể thực hiện chí nguyện. Và cái còn lại của các bạn ở tuổi già là gì nào???!!!

Các bạn!!!

Để đặt một chân vào Đạo Nhất Thừa không dễ. Nếu chúng ta không có một khối lượng kiến thức nhất định và không có một năng lực tư duy sắc bén, mong muốn thể nhập Nhất Thừa là việc không thể.

Từ xưa đến nay, mỗ̃i khi đề ra những câu hỏi thuộc về ba thừa, tất cả HĐ chúng ta rất hào hứng sôi nổi tham gia. Nhưng, khi mình “nhóng thử” vài câu hỏi thuộc về phần sâu của chuyên môn, đòi hỏi khả năng tổng hợp và phân tích như pháp... Thì “núi rừng lặng yên”!!!

Điều này, nói lên những hạn chế nhất định nào đó từ chúng ta, khiến mình liên tưởng đến cảnh Ngũ Tổ yêu cầu mọi người "trình kệ thấy tánh". Thần Tú, một đời giảng nói giáo pháp và trong những người nghe cũng có nhiều người coi Thần Tú là bậc Thầy về giáo pháp. Nhưng, trước yêu cầu trình bài kệ thấy tánh thì, “lúc đó Thần Tú mất ăn mất ngủ mấy ngày, thân vã mồ hôi như tắm”!!! Lịch sử đã ghi lại như vậy!!!

Vì sao nó lại như vậy??? Cái không thật sự thông đạt, cái thiếu tự tin của Thần Tú đã làm cho vị pháp sư này "hồn xiêu phách tán" khi phải trình bày chỗ̃ thành tựu để bậc Đạo Sư thẩm định. Tất nhiên, nếu không có Ngũ Tổ đứng ra thẩm định, thì chắc chắn rằng: Tú Đại Sư có thể làm không biết bao nhiêu là kệ, và thao thao bất tuyệt giảng nói chân lý trước bao nhiêu người ù ù cạc cạc về giáo pháp!!!

Điều khiến mình cảm phục Thần Tú ở chỗ̃: Ông ta còn biết mất ăn mất ngủ và vã mồ hôi đầm đìa khi không làm được kệ để trình cho Đạo Sư!!! Cái mất ăn mất ngủ và vã mồ hôi này đáng để người đời sau suy gẫm và học tập!!!

Cái đáng sợ nhất của người học đạo là: Không trình được chỗ̃ chứng, mà vẫn ăn no ngủ kỹ, thân tâm mát lạnh, thong dong tự tại như chẳng có chuyện gì xảy ra... thậm chí chẳng đổ một chút mồ hôi!!! Sự xơ cứng “tâm hồn và trí tuệ” để mai này trở thành mãn tính mới đáng sợ!!!

Các bạn!!!

Nếu một ai đó, đem những điều mình đã hỏi, hỏi các bạn. Nhất định các bạn không lặng yên, các bạn hùng hồn trả lời cho họ, thậm chí trả lời hơn những gì người ta hỏi!!!

Những điều các bạn phân tích giảng nói cho người có đúng không???

Mình tin rằng những gì các bạn nói với họ không sai, nhưng đã hoàn toàn đúng hay chưa, có lẽ còn phải coi lại!!! Cái "không hẳn hoàn toàn đã đúng" là nguyên nhân khiến các bạn thiếu tự tin khi viết lên để mình cùng đại chúng thẩm định. Đây là điểm yếu của các bạn!!!

Trong giáo pháp của Chư Phật, không một ai có thể quyết chắc rằng: Điều mình hiểu là hoàn toàn đúng. Nhưng, nếu không đưa khiếm khuyết của mình cho đại chúng thẩm định và góp ý thì: Như một viên ngọc quý lẽ ra được mài dũa để mất đi tì vết, nay nó lại được cất kỹ và tỳ vết kia không thể tiêu thất. Rồi mai sau, khi có cơ duyên đem viên ngọc bày cho người đời xem, tất nhiên họ sẽ chỉ nhìn thấy một viên ngọc tỳ vết, và với họ, “tỳ vết chính là những gì đích thực nhất của một viên ngọc”!!!

Các bạn nghĩ gì về kết luận này của người đời do chính chúng ta tạo ra??? Tại sao chúng ta lại nhẫn tâm cho người đời sau chỉ thấy một viên ngọc tỳ vết??? Trong khi đó, khả năng làm mất tỳ vết là điều hoàn toàn có thể và nó ở ngay tầm tay của các bạn??? Trong Tứ Chánh Cần của Bồ Tát Đạo, làm như vậy mà được gọi là thiện hay sao???

Các bạn!!!

Vì lợi ích của bản thân và giáo pháp, để hoàn hảo một trí tuệ, vị lai có thể thật sự làm lợi ích cho nhiều người. Các bạn không có gì ngần ngại, phải học, hỏi, tư duy, trả lời... Những thứ này là điều tự nhiên của “cái sự học”!!! Và chính những điều này làm nên Trí Tuệ Trong Phật Đạo, chứ chẳng phải cái gì khác!!!

(20-08-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Văn Hóa Tùy Hỷ

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Xưng tán, khích lệ, an ủi, giúp nhau hưng phấn trong tu tập là nét “văn hoá rất riêng của Phật Đạo”, điều này chỉ có trong Phật Đạo.

Các bạn!!!

Xưng tán, khích lệ, an ủi, giúp nhau hưng phấn trong tu tập là nét “văn hoá rất riêng của Phật Đạo”, điều này chỉ có trong Phật Đạo.

- Không phải bây giờ, trong HĐ chúng ta. Mà dưới thời Phật, xưng tán, khích lệ, an ủi, giúp nhau hưng phấn trong tu tập là một thứ “sinh hoạt không thể thiếu”. Nó là loại “văn hoá vô lậu”, việc làm này giúp người tu hành “thành tựu tuỳ hỉ tâm” thành tựu “vô uý tâm” và vị lai thành tựu "vô uý thí".

- Ngoài kia, người ta đang tìm từng chút sơ hở của nhau để chỉ trích, người ta xưng tán nhau từ cửa miệng nhưng thù ghét nhau trong tâm, người ta ca ngợi nhau bằng những lời lẽ hoa mỹ trước đám đông nhưng chê bai nhau trong chỗ̃ riêng tư, người ta tán tụng nhau như một thứ vũ khí làm mất cảnh giác để chực chờ hạ bệ nhằm tranh dành điều gì đó.

Họ chung sống với nhau trong tâm trạng sợ hãi, nghi ngờ, đố kỵ, cảnh giác cao độ và rất não lòng khi được nghe một ai đó xưng tán người khác, chứ không phải xưng tán chính họ, thậm chí kiêng dè, dòm ngó thành tựu của người. Vì thế, việc xưng tán bằng tấm lòng, như pháp đối với họ chỉ là chuyện “cõi trên”!!! Thậm chí những câu xưng tán khi được nghe, trở thành “đao kiếm xuyên tâm”!!! Cho nên, đả kích sự xưng tán là con đường họ chọn và nhất định sẽ thành tựu.

Vì sao nó lại như vậy???

Tất cả chỉ vì cái ngã, chỉ vì miếng mồi lợi danh, chỉ vì những thành tựu hư ảo và không như pháp mà họ rắp tâm chiếm hữu bằng mọi giá. Hoặc họ đến với nhau để hy vọng đắc thành một điều gì đó, mà điều họ mong đợi không từng có trong giáo pháp của Chư Phật!!!

Trong khi đó, HĐ chúng ta đến với nhau bằng giáo Pháp chư Phật, bằng tinh thần vô ngã, bằng sự an vui do xả bỏ, bằng bình yên nội tâm do không sợ mất, bằng niềm vui trước những thành tựu của đồng môn, bằng sự dang tay đón nhận tất cả những ai muốn giác ngộ không phân biệt thân thù, bằng cái vui khi thấy người khác thành tựu, bằng tấm lòng nhân ái “rất bình thường nhưng không tầm thường”!!!

Nói chung, tự mình giác ngộ chân thật và chân thật giúp người giác ngộ, là con đường và mục đích duy nhất của HĐ chúng ta, ngoài ra không có mục đích khác. Vì thế, nhất định chúng ta sẽ không có “một tâm ý khác” như ngoài kia!!!

Các bạn!!!

Chúng ta quyết đi trên con đường mà chư Phật và chư thánh xưa đã đi, mỗ̃i bước đi của chúng ta, hoa thơm từ bi nở rộ, trái ngọt hỷ xả đầy cành. Những thứ này là hành trang, là đôi chân, là ý chí, là tâm nguyện của chính chúng ta. Vì thế, khen tặng, tuỳ hỉ, vui mừng khi người khác có được điều tốt là những việc cần có và thực hiện thường xuyên trong mỗ̃i HĐ chúng ta.

Có thực hiện như vậy, mới mong sớm thành tựu tứ vô lượng tâm, một thứ tâm chỉ có từ những người tu hành chân chánh trong Phật đạo.

(30-07-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Lối Học Thụ Động

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Đã là học tập, đừng sợ người khác nhìn thấy cái dở, biết được điều ta không hiểu. Cái mà người trí đáng sợ nhất, đó là: Tự thân không biết điều gì là điều mà mình đã và đang không hiểu!!!

Các bạn!!!

Tu hành trong Phật đạo, cũng giống như học văn hoá, có tư duy, có để tâm quán sát điều mình đang tư duy mới phát hiện những gì tự thân chưa thấu đáo. Có nhận ra những gì tự thân chưa thấu đáo và phát sinh thắc mắc, mới có thể đưa ra những câu hỏi. Thường xuyên làm như thế, mới mong vị lai tạo nên sự “bùng vỡ” nào đó của tâm ý!!!

Nếu các bạn chỉ đọc, không rộng tư duy, không phát sinh thắc mắc, mọi việc cứ ngỡ là mình đã hiểu, nhưng thật sự có lắm điều ta chưa hiểu. Thói quen chấp nhận này, không động não, không chiêm nghiệm để thấy điều mình chưa thấu đáo, không rộng quan sát tư duy, không biết đưa ra những tình huống giả định, không biết đặt câu hỏi và không tự phản biện đến tận nguồn cơn. Thói quen học tập như thế, sẽ làm cho “não bộ ù lỳ”, khó tạo nên sự bùng nổ của ý thức. Thế gian gọi đó là “lối học thụ động”.

Cách học này không phải là cách học tốt, và rất khó “vượt lên chính mình”, điều này sẽ dẫn đến hệ quả là: Vị lai không thể xâm nhập các cảnh giới cao hơn, và thành tựu “trí tuệ ưu thắng”.

Nếu cứ học như vậy, vĩnh viễn sẽ làm “cầu thủ hạng E, F”, đây là hạng cầu thủ chân đất, không biết mang giày thể thao và chỉ có thể đá quả bóng nylon trên sân đất ruộng, cầu thủ này một đời quanh quẩn tranh giải xóm làng, thuộc loại làng nhàng, chờ làng có đám tiệc, giúp vui cho mấy cụ áo dài khăn đóng ăn trên ngồi trước. Sau vài ly khề khà, chân đá chân xiêu, mấy cụ giơ cao cây gậy hoan hô tán thưởng, cao giọng khen tặng con cháu làng ta có thể sánh vai cùng cầu thủ siêu hạng làng bên!!! 

Người có trí nhìn sự học này bằng “một phần tư con mắt” gọi đó là hạng “thường thường bậc hạ”. Không cần thần thông cũng biết chắc rằng, hạng này vị lại nhất định chỉ có thể đầu quân cho “Đội Bóng Làng Xã”, ước mơ không lớn hơn “mâm cỗ̃ của làng”!!!

Các bạn!!!

Giai đoạn hiện tại, chúng ta đã xong phần “kỹ thuật cơ bản”, bắt đầu đi vào thực hành các “miếng đánh” và “chiến thuật”. Vì thế, tư duy quan sát, để tâm đến điều mình đã học, thấy được điểm yếu, phát hiện chỗ̃ chưa thông và đặt câu hỏi yêu cầu giải quyết. Đây là một trong những hình thức rất cần để phát sinh trí tuệ, việc làm này tương tự cách tu “Trí Tuệ Ba La Mật”.

Giống như một võ sĩ. Sau khi thành thục những kỹ thuật cơ bản, người này tập “lâm trận” để làm quen với trận mạc, tập đấu đối kháng, không có địch thủ thì ta đấu với cái bao cát hay cây chuối để tự rèn luyện kỹ năng và phản xạ, từ đó mới phát hiện ra điểm mạnh yếu của mình nhằm khắc phục và phát huy. Sau này, khi lâm trận thật sự, mới có thể “làm chủ trận đấu” và giải quyết trận đấu theo “ý đồ của mình”.

Nếu không làm như vậy, giỏi lắm cũng chỉ để tự cứu, nói gì đến việc thể nhập Đạo Nhất Thừa!!! Vị nào đã đọc Đại Bát Niết Bàn hoặc các Kinh Đại Thừa, sẽ thấy các Bồ Tát Nhất Thừa đặt câu hỏi và phản biện như thế nào!!!

Chiều hôm qua, mình có buổi tâm sự với Liêm, lúc đó Liêm đã đưa ra nhiều câu hỏi chung quanh đề tài Trung Ấm và Phật Đạo, xin hoan nghênh những câu hỏi của HĐ này. Chưa biết, chưa hiểu là đi kiếm người để hỏi liền, hỏi cho ra lẽ, rất hoan nghênh thái độ học tập nghiêm túc này. Cách đặt câu hỏi của Liêm, đúng với cách đặt vấn đề và tìm cách giải quyết của một anh Thầy giáo dạy toán.

Các bạn!!!

Đã là học tập, đừng sợ người khác nhìn thấy cái dở, biết được điều ta không hiểu. Cái mà người trí đáng sợ nhất, đó là: Tự thân không biết điều gì là điều mà mình đã và đang không hiểu!!!

(25-07-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Học Pháp Vô Lậu

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Thành tựu giới định huệ vô lậu sẽ đưa đến vô lậu tâm, vị tu hành này chấm dứt kiết sử phiền não. Từ đây có thể chứng nhập Niết Bàn đưa đến các thánh vị trong Phật Đạo.

Các bạn!!!

Sáng nay, nhân việc trao đổi với vài HĐ, mình có đề cập đến ba học pháp vô lậu. Đó là: Giới Vô Lậu, Định Vô Lậu và Huệ Vô Lậu...

Có thành tựu “Học Pháp Vô Lậu” mới có thể đắc thành “Vô Lậu Tâm”. Còn nếu, chỉ thành tựu “Học Pháp Hữu Lậu” thì nhất định sẽ cho ra một “Hữu Lậu Tâm”. Tính nhân quả này không thể nói khác!!!

Nói đến Vô Lậu, thì nhất định phải có hữu lậu. Có nghĩa: Có “Ba Học Pháp Vô Lậu” thì nhất định cũng có “Ba Học Pháp Hữu Lậu”. Nó giống như “có chánh” thì phải “có tà”.

Nếu người tu hành, không phân định được thế nào là học pháp hữu lậu, thế nào là học pháp vô lậu, nhất định sẽ như lời kinh dạy: “Sa Môn, Bà La Môn này sẽ sa vào hố dữ...”.

Để phân định hai điều này, mình có vài câu hỏi gởi đến các bạn, nhằm nhờ các HĐ làm sáng tỏ vấn đề. Rất mong, nhận được những kiến giải từ các "Giác Quán Chân Chánh"!!!

1. CÁC CÂU HỎI VỀ… BA HỌC PHÁP VÔ LẬU

1) Thế nào là: Giới Định Huệ Hữu Lậu???

2) Thế nào là: Giới Định Huệ Vô Lậu???

3) Thành tựu giới định huệ hữu lậu, sẽ thành tựu điều gì trong Phật pháp???

4) Thành tựu giới định huệ vô lậu, sẽ thành tựu điều gì trong Phật đạo???

5) Giới Định Huệ Vô Lậu có bao nhiêu tầng bậc trong Phật Đạo??? Chú ý!!! Đây là câu hỏi khó, rất khó!!! Đòi hỏi độ thâm sâu và thấm nhuần Giáo Pháp.

Các câu trả lời của HĐ, rất cần phân tích (giản trạch) cụ thể từng chi tiết.

(28-06-2014)

2. TỔNG KẾT CÂU TRẢ LỜI

Xin giới thiệu đến các bạn, “một cơ thể mới, tương đối hoàn hảo”. Cơ thể này vừa trải qua “một cuộc đại phẫu thuật ngoạn mục”. Tịnh Hiền đã lấy cái râu HĐ này để cắm vào cái cằm cho HĐ kia!!! Các bạn thử nhìn xem, tác phẩm nghệ thuật sau đại phẫu thuật này của BS Tịnh Hiền có thể “đi thi huê hậu vô lậu” được chăng???

BÀI VIẾT TRẢ LỜI TIÊU BIỂU (Tịnh Hiền Tổng hợp)

Thưa  Thầy!!!

Để hiểu rõ mọi góc cạnh của một vấn đề, để trả lời thoả đáng các câu hỏi, và để có sự nhìn nhận hoàn hảo những câu trả lời của HĐ gởi về cho Thầy. Con phải đặt câu hỏi trước mặt, và rất khách quan khi nhìn ngắm đề tài này. Con thử tự đặt vài vấn nạn cho mình tư duy:

  • Vì sao Phật dạy ba học pháp vô lậu???

  • Ba học pháp vô lậu giúp người tu hành giải quyết vấn đề gì???

  • Nó nằm trong giai đoạn nào của tiến trình tu hành???

  • Có bao nhiêu trường hợp mà người tu hành có thể xuất sinh lậu hoặc???!!!

Mấy hôm nay qua sự hướng dẫn của Thầy, và tham khảo các câu trả lời của HĐ. Con thấy những điều mình đặt ra nói trên và các khái niệm về: Giới, định, huệ, hữu lậu, vô lậu... Có bài viết và câu trả lời của 2 HĐ là thoả đáng nhất. Con không và chưa thấy có những khái niệm hay câu trả lời nào hay hơn, thoả mãn hơn bài viết của hai vị HĐ này. Để xưng tán sức thông tuệ của hai Vị này, con đã sắp xếp những phần ưu việt nhất của hai bài viết thành một bài chung. Xin hai HĐ hoan hỷ cho. việc làm này.

Hy vọng, Thầy không chê “tài may vá” của con.

Dưới đây là phần hai bài emails con tập trung lại. Xin gởi đến Thầy và các HĐ!!!

I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Trước hết, xin trình bày những khái niệm chung (cơ bản) về Giới, Định, Tuệ, Hữu lậu, Vô lậu.

I.1. Giới (của đạo Phật).

Phật Đạo có nhiều loại giới như: Biệt giải thoát giới, Đạo cộng giới, Định cộng giới, Tánh giới, Già giới...Trong ấy lại phân thành các nhóm như: Tánh giới còn gọi là tự nhiên giới (pakati-sila) hoặc quy ước giới (pannati-sila). Trong việc thực hành giới, lại có sự thành tựu đặc biệt như Thiện Lai Tỳ Kheo hay Phá Kiết Tỳ Kheo.

Tuy Phật giới có nhiều loại, nhiều nghĩa, nhưng tựu trung các loại giới này đều là nền tảng căn bản để giúp người tu hành thành tựu giáo pháp trên tinh thần “phòng phi chỉ ác” hay “chỉ ác tác thiện”. Kinh Pháp Cú đã dạy: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”.

Trong chừng mực nào đó, về lợi ích tu tập cá nhân thì, một khi giới được hiểu đúng và thực hành đúng, nó sẽ là công cụ đưa đến giảm thiểu hoặc chấm dứt lậu hoặc. Về lâu về dài, giới được hiểu đúng và thực hành đúng nó sẽ là nền tảng giúp người tu hành thành tựu giáo pháp. Đây là một trong những lý do vì sao giới của Phật Đạo lại được xếp vào một trong ba học pháp vô lậu, mà học giới đi đầu.

Để minh định điều này, Kinh Đại Bát Niết Bàn Phật dạy: “Định sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Giới. Huệ sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Định. Tâm phát triển với Huệ sẽ giải thoát khỏi các lậu hoặc (asava), tức là dục lậu (kamasava), hữu lậu (bhavasava), và vô minh lậu (avijjasava)”. Và Phật cũng dạy:

“Hỡi các Tỳ-kheo!

Hãy chánh niệm, tỉnh giác,

Trì giới, định tâm, nhiếp ý.

Ai tinh tấn trong Pháp và Luật này,

Sẽ lìa vòng sanh tử, chấm dứt khổ đau “

(Kinh Đại Bát Niết Bàn, Pali).

Vì thế, có thể hiểu giới của Phật Đạo là công cụ căn bản để giúp người tu hành dứt trừ lậu hoặc và vị lai khi lậu hoặc vĩnh viễn đoạn tận, sẽ là giềng mối thành tựu giáo pháp. “Phòng phi chỉ ác, chỉ ác tác thiện” (chữ thiện ở đây được hiểu là chánh pháp, chữ ác là tà pháp).

Chính ý nghĩa này, giới trong Phật đạo còn đóng thêm một vai trò nữa, đó là vai trò “học pháp vô lậu”. Nếu người tu hành, hiểu giới như một sự cấm đoán, điều răn, sự ngăn cấm mang tính mệnh lệnh, thì có thể cũng chính giới này, nó sẽ trở thành “nhân tố làm nên hữu lậu tâm từ một hữu lậu pháp”.

Đây là lý do vì sao chúng ta phải khảo sát, tìm hiểu nghĩa của giới. Có hiểu đúng, khi thực hành giới mới trở thành học pháp vô lậu. Giới nếu hiểu sai, hiểu không đúng tinh thần của nó, thì giới ấy có thể quay trở lại trói buộc mình và nó lại là hữu lậu.

I.2. Định (của Đạo Phật).

Định trong Phật đạo, có thể hiểu là một sự không dao động của tâm ý, sự không chạy theo, sự không tán loạn... trước một sự việc hay một vấn đề khi vị tu hành này do năm căn thân hoặc ý căn xúc đối trước sự việc hay vấn đề ấy.

Sở dĩ người tu hành trong Phật Đạo thành tựu định này là nhờ họ dùng “Giác Quán Như Pháp” (thiền) làm công cụ để thấu suốt “bản chất không thật” của sự việc hay vấn đề ấy.

Cho nên định của Phật Đạo nếu hiểu và thực hành đúng, nó sẽ cho ra một kết quả nhất định đó là: Do thấu suốt bản chất các pháp (thiền) mà các lậu hoặc không thể sinh khởi (định). Vì vậy định của Phật Đạo thuộc về “học pháp vô lậu”.

Định của Phật Đạo có ý nghĩa không giống các loại định khác (ngoài Phật Đạo). Tức là một thứ định được thành tựu bằng cách thức tập trung tinh thần, hay cột chặt tâm ý để làm cho tâm ý không dao động. Định này không đưa đến dứt trừ lậu hoặc, mà chỉ "cô kết lậu hoặc". Khi có điều kiện, lậu hoặc đã bị cô kết tức thì hiện khởi. Các thứ định như vậy, không đưa đến chấm dứt vĩnh viễn lậu hoặc, nên ta có thể tạm xếp nó vào "định hữu lậu".

I.3. Huệ (trong Đạo Phật).

Nghĩa là biết đúng như thật. Trí huệ trong Phật Đạo là cặp từ luôn đi đôi với nhau. Trí là sự hiểu biết. Huệ là nhân cái biết này mà sáng suốt. Vì thế, trí huệ trong Phật Đạo có nghĩa là nhân “hiểu biết như pháp” mà sáng suốt hết tăm tối, chấm dứt vô minh.

Trên con đường chấm dứt tăm tối vô minh, huệ của Phật Đạo chiếu ra, làm cho các lậu hoặc (kiết sử và phiền não) không thể hiện khởi. Vì thế, trong chừng mực nào đó, huệ được xếp vào học pháp vô lậu.

Những hiểu biết nào không như pháp, không có khuynh hướng chấm dứt lậu hoặc, không đưa đến diệt trừ tận gốc vô minh, hiểu biết này được coi là “huệ hữu lậu”. Có nghĩa, huệ hữu lậu là những hiểu biết không giúp ích cho việc chấm dứt kiết sử và phiền não.

I.4. Hữu Lậu.

Hữu là có, lậu là rỉ chảy. Hữu lậu là kiết sử phiền não rỉ chảy làm cho chúng sinh rơi vào ba đường ác, hữu lậu làm chúng sanh phiền não, luân hồi trong tam giới, không thoát ra được, không vượt lên được, cái gì còn đang là pháp hữu vi thì pháp đó nhất định còn trong hữu lậu.

I.5. Vô Lậu.

Vô là không; Lậu: Sự rỉ chảy. Vô lậu là không rỉ chảy kiết sử và phiền não.

I.6. Vô lậu tâm.

Là một thứ tâm đã hoàn toàn không còn rỉ chảy kiết sử và phiền não.

Trong Phật Đạo còn có một thuật ngữ khác để chỉ kiết sử phiền não chảy ra làm nhiễm ô và che mờ tánh giác, đó là từ “lậu hoặc”. Hoặc: Che mờ, mê hoặc.

Khi lậu hoặc không hiện khởi, tâm trí không bị che mờ, tánh giác hết nhiễm ô. Bây giờ tánh giác phát sinh diệu dụng. Sự diệu dụng đầu tiên của tánh giác, đó là nhận biết như thật thế nào là bản tâm. Chính sự nhận biết này, giúp người tu hành “chứng Diệt đế”, thành tựu đầy đủ phạm hạnh.

II.TRẢ LỜI TIÊU BIỂU VỀ “BA HỌC PHÁP VÔ LẬU”

II.1. Thế nào là “Giới Định Huệ” hữu lậu???

Giới định huệ hữu lậu là sự hiểu biết về giới định huệ theo ý nghĩa thế tục, mang nặng ý nghĩa thế gian. Vì nó được hiểu theo ý nghĩa thế gian nên không thể dựa vào đó mà dứt trừ lậu hoặc. Do không dứt trừ lậu hoặc nên không thể đưa đến vô lậu tâm, vô lậu trí và vô lậu công hạnh.

  • Giới hữu lậu: Là loại giới mà người giữ giới bị chính giới này cột buộc nên phát sinh phiền não.

  • Định hữu lậu: Là loại định không diệt tận kiết sử.

  • Huệ hữu lậu: Là loại hiểu biết nhằm làm lớn tự ngã và không có thú hướng thoát ra khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Tóm lại: Những học pháp nào không mang đến thành tựu vô lậu tâm, chấm dứt phiền não kiết sử, và tiêu mòn tự ngã, thì những học pháp đó thuộc về học pháp hữu lậu.

II.2. Thế nào là Giới Định Huệ vô lậu???

Giới Định Huệ vô lậu là những học pháp giúp người tu hành thành tựu vô lậu tâm, có khuynh hướng đưa đến Giác Ngộ Vô Ngã, chứng nhập Thanh Tịnh Niết Bàn.

  • Giới vô lậu: Là loại giới có ý nghĩa khiến người thọ giới này phát sanh hoan hỷ tâm. Nó cho người giữ giới thấy biết như pháp rằng: Thế nào là hạnh phúc đích thực của bậc thánh trong ý nghĩa của sự gìn giữ này.

  • Định vô lậu: Là loại định mà khi người tu hành thành tựu định này kiết sử không thể hiện khởi. Như cây ta la bị chặt đầu, không còn cơ hội tái sanh trở lại.

  • Huệ vô lậu: Là loại hiểu biết mà người tu hành khi thấu suốt sẽ tiêu thất tự ngã. Nó có khuynh hướng đưa người tu hành lần lượt thoát ra khỏi dục lưu, hữu lưu và vô minh lưu.

Tóm lại: Những học pháp nào có ý nghĩa khiến người tu hành thoát ra khỏi nhân giới, thiên giới và chúng sanh giới. Đưa đến vô lậu tâm, kiết sử phiền não không còn tái sanh, vị lai có thể mở cửa Niết Bàn. Những học pháp này thuộc về học pháp vô lậu. Vì thế kinh dạy: “Định sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Giới. Huệ sẽ đem tới kết quả và ích lợi lớn nếu phát triển với Định. Tâm phát triển với Huệ sẽ giải thoát khỏi các lậu hoặc (asava), tức là dục lậu (kamasava), hữu lậu (bhavasava), và vô minh lậu (avijjasava)”.

II.3. Thành tựu giới định huệ hữu lậu, sẽ cho ra điều gì trong Phật pháp???

Thành tựu giới định huệ hữu lậu là thành tựu có nghĩa hữu vi, nó cho ra phước báu nhân thiên, chứ không đưa đến thánh vị trong Phật Đạo.

II.4. Thành tựu giới định huệ vô lậu, sẽ cho ra điều gì trong Phật đạo???

Thành tựu giới định huệ vô lậu sẽ đưa đến vô lậu tâm, vị tu hành này chấm dứt kiết sử phiền não. Từ đây có thể chứng nhập Niết Bàn đưa đến các thánh vị trong Phật Đạo.

II.5. Giới Định Huệ vô lậu có bao nhiêu tầng bậc trong Phật đạo???

Giới Định Huệ vô lậu có ba tầng bực trong Phật Đạo:

  • Nếu là Nhị thừa tri kiến, sẽ thành tựu vô lậu tâm.

  • Nếu là Bồ Tát tri kiến, sẽ có được vô lậu trí.

  • Nếu là Nhất thừa tri kiến, sẽ đưa đến vô lậu hạnh.

III. KẾT LUẬN

Về câu hỏi “Giới Định Huệ Vô Lậu có bao nhiêu tầng bậc trong Phật Đạo???” Theo con, câu trả lời số II.5 là thoả đáng nhất. Vì sao như vậy??? Vì rằng, chỉ có ba tri kiến trên (Nhị thừa, Bồ Tát thừa và Nhất thừa) mới là ba hiểu biết tốt nhất để dứt trừ lậu hoặc từ cạn đến sâu.

(02-07-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Từ Một Tâm Đến Một Tâm

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Tuệ chính là sự phát sáng, sự đồng cảm nào đó “từ một tâm đến một tâm”

Các bạn!!!

Mấy hôm nay, gặp sự cố nhỏ, không đáng kể về sức khoẻ, và mình cũng đã viết trên email là: Mình rất OK!!! Nhưng hai ngày qua, có nhiều HĐ gọi về hoặc trực tiếp đến thăm hỏi, mình rất xúc động trước “nghĩa tình” này!!!

Nhân sự việc trên, mình nghiệm ra vài “Đạo Lý” nho nhỏ trong Phật Đạo. Vì sao thành tựu trong Phật Đạo, Phật gọi đó là thành tựu “Trí Tuệ”, mà không gọi là thành tựu “lý trí” như ở đời thường gọi???

Mình nghiệm ra: Mấu chốt vấn đề ở chỗ̃ chữ “Tuệ”. Tuệ chính là sự phát sáng, sự đồng cảm nào đó “từ một tâm đến một tâm”. Có nghĩa, đây là sự ảnh chiếu với nhau thông qua cảm thông, nghĩa tình, và những chia sẻ như pháp. Nó chính là thành tố cơ bản để thành tựu “Từ Bi Tâm” sau này.

Trí Tuệ trong Phật Đạo là một thứ trí được xây dựng trên nền móng “của Đại Tâm”. Chứ không phải là một thứ trí được xây dựng trên nền tảng phàm tâm như "lý sự".

Kết quả nào được xây dựng trên nền tảng của lý, tức dựa vào sự “cân, đong, đo, đếm” bằng những toan tính của lý trí, thì chẳng thể thành tựu đúng nghĩa Trí Tuệ trong Phật Đạo.

Chính Trí Tuệ trong Phật Đạo được xây dựng trên mảnh đất Đại Tâm, vì thế thành tựu trí tuệ đồng thời sẽ thành tựu “Từ tâm và Bi tâm”. Và nó luôn luôn cho ra “Hoan hỷ tâm và Xả ly tâm”. Vì thế, có thể nói: Hỷ và Xả là hệ quả tất yếu của Từ Bi Tâm.

Có nghĩa rằng, thành tựu phần “Trí” dành cho công việc tự cứu. Thành tựu phần “Tuệ” dành cho công việc độ tha. Nhờ thành tựu hai phần Trí và Tuệ mà Phật Đạo mới sản sanh ra Chư Phật đầy đủ bốn tâm Vô Lượng. Đây kết quả của sự cảm thông như pháp đến với sự cảm thông phi pháp, gọi là bi nguyện khế hợp bi ngưỡng.

Do thành tựu đủ trí tuệ với bốn món tâm vô lượng, nên Phật Đạo có phép đương cơ. Đương cơ trong Phật Đạo chính là sự thông cảm giữa “một tâm cơ và một tâm cơ”. Đây là nguyên lý của phép “Dĩ Tâm Truyền Tâm” trong Đạo Pháp!!!

Các bạn!!!

Chiều nay, ngồi tâm sự với một HĐ trong một không gian vắng, chỉ có “hai Thầy trò”. Một không gian lý tưởng cho một đương cơ. Vị HĐ tâm sự: “Mấy ngày hôm nay, Giác Quán cứ thường trực trong đầu. Mỗ̃i khi một đề tài hiện lên, đã thôi thúc anh ta tư duy không ngừng và thúc giục anh ta đi tìm tư liệu tham khảo làm sơ sở để thấu suốt đề tài đó”.

Nhân cơ hội này, mình trao đổi với HĐ về ý nghĩa của “Nhất Tâm Như Ý Túc” trong Giác Quán. Đề tài trao đổi chiều nay là:

  • Vì sao một chúng sanh không thể tự mình rời khỏi ba cõi và phải đi theo nghiệp.

  • Vì sao Bậc Thánh có thể chứng nhập Niết Bàn.

  • Vì sao Bồ Tát không đi theo nghiệp mà đi theo “Nguyện” hoặc “Thị Hiện”.

Sau đó, vị HĐ có hỏi thêm mình về ý nghĩa:

  • Thế nào: Giác là Đế của Tập, Ngộ là Đế của Diệt, Trí là Đế của Đạo?

  • Thế nào là Kiết sử, thế nào là Tập nhân???

  • Thế nào là nghĩa của: “Tập nhân chiêu cảm với giao báo hình thành cõi nước???”

Trong một đương cơ tốt như buổi chiều hôm nay, qua trao đổi, vị HĐ sáng tỏ nhiều vấn đề trọng đại của Phật Đạo. Nét vui mừng hiện rõ trong cái tuổi tám mươi!!!

Sau buổi nói chuyện với vị HĐ này, mình cảm nhận rất rõ: Vì sao trong một thời kinh Phật thuyết ra, có vô số người đắc các quả vị sai biệt. Trong khi đó, cũng bài kinh này, khi viết lại thì rất hy hữu mới có người hiểu được một phần nhỏ không đáng kể từ ý nghĩa bài kinh???

Các bạn!!!

Chính chữ “Tuệ” trong một Trí Tuệ. Đây là sự phát sáng nhờ sự “đồng cảm” từ “một tâm đến một tâm”, cái làm nên các quả vị trong một thời thuyết của Thế Tôn.

Còn khi bài kinh được chép lại, người đọc chỉ thấu lý trên bình diện của “lý trí”, mà không có nét đặc thù của đương cơ, đó là sự đồng cảm của “một tâm đến một tâm”.

Vì thế, nếu thuần tuý tu tập trên bình diện “lý trí” thì thành quả đạt được cao nhất, cũng chỉ là phần “Trí” của “lý trí”, tức không có cái tình, cốt lõi của sự đồng cảm để cho ra phần Tuệ. Đã không có phần cơ bản này thì, nếu có một sự thành tựu nào đó, thành tựu này luôn luôn có dáng dấp của “kiến giải”, một kết quả do “cân, đong, đo, đếm” của...”cái lý” và “ngã”!!!

  • Tuệ, phần toả sáng thuộc về tâm.

  • Trí, thuộc về phần thấu suốt của trí.

Hai điều này chỉ có thể thành tựu quân bình trong một thứ tâm đặc biệt, đó là một thứ tâm đã loại rốt ráo phần “lý trí”. Mọi thứ “cân, đong, đo, đếm” của đời, sẽ không có giá trị sử dụng cho việc cầu thành Đạo Quả Trí Tuệ trong Phật Đạo.

Sáng nay, mẹ của mình, Bà Cụ Nhuận Bình có điện thoại để hỏi thăm sức khoẻ. Bà nói trong mếu máo: “Mẹ nguyện đem thân này gánh vác hết tất cả nghiệp quả cho con (là mình) và HĐ. Để mọi người bình yên mà tu tập!!!”

Nghe những lời này mình rất cảm động. Trong HĐ chúng ta, mỗ̃i người thể hiện cảm xúc bằng một cách rất riêng. Không thể hiện nào giống thể hiện nào. Nhưng mình nghĩ, tất cả đều có những “cảm xúc nhất định” trên tinh thần Đạo Pháp.

Mình xin cảm ơn, rất cảm ơn tất cả!!! Cảm ơn những cảm xúc cho dù mỗ̃i người thể hiện như thế nào dưới bất kỳ dưới hình thức nào...!!!

(24-06-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Lấy Ngắn Nuôi Dài… Trong Tu Tập… 2008… Hoát Nhiên Thấy Rõ… Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phác họa tiếng nổ này “như tiếng tháo chốt cửa thành lớn”!!!

Đọc email của các bạn, làm mình nhớ lại một đôi nét trong quá trình tiến tu của bản thân. Mình xin kể ra đây, coi như món quà nhỏ tặng mọi người trong giai đoạn này.

Những năm 1985, lúc đó kinh điển đối với mình rất hiếm. May mắn, được người bạn cho mượn các bản kinh Nykaya gồm Trường Bộ, Trung Bộ, Tăng Chi Bộ (Bản dịch của HT Minh Châu, ĐH Vạn Hạnh xuất bản). Có của quý trong tay, mình phát nguyện, trong vòng một tháng, bản thân phải đọc và lãnh hội cho hết tinh yếu của những bộ kinh này. Và mình bắt tay thực hiện lời nguyện này.

Sau hai mươi hai (22) ngày miệt mài, nhờ ơn đức Chư Phật, mình hoàn thành tâm nguyện. Hầu như toàn bộ tinh yếu của tạng Nykaya không còn gì là khó hiểu đối với mình.

Sau đó, mình tiếp tục đọc tụng hết tạng kinh này đến tạng kinh khác, không có ngày lơi lỏng.

Cho đến một tháng sau ngày Lão Đại viên tịch cách đây sáu năm (2008). Vào một buổi chiều, mình hoát nhiên thấy rõ mọi vấn đề của Phật Đạo. Hôm đó, mình thật sự vui mừng. Một lần nữa, mình phát tâm đọc tất cả những bản kinh đã được dịch sang tiếng Việt trong vòng một năm. Mục đích của việc làm này là:

Thứ nhất: Dùng kinh để đối chiếu với hiểu biết của tự thân lúc này. Nghiêm túc coi lại, giữa lời dạy của Thế Tôn và những gì mình thấy được, còn điều gì chưa tương thông. Đây được coi như phép lấy kinh để ấn chứng.

Thứ hai: Dùng công đức này hồi hướng cho Lão Đại. Trong lòng mình, Lão Đại chỉ xếp sau Thế Tôn!!!

Sau tám (8) tháng miệt mài, tâm nguyện thành tựu. Lần này, sau khi kiểm chứng, mình phát hiện ra những điều Thế Tôn giáo dạy và cái mình đang thấy biết, không có sai lệch nào. Chẳng những thế, có thể nói, mình hiểu những gì Thế Tôn đã nói, đang nói và sẽ nói!!!

Trong quá trình tu tập, gần như mình ứng dụng Giác Quán xuyên suốt. Có những đề tài, mình ôm ấp trong lòng với quảng thời gian rất dài, có khi lên đến hai mươi (20) năm. Sau hai mươi năm, mình mới có thể tự hoá giải đề tài đó thông suốt. Có những đề tài đeo đuổi mình mười năm. Có đề tài bốn năm, năm năm. Có những đề tài, chỉ trong khoảnh khắc mình tự hiểu ra. Những điều như vậy, có vài HĐ trong chúng ta hôm nay, được coi là người gần gũi, chứng kiến và hiểu rõ những gì mình làm nhất.

Nói như vậy, để thấy rằng không phải bất kỳ đề tài nào của Phật Đạo, cũng chỉ trong một lần giác quán là ta có thể lãnh hội hết. Mà thật ra, trong Phật Đạo, có vô số đề tài, gồm cả khó và dễ.

Để giải quyết vấn nạn này, lúc đó, mình thực hiện phương châm: "Lấy ngắn nuôi dài". Có nghĩa đề tài nào quá khó, mình gieo hạt giống Giác rồi lai rai Quán về nó, hết năm này sang năm khác. Cứ như thế, có cơ hội lại đem nó ra mà mổ xẻ, đến khi thấu suốt mới thôi!!!

Trong khoảng thời gian trống, chưa đủ trí để giải quyết cái khó, thì mình lại “trồng cây ngắn ngày”, tức đem đề tài được coi là dễ ra thực hành Giác Quán nhằm mau thông suốt. Cứ thế, “Lấy ngắn nuôi dài”, việc làm này không uổng phí thời gian, chính cái dễ khi hiểu ra, sẽ tạo cho mình tâm trạng phấn khích để tiếp tục thành tựu cái khó trong dài lâu.

Để giải quyết đề tài khó, mình lại dùng phương châm: "Lấy nông thôn bao vây thành thị". Mình ứng dụng phương châm này bằng cách: Bản thân xem đề tài được coi là khó này, có những mối liên hệ nào. Mối liên hệ nào gần, mình dùng Giác Quán giải quyết trước, mối liên hệ nào xa mình giải quyết sau.

Cách làm này giống như chặt cành nhánh, rồi chặt thân, đào rễ con, sau cùng đào rễ cái. Khi toàn bộ cành nhánh gốc rễ... đã được chặt sạch, thì việc "bứng cái cây" không còn là điều khó.

Các bạn!!! … Ngày xưa, Phật Đạo đối với mình như là bơi ra biển lớn, và mình phải nỗ̃ lực bản thân để tự vượt qua những cơn sóng dữ, mình đã tự bơi như vậy trên hai mươi lăm năm. Khi qua đến bên kia, “mình phát hiện ra toàn bộ tiến trình tu tập trong Phật Đạo”. Đây chính là lúc Lão Cù Tống Phan xuất hiện đưa cho mình cuốn Phật Giáo & Thiền!!!

Ngày tự bơi trở về, gần đến bờ này thì may mắn có Lão Lý Tứ từ trên trời rớt xuống, Lão ta làm công việc giải thích cặn kẽ tiến trình này. Đây là lúc Cù Gia Tạp Luận và Tâm Pháp ra đời!!!

Hôm nay, các bạn đã may mắn không bơi qua biển lớn đơn độc như mình ngày xưa. Mà chuyến hải hành này ngoài các bạn, còn có HĐ Cù Gia (nay là Lý Gia), còn có Lão Cù, Lão Lý đi cùng!!!

Họ là những Hoa Tiêu, là những ngọn hải đăng giúp các bạn bơi mà không sợ sai lệch, cũng không phải mất thì giờ vượt qua những cung đường vô ích như bản thân mình đã làm những chuyện vô ích ngày trước.

Mình nghĩ, không cần một thời gian dài như mình ngày xưa. Hôm nay, các bạn có thể bơi một vòng qua lại biển lớn trong một thời gian ngắn, chỉ một thời gian ngắn là các bạn có thể thành tựu những gì cần thiết. Vì rằng, việc làm vô ích, mất thời gian đã bị loại bỏ ngay từ đầu bằng kinh nghiệm của mình. Cung đường đã được rút ngắn đến mức tối thiểu, rút ngắn đến không còn có thể ngắn hơn!!!

Rất mong, một ngày đẹp trời, được nghe tiếng nổ lớn như trời gầm, từ tâm thức của vị HĐ nào đó... Một vụ nổ Big Bang tâm thức thứ hai trên thế giới này!!!

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa phác họa tiếng nổ này “như tiếng tháo chốt cửa thành lớn”!!!

(19-06-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Kỳ Cục Môn

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

“Vô Sư Vô Sách” là do ĂN mà thành chứ không phải do HỌC mà thành!!! Ăn mà thành chứ không do học mà thành nên gọi là “Kỳ Cục Môn”. Đây là vụ nổ Big Bang tâm thức cuối cùng trong đạo pháp!!!

Các bạn!!!

Có thể nói, chỉ trong thời gian ngắn, chúng ta đã xuất sắc hoàn thành cơ bản giai đoạn một và một phần nhỏ của giai đoạn hai trong ba giai đoạn mà một người tu hành muốn tiến về Vô Thượng Bồ Đề phải vượt qua.

Tất nhiên, trong chúng ta có những vị đến trễ, chưa hoàn thành những phần việc mà người đi trước đã hoàn thành. Thì chúng ta đã có sẵn một tấm bản đồ hoàn hảo, tấm bản đồ đầy đủ chi tiết và những hướng dẫn cụ thể để người sau có thể y theo đó đuổi kịp người đi trước.

Tấm bản đồ và các hướng dẫn chi tiết đó là “bốn năm viết Cù Gia Tạp Luận (nay là Anh Lạc Luận) của HĐ”. Đây là những vết tích thù thắng, những chỉ dấu cụ thể, những thông điệp rõ ràng, những nhắn nhủ thắm thiết, và những công sức to lớn dành cho người đi sau!!!

Từ lâu rồi, mình vẫn thường nói đùa với các HĐ rằng: Mình học hai mươi bốn cuốn Bát Nhã để thành tựu cuốn thứ hai mươi lăm!!! (Đại Bát Nhã có 24 quyển). Lúc đó, phần lớn HĐ chúng ta nghe câu này, tưởng rằng đó chỉ là câu nói đùa cho vui... Ha ha ha ha!!! Nhưng có lẽ, bây giờ chắc các bạn có một chút manh mối về câu nói đùa này rồi chứ???!!!

Trong quá trình tiến tu các Giác Phần, chính là học Bát Nhã Trí để thành tựu cái mà Kinh gọi là Tương Tợ Bát Nhã, tức thành tựu Bồ Tát Trí, hoặc như Kinh Hoa Nghiêm gọi là học Nhất Thiết Trí để thành tựu Bồ Tát Đạo và Bồ Tát Hạnh.

Sau khi học xong mấy món trên, Bồ Tát gặp hên, ăn trúng cái giải gì không biết, mà “đột nhiên công lực thâm hậu”. Nhờ công lực này, vị ấy thành tựu Bát Nhã Trí, tức thành tựu cuốn thứ hai mươi lăm. Gọi là “Vô Sư Vô Sách Kỳ Cục Môn”. “Vô Sư Vô Sách” là do ĂN mà thành chứ không phải do HỌC mà thành!!! Ăn mà thành chứ không do học mà thành nên gọi là “Kỳ Cục Môn”. Đây là vụ nổ Big Bang tâm thức cuối cùng trong đạo pháp!!!

Thành tựu cuốn thứ hai lăm này, chẳng ăn nhập gì đến hai mươi bốn cuốn mà ta từng học. Vì thế, cuốn hai mươi lăm có tên là “Đảo Càn Khôn, Diệt U Mê Tâm Pháp” là “Vô Sư Đại Tuệ Ha Ha Ha Ha Thần Công”, là “Lý Gia Vô Địch Bất Bại Môn”!!!

Các bạn!!! Tánh mình hài hước đã quen!!! Thành tánh rồi khó bỏ!!! Ha ha ha ha!!! Mình thầm nghĩ: Nhìn cái sự tu hành trong đời này của thiên hạ, mà không trở thành kẻ hài hước, thì chẳng thà “làm quân rùa đen” có lý hơn!!!

Hàng ngày, mình vẫn thường lẩm nhẩm mấy câu hát, khi nghĩ nhớ về các bạn: “Dắt dìu nhau mà đi, đường còn nhiều gian khổ. Dắt dìu nhau mà đi, đường xa lắm người ơi!!!”

(17-06-2014)

Kỳ Cục Môn

Tác Phẩm Lý Tứ

Bát Chánh Đạo Và Mối Liên Hệ Kinh Điển

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.02.2022

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Không một tôn giáo nào có nhiều kinh điển như Phật giáo và cũng không một loại kinh điển của tôn giáo nào lại khó hiểu như kinh Phật.

Đã khó hiểu lại quá nhiều đây chính là cản ngại lớn đối với đa số Phật tử, và cũng không có một tôn giáo nào được người đời giải thích lời kinh không giống nhau nhiều như Phật pháp.

Cớ sự này thường đưa đến sự tranh biện giữa những người tu hành với nhau vì bất đồng ý kiến, tuy vậy cái được lớn nhất trong Phật đạo là tuy có sự bất đồng ý kiến nhưng lại không gây ra thù hằn hiềm khích, đó là chỗ cao quý nhất do sức mạnh kinh điển tạo ra trong lòng mỗi Phật tử.

Nói cho cùng mong muốn đầu tiên của kinh điển là giảm bớt và đưa đến triệt tiêu mọi hình thức đấu tranh, cho dù xuất phát từ nguyên nhân nào.

Vì bởi Phật giáo nhận thức đấu tranh là nguyên nhân của mọi khổ đau mà Phật đạo là đạo đưa chúng sanh đến hết khổ đau trong đời này đời sau.

Chính nhận thức khác nhau từ lời kinh mà ba thừa xuất hiện trong giáo pháp, cuối cùng những dị biệt này được đức Phật hóa giải bằng nhất thừa Phật pháp, chỗ hội quy là Vô Thượng Bồ Đề.

Đây là những nét đặc thù trong giáo pháp Thích Ca Mâu Ni. Cũng chính đặc thù này mà có lẽ cũng không một vị giáo chủ nào có nhiều danh hiệu như đức Phật. Điều đó đủ nói lên chỗ cao tột và sâu kín của giáo pháp, nhưng lại có tính phổ biến rất rộng, mười danh hiệu của Phật là sự vinh danh tối thượng của ba cõi.

Có lẽ còn rất lâu và chắc là lâu lắm mới có một sự vinh danh tương tự để chúng sanh được nhìn thấy và chiêm ngưỡng.

Nếu bát chánh đạo được coi như chiếc nôi sản sanh ra thánh quả, đồng thời cũng là môi trường sống của thánh đạo, thì ngữ ngôn của Phật giáo không vượt ra khỏi môi trường này.

Vì thế nếu một chúng sanh được sinh ra và lớn lên từ môi trường với tất cả đời sống, sinh hoạt, văn hóa, cách nghĩ suy, hay tập quán khác thì không dễ gì có thể hiểu văn hóa của một loài, mà văn hóa đó không giống thứ văn hóa mình đang thụ hưởng.

Ví như một con cá, văn hóa của nó là thứ văn hóa thủy tộc, khi nói đến chữ đi để chỉ cho sự di chuyển mà di chuyển của con cá là bơi lội thì không dễ gì con nai, một loài được sinh ra từ văn hóa sơn lâm có thể hiểu thấu đáo động từ này.

Gần gũi hơn ví như một đứa trẻ có cha mẹ là người Việt nhưng đứa trẻ đó sinh ra và lớn lên ở Mỹ, được học tập thấm nhuần văn hóa Mỹ, cho dù đứa trẻ này có bao nhiêu học hàm học vị của đất nước Mỹ, thì cũng không thể nào khi đọc một cuốn sách của người Việt có thể hiểu hết ý nghĩa của cuốn sách thuần tinh thần Việt này. Nếu cố hiểu thì nhất định hiểu sai, thậm chí sai lệch rất xa.

Muốn hiểu biết trọn vẹn chỉ một cách duy nhất là đến quê hương sản sinh ra cuốn sách và sống trong môi trường này một thời gian dài như một người dân bản xứ. Đến khi mọi sinh hoạt của đời sống từ văn hóa tình cảm ăn ngủ giống như người bản địa, thì may ra lúc đó đọc cuốn sách mới có thể lãnh hội phần nào tinh thần của cuốn sách.

Thì cũng vậy kinh điển Phật giáo và người đời tương tự như vậy. Phật dạy chúng sanh bản lai đầy đủ đức tính như một Như Lai, nhưng nhiều đời lăn lộn trong ba cõi đến bây giờ tiêm nhiễm văn hóa ba cõi. Một thứ văn hóa trái ngược với đức tính xưa thì không dễ gì lãnh hội ý nghĩa từ lời nói của cộng đồng lớn lên, và dưỡng nuôi bởi văn hóa vô lậu được mệnh danh là “thánh” này.

Ngược lại người đời càng tự hào về trí khôn ba cõi bao nhiêu càng hiểu sai thâm nghĩa của kinh bấy nhiêu, vì lời kinh không dùng cho loại trí khôn này. Nếu muốn thấu đạt, người đó phải tập sống trong môi trường sản sanh ra kinh điển đến khi nào thích nghi hoàn toàn môi trường này mới mong thấu đáo trọn vẹn lời kinh.

Vì thế người tu hành khi đọc kinh không thể hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa là điều đương nhiên. Tuy kinh là loại ngữ ngôn từ một thứ văn hóa khác, nhưng cũng không thiếu những bài kinh dùng để diễn đạt ý nghĩa cho người cõi này hiểu và phù hợp với văn hóa con người. Loại kinh này mọi người đọc có thể hiểu được, đây thường là kinh dạy căn bản tu hành.

Ví dụ như kinh dạy giữ giới, mười điều thiện, đó là những kinh dạy cách thức thiết lập một môi trường chuẩn gần giống với môi trường gốc của kinh để người đời tập sống, tập thích nghi với thứ văn hóa trong kinh, sau đó mới có thể hiểu trọn vẹn ngữ ngôn kinh điển.

Thế nhưng một khuyết điểm rất lớn đó là người đời luôn lấy trí khôn để cảm nhận lời kinh hơn là hành động thực tế. Ví dụ như kinh Thập Thiện, khi nói đến mười điều thiện thì mọi người tu hành đều đọc vanh vách mười điều này và diễn giải mới nghe qua rất thâm thúy cao siêu, nhưng trong đời sống thực tế thấm nhuần bao nhiêu phần thì phải coi lại.

Phật giáo không cần sự thuộc lòng mà cần sự ứng dụng thực tế và thâm nhập đến bao giờ nó trở thành thứ văn hóa ứng xử trong mọi hoạt động, thì bây giờ mới gọi là hiểu thâm nghĩa của thập thiện. Vì thế hai chữ “thành tựu” của Phật giáo không có gì thâm sâu huyền bí, chỉ cần làm đúng như lời kinh dạy mọi thứ sáng tỏ.

Ở đây không cần một tri thức bác học mà cần một thực tế sống, vì thế kinh thường khuyến cáo phải xa rời “danh tướng,” tức xa rời những khẩu hiệu suông mà ba cõi thường dùng để khoa trương tri thức hơn là thực chứng. Nếu nói như vậy thì người đời không thể hiểu kinh Phật hay sao?

Điều này chỉ đúng một phần, nói một phần vì Phật thuyết kinh cho người đời chứ không phải Phật thuyết kinh cho chính mình, vì thế cụm từ “Thiện Tri Thức” ra đời. Mọi người có thể hiểu nghĩa kinh với điều kiện cần có một “thông dịch viên” thông thạo ngôn ngữ kinh và hiểu rõ môn “sư phạm” của Phật giáo.  Đây là người thầy giải mã ngữ ngôn ẩn mật của kinh và dạy ý nghĩa ứng dụng như pháp vừa đúng sức lãnh hội người nghe theo từng thời điểm nhất định, kinh gọi là hợp căn hợp cơ hợp thời.

Vì thế Phật luôn luôn nhắc nhở trong kinh là phải tầm cầu, gần gũi cúng dường thiện tri thức. Cho đến như Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, Tát Đà Ba Luân trong kinh Đại Bát Nhã, tiền thân Bồ Tát đi cầu đạo trong kinh Đại Niết Bàn là những vị đã đạt đến những địa vị nhất định vẫn phải cầu thiện tri thức.

Vì vậy vai trò thiện tri thức không thể thiếu đối với người tu hành chân chính. Chữ thiện tri thức là một danh từ đặc trưng của Phật giáo, danh xưng này chỉ cho người thấu suốt thiện pháp của Phật, tức các môn giải thoát. Người này có đủ năng lực giúp chúng sinh đi đúng chánh đạo để thành tựu những điều cần thiết trong đời sống tu hành. Người có khả năng giúp ra khỏi sanh tử phiền não gọi là thiện tri thức.

Người có năng lực giúp đến Vô Thượng Bồ Đề gọi là đại thiện tri thức. Có đôi khi kinh cũng có nói hết thảy chúng sinh là thiện tri thức của Bồ Tát, đây là ngữ ngôn ẩn dụ không thể hiểu như một giáo lệnh. Câu nói này có ý nghĩa nhờ có chúng sanh mà Bồ Tát thực hành đầy đủ hạnh nguyện để viên thành vô thượng đạo chứ không phải Bồ Tát học đạo pháp từ nơi chúng sanh.

Giống như có thể nói: Nhờ có học trò mà có thầy giáo, điều này hàm ý nhờ có những người đi học mà thầy giáo không thất nghiệp, hoàn toàn không có nghĩa thầy giáo học nơi học trò mà thành tựu tri thức.

Bát chánh đạo được mệnh danh là độc đạo an ổn và bất tử như chư Thiên thường khen ngợi. Đây là con đường để đi vừa là đích đến của mọi thánh vị, vì thế tập một đời sống như bát chánh đạo là rất cần thiết nếu muốn hưởng lợi ích từ kinh điển và tu hành.

Khi nào có được môi trường phù hợp chân lý mới có một đời sống sản sinh trí tuệ phù hợp với người đi tìm chân lý. Nếu lìa xa môi trường này cầu mong thành tựu điều gì đó trong Phật đạo làm cơ sở thấu đạt kinh điển để ứng dụng tu hành là một thực tế không khả thi, giống như đứa trẻ không muốn đến trường lại mong mỏi trở thành người trí thức.

Có một điều trớ trêu trong đời khi quan sát bọn trẻ con chơi trò học tập, chúng tự lập nhóm đề cử một đứa trong bọn làm thầy cô giáo và những đứa còn lại là học trò. Bọn trẻ chơi trò học tập giống như một lớp học, cũng học tập miệt mài cũng ca hát nhảy múa, nhưng tất nhiên chúng chẳng học được điều gì ở đây vì bởi cô giáo chưa biết chữ và học trò chưa ý thức trường lớp là gì. Chúng say sưa học như vậy đến quên ăn ngủ, cũng chính những đứa trẻ này, khi đến tuổi cha mẹ đưa chúng đến trường để học thật sự thì chúng phản ứng quyết liệt, khóc la giãy nẩy coi việc đi học như một cực hình.

Điều gì lại xảy ra ở đây? Tại sao học chơi lại say mê, học thật thì không thích? Có lẽ đối với người lớn không cần phải giải thích hiện tượng này, vì bởi môi trường bè bạn sinh hoạt của việc học đùa quen thuộc với chúng và tự chúng bày ra theo sở thích.

Đây chỉ là trò đùa nên việc học tập không cần đúng sai động não tư duy, không can dự đến siêng năng hay lười biếng, và quan trọng nhất sự học ở đây chỉ là trò chơi không cần nội quy hay luật lệ. Điều làm chúng say mê vì phù hợp với bản tính phóng dật không chịu khép mình vào khuôn khổ, cả thầy lẫn trò đều phóng dật như nhau kể cả trong cách hiểu các con chữ.

Quan sát cảnh tượng này thấy có cái gì đó gần giống với một số người tu hành. Thao thao bất tuyệt với nhau về Phật pháp bằng cách say mê rao giảng lý sự theo cách hiểu riêng tư không dựa vào chuẩn mực nào dù nhỏ nhất, thậm chí coi đây mới là chân lý.

Nhìn vào thứ chân lý họ luận biện với nhau khác hẳn với gì họ thể hiện, thừa tham sân si, thiếu hẳn trí tuệ, đầy đủ phóng dật, thiếu hẳn khuôn phép, phóng dật trong lời nói lẫn ý nghĩa, giống như cô giáo giả dạy chữ học trò. Chúng giảng dạy nhau điều mình chưa biết, nếu đưa những vị này vào đời sống tu hành nghiêm túc sẽ giống những đứa trẻ kia, nhất định giãy nẩy kiếu từ với vô vàn lý do nếu cần sẽ biện minh quyết liệt chân lý không cần phải khuôn phép hay chuẩn mực như vậy!

Tóm lại, hiểu và sống theo bát chánh đạo đối với người tu hành trong Phật đạo là rất quan trọng, giống như cá với nước. Khi hai thứ này làm nhân quả cho nhau sẽ sinh ra thứ trí tuệ luôn hướng về kinh điển. Giống như người ta trồng dây khoai lang hay bầu bí rồi đem một cái thúng có khoét lỗ úp lại, thời gian sau sẽ thấy dây bầu hay bí theo cái lỗ thoát ra ngoài hướng về phía mặt trời, vì sao như vậy? Vì nhu cầu quang hợp để sống, mà nhu cầu này chỉ có thể đáp ứng từ phía mặt trời.

Người tu hành trồng cây vô lậu, tự khép mình trong bát chánh đạo, thời gian nào đó tám nhánh này sẽ trưởng thành và hướng đến huệ nhựt của chư Phật đó là kinh điển.

Đây là nhu cầu vươn tới thánh trí để tồn tại, sự vươn tới này không dừng lại vì bởi càng vươn tới càng trưởng thành, càng trưởng thành càng thấm nhuần. Khó khăn bây giờ là không được tiếp tục vươn mình vào mặt trời trí tuệ chư Phật, chứ không phải sự khó hiểu bởi ý nghĩa ngữ ngôn của một loại văn hóa khác. Vì văn hóa và ngữ ngôn mà người đời gọi là khác và khó hiểu không còn  hiện hữu trong môi trường bát chánh.

Tại sao khi thích nghi môi trường bát chánh thì kinh điển không còn xa lạ và khó hiểu nữa? Trong Phật pháp rất nhiều người hiểu 37 phẩm và tứ đế là một loại giáo khoa, còn kinh điển là loại ngữ ngôn mang ý nghĩa thâm u và dường như hai thứ này không hoặc rất ít liên hệ với nhau.

Học tứ đế và 37 phẩm giống như trả bài còn kinh điển để làm giàu ngôn thuyết, giống như hai môn tự nhiên và xã hội. Hiểu như vậy không sai nhưng nếu hiểu kinh điển là phần giải thích rộng sâu của tứ đế và 37 phẩm thì hình như thấu tình đạt lý hơn và sẽ có phương tiện ứng dụng.

Sở dĩ có bát chánh đạo là vì đây là thành quả cuối cùng của 37 phẩm, hay khác hơn bát chánh đạo là tinh hoa của 37 phẩm, cho nên trong bát chánh có đủ ý vị của 37 phẩm.

Tứ đế chính là quy trình hay linh hồn của 37 phẩm, có nghĩa 37 phẩm dựa trên tứ đế mà thành lập. Đây là công nghệ xử lý theo quy trình bốn đế cho nên pháp tư lương tương ưng khổ tập đế, kiến đạo tương ưng diệt đế, tu đạo tương ưng đạo đế.

Kinh điển chỉ là hình thức giảng giải cho ba thừa hiểu rõ bốn đế và 37 phẩm, tùy theo địa vị mà có lúc giảng rộng có lúc giảng sâu. Có thể phân chia kinh điển Phật giáo theo các nhóm rộng sâu như sau:

• Nhóm kinh thuộc thế pháp.

Nhóm kinh này gồm các kinh giáo phàm phu từ nhân thừa lên thiên thừa như nhóm giảo lượng công đức, ngũ giới, thập thiện, và các kinh tương ưng chư thiên. Nhóm kinh này không đề cập nhiều đến tri kiến giải thoát, nếu có đề cập chỉ giới thiệu sơ lược. Nhóm này nói nhiều về khổ thế gian và thiên giới là cảnh giới tốt đẹp, khuyến khích người đời làm lành lánh dữ, bỏ ác theo thiện, tập bố thí cúng dường coi như tích phước đời sau.

• Nhóm kinh giáo nhị thừa.

Nhóm kinh này phần lớn nằm trong tạng Nikaya, nhóm kinh này thuyết minh đầy đủ bốn đế và 37 phẩm theo phong cách giáo nhị thừa là cặn kẽ, chia chẻ, và đặt niềm tin tuyệt đối vào thánh pháp và thánh luật. Quả chứng tiêu biểu trong tạng này là A La Hán.

• Nhóm kinh giáo Bồ Tát quyền thừa

Nhóm kinh này nâng tri kiến Thanh Văn lên một tầm cao hơn cùng thuyết chung Bồ Tát quyền thừa. Phần lớn kinh này ít nói đến khổ, đặt nặng tập nhân, chỉ ra tâm mê là đầu mối mọi sai lầm gọi là đế. Trong bốn đế nói một phần khổ, triển khai ý nghĩa của tập, chú trọng nhiều đến diệt đế, giới thiệu sơ lược đạo đế, về 37 phẩm đào sâu pháp tư lương và kiến đạo, đặt nặng phần giác ngộ và tu chứng của thất giác chi.

Nhóm này gồm các kinh tiêu biểu trong hệ phương đẳng như Thủ Lăng Nghiêm, Lăng Già, một phần Đại Bát Nhã. Nhóm kinh này ra đời giải quyết hai tướng là ngã tướng và nhân tướng, giới thiệu chúng sanh tướng và thọ giả tướng nhưng chưa đưa ra phương hướng trừ sạch hai tướng này, có thể nói nôm na đây là giai đoạn minh tâm (tâm trong sạch hết cấu uế).

• Nhóm kinh giáo chung nhị thừa và Bồ Tát quyền thừa.

Đưa ba thừa vào chuẩn chung là tâm sinh pháp sau đó tách tâm pháp khỏi nhau (phi), đề ra phương hướng làm sạch tâm bằng thân chứng pháp vô ngã thông qua con đường của nghĩa không thuộc hệ Bát Nhã. Nhóm kinh này đặt nặng diệt đế và đạo đế, về 37 phẩm đào sâu thất giác chi và bát chánh đạo.

Nhóm này có các kinh tiêu biểu như Đại Bát Nhã, một phần Lăng Già. Nhóm này có khuynh hướng giải quyết hai tướng còn lại là chúng sanh tướng và thọ giả tướng. Có đề ra phương hướng giải quyết hai tướng này, đây là tiền đề bước vào giai đoạn kiến tánh.

• Nhóm kinh giáo Bồ Tát nhất thừa.

Hệ kinh này tên ba thừa không còn, giống như các con sông khi vào biển lớn mất tên riêng.  Kinh này đề cập phần ít về tập đế, quảng diễn rộng sâu đạo đế thông qua hình thức nhất thiết trí. Nhóm kinh này thuộc hệ phương quảng tuyên thuyết bát chánh đạo của Bồ Tát và Bồ Tát nhất thừa.

Các kinh tiêu biểu như Pháp Hoa, một phần Đại Bát Nhã, Viên Giác, Đại Bảo Tích. Các kinh này đào sâu sáu Ba La Mật, giới thiệu các tự môn làm tiền đề để viên mãn nhất thiết trí. Nhóm kinh này làm sạch tuyệt đối bốn tướng, thành tựu rốt ráo hai không là nhân không và pháp không vào hẳn địa vị kiến tánh.

Riêng kinh Hoa Nghiêm thuộc hệ phương quảng nhưng đặc trưng kinh này là pháp lệnh giáo dục của châu kỷ Thích Ca Mâu Ni các Đại Bồ Tát đều phải học và y đây thi hành. Có thể coi đây là giáo trình khung, khi giảng dạy các Bồ Tát phải căn cứ trên các cấp học và bậc học (thập trụ, thập tín, thập nguyện, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa) của kinh để giáo dạy ba cõi trên khung sườn bốn đế.

Tùy điều kiện thực tế của mỗi địa phương và năng lực học sinh, thầy giáo có thể giảng dạy bằng các phương pháp khác nhau gọi là hợp căn hợp cơ hợp thời. Có thể chia 37 phẩm một cách linh hoạt không bó buộc tiết dạy, giáo dạy bằng hình thức như vậy gọi là khế kinh.

Kinh này giúp Bồ Tát viên mãn thập Ba La Mật. Đặc tính của kinh này là hướng Bồ Tát vào địa vị kiến Phật tánh, tức thấy hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Giống như người thợ điêu khắc thấy tượng Phật ẩn chứa trong các gốc cây, người thợ điêu khắc thiện xảo sẽ đẽo gọt bất kỳ gốc cây nào cũng thành thánh tượng mà người đời không thể làm được.

Cho nên hàng Bồ Tát thấu suốt kinh này dạy người không phi thời, từ một phàm phu có thể đẽo gọt thành thánh nhân chỉ vì thấy được Phật tánh trong mỗi chúng sanh. Vì thế theo lịch sử khi vừa thành Đẳng Chánh Giác, Phật chưa vội rời cội Bồ Đề mà Phật tập hợp các vô vi Bồ Tát giảng nói kinh này.

Trước khi nhập Đại Niết Bàn một lần nữa Phật tuyên nói: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh,” và trong kinh Đại Niết Bàn Phật có gởi đi thông điệp: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân, sau khi thọ thực Bồ Tát nhập Kim Cang tam muội tiêu hóa thức ăn biến nhục thân thành Kim Cang thân, thấy Phật tánh thành đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.”

Vì vậy Phật là đấng Điều Ngự Trượng Phu hay có thể nói là Đại Điêu Khắc sư vậy.

Trong phạm vi bài luận chỉ có thể khái quát các nhóm kinh để thấy được mối liên hệ giữa kinh điển và các đề mục giáo khoa, nhằm tránh hiểu lầm có một tứ đế và 37 phẩm riêng và một hệ thống kinh điển riêng lẻ.

Thực tế để thấu suốt các nhóm kinh và những kinh nào thuộc nhóm nào, dạy cái gì cần có thời gian đọc tụng thẩm thấu các loại kinh Phật mới có thể hình dung một cách trọn vẹn. Nhiều khi trong một cuốn kinh lại có bóng dáng của nhiều nhóm và giáo dạy nhiều tầng bậc, nên khi chia nhóm chỉ mang tính tượng trưng để dễ tìm hiểu đọc tụng hơn là xác định chính thức nhóm kinh.

Vì đặc trưng của Phật giáo là đạo nhất thừa, hai ba thừa chỉ là quyền phương tiện nên hầu như bài kinh nào Phật cũng để vị nhất thừa trong đó, chỉ vì người đọc có nhận ra hay không mà thôi, giống như gốc cây nào đối với thợ điêu khắc thiện xảo đều có hình tượng tốt đẹp trong đó nhưng người thường chỉ thấy đó là gốc cây. Giống như viên ngọc quý tự thân không màu, nhưng khi có chút ánh sáng lại chiếu đủ các màu chỉ vì người nhìn không hết.

Kinh Phật cũng như thế, viên ngọc Thích Ca Mâu Ni không màu nhưng khi chiếu vô vàn ảnh tượng, đó là sự kỳ bí của thế giới hoa tạng, chỉ có Đại Bồ Tát mới may ra hiểu thấu vài phần trong pháp lệnh giáo dục vô tướng này.

Nói đến bát chánh đạo hay 37 phẩm mà tượng trưng là chánh tri kiến không phải nhằm định nghĩa chánh tri kiến là cái gì, giống như kiểu định nghĩa của từ điển.

Chánh tri kiến của Phật giáo là xác định sự thấy biết có chỉ thú, không phải sự thấy biết của mông muội hay như thế gian hiểu Phật pháp.

Xác định con đường sẽ đi qua, phương hướng mục tiêu sẽ đến, thuận lợi và khó khăn trong toàn bộ hành trình. Biết như thật những điều này gọi là chánh tri kiến.

Đây là kim chỉ nam của kinh điển, là hoa trái đầu tiên của 37 phẩm và đạo của đạo đế nên chánh tri kiến chính là mắt sáng của người đi đường, là ngọn đuốc trong đêm, là trí tuệ của Phật pháp.

Dưới đây là đoạn trích trong kinh Hoa Nghiêm, xin giới thiệu như một phần nhỏ pháp lệnh giáo dục của Thích Ca Mâu Ni, Đại Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi tuyên đọc giáo trình chuẩn:

“Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Ðại Bồ Tát bảo chư Bồ Tát rằng: “Chư Phật tử! Khổ Thánh Đế, trong cõi Ta Bà này, hoặc gọi là tội, là bức ngặt, là biến dị, là phan duyên, là nhóm, là đâm, là căn tựa, là hư dối, là chỗ nhọt ghẻ, là kẻ ngu si.

Chư Phật tử! Khổ Tập Thánh Đế, cõi Ta Bà này, hoặc gọi là trói buộc, là diệt hoại, là ái trước, là vọng-niệm, là thú nhập, là quyết định, là lưới, là hí luận, là tùy hành, là gốc điên đảo.

Chư Phật tử! Khổ Diệt Thánh Đế, cõi Ta Bà này, hoặc gọi là Vô tránh, là ly trần, là tịch tịnh, là vô tướng, là vô một, là vô tự tánh, là vô chướng ngại, là diệt, là thể chơn thật, là trụ tự tánh.

Chư Phật tử! Khổ Diệt Ðạo Thánh Đế, cõi Ta Bà này, hoặc gọi là Nhứt Thừa, là thú tịch, là đạo dẫn, là cứu cánh vô phân biệt, là bình đẳng, là xả đảm, là vô sở thú, là tùy thánh ý, là tiên nhơn lành, là thập tạng.

Chư Phật tử! Nơi cõi Ta Bà này nói về tứ thánh đế có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, theo tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục.

Chư Phật tử! Như cõi Ta Bà này nói về khổ thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là doanh cầu căn, là bất xuất ly, là hệ phược bổn, là làm điều không nên làm, là khắp tranh đấu, là phân tích đều vô lực, là chỗ để tựa, là cực khổ, là tháo động, là hình trạng vật.

Chư Phật tử! Về khổ tập thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là thuận sanh tử, là nhiễm trước, là đốt cháy, là lưu chuyển, là gốc bại hoại, là mối hữu lậu, là ác hạnh, là ái trước, là nguồn bịnh, là phân số.

Chư Phật tử! Về Khổ diệt thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là đệ nhất nghĩa, là xuất ly, là tán thán, là an ổn, là thiện thú nhập, là điều phục, là nhứt phần, là vô tội, là ly tham, là quyết định.

Chư Phật tử! Về khổ diệt đạo thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là mãnh tướng, là thượng hạnh, là siêu xuất, là hữu phương tiện, là bình đẳng nhãn, là ly biên, là liễu ngộ, là nhiếp thủ, là tối thắng nhãn, là quán phương.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở thế giới Mật Huấn có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh để khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Về khổ thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là khủng bố, là phần đoạn, là khả yểm ố, là phải thừa sự, là biến dị, là chiếu dẫn oan, là hay khi đoạt, là khó cộng sự, là vọng phân biệt, là có thế lực.

Chư Phật tử! Về khổ tập thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là bại hoại, là si căn, là đại oan, là dao bén, là dứt mùi vị, là cừu thù, là chẳng phải vật của mình, là ác đạo dẫn, là thêm đen tối, là hư lợi lành.

Chư Phật tử! Về khổ diệt thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là đại nghĩa, là nhiêu ích, là nghĩa trung nghĩa, là vô lượng, là chỗ phải thấy, là ly phân biệt, là tối thượng điều phục, là thường bình đẳng, là khả đồng trụ, là vô vị.

Chư Phật tử! Về khổ diệt đạo thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là hay đốt cháy, là tối thượng phẩm, là quyết định, là vô năng phá, là thâm phương tiện, là xuất ly, là bất hạ liệt, là thông đạt, là giải thoát tánh, là năng độ thoát.

Chư Phật tử! Ở thế giới Tối Thắng, về tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về khổ thánh đế, hoặc gọi là hối hận, là tư đãi, là triển chuyển, là trụ thành, là nhứt vị, là phi pháp, là cư trạch, là chỗ vọng trước, là thấy hư vọng, là không có số.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là vật không thật, là chỉ có lời nói, là chẳng trong trắng, là sanh địa, là chấp thủ, là bỉ tiện, là tăng trưởng, là gánh nặng, là hay sanh, là thô rắn.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là vô đẳng đẳng, là khắp trừ sạch, là ly cấu, là tối thắng căn, là xưng hội, là không tư đãi, là diệt hoặc, là tối thượng, là tất cánh, là phá noãn.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là vật kiên cố, là phương tiện phần, là giải thoát bổn, là bổn tánh thật, là chẳng thể chê mắng, là rất thanh tịnh, là mé hữu lậu, là toàn nhận gởi, là làm rốt ráo, là tịnh phân biệt.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở Phong Dật thế giới, về khổ thánh đế, hoặc gọi là chỗ ái nhiễm, là gốc hiểm hại, là phần biển hữu lậu, là chứa nhóm lên, là gốc sai biệt, là tăng trưởng, là sanh diệt, là chướng ngại, là cây đao gươm, là số làm thành.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là đáng ghét, là danh tự, là vô tận, là phân số, là chẳng đáng ưa, là hay chụp cắn, là vật thô bỉ, là ái trước, là khí cụ, là dao động.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là dứt tương tục, là khai hiển, là vô văn tự, là vô sở tu, là vô sở kiến, là vô sở tác, là tịch diệt, là đã đốt sạch, là xả trọng đảm, là đã trừ hoại.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là hạnh tịch diệt, là hạnh xuất ly, là siêng tu chứng, là đi an ổn, là vô lượng thọ, là khéo rõ biết, là đạo cứu cánh, là khó tu tập, là đến bờ kia, là vô năng thắng.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về tứ thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm chúng sanh, khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ thánh đế, hoặc gọi là hay cướp dựt, là bạn chẳng lành, là nhiều khủng bố, là những hí luận, là địa ngục tánh, là không thật nghĩa, là gánh tham dục, là gốc sâu nặng, là tùy tâm chuyển, là bổn trống rỗng.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là tham trước, là ác thành biện, là quá ác, là tốc tật, là hay chấp thủ, là tưởng, là có quả, là vô khả thuyết, là vô khả thủ, là lưu chuyển.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là bất thối chuyển, là ly ngôn thuyết, là vô tướng trạng, là khả hân lạc, là kiên cố, là thượng diệu, là ly si, là diệt tận, là viễn ác, là xuất ly.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là ly ngôn, là vô tránh, là giáo đạo, là thiện hồi hướng, là đại thiện xảo, là sai biệt phương tiện, là như hư không, là tịch tịnh hạnh, là thắng trí, là năng liễu nghĩa.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở Nhiếp Thủ thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh, khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về khổ thánh đế, hoặc gọi là trọng đảm, là chẳng bền, là như giặc, là lão tử, là ái sở thành, là lưu chuyển, là mệt nhọc, là tướng trạng ác, là sanh trưởng, là dao bén.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là bại hoại, là hỗn trược, là thối thất, là vô lực, là tang thất, là oai vi trần, là bất hòa hợp, là sở tác, là thủ, là ý dục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là xuất ngục, là chơn thật, là ly nạn, là phúc hộ, là ly ác, là tùy thuận, là căn bổn, là xả nhơn, là vô vi, là không tương tục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là đạt vô sở hữu, là nhứt thiết ấn, là tam muội tạng, là đắc quang minh, là bất thối pháp, là năng tận hữu, là quảng đại lộ, là năng điều phục, là hữu an ổn, là gốc bất lưu chuyển.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở thế giới Nhiêu Ích, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Tiển Thiểu, về khổ thánh đế, hoặc gọi là hiểm lạc dục, là chỗ hệ phược, là tà hạnh, là tùy thọ, là vô tâm sĩ, là tham dục căn, là hằng hà lưu, là thường phá hoại, là tánh khói lửa, là nhiều ưu não.

Chư Phật tử! Ở thế giới Tiển Thiểu, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là quảng địa, là năng thú, là viễn huệ, là lưu nạn, là khủng bố, là phóng dật, là nhiếp thú, là trước xứ, là trạch chủ, là liên phược.

Chư Phật tử! Ở Tiển Thiểu thế giới, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là sung mãn, là bất tử, là vô ngã, là tự tánh, là phân biệt tận, là an lạc trụ, là vô hạn lượng, là đoạn luân chuyển, là tuyệt hành xứ, là bất nhị.

Chư Phật tử! Ở Tiển Thiểu thế giới, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là đại quang minh, là diễn thuyết hải, là giản trạch nghĩa, là hòa hiệp pháp, là ly thủ trước, là đoạn tương tục, là quảng đại lộ, là bình đẳng nhơn, là tịnh phương tiện, là tối thắng kiến.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở Tiển Thiểu thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ thánh đế, hoặc gọi là lưu chuyển, là xuất sanh, là thất lợi, là nhiễm trước, là trọng đảm, là sai biệt, là nội hiểm, là tập hội, là ác xá trạch, là khổ não tánh.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là địa, là phương tiện, là phi thời, là phi thật pháp, là vô để, là nhiếp thủ, là ly giới, là phiền não pháp, là hiếp liệt kiến, là cấu tụ.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là phá y chỉ, là bất phóng dật, là chơn thật, là bình đẳng, là thiện tịnh, là vô bịnh, là vô khúc, là vô tướng, là tự tại, là vô sanh.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỉ, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là nhập thắng giới, là đoạn tập, là siêu đẳng loại, là quảng đại tánh, là phân biệt tận, là thần lực đạo, là chúng phương tiện, là chánh niệm hạnh, là thường tịch lộ, là nhiếp giải thoát.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở Hoan Hỉ thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Quan Thược, về khổ thánh đế, hoặc gọi là bại hoại tướng, là như phố khí, là ngã sở thành, là chư thú thân, là sát lưu chuyển, là chúng ác môn, là tánh khổ, là khả khí xả, là vô vị, là lai khứ.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là hành, là phẩn độc, là hòa hiệp, là thọ chi, là ngã tâm, là tạp độc, là hư xưng, là oai vị, là nhiệt não, là kinh hãi.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là vô tích tập, là bất khả đắc, là diệu dược, là bất khả hoại, là vô trước, là vô lượng, là quảng đại, là giác phần, là ly nhiễm, là vô chướng ngại.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là an ổn hạnh, là ly dục, là cứu cánh thật, là nhập nghĩa, là tánh cứu cánh, là tịnh hiện, là nhiếp niệm, là thu giải thoát, là cứu tế, là thắng hạnh.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở Quan Thược thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về khổ thánh đế, hoặc gọi là dấu lỗi, là thế gian, là sở y, là ngạo mạn, là tánh nhiễm trước, là dòng chảy mau, là chẳng vui được, là che dấu, là mau diệt, là khó điều.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về khổ tập thánh đế, hoặc gọi là cần chế phục, là tâm thú, là năng phược, là tùy niệm khởi, là đến hậu biên, là cộng hòa hiệp, là phân biệt, là môn, là phiêu động, là ẩn che.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về khổ diệt thánh đế, hoặc gọi là vô y xứ, là bất khả thủ, chuyển hườn, là ly tránh, là tiểu, là đại, là thiện tịnh, là vô tận, là quảng bác, là vô đẳng giá.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về khổ diệt đạo thánh đế, hoặc gọi là quan sát, là năng tồi địch, là liễu tri ấn, là năng nhập tánh, là nan địch đối, là vô hạn nghĩa, là năng nhập trí, là hòa hiệp đạo, là hằng bất động, là thù thắng nghĩa.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở Chấn Âm thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Như cõi Ta Bà này nói tứ thánh đế có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu, cũng vậy, mười phương tất cả vô lượng, vô biên, bất khả thuyết thế giới, tận pháp giới hư không giới, trong mỗi thế giới nói tứ thánh đế đều có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục.”[[1]]

Các hệ kinh trong Phật giáo nói gì?

Khi đọc kinh thắc mắc thường vấn vương trong lòng người đọc là cùng một vấn đề ở bài kinh này thì xác định, nhưng trong kinh khác lại phủ định, lúc nói rằng có lúc bảo không.

Những thắc mắc thường trực này làm người đọc cảm thấy khó hiểu và nản lòng, giống như đứng giữa ngã tư đường lúc bảo đi đường này lúc bảo đi đường kia.

Ví dụ như trong kinh giáo Thanh Văn thì nói phải yểm ly ngũ ấm để các khổ uẩn này chấm dứt, nhưng trong kinh Đại Bát Nhã thì lại bảo ngũ uẩn giai không, hoặc chuyện cái ngã lúc nói có lúc nói không, các pháp cũng như vậy.

Phải hiểu như thế nào mới đúng, hàng loạt vấn đề xuất hiện trong kinh, sự thật các điều này ra sao?

Trong chừng mực nào đó, Phật giáo là tiến trình tu hành có thứ lớp, mang tính giáo khoa từ thấp lên cao, tùy cấp lớp mà một vấn đề được giảng dạy khác nhau. Còn nhớ ngày xưa khi học tiểu học thì hai đơn vị khác nhau không được làm phép trừ, ví như ba con gà không thể trừ hai con vịt, nhưng khi lên trung học thì hai nhóm đơn vị này có thể trừ nhau; hoặc cấp tiểu học, số nhỏ không thể trừ số lớn, ví như ba không thể trừ năm, nhưng lên trung học thì phép tính này được công nhận.

Phật giáo cũng có một vài phần tương tự, khi giáo Thanh Văn thừa thì mọi thứ phải cụ thể, ngũ ấm được phân tích tỉ mỉ chia chẻ thứ lớp trước sau gồm sắc thọ tưởng hành thức và phải thứ tự yểm ly từng món một.

Nhưng giáo Bồ Tát thì ngược lại, đồng là ngũ ấm nhưng Phật chỉ nói hai món thân (sắc) tâm (thọ tưởng hành thức).

Khi quán thân thì không dạy yểm ly mà lại dạy quán thân đồng như hư không, quán tâm chỉ có danh tự, tánh danh tự rỗng không, khi phép quán thành tựu lại được kết luận ngũ uẩn giai không.

Ngã cũng vậy, với Thanh Văn phải xác định là món thật có cần phải yểm ly các pháp để ngã không hiện.

Khi giáo Bồ Tát thì phải quán sát chúng sanh không tâm không ngã.

Vì sao lại có sự trái ngược này?

Thật ra Phật giáo không hề chủ trương bảo rằng có hay không, nói có không chỉ vì chúng sanh chấp nhất khác nhau nên bày phương tiện để phá bỏ tâm chấp nhất này.

Tùy căn cơ mà nói có nói không, nói có mà hết khổ thì có là pháp lành, nói không mà chấm dứt khổ đau thì không này là thiện pháp.

Phật như vị lương y tùy bệnh cho thuốc, khi lành bệnh thì thuốc kia vô dụng. Thành ra chuyện có không trong Phật giáo như mộng ảo, khi nào thấu suốt giáo pháp mới biết đích thực là có hay không. Trong  các kinh phương tiện thì có không đều bất liễu nghĩa, tùy thừa, tùy căn cơ mà lập bày chẳng phải Phật giáo bất nhất.

Chuyện có không cũng có thể hiểu theo cách sau: Ví như một đại dịch đang hoành hành nhân loại, tổ chức y tế thế giới kêu gọi mọi nước thành viên của mình tích cực chống dịch. Với người dân hay trường học phải thuộc lòng cách thức tự bảo vệ bằng các biện pháp cá nhân: Ra ngoài phải đeo khẩu trang, không đến vùng có dịch, tránh xa chỗ đông người, thường xuyên vệ sinh cá nhân, khi thân nhiệt lên cao phải đến ngay cơ sở y tế. Những bài học cụ thể này giống như kinh bất liễu nghĩa giáo Thanh Văn thừa, người nghe chỉ cần tuân thủ các quy định trên thì sẽ vô hại đối với đại dịch.

Nhưng với cơ quan y tế như các y bác sĩ thì lại học cách khác, khi địa phương có bệnh phải phun thuốc dập dịch, ứng cứu kịp thời, bệnh nhân phải được cách ly, điều trị theo phác đồ, nếu dịch bùng phát phải lập bệnh viện dã chiến. Những cách điều trị này như kinh phương đẳng giáo Bồ Tát thừa, thuộc lãnh vực chuyên môn điều trị bệnh khổ cho chúng sanh.

Nhưng những nhà khoa học của ngành y thì không như thế, họ thấy rất rõ con vi khuẩn truyền bệnh, biết loại vi khuẩn này xuất xứ từ đâu, chủng hiện nay tái cấu trúc bằng tổ hợp những chủng nào, tìm kiếm loại vắc xin có thể tiêu diệt chúng và đề ra biện pháp phòng trị tối ưu, hay cách thức tuyên truyền. Phần này giống như kinh phương quảng, ở đây không còn là giáo cho người học mà là những bậc thầy về lãnh vực này. Phòng chống dịch đối với họ là nghiên cứu các cách thức phòng chống và đề ra phương pháp phòng dịch cho nhân loại, thấy biết của họ rất rõ và thấu suốt nguồn cơn.

Đồng là phòng chống dịch nhưng ba trình độ khác nhau, chức năng khác nhau nên ba hiểu biết và cách thức thực hiện khác nhau. Chẳng may anh nông dân đọc được tài liệu chống dịch của hai trình độ kia thì thấy bất nhất trong vấn đề, lúc lại bảo thế này lúc lại bảo thế kia.

Thì cũng vậy trước đại dịch phiền não sanh tử, Thanh Văn, Bồ Tát, và Đại Bồ Tát có ba cách thức phòng chống khác nhau tùy địa vị và chức năng, không thể bảo con vi khuẩn có hay không, có với những nhà khoa học còn anh nông dân thì không, không thể bảo rằng có (con vi khuẩn) sao mình không thấy?

[[1]] Trích kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Tứ Thánh Đế -HT Thích Trí Tịnh dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Phẩm Hư Không Mục (Tứ Thiền)

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Trao đổi ngắn với một số HĐ về ý nghĩa của các tầng bậc Thiền Định trong Phật Đạo.

Các bạn!!!

Hôm trước, mình có cuộc trao đổi ngắn với một số HĐ về ý nghĩa của các tầng bậc Thiền Định trong Phật Đạo.

Kinh Đại Bảo Tích, Quyển 9, phẩm Hư Không Mục, Thế Tôn có đề cập đến Tứ Thiền theo ý nghĩa Thanh Văn Thừa. Trong đó, lời kinh có nói rằng:

“Sơ Thiền gồm xa lìa và cụ túc”.(1)

Xa lìa: Là xa lìa Ngũ triền cái.

Cụ túc: Là đầy đủ năm chi (Giác; Quán; Hỷ; An và Định)

Mình xin hỏi các bạn một vài điều có tính mở rộng, mở rộng này dựa vào cảnh giới “Xuất Thế Gian Thiền” được nâng cấp từ văn cú của đoạn kinh đã trích ở trên.

Phần trả lời mở rộng, chúng ta không căn cứ trên nghĩa Nhị thừa như những gì trong kinh đã dạy. Mà đây là các câu hỏi mang nhiều “ý nghĩa về mặt kỹ thuật cấp cao” của một người thâm đạt “các cảnh giới Thiền”.

Có nghĩa, điều mình sắp hỏi, nằm trong kinh nghiệm thực tế tu tập của những vị đã Giác Ngộ, những vị này không còn bị bức bách bởi “Ngũ Triền Cái”. Cũng như họ đã từng thẩm sát ý nghĩa hai chữ “Cụ Túc” trên phương diện của một Tam Muội.

1. Các Câu Hỏi Về… “THIỀN ĐỊNH CHUYÊN SÂU”

 (1) Khi vào Sơ Thiền đối với vị đã Giác Ngộ, thì hai phần cần có của Sơ Thiền là: “Xa lìa và Cụ túc”. Hai phần này cần được giải thích như thế nào để đúng với ý nghĩa “Xuất Thế Gian Thiền” (Câu trả lời không dựa vào cách giải thích trên quan điểm Nhị Thừa, cũng không dựa vào “Thiền ngữ Có, Không”)???

(2) Sơ Thiền có năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, định. Đối với người đã Giác Ngộ, thì tầm, tứ trong giai đoạn này là tầm tứ những gì, và ý nghĩa của tầm tứ này phải hướng đến mục tiêu như thế nào, mới được coi là hợp lý trên ý nghĩa Xuất Thế Gian Thiền??? (Tầm, Tứ = Giác, Quán).

(3) Hỷ, Lạc trong Sơ Thiền của Bồ Tát đã Giác Ngộ do cái gì sanh??? Hỷ, Lạc trong Sơ Thiền của Nhị Thừa, còn trong thế gian do cái gì sanh??? (Nhị Thừa = Thanh Văn và Duyên Giác Thừa).

(4) Nhị Thiền có ba chi hỷ, lạc, định.(2) Hỷ lạc này do Định sanh. Như vậy, trong Sơ Thiền, bạn phải dùng kỹ thuật Giác Quán như thế nào (Thế nào là Giác, thế nào là Quán), để Giác Quán này có thể tịch diệt mà vào Nhị Thiền rồi từ đó mới có được Định sanh Hỷ Lạc???

(5) Xin bạn cho biết, sự khác biệt giữa Tứ Thiền của Nhị Thừa (chưa Giác Ngộ), và Tứ Thiền Bồ Tát (đã Giác Ngộ) là như thế nào về phương diện kỹ thuật thực hành???

Rất mong nhận được nhiều kiến giải sâu sắc, mang đậm sở chứng và thấu suốt kỹ thuật thiền định cao cấp từ Các bạn!!!

Các câu hỏi và trả lời, được coi là một trong những “Học Phần Cơ Bản” của “Giáo Trình Nhất Thiết Trí” gồm lý thuyết và thực hành, vị lai chúng ta phải hoàn thành nếu HĐ muốn tiếp tục hành trình “tiến tu trí tuệ” để vào Nhất Thừa  Đạo!!!

Xin tặng các HĐ hai câu đối gồm cả Lý và Sự:

“Lý Viên Dung Diệu Pháp. Tứ Thâm Đạt Tâm Tông...”(3)

(29-05-2014)

2. BỨC PHÁ NGOẠN MỤC… “GIẢI QUYẾT TÂM NÀY…” VÀ… “THÀNH TỰU TRÍ TUỆ”

Các bạn!!!

Tu hành trong Phật Đạo, nói ra thì nhiều thứ.

Nhưng tựu trung chỉ có hai điều, đó là:

- Giải quyết tâm này.

- Thành tựu trí tuệ.

Giải quyết “Tâm”.

Đây là phần việc của Ba Thừa, phần việc này đưa đến "tự cứu là chính". Nói theo kinh, đó là phần tự độ.

Cho đến giờ phút này, phần lớn HĐ chúng ta cơ bản biết rõ cái gì là tâm, cũng đã nắm vững kiến thức để điều phục tâm này. Một khi biết rõ cái gì là tâm, nắm vững kiến thức cơ bản, nhất định vị lai có thể ứng dụng kiến thức này để xoay sở tự cứu bản thân.

Tuy tâm là cái gì khó hiểu, trừu tượng, nhưng khi biết rõ về nó, và nắm vững kiến thức cơ bản của Phật Đạo, việc giải quyết nguồn tâm chẳng mấy khó khăn. Khi giải quyết xong, mới biết rằng tâm tuy bao la, nhưng nó lại hữu hạn. Bao la nhưng có giới hạn thì, nếu khéo giải quyết, đối với kẻ trí không phải là việc quá khó khăn.

Vì thế trong Phật sử, không ít những Phật Tử chỉ nhân một đoạn kinh, một lời thuyết... Đã có thể giải quyết rốt ráo việc này. Ví dụ như Ngài Kiều Trần Như, Ngài Xá Lợi Phất, Mã Thắng Tỳ Kheo... Cho đến Chư Tổ có Y Bát. Nói chung có vô số, vô số Phật Tử đã làm được điều này không mấy khó khăn, trong kinh thường đề cập đến.

Thành tựu “Trí tuệ”.

Trong khi tâm hữu hạn, thì trí tuệ của Phật Đạo lại là vô hạn. Chính cái vô hạn này, mà Phật đã ví những điều Phật nói ra như nắm lá trong lòng bàn tay, còn những gì Phật biết như số lượng lá trong một rừng cây.

Muốn thành tựu “cái vô hạn” thật không dễ. Ngoài những điều căn bản như “số lượng lá trong lòng bàn tay” người tu hành cần phải biết, cần phải nắm vững. Nó đòi hỏi người tu hành cần có “một sự bức phá ngoạn mục” nào đó trong cuộc đời tu hành để đi về “phía rừng cây”!!!!!!

Nếu không có sự bức phá, không thoát ra khỏi cái hữu hạn của số lá trong lòng bàn tay, thì việc tìm đến cái vô hạn của rừng cây là chuyện khó có thể thực hiện.

Sự bức phá ngoạn mục để tìm đến cái vô hạn, đòi hỏi người bức phá phải có một khả năng tư duy sắc bén và một cơ trí vượt thoát. Khả năng này, ra ngoài sự tầm thường của một trí não tầm thường. Điều này, trong Tâm Pháp, Lý Tứ khái quát bằng mấy chữ hài hước: “Dị nhân dị tuệ”.

Các bạn!!!

Các câu hỏi mình nêu lên cho HĐ trong đợt này không ngoài chuyện giúp chúng ta cùng nhau bức phá, để hy vọng mai này có thể chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ.

Muốn chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ trong Phật Đạo, như mình nói ở phần trên, đó là: Chúng ta cần một “sự bức phá ngoạn mục để tìm đến cái vô hạn, nó đòi hỏi người bức phá phải có một khả năng tư duy sắc bén và một cơ trí vượt thoát. Điều này ra ngoài sự tầm thường của một trí não tầm thường...”.

Trí tuệ trong Phật Đạo, các bạn có thể hình dung nó là “một loại kỹ năng mềm”. Muốn thành tựu “kỹ năng mềm” chúng ta phải biết tận dụng tất cả mọi điều kiện có được để quan sát, học tập và tư duy.

 Kỹ năng mềm, không lệ thuộc nhiều vào kiến thức cơ bản, mà nó là “sự thấu thoát” từ mỗ̃i mỗ̃i pháp. Nếu chúng ta cứ khư khư dựa trên kiến thức cơ bản để quan sát tư duy, mà không tìm thấy sự thấu thoát ngay hiện tiền này trong mỗ̃i pháp. Thì đôi lúc kiến thức cơ bản lại là “sở tri chướng” làm cản ngại sự vận dụng linh hoạt để có được một “kỹ năng mềm” như mong muốn!!!

Điều này được Lục Tổ Huệ Năng minh họa bằng một câu rất chi lý thú: “Hoạt dụng hết thảy chỗ, mà không vướng mắc mỗi chỗ...”

Trên đây là một vài tâm tình, thay những trăn trở khi gởi mấy câu hỏi đến HĐ. Rất mong nhận được những câu trả lời thấu thoát từ “những bức phá ngoạn mục” của các HĐ!!!

(30-05-2014)

3. PHÂN TÍCH… GỢI Ý

Sáng nay, nhân gặp một số HĐ. Mình có trao đổi rất cụ thể về ý nghĩa của:

  • Thế nào là “xa lìa” và “cụ túc” của bậc Giác Ngộ.

  • Thế nào là “Giác Quán” của ba thừa.

  • Kỹ thuật và cơ sở Giác Quán của Nhất Thừa (Bậc chánh chơn Giác Ngộ).

  • Công dụng và những sai khác về Giác Quán của ba thừa và nhất thừa.

  • Mối liên hệ giữa năm chi của sơ thiền và Thất Bồ Đề Phần.

  • Con đường tiến về Đạo Đế sau khi đã viên mãn Giác Quán trên tinh thần Thất Giác Chi.

  • Thế nào là “quân bình Giác Quán” theo tinh thần Kinh Viên Giác.

  • Vì sao Thiền Na sanh sau khi Giác Quán đã quân bình.

  • Mối liên hệ hữu cơ của Thiền Na và Đại Niết Bàn.

  • Ý nghĩa của Minh Xúc và Phi Minh Phi Vô Minh Xúc trong cảnh giới sơ thiền và nhị thiền.

  • Thế nào là Thể Nhập Đại Đạo thông qua con đường Giác Quán của Bồ Tát Nhất Thừa, mà mình tạm gọi là “đi về phía khu rừng”.

  • Thế nào là thấu rõ kinh tạng, vai trò của Giác Quán trong việc thấu rõ kinh tạng.

  • Thế nào là Thống Lý Đại Chúng, dưới công dụng Giác Quán.

  • Thế nào là Niết Bàn của Thanh Văn và Niết Bàn Bất Nhị theo tinh thần Kinh Duy Ma Cật.

  • Vai trò của Ngài Duy Ma Cật trong thời điểm xuất hiện bài kinh.

Nói chung, câu chuyện khá dài, và nhiều đề tài được nêu lên chung quanh các câu hỏi mình đã gởi hôm trước. Mình sẽ nhờ một HĐ tóm lược những điều đã nói hôm nay, chuyển đến các HĐ trong email sau.

(31-05-2014)

4. GHI NHẬN TÓM TẮT

Kính Bạch Thầy!

Kính Thưa HĐTM!

Nhân dịp cùng đi với Thầy thăm HĐ, Thầy có dạy nhiều điều xung quanh câu hỏi kỳ này. Nay xin chia sẻ với HĐTM những điều được nghe như sau:

4.1. Thế nào là xa lìa và cụ túc củ̉a bậc Giác Ngộ?

Xa Lìa: Là xa lìa giáo pháp ba thừa. Có xa lìa giáo pháp ba thừa mới có cơ may thể nhập Đại Đạo.

Cụ Túc: Là đầy đủ tính chất của Đại Niết Bàn, gồm giác, quán, hỷ, lạc, định. Còn gọi là Viên Giác.

4.2. Thế nào là Giác Quán củ̉a ba thừa?

Giác Quán của ba thừa đưa đến thành tựu tâm.

Ví dụ: - Tầm: đặt Thanh Tịnh trước mặt.

Sau đó. - Tứ: quở trách hay loại bỏ những chướng đạo không đưa đến Thanh Tịnh Tâm.

4.3. Kỹ thuật và cơ sở Giác Quán củ̉a Nhất Thừa (Bậc chánh chơn Giác Ngộ).

Sau khi đã Giác Ngộ, vị này không còn gì để Giác Quán cho tự thân.

Giác quán của ba thừa, giống như người té xuống sông, phải vận động tay chân để nổi lên. Khi người này lên bờ, vận động tay chân để bơi lội không cần dùng đến.

Cứu cánh của Phật đạo là trí tuệ, người tu hành không có trí tuệ mới là đại bất hạnh. Cho nên sau khi đã sang bờ kia, tức đã thành tựu Diệt đế, người này mau chóng cầu học trí tuệ từ Đạo đế. Giống người biết rõ hiểm nguy khi đi trên sông nước, khi lên bờ vị này mau chóng học tập các kỹ thuật bơi lội để dạy người đối phó với sông nước. Vì thế, người đã Giác Ngộ muốn có trí tuệ, lại phải sử dụng kỹ thuật Giác Quán một lần nữa, dựa trên cơ sở Giác Phần để thấu suốt Phật pháp giúp hoàn thành bản nguyện, còn gọi là học tập phương tiện, hay “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

4.4. Công dụng và những sai khác về Giác Quán củ̉a ba thừa và nhất thừa.

Công dụng Giác Quán của ba thừa: Đưa đến thành tựu Tâm. Có nghĩa Ba thừa dùng Quán để viên mãn Giác. Ví dụ: Nhị thừa quán các pháp chướng đạo và quở trách chúng, sau khi quở trách, chướng đạo không hiện khởi, vì thế tâm được thanh tịnh.

Công dụng Giác Quán của nhất thừa: Đó là đưa đến thành tựu Trí. Nhất thừa dùng Quán để làm rõ hay thấu suốt Giác (Xin xem phần giải thích phía dưới).

4.5. Mối liên hệ giữa năm chi củ̉a sơ thiền và Thất Bồ Đề Phần.

- Sơ Thiền củ̉a Bồ Tát, chính là làm công việc của Thất Giác Phần.

- Giác ≈ Niệm; Giác Phần: Đặt kinh điển hoặc các nghĩa trước mặt.

- Quán ≈ Trạch Pháp; Giác Phần: Phân tích, mổ xẻ, đào sâu ý nghĩa kinh điển đến thấu suốt. Thành tựu: Từ ngữ (Từ Vô Ngại), tất cả tầng nghĩa (Nghĩa Vô Ngại), tất cả phương tiện cho từng căn cơ (Pháp Vô Ngại). Sau cùng là tuyên thuyết Từ, Nghĩa, Pháp này đến người hữu duyên (Biện Tài Vô Ngại)

- Hỷ, Lạc, Định: chỉ là hệ quả tất yếu của kỹ thuật Giác Quán này.

4.6. Con đường tiến về Đạo Đế sau khi đã viên mãn Giác Quán trên tinh thần Thất Giác Chi.

Đạo Đế là hệ quả của viên mãn Thất Giác Phần, đạo chính là họ, họ chính là Đạo. Vì có thành tựu Thất Giác Phần rồi, mới có thể thành tựu Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo gồm: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, và Chánh Định. Tám thứ chân chánh này có được, chính là kết quả thấu suốt (Tuệ Giác) của các Giác Phần đã tu tập trước.

4.7. Thế nào là “quân bình Giác Quán” theo tinh thần Kinh Viên Giác?

- Gọi là quân bình, khi nào pháp Quán có thể làm thoả mãn Giác Phần. Khi thoả mãn, Giác Quán đồng tịch diệt, gọi là Xả Giác Phần.

- Giác: Là biết...Quán: Làm rõ cái biết đến thấu suốt rốt ráo. Khi thấu suốt rốt ráo thì cái Giác (biết) và cái Quán (phân tích, mổ xẻ, chứng minh, vv) tự xả. Gọi là quân bình Giác (Chỉ) Quán.

4.8. Vì sao Thiền Na sanh sau khi Giác Quán đã quân bình???

Khi đã thấu đáo mọi điều, những thắc mắc, nghi ngờ, hay suy nghĩ đồng tịch diệt. Khi hành tâm tịch diệt Thiền Na sẽ hiện. Vì thế kinh dạy: “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc...”

4.9. Mối liên hệ hữu cơ củ̉a Thiền Na và Đại Niết Bàn.

Cái này có thì cái kia có. Cái này không thì cái kia không. Cái này chính là cái kia. Thiền Na là tên gọi một số tính chất hiện khởi của Đại Niết Bàn.

4.10. Ý nghĩa củ̉a Minh Xúc và Phi Minh Phi Vô Minh Xúc trong cảnh giới sơ thiền và nhị thiền.

- Khi còn trong phạm vi Giác Quán của Sơ Thiền thì Giác Quán là Minh Xúc (Xúc Như Pháp)

- Khi Giác Quán đồng tịch diệt trong Nhị Thiền thì Phi Minh (Không Giác Quán) Phi Vô Minh Xúc (Không Giác Quán nhưng không Vô Minh).

4.11. Thế nào là Thể Nhập Đại Đạo thông qua con đường Giác Quán củ̉a Bồ Tát Nhất Thừa, mà mình tạm gọi là “đi về phía khu rừng”???

Vứt bỏ Giác Quán Tiểu Đạo (ba thừa) mà chỉ thuần tuý Giác Quán Đại Thừa (dựa trên cơ sở Thất Giác Phần) gọi là Thể Nhập Đại Đạo.

Thế nào là Thấu rõ kinh tạng, vai trò của Giác Quán trong việc thấu rõ kinh tạng???

Thể Nhập Đại Đạo rồi bây giờ mới Giác Quán kinh tạng để thấu rõ kinh tạng. Vì không Giác Quán kinh tạng thì làm gì mà biết và hiểu kinh tạng nói gì!!!

4.12. Thế nào là Thống Lý Đại Chúng, dưới công dụng Giác Quán???

Có thấu rõ kinh tạng rồi, thì mới có khả năng Thống Lý Đại Chúng. Bất cứ căn cơ nào (đại chúng) cần gì, thì vị này cũng có thể thuyết giáo pháp tương ưng để giúp họ thành tựu.

4.13. Thế nào là Niết Bàn củ̉a Thanh Văn và Niết Bàn Bất Nhị theo tinh thần Kinh Duy Ma Cật???

- Niết Bàn Thanh Văn là Niết Bàn Nhị Biên. Niết Bàn bỏ đây lấy kia, bỏ phiền não lấy Bồ Đề, bỏ sanh tử lấy Niết Bàn.

- Niết Bàn Bất Nhị trong Kinh Duy Ma Cật là Niết Bàn chẳng có đây chẳng có kia, không bỏ sanh tử không lấy Niết Bàn.

4.14. Vai trò củ̉a Ngài Duy Ma Cật trong thời điểm xuất hiện bài kinh.

- Vai trò của ngài Duy Ma Cật trong thời điểm xuất hiện bài kinh rất quan trọng. Vì sao như vậy? Bởi vì thời điểm này hầu hết các đệ tử Thanh Văn hay Duyên Giác của Phật đã chứng Thánh và họ rất tâm đắc và kiên cố trong Niết Bàn Nhị Biên của họ.

- Ngài Duy Ma Cật xuất hiện để giúp xoá đi Niết Bàn Nhị Biên. Làm bàn đạp cho việc Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề sau này. Vì lẽ đó Niết Bàn Bất Nhị mới ra đời. Vài hàng chia sẻ đến HĐTM, nhân duyên lành Thầy dạy dỗ̃ mấy ngày trước.

Con xin đảnh lễ Thầy ba lạy!!!

Xin Thầy hoan hỷ và từ bi chỉnh sửa chỗ̃ khiếm khuyết của con!

Chúc HĐTM tinh tấn và chóng thành tựu trí tuệ!

(03-06-2014)

----------------------

(1) Trích Kinh Đại Bảo Tích (tr. 274 - 275; Q9)

(2) Chú ý câu hỏi 4:

 - Nội tĩnh (Định) của Sơ Thiền khác với Định của Nhị Thiền, khi trả lời cần tránh nhầm lẫn hai cảnh giới này.

- Phần Giác Quán, mình muốn hỏi là: Đối với người đã Giác Ngộ, thực hiện điều gì gọi là Giác, thực hiện điều gì gọi là Quán. Các bạn nên cho một vài ví dụ cụ thể về cảnh giới Giác Quán mà bạn đã từng tu tập (của người đã Giác Ngộ), nhằm làm bức tranh minh hoạ cụ thể để câu trả lời của bạn thêm sáng tỏ. Yêu cầu này, mục đích tránh các kiến giải chung chung, mơ hồ hoặc do suy luận mà viết ra, không có giá trị thực tế từ quá trình tu tập của tự thân.

(3) Trích Tâm Pháp (2012); Tác giả LÝ TỨ.

Tác Phẩm Lý Tứ

Cảnh Giới Bất Tư Nghì

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Chúng sanh và phiền não chỉ là bóng dáng của mê lầm. Như người nhặm mắt thấy hư không có hoa đốm. Chúng sanh và phiền não cũng như hoa đốm, tự nó không thật, chỉ do mắt nhặm mà thấy. Đã không thật, thì đâu cần phải diệt, chỉ cần chữa hết nhặm mắt là xong.

Các bạn!!!

Hôm trước có HĐ gởi cho mình đoạn kinh ví dụ:

“... Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đáp:

Ðại đức nên biết, đây là trí huệ thiện xảo của Bồ tát. Nay tôi sẽ nói cho ngài một ví dụ. Những người có trí tuệ, nhờ ví dụ mà được hiểu rõ.

- Này Đại đức! Như có người bắn cung, kỹ nghệ siêu tuyệt. Anh ta chỉ có một người con trai mà anh rất yêu mến. Ðồng thời anh có một người hết sức oán thù, đến nỗi tai anh không muốn nghe tên người ấy, mắt anh không muốn thấy người ấy. Có lúc người con anh ra khỏi nhà rong chơi, đang đứng một bên đường ở một chỗ xa, người cha từ xa trông thấy, cho rằng đó là kẻ thù, mới lấy cung, bỏ tên vào nhắm bắn. Khi mũi tên phóng đi, anh mới hay đó là con mình. Anh liền khóc lóc, chạy thật nhanh để bắt mũi tên lại. Mũi tên chưa đến nơi, anh chụp lại được.

Nói người bắn tên là dụ cho Bồ tát vậy. Người con là dụ cho chúng sanh. Oan gia là dụ cho phiền não. Nói mũi tên là dụ cho trí huệ của thánh. Ðại đức nên biết, Bồ tát ma ha tát dùng Bát nhã Ba La Mật quán tất cả pháp là vô sanh, chánh vị, đại bi, thiện xảo, nên không tác chứng đối với thật tế, chẳng trụ địa vị Thanh văn, Bích Chi Phật, thệ nguyện dẫn dắt, hóa độ tất cả chúng sanh đi đến Phật địa...”

Nghiền ngẫm từng chữ, từng câu trong đoạn kinh này, mình thấy ở đó có nhiều điều thú vị và đáng được nêu lên để đại chúng mổ xẻ. Xin chuyển đến các bạn những điều thú vị này, mong các bạn mổ xẻ “đến nơi đến chốn” để giúp nhau sáng tỏ ý nghĩa đoạn kinh ví dụ.

1. CÁC CÂU HỎI VỀ…CẢNH GIỚI…BẤT TƯ NGHÌ

Câu 1. “Người cha nhầm lẫn con của mình là kẻ thù (con dụ cho chúng sanh, oan gia dụ cho phiền não), định dùng cung tên giết chết kẻ thù”. Xin Hỏi: theo đoạn ví dụ thì:

1.1. Người con (chúng sanh) và kẻ thù (phiền não) là hai hay một??? Vì sao thấy là hai??? Vì sao lại là một??? Xin HĐ giải thích rõ ràng kiến giải của mình (hai hoặc một).

1.2. Vì sao người cha (Bồ Tát) lại có sự nhầm lẫn đáng tiếc này (nhầm đứa con trở thành kẻ thù)??? Khi trả lời, xin HĐ đừng đổ thừa vì “đường xa mắt mờ”, nên nhìn không rõ!!!

Câu 2. “...Khi mũi tên phóng đi, anh mới hay đó là con mình. Anh liền khóc lóc, chạy thật nhanh để bắt mũi tên lại. Mũi tên chưa đến nơi, anh chụp lại được. Nói người bắn tên là dụ cho Bồ tát vậy. Người con là dụ cho chúng sanh. Oan gia là dụ cho phiền não. Nói mũi tên là dụ cho trí huệ của thánh...” Xin Hỏi:

2.1. Điều gì khiến cho người cha (Bồ Tát) phát hiện ra sự nhầm lẫn đáng tiếc này???

Người cha (Bồ Tát) kịp thời thâu hồi mũi tên, sau khi thâu hồi mũi tên.

2.2. Theo các bạn, người cha (Bồ Tát) có còn muốn tìm kẻ thù (phiền não) để giết nữa hay không???

2.3. Nếu cần phải tìm để giết, vì sao cần phải giết??? Nếu từ đây, người cha thôi không tìm kẻ thù phiền não để giết nữa, vì sao người cha lại không cần tìm kẻ thù (phiền não) để giết nữa??? Xin các bạn giải thích cụ thể chọn lựa của mình (hoặc giết hoặc không giết).

2.4. Mũi tên dụ cho trí huệ của Bậc Thánh. Vì sao đó là trí tuệ Bậc Thánh mà không nói đó là trí tuệ Bồ Tát???

2.5. Sau khi mũi tên đã dừng (phát hiện ra nhầm lẫn đáng tiếc kia), người bắn (Bồ Tát) với sự thấu suốt này, sẽ tự nói với mình điều gì??? (Chú ý: Đây là câu hỏi khó!!!)

Câu 3.Theo bạn thì, toàn bộ thí dụ này. Thực tế Ngài Văn Thù Sư Lợi muốn nói lên điều gì với Ngài Tu Bồ Đề???

Rất mong nhận được những giải thích thoả đáng từ HĐ!!!

(14-05-2015)

2. HAI BÀI VIẾT “TRẢ LỜI TIÊU BIỂU” (THAM KHẢO)

Các bạn!!!

Đọc các câu trả lời của HĐ gởi về, mình có nhận xét sau:

  • Hai câu trả lời của Tâm và Tịnh Hiền xuất sắc, đáp ứng phần lớn yêu cầu người hỏi.

  • Lời ít mà nghĩa nhiều. Đây là điều “thú vị nhất”!!!

  • Trả lời có trọng tâm, và cho thấy hai vị này “hiểu rõ và nắm vững câu hỏi”...

  • Xin tán thán Tâm và Tịnh Hiền!!!

Sau đây phần trả lời, xin chuyển đến các bạn tham khảo.

(1) Bài viết trả lời câu hỏi củ̉a Tâm. Kính gởi Thầy!!!

Con xin được phép trả lời các câu hỏi.

Trả lời câu hỏi 1.1: Theo tinh thần của đoạn ví dụ trên, thì chúng sanh và phiền não người này còn thấy là hai. Vì thế, vị này (Bồ tát quyền thừa, Thanh văn, Duyên giác) dùng pháp 3 thừa để diệt phiền não của một chúng sanh.

Trả lời câu hỏi 1.2: Vì do không thấy rằng phiền não và chúng sanh kỳ thực là một, nên mới có sự nhầm lẫn đáng tiếc này.

Trả lời câu hỏi 2.1: Khi vào Nhất thừa, với “trí bén” của mình, người cha (Bồ Tát) bây giờ hết mê hết lầm, cho nên trực nhận ra sự nhầm lẫn đáng tiếc trước đây.

Trả lời câu hỏi 2.2: Sau khi thâu hồi mũi tên, Người cha (Bồ Tát) sẽ không còn tìm kẻ thù (phiền não) để giết nữa. Vì Bồ Tát bây giờ đã biết rằng: Chúng sanh và phiền não không phải hai. Có nghĩa không thể có một chúng sanh mà không phiền não, vì khi một hữu tình do mê có phiền có não, bây giờ mới gọi hữu tình đó là chúng sanh.

Điều này được nói rõ trong phần Ngũ Trược của kinh Thủ Lăng Nghiêm, đây là “tính nhân quả của pháp trược”.

Ngũ trược gồm:

  • Kiếp trược: Mê và giác còn làm ô nhiễm nhau.

  • Kiến trược: Cái thấy không tinh sạch, của nhiễm ô, lấy “tri làm giác”.

  • Phiền não trược: Hệ quả tất yếu của hai thứ trược trước.

  • Chúng sanh trược: Hậu quả của mê và phiền não.

  • Mạng trược: Kết quả tất yếu của bốn thứ trược ở trên.

Trả lời câu hỏi 2.3: Vì người cha biết rằng: Phiền não và chúng sanh vốn không thiệt, nên người cha không tìm giết (cái không thật) nữa.

Trả lời câu hỏi 2.4: Vì còn thấy có hai pháp (phiền não và chúng sanh), trí thấy có hai pháp chính là trí ba thừa. Trí ba thừa gọi là trí bậc Thánh.

Ba thừa trong kinh thường gọi là Bậc Thánh, những vị này chứng Thánh Đế, đắc Thánh Trí, thành Thánh Quả...

Còn nếu là Bồ Tát Nhất Thừa, sẽ gọi là Đại Thánh, Đại Sĩ, Ma Ha Tát, đây là những vị thấu suốt Chân Đế, không chứng thiệt tế.

Trả lời câu hỏi 2.5: Thiệt đúng là: ĐỒ ĐIÊN…!!! ha ha ha!!!

Trả lời câu hỏi 3: Quá trình tu tập của vị này có thể phân tích như sau theo đoạn ví dụ;

  • Này đại đức! Như có người bắn cung: Người này thực hành Bồ Tát đạo, đang trong giai đoạn “tập giáo hóa chúng sanh”. Chưa thành Bồ Tát chuyên nghiệp!!!

  • Anh ta chỉ có một người con trai mà anh rất yêu mến. Ðồng thời anh có một người hết sức oán thù: Tuy có tâm giáo hoá chúng sanh, nhưng hãy còn dùng trí của ba thừa, nên mới thấy có chúng sanh (người con) và phiền não (kẻ oán thù).

  • Khi mũi tên phóng đi, anh mới hay đó là con mình. Anh liền khóc lóc: Đây chính là biểu hiện “Giác Ngộ Chân Đế”, vị này trở thành “Hồi Tâm A La Hán”.

  • Mũi tên chưa đến nơi: Do chúng sanh, phiền não không thật, nên không thể có đối tượng thực để bắn, và chắc chắn mũi tên không thể đến được một mục tiêu mà mục tiêu này không thật, mục tiêu hư vọng.

  • Anh ta chụp lại được: Tịch diệt trí ba thừa, để tiến vào Nhất Thừa Đạo.

Trên đây là những gì con biết được. Xin Thầy và HĐTM chỉ dạy thêm!!! Con.

(2) Bài viết trả lời câu hỏi của Tịnh Hiền.

Thưa Thầy!!!

Thưa HĐTM!!!

Con xin trả lời câu hỏi:

Trả lời câu hỏi 1.1: Theo tinh thần đoạn kinh thì, người cha (Bồ Tát) thương chúng sanh (như con), nhưng lại ghét phiền não (như kẻ thù). Vì muốn bảo vệ cho con mình khỏi phiền não khổ, nên bèn lấy cung tên (trí tuệ quyền thừa) để diệt phiền não (cho chúng sanh). Theo tinh thần này thì, Bồ Tát lúc bấy giờ vẫn còn thấy chúng sanh và phiền não là hai.

Trả lời câu hỏi 1.2: Vì người cha (Bồ Tát) này còn mang trong mình “Dòng Máu Quyền Thừa”!!! Hu hu hu hu!!!

Nếu muốn vào Đạo Nhất Thừa, điều kiện tiên quyết là “phải đi thay máu”. Nếu không chịu thay máu mà muốn vào Đạo Nhất Thừa thì cũng giống như câu chuyện ngụ ngôn “Con Ếch Muốn To Bằng Con Bò”!!!

Trả lời câu hỏi 2.1: Sau khi phóng mũi tên quyền thừa để giết kẻ thù phiền não. Bất chợt vị Bồ Tát này hoát nhiên hiểu ra rằng: “Chúng sanh (con) và phiền não (kẻ thù) chẳng phải hai. Chúng sanh chính là phiền não, phiền não chính là chúng sanh. Giết phiền não (kẻ thù) chính là giết chúng sanh (con). Có nghĩa không thể có một chúng sanh mà không phiền não, cũng không thể có một phiền não ở ngoài chúng sanh, theo nguyên lý: Cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh, cái này diệt nên cái kia diệt...”

Do thấy được “nguyên lý” này, nên người cha (Bồ Tát) nhanh chóng dừng mũi tên lại.

Trả lời câu hỏi 2.2 và 2.3: Sau khi thâu hồi mũi tên (tịch diệt quyền thừa pháp). Người cha (Bồ Tát) lại một lần nữa trực nhận ra rằng: Chúng sanh và phiền não chỉ là bóng dáng của mê lầm. Như người nhặm mắt thấy hư không có hoa đốm. Chúng sanh và phiền não cũng như hoa đốm, tự nó không thật, chỉ do mắt nhặm mà thấy. Đã không thật, thì đâu cần phải diệt, chỉ cần chữa hết nhặm mắt là xong.

Biết được bản chất của hai thứ này (chúng sanh và phiền não) như vậy, người cha (Bồ Tát) bây giờ thôi không đi tìm diệt (giết) tên oan gia phiền não nữa, mà chỉ chuyên lo chữa con mắt nhặm của mình. Chữa con mắt nhặm chính là chữa “Tâm mê” này!!!

Trả lời câu hỏi 2.4: Mũi tên đã bắn ra chính là trí huệ Bậc Thánh, tức Bồ Tát Quyền Thừa.

Mũi tên này không phải là Trí Tuệ Bồ Tát Ma Ha Tát (Nhất thừa), vì rằng Bồ Tát Nhất Thừa quyết sẽ không có sự nhầm lẫn đáng tiếc như vậy. Vì chư Đại Bồ Tát vĩnh viễn không còn nhầm lẫn (lầm), nên mới gọi là Ma Ha (đại).

Trả lời câu hỏi 2.5: Vị ấy sẽ tự nói với mình rằng: “Hết chấp còn ngu, không chấp không ngu. Lý Lão Sư Chín Mươi Muôn Năm”!!!

Trả lời câu hỏi 3: Theo con thì có lẽ Ngài Văn Thù muốn nói với Ngài Tu Bồ Đề rằng: “Trên đời này, không có gì có thể làm cho tôi phiền não. Ngoại trừ việc nghe Trưởng Lão thuyết pháp...”

Câu này con sao chép của Thầy, con mạn phép sửa hai chữ “các bạn” thành hai chữ Trưởng Lão!!!

Kính mong Thầy và HĐTM chỉ dạy!!!

Con.

(20-05-2014)

Subscribe to