Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mươi Bảy Phẩm – Bát Chánh Đạo

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Bát chánh đạo là thánh pháp thuộc địa vị tu đạo. Bát chánh đạo chỉ có được khi nào viên mãn diệt đế, có nghĩa chứng giải thoát rồi mới biết bát chánh đạo là gì.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Người tu hành không ai không biết bát chánh đạo, những phẩm trước của 37 phẩm có thể không thuộc hoặc không biết nhưng bát chánh đạo hầu như tám điều được biết đến nhiều nhất.

Tám điều của bát chánh đạo gồm: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.

  • Có thể đặt vấn đề nếu định và xả giác chi là rốt ráo giải thoát thì bát chánh đạo xuất hiện để làm gì, có phải thừa hay không?

  • Lại còn một câu hỏi có lẽ cũng cần phải đặt ra đó là định và xả giác chi thành tựu, tức rốt ráo giải thoát. Bát chánh đạo gọi là địa vị tu đạo. Đã giải thoát thì còn cái gì thiếu để tu?

Hai câu hỏi trên nếu thỏa mãn sẽ có cái nhìn tốt hơn về bát chánh đạo, và bát chánh đạo ra đời chính là giải quyết rốt ráo hai thắc mắc trên.

Muốn hiểu bát chánh đạo trước hết phải hiểu Phật giáo quan niệm như thế nào là chánh. Khi chưa biết rõ thế nào là chánh thì chữ ‘chánh’ trong bát chánh đạo sẽ ‘mất hết ý nghĩa của một thánh pháp’, cho dù thánh pháp mà không có ý nghĩa thánh thì thánh pháp này trở thành thế pháp, chỉ còn là văn tự thế tục và bát chánh đạo trở thành môn luận lý giáo khoa ở đời.

• Bát chánh đạo là sự kế thừa nhất định của 37 phẩm.

Trình tự này phải được nhất quán, có nghĩa tính thống nhất rất cao được hình thành trong khái niệm “cái này có nên cái kia có” và ngược lại. Vì vậy sau khi thành tựu địa vị tư lương nhất định, địa vị kiến đạo sẽ đến, viên mãn địa vị kiến đạo điều tất yếu là địa vị tu đạo xuất hiện.

Hiển nhiên là không thể có chuyện chưa thành tựu điều trước mà điều sau xuất hiện, cũng không có chuyện thành tựu điều trước mà không có điều sau trừ người giữa đường vì duyên cớ nào đó thối chuyển.

Trong 37 phẩm chỉ có thể thối chuyển khi còn ở địa vị tư lương (địa vị phàm phu), giống như người nghèo kiếm tiền, khi địa vị này thành tựu bước sang địa vị kiến đạo thì đồng địa vị một Tu Đà Hoàn. Như Phật dạy cho dù một Tu Đà Hoàn giải đãi thì trong bảy đời nhất định sẽ chứng giải thoát, giống như con kén đã hóa thân thành bướm thì không thể nào con bướm này còn cơ hội để trở về thân kén ngày xưa.

Trình tự vượt qua 37 phẩm giống như người ta leo lên một cái thang gồm 37 bậc, không có chuyện chưa vượt qua bậc trước mà có thể đến bậc sau hay khác hơn cuộc hành trình gồm 37 chặng, muốn đến đích phải thứ tự vượt từng chặng một.

• 37 phẩm là tiến trình chuyển hóa từ địa vị ‘phàm phu’ lên địa vị ‘thánh’ trong khái niệm Phật giáo.

Nói ‘trong khái niệm Phật giáo’ là vì chữ thánh ở đây chỉ có giá trị đối với Phật đạo, có nghĩa những ai tin thuận trong dòng giáo pháp này, còn những ai không tin, ở ngoài hoặc chưa tùy thuận thì có thể hiểu khác.

Phật giáo không áp đặt mọi người phải hiểu như mình, tôn giáo này không nhất thiết phải hiểu giống tôn giáo kia. Nhưng đã ở trong tôn giáo này thì không thể hiểu theo cách hiểu riêng của mình hoặc tôn giáo khác, vì mỗi tôn giáo hay luận lý ở đời đều có chỉ thú và cứu cánh khác nhau.

Nếu kiến giải không phù hợp cứu cánh thì kiến giải này không tác dụng thực tế tu hành. Tất nhiên không ai cấm cản quyền tự do, nhưng nếu hiểu theo cách hiểu riêng tư thì chỉ là kẻ “nghe nói mà biết,” hay “cưỡi ngựa xem hoa”, và sẽ không có một sự thành tựu hay ‘thấy biết’ chắc thật.

Do đó thống nhất các khái niệm như pháp là một điều cực kỳ quan trọng trong giáo pháp. Đây là kim chỉ nam, vì rằng chỉ khi nào hiểu biết đúng thì thực hành mới đúng. Trong Phật pháp luôn luôn lặp lại hai chữ tri kiến, có nghĩa thấy biết, không thấy nói đến nghe biết, cho nên thấy và biết sẽ là cách xác chứng đưa đến chánh tín.

  • Cũng cần nói thêm chữ ‘thánh’ trong Phật đạo là nói đến ‘thánh tâm’, tức vị này tự tại trước các pháp, đầy đủ từ bi hỷ xả, hiểu biết tường tận đâu là thánh pháp đâu là thế pháp.

Vì thế một phàm phu khi đạt được địa vị thánh trong Phật đạo không có nghĩa người này mọc thêm cánh tay thứ ba hay cái miệng thứ hai, cũng không phải bay lên trời hay độn thổ mới gọi là thánh, vì thân này là tướng cộng nghiệp. Tu hành chỉ giải quyết biệt nghiệp, chấm dứt ngu muội tham sân si để hết khổ đau rồi giúp người thành tựu như mình gọi là Bồ Tát. Thành tựu một hoặc hai điều này Phật giáo gọi đó là thánh.

Giống như các pháp khác của Phật pháp, khi Phật tuyên thuyết một pháp tùy theo tâm lượng từng loài mà thấy biết sai khác, chữ chánh trong bát chánh đạo cũng như vậy, thế gian hiểu bát chánh đạo theo thế pháp, đó là thứ luận lý căn cứ vào đạo đức, phong tục, văn minh, thiện ác, luật lệ, mục đích. Cái nào thuận theo mục đích thì gọi là chánh, cái nào không thuận gọi là tà, tà không có nghĩa là xấu mà chỉ không thẳng một đường đến mục đích, cho nên nói nó là tà, cách hiểu trong thế gian không thể ứng dụng để vào thánh đạo.

Như phần trước đã đề cập, bát chánh đạo là thánh pháp thuộc địa vị tu đạo. Bát chánh đạo chỉ có được khi nào viên mãn diệt đế, có nghĩa chứng giải thoát rồi mới biết bát chánh đạo là gì.

Vì thế kinh hay nói: Thấy khổ, biết tập, chứng diệt, tu đạo. Nếu chưa chứng diệt thì không có đạo để mà tu, cho nên mới nói bát chánh đạo là môi trường sống của diệt đế, giống như nước là môi trường sống của cá. Khi nào là cá thì mới biết rõ môi trường sống của mình như thế nào, còn không phải là cá thì môi trường sống đích thực sẽ khó mô tả. Đây là thứ nóng lạnh đặc trưng của người uống nước mà trong tu hành hay nói theo cách người xưa: “Nóng lạnh tự biết.” Tuy nói nóng lạnh tự biết nhưng nóng lạnh có những đặc tính riêng của nó và đã là đặc tính thì phải có nguyên lý làm nên đặc tính này. Ở đây chỉ nói đặc tính hay tính chất mà không nói bản chất, vì theo Phật pháp các pháp bản chất của nó thanh tịnh, chỉ do duyên mà hình thành đặc tính hay tính chất.

Ví dụ bản chất nước không tánh (ngoại tánh phi tánh), gặp duyên nóng thì có tính chất nóng, gặp duyên lạnh thì lạnh, gặp nhiệt độ âm thì cứng, gặp duyên nhiệt độ cao thì bốc hơi. Các duyên này thế gian gọi là nguyên lý.

Cho nên không thể trình bày nguyên lý làm nóng mà mô tả sự lạnh, vì thế thấy bốc khói biết nóng, thấy mát biết lạnh. Nói là nóng mà khi xúc chạm thấy mát hoặc ngược lại thì nóng lạnh này phải coi lại. Nó là thực tế của người đã từng uống nước nên mới nói nóng lạnh tự biết. Không thể chỉ nói suông theo lời người xưa trong khi đó thực tế mình chưa hề thấm được cảm giác nóng lạnh của người đã uống nước, vì điều này là cách kiểm chứng chánh lý.

  • Như vậy có thể hiểu chữ chánh trong bát chánh đạo là những thấy biết, hành động, nói năng nào tùy thuận giải thoát, hàm chứa ý nghĩa giải thoát, tăng trưởng đạo giải thoát, có thánh vị Niết Bàn, hàm chứa thanh tịnh Niết Bàn, tăng ích thanh tịnh Niết Bàn, hợp với giới-định-huệ vô lậu mới gọi là chánh. Những thấy biết, hành động, nói năng nào không có những tính chất này đều thuộc về tà.

  • Phật giáo là đạo nhất quán mà Phật thường chỉ ra đó là thượng trung hạ đều thiện, có nghĩa nhất nhất việc làm trước, giữa, hay sau đều giải thoát và thanh tịnh. Vì lẽ này trong phần luận bát chánh đạo chỉ đề cập đến tính chất được gọi là chánh đạo, nhằm mô tả một vài khái niệm đại cương của ý nghĩa chánh không nhằm đào sâu bản chất môi trường là gì. Khái niệm này giúp biết được thế nào là chánh, hầu tránh những gì thuộc về ngã rẽ.

  • Vì sao bát chánh đạo được ví như môi trường sống của diệt đế? Khi thân chứng diệt đế, vị này vào thánh quả không còn là một phàm phu. Đời sống bây giờ đòi hỏi có những sinh hoạt mới, vì vậy cần một môi trường thích hợp là điều cần thiết. Nếu như trong thế pháp mọi hoạt động đời sống tương ưng thế gian thì khi thoát ra khỏi đời sống này, đời sống cũ không còn phù hợp.

Những gì ngày xưa là lạc, bây giờ trở thành khổ. Giống như người cùi và hố than hừng, thói quen thường nhật thay đổi, kéo theo những điều chỉnh cần thiết để phù hợp với thánh đạo, giống như con cá từ nước ngọt muốn vào biển lớn phải thay đổi mọi sinh hoạt để tồn tại. Không có sự điều chỉnh tự thân hợp thời và không thích nghi với sự chuyển hóa môi trường đang tiệm tiến xảy ra thì sự tồn tại không dài lâu.

  • Ở đây từ địa vị phàm phu lên thánh cũng như vậy. Trong quá trình của 37 phẩm chính là sự biến đổi môi trường dần dần và mỗi thành tựu trong một địa vị chính là sự hóa thân của thích nghi. Vì thế sẽ không có sự đột ngột nào diễn ra đối với người đã thân chứng diệt đế vào đạo đế.

  • Nếu như trong thế pháp lấy ngũ dục và vọng tưởng làm chất liệu nuôi dưỡng thì trong thánh đạo giới-định-huệ vô lậu là chất liệu dưỡng nuôi thánh quả. Môi trường của họ cấu tạo bằng giới-định-huệ vô lậu, đồng thời đây là thức ăn nuôi lớn thánh pháp. Chính điều này bát chánh đạo ra đời, tám món này thực chất là giới-định-huệ vô lậu. Nó vừa là điều kiện tồn tại vừa là điều kiện phát triển nên bát chánh đạo hay khác hơn 37 phẩm có các tên gọi khác nhau.

Sự khác nhau về tên gọi thể hiện rõ nhất trong bát chánh đạo, khi nào tám món nằm trong điều kiện tồn tại và nuôi lớn gọi là ‘pháp trợ đạo’. Pháp này giúp cho thánh quả tồn tại và viên mãn. Giống như biển và thức ăn trong biển là điều kiện tồn tại và nuôi lớn của loài cá nước mặn.

Khi nào tám món này trở thành điều kiện phát triển trí tuệ thì có tên ‘trợ Bồ Đề’. Giống như con cá nước mặn đã khôn lớn bây giờ đại dương là nơi chốn để con cá này lớn khôn và học cách vẫy vùng. Do vậy bát chánh đạo có thể coi như biển đại giác, đây là môi trường nuôi lớn thánh quả đồng thời là môi trường tốt để bậc thánh lớn khôn và viên mãn trí tuệ vô lậu.

Chữ tu đạo của bát chánh đạo nằm trong nghĩa nêu trên, tu ở đây là tu dưỡng trong một môi trường đặc biệt phù hợp với bản chất giải thoát.

  • Vì thế chữ ‘tu’ trong bát chánh đạo còn có tên ‘bát thánh đạo’, không có ý nghĩa là ‘sửa’ như thế gian thường hiểu. Tiêu biểu cho điều này, một Thanh Văn khi thân chứng thánh quả tuyên bố bốn thành tựu: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, thân này là thân rốt sau, không còn trở lại đời sống cũ nữa.”

Tuyên ngôn của A La Hán đã nói lên tất cả, bỏ lại quá khứ những gì của thế pháp, một đời sống mới vô thượng phạm hạnh đang ở trước mặt, do vậy ba thừa vào bát chánh đạo không phải để tu như thế gian thường hiểu vì “việc cần làm đã làm xong” thì cái gì gọi là tu ở đây? Nên có thể hiểu tu ở đây biểu thị cảnh giới vô tu vô chứng, trong Phật đạo vô tu vô chứng mới thiệt là tu.

  • Vì sao bát chánh đạo là môi trường được làm nên bởi giới-định-huệ vô lậu? Khi nói đến đạo Phật người ta biểu thị bằng nhiều tên gọi: ‘Đạo vô lậu’, ‘đạo giác ngộ’, ‘đạo giải thoát’, ‘đạo trí tuệ’. Không phải vô cớ mà Phật giáo lại có những tên gọi như vậy.

  • Những tên gọi này ăn sâu vào đời sống tu hành, kể cả ngoài thế gian, những tên gọi tốt đẹp trên trở thành biểu tượng của văn hóa Phật giáo, khi nghe một trong những tính chất này người ta hiểu ngay đó là đạo Phật. Như vậy Phật giáo bao gồm nhiều tính cách, mỗi tính cách nói lên cái tiêu biểu Phật giáo có được, không giống tính cách đạo khác hoặc thế gian có.

  • Một trong những tính cách của Phật giáo là ‘vô lậu’. Vô lậu có nghĩa là không còn ‘rỉ chảy các món phiền não’ bởi cõi dục, cõi sắc, và cõi vô sắc.

Cao hơn nữa không chảy các pháp hữu vi, nếu có chảy thì chảy vô vi cam lồ, chúng sanh nào chạm đến sẽ hưởng được thanh lương thắng diệu.

Phật giáo rất coi trọng tính nhân quả, khi gieo nhân nếu tạo đủ duyên nhân ấy sẽ thành quả. 37 pháp trợ đạo chính là quá trình từ nhân đủ duyên thành quả và thọ báo. Nếu như tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc là nhân thì giới-định-huệ là thân cận duyên để thành tựu quả vị tư lương, làm hành trang vào thánh đạo. Ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi là nhân thì tam vô lậu là duyên để kết nên trái giải thoát thành tựu rốt ráo địa vị kiến đạo. Cuối cùng bát chánh đạo và giới-định-huệ vô lậu vừa là nhân vừa là duyên cho nhau để giữ gìn đạo quả. Vì thế trong bát chánh đạo, chánh ngữ chánh nghiệp chánh mạng thuộc về giới vô lậu; chánh tinh tấn chánh định thuộc định vô lậu; và chánh kiến chánh tư duy chánh niệm thuộc về huệ vô lậu. Phần này trong nhân đủ quả trong quả đủ nhân, nhân quả hòa vào nhau làm nên quả lớn là biển giác ngộ với báo lành là mùi vị thanh tịnh giải thoát.

Vì thế, bát chánh đạo đối với thánh quả là môi trường sống có đủ tính chất vô lậu của giới-định-huệ, hay giới-định-huệ vô lậu làm nên môi trường này. Cho nên bát chánh đạo giúp ba thừa sống trong thế giới riêng của họ đầy đủ sự sạch trong của tịnh hạnh và giải thoát. Bát chánh đạo thật ra là thấy biết, nói năng, suy nghĩ, hành động của thân khẩu ý. Khi thân khẩu ý được dưỡng nuôi bảo vệ trong môi trường như vậy, thì sự thành tựu rốt ráo chỉ là vấn đề tự nhiên.

Đoạn kinh sau nói về thành tựu của 37 phẩm:

“Niệm xứ trang nghiêm, khéo hay tu tập bốn quán niệm xứ. Chính cần trang nghiêm, đều hay dứt trừ hết thảy bất thiện pháp, thành hết thảy thiện pháp. Thần túc trang nghiêm, thường khiến thân tâm vui vẻ, nhẹ nhàng. Năm căn trang nghiêm, thâm tín kiên cố, tinh cần không biếng, thường không mê vọng, vắng lặng điều thuận, dứt mọi phiền não. Năm lực trang nghiêm, mọi oán diệt hết, không gì hoại được. Giác chi trang nghiêm, thường khéo giác ngộ hết thảy mọi pháp. Chính đạo trang nghiêm, được chính trí tuệ, thường hiện ở trước.

CHỈ trang nghiêm nên gột bỏ được hết thảy kiết sử.

QUÁN trang nghiêm nên hay như thực biết được tự tính của mọi pháp.

PHƯƠNG TIỆN trang nghiêm, chóng thành đầy đủ sự vui vô vi.” [[1]]

[[1]] Trích kinh Thập Thiện Đạo –HT. Thích Tâm Châu dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Đoạt Tâm Chế Mạng

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

TẢN MẠN NGÀY CHỦ NHẬT

CHỦ ĐỀ: ĐOẠT TÂM CHẾ MẠNG !!!

Các bạn !!!

Bài Đoạt Tâm Chế Mạng, mình viết vào những năm 2014 !!! Thời gian trôi qua, từ đó đến nay không có dịp đọc lại... Hôm nay, bài này được SH Thái Đăng đăng lại trên Lý Gia mình mới có dịp xem qua !!!

Đã sáu năm, nhưng theo mình, đến hôm nay bài viết vẫn còn giá trị, nhất là ở thời điểm HĐ chúng ta đang lập một bản kế hoạch giúp người !!!

Hy vọng, sau khi đọc xong bài này, HĐ Lý Gia tìm thấy điều gì đó trong cách trình bày giáo pháp với người khi có nhân duyên lành !!!

Cảm ơn hai vị Huề Thượng (trong tương lai) đã đến thăm Lý Tứ vào buổi sáng chủ nhật đẹp trời hôm nay !!!

11/10/2020

LÝ TỨ

ĐOẠT TÂM CHẾ MẠNG

Tác giả - Lý Tứ (Trích Anh Lạc Luận 1)

Các bạn !!!

Mấy hôm nay, nhân dịp đi theo một vài HĐ để nghe nói chuyện và quan sát, tìm hiểu cách trình bày một vấn đề nào đó trong Phật Đạo đối với người khác của các bạn, mình nhận thấy có gì đó không ổn. Trước đây, mình cũng có đem điều này trao đổi, và HĐ có nắm bắt, nhưng đến khi ứng dụng, lại có vấn đề.

Các bạn !!!

Câu nói của Thế Tôn: "Ngón tay không phải mặt trăng, muốn thấy được mặt trăng, phải rời ngón tay". Câu này không khó hiểu, nhưng chẳng dễ ứng dụng.

Xưa nay, theo thói quen, khi gặp một bằng hữu mới, chúng ta thường hay mở đầu bằng "một chuỗi kiến thức". Khi nghe những kiến thức mới lạ và có lý này, hầu như người nghe không có gì bàn cãi , thậm chí khen ngợi, vì trong lời lẽ của chúng ta có ý nghĩa, và nhiều mùi vị Đạo Pháp.

Tuy nhiên sau khi nghe xong, người nghe có ghi nhận và tăng trưởng một ít hiểu biết. Nhưng rốt cuộc, buổi nói chuyện chỉ đưa đến ý nghĩa nhằm bổ sung kiến thức cho nhau, người nghe sẽ có một kết luận ngầm: Anh đọc nhiều, biết nhiều... Tôi đọc ít biết ít... Thế thôi !!!

Vì kết luận như vậy, nên buổi nói chuyện không gây được dấu ấn nào, hoặc có cũng không đáng kể. Cuối cùng, ai về nhà nấy, "gà ai nấy bắt", hiệu quả không cao, buổi nói chuyện không đủ sức thuyết phục, cũng như không mở cho người lối thoát.

Mình có thể tạm đưa ra một ví dụ để mọi người suy gẫm: "Giống như có người muốn đi bắt một con thú dữ và họ trình bày cách thức làm thế nào để bắt con thú, nghe xong ta bèn bổ khuyết cho người nhiều cách thức tốt hơn để bắt con thú, hoặc bổ sung các phương tiện thù thắng, dùng để bắt thú. Người kia với số vốn được trang bị mới này, lại tiếp tục đi bắt thú như những lần trước. Và cuối cùng, họ lại thất vọng, vì rằng: Đi mà chẳng biết đi đâu ??? Và, làm gì đối với mớ phương tiện này !!!

Tại sao sự tình lại như vậy ???

Các bạn, chỉ vì cả hai đều chú ý đến phương tiện, mà không rõ cứu cánh.

Bây giờ chúng ta thử đặt vấn để: Tại sao khi nghe người kia nói đến chuyện đi bắt thú, chúng ta không hỏi ngược lại họ: "con thú đó ở đâu, hình dáng màu sắc như thế nào, thời gian xuất hiện, tập tính của con thú ???"

Có nêu những vấn đề này, người đi săn thú mới có dịp tìm hiểu đối tượng cần bắt. Về nguyên tắc, có hiểu biết cụ thể đối tượng, hiểu biết càng nhiều, càng chính xác, nhất định bất kỳ ai, cũng có phương cách để bắt con thú. Khi nào, người đó hết cách, chúng ta mới trao cho họ phương tiện cũng không muộn.

Đằng này, cả ta và người chỉ bàn luận chuyện săn thú, mà không hề biết con thú cần bắt là con nào ??? Thì phỏng, bao nhiêu phương tiện đưa ra có hữu ích gì ???

Hôm viết bài cuối năm, mình có nêu lên một phương thức, đó là "Đoạt tâm, chế mạng", mình gọi đó là "Như Lai Tự Môn Đoạt Tâm Chế Mạng Thần Công".

Phương thức này, có nhiều ý nghĩa giúp ta ứng dụng. Nhưng ý nghĩa cơ bản vẫn là: Trước nhất phải "khai tâm" cho người, sau đó mới "chế mạng". Tức là: Trước chỉ tâm, sau đó mới dùng phương tiện để điều phục. Điều này, giống như chỉ con thú trước, sau đó mới trao phương tiện đánh bắt.

Muốn sử dụng môn công phu này, đòi hỏi phải thông thạo ba điều. Đó là: Nhận biết sự khác biệt của kiến thức, tri kiến và trí tuệ. Sau khi nhận biết sự khác biệt của ba món trên, bước kế tiếp là: Biến kiến thức thành tri kiến, sau khi có được tri kiến, mới biến tri kiến này thành trí tuệ, có trí tuệ rồi, mới thí cho người. Đây là quá trình chuyển từ: Sữa, lạc, tô, đề hồ.

Đây là ba bước của: Học pháp, hành pháp và giác pháp, sự chuyển biến cần có để thành tựu: Thiền định, Đà La Ni và Tam Muội, cuối cùng mới thí vô uý. Có nghĩa, nó là sức chuyển biến do huân tu từ học pháp đến ý sanh thân và sau cùng là trí tuệ.

Giống như một người muốn tìm đến mặt trăng, đầu tiên người này phải nhìn thấy ánh trăng trong đêm tối, sau đó ngước mặt lên trời để thấy mặt trăng, cuối cùng đổ bộ lên mặt trăng. Đó là ba bước để thành tựu câu thế gian, câu xuất thế và câu phi xuất nhập.

Nếu chúng ta không tự thành thục ba điều này, chỉ ôm một mớ kiến thức trao cho người. Chẳng khác gì, sắm cho người đủ thuyền bè, xe cộ, các loại phương tiện thù thắng, các thứ tốt nhất dành cho một cuộc hành trình dài hơi. Nhưng ta không cho người biết rằng: Dùng các phương tiện này vào việc gì, đi đến những nơi đâu, giai đoạn nào dùng loại phương tiện gì cho thích hợp !!!

Nếu không giải quyết thoả đáng các vấn đề nêu trên, chính các phương tiện này trở thành mối bận lòng, thậm chí không khéo trình bày, hoặc trình bày phi thời, trở thành đầu mối của tranh luận.

Vài dòng buổi sáng đầu năm 2014. Hy vọng, có thể giúp HĐ thành tựu điều gì đó, để sau này chúng ta sẽ có những buổi trao đổi với người lý thú và hiệu quả.

03-01-2014

LÝ TỨ

TẢN MẠN NGÀY CHỦ NHẬT CHỦ ĐỀ: ĐOẠT TÂM CHẾ MẠNG !!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Xả Của Bồ Tát Thừa

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Bồ Tát quyền thừa và nhất thừa có cùng một đặc điểm xả, nhưng do căn cơ sai biệt nên Bồ Tát quyền thừa tiệm tiến chờ bổn tâm dần dần thanh tịnh, xả pháp sẽ viên mãn theo, giống như lắng nước đục thành nước trong. Bồ Tát nhất thừa trong đục đều không thể nhiễm, giống như người có sức đề kháng tối ưu không một loại vi trùng nào có thể xâm hại được.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Bồ Tát thừa ở đây chỉ chung cho Bồ Tát quyền thừa và nhất thừa. Hai thừa Bồ Tát này có cùng một đặc điểm xả, nhưng do căn cơ sai biệt nên Bồ Tát quyền thừa tiệm tiến chờ bổn tâm dần dần thanh tịnh, xả pháp sẽ viên mãn theo, giống như lắng nước đục thành nước trong. Bồ Tát nhất thừa trong đục đều không thể nhiễm, giống như người có sức đề kháng tối ưu không một loại vi trùng nào có thể xâm hại được.

Hai cách thức xả có cùng sở giác là ‘bổn lai tâm này thanh tịnh’ nhưng ngộ thì chậm mau không đồng. Quyền thừa giác được thanh tịnh nhưng chưa thể một lúc làm sạch phàm tâm nên phải y cứ sở giác tu hành trước rồi mới ngộ sau.

Nhất thừa giác ngộ đồng thời gọi là liễu ngộ, tức thấu đạt triệt để. Chính điều này người đời sau cho là có thiền tông và giáo tông, thực chất hai tông này cũng chỉ từ một lời kinh mà đốn tiệm có sai khác, chỉ vì công đức và trí tuệ không đồng.

Bồ Tát quyền thừa sau khi giác ngộ bổn tâm thanh tịnh, hướng trí tuệ đến tam giải thoát môn là Không, Vô tướng, Vô tác làm pháp y chỉ, coi đây là ba cánh cửa vào thành Niết Bàn. Thành này có ba cửa nhưng chỉ cần đi vào một cửa là thành tựu mục tiêu đặt ra.

− Không môn: (cửa không) Chính là pháp Xa Ma Tha hay còn gọi pháp chỉ, pháp này căn cứ vào thanh tịnh tâm, lắng trong vọng niệm, trừ sạch vọng tình, vọng tâm dứt gọi là hết mê. Pháp tu này đòi hỏi phải là người có tâm kiên định và chỗ giác ngộ thật sâu, nếu giác ngộ không sâu sẽ không thấy được không môn.

− Vô tướng môn: Một hình thức biến thể của không môn, độ giác ngộ không sâu bằng không môn vì còn dùng ý thức nhiếp lấy nghĩa không nên nói rằng không mà lại có tướng không.

Loại giác ngộ này phải dùng pháp Tỳ Bà Xá Na hay còn gọi huệ Bát Nhã để làm sạch ý thức, có nghĩa cảnh giác cao độ với các kiến giải của ý thức, quở trách mọi lỗi lầm phát sanh từ kiến giải hoặc những ý niệm có khuynh hướng thế tục.

Căn bản là tránh lỗi cơ hiềm thế gian, nếu chấp thủ phát sanh tà kiến gọi là hạng chấp không rất nguy hiểm. Hạng này miệng thường hay nói không nhưng trong tâm tích chứa đủ sân hận phiền não, tâm miệng không xứng nhau.

Trong kinh Lăng Già có khuyến cáo điều sai trái này: “Thà chấp có như núi Tu Di còn hơn chấp không như hạt cải,” ‘chấp có’ còn có thể xả bỏ, ‘chấp không’ mất hết thiện căn.

− Vô tác môn: Là loại giác ngộ thấy được lỗi lầm của ý thức, biết rõ ý thức chính là ông chủ sai sử và làm mê hoặc tâm, mọi tác hành đều chịu sai sử của thức nghiệp, giác ngộ này cần đến sự giản trạch nhiều về tâm, thức, và căn trần, hiểu rõ ý nghĩa tâm sanh pháp, biết căn nguyên mọi thứ mê lầm do thức nhiễu loạn nên gấp rút tách thức ra khỏi căn, trả lại trong sạch bản nhiên của căn.

Khi thức không nương gá vào căn, năm căn thân tương ưng Thành Sở Tác Trí; ý căn không còn là ý thức thì ý bây giờ tương ưng Diệu Quan Sát Trí; ý không bị nhiễu loạn bởi thức nên ngã không sanh tương ưng Bình Đẳng Tánh Trí; ngã không sanh tâm rỗng rang tương ưng Đại Viên Cảnh Trí; nói tương ưng bốn trí vì địa vị này chưa viên mãn nên chưa được chính thức gọi là trí. Tuy nhiên đây lại là chủng tử phát sanh bốn trí nên loại giác ngộ này sau khi thành tựu thông suốt pháp hòa hợp duyên và lỗi lầm căn trần thức, do đó sẽ dễ thấu suốt nguyên ủy phát sanh pháp giới chúng sanh, điều kiện thuận lợi cho Bồ Tát đạo sau này.

Phần lớn căn cơ này phải dùng Tam Ma Đề triệt tiêu thức phân biệt. Căn bản Tam Ma Đề là biết ‘các pháp như huyễn’, mượn ‘phương tiện như huyễn’ để trừ ‘huyễn tâm’, khi huyễn tâm không còn, pháp này cũng tự mất nên kinh gọi tu ‘như huyễn Tam Ma Đề’.  Căn cơ tu pháp này chỗ giác ngộ không sâu nên rất cần sự hộ trì của giới bổn, gọi là bốn quyết định đoạn và phòng hộ các căn trong tán tâm, gọi là ba tiệm thứ tu hành.

Pháp tu này không đưa đến rốt ráo thanh tịnh nên phải đợi giác ngộ lần nữa, kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi là: “Đợi tiếp dòng nước pháp.”  Giác ngộ lần nữa chỉ là sự xác chứng rằng đây mới thiệt bổn tâm thanh tịnh, vào cảnh giới này là một hình thức giác ngộ rốt ráo vô tướng môn.

Thật ra trong Phật pháp, cuối cùng chỉ có hai pháp là chỉ và quán, từ hai pháp này mà có ra pháp thiền. Có thể hiểu nôm na ‘quán’ là một hình thức của ‘thiền’, ‘chỉ’ là một hình thức của ‘định’.

  • Chữ ‘quán’ trong Phật pháp không giống như suy nghĩ của thế gian mặc dầu xét cho cùng quán cũng là thứ suy nghĩ, khác nhau ở chỗ suy nghĩ đưa đến thỏa mãn hiểu biết, còn ‘pháp quán’ khi thấu suốt thì ‘tâm dừng lặng’.

Cho nên có thể nói đích đến của quán là chỉ hay khác hơn tận cùng của thiền là định. Dù quán hay chỉ, thiền hay định, rốt ráo đều phải đưa đến cứu cánh xả. ‘Xả’ chính là đích đến của ‘thiền định chỉ quán’, vì vậy dù tu pháp nào, giác ngộ ra sao không có cứu cánh xả thì nhất định giác ngộ tu hành này có vấn đề.

Vì rằng tất cả pháp của Phật pháp luôn luôn có khuynh hướng giải trừ cấu nhiễm. Cho dù đó là thánh pháp mà đem tâm cấu vào thì thánh pháp này cũng thành thế pháp, nơi thế pháp kia mà xả được thì thế pháp cũng thành thánh pháp. Do đó ‘pháp xả’ là cứu cánh nhất định của đạo xuất thế.

  • Xuất thế không có nghĩa là từ bỏ cõi này đi đến một nơi khác xa xôi. Chính nơi được coi ác thế ngũ trược mà tâm không cấu nhiễm thì tại nơi đây là xuất thế. Vì thế xả giác chi hay pháp xả là tối thượng đạo, chỉ có xả mới có thể thành tựu thánh trí.

Tóm lại, thất giác chi là bảy pháp do giác ngộ hình thành, nó là thuộc tính của nhau. Có thể ví trạch pháp hay niệm giác chi như mặt trời (giềng mối phát sinh chân lý), hỷ - khinh an - tinh tấn là ánh sáng (sự chiếu sáng bất tận), định là sức chiếu tự tại (chiếu không phụ thuộc hoặc chạy theo đối tượng), xả là chiếu sáng không biên bờ (không hạn chế đối tượng hay nơi chốn để chiếu).

  • Vì thế thất giác chi thuộc thánh pháp, nó là kết quả của diệt đế, thất giác chi có công năng làm viên thành đạo giác ngộ.

  • Mỗi thừa có một nơi chốn để giác ngộ và có một thất giác chi tương ưng với năng lực giác ngộ.

  • Mỗi hành giả khi giác ngộ có một cách hiểu thất giác chi cho riêng mình và chỉ ứng dụng cho riêng mình. Phật pháp có vô lượng môn giải thoát thì cũng có bấy nhiêu thứ thất giác chi tương ứng.

  • Tuy nhiên nói là nhiều nhưng không ngoài ba thừa, nếu có thể có một khái niệm tổng quát ba thừa thì dù nhiều cũng không ra khỏi quy luật ba thừa.

Vì thế để có một cái nhìn tổng quát về vấn đề này cần hiểu tường tận cách thức giác ngộ và tu tập của ba thừa. Hiểu rồi thì cơ may ứng dụng thất giác chi sẽ đạt hiệu quả cao.

Thành tựu thất giác chi là cơ sở để phát sinh đạo đế. Nếu thất giác chi chưa viên thành thì đạo đế chưa thể xuất hiện, vì đạo đế hay bát chánh đạo thuộc phần tu đạo, tức môi trường sống của diệt đế, giống như nước là môi trường sống của cá. Mỗi loài cá sẽ tự chọn cho mình một môi trường thích hợp để tồn tại và bát chánh đạo ra đời trong hoàn cảnh này.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Xả Của Ba Thừa

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2023

Xả là công đoạn cuối cùng thành tựu viên mãn thất giác chi hay diệt đế, chi phần này quan trọng đánh dấu bước ngoặc lớn trong đời sống tu hành. Xả là giai đoạn thay đổi triệt để bản chất từ phàm lên thánh, viên mãn xả là viên mãn thánh quả chấm dứt phiền não sanh tử luân hồi.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Như đã giới thiệu ba thừa do giác ngộ dẫn khởi nên thất giác chi có mặt trong tiến trình tu hành, xả là công đoạn cuối cùng thành tựu viên mãn thất giác chi hay diệt đế, chi phần này quan trọng đánh dấu bước ngoặc lớn trong đời sống tu hành.

Xả là giai đoạn thay đổi triệt để bản chất từ phàm lên thánh, viên mãn xả là viên mãn thánh quả chấm dứt phiền não sanh tử luân hồi. Phần còn lại hay hệ quả của sự chuyển đổi quan trọng này là bát chánh đạo hay đạo đế. Đến đây người tu hành chỉ còn y như bát chánh để làm môi trường sống như cá với nước. Muốn có môi trường trong lành và phù hợp thánh đạo, xả giác chi làm công việc trong sạch hóa những gì mà định giác chi không đủ sức mạnh tẩy xóa vết tích phàm tâm. Như nước đã trong nhưng chưa thật sự sạch phải dùng nhiệt xử lý để nước này trở nên tinh khiết, mọi mầm bệnh không tồn tại khi dùng thứ nước này, cho nên trong kinh thường khen ngợi bát chánh đạo là: “Độc đạo an ổn và bất tử.”

a. Pháp Xả Của Ba Thừa

Nhị thừa giác ngộ ngũ ấm và năm dục là đầu mối phát sinh mọi hiểm họa, yểm ly được coi như cơ sở tốt nhất để đi đến thành tựu. Đối với nhị thừa, yểm ly là nguyên tắc, nếu đi ngược hoặc không tuân thủ nguyên tắc này tức ác pháp.

Nguyên tắc này đưa nhị thừa đến thánh quả bằng con đường giới-định-huệ, lấy giới làm tường vách yểm ly ngũ ấm, lấy thánh giáo làm tuệ giác yểm ly dục, giới và thánh giáo hỗ trợ cho nhau để làm sạch “thù trong giặc ngoài.” Không còn bóng dáng kẻ thù ngũ dục thiền phát sinh, ngũ ấm yểm ly triệt để định sanh.

Thiền định của nhị thừa đặt nền móng ly dục từ nhận thức gọi là thắng giải, nhận thức ăn sâu trong mỗi hành động việc làm. Do nhận thức này tâm ý không sanh khởi các ác bất thiện pháp, tức không cho phép thân tâm duyên các dục gọi là tuệ tri. Đây là hành động lấy nhận thức để yểm ly, lấy yểm ly để xả, khi dục đã được xả hoàn toàn, căn bản thoát ly dục giới thành tựu rồi mới tiếp tục tiến sâu vào các cảnh giới khác cao hơn. Pháp xả của nhị thừa có thứ lớp, giống như lột vỏ trái bắp, lột rốt ráo gọi là liễu hay liễu tri, tức nhận thức trọn vẹn mà rời xa.

Đoạn kinh sau mô tả công việc kiểm soát thân tâm (niệm xứ) của nhị thừa để xả các ý niệm bất thiện (dục), thuật ngữ kinh gọi là tuệ tri:

“Và này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán thân trên thân? Này các Tỳ Kheo, ở đây, Tỷ Kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt.

Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài,” hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài,” hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn,” hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn.” "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập. "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. Này các Tỳ Kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: "Tôi quay dài,” hay khi quay ngắn, tuệ tri: "Tôi quay ngắn.” Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài,” hay thở ra dài, tuệ tri: "Tôi thở ra dài,” hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn,” hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn.” "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô,” vị ấy tập. "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra,” vị ấy tập. Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi,” hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng,” hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi,” hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm.” Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.

Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng Già Lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây,” vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ Kheo, như vậy là Tỷ Kheo sống quán thân trên thân.”[[1]]

Sau khi xả các dục bằng cách: “Hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời.”

  • Chánh trí, chánh niệm ở đây có nghĩa hiểu biết và nhớ nghĩ không còn liên hệ đến dục nên gọi là chánh. Những nhớ nghĩ hiểu biết nào có bóng dáng của dục được gọi là tà trí, tà niệm.

Sau khi năm dục hạ liệt không còn trưởng dưỡng, tiếp tục hướng đến dục công đức để xả các cảnh giới cao hơn đó là thân tâm và ý thức. Kinh gọi là sắc giới và vô sắc giới, hai giới này thuộc đại hành tâm, tức loại tâm có thiền định. Căn bản của sắc giới là giác quán và cảm thọ, giác quán gồm hai món thuộc về tâm ý. Tâm có giác, ý có quán, thuật ngữ là tầm tứ. Thân tâm gồm hai món là hỷ và lạc, hỷ hiện khởi trên thân và lạc hiện khởi trên tâm.

Nhị thừa y thánh giáo nên nhận thức của họ bây giờ những gì tồn tại trên thân tâm đều phải xả, do đó giác quán hỷ lạc là pháp thượng diệu nhưng nó cũng là ‘hữu vi pháp’.  

  • Những gì thuộc ‘hữu vi pháp’ vô thường biến hoại và đó là nhân sanh diệt. Do hiểu biết này nhị thừa hướng tâm vào dục công đức (một hình thức của dục như ý túc) làm cho tăng trưởng giác quán sung mãn hỷ lạc, phép tăng trưởng này dựa trên nguyên lý lấy trong xả đục, tức dục công đức hưng thịnh thì dục hạ liệt tiêu diệt. Ở đây còn nguyên lý thứ hai là khi no đủ sẽ không đòi hỏi, khi tâm đã no các dục công đức giác quán hỷ lạc sẽ tự xả trong điều kiện bảo hòa.

Đây là trạng thái thân tâm tuần tự vượt qua sắc giới, đỉnh điểm của sắc giới là tứ thiền, cảnh giới này tâm như một mảnh vải trắng chưa nhuộm khổ vui, vì thế có tên “bất khổ bất lạc thọ,” cụm từ này nói lên tính chất thân tâm đã được xả ly triệt để; do xả triệt để dục giới và sắc giới nên thân tâm không còn câu sanh lẫn nhau.

Hai món này được tách rời, giống như người ta tách hạt đậu ra khỏi vỏ đậu, giai đoạn này cực kỳ quan trọng đối với nhị thừa, chuẩn bị ra khỏi sắc giới, tức tâm ra khỏi giới hạn của thân.

  • Khi tâm xả được thân, tâm này vi tế có thể xâm nhập bất kỳ lĩnh vực nào mà một hữu tình còn thân không thể làm được; thân tâm tách ra khỏi nhau là tiền đề để nhị thừa vào thánh vị nếu không muốn vượt qua vô sắc giới.

Đoạn kinh sau giới thiệu cách thức xả sắc giới và nơi xả tâm không thọ các thứ có liên hệ đến ác bất thiện pháp: “Vị ấy với sự thành tựu Thánh giới uẩn này, với sự thành tựu Thánh hộ trì căn này, và với Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng, tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.

Sau khi từ bỏ năm triền cái làm ô nhiễm tâm, làm cho yếu ớt trí tuệ, vị ấy ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm giác sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú," chứng và trú Thiền thứ ba. Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị Tỳ Kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc,  xả niệm thanh tịnh .

Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: Lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt.

Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Khi vị ấy nghe tiếng bằng tai... (như trên)... Khi vị ấy ngửi hương bằng mũi... (như trên)... Khi vị ấy nếm vị bằng lưỡi... (như trên)... Khi vị ấy cảm xúc bằng thân... (như trên)... Khi vị ấy nhận thức pháp bằng ý, vị ấy không tham ái đối với pháp tốt, không ghét bỏ đối với pháp xấu. Vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, vị ấy đoạn trừ (thuận nghịch) có cảm thọ nào khởi lên: Lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt.  Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt.  Do thủ diệt nên hữu diệt.  Do hữu diệt nên sanh diệt.  Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.  Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.  Này các Tỳ Kheo, các Ông hãy thọ trì ái tận giải thoát này, được Ta nói một cách tóm tắt, nhưng (phải nhớ là) Tỳ Kheo Sati, con của người đánh cá, đã bị mắc trong cái lưới lớn của ái, trong sự rối loạn của ái.” [[2]]

Vấn đề quan trọng của nhị thừa là vào sắc giới xả khổ lạc, tâm không câu hữu với khổ lạc là một thứ tâm không bị hệ phược hoặc ít ra trí tuệ không bị hệ phược. Những mối liên hệ nào làm ‘tâm vọng động’ và ‘ý giong ruổi’ nay đã dừng lại, giống như lá cờ không bị gió thổi.

Chính tâm này là nguyên liệu làm nên mọi thứ thánh quả nếu biết sử dụng và thiện xảo trong sử dụng. Theo như các kinh giáo nhị thừa, để chỉ tâm này Phật dùng cụm từ “nhu nhuyến dễ sử dụng,” cụm từ này mô tả đầy đủ tính chất của đệ Tứ Thiền, giống như một loại bột chưa được nhào nắn, nhờ tính chất này có thể hướng tâm đến bất kỳ nơi nào hành giả muốn, như hướng tâm đến tam minh diệt sạch các lậu vượt thoát sanh tử. Có thể phát khởi các loại thần thông vào Tứ Không Định chứng thánh quả; nếu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề dùng bất cộng phàm phu pháp chứng vô sanh của Bồ Tát; hoặc hướng tâm đến Bát Bội Xả, trái bỏ những gì còn tồn tại của một phàm phu hay không liên hệ đến mục đích của bậc thánh; phát khởi tâm vô lượng với bốn món Từ Bi Hỷ Xả nhập Bồ Tát thừa.

Tóm lại nhị thừa dùng pháp yểm ly theo nguyên lý tam vô lậu học để xả, nên xả giác chi của thừa này mang dáng dấp thánh giáo, tức cái gì Phật bảo xả thì nhị thừa kiên quyết không thọ, thậm chí không được nghĩ tưởng đến, vì vậy cụm từ ‘ác bất thiện pháp’ thường xuyên xuất hiện trong tạng kinh giáo thừa này.

Do đó có thể kết luận pháp xả của nhị thừa là xả ác và bất thiện pháp, xả đến bao giờ toàn tâm là thiện thì mới viên mãn xả pháp (chữ thiện trong đạo xuất thế là thiện giải thoát).

[[1]] Trích kinh Niệm Xứ -HT. Thích Minh Châu dịch.

[[2]] Trích kinh Đoạn Tận Ái –HT. Thích Minh Châu dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Các Loại Pháp Xả

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2023

Xả trong xả giác chi có nghĩa là nhân giác ngộ mà xả hoặc xả viên mãn đưa đến giác ngộ. Chữ xả này đứng sau định giác chi hàm ý tâm vắng lặng nên không còn thọ một pháp nào gọi là xả.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Giống như những pháp khác của Phật giáo, pháp xả cũng có những thứ bậc do giác ngộ sai khác, xả của nhị thừa, Bồ Tát, và Phật thừa. Mỗi loại xả tương ưng với sức giác ngộ, vì thế cách thức xả không giống nhau. Người sơ cơ ở địa vị phàm phu hướng đến Phật đạo muốn từ bỏ hệ lụy thế gian để được an ổn, họ học pháp xả bằng cách bố thí cúng dường tài vật, từ bỏ dần những thứ chấp thủ trên đời. Giống như người leo núi quăng bỏ những thứ không cần thiết để nhẹ bớt cho sự mang vác, xả bỏ ở đây có nhiễm tâm vì không thể mang nổi hoặc trở ngại cho mục tiêu hữu vi nên xả bỏ, Phật gọi đó là pháp có ái nhiễm, ái nhiễm Từ Bi Hỷ Xả. Ba thừa giác ngộ muốn giải thoát phải loại tất cả ra khỏi đời sống tu hành kể cả ý niệm, có nghĩa không thọ một pháp nào kể cả ý thức mới thành tựu mục đích. Do đó ba thừa không thọ gọi là xả, xả này rốt ráo nên gọi là đại Từ đại Bi đại Hỷ đại Xả.

Có chuyện kể trong kinh: Một hôm phạm chí Trường Trảo đến tranh biện với Phật, phạm chí Trường Trảo nói: “Cù Đàm, không thọ tất cả pháp!” Phật nói: “Nhưng ông có thọ lời nói đó?” Phạm chí Trường Trảo ngẫm nghĩ giây lâu rồi trả lời: “Cũng không thọ câu nói vừa rồi!”

Phật lại nói: “Câu này có khác gì câu trước?”

Trong câu chuyện này nói lên một điều cái gì ý thức vươn tới thì có thọ (không gọi là xả), cho nên chữ xả trong ý nghĩa xuất thế thậm thâm và tế nhị, nếu nghĩ tưởng biện biệt về nó thì đã đi xa nghĩa xả. Chư Phật và các Đại Bồ Tát đến rốt ráo không còn gì để xả nên gọi là vô lượng Từ vô lượng Bi vô lượng Hỷ vô lượng Xả. Trong kinh Lăng Già bài kệ tán Phật của ngài Đại Huệ có đoạn: “Quán mâu ni tịch tĩnh, thế là xa lìa sanh, và cũng không có thọ, đời này đời sau tịnh.” Bài kệ này nói lên chỗ cao tột của thanh tịnh vắng lặng chính là xả, pháp không sanh không diệt, không đời này đời sau là vô vi pháp, vô vi là thường nên chẳng thủ chẳng xả gọi là ‘vô lượng Xả’.

Xả trong xả giác chi có nghĩa là nhân giác ngộ mà xả hoặc xả viên mãn đưa đến giác ngộ. Chữ xả này đứng sau định giác chi hàm ý tâm vắng lặng nên không còn thọ một pháp nào gọi là xả. Định và xả có mối liên hệ nhân quả, tâm định thì tâm sẽ xả, xả rốt ráo thì định càng sâu, mối liên hệ này là sự hỗ tương cho nhau để cả hai cùng viên mãn. Khi cả hai viên mãn gọi là đại xả hay đại định. Bên ngoài gió cảnh không thể làm trôi dạt biển tâm, bên trong sóng tàng thức không hiện khởi, cũng có thể hiểu bên ngoài vắng lặng là xả, bên trong thanh tịnh là định. Xả giác chi có ý nghĩa xuất thế là kết quả giác ngộ, nên ứng dụng nghĩa này nằm trong sự giác ngộ hay khác đi giác ngộ rồi mới có thể ứng dụng pháp này. Do đó xả giác chi vượt ra ngoài khái niệm từ bỏ thường tình. Người đời bỏ một vật gì, tức vật đó quá khứ đã thuộc về mình, có nghĩa thọ rồi mới xả. Xả giác chi ngược lại do giác ngộ tính hư dối của vạn pháp nên tâm tịch diệt, trước vạn pháp tâm tịch diệt nên không thọ, ‘rốt ráo không thọ’ gọi là ‘xả’. Xả như vậy là xả giác chi, đây là quá trình chấm dứt diệt đế.

Để cảnh giác sự hiểu lầm chữ xả theo ý nghĩa thế tục trong kinh có chuyện kể: Có một Bà La Môn trẻ tuổi đi trên đoạn đường vắng, trong lúc đói bụng thấy trái A Ma Lặc nằm trong bãi phân trâu, do không kềm chế cơn đói Bà La Môn trẻ lượm trái A Ma Lặc trong bãi phân trâu đem đi rửa để ăn. Chẳng may lúc đó có một Bà La Môn trưởng lão nhìn thấy, vị Bà La Môn trưởng lão quở trách người trẻ tuổi làm ô nhục giòng giống Bà La Môn. Bà La Môn trẻ phân trần với trưởng lão của mình rằng:  Không phải con lượm trái A Ma Lặc rửa sạch để ăn mà rửa rồi bỏ!”   Ngụ ý của chuyện kể nhằm chỉ trích quan niệm thọ rồi mới xả, giống như lượm trái A Ma Lặc rửa rồi bỏ, đó là việc làm vô ích và không có ý nghĩa. Vì thế để thấu suốt ý nghĩa xả giác chi cần phải giác ngộ, nếu diễn giải xả giác chi theo thế thường sẽ không thể ứng dụng đưa đến đạo quả.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mươi Bảy Phẩm – Thất Giác Chi – Xả Giác Chi

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Xả giác chi là công đoạn cuối cùng thành toàn đạo xuất thế của ba thừa, công đoạn này có ý nghĩa diệt đế đã viên mãn. Đạo Phật lấy pháp xả làm mục tiêu, đây là điểm khác biệt rất xa với pháp thế gian.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Xả giác chi là công đoạn cuối cùng thành toàn đạo xuất thế của ba thừa, công đoạn này có ý nghĩa diệt đế đã viên mãn. Đạo Phật lấy pháp xả làm mục tiêu, đây là điểm khác biệt rất xa với pháp thế gian. Trong thế pháp khi nhắm đến một pháp nào đó để đạt đến, khi thành tựu, pháp này hiện hữu trong đời sống nên Phật pháp gọi pháp thế gian là pháp cấu hay hữu vi pháp. Phật pháp ngược lại, làm tất cả mọi thứ để rồi cuối cùng không còn gì để được, cho đến khái niệm không còn gì cũng phải mất đi nên gọi là pháp xả hay vô vi. Trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Pháp còn phải xả hà huống phi pháp”. Tất cả mọi thứ không tồn tại trong tâm thức, tâm thức hoàn toàn vắng lặng, cảnh giới này rỗng rang không lời nhưng nếu không dùng ngữ ngôn thì người tu hành chẳng thể hình dung được đó là gì. Và mục tiêu phải đạt được có ý nghĩa như thế nào nên tạm dùng văn tự thế pháp gọi cảnh giới đó là xả để ám chỉ nơi chốn người tu hành phải đến.

  • Chữ ‘xả’ trong Phật pháp nhiều tầng bậc khác nhau, tùy theo địa vị tu hành mỗi địa vị có một nghĩa xả thích hợp, vì vậy chỗ cạn sâu của xả cũng không đồng.

Ba thừa lại có ba cách hướng đến xả tâm khác nhau, mỗi giai đoạn tu hành lại có một cách hiểu về xả, do đó để có thể hiểu hết nghĩa xả của Phật giáo không phải đơn giản.

Tất nhiên nếu coi xả như một khái niệm để tham khảo thì có thể hiểu xả là từ bỏ, vứt đi, không chấp. Cách hiểu này không sai nhưng chẳng thể ứng dụng vào đạo xuất thế.

Muốn ứng dụng người tu hành cần biết một số nét cơ bản của từng giai đoạn, cũng như ba thừa xả như thế nào rồi sau đó mới có thể tiến sâu trong Phật đạo để viên mãn xả pháp.

  • Trong thập bát bất cộng của chư Phật có một pháp nói lên ý nghĩa rốt ráo của xả đó là: “Chư Phật xả tất cả pháp, nhưng pháp nào chưa biết tường tận thì chưa xả.”

(còn nữa)

Thư viện

Phần VIII: 37. Hỏi Đáp Và Tâm Tình; 38. Tòng Địa Dõng Xuất; 39. Những Gợi Ý Cơ Bản Cho Huynh Đệ Mới; 40.Pháp "Gia Trì". (Trang 158 - 177)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Anh Lạc Luận 2

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hồng Đức 

Phần VIII: 37. Hỏi Đáp Và Tâm Tình; 38. Tòng Địa Dõng Xuất; 39. Những Gợi Ý Cơ Bản Cho Huynh Đệ Mới; 40.Pháp "Gia Trì".

Từ Trang:  158 - 177

Giọng đọc: Lý Bạch Huệ Minh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn Cuối Năm… Tự Thắp Đuốc Lên Mà Đi

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Phật dạy “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Các bạn!!! Cây đuốc đã có rồi, hãy thắp lên và bước tới!!!

Các bạn!!!

Loay hoay mà một năm trôi đi, chỉ còn khoảng mươi ngày nữa là hết năm 2013. Mình nhớ không lầm, thì hồi đầu năm, chúng ta quyết tâm thành tựu ý nghĩa Ba La Mật. Và trong suốt một năm qua, HĐ chúng ta đào sâu ý nghĩa của việc này. Có lẽ, cho đến bây giờ, về lý thuyết, phần lớn HĐ đã thấu suốt, phần còn lại là, chúng ta ứng dụng như thế nào, để những lý thuyết này đi vào cuộc sống. Có nghĩa, tâm, ý và Ba La Mật không còn là hai!!!

Giống như chúng ta đã có “cây đuốc trên tay”, vấn đề được đặt ra là: Làm thế nào để cây đuốc này phát huy diệu dụng, làm thế nào để cây đuốc trên tay ta trở thành hữu ích và sử dụng đúng chức năng đích thực của nó. Đó là, soi sáng, và ta bước đi với ánh sáng này.

Thực tế, không một ai có thể bước thay để ta về đến đích, “chỉ có tự thân và cây đuốc trên tay”, chắc các bạn biết mình nên làm gì với nó. Vì thế Phật dạy “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Các bạn!!! Cây đuốc đã có rồi, hãy thắp lên và bước tới!!!

Mỗ̃i một cung đường trong Phật Đạo, người tu hành cần được trang bị một cây đuốc, mỗ̃i cây đuốc có một giá trị nhất định trong quãng đường nhất định. Và con đường đến Vô Thượng Bồ Đề, người tu hành phải sử dụng ít ra từ ba đến bốn cây đuốc như thế.

Hy vọng, sang năm 2014, chúng ta lại tiếp tục tìm kiếm một cây đuốc mới, để thắp lên cho chặng đường mới.

Mình nghiệm ra một vài điều, xin được chia sẻ đến các HĐ, đó là: Con đường tu hành không khác gì đường đời, nó cũng phải chịu một số quy luật nhất định. Có lúc tu hành làm ta hưng phấn, cũng có lúc làm ta chùn chân. Có lúc chuyện tu hành là một thắng lợi, nhưng cũng có lúc ta lại không thành công. Trong tu hành, vui có, buồn có, hay có, mà dở cũng không thiếu, v.v... Nói chung đủ mùi vị!!! Thật sự, con đường tu hành chẳng khác con đường đời, cũng đầy chông gai, nhưng cũng đầy hoa đỏ, có mật ngọt, có đắng cay!!!

- Đích đến của hai con đường thì hoàn toàn trái ngược. Đường đời càng bước tới, càng đi sâu thì ngày một u tối, nhiều phiền não. Còn con đường tu hành, càng bước tới, càng đi sâu thì ngày một sáng lạn, an vui. Bước trên chông gai mà chung cuộc là an vui thì cũng chẳng ngại gì, thậm chí đây có thể coi là một thắng lợi!!!

- Hôm qua, mình có nói chuyện với một vị Thượng Toạ. Vị này công nhận rằng, trong cuộc đời tu hành mà gặp được một bạn lành, dắt mình đi đúng hướng không phải là chuyện dễ, thậm chí vô cùng khó. Vị này nhận ra cái may mắn là được chia sẻ Giáo Pháp cùng HĐ chúng ta. Vị Thượng Toạ không dấu diếm, rằng người xuất gia tuy ở chùa am, nhưng phiền não còn nhiều hơn ở ngoài đời!!!

- Thế mới biết, ngọn đuốc Giáo Pháp cực kỳ quan trọng.

- Không có “Giáo Pháp”, thì “chùa thành chợ”, có được cây đuốc đích thực thì có thể biến “chợ thành chùa”.

- Mình biết, trong HĐ chúng ta có người rất tinh tấn, cũng có một vài HĐ vì lý do này hay lý do khác nào đó tạm thời chùn chân. Nhưng không sao, cuộc đời mà, thân làm cư sĩ là như thế đó.

- Vấn đề là “Chưa thắp được cây đuốc cho hôm nay, hãy mang theo bên mình”, khi nào đủ duyên thì lại đốt lên… Miễn sao… đừng đem nó “bán ve chai” là được rồi...

(18-12-2013)

Thư viện

Phần VII: 22. Dấu Hiệu Kinh Nói …; 23. Chuyện Về "Cây Phướn" ; 24. Về Nghĩa " Thắng Giải"; 25. Hạnh Và Giải; 26. Kệ "Ấu - Sen"; 27. Tập Viết Tâm Pháp; 28. Thơ Con Cóc..; 29.; 30; 31; 32. 33. 34; 35; 36. Về....Thánh Giáo Pháp (Trang 133 - 157)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Anh Lạc Luận 2

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hồng Đức 

Phần 7: 22. Dấu Hiệu Kinh Nói "Bồ Tát Duy Ma Cật" Bước Ra Làm Lợi Ích Cho Chúng Sanh; 23. Chuyện Về "Cây Phướn" ; 24. Về Nghĩa " Thắng Giải"; 25. Hạnh Và Giải; 26. Kệ "Ấu - Sen"; 27. Tập Viết Tâm Pháp; 28. Thơ Con Cóc..''Phật Quốc Là Đâu? ; 29. "Chúng Sanh Do Gì Làm Nên?; 30. Quà Sinh Nhựt...Xá Lợi Và Bát Nhã" ; 31. Chuyện Nghêu - Sò Vấn Đáp ; 32. Gởi Vợ Thằng Đậu ; 33. "Bất Động" Do Gì Làm Nên? 34. Nhớ Nghĩ Về...Bồ Tát Thường Bất Khinh ; 35. Chiều Yên Tử ; 36. Về....Thánh Giáo Pháp

Từ trang:  133 - 157

Giọng đọc: Lý Bạch Huệ Minh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Thư viện

Phần  VI: 13. Lý Thuyết Ba Hồ, 14. Thanh Tịnh", ...; 15. Học Và Hỏi Trong Tu Tập; 16. Tâm Tình Về "Trung Đạo"; 17. Giá Áo Túi Cơm" ... 18. Bộ Môn Nghệ Thuật "Chăm Sóc Cây"; 19. Lý Thuyết "Ba Đao"; 20.Bất Cộng Phàm Phu; 21.Như Lai Mật Nhân (Trang 104-133)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Anh Lạc Luận 2

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hồng Đức 

Phần  VI:  13. Lý Thuyết Ba Hồ, 14. Thanh Tịnh", Coi Chừng Lộn Thuốc; 15. Học Và Hỏi Trong Tu Tập; 16. Tâm Tình Về "Trung Đạo"; 17. Giá Áo Túi Cơm" Và Văn Hóa Vô Lậu; 18. Bộ Môn Nghệ Thuật "Chăm Sóc Cây"; 19. Lý Thuyết "Ba Đao"; 20.Bất Cộng Phàm Phu; 21. Như Lai Mật Nhân.

Từ trang:  104 - 133

Giọng đọc: Lý Bạch Huệ Minh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Subscribe to