Văn Tự Bát Nhã, Vị Lai, Đương Lai
Mong các HĐ chú ý, học tập, thấm nhuần. Để vị lai có thể giúp mình, giúp người tốt hơn, đúng chánh pháp hơn.

Các bạn!!!
Mình vừa nhận được emails của một số HĐ. Trong email của một HĐ có trích đoạn kinh nói về cảnh giới Phật. Đọc đoạn kinh trên, mình thấy rất hay và sâu thẳm. Mong mọi người cùng đọc để thấy ra nhiều điều hy hữu. Đặc biệt, trong đoạn kinh trên, sau khi Bồ Tát Văn Thù và Phật tuyên thuyết về “cảnh giới bất khả tư nghì”, ngay đó có vô số người tức thì thành tựu các quả vị thậm thâm trong Phật Đạo. Ví dụ như các đoạn:
“Khi Bồ Tát thuyết pháp ấy, có năm trăm Tỳ kheo tăng ở trong chúng, vĩnh viễn đoạn trừ các lậu, tâm được giải thoát, tám trăm các thiên tử xa lìa trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh. Lại có bảy trăm các thiên tử nghe sự biện tài của ngài, sanh lòng tin thích sâu xa. Họ đều phát tâm A Nậu đa la tam miệu tam Bồ đề”.
Hoặc:
“Khi Bồ tát nói pháp này, hai trăm Tỳ kheo ở trong hội vĩnh viễn chấm dứt các lậu, tâm được giải thoát. Tất cả đều cởi áo đang mặc trên thân, dâng lên Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, thưa rằng: Nếu có chúng sanh được nghe diệu pháp sâu xa này nên sanh tâm tín thọ. Nếu họ không sanh lòng tin mà cầu chứng ngộ thì không bao giờ có được”.
Các bạn!!!
Cái vi diệu của chánh pháp là ở chỗ này, đây mới đích thực là chánh pháp. Nếu không phải là chánh pháp, thì chẳng thể tuyên thuyết một thời mà lại có công dụng khiến người giác ngộ mau chóng như vậy. Việc hy hữu này, chẳng phải là điều để chúng ta suy gẫm hay sao???
Về bài viết của một HĐ:
a) Đọc bài viết của HĐ này, mình mạn phép chỉnh chữ “phá chấp về thời gian”, bằng chữ “thật nghĩa củ̉a thời gian”.
Vì sao phải sửa như vậy???
Tu hành trong Phật Đạo, là “giác ngộ nghĩa chân thật” để trở về với “bản nguyên chân thật”. Giống như người lầm đường, nay biết con đường đúng, tự quay trở lại. Sự quay trở lại này “mang tính chân lý” và “tự giác”. Sự quay lại này không phải là việc làm để “phá con đường sai”, vì thế chữ “phá” khi sử dụng, khiến người dễ hướng ngoại, dễ khiến mình người sanh tâm, dễ khiến mình người thấy có chủ thể phá và đối tượng bị phá. Thấy biết bởi chữ “phá”, đi tìm “cái để phá”, sẽ dễ sanh Ngã, khó có thể khiến người Giác Ngộ trực nhận ra điều gì đó. Xin các HĐ lưu ý, nhằm tránh “kẹt Tứ Cú” khi tuyên thuyết sau này.
b) Về chữ “tương lai”, mình mạn phép sửa thành “vị lai”.
Vì sao lại phải sửa như vậy???
Để chỉ cho “thời gian sẽ đến”, có ba từ ngữ nhằm chỉ cho việc này. Ba từ ngữ đó là: tương lai, vị lai và đương lai.
Tương lai.
Đây là từ ngữ của thế gian, nhằm chỉ thời gian sắp đến, trong đó mang tính tương tục, kế thừa của cái hiện tại. Có nghĩa nhờ vào nhân hiện tại mà có quả của tương lai.
Ví dụ: Hôm nay Anh cần cù, siêng năng làm việc để kiếm nhiều tiền, thì tương lai Anh sẽ không bị đói. Không bị đói trong tương lai, đó là kết quả tương tục của sự cần cù hôm nay. Một hữu vi cho ra một hữu vi.
Vị lai.
(Vị: Chưa; Lai: Đến): Chữ vị lại là thuật ngữ đặc trưng của Phật Đạo. Thuật ngữ này chỉ một việc, hành động nào đó có thể xảy ra vào thời gian sắp đến, nó không mang tính kế thừa, hoặc do bởi sự tương tục của hiện tại.
Ví dụ: Hiện tại chúng sanh mê muội nên khổ đau, vị lai chúng sanh này có thể giác ngộ thoát khỏi phiền não. Cái giác ngộ của vị lai, không do bởi sự mê muội hôm nay, có nghĩa quả giác ngộ không phải là sự thành tựu của nhân mê muội. Chữ vị lai khi tuyên thuyết đúng thời, thiện xảo, có thể khiến người dứt tâm tương tục, thấu suốt bản chất của nhân quả.
Đương lai.
(Đương: Ngay đó): Đây là từ ngữ nhằm chỉ cảnh giới Giác Ngộ Tối Hậu. Giác ngộ tối hậu, không phải là tương lai, cũng không phải là vị lai. Vì nó đã tịch diệt, ra khỏi tính chất thời gian, đối đãi, suy lường, biện biệt.
Ví dụ: Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật. Có nghĩa ngay tức thì trong thời gian đó. Có thể là bây giờ, có thể là một sát na của vị lai, có thể là lâu xa. Vị ấy Thành Phật. Thành Phật không do bởi một sự kế thừa, hoặc do một “chuẩn thời gian” nào hết.
Các bạn!!!
Đành rằng ngôn ngữ chỉ là những tín hiệu để trao đổi thông tin cho nhau, chỉ là những ký hiệu giúp nhau nhận biết điều gì đó. Nhưng thực tế, mỗ̃i môn học, mỗ̃i ngành nghề trên cõi đời này đều có những tín hiệu, những ký hiệu mang đậm nét đặc trưng riêng. Nếu ta sử dụng tín hiệu hoặc ký hiệu không chuẩn mực, sai ngành nghề, sai công việc, nhất định sẽ sanh ra "những lầm nhận đáng tiếc" đó là không thực hiện được công việc từ những ký hiệu, tín hiệu phát sai, nhận sai này. Thậm chí có thể đưa đến những sai lệch do thông tin không chuẩn xác.
Vì thế, Phật Đạo có “Bát Nhã Âm”, có “Bát Nhã Quang”, có “Bát Nhã Trí”, có “Bát Nhã Lực”, có “Bát Nhã Dụng”, có “Bát Nhã Lực Dụng”, có “Bát Nhã Chân Thiệt”, có “Tương Tợ Bát Nhã”, và vô số “Bát Nhã Công Dụng” như thế.
Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, nhờ thấu suốt và thiện xảo sử dụng Bát Nhã ngữ ngôn, nên khi tuyên thuyết “Pháp Thậm Thâm”, người nghe liền thành tựu những điều cần thành tựu trong tức thì, không cần kinh qua một cái gì cả. Điều này Phật Giáo gọi là: “Vô Công Dụng Đạo”, “Ngữ ấy tức nghĩa”, mà đoạn kinh được dẫn chứng ở trên là một ví dụ điển hình.
Mong các HĐ chú ý, học tập, thấm nhuần. Để vị lai có thể giúp mình, giúp người tốt hơn, đúng chánh pháp hơn. Gọi là lời tuyên thuyết: “Không kẹt tứ cú, không bị bốn bệnh, không rơi vào bốn tướng”.
Nói khác hơn, loại văn tự đặc trưng này chính là "Văn Hóa Vô Lậu", chính là "Bát Nhã" vậy.
(13-05-2014)
Trí Tuệ Và… Tế Hạnh… Của Người Cư Sĩ… , Không Ngủ Quên Trên Chiến Thắng
Chúng ta là những cư sĩ, là những HĐ tốt của nhau, vì hạnh phúc của mình, vì hạnh phúc của người mà dấn thân tu hành.

Các bạn!!!
Thời gian vừa qua, chúng ta nỗ̃ lực tu hành, thành quả đạt được của mỗ̃i HĐ, theo nhận xét cá nhân của mình, là không nhỏ. Có thể nói, các HĐ đã trưởng thành từng ngày, điều này thể hiện qua các bài viết, từng mẫu chuyện được mình chứng kiến hoặc nghe thuật lại. Thành tựu này rất đáng tôn trọng, tán thán và hoan hỷ.
Chiều nay, mình có cuộc trao đổi thân tình với một số HĐ. Nội dung trao đổi này, theo mình là bổ ích và thiết thực. Bổ ích là vì, nó giúp HĐ chúng ta “không ngủ quên trên chiến thắng”. Thiết thực là vì, nếu HĐ chúng ta, từng người biết lắng nghe và khắc phục một vài khiếm khuyết cá nhân, sẽ giúp những gì đã thành tựu lại thêm thành tựu. Giống như viên ngọc quý, bản chất ngọc là giá trị. Nhưng nếu viên ngọc này được mài dũa từng ngày để mỗ̃i mặt của nó mất đi các tì vết không đáng có, thì viên ngọc sẽ sáng hơn và giá trị cao hơn.
Các bạn!!!
Chúng ta là những cư sĩ, là những HĐ tốt của nhau, vì hạnh phúc của mình, vì hạnh phúc của người mà dấn thân tu hành.
Mình biết rất rõ, trong tu tập, người cư sĩ có những hạn chế nhất định. Sinh ra trên đời này, chúng ta không may mắn như những Tỳ Kheo, là có được những A Xà Lê mẫu mực dẫn đường, lại cũng không có những đồng phạm hạnh đầy đủ oai nghi làm chỗ̃ tựa nương, lại càng thiếu vắng các Bậc Tôn Đức là Hoà Thượng, Thượng Toạ, Đại Đức Tăng giảng giải về luật nghi, lễ tiết.
Những thiếu sót này của HĐ chúng ta, nói chung là rất lớn. Chính thiếu sót lớn này, là động lực để HĐ chúng ta tự nhìn lại mình, cố gắng học tập, điều chỉnh hành vi. Để rồi mai đây, hoặc sống một mình, hoặc tiếp xúc với người, HĐ chúng ta tuy là “thân cư sĩ”, nhưng không bị chê trách là những “cư sĩ lỗ̃ mãng”, chúng ta có thể tự tin và hãnh diện, mình là những Phật Tử đúng như danh xưng này.
Một ngày, cư sĩ chúng ta có rất nhiều bận rộn của cuộc sống, thời gian dành cho tu tập không nhiều. Tuy vậy, thi thoảng, HĐ chúng ta vẫn dành dụm chút đỉnh thời gian quý báu, bỏ thú vui ngũ dục, mượn quán nước bên đường để làm nơi trao đổi, học hỏi nhau trên phương diện tu hành. Vì thế, khi gặp gỡ chúng ta nên biết trân quý thời gian này và hướng về mục tiêu chính. Không nên đốt cháy thời gian bằng những câu chuyện phiếm, đàm luận thế tục. Nếu không từ bỏ điều này, phỏng chúng ta gặp nhau có lợi ích gì nào??? Mục tiêu của chúng ta là gì??? Xin các bạn coi lại!!!
Khi tiếp xúc với bằng hữu ở ngoài. Một vài HĐ chúng ta bị bằng hữu ngoài kia đánh giá là không đủ lễ tiết. Thân khẩu ý, hành động thiếu chuẩn mực, tạo ra phản cảm với người đối diện, bị hiểu nhầm là: Chúng ta “thiếu tôn trọng” họ. Vì thế, lời nói trở nên “không có trọng lượng” cho dù lời đó là hay đẹp và có chân lý.
Trong lúc đàm luận, có vị HĐ nào đó nêu lên câu hỏi, phần lớn HĐ chúng ta chưa biết “tạo ra đương cơ”, trả lời một cách máy móc, trả lời không thân thiện, hoặc ném về người hỏi “một trái lựu đạn” và cả hai cùng... bỏ chạy!!! Điều này nói lên điều gì??? Điều này nói lên rằng: HĐ chúng ta chưa thật sự “biến tri kiến” trở thành “phương tiện thiện xảo”, hoặc HĐ chúng ta chưa thật sự thấu suốt vấn đề, vì thế câu hỏi của bằng hữu kia trở thành vấn nạn.
Rất nhiều HĐ than phiền: Lúc gặp nhau, HĐ chúng ta không dựa trên tinh thần trao đổi, chia sẻ. Mà phần lớn, mỗ̃i người luôn đứng ở vị thế “giáo huấn”. Điều này tạo ra sức ép không đáng có khi HĐ gặp nhau. Vì thế, “nguy cơ phân hoá” mang tính “bầy nhóm”, bị đánh giá “còn ngã” là khó tránh khỏi. Và theo những gì mình biết, thì sự việc này đang xảy ra. Điều đáng tiếc này, sai với “tinh thần lục hoà” mà Thế Tôn đã giảng dạy.
Các bạn!!!
Trên con đường tu tập, một vài “tập khí cũ” của thân, khẩu, ý đối với tự thân chưa phải là lực cản lớn. Nhưng “trong việc lợi người” thì nó rất quan trọng. Chỉ trí tuệ thôi, chưa đủ, mà “oai nghi, tế hạnh” mới là phần quan trọng. Nó giống như một chiếc áo tốt, cho dù là tốt, nhưng bị vài vết thâm dơ, thì chiếc áo này sẽ mất đi giá trị đích thực của nó.
Cuộc trao đổi khi chiều, còn vài điều nữa, nhưng con mắt của mình không cho phép viết nhiều. Mình xin tạm dừng ở đây, hy vọng HĐ chúng ta là những người “biết tôn trọng chân lý”, “biết lắng nghe”, “biết vì người khác”, và “biết điều chỉnh tự thân”.
Rất mong mọi người thành tựu những điều cần thành tựu.
(07-05-2014)
Bát Chánh Đạo Của Ba Thừa
Bát chánh đạo ba thừa khác nhau bởi thân chứng của họ khác nhau. Tuy rằng khác biệt rất lớn về chánh kiến nhưng lại đồng một vô lậu tâm, đồng một dòng nước pháp, đồng đến biển đại giác, và cuối cùng đồng chứng Vô Thượng Bồ Đề, giống như các dòng sông tuy khác nhau về xuất xứ, dòng chảy, độ rộng sâu, nhưng cuối cùng đều chảy về biển lớn.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Cũng như các học pháp khác, bát chánh đạo ba thừa khác nhau bởi thân chứng của họ khác nhau. Nhị thừa chứng diệt đế do yểm ly triệt để nên quan niệm chánh từ yểm ly mà có, nghĩa là sau khi thành tựu xả giác chi thân tâm bây giờ là chánh nên những gì phát ra từ đó đều chân chánh. Có thể hiểu chánh kiến của nhị thừa có được do thấu suốt mối nguy hại của sự không thấu suốt và không yểm ly. Bài kinh sau đây có thể tiêu biểu cho bát chánh của nhị thừa qua chánh kiến, chánh kiến như vậy thì bảy chánh còn lại cũng như vậy:
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỷ Kheo: "Này các Tỷ Kheo."
"Hiền giả," các Tỷ Kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:
− Chư Hiền, chánh tri kiến, chánh tri kiến, được gọi là như vậy. Chư Hiền, cho đến như thế nào, một Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
Chúng tôi từ xa đến để được hiểu ý nghĩa lời nói ấy từ Tôn giả Sariputta. Thật lành thay, nếu Tôn giả Sariputta giảng cho ý nghĩa lời nói ấy. Sau khi nghe Tôn giả Sariputta, các Tỷ Kheo sẽ thọ trì.
− Chư Hiền, vậy hãy nghe, hãy khéo tác ý. Ta sẽ giảng.
Thưa vâng, Hiền giả! - Các Tỷ Kheo vâng đáp Tôn giả Sariputta. Tôn giả Sariputta nói như sau:
− Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện?
− Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện.
− Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện.
− Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện.
− Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên. "Tôi là” đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả!
Các Tỳ Kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta và hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau: Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn, tuệ tri tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn, và tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, chư Hiền khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là thức ăn, thế nào là tập khởi của thức ăn, thế nào là đoạn diệt của thức ăn, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn?
− Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sanh đã sanh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sanh được hỗ trợ cho sanh.
− Thế nào là bốn? Đoàn thực, loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư.
− Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn.
− Bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức ăn như vậy, tuệ tri tập khởi của thức ăn như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức ăn như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên. "Tôi là” đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả! Các Tỳ Kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta liền hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau: Này Hiền giả, có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Đoạn diệt của khổ, tuệ tri con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là Khổ, thế nào là Tập khởi của khổ, thế nào là Đoạn diệt của khổ, thế nào là con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Chư Hiền, như vậy gọi là Khổ.
− Chư Hiền, thế nào là Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, phi hữu ái. Chư Hiền, như vậy gọi là Tập khởi của khổ.
− Chư Hiền, thế nào là Đoạn diệt của khổ? Đó là sự đoạn diệt ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy. Chư Hiền, thế nào là con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ? Chính là bát chánh đạo đưa đến khổ diệt, tức là Chánh tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri Khổ như vậy, tuệ tri Tập khởi của khổ như vậy, tuệ tri Đoạn diệt của khổ như vậy, tuệ tri con Đường đưa đến đoạn diệt của khổ như vậy, khi ấy vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên,... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử...(như trên)... thành tựu diệu pháp này?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết, tuệ tri tập khởi của già chết, tuệ tri đoạn diệt của già chết, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến,... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là già chết, thế nào là tập khởi của già chết, thế nào là đoạn diệt của già chết, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già.
− Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các ấm, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết. Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết. Thánh Đạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của già chết, tức là: Chánh Tri kiến... (như trên)... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri già chết như vậy, tuệ tri tập khởi của già chết như vậy, tuệ tri đoạn diệt của già chết như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của già chết như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên... (như trên)..., và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sanh, tuệ tri tập khởi của sanh, tuệ tri đoạn diệt của sanh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là sanh, thế nào là tập khởi của sanh, thế nào là đoạn diệt của sanh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh?
Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự sanh, hiện khởi, xuất hiện, hiện diện, hiện hành các ấm, tụ đắc các xứ; Chư Hiền, như vậy gọi là sanh. Từ sự tập khởi của hữu, có sự tập khởi của sanh, từ sự đoạn diệt của hữu, có sự đoạn diệt của sanh, và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, tức là: Chánh Tri kiến ... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri được sanh như vậy, tuệ tri được tập khởi của sanh như vậy, tuệ tri được đoạn diệt của sanh như vậy, tuệ tri được con đường đưa đến đoạn diệt của sanh như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... (như trên)... như vậy... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu, tuệ tri tập khởi của hữu, tuệ tri đoạn diệt của hữu, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là hữu, thế nào là tập khởi của hữu, thế nào là đoạn diệt của hữu, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu? Chư Hiền, có ba hữu này: Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Từ tập khởi của thủ, có tập khởi của hữu; từ đoạn diệt của thủ có đoạn diệt của hữu và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu như vậy, tuệ tri tập khởi của hữu như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hữu như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri tập khởi của thủ, tuệ tri đoạn diệt của thủ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, khi ấy Thánh đệ tử có Chánh Tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế nào là đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ?
− Chư Hiền, có bốn thủ này: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Từ tập khởi của ái, có tập khởi của thủ; từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thủ như vậy, tuệ tri tập khởi của thủ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thủ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên… (như trên)… và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái, tuệ tri tập khởi của ái, tuệ tri đoạn diệt của ái, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái, khi ấy Thánh đệ tử có Chánh Tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là ái, thế nào là tập khởi của ái, thế nào là đoạn diệt của ái, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của ái?
− Chư Hiền, có sáu loại này: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Từ tập khởi của thọ, có tập khởi của ái, từ đoạn diệt của thọ, có đoạn diệt của ái, và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của ái, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái như vậy, tuệ tri tập khởi của ái như vậy, tuệ tri đoạn diệt của ái như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái như vậy, khi ấy, vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ, tuệ tri tập khởi của thọ, tuệ tri đoạn diệt của thọ, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là thọ, thế nào là tập khởi của thọ, thế nào là đoạn diệt của thọ, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thọ?
− Chư Hiền, có sáu loại thọ này: Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Từ tập khởi của xúc, có tập khởi của thọ; từ đoạn diệt của xúc, có đoạn diệt của thọ; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của thọ, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ như vậy, tuệ tri tập khởi của thọ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thọ như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc, tuệ tri tập khởi của xúc, tuệ tri đoạn diệt của xúc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến và thành tựu diệu pháp này. Chư Hiền, thế nào là xúc, thế nào là tập khởi của xúc, thế nào là đoạn diệt của xúc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc?
− Chư Hiền, có sáu loại xúc này: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Từ tập khởi của sáu nhập, có tập khởi của xúc; từ đoạn diệt của sáu nhập, có đoạn diệt của xúc, và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của xúc, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri xúc như vậy, tuệ tri tập khởi của xúc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của xúc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của xúc như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả...câu hỏi như sau: Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập, tuệ tri tập khởi của sáu nhập, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này. Chư Hiền, thế nào là sáu nhập, thế nào là tập khởi của sáu nhập, thế nào là đoạn diệt của sáu nhập, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập?
− Chư Hiền, có sáu nhập này: Nhãn nhập, nhĩ nhập, tỷ nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập. Từ tập khởi của danh sắc, có tập khởi của sáu nhập; từ đoạn diệt của danh sắc có đoạn diệt của sáu nhập; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, chỉ khi nào vị Thánh đệ tử tuệ tri sáu nhập như vậy, tuệ tri tập khởi của sáu nhập như vậy, tuệ tri đoạn diệt của sáu nhập như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của sáu nhập như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc, tuệ tri tập khởi của danh sắc, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là danh sắc, thế nào là tập khởi của danh sắc, thế nào là đoạn diệt của danh sắc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, chư Hiền, như vậy gọi là danh; bốn đại và sắc do bốn đại tạo thành, chư Hiền, như vậy gọi là sắc; như vậy đây là danh và đây là sắc, Chư Hiền, như vậy gọi là danh sắc. Từ tập khởi của thức, có tập khởi của danh sắc; từ đoạn diệt của thức, có đoạn diệt của danh sắc; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri danh sắc như vậy, tuệ tri tập khởi của danh sắc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của danh sắc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của danh sắc như vậy, khi ấy, vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức, tuệ tri tập khởi của thức, tuệ tri đoạn diệt của thức, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là thức, thế nào là tập khởi của thức, thế nào là đoạn diệt của thức, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của thức? Chư Hiền, có sáu loại thức này: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ tập khởi của hành, có tập khởi của thức; từ đoạn diệt của hành có đoạn diệt của thức; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thức như vậy, tuệ tri tập khởi của thức như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thức như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành, tuệ tri tập khởi của hành, tuệ tri đoạn diệt của hành, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến... và thành tựu diệu pháp này. Chư Hiền, thế nào là hành, thế nào là tập khởi của hành, thế nào là đoạn diệt của hành, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của hành?
− Chư Hiền, có ba loại hành này: Thân hành, ngữ (khẩu) hành, tâm (ý) hành. Từ tập khởi của vô minh, có tập khởi của hành; từ đoạn diệt của vô minh, có đoạn diệt của hành; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của hành, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hành như vậy, tuệ tri tập khởi của hành như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hành như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hành như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả... (như trên)... Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác...?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh, tuệ tri tập khởi của vô minh, tuệ tri đoạn diệt của vô minh, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, khi ấy, Thánh đệ tử có chánh tri kiến... (như trên)... và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là vô minh, thế nào là tập khởi của vô minh, thế nào là đoạn diệt của vô minh, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh? Sự không tuệ tri về khổ, không tuệ tri về khổ tập, không tuệ tri về khổ diệt, không tuệ tri về con đường đưa đến khổ diệt; Chư Hiền, như vậy gọi là vô minh. Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh; từ đoạn diệt của lậu hoặc, có đoạn diệt của vô minh; và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri vô minh như vậy, tuệ tri tập khởi của vô minh như vậy, tuệ tri đoạn diệt của vô minh như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của vô minh như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu pháp này.
Lành thay, Hiền giả!
Các vị Tỷ Kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời nói Tôn giả Sariputta, liền hỏi thêm Tôn giả Sariputta câu hỏi như sau: Này Hiền giả, có thể có pháp môn nào khác, nhờ pháp môn này Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này?
− Chư Hiền, có thể có. Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc. Chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
− Chư Hiền, thế nào là lậu hoặc, thế nào là tập khởi của lậu hoặc, thế nào là đoạn diệt của lậu hoặc, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc? Chư Hiền, có ba lậu hoặc này: Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Từ tập khởi của vô minh có tập khởi của lậu hoặc; từ đoạn diệt của vô minh có đoạn diệt của lậu hoặc và bát chánh đạo này là con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc, tức là: Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.
− Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc như vậy, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên. "Tôi là” đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Tôn giả Sariputta thuyết giảng như vậy. Các Tỷ Kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời giảng của Tôn giả Sariputta.”[[1]]
Đọc bài kinh trên, phân tích tỉ mỉ đầu đuôi gốc ngọn nguyên nhân và sự diệt tận của một pháp để đưa đến chấm dứt vô minh và các lậu, phân tích đến chia chẻ một pháp là đặc tính của giáo Thanh Văn thừa.
Khi một pháp được tuệ tri như thật thì sự yểm ly sẽ dễ thành tựu, yểm ly thành tựu gọi là có chánh tri kiến và bát chánh đạo căn cứ trên yểm ly triệt để: “Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.”
Một đặc điểm thứ hai của Thanh Văn thừa là niềm tin pháp tuyệt đối, chính niềm tin này nên nói Thanh Văn do thánh giáo thành tựu không phải vô cớ. Chữ Thanh Văn cũng xuất phát từ ý nghĩa này, tức là nghe thánh giáo phát khởi niềm tin mà thành tựu thánh quả.
Bát chánh đạo của Bồ Tát thừa hoàn toàn không giống Thanh Văn thừa, bài kinh sau sẽ có sự so sánh lý thú về chánh kiến của Bồ Tát và Thanh Văn:
“Như vậy tôi nghe một lúc đức Bà Già Bà ở thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật cùng năm trăm Tỳ Kheo câu hội, chư đại Bồ Tát vô lượng vô biên có tám ngàn đại Bồ Tát làm thượng thủ, đều được tam muội và đà la ni, khéo nhập ba môn giải thoát không vô tướng vô nguyện, thiện xảo các thần thông, được vô sanh pháp nhẫn, danh hiệu các ngài là: Di Lâu Bồ Tát, Ðại Di Lâu Bồ Tát, Thường Nhập Ðịnh Bồ Tát, Thường Tinh Tiến Bồ Tát, Bửu Thủ Bồ Tát, Thường Hỉ Căn Bồ Tát, Bạt Ðà Bà La Bồ Tát, Bửu Tướng Bồ Tát, La Hầu Bồ Tát, Thích Thiên Bồ Tát, Thủy Thiên Bồ Tát, Thượng Ý Bồ Tát, Thắng Ý Bồ Tát, Tăng Thượng Ý Bồ Tát, có tám ngàn đại Bồ Tát như vậy làm thượng thủ.
Ðức Thế Tôn ở Vương xá thành được nhà Vua các Vương Tử, Bà La Môn, Trưởng giả, Cư sĩ tôn trọng tán thán cúng dường. Ðức Thế Tôn có đủ vô lượng trăm ngàn vạn chúng cung kính vây quanh mà vì họ thuyết pháp.
Bấy giờ chư Tôn giả Xá Lợi Phất, Ðại Mục Kiền Liên, Ðại Ca Diếp, Tu Bồ Ðề, Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, Ly Bà Ða, A Thấp Bà, Ưu Ba Ly, La Hầu La, A Nan, vô lượng chư đại Thanh Văn như vậy buổi sáng chỉnh y cầm bát vào thành Vương Xá đến từng nhà đúng như pháp mà khất thực không có duyên gì khác, lần lần đi đến trước cung điện của vua A Xà Thế, đồng đứng yên lặng chẳng nói khất thực hay chẳng khất thực.
Vua A Xà Thế có người con gái tên Vô Úy Ðức đoan chánh xinh đẹp vô song thành tựu công đức tối thắng thù diệu mới mười hai tuổi mang guốc vàng bửu đang ngồi trên cung lầu thấy chư Thanh Văn mà chẳng đứng dậy vẫn yên lặng ngồi tại chỗ.
Vua A Xà Thế thấy vậy mới bảo rằng: “Con chẳng thấy chư vị ấy là đệ tử thượng túc của đức Thích Ca Như Lai đã thành tựu đại pháp làm phước điền cho thế gian vì thương chúng sanh mà các Ngài đi khất thực. Nay con được thấy các Ngài sao con chẳng dậy chẳng nghinh chẳng lễ chẳng hỏi han lại chẳng nhường chỗ ngồi. Con thấy sự gì mà chẳng đứng dậy tiếp nghinh?”
Vô Úy Ðức tâu Phụ Vương: Chẳng hay phụ vương có thấy có nghe Chuyển Luân Thánh Vương thấy các Tiểu Vương mà đứng dậy tiếp nghinh chăng?
A Xà Thế Vương nói: Không dậy tiếp nghinh.
Vô Úy Ðức lại tâu: Phụ Vương có thấy có nghe lúc sư tử chúa muông thú thấy các dã can liền đứng dậy tiếp nghinh chăng?
A Xà Thế Vương nói: Không có sự ấy.
Vô Úy Ðức lại tâu: Phụ Vương có thấy có nghe Ðế Thích Thiên Vương tiếp nghinh Chư Thiên Tử, đại Phạm Thiên Vương lễ kính Thiên chúng chăng?
A Xà Thế Vương nói: Không có sự ấy.
Vô Úy Ðức lại tâu: Phụ Vương có thấy có nghe thần biển lớn lễ kính các thần sông thần ao chăng?
A Xà Thế Vương nói: Không có sự ấy.
Vô Úy Ðức lại tâu: Phụ Vương có thấy có nghe Tu Di Sơn Vương lễ kính các Sơn Vương khác chăng?
A Xa Thế Vương nói: Không có sự ấy.
Vô Úy Ðức lại tâu: Phụ Vương có thấy có nghe thần nhựt nguyệt lễ kính trùng đom đóm chăng?
A Xà Thế Vương nói: Không có sự ấy.
Vô Úy Ðức tâu: Phụ Vương nên biết Bồ Tát phát tâm xu hướng Vô thượng Bồ Đề dùng đại từ bi sao lại lễ kính hàng Thanh Văn rời lìa tâm đại bi! Ðâu có sư tử vương Bồ Tát cầu đạo Vô thượng, Chánh chơn Chánh giác lại lễ các dã can Tiểu thừa! Ðâu có Bồ Tát đã cầu đạo đại phạm thanh tịnh tiến lên Vô thượng Bồ Đề lại nên thân cận hàng Thanh Văn thiện căn kém ít! Ðâu có người muốn đến biển lớn đại trí muốn cầu khéo biết khối đại pháp mà lại còn cầu dấu chưn trâu, vì hàng Thanh Văn nghe âm thanh từ nơi người khác vậy. Ðâu có người muốn đến núi Phật Tu Di để cầu sắc thân vô biên của Như Lai mà lại cầu sức không tam muội trong hột cải của hàng Thanh Văn mà đi lễ họ. Ðâu có người đã được nghe công đức trí huệ của chư Phật như nhựt nguyệt quang lại lễ kính hàng Thanh Văn để cầu lửa sáng đom đóm, vì hàng Thanh Văn chỉ có thể tự lợi tự soi từ người khác nghe âm thanh mà được hiểu vậy.
Tâu Phụ Vương! Sau khi các đức Phật nhập Niết Bàn còn chẳng lễ kính hàng Thanh Văn huống là nay đức Thế Tôn còn tại thế gian. Tại sao? Vì nếu người nào thân cận hàng Thanh Văn tất phát tâm Thanh Văn, người nào thân cận hàng Duyên Giác tất phát tâm Duyên Giác, có ai gần gũi đấng Chánh chơn Chánh giác tất phát tâm Vô thượng Bồ Ðề.
Nói xong, Vô Úy Ðức liền dùng kệ báo cáo Phụ Vương A Xà Thế:
Ví như người đến biển
Mà lấy một văn tiền
Tôi thấy chư Thanh Văn
Tu hành cũng như vậy
…………………………
Khéo đến tại thế gian
Mà phát tâm vô thượng
Mong cầu đạo vô thượng
Cứu độ các chúng sanh
Hay tự lợi lợi tha
Người nầy đáng được khen
Cũng được đời tôn trọng
Và được đạo cứu cánh
Vì thế hôm nay tôi
Chẳng lễ kính Thanh Văn .
Vua A Xà Thế bảo Vô Úy Ðức: Con đại ngã mạn, sao thấy chư đại Thanh Văn lại chẳng phụng nghinh?
Vô Úy Đức tâu: Phụ Vương chớ bảo như vậy. Phụ Vương cũng ngã mạn, sao Phụ Vương chẳng phụng nghinh những người nghèo cùng trong thành Vương Xá nầy?
Vua nói: Họ chẳng đồng hàng với ta, sao ta lại phụng nghinh?
Vô Úy Ðức tâu: Sơ tâm Bồ Tát cũng như vậy, tất cả Thanh Văn và Duyên Giác chẳng đồng hàng.
Vua nói: Con há chẳng thấy chư Bồ Tát lễ kính tất cả chúng sanh ư?
Vô Úy Ðức nói: Bồ Tát vì độ các chúng sanh kiêu mạn sân não khiến họ phát khởi tâm hồi hướng đại đạo nên lễ kính tất cả chúng sanh, vì tăng trưởng gốc thiện căn cho các chúng sanh mà Bồ Tát lễ kính. Nhưng nay chư Thanh Văn không tâm sân hận lại cũng chẳng tăng trưởng thiện căn được. Dầu trăm ngàn chư Phật vì họ mà nói diệu pháp nhưng nơi giới-định-huệ họ đã được vẫn không tăng thêm. Thanh Văn như khối lưu ly, Bồ Tát như chiếc bình báu lớn.
Cũng vậy, dầu trăm ngàn chư Phật vì hàng Thanh Văn nói diệu pháp họ cũng chẳng được lợi ích chẳng tăng thêm giới-định-huệ, họ chẳng thể làm cho chúng sanh phát tâm đến Nhứt thiết trí. Ví như đại hải có thể nhận nước của tất cả sông và mưa mây, tại sao, vì đại hải là cái bình vô lượng vậy. Chư Bồ Tát lúc diễn thuyết pháp tùy chỗ người được nghe được phước lợi lớn tăng trưởng tất cả gốc các thiện căn, tại sao, vì chư Bồ Tát là chiếc bình ngôn thuyết vô biên vậy.
Vua A Xà Thế nghe Vô Úy Ðức nói những lời trên thì nín lặng ngồi yên.
Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất tự nghĩ rằng: Vô Úy Ðức nầy được đại biện tài có thể ngôn thuyết vô tận như vậy, nay ta đến hỏi nàng ít lời xem nàng có đắc nhẫn chăng.
Tôn giả liền đến hỏi Vô Úy Ðức rằng: Nay cô an trụ Thanh Văn thừa ư?
Ðáp: Không ạ.
Hỏi: Nay cô an trụ Duyên Giác thừa ư?
Ðáp: Không ạ.
Hỏi: Nếu như vậy thì cô an trụ thừa nào mà có thể sư tử hống như vậy?
Ðáp: Giả sử nay tôi có thể an trụ thì tất chẳng thể làm sư tử hống, do tôi không chỗ trụ nên tôi có thể làm sư tử hống. Nhưng Xá Lợi Phất nói an trụ thừa nào, như pháp được Ngài chứng đắc, pháp ấy há lại có thừa sai khác ư, là Thanh Văn thừa, là Duyên Giác thừa, là Ðại thừa ư?
Tôn giả Xá Lợi Phất nói: Cô nghe tôi nói, pháp tôi được chứng không có tướng thừa chẳng phải thừa sai khác, vì là nhứt tướng, nghĩa là vô tướng vậy.
Vô Úy Ðức nói: Nếu pháp vô tướng thì thế nào cầu được?
Tôn giả Xá Lợi Phất nói: Pháp chư Phật cùng pháp phàm phu có tướng thắng phụ sai biệt gì?
Vô Úy Ðức nói: Không và tịch tĩnh có sai biệt gì?
Tôn giả Xá Lợi Phất nói: Không có sai biệt.
Vô Úy Ðức nói: Như không và tịch tĩnh không có tướng sai biệt, pháp chư Phật cùng pháp phàm phu không có tướng thắng phụ sai biệt. Lại như hư không hay thọ các sắc mà không có sai biệt, pháp chư Phật cùng pháp phàm phu không có tướng sai biệt cũng không có dị tướng.
Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên nói với Vô Úy Ðức rằng: Cô thấy Phật pháp cùng Thanh Văn pháp có sai khác gì mà nay cô thấy hàng đại Thanh Văn cô chẳng dậy tiếp đón chẳng nhường giường ghế?
Vô Úy Ðức nói: Giả sử tinh tú đầy trời cũng chẳng chiếu sáng thế gian. Hàng Thanh Văn cũng vậy, vì lúc nhập định mới có trí thấy biết, lúc chẳng nhập định thì không hay biết.
Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên nói: Nếu chẳng nhập định thì chẳng biết được tâm chúng sanh.
Vô Úy Ðức nói: Ðức Phật chẳng nhập định mà có thể ở trong hằng hà sa thế giới tùy chỗ nên mà thuyết pháp độ các chúng sanh, vì khéo biết tâm họ vậy. Ðây là thắng sự của chư Phật Như Lai. Hàng Thanh Văn như tinh tú ánh sáng kém yếu làm sao so sánh được.
Lại nầy Ðại Mục Kiền Liên tất cả Thanh Văn có ai biết được bao nhiêu thế giới thành bao nhiêu thế giới hoại chăng?
Ðáp: Chẳng biết được.
Hỏi: Hàng Thanh Văn có ai biết được bao nhiêu chư Phật đã nhập Niết Bàn, bao nhiêu chư Phật vị lai sẽ nhập và bao nhiêu chư Phật hiện tại nay nhập Niết Bàn chăng?
Ðáp: Chẳng biết được.
Hỏi: Hàng Thanh Văn có ai biết được có bao nhiêu chúng sanh nhiều tham dục, bao nhiêu chúng sanh nhiều sân hận, bao nhiêu chúng sanh nhiều ngu si và bao nhiêu chúng sanh nhiều đẳng phần chăng?
Ðáp: Chẳng biết được.
Hỏi: Hàng Thanh Văn có ai biết được bao nhiêu chúng sanh thọ Thanh Văn thừa, bao nhiêu chúng sanh thọ Duyên Giác thừa và bao nhiêu chúng sanh thọ Phật thừa chăng?
Ðáp: Chẳng biết được.
Hỏi: Hàng Thanh Văn thừa có ai biết được bao nhiêu chúng sanh Thanh Văn độ, bao nhiêu chúng sanh Duyên Giác độ và bao nhiêu chúng sanh chư Phật độ được chăng?
Ðáp: Chẳng biết được.
Hỏi: Hàng thanh Văn có ai biết được bao nhiêu chúng sanh tại chánh định tụ chánh kiến và bao nhiêu chúng sanh tại tà định tụ chăng?
Ðáp: Chẳng biết được.
Vô Úy Ðức nói: Nầy Ðại Mục kiền Liên! Duy có đức Như Lai Chánh Chơn Chánh Giác khéo biết như thiệt chúng sanh giới mà vì họ thuyết pháp. Sự việc như vậy chẳng phải cảnh giới Thanh Văn Duyên Giác huống là các chúng sanh khác. Nên biết đây là sự việc thù thắng của đức Như Lai, vì đức Như Lai có đủ Nhứt thiết trí vậy. Tất cả Thanh Văn và Duyên Giác không có được.
Thưa Ðại Mục Kiền Liên! Ðức Thế Tôn thọ ký Ngài là thần thông đệ nhứt, thần thông của Ngài có thể đến thế giới Hương Tượng biết trong thế giới ấy tất cả các cây đều sản xuất hương chiên đàn thượng diệu chăng?
Tôn giả đáp: Nay tôi mới nghe tên thế giới ấy thì làm sao có thể đến đó được. Ðức Phật tại đó hiệu là gì?
Vô Úy Ðức nói: Ðức Phật hiệu Phóng Hương Quang Minh Như Lai Ứng Cúng đẳng Chánh Giác trụ tại thế giới ấy thuyết pháp.
Tôn giả hỏi: Làm thế nào được thấy đức Phật ấy?
Vô Úy Ðức chẳng rời chỗ ngồi chẳng động oai nghi mà thệ nguyện rằng: Nếu Bồ Tát lúc sơ phát tâm có thể hơn hàng Thanh Văn và Duyên Giác, nguyện đức Phóng Hương Quang Minh Như Lai hiện thân nơi đây, cũng khiến hàng Thanh Văn Duyên Giác thấy thế giới Hương Tượng và ngửi mùi cây hương chiên đàn thượng diệu.
Vô Úy Ðức phát thệ nguyện xong, đức Phóng Hương Quang Minh Như Lai từ nơi thân phóng quang. Do đức Phật ấy phóng quang nên chư Thanh Văn đây đều được thấy thế giới Hương Tượng và đức Phật có chúng Bồ Tát vây quanh, lưới báu che giăng, đức Phật ấy vì chúng mà thuyết pháp. Tại đây đại chúng đều được nghe tiếng thuyết pháp. Do thần lực của đức Phật ấy nên đại chúng đây còn được ngửi hơi hương chiên đàn thượng diệu của cây thế giới ấy.
Bấy giờ đức Phật Phóng Hương Quang Minh nói rằng: Ðúng như vậy, như lời nói của Vô Úy Ðức: Bồ Tát lúc sơ phát tâm đã hơn hàng Thanh Văn và Duyên Giác cảnh giới.
Lúc ấy tại núi Kỳ Xà Quật, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Hơi thơm vi diệu nầy từ đâu đến?
Ðức Phật nói: Nầy Di Lặc! Vô Úy Ðức cùng chư Thanh Văn luận nghị như pháp và phát thệ nguyện. Ðức Phóng Hương Quang Minh dùng thần lực hiện thân và thế giới Hương Tượng cùng hơi hương cây chiên đàn, nên hơi hương thượng diệu ấy khắp cõi Tam Thiên Ðại Thiên nầy.
Vô Úy Ðức bảo Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên: Nếu đã thấy các công đức thù thắng bất tư nghì như vậy mà còn có thể phát tâm Thanh Văn Tiểu thừa hẹp kém chỉ tự độ, thì nên biết là thiện căn rất nhỏ ít. Ai là người đã thấy sự việc Bồ Tát thành tựu vô lượng công đức mà chẳng phát tâm Vô thượng Bồ Đề. Ngài có biết thế giới Hương Tượng ấy cách đây bao nhiêu chăng?
Tôn giả đáp: Chẳng biết.
Vô Úy Ðức nói: Ngài thừa thần thông trải qua trăm ngàn kiếp cũng không thể biết không thể thấy thế giới ấy. Như tất cả tre lau lùm rừng cõi nầy làm con số không thể tính đếm, qua khỏi các Phật thế giới như số trên đây mới có thế giới Hương Tượng ấy.
Bấy giờ đức Phật ấy thâu nhiếp quang minh, thế giới Hương Tượng cùng đức Phật ấy và chúng Bồ Tát bỗng chẳng còn hiện.
Tôn giả Ðại Ca Diếp nói với Vô Úy Ðức rằng: Cô đã từng thấy thế giới Hương Tượng và đức Phóng Hương Quang Minh Như Lai rồi phải chăng?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Ca Diếp! Như Lai có thể thấy được chăng? Như lời Phật dạy: Nếu dùng sắc thấy ta và dùng âm thanh cầu ta, người ấy đều hành đạo tà chẳng thấy được Như Lai. Vì thân chư Như Lai là pháp thân, pháp chẳng thấy nghe thì làm sao thấy nghe được.
Tùy phương tiện nào mà chúng sanh hạp thích thì Phật vì họ mà thị hiện, thân Phật không chướng ngại vì an trụ phương tiện vậy.
Nhưng Ngài Ðại Ca Diếp hỏi tôi có thấy đức Phật và thế giới ấy chăng?
Thưa Ngài Ðại Ca Diếp Tôi thấy đức Phật ấy chẳng phải là nhục nhãn thấy vì chẳng phải là sắc được thấy bởi nhục nhãn; chẳng phải thiên nhãn thấy vì không có thọ, chẳng phải huệ nhãn thấy vì rời lìa tưởng tướng, chẳng phải pháp nhãn thấy vì rời lìa các hành, chẳng phải Phật nhãn thấy vì rời lìa thức thấy vậy.
Tôi thấy Như Lai cũng như chỗ thấy của Ðại Ca Diếp vì đã diệt trừ tâm vô minh ái kiến vậy.
Thưa Ngài Ðại Ca Diếp! Tôi thấy đức Phật ấy cũng như chỗ thấy của Ðại Ca Diếp Tôn giả. Lại cũng còn thấy ngã ngã sở …
Tôn giả hỏi: Nếu pháp không hẳn tại sao phát khởi vô minh ái và tướng ngã ngã sở, vì tất cả chúng sanh chẳng thấy được vậy?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Ðại Ca Diếp, tất cả pháp không có hẳn thì nó thế nào được thấy?
Tôn giả nói: Nếu tất cả Phật pháp cứu cánh là không có thì thế nào thấy được?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Ðại Ca Diếp! Ngài có thấy Phật pháp tăng trưởng nghĩa chăng?
Tôn giả nói: Tôi còn chẳng biết phàm phu pháp hà huống Phật pháp.
Vô Úy Ðức nói: Vì thế nên, thưa Ngài Ðại Ca Diếp, pháp ấy chẳng thành tựu thì thế nào có đứt nối mà người chẳng chứng kia thấy. Thưa Ngài Ðại Ca Diếp! Các pháp không có hẳn chẳng biện bày được, vì thế nên tất cả pháp đều không. Nếu bổn pháp không có thì thế nào thấy được pháp giới thanh tịnh ấy.
Thưa Ngài Ðại Ca Diếp, nếu ai muốn thấy tịnh Như Lai thì thiện nam thiện nữ ấy phải tịnh tự tâm.
Tôn giả hỏi Vô Úy Ðức: Thế nào khéo tịnh tự tâm?
Vô Úy Ðức nói: Như tự thân chơn như và tất cả pháp chơn như, nếu tin nơi ấy chẳng tạo tác chẳng vong thất, thấy như vậy thì tự tâm thanh tịnh.
Tôn giả hỏi: Tự tâm lấy gì làm thể?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Ðại Ca Diếp! Nếu cùng chư Bồ Tát thuyết pháp đồng sự mà chẳng phát khởi tướng chúng sanh. Bồ Tát nội quán như vậy thì gọi là thành tựu nội quán.
Thưa Ngài Ðại Ca Diếp! Tất cả các pháp đầy đủ bổn tế trung tế và hậu tế, vì tất cả pháp lấy chơn như làm thể vậy. Vì tất cả pháp hiện tại chơn như thế vậy. Nếu quán như vậy, Bồ Tát nầy gọi là thành tựu nội quán.
Tôn giả nói: Cô an trụ pháp ấy thế nào?
Vô Úy Ðức nói: Phải làm như vầy: như chơn như ấy thấy không phược không giải.
Tôn giả hỏi: Thấy thế nào thì gọi là chánh kiến?
Vô Úy Ðức nói: Nếu rời lìa sự thấy hai bên, chẳng làm chẳng phải chẳng làm, thấy mà chẳng thấy như vậy thì gọi là chánh kiến. Thưa Ngài Ðại Ca Diếp! Pháp ấy chỉ có danh tự, mà vì ly danh tự, vì vĩnh viễn chẳng chứng vậy.
Tôn giả lại hỏi: Thế nào được tự thấy ?
Vô Úy Ðức nói: Như chỗ thấy của Ðại Ca Diếp.
Tôn giả nói: Tôi chẳng thấy tự thân và ngã sở?
Vô Úy Ðức nói: Phải nên thấy tất cả pháp như vậy, vì không có ngã và ngã sở vậy.
Lúc Vô Úy Ðức nói pháp ấy, Tôn giả Tu Bồ Ðề lòng rất vui mừng mà nói với Vô Úy Ðức rằng: Cô khéo được lợi lành mà hay thành tựu biện tài ấy.
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Pháp có được hay chẳng được mà có thể cầu ư, sao Ngài bảo tôi khéo được biện tài. Tôi có biện thuyết nầy: Nếu tôi nói không có chỗ giác tri hoặc nội hoặc ngoại thì là có biện tài.
Tôn giả hỏi: Cô chứng được gì đắc pháp gì mà có diệu biện như vậy?
Vô Úy Ðức nói: Vì chẳng tự biết vì chẳng từ người mà biết, chẳng thấy có tướng pháp thiện pháp bất thiện sai biệt, biết pháp như vầy: chẳng thấy nhiễm tịnh hữu lậu vô lậu hữu vi vô vi thế gian xuất thế gian và pháp phàm phu, vì pháp thể ấy chẳng thể thấy vậy, là chư Phật pháp, mà đắc Phật pháp chẳng thấy Phật pháp.
Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Nếu không chỗ biết thấy như vậy thì có biện tài nầy.
Tôn giả hỏi: Thế nào là biện tài?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Như chỗ sở đắc tịch diệt của Ngài vậy.
Vô Úy Ðức nói với Tôn giả Xá Lợi Phất: Như pháp thể ấy không nghe không được mà có chỗ nói.
Vô Úy Ðức hỏi Tôn giả Tu Bồ Ðề: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Pháp thể trụ được chăng, lại có thể tăng giảm chăng mà có biện tài như vậy?
Tôn giả nói: Nếu chứng vô lậu và pháp không có sai biệt không có biện thuyết, vì pháp thể ấy chẳng thể nói được vậy.
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Ở nơi tất cả pháp sao Ngài lại sanh niệm rằng được lợi lành được biện tài như vậy?
Tôn giả Tu Bồ Ðề nói: Cô do được biện tài mà nói hay chẳng được biện tài mà nói?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Ngài có tin lời đức Phật dạy tất cả các pháp như hưởng chăng?
Tôn giả nói: Tôi tin sự ấy.
Vô Úy Ðức nói: Hưởng ấy là có hay không có biện tài?
Tôn giả nói: Do nơi nội thanh mà có ngoại hưởng.
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Do vì có thanh mà có hưởng ấy, hưởng ấy mà có thì là tánh tướng gì? Nhưng hưởng ấy không có tánh tướng. Tại sao ? Vì nếu do duyên sanh thì hưởng ấy không có nghĩa sanh.
Tôn giả nói: Tất cả pháp do duyên sanh.
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Tất cả pháp thể tánh chẳng sanh.
Tôn giả nói: Nếu tất cả pháp thể tánh cứu cánh không có như vậy, sao đức Như Lai dạy rằng hằng hà sa chư Phật sẽ thành Chánh Giác?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Pháp giới là có thể sanh được chăng?
Tôn giả nói: Chẳng thể sanh được.
Vô Úy Ðức nói: Tất cả chư Phật Như Lai đều là pháp giới tánh tướng.
Tôn giả nói: Chẳng thấy tất cả pháp giới vậy.
Vô Úy Ðức nói: Bao nhiêu lời được nói, ngôn ngữ vô tánh, mà nói hằng hà sa chư Phật sẽ thành Chánh Giác, lời nói nầy có nghĩa gì. Tại sao? Vì pháp giới bất sanh bất diệt nên tất cả thuyết chẳng phải thuyết vì cứu cánh thanh tịnh vậy. Vì kia chẳng phải sự chẳng thể ngôn thuyết được, rời lìa nơi thiệt tế.
Tôn giả Tu Bồ Ðề nói: Rất lạ, Vô Úy Ðức là cô gái tại gia mà hay thiện xảo thuyết pháp như vậy, lại có biện tài vô tận như vậy.
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Chư Bồ Tát không có giữ lấy hay chẳng giữ lấy, nghe hay chẳng nghe hoặc tại gia hoặc xuất gia mà có biện tài. Tại sao? Vì tâm thanh tịnh vậy. Do tâm tịnh nên trí hiển, do trí hiển nên hiển biện tài.
Vô Úy Ðức bảo Tôn giả Tu Bồ Ðề rằng: Nay nên khéo nói hạnh của Bồ Tát.
Tôn giả nói: Cô nói đi, tôi lắng nghe.
Vô Úy Ðức nói: Bồ Tát thành tựu tám thứ pháp hạnh nên chẳng được nói là tại gia, xuất gia;
Một là Bồ Tát được tâm thanh tịnh quyết định tin Bồ Đề;
Hai là Bồ Tát thành tựu đại từ đại bi nên chẳng bỏ chúng sanh;
Ba là vì thành tựu đại từ bi nên thiện xảo tất cả sự thế gian;
Bốn là hay xả bỏ thân mạng chi phần và thành tựu phương tiện thiện xảo;
Năm là thiện xảo vô lượng phát nguyện;
Sáu là thành tựu Bát Nhã Ba La Mật hạnh vì rời lìa tất cả chấp kiến;
Bảy là đại dũng mãnh tinh tiến vì tu các thiện nghiệp mà không chán đủ vậy;
Tám là được vô ngại trí vì được vô sanh pháp nhẫn vậy.
Thưa Ngài Tu Bồ Ðề! Chư Bồ Tát do thành tựu tám pháp như vậy nên chẳng được gọi là tại gia hay xuất gia, tùy theo oai nghi nào cũng an trụ trong Bồ Đề không hề chướng ngại.
Bấy giờ Tôn giả La Hầu La bảo Vô Úy Ðức rằng: Lời nói ấy là ngôn thuyết bất tịnh. Cô mang guốc báu ngồi tòa cao mà luận nghị qua lại cùng chư đại Thanh Văn. Cô há chẳng nghe đức Phật dạy rằng: là người bất tịnh thì chẳng được thuyết pháp và cũng chẳng được thuyết pháp cho người ngồi tòa cao ư?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài La Hầu La! Ngài có thiệt biết tịnh và bất tịnh chăng? Thưa Ngài La Hầu La! Thế gian nầy là tịnh chăng?
Tôn giả nói: Không tịnh chẳng tịnh vậy.
Vô Úy Ðức nói: Như Lai chế giới theo đó mà thọ hành rồi phạm giới đó là tịnh và bất tịnh. Nếu lại có người chẳng phạm giới đó là chẳng phải tịnh và bất tịnh.
Thưa Ngài La Hầu La! Thôi đi chớ có nói như vậy. Nếu người y như thuyết pháp y như chế giới mà tu hành, thì người ấy nói bất tịnh. Nhưng vì người ấy chứng được pháp vô lậu, thì người ấy không có phạm và chẳng phạm nên cũng không có tịnh và bất tịnh. Tại sao? Vì chư đại Thanh Văn đã quá các thuyết pháp đã quá các chế giới. Ðức Như Lai vì chư Thanh Văn hữu học đến trong tam giới nên vì họ thuyết pháp vì họ chế giới. Như chư đại Thanh Văn ấy đã quá tam giới. Do đây nên nói quá hay chẳng quá tam giới như vậy.
Do vì họ chẳng biết được giới nên nói tịnh và bất tịnh. Như hư không chỉ có ngôn thuyết duy trì lực thấy biết, thế nên được nói tịnh và bất tịnh vậy.
Tôn giả La Hầu La hỏi: Tịnh và bất tịnh có sai biệt gì?
Vô Úy Ðức nói: Ví như chơn kim rời lìa hẳn cấu uế làm những đồ trang sức và chẳng làm, màu sắc chơn kim có sai biệt gì?
Tôn giả nói: Không có sai biệt.
Vô Úy Ðức nói: Tịnh cùng bất tịnh chỉ có ngôn thuyết danh tự để làm sai biệt mà không có sai biệt gì khác. Tại sao? Vì tất cả pháp tánh rời lìa tất cả cấu uế không nhiễm không trước vậy.
Thưa Ngài La Hầu La! Người ngồi tòa cao rộng chẳng nên thuyết pháp. Bồ Tát ngồi tòa trải cỏ hơn người ngồi tòa cao hơn cả đại Thanh Văn ngồi tại Phạm Thiên.
Tôn giả nói: Cô nói vậy là có nghĩa gì?
Vô Úy Ðức nói: Thưa Ngài La Vân! Ngài có thấy Bồ Tát ngồi trên tòa gì mà thành Vô thượng Bồ Đề chăng?
Tôn giả nói: Ngồi trên tòa cỏ.
Vô Úy Ðức nói: Bồ Tát ngồi tòa cỏ mà trong Ðại Thiên thế giới tất cả Phạm Thiên, Ðế Thích, Tứ Thiên Vương cùng chư Thiên Tử cho đến trời Sắc Cứu Cánh đều đến chắp tay lạy chưn Bồ Tát.
Tôn giả nói: Ðúng như vậy.
Vô Úy Ðức nói: Do thành tựu pháp như vậy mà Bồ Tát ngồi tòa cỏ hơn người ngồi tòa cao rộng lớn, hơn đại Thanh Văn ở tại Phạm Thiên.
Vua A Xà Thế bảo Vô Úy Ðức rằng: Con há chẳng biết Tôn giả La Hầu La đây là con trai của Thích Ca Như Lai ở trong hàng học giới là tối đệ nhứt ư?
Vô Úy Ðức nói: Thôi đi Phụ Vương chớ nói như vậy. Phụ Vương có thấy nghe sư tử chúa sanh con dã can chăng?
Vua nói: Không hề thấy.
Vô Úy Ðức nói: Phụ Vương có thấy có nghe Chuyển Luân Thánh Vương lễ kính chư Tiểu Vương chăng?
Vua nói: Không có.
Vô Úy Ðức nói: Ðúng vậy. Như Lai Sư Tử Vương chuyển đại pháp luân chư Thanh Văn cung kính vây quanh.
Nếu y chánh pháp thì ai là chơn tử của đức Như Lai. Thì nên đáp rằng chính là chư Bồ Tát vậy. Vì thế chẳng nên nói đức Như Lai có con hay đức Như Lai không con.
Nếu nói đức Như Lai có chơn tử thì nên nói ai phát tâm Vô thượng Bồ Đề là chơn tử của đức Như Lai.
Lúc nói pháp trên đây, trong cung vua A Xà Thế có hai vạn nữ nhơn phát tâm Bồ Đề, hai vạn Thiên Tử đầy đủ pháp ấy nghe Vô Úy Ðức sư tử hống rồi đều phát tâm Bồ Đề.
Vua A Xà Thế lại nói: Ðây là con trai của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại lìa hẳn phiền não học giới Thanh Văn thế nào chẳng phải chơn tử!
Chư Thiên vì cúng dường Vô Úy Ðức nên rải hoa lên đức Phật khắp thành Vương Xá.
Bấy giờ Vô Úy Ðức rời tòa ngồi đến lễ kính chư đại Thanh Văn rồi dưng cúng các thực phẩm đúng như pháp .
Cúng dường xong, Vô Úy Ðức bạch rằng: Chẳng biết chư Tôn giả đại Thanh Văn cớ chi sáng sớm rời xa đức Phật mà đến chốn nầy, phải nên nghe đức Phật thuyết pháp rồi sẽ đi khất thực. Chư Tôn giả về đi, trong giây lát đây tôi sẽ đến chỗ đức Phật.
Vô Úy Ðức cùng Phụ Vương A Xà Thế và Vương Mẫu vô lượng nhơn chúng đoanh vây xuất thành đến chỗ đức Phật đồng đảnh lễ chưn Phật rồi ngồi một phía.
Chư Thanh Văn ấy cũng đến lễ chưn Phật rồi ngồi qua một bên. Tôn giả Xá Lợi Phất tác lễ bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Vô Úy Ðức, cô gái nhỏ đây rất kỳ lạ, được phước lợi rất lớn.
Ðức Phật phán: Nầy Xá Lợi Phất! Vô Úy Ðức đây đã ở nơi chín mươi ức Phật quá khứ phát tâm Bồ Đề vun trồng căn lành để cầu Vô thượng Phật đạo.
Tôn giả Xá Lợi Phất bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Vô Úy Ðức đây có thể chuyển thân nữ ấy chăng?
Ðức Phật phán: Nầy Xá Lợi Phất! Ông thấy Vô Úy Ðức là nữ nhơn ư? Ông chớ có thấy như vậy. Tại sao? Vì Bồ Tát nầy phát nguyện lực mà thị hiện thân nữ nhơn để độ chúng sanh.
Vô Úy Ðức phát thệ rằng: Nếu tất cả pháp chơn thiệt phi nam phi nữ thì khiến nay tôi hiện thân trượng phu cho tất cả đại chúng được thấy.
Thệ xong liền diệt tướng nữ hiện thân trượng phu thăng lên hư không cao bằng bảy cây đa la rồi dừng ở tại đó không xuống.
Ðức Phật phán: Nầy Xá Lợi Phất! Ông có thấy Bồ Tát Vô Úy Ðức trụ tại hư không chẳng xuống ấy chăng?
Tôn giả bạch: Tôi đã thấy, bạch đức Thế Tôn!
Ðức Phật phán: Nầy Xá Lợi Phất! Vô Úy Ðức Bồ Tát nầy lại quá bảy ngàn a tăng kỳ kiếp được thành Chánh giác hiệu Ly Cấu Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, thế giới tên Quang Minh, đức Phật ấy thọ trăm kiếp, chánh pháp trụ thế mười kiếp, thuần Bồ Tát Tăng ba vạn bất thối chuyển Bồ Tát, thế giới ấy đất bằng lưu ly thanh tịnh, đường sá tám hướng trang nghiêm phủ với hoa sen báu, không có tên các ác đạo, trời, người đông đầy thọ diệu lạc và thắng pháp vị như trời Ðâu Suất.
Mẹ của Vô Úy Ðức là Nguyệt Quang phu nhơn cùng vua A Xà Thế đồng chắp tay hướng Phật bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn! Tôi được đại lợi, chín tháng hoài thai người con nầy, nay đại sư tử hống như vậy. Nay tôi đem căn lành ấy hồi hướng Vô thượng Bồ Đề, sau nầy tại thế giới Quang Minh của Phật Ly Cấu tôi sẽ thành đạo Vô thượng Chánh Chơn Chánh giác.
Ðức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất: Nầy Xá Lợi Phất! Nguyệt Quang phu nhơn đây sau khi xả thân người sẽ sanh làm thiên tử trời Ðao Lợi hiệu là Quang Minh Tăng Thượng. Lúc Phật Di Lặc xuất thế sẽ là con trai lớn của Ðại Vương thời ấy, cúng dường Phật Di Lặc rồi xuất gia, hay ghi nhớ thọ trì tất cả pháp của Phật Di Lặc tuyên thuyết. Từ đó thứ đệ gặp chư Phật Hiền kiếp và đều cúng dường. Ðến thời kỳ Phật Ly Cấu xuất thế, sẽ hiện thân làm Ðại Vương hiệu Trì Ðịa có đủ bảy báu cúng dường đức Ly Cấu Như Lai, sau đó thành Phật hiệu Biến Quang Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác thành tựu thế giới trang nghiêm như thế giới Quang Minh của Phật Ly Cấu.
Nghe đức Phật thọ ký, Nguyệt Quang phu nhơn vui mừng hớn hở liền cởi chuỗi báu anh lạc giá trị trăm ngàn lượng vàng dâng lên cúng dường đức Phật, xin phép vua A Xà Thế rồi xuất gia thọ đủ năm trăm chánh giới tu tập phạm hạnh.
Vô Úy Ðức Bồ Tát ở trước đức Phật bạch rằng: Do sức nhơn duyên thệ nguyện nầy khiến thuở vị lai lúc tôi thành Phật chúng Bồ Tát đều mặc pháp phục tất cả hóa sanh. Nếu thệ nguyện trên đây không hư thì khiến nay tôi sẽ hiện thân như niên thiếu Tỳ kheo tám lạp.
Phát nguyện xong, Bồ Tát Vô Úy Ðức liền hiện thân mặc pháp phục thành Tỳ Kheo đầy đủ oai nghi.
Vô Úy Ðức Bồ Tát nói với Phụ Vương A Xà Thế rằng: Tâu Phụ Vương! Tất cả các pháp đều như vậy, tức thì bỗng hóa sanh tướng, rời các tướng được phân biệt sanh khởi, không các điên đảo. Tâu Phụ Vương! Lại liền bây giờ hiện trở lại thân nữ nhơn, Phụ Vương có thấy chăng?
Vua nói: Ðã thấy. Nhưng ta chẳng phải do tướng sắc thân để thấy. Nay ta thấy hiện thân Tỳ Kheo rồi lại thấy thân nữ nhơn trở lại.
Ðức Phật hỏi vua: Nầy Ðại Vương! Thân nào là thiệt? Ðại Vương phải nên học như vậy an trụ chánh kiến đối với tất cả pháp. Các chúng sanh vì bị phiền não thiêu đốt nên chẳng đạt pháp lực.
Vì chẳng đạt nên chẳng phải chỗ nghi mà sanh lòng nghi hối. Phải nên thường thường thân cận Như Lai và Văn Thù Sư Lợi Ðồng Tử Bồ Tát, vì do sức oai đức của Bồ Tát ấy mà khiến cho Ðại Vương được thọ hối quá.
Ðức Phật bảo Tôn giả A Nan: Nầy A Nan! Ông thọ trì pháp môn Vô Úy Ðức Bồ Tát thọ ký nầy đọc tụng chớ quên.
Nầy A Nan! Nếu có thiện nam tử thiện nữ nhơn đầy đủ thất bửu đem cúng thí chư Phật Như Lai chật khắp Ðại Thiên thế giới được công đức không bằng có người hay thọ trì một câu một kệ pháp môn nầy, huống là người thọ trì đủ hoặc đọc hoặc tụng rộng vì người giảng nói và như pháp tu hành.
Ðức Phật Thế Tôn nói kinh nầy rồi. Nguyệt Quang phu nhơn mẹ của Vô Úy Ðức tất cả đại chúng Thiên Long Bát Bộ nghe đức Phật dạy xong đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.”[[2]]
Có lẽ không phải phân tích gì thêm bởi hai bài kinh trên đã nói lên thế nào là chánh kiến của Thanh Văn thừa và Bồ Tát thừa. Một sự khác biệt đến lạ lùng nhưng đều là chánh tri kiến.
Tuy rằng khác biệt rất lớn về chánh kiến nhưng lại đồng một vô lậu tâm, đồng một dòng nước pháp, đồng đến biển đại giác, và cuối cùng đồng chứng Vô Thượng Bồ Đề, giống như các dòng sông tuy khác nhau về xuất xứ, dòng chảy, độ rộng sâu, nhưng cuối cùng đều chảy về biển lớn.
Phật đạo là như vậy, chính điều này Phật đạo mới có nhiều tên gọi nhưng đồng một tính chất là thanh tịnh và giải thoát.
[[1]] Trích kinh Chánh Tri Kiến –HT Thích Minh Châu dịch.
[[2]] Trích kinh Đại Bảo Tích –Phẩm Pháp Hội Vô Úy Đức Bồ Tát –HT Thích Trí Tịnh dịch.
(còn nữa)
Chữ Phá… Trong Một Bài Viết Của Huynh Đệ Trẻ… Luận Về Kim Cang
Đồng một lời tuyên thuyết của Phật, khi nghe sẽ cho ra chỗ̃ chứng sai khác, do sức cảm nhận theo trình tự được lược nói ở trên. Chứ chẳng phải Phật có ý đồ... phá... phá... phá..!

Các bạn!!!
Mình vừa nhận được bài viết của một HĐ trẻ, luận về Kim Cang. Bài viết tốt, nhưng có vài điều chưa thoả đáng. Xin giản trạch ra đây, để mọi người tham khảo.
Cái cớ sự chưa thoả đáng này nó như vầy, theo mình nghĩ: Phần lớn, “chữ phá” được HĐ nêu lên, là do ảnh hưởng của các bài luận chưa được các bậc có trí thẩm định mức độ đúng sai.
Trước đây, mình cũng đã từng đọc một số bài luận, khi luận về Kinh Kim Cang, các tác giả này thường hay dùng “chữ phá”, như phá chấp, phá tướng... để dụ cho Kim Cương. Mà họ quên rằng: Kim cương là vật rắn trên đời, không có gì có thể phá hoại được, trừ "mu rùa và sừng linh dương" theo lời Phật... Ha ha ha ha!!! Chứ tự nó chẳng “hưởn”(1) đâu mà đi phá...ai...!!!
Điều chưa thoả đáng như thế này, nếu bảo rằng: Phật thuyết pháp để phá một thứ gì đó. Ví dụ: Phá tướng, phá chấp, phá mê, v.v... Thì lời này, có lẽ “oan cho Chư Phật ba đời”. Cũng “Oan cho tên kinh là Kim Cang”!!!
Vì cớ sao??? Vì rằng: Phật là đấng chân thật, nên lời nói là "thật ngữ". Chân thật ngữ đó, không có gì phá hoại được, nên tạm gọi là Kim Cang. Thế Tôn chỉ ra một sự thật mà chúng sanh không biết, không thấy, chứ không phải phá!!!
Phật tuyên nói lời chân thật, kẻ nào nghe và thấu suốt “thật ngữ” này: Sẽ tự thấy “chân tâm”. Do thấy “chân thật tâm”, nên sẽ biết “chân thật nghĩa”. Do biết “chân thật nghĩa”, sẽ thấy “chân thật tướng”. Do thấy “chân thật tướng”, sẽ không chấp.
Do không chấp, sẽ không mê. Do không ngu mê, sẽ không sanh pháp. Do không sanh pháp, sẽ hết triền phược. Do hết triền phược, sẽ tự giải thoát. Do tự giải thoát, sẽ rốt ráo giải thoát. Do rốt ráo giải thoát, sẽ rốt ráo thanh tịnh. Do rốt ráo thanh tịnh, sẽ không bị bốn bệnh. Do không bị bốn bệnh, sẽ không kẹt tứ cú. Do không kẹt tứ cú, sẽ thanh tịnh bốn tướng. Do thanh tịnh bốn tướng sẽ phát sanh trí tuệ. Do phát sanh trí tuệ, sẽ thấy Đại Đạo. Do thấy Đại Đạo sẽ...sẽ...sẽ...thành tựu: “Kim Cang Dụ Sư Tử Hống Đại Oai Thần Đại Oai Lực Bất Hoại Bồ Đề Qui Mao Thố Giác Chu Choa Chu Choa Tam Muội”!!!
Vì thế, đồng một lời tuyên thuyết của Phật, khi nghe sẽ cho ra chỗ̃ chứng sai khác, do sức cảm nhận theo trình tự được lược nói ở trên. Chứ chẳng phải Phật có ý đồ... phá... phá... phá..!
Vì thế!!! “Chớ có nên nói rằng: Phật tuyên nói, để phá một cái gì đó”. Nếu cho rằng Phật thuyết để phá, thì...thì...thì... Sẽ chẳng thấy “chỗ̃ tự chơn”. Sẽ tự rước “bốn tướng vào tâm”. Sẽ “tự sanh năng sở”. Sẽ hay sinh đối đãi do nghĩ rằng có “Người hay Phá” và có “Đối Tượng để Phá”. Nghĩ như vậy, sẽ “tự khép cánh cửa Đạo”. Vị lai sẽ “chẳng thể thành Đấng Thiệt Ngữ”.
Và, nếu có thành tựu điều gì đó, thì chỉ có thể “thành tựu cái tâm... hay phá”. Chứ chẳng thể thành tựu: “Kim Cang Dụ Sư Tử Hống Đại Oai Thần Đại Oai Lực Bất Hoại Bồ Đề Qui Mao Thố Giác Chu Choa Chu Choa Tam Muội”!!!
Vài lời cảm khái nhân đọc bài viết của HĐ. Hy vọng HĐ đừng chấp những “lời kỳ dị” đã viết ở trên. Vì khi viết thì...thì...thì... “Lý này có Tứ”!!!
--------------------------
(1) Hưởn: rảnh rỗi (từ Nam Bộ)
(28-02-2014)
Thư Gởi Lão Đệ
Người tu hành phải như cái trống, có đánh mới kêu, không đánh không kêu, đánh mạnh kêu lớn, đánh nhẹ kêu nhỏ, không đánh không kêu... Cái trống không tự kêu.

Lão Đệ!!!
Đúng như vậy...
Đạo Phật là Đạo Trí Tuệ. Vì thế Phật dạy: “Duy Tuệ Thị Nghiệp”
Đạo Phật là Đạo Giải Thoát. Vì thế Phật dạy: “Sinh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”.
Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ. Vì thế Đức Phật có danh xưng là “Vô Thượng Giác”.
Cho nên:
Muốn dạy người đạo pháp, tự thân phải có trí tuệ.
Muốn dạy người giải thoát, chính mình phải hết trói buộc.
Muốn dạy người giác ngộ, tâm ý phải rỗ̃ng rang.
Lão Huynh thường hay tâm sự với HĐ của mình rằng: “Người tu hành phải như cái trống, có đánh mới kêu, không đánh không kêu, đánh mạnh kêu lớn, đánh nhẹ kêu nhỏ, không đánh không kêu... Cái trống không tự kêu”!!!
Vì thế, muốn độ được người phải như cái trống, không tâm không pháp. Nếu còn tâm còn pháp, cho dù đọc nguyên lời kinh, nói lại lời Phật mà tâm không thanh tịnh, ý thức đảo điên, bụng chứa đầy nhân ngã...
Thì lời kinh và lời Phật được kẻ này nói ra trở thành bất tịnh!!!
Người tu hành:
Muốn không sanh tâm, phải dứt cái ngã.
Muốn không sanh pháp, phải bỏ vọng tình.
Muốn có trí tuệ, phải rời cái ngu.
Muốn được giải thoát, phải lìa mê chấp.
Muốn thấy thiệt nghĩa, phải không còn lầm.
Nói chung, đạo Phật là đạo Từ Bi, cứu khổ ban vui. Và điều này, chỉ thực hiện được khi vị tu hành này thành tựu đầy đủ những điều nêu trên.
Nếu tự thân chưa thành tựu, mà đem cái ngu này đi giúp người. Thì chẳng khác gì kẻ không biết bơi, lại nhảy xuống dòng nước sâu cứu người chết đuối, chỉ làm nhọc công người đứng trên bờ!!! Ha ha ha ha!!!
Lão Đệ đã gặp Đại Sư Huyền Không rồi hả??? Cho Lý Tứ này gởi lời thăm Hoà Thượng Đại Ca!!!
Chúc Lão Đệ tinh tấn và thành tựu nhiều điều hy hữu trong cuộc đời tu hành!!!
(07-02-2014)
Đoạt Tâm Dưỡng Mạng
Khi có thánh chúng hỏi một vấn đề, Phật đưa ra quyết định nghĩa trước, nếu nơi nghĩa này mà người nghe không thâm nhập, thì sau đó Phật mới giảng rộng ý nghĩa của nó, để nhân nơi kiến thức dẫn nguồn tâm người nghe về đến cứu cánh.

Các bạn!!!
Nếu chịu khó quan sát các kinh đại thừa, chúng ta sẽ thấy một điều, đó là: Khi có thánh chúng hỏi một vấn đề, Phật đưa ra quyết định nghĩa trước, nếu nơi nghĩa này mà người nghe không thâm nhập, thì sau đó Phật mới giảng rộng ý nghĩa của nó, để nhân nơi kiến thức dẫn nguồn tâm người nghe về đến cứu cánh.
Không đoạt được tâm, mới dùng hạ sách chế mạng!!! Hay nói khác hơn, “cứu tâm rồi mới dưỡng mạng”
Ví dụ như Kinh Kim Cang: “Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật:
Bồ Tát làm thế nào để trụ tâm, để hàng phục tâm???
Phật dạy: Bồ Tát nên như vậy mà trụ tâm, nên như vậy mà hàng phục tâm!!!”
Đọc phần hỏi và trả lời trên, ta thấy Phật nói nghĩa quyết định trước để đoạt tâm, rồi sau đó tuỳ duyên mà giảng giải để dưỡng mạng.
Bát Nhã Tâm Kinh, cũng triển khai trên tinh thần như vậy: “Quán Tự Tại Bồ tát... Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách...”
Kinh này cũng đưa ra quyết định nghĩa trước, đoạt tâm trước, sau đó nếu thấy cần, vị Pháp Sư mới giải thích, dùng giải thích để dưỡng mạng...
Vì sao phải làm như vậy???
“Đoạt tâm chế mạng”!!! Ha ha ha ha!!! Đoạt tâm rồi mới chế mạng!!! Ha ha ha ha!!! Trí tuệ là như thế!!! “Tiên sát hậu cứu”!!!
Hôm trước, mình và một số HĐ đi chinh chiến từ sáng sớm đến tối mịt. Gặp hai tên giặc hung dữ, mình đã dùng chiêu “Đoạt Tâm Chế Mạng” này, khiến hai tên hung dữ kia, bó tay ngay chiêu đầu tiên, xếp giáo quy hàng. Và cuối cùng, than ôi!!! Cái đao của họ Lý vẫn còn sét rẹt...!!!
Nếu chỉ dùng chiêu “Kiến Thức Vi Tiên” như các bạn thường sử dụng. Thì hỡi ơi!!! chắc cuộc chiến sẽ “cù cưa cú cứa”, đao thì mòn mà chẳng đoạt được tâm của người, huống hồ chế mạng được sao??? Thọ mạng của đối phương còn không chế được, thọ mạng của mình cũng “trầy vi tróc vảy”. Làm sao mà thành “thọ mạng đệ nhất được”... Ha ha ha ha!!!
Khi gởi đi các câu hỏi, mình rất mong muốn, đọc các câu trả lời “từ những lưỡi gươm trí tuệ”, chứ không muốn thấy các bạn dẫn mình “rong ruổi trên đường trường kiến thức”... Ha ha ha ha!!!
(06-02-2014)
Làm Thế Nào Để Giúp Người Nhận Ra Chân Lý

- Hỏi
Các bạn!!! ... Sáng nay, BQT nhận được tâm sự cùng mấy câu hỏi của Tấn Trí ở Thành Phố Hồ Chí Minh!!! Tấn Trí viết như sau:
“Thưa thầy Lý Tứ!
Con vẫn thường vào trang của thầy và đọc các bài viết. Các bài viết trên trang cũng như các bài đọc trên youtube của Lý Gia đã giúp ích cho con rất nhiều. Từ những lần đọc và nghe đầu tiên con thấy những điều thầy giảng dạy có gì đó rất quen quen, giống như mình đã từng được nghe các điều ấy hồi nào, cho nên các điều thầy giảng dạy đối với con không khó hiểu, không muốn nói là dễ ứng dụng!
Nhờ ứng dụng theo cách văn tư tu mà thầy giảng giải, con thấy mình an lạc thật sự. Mặc dù công việc hàng ngày của con rất bận rộn, nhiều áp lực, công tác chuyên môn kĩ thuật đòi hỏi không được sơ xuất. Nhưng những thứ đó bây giờ không trở thành vấn đề, con đón nhận mọi việc với tâm thế thảnh thơi, không còn gắt gỏng với công nhân, bình tĩnh với cấp dưới nhờ thế công việc thuận lợi, được lãnh đạo đánh giá cao và nhiều thiện cảm!
Hai vợ chồng con đều là dân kĩ thuật, làm khác cơ quan, có hai con nhỏ. Trước đây mỗi khi về nhà, hai vợ chồng thường xảy ra bất hoà do áp lực công việc ở cơ quan đem về tận nhà. Đến nay bất hoà gần như rất ít khi xảy ra, vợ của con nhận ra sự thay đổi của con và con đã bật mí thành công bước đầu của mình do học được từ trang của thầy. Hiện tại bà xã của con thỉnh thoảng cũng vào trang của thầy để xem và có vẻ ham thích. Con rất mong vợ của con cũng có được thay đổi như bản thân con!
Con đã đem những gì mình học được chia sẻ đến bạn bè và những người quen biết. Rất đông bạn bè của con hiện tại cũng đang hướng đến việc tu hành để tìm an vui. Nhưng có một điều rất lạ là, khi nghe con trình bày những gì mình đã học, bạn bè và người quen cảm thấy thích thú, khen đường lối mới lạ, họ cũng vào trang của thầy để đọc, nhưng họ vẫn giữ những gì họ đang đeo đuổi, không thể từ bỏ hiểu biết cũ. Con nhận ra họ không dám từ bỏ hiểu biết cũ cho dù chính họ cũng nhận ra rằng những hiểu biết đó không có nhiều lợi ích!
Con viết lên những điều này gởi đến thầy để nói lên lời cảm ơn! Con rất mong có cơ hội gặp thầy và được thầy nhận làm đệ tử! Con có một vài thắc mắc, mong thầy giải đáp:
1) Đối với bạn bè và người thân như con đã trình bày ở trên, biết đây là phương pháp đúng nhưng chỉ khen rồi để đó, không dám từ bỏ hiểu biết cũ mặc dù họ nhận ra hiểu biết cũ lợi ích không nhiều. Con xin thầy lời khuyên, con nên làm gì với họ để họ thay đổi và có lợi ích thật sự như con đã có?
2) Khi nói chuyện, bạn bè của con thường chấp chặt giới định huệ hữu lậu. Họ bảo phải giữ giới mới có định, nhờ định mới sinh trí tuệ. Nhưng con thấy đó là họ nói, việc họ giữ giới thế nào con không biết, nhưng định và huệ thì con nhận ra họ không có hai thứ này. Cho con hỏi, tu giới định huệ là tu như thế nào để từ giới mà sinh ra định và huệ?
3) Con học của thầy rất nhiều nhưng chưa làm đệ tử có gì sai hay không? Con vẫn trăn trở điều này!
Chúc thầy khoẻ mạnh, có nhiều bài viết lợi ích”
(13/10/2020 22:58:45; Tấn Trí)
Đáp:
Tấn Trí thân mến!!! ...
Đọc tâm sự của Tấn Trí, mình cảm kích vô cùng!!! ... Lời đầu tiên, chúc bạn và gia đình hạnh phúc, thành công trong công việc, gặt hái nhiều pháp lành từ đạo pháp!!!
Có thể nói, việc chỉ đọc những bài viết từ trang mạng, mà bạn có thể hiểu ra và ứng dụng thành công trong đời sống là việc làm không dễ, nhưng Tấn Trí đã làm được... Theo mình, đây là việc hi hữu trên đời, điều này cho thấy rằng: Dạy đúng, học đúng, hiểu đúng và ứng dụng đúng nhất định sẽ cho ra kết quả như pháp!!! Đây là quy luật tất yếu của việc dạy và học!!!
Về những gì bạn tâm sự đối với những người bạn. Với mình, chuyện này không lạ...!!! Mình vẫn thường tâm sự với HĐ Lý Gia: “Trượng phu là người dám nhả bỏ những gì cần nhả bỏ!!! Dám nuốt vào những thứ mà người khác không dám nuốt”!!!
Cho nên, để có thể nhả bỏ những hiểu biết mà ta đã trót học tập và hãnh diện về nó, cho dù hiểu biết đó lợi ích không nhiều... Thật là điều không dễ đối với người đời!!! Tuy vậy, mình tin rằng, đối với những người tôn trọng chân lí, quyết tâm thay đổi bản thân như pháp... Nếu chúng ta cho họ thấy chúng ta có chân lí, và từ chân lí ấy chúng ta gặt hái được những thành tựu đáng kể như mục tiêu của giáo pháp đề ra, tức chúng ta không hô hào suông mà thể hiện bằng hành động cụ thể trong đời sống... Nhất định một ngày nào đó, mọi người sẽ nhận ra và học tập như chúng ta!!!
Về các thắc mắc của Tấn Trí, mình xin trả lời như sau:
54.1. Đối với bạn bè và người thân... biết... là phương pháp đúng... xin thầy lời khuyên, ... nên làm gì... để họ... có lợi ích thật sự như con đã có?
Như đã nói ở trên, việc điều phục một người đòi hỏi phải có thời gian!!! Bạn bè của bạn nghe và khen những gì bạn nói nhưng chỉ khen rồi để đó... Theo mình, họ “không để đó” như bạn đánh giá mà, họ đang âm thầm theo dõi bạn đấy!!! Nếu bạn chứng minh được những điều bạn nói (với họ) thông qua những gì bạn thành tựu bằng hành động thực tiễn, khiến họ thấy được những đổi thay thật sự lợi ích từ nơi bạn, nhất định họ sẽ học tập để thay đổi như bạn!!!
Để bạn bè và người thân nhận ra việc thay đổi từ những thành tựu đạo pháp của chính bạn... Bạn phải thể hiện cho bằng được bốn điều sau:
Thể hiện thông qua thân giáo: Trong mọi hành động, bản thân của bạn phải là một tấm gương sáng, phản ảnh bạn đang có một đời sống như pháp!!!
Thể hiện thông qua ngôn giáo: Bạn phải nắm vững giáo pháp, tuyên thuyết đúng chân lí, không phi thời, khế căn, khế cơ!!!
Thể hiện thông qua tâm giáo: Bạn phải luôn luôn là người thể hiện đầy đủ đức độ, bao dung và từ bi!!!
Thể hiện thông qua trí giáo: Bạn luôn thể hiện là bậc thiện xảo (trong các phương tiện) khi giúp người!!!
Mình tin rằng, nếu Tấn Trí thể hiện được bốn điều trên trong đời sống, nhất định bạn bè, quyến thuộc của bạn sẽ nhìn thấy và học tập theo bạn!!!
54.2. Bạn bè của con thường chấp chặt giới định huệ hữu lậu... tu giới định huệ là tu như thế nào để từ giới mà sinh ra định và huệ?
Để có thể thành tựu các đạo quả vô lậu trong đạo pháp, người tu hành phải ứng dụng “tam vô lậu học”!!! Tam vô lậu học là ba học pháp vô lậu gồm: Giới vô lậu, định vô lậu và huệ vô lậu!!!
Vì đây là học pháp vô lậu, nên chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, hai học pháp vô lậu kia sẽ tự thành tựu!!! Có nghĩa rằng, nếu người tu hành thành tựu giới vô lậu, sẽ tự thành tựu định và huệ vô lậu (Nhị thừa)!!! ... Hoặc chỉ cần người này thành tựu định vô lậu thì, huệ và giới vô lậu cũng tự thành tựu (Bồ tát quyền thừa)!!! ... Hay người ấy thành tựu huệ vô lậu, tất nhiên giới và định vô lậu sẽ thành tựu theo (Bồ Tát nhất thừa)!!!
Sở dĩ có được sự thành tựu ba trong một kì thú này là vì... Tuy nói có ba pháp là giới vô lậu, định vô lậu và huệ vô lậu, nhưng thực chất đều xuất phát từ một tâm!!! Khi tâm vô lậu thì tất cả đều vô lậu!!! Đây là lí do vì sao ngày xưa khi Phật chưa kết giới, chư thánh chỉ cần nghe một bài pháp, tâm hoát nhiên vô lậu, liền thành tựu đạo quả vô lậu ngay tại chỗ ngồi mà không cần làm gì khác!!!
Từ ba học pháp vô lậu nêu trên, người tu hành do không tìm thấy con đường (như pháp) giúp nguồn tâm vô lậu... Từ đó họ dùng giới hữu lậu (quy ước giới) để tu. Dùng thiền định hữu lậu (sở hành, công phu) để điều phục tâm ý. Dùng giác hữu lậu (tri kiến thế gian) để giải thích và hiểu biết Phật pháp... Cho nên, pháp họ dùng là nhân hữu lậu vì thế không cho ra quả vô lậu... Đây là lí do vì sao bằng hữu của bạn cho dù luôn hô hào giới định huệ, mà bạn nhận ra họ không hề có định hay huệ!!! ... Và đây cũng là lí do vì sao đa số người tu hành nói theo kinh “nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ” mà thực chất họ phải tu cả ba pháp nhưng hữu lậu tâm vẫn không dứt!!!
54.3. Con học của thầy rất nhiều nhưng chưa làm đệ tử có gì sai hay không? Con vẫn trăn trở điều này!
Tấn Trí thân mến!!! ... Làm đệ tử hay không làm đệ tử đều là nhân duyên!!! ... Việc bạn chưa làm đệ tử của mình, nhưng nhờ đọc các bài viết trên trang để có những thành tựu đáng ghi nhận của ngày hôm nay đã xứng đáng lắm rồi!!!
Phật pháp không của riêng ai, Phật đạo là con đường chung cho tất cả hữu tình có duyên lành!!! ... Vì thế, việc học tập của bạn trong hiện tại không có gì sai, mình rất hoan nghênh và xin tán thán!!! ... Nếu hữu duyên, nhất định một ngày rất gần duyên phận thầy trò của chúng ta thành hiện thực!!! ... Còn nếu chưa đủ duyên, Tấn Trí cứ việc như pháp mà tu tập!!! ... Khi nào cần hỗ trợ điều gì trong việc học tập, mình rất sẵn lòng!!!
Chúc Tấn Trí và bạn đọc an vui, tinh tấn!!!
(14/10/2020)
Kỵ Mã Phục Sư… Nhận Ra Tâm Hành
Danh cú hình thân, chính là sự biến hoá khôn lường của trí tuệ

Các bạn!!!
Ngày xưa, khi đọc kinh Lăng Già đến ba pháp danh cú hình thân, mình thật sự bế tắc. Và ba điều này trở thành nỗ̃i ám ảnh, đã đi theo mình suốt đoạn đường tu tập trên hai mươi năm. Cứ mỗ̃i lần nhớ đến nó, như “một món nợ” chưa thể trả được trong đời này!!!
Rồi một ngày cách đây trên dưới bốn năm, trong lúc ngồi uống cà phê để “ngẫm nghĩ cái sự đời, cái sự đạo”. Vấn đề này một lần nữa, món nợ năm xưa mà mình đã trót đã cưu mang từ trên hai mươi năm trước lại “uy hiếp tâm trí của mình”.
Lúc đó, tâm ý của mình “chìm trong món nợ cũ”. Và, tất cả “mất hút vào bất động”. Thế giới trước mặt, thế giới trong tâm không còn hiện hữu. Ly cà phê trước mặt chuyển dần từ nóng đến nguội, rồi lạnh lúc nào không hay!!! Tất cả đã chết, đã bị huỷ diệt!!!
Bất chợt, nhìn ra phía trước, hòn giả sơn có con suối ngoằn ngoèo với dòng nước trong đang lặng lẽ chảy. Nhìn dòng nước đang lặng lẽ quanh co qua những hòn núi nhân tạo. Mình lại nghĩ đến “tâm hành của một hữu tình”. Rồi một giả thiết được đặt ra: Cái gì làm cho dòng nước này chảy mãi...?
Cứ thế, cứ thế!!! Hòn giả sơn và dòng nước chảy lại nhấn chìm tâm trí của mình một lần nữa!!!
Không biết trải qua thời gian bao lâu với bao lần “chết đi sống lại”... Đột nhiên, một HĐ chạy xe vào đánh thức tâm ý. Mình và HĐ ấy cùng trao đổi vài điều trong Phật Đạo. Miệng thì nói, nhưng trí nhìn thẳng vào tâm ý người đối diện. Mình phát hiện ra tâm thức của HĐ này như dòng suối của hòn giả sơn, chảy theo một lộ trình định sẵn!!!
Không còn nghi ngờ gì nữa, mình đã nhìn ra tâm hành của bất cứ hữu tình nào, khi tâm hành này hiện diện. Và mình quyết định, cho dòng chảy dừng lại!!!
Thế là món nợ của hai mươi năm trước, nay đã trả xong. Bí mật của “danh, cú, hình thân” bây giờ không còn là bí mật nữa. Mọi thứ sáng tỏ, như trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay!!!
Từ giây phút đó, sau cái sát na chết lặng bởi “món nợ năm xưa”. Giờ đây, mình trở nên giàu có, đang hữu một tài sản vô tận...
Chính điều này, có lần mình đã viết cho các bạn: “Danh cú hình thân, chính là sự biến hoá khôn lường của trí tuệ”. Nếu ai thấu suốt được nó, vận dụng được nó, sở hữu được nó. Thì có thể biến“hết thảy pháp đồng thành Phật Pháp”... Có thể biến “mọi thứ tâm thành đại tâm”. Có thể biến “mọi thứ trí thành vô thượng trí”. Và quan trọng là: “Có thể biến mọi cảnh giới thành Phật cảnh giới”... Nói chung, sức lưu xuất của nó “không thể nghĩ bàn”!!!
Hôm nay, xét thấy đã đến lúc: “Các bạn phải tiếp cận món nợ của mình từ hai mươi năm trước”. Vì thế, bằng mọi cách, nói gần nói xa, mình đã dẫn các bạn đến nơi chốn này.
Cái may mắn của các bạn, đó là: Con đường để các bạn tiếp cận món nợ kia đã được mình “khai thông” trước, bước đầu không bế tắc như mình hồi xưa. Có nghĩa: Khái niệm danh cú hình thân ít nhiều giờ này mọi người hình dung được, cảm nhận rõ. Kiến thức về những điều này được coi là “tạm đủ”.
Nói khác đi, các bạn đã “chạm nhẹ một ngón tay vào ý nghĩa danh thân”, tức đã chạm nhẹ vào danh thân của “danh cú hình thân”. Cú chạm tay cố ý này, đã mặc nhiên điều chỉnh quả bóng bay đúng hướng, phần còn lại, là “tạo một lực đẩy đủ mạnh” để quả bóng vượt qua lực cản mà bay tới. Để bay đến đích cuối của danh thân!!! Giống như Thiện Tài Đồng Tử chạm tay vào “danh tướng các tam muội”...
Sau đó, là “đạo lộ của quả bóng” tức là cú thân. Cú thân như đường đi của voi, ngựa và muôn thú... Và, đích đến của quả bóng là hình thân, như các thú kia rồi sẽ đến những nơi nào???
Các bạn!!!
Kiến thức cơ bản về ba pháp “danh, cú, hình thân” các bạn đã biết, đây là phần danh thân của danh thân. Tướng mạo con sư tử đã rõ, phần còn lại là tiếp cận cụ thể với con thú. Sau đó mới điều phục “con sư tử hung dữ trở thành con chó giữ nhà”... Ha ha ha ha!!! Biến bại binh thành thân binh, điều này không dễ, nhưng chẳng phải là khó!!!
Chữ Ma Ha Tát Đoả... Ha ha ha ha!!! Là kẻ có thể bắt con sư tử hung dữ trở thành chó giữ nhà... Năm 2014 Giáp Ngọ. HĐ chúng ta quyết vào chốn thâm u "cỡi ngựa bắt sư tử" cho vui...!!! Gọi là năm "Kè Mà Chúc Xự”...
"Kỵ Mã Phục Sư”!!!
(22-01-2014)
Đại Tiệc Kiến Giải
Ngày xưa, khi thuyết pháp, Phật đã sử dụng nhiều “phương pháp giáo dục linh hoạt khác nhau”

Các bạn!!!
Cách đây rất lâu, một HĐ có hỏi mình về Tứ thần túc… Lúc đó mình trả lời: Tu Tứ thần túc để thành tựu hết thảy pháp lành... Ha ha ha ha!!! Mình biết lúc đó, đối với một số HĐ, câu trả lời này chưa thuyết phục, chưa thuyết phục thì chưa thuyết phục. Và bây giờ có lẽ, câu trả lời này cũng chưa thuyết phục đối với một vài HĐ... Ha ha ha ha!!! Mình cũng lại nói: Chưa thuyết phục, thì chưa thuyết phục!!!
1. DANH, CÚ, HÌNH THÂN
Danh thân, cú thân, hình thân (nói gọn là danh, cú. hình thân), chính là sự biến hoá khôn lường của trí tuệ. Nếu ai thấu suốt được nó, vận dụng được nó, sở hữu được nó thì, có thể biến hết thảy pháp đồng thành Phật pháp, có thể biến mọi thứ tâm thành đại tâm, có thể biến mọi thứ trí thành vô thượng trí, và quan trọng là, có thể biến mọi cảnh giới thành Phật cảnh giới. Nói chung, sức lưu xuất của nó không thể nghĩ bàn.
Trong email, mình chỉ lướt qua “danh, cú, hình thân”, mà không đặt thành vấn đề cụ thể để các bạn tư duy.
Vì sao như vậy??? Điều này giống như đối với những người đi tìm ngọc báu, chỉ một chút hy vọng, một thông tin mơ hồ về viên ngọc, người đi tìm ngọc coi đây là những cơ hội quý giá, coi đây là thông tin bổ ích, coi đây là cơ sở hiếm hoi, nhất định không bỏ qua, quyết truy tìm cho được, vì người này biết chắc, đây chính là dấu hiệu cần thiết để có thể tìm thấy cái cần tìm.
Nó giống như người lạc giữa rừng sâu, chợt thấy một chút ánh sáng nhỏ nhoi nơi bìa rừng. Người này nhận thức được, một chút ánh sáng nhỏ nhoi kia, có thể giúp ta ra khỏi rừng rậm. Giống như người “nhử cuốc”, chỉ thoảng nghe tiếng cuốc kêu, sẽ vui mừng, lóng tai, chú tâm, định thần, quyết tâm tìm kiếm.
Còn những ai, không quan tâm đến việc tìm ngọc, hoặc bằng lòng với đời sống hiện tại, thì những dấu hiệu kia là không cần thiết. Đây chính là lý do, vì sao mình chỉ đề cập phớt qua việc này, giống như chỉ loé lên chút ánh sáng rồi vụt tắt, mà không đặt thành chủ đề chính cho HĐ tư duy trong lúc đó. Nếu có HĐ nào bảo rằng “Những dấu hiệu kia là không cần thiết”, có lẽ mình sẽ lại tiếp tục nói “Không cần thiết, thì không cần thiết...”
Hy vọng, một ngày nào đó, có người muốn sở hữu thật sự ba món danh, cú, hình thân, chúng ta sẽ làm một đại tiệc kiến giải về ba pháp trên. Vì rằng, ba pháp đã nói, chính là một trong những viên ngọc quý mà chúng ta cần có, để trở thành kẻ nhiều tài sản nhất, nhằm thực hiện thành công pháp thí. Một trong những mũi tiến công quan trọng để chiếm đoạt thành trì Vô Thượng. Điều này đòi hỏi phải có thời gian, công sức và trí tuệ. Mình đang chờ thời khắc đó!!!
(07-01-2014)
2.THỰCHÀNH…“HAITÂMCỦATHÁNHHIỀN”
Trong Kinh Tâm Địa Quán có đề cập đến hành tướng hai tâm của phàm phu và hành tướng hai tâm của thánh hiền. Nguyên văn đoạn kinh này như sau “… Thiện nam tử! Bởi nhân duyên ấy, uống thuốc “không” trừ tà kiến rồi, tâm tự giác ngộ, phát ra Bồ Đề, tâm giác ngộ ấy tức là tâm Bồ Đề, chứ không có hai tướng.
Thiện nam tử! Tâm tự giác ngộ có bốn nghĩa. Những gì là bốn? Các phàm phu có hai tâm, chư Phật, Bồ Tát có hai tâm.
- Thiện nam tử! Hành tướng hai tâm của phàm phu thế nào?
Một là, từ nhãn thức cho đến ý thức, nhân duyên tự cảnh là “tự ngộ tâm”.
Hai là, lìa tâm, tâm sở pháp của năm căn, hoà hợp duyên cảnh là “tự ngộ tâm”.
Thiện nam tử! Hai tâm như thế hay phát Bồ Đề.
- Thiện nam tử! Hành tướng hai tâm của Thánh Hiền thế nào?
Một là, quán chân thực lý trí.
Hai là, quán nhất thiết cảnh trí.
Thiện nam tử! Bốn nghĩa như thế là “tự ngộ tâm”...”
*****
Các bạn!!!
Mấy hôm nay, chúng ta nói nhiều đến ba pháp danh cú hình thân. Đoạn kinh trên Phật dạy hai loại hành tâm của phàm phu và hai loại hành tâm của thánh hiền. Mình có hai câu hỏi, xin chuyển đến các bạn:
1) Thật nghĩa đoạn kinh đã dẫn, muốn dạy chúng ta điều gì??? Xin phân tích cụ thể.
Chúng ta thử đặt tình huống giả định là: Có vị HĐ của mình, vì không thấu suốt hai hành tướng thánh hiền, nên không thể tự tiến tu để thành tựu Tâm Bồ Đề.
Các bạn đặt mình vào vị trí một Thiện Bằng Hữu, dùng ba pháp danh cú hình thân, khai mở, giảng thuyết, giúp vị HĐ này thấu suốt hai tướng thánh hiền là “Quán chân thực lý trí” và “Quán nhất thiết cảnh trí”. Cụ thể:
2) Hai pháp quán này là hai pháp quán những gì (xác định danh)??? Mỗ̃i pháp ứng dụng ra làm sao (xác định cú)??? Cứu cánh như thế nào (xác định hình)??? Để vị HĐ này, sau khi nghe xong, có thể như pháp mà thành tựu tâm Bồ Đề.
(12-01-2014)
3. ĐỊNH HƯỚNG…
Sau khi nhận các câu trả lời mở hàng, mình có vài nhận xét sau: Cách của các bạn triển khai, chỉ nhằm đưa đến Niết Bàn quyền tiểu, chứ chưa thể đưa đến trí tuệ.
Các bạn bỏ sót một yếu tố cực kỳ quan trọng, đó là phần đầu của đoạn trích: “Thiện nam tử! Bởi nhân duyên ấy, uống thuốc “không” trừ tà kiến rồi, tâm tự giác ngộ, phát ra Bồ Đề, tâm giác ngộ ấy tức là tâm Bồ Đề, chứ không có hai tướng...”
Mấu chốt vấn đề nằm ở đoạn này. Phàm phu mà đã “uống thuốc “không” trừ tà kiến rồi”, thì đây là “ loại phàm phu” gì??? Phàm phu vô văn hay phàm phu tướng???
Nếu đã uống thuốc “không” rồi, thì cách họ tu tập tiếp theo để “ngộ tâm Bồ Đề” nhằm “thành tựu trí Bồ Đề”, chắc là không giống như một “phàm phu vô văn”.
Nói khác hơn, đây là loại phàm phu đã từng: “Phát Tâm Bồ Đề”, “Phục Tâm Bồ Đề”. Đoạn kinh nói trên nhằm giúp cho “Những phàm phu và thánh hiền” này tiếp tục giác ngộ để “Kiến Đáo Bồ Đề”. Và sau đó có cơ hội “Xuất Đáo Bồ Đề” mà thành tựu “Vô Thượng Bồ Đề”.
Hy vọng, một vài định hướng nhỏ nói trên, sẽ giúp các bạn tư duy tốt hơn.
(13-01-2014)
4. GỢI Ý…
Chữ “Thánh hiền” kinh nói ở đây là những vị đã thấm nhuần “nghĩa không” rồi, “đã uống thuốc không trừ bịnh tà kiến, chúng sanh kiến” rồi. Thánh hiền trong đoạn kinh trên, có thể hiểu đó là các Thanh văn thánh đệ tử của Phật như Tu Bồ Đề, như Xá Lợi Phất chẳng hạn... Có nghĩa những điều các bạn nêu ra về phương diện tu tập, các vị thánh hiền này “Rành” hơn các bạn. Họ cũng đã từng giảng nói như thế, hoặc hay hơn như thế…!!! Nhưng “Giác Ngộ Tâm Bồ Đề” thì chưa, nên mới cần đến việc phân tích mổ xẻ để làm sáng tỏ.
Trong câu hỏi, mình viết “Có một HĐ của chúng ta vì không thấu suốt hai pháp của thánh hiền trong kinh Tâm Địa Quán đã dạy, nhằm lấy đó tiến tu để ngộ tâm Bồ Đề, nhờ các bạn giúp HĐ này”.
Tình huống được nêu ra… HĐ đó đang kẹt mắc kiến thức ba thừa vì thế không thể "Ngộ Tâm Bồ Đề” và thành tựu “Trí Bồ Đề”. Nay nhờ các bạn mở lối giúp họ. (giúp họ chính là tự giúp các bạn đấy…)
Các bạn lại đem kiến thức giống như họ rồi trình bày. Nếu giúp “cái kiểu này”… thì để họ tự giúp có lẽ tốt hơn. Cái cần bức phá là ở chỗ̃ này!!! Huệ Năng khác Thần Tú là ở đây!!!
Các bạn!!!
- Giai đoạn tự độ coi như đã xong, có nghĩa Phát Tâm Bồ Đề, Phục Tâm Bồ Đề đã biết, đã hiểu, đã tu. Nay đến lúc Ngộ Tâm Bồ Đề (còn gọi là Minh Tâm Bồ Đề hay Kiến Đáo Bồ Đề). Vì có minh tâm kiến tánh mới phát sanh trí tuệ. Người xưa nói: “Minh tâm kiến tánh trí huệ sáng suốt thần thông quảng đại...” là muốn nói đến giai đoạn hiện nay chúng ta đang hướng đến.
- Đây là giai đoạn cần sự bức phá mãnh liệt, đòi hỏi tính chính xác cực cao. Muốn được như thế, phải "chết đi cái kiến thức ba thừa”. Như con rùa muốn thành sư tử phải từ bỏ cái mai mình đã mang vác trên lưng. Con rùa gặp hiểm nguy, liền rụt đầu vào cái mai để được che chở. Ba thừa gặp hiểm nguy liền thu mình vào mớ tri kiến về Niết Bàn để cầu an lạc. Con sư tử gặp hiểm nguy sẽ làm khác. Nó tức thì xông thẳng vào đối tượng tạo ra hiểm nguy để chế phục và chiến thắng.
Bồ Tát gặp phiền não, chướng xứ, như vị tướng tài giỏi, lập tức xông thẳng vào phiền não, chướng xứ để chiến thắng. Đối với giặc sanh tử đang gieo rắc kinh hoàng trong ba cõi cũng như thế, đang cần các vị tướng tài giỏi, biết rõ thực lực địch ta để chiến thắng.
- Về nguyên tắc, muốn không bị rắn độc cắn, người ta phải chạy đến chỗ̃ không có rắn, hoặc giết hết chúng. Nhưng trên đời, không một ai có thể làm được chuyện này. Vì thế gian đâu đâu cũng có rắn, bạn có thể chạy đến nơi tạm coi không có rắn, hoặc giết hết những con rắn chung quanh nhà mình. Nhưng còn những nơi khác thì sao??? Có hoàn toàn an ổn và có thể giết hết rắn trên quả đất này được chăng??? Vì thế, các nhà khoa học làm khác. Họ nuôi rắn độc, chung sống với rắn độc, tìm hiểu độc tính của từng loài rắn, từ đó bào chế ra phương thuốc trị rắn cho nhân loại. Có nghĩa, “trên thế gian này không cần phải chạy trốn, không cần phải tiêu diệt. Mà vẫn không nguy hại vì độc tố của rắn”!!!
- Ba thừa yểm ly phiền não, hoặc diệt phiền não bằng tri kiến của mình. Biện pháp này chỉ tự cứu, nhưng không hoàn hảo.
- Nhất thừa thì không như vậy, họ chung sống với phiền não, nhờ đối diện, nhờ chung sống với phiền não, nương nơi trí bén mà giác ngộ bản chất của phiền não, từ đó tìm ra diệu dược cứu người.
Vì thế kinh Đại Thừa Phật dạy: “Bồ Tát lấy phiền não làm quyến thuộc. Như sen mọc trên bùn”!!!
Hai pháp thánh hiền tu tập trong Tâm Địa Quán Kinh là như thế. Muốn làm được như thế, trước tiên phải xác định loại rắn (danh thân). Biết rõ cơ chế truyền độc và sức mạnh của các loại độc (cú thân). Tìm ra dược liệu khắc chế độc tố kia (hình thân).
Hầu hết, trong phần trả lời mình nhận được, các bạn xác định sai danh thân. Tức chưa thấu suốt tên gọi của hai pháp quán. Danh thân chưa thấu suốt thì cú thân và hình thân không thể triển khai.
Các bạn!!!
Hãy mang hai món nợ này bên mình. Đào sâu từng chữ từng lời. Bình tĩnh, bình tĩnh!!! Lặng lẽ - quan sát!!! Nhất định các bạn sẽ tự tìm cho mình chiếc chìa khoá từ hai pháp này.
Hôm qua, nhân lúc nói chuyện với một số HĐ. Phần lớn mọi người đều diễn giải giống nhau, đó là giảng thuyết cho phàm phu vô văn tu tập. Mình có lật ngược vấn đề như sau: Gặp người chưa giác ngộ, thuyết như các vị là đúng rồi, như lỡ gặp thánh hiền như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên, cao hơn nữa là gặp phải Bồ Tát Phổ Nhãn, Phổ Tịnh đang thị hiện mang phàm phu tướng, cho đến rủi mà gặp Ngài Văn Thù, cái hạng phi phàm phi thánh đến hỏi đạo. Không lẽ các bạn cũng thuyết như thế hay sao???
Các bạn!!!
Cái chúng ta cần lúc này là “Ngộ Tâm Bồ Đề” chứ không phải “Cầu Niết Bàn”. Vì rằng, có tâm Bồ Đề mới thành tựu trí Bồ Đề. Phật dạy “Duy tuệ thị nghiệp”, chứ chưa từng dạy “Duy Niết Bàn thị nghiệp”!!!... Mình xin trích một đoạn kệ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa chuyển đến các bạn. Mong rằng, từ đoạn kệ ngắn này, các bạn có được lời giải đáp thật hay...!!!!!!
“Ta cũng lại như vậy,
Đạo Sư của tất cả
Thấy những người cầu đạo
Giữa đường mà lười bỏ
Không thể vượt đường dữ
Sanh tử đầy phiền não
Nên dùng sức phương tiện
Vì nghỉ nói Niết bàn.
Rằng các ngươi khổ diệt
Chỗ làm đều đã xong
Đã biết đến Niết-bàn
Đều chứng A la hán
Giờ mới nhóm đại chúng
Vì nói pháp chân thật
Sức phương tiện các Phật
Phân biệt nói ba thừa
Chỉ có một Phật thừa
Vì nghỉ nên nói hai
Vì các ngươi nói thật
Các ngươi chưa phải diệt,
Vì nhứt thiết trí Phật
Nên phát tinh tấn mạnh
Ngươi chứng nhứt thiết trí
Mười lực các Phật Pháp
Đủ băm hai tướng tốt
Mới là chân thật diệt,
Các Phật là Đạo-Sư
Vì nghỉ nói Niết-bàn
Đã biết ngơi nghỉ rồi
Dẫn vào nơi huệ Phật.”
(15-01-2014)
5. PHÂN TÍCH TRIỂN KHAI
Mình nhận được một số trả lời của HĐ. Các câu trả lời có sáng hơn, nhưng hầu hết các bạn đều “trình bày kiến thức” của mình về việc “tự ngộ tâm Bồ Đề” hay diễn nói “thế nào là tâm Bồ Đề” hơn là hướng dẫn cụ thể cho người tu hành. Mà yêu cầu của câu hỏi là “giúp người tu hành, mở mang trí tuệ”!!!
Ngày xưa, khi thuyết pháp, Phật đã sử dụng nhiều “phương pháp giáo dục linh hoạt khác nhau”. Ví dụ:
Trước đại chúng: Phật là một diễn giả, trình bày bài pháp của mình một cách sinh động, lô gích, khoa học và thực tế. Khiến người nghe dễ lãnh hội.
Trước những câu nạn vấn: Phật căn cứ vào quan điểm của đối tượng mà đồng thuận hay phản bác, sau đó tuyên thuyết chân lý, kèm theo ví dụ minh họa.
Nếu giáo hoá riêng biệt: Phật nhân nơi vướng mắc của người, sau đó gợi ý để đối tượng tư duy và tự tìm lời giải đáp. Kèm ẩn dụ, để người tư duy phát sanh trí tuệ.
Với những vấn đề siêu hình: Phật im lặng, hoặc nhân nơi thực tại hiện hữu, lấy đó làm rõ vấn đề.
Chính sự linh hoạt và phong phú trong cách giáo hoá. Vì thế Đức Phật đã thành công trong sự nghiệp hoằng hoá của mình.
Tất nhiên, muốn thực hiện được điều này, cần phải: “Thấu suốt giáo pháp, nắm vững vấn đề và biết rõ đối tượng”. Hai câu hỏi đặt ra, với mục đích giúp các bạn phân tích tường tận một vấn đề có sẵn, sau đó tập ứng dụng một loại hình giáo dục mới, đó là danh cú hình thân để xiển minh giáo pháp giúp người. Để có thể trả lời hai câu hỏi, xin có một vài gợi ý sau:
Gợi ý câu 1) Quan sát xem, bài kinh đã dẫn, tức một vấn đề có sẵn nhằm vào đối tượng nào, cảnh giới họ đang ở và cảnh giới tiếp theo là gì???
Gợi ý câu 2) Đối với hai pháp quán mà người đang kẹt mắc, nên cho họ những gợi ý cần thiết nào, để chính họ tư duy rồi tự thấu suốt:
5.1. Thế nào là “Quán chân thật lý trí”?
5.1.1. Xác định danh thân.
Chữ trí trong Phật Đạo thường đặt ở cuối, nhằm nói lên điều gì??? Ví dụ: Khổ trí, Vô sanh trí, Đại viên cảnh trí. Những chữ trí này, nên hiểu như thế nào để đúng với ý nghĩa và vị trí hiện tại của nó trong câu???
5.1.2. Xác định cú thân.
Nếu dùng trí, không dùng thức mà quán “tột lý”, thì lý có mấy thứ???
Lý thế gian, từ đâu mà có??? Tột lý có nghĩa gì???
Lý xuất thế, từ đâu mà có??? Tột lý có nghĩa gì???
Quán đến “tột lý”, lý này từ đâu sanh???
Lý đã không, Phật lý như thuốc nhân bệnh mà có, thì hai thứ lý kia (thế và xuất thế), nơi bản chân (Bồ Đề Tâm) nên hiểu, nên biết, nên thấy như thế nào về nó???
Đã biết bản chân không lý, như thế Phật và chư Thánh tuyên thuyết Diệu lý, Diệu lý này từ đâu ra??? Công dụng để làm gì???
5.1.3. Xác định hình thân.
Bản chân không lý, vậy bản chân là gì???
Bản chân và Bồ Đề Tâm là hai hay chẳng hai???
Như vậy thì, Bồ Đề Tâm và Bồ Đề Trí có khác nhau chăng???
5.1.4. Phần hộ trì để thâm nhập Tâm Bồ Đề.
Tâm Bồ Đề (bản chân) đã không, làm sao có bốn thứ tâm vô lượng???
Đã biết bốn tâm vô lượng là thường, kẻ trí làm sao có thể sanh Diệu tâm???
Có được Diệu tâm, làm sao phát sanh Diệu trí (Chân thật lý)???
5.2. Thế nào là “Quán nhất thiết cảnh trí”?
5.2.1. Xác định danh thân.
Giống như phần A. Xác định “chữ trí”
5.2.2. Xác định cú thân.
Nếu dùng trí không dùng thức, “lặng lẽ quán cảnh duyên và thế giới”, thì cảnh duyên và thế giới, bản chất của nó có ý nghĩa gì???
Đã biết cảnh duyên thế giới tự nó không nghĩa, trống rỗ̃ng, chỉ có danh và tướng do thế đế lưu bố. Thì xét tột cùng của cảnh duyên trước mắt, có như “sừng thỏ, lông rùa” hay không??? Có như bình đựng sữa đã cạn, bình đựng dầu đã hết??? Bình đựng sữa đã cạn, bình đựng dầu đã hết, trong nó có gì???
Đã như sừng thỏ lông rùa, thì kẻ trí, nên hiểu, nên biết, nên thấy...như thế nào về hết thảy cảnh duyên (nhứt thiết cảnh)!!!
5.2.3. Xác định hình thân.
Nếu sừng thỏ, lông rùa chỉ có danh mà không có thực thể, kẻ trí nhân nơi danh tướng kia, có thể phát sanh Từ tâm, Bi tâm mà hoá hiện các thiện cảnh giới hay không???
5.2.4. Phần hộ trì để thâm nhập Trí Bồ Đề.
Muốn hoá hiện các “thiện cảnh giới”, cần những điều gì???
“Bảy cảnh giới đệ nhất nghĩa”, “mười một thứ trí”, “ba loại ngữ ngôn”... Mỗ̃i món ứng hợp với một tâm địa cụ thể nào???
Trên đây tuy chỉ là vài gợi ý nhỏ, để HĐ tư duy, trả lời câu hỏi… nhưng nếu nắm vững, thấu suốt, biết hoạt dụng sẽ “xây dựng nên một nhà máy Diệu trí vô tận”!!! Sản xuất thành công “vô lượng Diệu pháp”!!! Sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu “thị trường trong và ngoài nước”.
Ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng đã phát hiện ra nhà máy và chúng ta không lạ, khi nghe Ngài thảng thốt la lên: “Nào dè tự tánh có thể sanh muôn pháp”!!! Ha ha ha ha!!!
(16-01-2014)
Điều Gì… Mới Là Ý Nghĩa Đích Thực Của Việc Tu Hành Phật Đạo… Sự Khác Biệt
Điều gì mới là ý nghĩa đích thực của việc tu hành?

Các bạn!!!
Hôm qua, nhân nói chuyện tu hành với vài bằng hữu. Mình có nói một điều, điều này mới nghe qua, hình như nó ngược ngạo. Nhưng, nếu chịu để tâm suy gẫm, lại là một thực tế không thể tranh cãi, và thực tế này, là dấu hiệu mách bảo cho chúng ta biết rằng “Điều gì mới là ý nghĩa đích thực của việc tu hành?”
Ngày xưa, Thế Tôn chỉ ngồi dưới cội cây, trong vòng chưa quá bốn mươi chín ngày. Trong thời gian ngắn đó, Cù Đàm đã trở thành một Đẳng Chánh Giác. Bốn mươi chín ngày ngồi xuống gọi là tu hành của Thế Tôn, nếu đem so với các vị tu hành ngày nay, thời gian ngồi của Thế Tôn chưa bằng người thời nay ngồi ráng!!!
Qua thực tế trên, tại sao ta không thử hỏi:
Điều gì đã làm nên một Đẳng Chánh Giác với chỉ vỏn vẹn có hơn một tháng rưỡi (49 ngày) ngồi xuống???
Điều gì đã làm cho một người hôm nay, ròng rã ngồi tu suốt cuộc đời, mà thành tựu cuối cùng chẳng đáng là bao???
Các bạn!!!
Cái gốc của vấn đề là ở chỗ̃ này!!! Hy vọng, nhân sự việc nêu trên, HĐ chúng ta sẽ tìm cho tự thân câu trả lời thoả đáng về điều gì mới là mấu chốt thật sự để giúp cho việc tu hành thành tựu!!!
(05-01-2014)