Tác Phẩm Lý Tứ

Ngũ Phần Hương

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Ngũ phần hương gồm giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, và giải thoát tri kiến hương... Ngũ phần hương là năm phần chứng ngộ. Tức là cái thật của tự thân có thể từ ngoài nhiễm vào có thể từ trong phát ra.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Ngũ phần hương đúng ra được đặt ở một vị trí khác trong tập tài liệu này, tuy nhiên có một vài liên quan nhỏ đó là ‘định hương’. Tuy nhỏ nhưng lại là chủ đề quan trọng liên quan đến định giác chi nên tạm đặt ở đây để mạch kiến thức được nối tiếp và dễ hiểu.

Ngũ phần hương gồm giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, và giải thoát tri kiến hương. Ngũ hương là năm bước quan trọng trong tiến trình đến Vô Thượng Bồ Đề. Thiếu một phần giống như cơ thể thiếu một chi phần không thể gọi là cơ thể hoàn hảo, hay như một cỗ máy thiếu một cơ phận dù nhỏ cỗ máy sẽ không làm tốt công việc của mình. Phật có ví dụ: “Ví như cái bình bể, không làm được việc của cái bình.”

Chữ hương là bạch văn, có nghĩa mùi hương. Trong ngũ phần hương thì hương ở đây là hương giới đức, Phật thường dạy hương này bay ngược chiều gió. Giống như mọi thứ hương ở đời, đã là hương thì phải có mùi vị đặc trưng của nó và phải từ tự thân phát ra, có nghĩa tự thân có hương thì hương này mới tỏa mùi và những ai có tỷ căn đều nhận biết.

Do đó ngũ phần hương là năm phần chứng ngộ. Tức là cái thật của tự thân có thể từ ngoài nhiễm vào có thể từ trong phát ra. Vì thế trong kinh có đề cập đến cụm từ “huân ướp xông riêm” để chỉ hương này từ thánh giáo huân ướp, cũng từ trong phát ra vì như Phật dạy: “Tất cả chúng sanh đều có đủ đức tính như chư Như Lai”, nhưng do nhiễm ô nên hương này bị trần cấu làm bẩn.

Có nghĩa nếu không nhiễm ô thì hương tự phát ra, nếu nhiễm ô thì huân ướp thánh pháp để lấn át hương trần. Trong năm phần hương không có gì khó hiểu, ba hương giới-định-huệ do vô lậu pháp làm thành, giải thoát hương do giác ngộ làm thành, riêng giải thoát tri kiến hương do nhất thiết trí mà có.

Đa số người tu hành hiểu lầm chữ giải thoát tri kiến hương, cho rằng giải thoát tri kiến giống như giải trừ kiến thức hay loại bỏ tri kiến sau khi giải thoát, hiểu như vậy không hợp lý bởi lẽ bản thân giải thoát đã là sự loại bỏ rốt ráo.

Nếu còn cái gì đó chưa được loại trừ cần phải loại bỏ tiếp thì chữ giải thoát hương trước đó vô nghĩa hoặc chưa đủ nghĩa, đã chưa đủ nghĩa sao gọi là hương? Nếu vô nghĩa thì nên đặt một từ ngữ nào đó cho phù hợp, Phật là bậc thiện xảo ngôn thuyết đâu lẽ không đủ vốn từ để mô tả một tính chất quan trọng?

Giải thoát tri kiến hương đi sau giải thoát hương ám chỉ phần hương này muốn có được phải thành tựu đạo giải thoát.

Giải thoát hương ba thừa đồng chứng, giải thoát tri kiến hương là đạo nhất thừa, nghĩa là sau khi ba thừa thân chứng giải thoát muốn viên thành đạo quả phải học phần hương này.

Như vậy ‘giải thoát tri kiến hương’ không thể có được khi chưa ‘thành tựu đạo xuất thế’. Ba thừa sau khi thân chứng giải thoát phải phát Bồ Đề tâm và phát nguyện cứu độ chúng sanh, kinh gọi là trang nghiêm Phật độ và trang nghiêm chúng sanh độ, vì đây là điều kiện ắt có và đủ để thành Phật quả.

Phát Bồ Đề tâm là phát tâm thành Phật. Phát nguyện là nguyện cứu độ chúng sanh. Muốn cứu độ chúng sanh phải biết cách thức cứu độ, tức là phải rành các phương tiện hóa độ. Muốn rành phương tiện phải học các phương tiện, học các loại phương tiện hay các loại giải thoát của chư Phật chính là học nhất thiết trí.

Như vậy ‘giải thoát tri kiến hương’ tức là thấy biết các môn giải thoát còn gọi là nhất thiết trí. Chúng sanh nào nhận được hương này sẽ có phần trong đạo giải thoát, muốn làm Phật mà không biết các loại đạo giải thoát chẳng khác nào muốn làm thầy giáo mà không biết chữ.

Bồ Tát có giải thoát tri kiến hương mới thực hiện viên mãn sáu Ba La Mật, cụ thể là Bố Thí Ba La Mật. Bố Thí Ba La Mật tức bố thí giải thoát mà không có giải thoát thì lấy gì bố thí, giống như bố thí tài vật mà kẻ nghèo hèn không có tài vật muốn bố thí chẳng lấy đâu ra.

Như vậy ‘giải thoát tri kiến hương’ là hương của ‘tri kiến giải thoát’. Hương này tiết ra bay khắp mười phương, chúng sanh nào chạm vào hương này sẽ thoát khỏi đau khổ vì được huân ướp bởi thánh pháp do nhất thiết trí ban tặng.

Cũng liên quan đến giải thoát tri kiến hương là Bố Thí Ba La Mật, trong kinh Đại Niết Bàn Phật dạy có ba loại Ba La Mật là thế gian Ba La Mật, xuất thế gian Ba La Mật, và xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật. Ba nghĩa này chỉ cho ba sự thể hiện Ba La Mật.

− Thế gian Ba La Mật là phàm phu học Ba La Mật để bố thí hay tu năm Ba La Mật còn lại, tức là học hạnh Ba La Mật.

− Xuất thế gian Ba La Mật là ba thừa chứng quả giải thoát trụ nơi Ba La Mật mà bố thí, hay thực hiện năm Ba La Mật sau.

− Xuất thế gian thượng thượng Ba La Mật là Đại Bồ Tát lấy Ba La Mật để bố thí, tức lấy các môn giải thoát để bố thí.

Ba sự thể hiện này giống như ngồi trong nhà bố thí và bố thí nhà ở, hai việc này đồng là bố thí nhưng nói giống nhau thì chỉ giống nhau ở chữ nhà chứ không thể giống nhau ở ý nghĩa.

  • Thông thường ba vấn đề này bị hiểu lầm, cứ miễn nói đến Bố Thí Ba La Mật thì y như rằng hô khẩu hiệu: “Không thấy kẻ thí, không thấy người nhận, không thấy vật cho, không thấy quả báo là Bố Thí Ba La Mật.” Hiểu như vậy không sai vì kinh cũng nói vậy, nhưng đánh đồng tất cả địa vị trong Phật giáo đều bố thí với hành động và nghĩa lý như nhau thì oan cho chư Phật ba đời. Đoạn kinh nói về Bồ Tát thực hành sáu Ba La Mật như sau:

“Thiện Hiện! Nhất thiết trí trí thanh tịnh nên bố thí Ba La Mật Đa thanh tịnh, bố thí Ba La Mật Đa thanh tịnh nên đại từ thanh tịnh. Vì cớ sao? Hoặc Nhất thiết trí trí thanh tịnh, hoặc bố thí Ba La Mật Đa thanh tịnh, hoặc đại từ thanh tịnh không hai không hai phần, vì không riêng không dứt vậy. Nhất thiết trí trí thanh tịnh nên tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát Nhã Ba La Mật Đa thanh tịnh; tịnh giới cho đến Bát Nhã Ba La Mật Đa thanh tịnh nên đại từ thanh tịnh. Vì cớ sao? Hoặc Nhất thiết trí trí thanh tịnh, hoặc tịnh giới cho đến Bát Nhã Ba La Mật Đa thanh tịnh, hoặc đại từ thanh tịnh không hai không hai phần, vì không riêng không dứt vậy.” [[1]]

Đoạn kinh này rất khó hiểu nếu chỉ đọc lướt qua, vì đây là kinh Đại Bát Nhã giáo Bồ Tát thừa, bản thân tên phẩm kinh “Khó Tin Hiểu” đủ nói lên sự khó hiểu và khó tin của kinh này. Nếu khảo sát câu kinh “Thiện Hiện! Nhất thiết trí trí thanh tịnh nên bố thí Ba La Mật Đa thanh tịnh” thì câu kinh này có hai cách hiểu:

1) Chủ thể thí là trí nhất thiết trí thanh tịnh nên hành động thí Ba La Mật Đa cũng thanh tịnh, hay nói gọn vì ‘chủ thể thí thanh tịnh’ nên ‘hành động bố thí cũng thanh tịnh’.

2) Chủ thể thí là ‘trí nhất thiết trí thanh tịnh’ nên ‘hành động thí cũng thanh tịnh’ và ‘vật thí là một pháp thanh tịnh’.  

Hai cách hiểu này cách nào xét ra cũng có lợi và đều là pháp lành. Tuy nhiên, nếu hiểu theo cách (1) thì hành động bố thí thụ động và vật thí chỉ thanh tịnh đối với người thí còn người nhận chưa chắc đã thanh tịnh. Nếu như vậy thì bố thí này chỉ thanh tịnh một chiều còn chiều ngược lại là người được thí khi nhận vật thí chưa chắc được sự thanh tịnh.

Hiểu theo cách (2) thì cả 4 là chủ thể thí, hành động thí, vật thí, và người nhận thí đều được thanh tịnh. Đây là văn tự Bát Nhã và là Bố Thí Ba La Mật chứ không phải trụ nơi Ba La Mật bố thí nên hiểu theo cách (2) lợi hơn trong Bồ Tát đạo.

Nên hiểu trí nhất thiết trí vốn thanh tịnh nên hành động bố thí cũng thanh tịnh và vật được nhất thiết trí thí đó là pháp thanh tịnh, vì thế người nhận sẽ nhận được pháp thanh tịnh này. Nhất thiết trí trí thanh tịnh là chủ thể thí, chủ thể này là nhất thiết trí thì không thể là trí ba thừa.

Bố Thí Ba La Mật Đa là hành động bố thí của nhất thiết trí, hành động thí này là một hành động thanh tịnh giải thoát. Thanh tịnh là vật được nhất thiết trí thí, ở đây là vật thí từ chủ thể thí là nhất thiết trí nhất định phải là pháp lành giải thoát.

Do vậy có thể thầm hiểu người nhận sẽ nhận được pháp lành thanh tịnh giải thoát. Nếu hiểu nhân chủ thể thí thanh tịnh nên hành động thí  cũng  thanh  tịnh  và  pháp  thí đương nhiên thanh tịnh, hiểu như vậy không sai nhưng lại rơi vào quyền tiểu, vì sau cùng người nhận và vật thí bị chủ thể thí nhiếp; có thể nhiếp cái không thanh tịnh thành thanh tịnh chứ không phải người được thí nhận được pháp thanh tịnh; một loại áp đặt giống như tôi là người thì mọi thứ chung quanh tôi đều là người, điều này chưa chắc!

Cho nên phẩm kinh gọi là “Khó Tin Hiểu” không phải không có lý của nó. Văn tự Bát Nhã là thứ văn tự giải thoát thẳm sâu nên không thể hiểu theo ý nghĩa thường tình hoặc quyền tiểu là: Chủ thể thanh tịnh nên tất cả mọi pháp bị nhiếp đều thanh tịnh.

Hiểu như vậy vô hình trung làm mất đi chữ bố thí, khác nào nhân vô ngã thì pháp cũng vô ngã.

Nếu như vậy thì việc gì Phật lại dạy tu pháp vô ngã?

Tu pháp vô ngã vì nhân vô ngã chưa chắc pháp đã vô ngã, suy ra chủ thể thanh tịnh chưa chắc đối tượng bị chủ thể nhiếp đã thanh tịnh, nên Phật dạy tu pháp vô ngã nhất định có ẩn tình gì đây!

Trong một số kinh cũng nói các pháp từ tâm biến hiện (các pháp do tâm sanh). Đây chưa phải là ý nghĩa rốt ráo của Phật pháp. Các pháp do tâm sanh hay từ tâm biến hiện là cách Phật đưa ba thừa về một chuẩn chung.

Quy kết hết thảy mọi pháp không ngoài tâm để chuẩn bị bước tiếp theo giáo nhất thừa tách tâm và pháp ra khỏi nhau. Khi tâm thanh tịnh rồi phải tu tập pháp thanh tịnh, có nghĩa tâm thanh tịnh hay không thì pháp tự nó bổn lai đã thanh tịnh giải thoát. Thuật ngữ Phật thường dùng là: “Pháp nhĩ như vậy.”

Trong kinh Phật cũng thường nói: Như Lai ra đời hay không ra đời các pháp bổn lai cũng tự giải thoát.

  • Đây là một khái niệm mới giúp ba thừa làm sạch nguồn tâm (tâm như hư không chứ không phải tâm không của ba thừa) để chuẩn bị học nhất thiết trí, tức thấy rõ thiệt tướng vạn pháp.

  • Có thấy rõ thiệt tướng vạn pháp, bố thí pháp mới không lỗi lầm. Kinh Lăng Già khi ngài Đại Huệ hỏi Phật 108 câu, Phật dùng chữ “phi” để đáp lại mang ý nghĩa này.

Để quyết nghi, trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Phật có ví dụ giống như người cụt chân ngồi giữa ngã tư đường, người này rành mọi con đường, ai cần biết đường đi đến hỏi người cụt chân sẽ chỉ đường, tuy chỉ đường rành rọt nhưng bản thân người chỉ đường không thể tự đi được.

Theo ví dụ này có thể hiểu người không thanh tịnh có thể dạy pháp thanh tịnh cho người khác, đâu nhất thiết cả hai đều thanh tịnh nên ‘vạn pháp duy tâm’ chưa phải là rốt ráo.

  • Do đó Phật dạy: “Y pháp bất y nhân” để hiển minh nhân và pháp không nhất thiết cái này thanh tịnh nên cái kia thanh tịnh.

Trong kinh Hoa Nghiêm khi Thiện Tài Đồng Tử đem cái tâm như hư không đi cầu nhất thiết trí, các vị Bồ Tát đem pháp lành giải thoát (Ba La Mật) ra thí cho Thiện Tài và Thiện Tài cung kính vâng chịu như sau:

“Ngài Văn Thù Sư Lợi Ðồng Tử lại biết Thiện Tài đã từng cúng dường quá khứ chư Phật, gieo sâu căn lành, tin  hiểu rộng  lớn, thường thích gần gũi các thiện tri thức. Thân ngữ ý đều không lỗi lầm, tu Bồ Tát đạo cầu Nhứt thiết trí thành Phật pháp khí. Tâm Đồng Tử này thanh tịnh như hư không, hồi hướng Bồ Đề không chướng ngại

……………………………………………………......

Cúi xin đức Thánh vì tôi mà dạy Bồ Tát phải học Bồ Tát hạnh thế nào? Phải tu Bồ Tát hạnh thế nào? phải đến Bồ Tát hạnh thế nào? Phật thật hành Bồ Tát hạnh thế nào? Phải tịnh Bồ Tát hạnh thế nào? Phải nhập Bồ Tát hạnh thế nào? Phải thành tựu Bồ Tát hạnh thế nào?

Phải tùy thuận Bồ Tát hạnh thế nào? Phải ghi nhớ Bồ Tát hạnh thế nào? Phải thêm rộng Bồ Tát hạnh thế nào? Phải làm thế nào cho Phổ Hiền hạnh mau được viên mãn?

...........................................................................

Thiện tài Đồng Tử đảnh lễ chân Di Già, hữu nhiễu vô lượng vòng, chắp tay cung kính bạch rằng: ‘Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ Đề, mà tôi chưa biết Bồ Tát thế nào học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo?

  • Thế nào lưu chuyển trong các loài mà chẳng quên mất tâm Bồ Đề?

  • Thế nào được ý bình đẳng kiên cố bất động?

  • Thế nào được tâm thanh tịnh không gì trở ngại được?

  • Thế nào phát sanh sức đại bi hằng không mỏi nhọc?

  • Thế nào nhập đà la ni khắp được thanh tịnh?

  • Thế nào phát sanh trí huệ quảng đại quang minh nơi tất cả pháp lìa những ám chướng?

  • Thế nào đủ sức vô ngại giải biện tài quyết rõ tất cả nghĩa tạng thậm thâm?

  • Thế nào được sức chánh niệm ghi nhớ thọ trì tất cả pháp luân sai biệt?

  • Thế nào được sức tịnh đạo, nơi tất cả loài khắp diễn thuyết các pháp?

  • Thế nào được sức trí tuệ nơi tất cả pháp đều có thể quyết định phân biệt nghĩa đó?’

...........................................................................

Này thiện nam tử! Nếu có ai phát được tâm Vô thượng Bồ Đề thời là chẳng dứt mất tất cả Phật chủng. Thời là nghiêm tịnh tất cả Phật độ. Thời là thành thục tất cả chúng sanh. Thời là thấu rõ tất cả pháp tánh. Thời là tỏ ngộ tất cả nghiệp chủng. Thời là viên mãn tất cả các hạnh. Thời là chẳng dứt tất cả đại nguyện. Thời là thiệt hiểu chủng tánh ly tham. Thời có thể thấy rõ tam thế sai biệt. Thời làm cho tín giải trọn được kiên cố. Thời được tất cả Như Lai nhiếp trì. Thời được tất cả chư Phật ức niệm. Thời bình đẳng với tất cả Bồ Tát. Thời được tất cả Hiền Thánh khen mừng. Thời được tất cả Phạm Vương kính lễ. Thời được tất cả Thiên Vương cúng dường. Thời được tất cả Dạ Xoa thủ hộ. Thời được tất cả La Sát hầu hạ. Thời được tất cả Long Vương nghinh tiếp. Thời được tất cả Khẩn Na La Vương ca ngâm khen ngợi. Thời được tất cả các Thế Chủ khen ngợi mừng vui. Thời làm cho tất cả chúng sanh giới đều được an ổn.

Những là làm cho họ bỏ ác thú. Làm cho họ ra khỏi chỗ nạn. Làm cho họ dứt tất cả cội gốc nghèo cùng. Làm cho họ sanh tất cả trời người vui sướng. Làm cho họ thân cận thiện tri thức. Làm cho họ được nghe và thọ trì pháp quảng đại. Làm cho họ sanh tâm Bồ Đề. Làm cho họ tịnh tâm Bồ Đề. Làm cho họ rõ Bồ Tát đạo. Làm cho họ nhập Bồ Tát trí. Làm cho họ trụ Bồ Tát địa.

...........................................................................

Vì Bồ Tát là chỗ tất cả chúng nương nhờ mà được sanh trưởng thành tựu.

Là chỗ cứu tế của tất cả chúng sanh, vì Bồ Tát cứu họ khỏi khổ nạn.

Là chỗ y tựa của tất cả chúng sanh, vì thủ hộ thế gian.

Là người cứu hộ tất cả chúng sanh, vì làm cho họ khỏi sự kinh sợ.

Bồ Tát như phong luân, vì gìn giữ các thế gian chẳng cho đọa lạc ác đạo.

Bồ Tát như đại địa vì tăng trưởng thiện căn cho chúng sanh.

Bồ Tát như đại hải, vì phước đức sung mãn vô tận.

Bồ Tát như mặt trời, vì trí huệ quang minh chiếu khắp nơi.

Bồ Tát như núi Tu Di, vì thiện căn cao xuất.

Bồ Tát như minh nguyệt, vì trí quang xuất hiện.

Bồ Tát như mãnh tướng, vì xô dẹp ma quân.

Bồ Tát như quân chủ, vì được tự tại trong thành trì Phật pháp.

Bồ Tát như ngọn lửa mạnh, vì cháy sạch tâm ngã ái của chúng sanh.

Bồ Tát như mây lớn, vì mưa vô lượng diệu pháp.

Bồ Tát như mưa phải thời, vì làm thêm lớn mầm tất cả tín căn.

Bồ Tát như Thuyền sư, vì chỉ dẫn bờ mé pháp hải.

Bồ Tát như cầu đò, vì làm cho chúng sanh qua khỏi biển sanh tử.

...........................................................................

Như Chư đại Bồ Tát có thể vào khắp biển những tư tưởng của tất cả chúng sanh, biển những sự thi thiết, biển những danh hiệu, biển những ngữ ngôn của tất cả chúng sanh.

Có thể vào khắp diễn thuyết biển tất cả pháp cú thâm mật. Diễn thuyết biển tất cả pháp cú cứu cánh. Diễn thuyết biển pháp cú trong tất cả sở duyên có tất cả tam thế sở duyên. Diễn thuyết biển thượng pháp cú. Diễn thuyết biển thượng thượng pháp cú. Diễn thuyết biển pháp cú sai biệt. Diễn thuyết biển pháp cú tất cả sai biệt.

...........................................................................

Thiện Tài Đồng Tử đi lần qua phương Nam đến bờ Diêm Phù Ðề, nước Ma Lợi, tìm Hải Tràng Tỳ Kheo. Bèn thấy Hải Tràng Tỳ Kheo ngồi kiết già ở bên chỗ đi kinh hành, đang nhập tam muội, bặt hơi thở, lìa tư giác, thân tâm bất động.

...........................................................................

Lúc đó Thiện Tài Đồng Tử nhất tâm quán sát Hải Tràng Tỳ Kheo lòng rất khát ngưỡng. Ghi nhớ tam muội giải thoát của Tỳ kheo. Tư duy bất tư nghì Bồ Tát tam muội của Tỳ kheo. Tư duy bất tư nghì phương tiện lợi ích chúng sanh của Tỳ kheo. Tư duy bất tư nghì vô tác dụng phổ trang nghiêm môn của Tỳ kheo. Tư duy trí thanh tịnh trang nghiêm pháp giới của Tỳ kheo. Tư duy trí thọ Phật gia trì của Tỳ kheo. Tư duy sức tự tại xuất sanh Bồ Tát của Tỳ kheo. Tư duy sức đại nguyện kiên cố Bồ Tát của Tỳ kheo. Tư duy sức thêm rộng Bồ Tát hạnh của Tỳ Kheo Hải Tràng.

Thiện Tài Đồng Tử đứng tư duy quán sát như vậy qua một ngày đêm, nhẫn đến bảy ngày đêm, nửa tháng, một tháng, đến sáu tháng, lại qua sáu ngày nữa Hải Tràng Tỳ Kheo mới xuất tam muội.

Thiện Tài Đồng Tử khen rằng: Bạch đức Thánh! Hy hữu kỳ đặc, tam muội như thế rất là sâu xa, tam muội như vậy rất là quảng đại, tam muội như vậy cảnh giới vô lượng, tam muội như vậy thần lực khó nghĩ, tam muội như vậy quang minh không gì bằng, tam muội như vậy trang nghiêm vô số, tam muội như vậy oai lực khó chế ngự, tam muội như vậy cảnh giới bình đẳng, tam muội như vậy chiếu khắp mười phương, tam muội như vậy lợi ích vô hạn, vì có thể trừ diệt vô lượng khổ cho tất cả chúng sanh. Như là làm cho tất cả chúng sanh lìa khổ do tham, khỏi khổ địa ngục, súc sanh, đóng cửa ách nạn, mở đường nhơn thiên, làm cho nhơn thiên hoan hỷ. Làm cho họ thích thiền cảnh giới. Có thể làm cho tăng trưởng sự vui hữu vi. Có thể vì họ mà hiển bày sự vui giải thoát. Có thể vì họ dẫn phát tâm Bồ Đề. Có thể khiến tăng trưởng hạnh phước trí. Có thể khiến tăng trưởng tâm đại bi. Có thể làm cho sanh khởi sức đại nguyện. Có thể làm cho minh liễu đạo Bồ Tát. Có thể làm cho trang nghiêm trí cứu cánh. Có thể làm cho xu nhập cảnh Ðại thừa. Có thể làm cho chiếu liễu hạnh Phổ Hiền. Có thể làm cho chứng được trí quang minh của các bậc Bồ Tát. Có thể làm cho thành tựu các hạnh nguyện của tất cả Bồ Tát. Có thể làm cho an trụ trong cảnh giới Nhứt thiết chủng trí.”[[2]]

Đoạn trích chỉ là phần ít trong toàn bộ quá trình Thiện Tài Đồng Tử đi cầu nhất thiết trí và học các tam muội môn giải thoát để làm thuyền bè cứu hộ chúng sinh.  

  • Đây là phần việc quan trọng và là tư lương của Bồ Tát, bước khởi đầu để viên mãn 37 phẩm trợ Bồ Đề. Khi thành tựu Phật quả thì 37 phẩm mới được gọi 37 đạo phẩm.

Do đó 37 phẩm mới có ba tên gọi khác nhau là    

− 37 phẩm trợ đạo (hỗ trợ cho ba thừa tu hành);

− 37 phẩm trợ Bồ Đề (giúp Bồ Tát thành tựu nhất thiết trí);

− 37 đạo phẩm (quả chứng của Phật).

[[1]] Trích kinh Đại Bát Nhã –Phẩm Khó Tin Hiểu –HT. Thích Trí Nghiêm dịch.

[[2]] Trích kinh Hoa Nghiêm -Phẩm Nhập Pháp Giới –HT. Thích Trí Tịnh dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn Bên Bình Trà... Tiến Trình Vào Biển Đại Giác

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Đường về Niết Bàn có vô lượng, nhưng cửa vào Niết Bàn lại không hai. Trong quá trình từ "biết", rồi "hiểu", và "thấu suốt" để cuối cùng là "trí tuệ" thiệt không đơn giản.

Các bạn!!!

Đường về Niết Bàn có vô lượng, nhưng cửa vào Niết Bàn lại không hai. Trong quá trình từ "biết", rồi "hiểu", và "thấu suốt" để cuối cùng là "trí tuệ" thiệt không đơn giản.

Cho đến chư thánh xưa, muốn vào được biển Đại Giác, cũng phải trải qua bốn giai đoạn, đó là: Khai, Thị, Ngộ, Nhập.

- Nếu chỉ mới trong phạm vi “cái biết”, nên dùng pháp “Bất Cộng Phàm Phu” mà vào chỗ̃ hiểu.

- Đến được “chỗ̃ hiểu”, phải “trọn nên hai vô ngã” để cái hiểu này “không chướng”.

- Qua được ải vô ngã, phải “lặng lẽ quan sát”, để “thấu suốt” rằng “bản chất vạn pháp” tự nó là không. Hễ tự nó là không thì ta đây cũng nên “không tâm không pháp”. Không còn tâm pháp che chướng, mới mong thấy “thiệt tướng”.

- Thấu suốt bản chất, thấy được thiệt tướng. Bây giờ mới có chút đỉnh công đức, lấy chút đỉnh này, ngày qua tháng lại, “tích thiểu thành đa”, gom góp đến khi nào công đức đầy đủ, đem công đức này “Cung Kính Kiến Phật”.

- Kiến được Phật rồi, năm vóc sát đất, đập đầu chưa chảy máu chưa thôi, hết lời năn nỉ, xin Thế Tôn thương tình đoái hoài kẻ nghèo cùng trí tuệ, nay đem chút công đức nhỏ mọn kiếm được này, cầu Thế Tôn ban ơn “đổi chút trí tuệ” hầu làm lợi mình lợi người.

  • Làm như thế!!! Như thế!!! Mới mong có chút đỉnh gì đó, gọi là “mon men trí đạo lận lưng”!!!

  • Nhược bằng:

- Chỉ dừng lại ở chỗ biết: Thành kẻ tà kiến, sẽ là mầm đại họa cho bản thân.

- Dừng lại ở chỗ hiểu: Sẽ thành “đồ tử đồ tôn” bọn kiến giải, đại họa cho Chánh Pháp.

- Dừng lại ở hai vô ngã: Phải cầu Phật thọ ký để ra khỏi Niết Bàn. Nếu không, phải chịu “đại họa không trí”.

- Dừng lại ở thiệt tướng: Thì thành “Bồ Tát Cầu Danh”. Không đủ công đức để mua trí tuệ, đại họa cho Vô Thượng Bồ Đề.

  • Chưa được trí tuệ: Thì hãy “đi bằng hai đầu gối” mà cầu học Đại Thừa như chư Cổ Đức đã làm.

  • Trí tuệ trong Phật Đạo chẳng phải pháp, như tiếng trống.

Tuy rằng trống không pháp nhưng lại có lời, tuy có lời mà vô ngôn; tuy vô ngôn nhưng lại đầy đủ thiện âm, tuy đủ thiện âm nhưng chẳng phải như tiếng đàn tỳ bà, tuy chẳng phải như tiếng đàn tỳ bà nhưng đầy đủ cung bậc giải thoát với vô lượng thang âm, tuy vô lượng thang âm nhưng đồng một vị giác, tuy đồng một vị giác nhưng người nghe sâu cạn chẳng đồng, tuy sâu cạn chẳng đồng nhưng tất cánh không hai, tuy tất cánh không hai nhưng thị hiện đủ ba thân bốn thực, tuy thấy ba thân bốn thực nhưng thiệt ra không có ăn... và cũng chẳng có thân...!!!

Hỏi: Trí tuệ không phải pháp. Nhưng vì sao có khi lại nói “cũng pháp cũng phi pháp”???

Đáp: Ấy là vì kẻ ngu kia, nếu nói không pháp nó sẽ phát cuồng. Vì từ bi, nên Thánh xưa bèn dùng “lời quyền” mà khuyến dụ. Chớ có hiểu sai...!!!

(04-12-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Đạo Sâu Thẳm

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Vì Phật Trí thâm sâu không bờ mé, nên Phật Đạo cũng thâm sâu không bờ mé.

Các bạn!!!

Bây giờ là nửa đêm, đêm thật vắng và cho mình cảm giác như đang ở “Kỳ Xà Quật”!!! Ngoài kia trời trong, trăng sáng và vô số vì sao!!!

Đọc lại thật kỹ những emails của các bạn đã viết, mình cảm nhận một điều, đó là: Sức tư duy của các bạn lúc này có phần sâu hơn và rộng hơn. Điều này cho thấy, có một sự bức phá vô hình nào đó đã âm thầm giúp các bạn cởi bỏ những cột trói nhất định của "Giáo Pháp Ba Thừa" mà trước đây đã là cái nôi nuôi lớn các bạn. Giống như con chim tự mở cánh cửa, bay ra khỏi chiếc lồng son!!!

Hôm trước, có cuộc trao đổi nhiều thú vị giữa mình và một HĐ. Xin tóm lược mẩu đối thoại như sau:

Có người hỏi: Vì sao Phật Đạo sâu thẳm không bờ mé??? Con trả lời: Phật Đạo là Không Đạo, nên Phật Đạo sâu thẳm không bờ mé!!!

Mình đã khen câu trả lời của vị HĐ là rất hay, khi trả lời với người kia như thế. Sau một hồi, mình nói:

- Câu nói của HĐ rất hay, đúng với những gì cần có của một người tu hành trong Phật Đạo. Nhưng, câu này cũng chưa làm mình thoả mãn, vì câu trả lời chưa thể hiện được trí tuệ của một kẻ thông đạt giáo pháp, mà nó chỉ cho thấy kết quả một nguồn tâm rỗ̃ng rang. Câu trả lời cũng chưa thể hiện được bản chất Từ Bi của Phật Đạo...!!! Rồi mình tiếp:

- Bây giờ, mình cũng xin hỏi lại câu này:

Vì sao Phật Đạo sâu thẳm không bờ mé???

Sau thời gian chiêm nghiệm rất lâu, HĐ này đã trả lời câu hỏi của mình thật xuất sắc. Câu trả lời thể hiện sự trưởng thành hẳn lên chỉ sau mấy phút!!!

Các bạn thử suy nghĩ xem. Câu trả lời của HĐ đó như thế nào???

Chúc các bạn tinh tấn, hãy tự mở cánh cửa của “chiếc lồng không pháp” và bay đến với bầu trời xanh bao la “Nhất Thiết Pháp Giai Thị Phật Pháp”. Để nhìn ngắm trăng sáng và vô số vì sao lấp lánh...ngoài kia...!!!

***

Các bạn!!!

Mấy hôm nay, nhận được một số trả lời của HĐ về câu hỏi “Vì sao Phật Đạo thâm sâu không bờ mé”. Căn cứ vào những gì các bạn đã trả lời, chúng ta có thể chia thành ba nhóm ý kiến như sau:

Nhóm thứ nhất, có quan điểm: Phật Đạo thâm sâu không bờ mé, là vì “Phật Đạo giải quyết hết thảy tâm lượng chúng sanh”. Ví dụ như các câu trả lời:

  • Vì tâm thức chúng sanh không bờ mé, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ bé.

  • Vì khổ phiền não không bờ mé, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ mé.

  • Vì chúng sanh vô biên, nên Phật Đạo cũng vô biên, không bờ mé.

Nhóm thứ hai “căn cứ vào Đệ Nhất Nghĩa”, cho rằng đây mới là lý do Phật Đạo thâm sâu không bờ mé.

Ví dụ như những câu trả lời tiêu biểu sau:

  • Vì Phật Đạo là không Đạo, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ mé.

  • Vì các pháp không bờ mé, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ mé.

  • Vì pháp giới không tánh, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ mé.

  • Vì trí tuệ không bờ mé, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ mé.

Nhóm thứ ba “hướng về cứu cánh tối thượng của Phật Đạo” mà trả lời. Ví dụ như các câu trả lời:

  • Vì các đạo không bờ mé, nên Phật Đạo thâm sâu không bờ mé. Chữ “Đạo” ở đây được hiểu là: Nhân đạo, Thiên đạo, Thanh Văn đạo, Duyên Giác đạo, Bồ Tát đạo và Vô thượng Bồ Đề đạo.

  • Vì Phật Trí thâm sâu không bờ mé, nên Phật Đạo cũng thâm sâu không bờ mé.

Nói chung, các dạng câu hỏi như câu hỏi vừa nêu, có vô số cách trả lời. Tuỳ vào chỗ̃ thấy biết, mỗ̃i HĐ đưa ra một câu trả lời, nói lên quan điểm về chỗ̃ sâu của Phật Đạo. Và, theo mình thì, những câu trả lời của các HĐ đều đúng. Tuy vậy với cá nhân, mình vẫn thích nhất là các câu trả lời thuộc nhóm thứ ba.

Lý do là, những câu trả lời của nhóm này “khái quát được toàn bộ tinh yếu” của Phật Đạo.

(30-11-2013)

Thư viện

Phần V: 6.5. Tu Hành Trong Chánh Pháp; 7.Nhục Thân "Phật Đa Bảo"; 8. Tâm; Tâm Đà La Ni (Đại Bi Tâm); 9; Pháp Hộ Trì "Tứ Gia Hạnh"; 10."Về Chánh Tư Duy"; 11. Tản Mạn Về ''Duy Tuệ Thị Nghiệp"; 12. Hạnh Tu Học Người Xưa, Lời Tâm Huyết. (Từ Trang: 83 - 103)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Anh Lạc Luận 2

Tác Giả: Lý Tứ

NXB Hồng Đức 

Phần V: 6.5. Tu Hành Trong Chánh Pháp; 7.Nhục Thân "Phật Đa Bảo"; 8. Tâm; Tâm Đà La Ni (Đại Bi Tâm); 9; Pháp Hộ Trì "Tứ Gia Hạnh"; 10."Về Chánh Tư Duy"; 11. Tản Mạn Về ''Duy Tuệ Thị Nghiệp"; 12. Hạnh Tu Học Người Xưa, Lời Tâm Huyết.

Từ Trang: 83 - 103

Giọng Đọc: Lý Bạch Huệ Minh

Nguồn Nhạc: Giấy Phép Creative Commons

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhuộm Vải

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Bài kinh sẽ là bài học thiết thực cho chúng ta trên con đường trở thành “một thợ nhuộm chuyên nghiệp”!!!

Các bạn!!!

Có lẽ trong HĐ chúng ta, không ít lần tiếp xúc, nói chuyện, đàm luận, trao đổi đạo pháp với các vị tu hành bên ngoài. Tất nhiên khi đàm luận như vậy, trong lòng HĐ chúng ta rất muốn, rất muốn người nghe nhân trao đổi này nhận được lợi ích nào đó.

Nhưng, mong muốn này nhiều khi không đưa đến lợi ích như mong đợi. Thậm chí có khi nó còn có tác dụng ngược lại, đó là chúng ta rơi vào tình cảnh gọi là "gậy ông đập lưng ông". Tức chúng ta bị chính những lý luận chúng ta trang bị cho vị bằng hữu kia, rồi họ lấy đó trộn chung với hiểu biết của họ, thành một thứ "tạp kiến thức". Từ đó, một "bệnh mới xuất hiện". Bệnh này còn khó trị hơn bệnh cũ, như virut kháng thuốc.

Hôm qua, mình có nói chuyện với một HĐ bên ngoài. Và nhận thấy sự cần thiết của “việc phải rạch ròi” trước khi trang bị cho người “kiến thức cần thiết để tu tập”, giống như sự cần thiết phải giặt sạch tấm vải trước khi nhuộm.

Xin gởi đến các HĐ bài kinh Tấm Vải. Kinh này tuy nằm trong tạng Nikaya, nhưng nội dung bài kinh lại mang ý nghĩa “Giáo Bồ Tát”. Có nghĩa, lời kinh nhắn nhủ HĐ chúng ta, trước khi bắt tay “nhuộm màu Giáo Pháp đích thực” lên tâm người, chúng ta phải biết làm gì, để khi nhuộm tấm vải tâm thức, màu nhuộm không “lem luốc”, màu nhuộm “sẽ như ý”.

Rất mong các bạn đọc bài kinh và suy tư, để có một “giải pháp tốt nhất” cho những “tấm vải chúng ta sẽ nhuộm” mai sau. Thấm nhuần ý nghĩa bài kinh, chắc chắn một khi “tấm vải chưa như mong muốn”, chúng ta sẽ “biết cách làm gì” trước khi nhuộm.

Và sẽ không rơi vào tình cảnh làm hư tấm vải, và hao thuốc nhuộm khi thực hiện biện pháp nhuộm vội vã, nhuộm bằng mọi giá trong lúc tấm vải chưa như mong muốn. Bài kinh sẽ là bài học thiết thực cho chúng ta trên con đường trở thành “một thợ nhuộm chuyên nghiệp”!!!

“… Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía- vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.

Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.”(1)

(23-11-2013)

 

------------------------------- 

(1)Trích Trung Bộ, kinh số 7 - Vatthupatnasutta; HT. Thích Minh Châudịch.

Tác Phẩm Lý Tứ

Những Vấn Đề Liên Quan Đến Định: Ba La Mật Bồ Tát Nhất Thừa

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.03.2022

Bồ Tát nhất thừa lấy công hạnh hóa độ làm chỗ tu hành vì trí tuệ đã mãn mà công hạnh chưa mãn, khi hai món này viên mãn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tóm lại, Bồ Tát nhất thừa hay Đại Bồ Tát là những vị thông thuộc Phật pháp, viên mãn Trí Tuệ Ba La Mật có thể thay mặt Phật giáo hóa chúng sanh.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Khác với Bồ Tát quyền thừa và nhị thừa, Bồ Tát nhất thừa trí tuệ siêu việt công đức đã đủ, nơi thánh ngôn lượng tự có chỗ vào không thông qua tu tập.

Phần lớn đây là Đại Bồ Tát hiện ra cõi đời giáo hóa chúng sanh, chỉ cần nghe một đoạn kinh hay câu kệ tâm liền được ý nghĩa Ba La Mật, trí tuệ đầy đủ. Bồ Tát nhất thừa vào thẳng căn bản trí, trí này được gọi là Tự Nhiên trí hay Vô Sư trí.

‘Căn bản trí’ nghĩa là chư Phật cũng từ trí này thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, gọi ‘Vô Sư trí’ vì trí này không nhân người khác giáo dạy, ‘Tự Nhiên trí’ vì đây là trí hết thảy chúng hữu tình đều có được. Khi thể nhập trí này Bồ Tát phát khởi phương tiện trí hay còn gọi sai biệt trí hóa độ chúng sanh.

Gọi là ‘phương tiện trí’ vì trí này là nhất thiết trí biết rõ các môn giải thoát của chư Phật nên hay sinh các món phương tiện hóa độ chúng sanh.

Gọi là ‘sai biệt trí’ vì trí này biết rõ căn cơ sai khác của mỗi chúng sanh và thấu suốt tướng mạo ba thừa nên Đại Bát Nhã kinh gọi là ‘Đạo Tướng trí’.

Bồ Tát nhất thừa lấy công hạnh hóa độ làm chỗ tu hành vì trí tuệ đã mãn mà công hạnh chưa mãn, khi hai món này viên mãn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Có thể tạm ví dụ như một người có bằng tiến sĩ, văn bằng này đủ chuẩn làm một hiệu trưởng, nhưng theo quy định muốn làm hiệu trưởng phải có đủ số lượng học sinh nào đó; vị này muốn được công nhận hiệu trưởng phải chiêu sinh cho đủ số lượng học sinh đã quy định. Bồ Tát nhất thừa làm công hạnh hóa độ có thể tạm ví như vị tiến sĩ kia chiêu sinh, do vậy ‘chức hiệu trưởng có thể nói là do học sinh làm nên’. Trong một số kinh cũng đề cập ‘Phật ra đời là do thiện căn công đức chúng sinh làm nên’.

  • Bồ Tát nhất thừa trải qua thập địa (mười địa vị của Bồ Tát là: Hoan Hỉ Ðịa; Ly Cấu Ðịa; Phát Quang Ðịa; Diệm Huệ Ðịa; Nan Thắng Địa; Hiện Tiền Ðịa; Viễn Hành Ðịa; Bất Ðộng Địa; Thiện Huệ Ðịa; Pháp Vân Ðịa) và tu mười Ba La Mật, đó là sáu Ba La Mật của Bồ Tát thêm Phương tiện Ba La Mật, Lực Ba La Mật, Nguyện Ba La Mật và Huệ Ba La Mật.

Bồ Tát nhất thừa đem Ba La Mật bố thí cho chúng sanh, không giống Bồ Tát quyền thừa nương nơi Ba La Mật để bố thí. Viên mãn ‘thập địa, thập Ba La Mật’ là viên mãn ‘tứ vô lượng tâm’.

Đoạn kinh sau nói về hành trạng của Bồ Tát nhất thừa: “Chư Bồ Tát này không thối chuyển vô thượng Ðẳng Chánh Giác, an trụ trong cảnh giới của Bồ Tát trí, vào chỗ của Ðức Phật vào, siêng tu không ngớt, hay khéo hiển hiện những sự thần thông, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh rất đúng thời.

Vì thành tựu tất cả đại nguyện, chư Bồ Tát này trong tất cả kiếp, tất cả đời, tất cả cõi, thường siêng tu tập không tạm lười nghỉ. Ðã đầy đủ phước, trí, trợ đạo, khắp lợi ích chúng sanh mà luôn không thiếu sót, đạt đến trí huệ phương tiện Ba La Mật của Bồ Tát. Thị hiện vào sanh tử và nhập Niết Bàn, mà vẫn chẳng bỏ phế thật hành Bồ Tát hạnh. Khéo vào tất cả thiền định giải thoát tam muội của Bồ Tát. Trí huệ thần thông đều được tự tại với tất cả việc làm. Ðược tất cả thần lực tự tại của Bồ Tát. Không hề động tác, mà trong khoảng một niệm có thể qua đến tất cả đạo tràng của chư Phật, làm thượng thủ trong chúng để thỉnh Phật thuyết pháp, hộ trì chánh pháp của Phật, cúng dường phụng thờ tất cả Chư Phật với tâm quảng đại, thường siêng tu hạnh Bồ Tát. Thân các Ngài hiện khắp thế gian. Tiếng các Ngài khắp mười phương pháp giới. Tâm trí các ngài vô ngại thấy khắp tam thế tất cả Bồ Tát. Các Ngài đều đã tu hành viên mãn tất cả công đức, trải bất khả thuyết kiếp cũng không thể nói hết.

Chư Phật tử! Ví như đại hải do có mười tướng mà được gọi là đại hải không bị đổi tên. Ðây là mười tướng: một là tuần tự sâu lần; hai là chẳng chứa tử thi; ba là các dòng nước chảy vào đều mất bổn danh; bốn là phổ đồng một vị; năm là có vô lượng trân bửu; sáu là không ai đến tận đáy được; bảy là rộng lớn vô lượng; tám là loài thân to lớn ở; chín là thủy triều chẳng quá hạn; mười là chứa khắp hết nước mưa to mà vẫn không tràn.

Cũng vậy, Bồ Tát hạnh do mười tướng mà được gọi là Bồ Tát hạnh không bị đổi tên. Ðây là mười tướng: Hoan Hỉ Ðịa xuất sanh đại nguyện lần lần càng sâu; Ly Cấu Ðịa chẳng chứa tất cả thây phá giới; Phát Quang Ðịa bỏ rời danh tự giả của thế gian; Diệm Huệ Ðịa đồng một vị với công đức của Phật; Nan Thắng Ðịa xuất sanh vô lượng phương tiện thần thông làm thành những trân bửu của thế gian; Hiện Tiền Ðịa quán sát lý duyên sanh rất sâu; Viễn Hành Ðịa giác huệ rộng lớn khéo quán sát; Bất Ðộng Ðịa thị hiện sự trang nghiêm rộng lớn; Thiện Huệ Ðịa được thâm giải thoát du hành thế gian biết đúng như thiệt chẳng quá hạn; Pháp Vân Ðịa có thể lãnh thọ tất cả đại pháp của Như Lai không hề nhàm đủ.

Chư Phật tử! Ví như châu đại ma ni có mười đặc tánh hơn hẳn các thứ châu báu khác. Ðây là mười đặc tánh: Một là xuất sanh từ đại hải; hai là thợ khéo trau dồi; ba là tròn đầy không khuyết; bốn là trong sạch không bợn; năm là trong ngoài sáng suốt; sáu là dùi lỗ rất khéo; bảy là xỏ bằng dây báu; tám là đặt trên tràng cao bằng lưu ly; chín là phóng ra đủ loại ánh sáng chiếu khắp nơi; mười là có thể theo ý nhà vua mà mưa các loại châu báu và vật dụng làm thỏa mãn tâm nguyện của nhơn dân.

Chư Phật tử! Bồ Tát đây cũng như vậy, vì có mười sự nên hơn các bực thánh khác. Ðây là mười sự:  Một là phát nhứt thiết trí;  Hai là trì giới đầu đà chánh hạnh sáng sạch;  Ba là các thiền tam muội viên mãn không khuyết;  Bốn là đạo hạnh thanh bạch lìa các cấu uế;  Năm là phương tiện thần thông trong ngoài sáng suốt;  Sáu là duyên khởi trí huệ hay khéo dùi xỏ;  Bảy là xâu bằng dây phương tiện trí;  Tám là để trên tràng cao tự tại;   Chín là quán hạnh chúng sanh mà phóng quang minh văn trì;  Mười là thọ chức Phật trí dự ở hàng Phật có thể vì chúng sanh mà rộng làm Phật sự.”[[1]]

Tóm lại, Bồ Tát nhất thừa hay Đại Bồ Tát là những vị thông thuộc Phật pháp, viên mãn Trí Tuệ Ba La Mật có thể thay mặt Phật giáo hóa chúng sanh.

[[1]] Trích kinh Hoa Nghiêm – HT. Thích Trí Tịnh dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Sắc Vô Thường; Sắc Thường Trụ

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Này Kiều Trần Như!!! Sắc là vô thường, hễ cái gì vô thường, sẽ biến hoại và là nhân của phiền não. Vì thế, này Kiều Trần Như!!! Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta và tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, và sắc thường trụ. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều như vậy...

Các bạn!!!

Có HĐ hỏi ý nghĩa của câu: "… Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc thường trụ…”. Nhân đây, mình ghi lại những gì đã trao đổi với HĐ này:

Câu này nằm trong bài kinh đầu tiên, Phật thuyết cho năm anh em Kiều Trần Như ở Vườn Lộc Uyển. Nếu nói đầy đủ, thì lời kinh phải như thế này:

“… Sau khi ba lần tuyên xưng ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác... Với 32 tướng tốt đầy đủ... Phật lại tuyên thuyết: Này Kiều Trần Như!!! Sắc là vô thường, hễ cái gì vô thường, sẽ biến hoại và là nhân của phiền não. Vì thế, này Kiều Trần Như!!! Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta và tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, và sắc thường trụ. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều như vậy...” đây, xin nêu lên quan điểm cá nhân về ý nghĩa của câu: “Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, và sắc thường trụ”

Theo mình, chữ sắc trong đoạn kinh này phải hiểu là “sắc thân” tức một ấm trong năm ấm. Vì sau đó có câu: Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.

1. SẮC CÓ BA THỨ:

Sắc vô thường: Chỉ cho “thân nghiệp” của phàm phu, nó thuộc về “phần đoạn sanh tử”. Sanh diệt theo nghiệp.

Sắc giải thoát: Chỉ cho sắc thân của bậc thánh, thân này theo nguyện sanh, nó thuộc về “bất tư nghì biến dịch sanh tử”. Vì thế, chư thánh có thân, nhưng không bị thân trói buộc. Có thân mà không bị thân trói buộc gọi là sắc giải thoát. Thân này, ứng với câu: “Trong vô số kiếp làm công hạnh Bồ Tát, Như Lai đã lại qua cõi Diêm Phù này với vô lượng danh hiệu sai biệt. Lúc làm quỷ vương, lúc làm chư thiên, lúc làm nai...”

Sắc thường trụ: Đây là Phật Thân, nó thuộc về “Tối hậu thân”. Chư Phật, khi thành Đẳng Chánh Giác, thân của Phật là thân rốt sau. Cho dù tại thời gian nào, đâu, thân Phật đều không biến đổi. Sự không biến đổi này gọi là “Sắc thường trụ”. Ví dụ như Thân Phật Thích Ca Mâu Ni, ở đâu cũng đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.

2. THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC CŨNG ĐỀU NHƯ VẬY.

Câu này có nghĩa, nếu như pháp mà tu hành thì, bốn ấm còn lại cũng “tuần tự nhi tiến” giống như sắc ấm. Tuần tự dứt “Thọ Vô Thường”, sẽ chứng nhập “Thọ Giải Thoát” và rốt cùng là “Thọ Thường Trụ”. Tưởng, hành, thức ấm cũng tiến như vậy... Sự tuần tự thăng tiến từ phàm phu đến thánh và rốt cùng là Phật.

3. TƯƠNG ỨNG VỚI BA LỜI KINH SAU.

- “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh”. Câu này, cho biết rằng, mọi hữu tình đều có chủng tử Phật, nhưng bị ngũ ấm ngăn che, ngũ ấm có thể diệt mất vì vô thường. Có nghĩa, ngũ ấm vô thường có thể diệt, nhưng Phật Tánh là thường, không thể bị hoại diệt.

- “Trong ngũ ấm có Phật Tánh”. Câu này, nhằm chỉ ra rằng: Nếu ngũ ấm không còn ngăn che, trói buộc, thì Phật Tánh sẽ hiện diện.

Ngũ ấm rỗ̃ng suốt, không còn ngăn che, kẻ trí nếu khéo phương tiện, có thể nhận ra Phật Tánh đang ẩn tàng trong đó. Đây là lý do vì sao, chư Bồ Tát sau khi đã “ngũ uẩn giai không” liền phát đại nguyện học Phật Trí để thấy Phật Tánh. Chư Thánh vì nghĩa này nên không giải thoát triệt để tức không chứng thiệt tế.

Thân bây giờ trở thành công cụ thâu giữ trí tuệ và làm lợi ích cho người, nó là chiếc hộp vô giá đựng châu báu trí tuệ vô giá, đây là lý do vì sao Phật Đa Bảo phát nguyện ở đâu có thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, tức khai mở trí tuệ, sẽ đem nguyên nhục thân cùng bảo tháp đến đó cúng dường!!!

- “Ngũ ấm là Phật tánh”. Câu này, khiến Bồ Tát Nhất Thừa “Nhiếp thọ Chánh pháp Vô dị biệt” để “Viên mãn Phật trí” thành tựu Đạo Quả.

Các bạn!!!

Đoạn kinh đã dẫn ở trên, còn một nghĩa nữa, mình có thắc mắc muốn hỏi các bạn. Đó là, theo những gì kinh mô tả lại, trước khi Phật mở màn cho “mùa mưa đại pháp 49 năm”, Phật ba lần tuyên thuyết: “Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác”.

Xin hỏi: Ba lần tuyên thuyết câu: “Này Kiều Trần Như!!! Ta là Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác” có ý nghĩa gì trong thời điểm hiện tại???

Cũng theo kinh thì: “Sau khi Phật tuyên thuyết 3 lần câu nói trên, năm anh em Kiều Trần Như đã vội vã đứng dậy, cung kính đón tiếp Phật và nhường toà ngồi cao nhất” (dù trước đó không muốn đón tiếp Thái Tử, họ hiểu lầm Thái Tử đã từ bỏ tu hành, từ bỏ khổ hạnh, trở về với đời sống thế tục, v.v...).

Vấn đề được đặt ra là: Năm anh em Kiều Trần Như căn cứ vào đâu, sau khi nghe nói như vậy đã thay đổi thái độ ứng xử, khác với những gì năm người này đã trao đổi và nhất quán với nhau trước đó là: “Sẽ không tiếp Thái Tử”???

Rất mong nhận được ý kiến từ các bạn!!! (14-11-2013)

4. TỔNGKẾTCÂUHỎI(SẮC...;SẮCTHƯỜNGTRỤ)

Những câu hỏi thuộc dạng như thế này, muốn trả lời được, đòi hỏi phải hội đủ hai điều, đó là: Rộng và sâu, tức rộng tra cứu đọc tụng và sâu thể nhập.

- Rộng tra cứu đọc tụng: Mới có thể đủ sức lập luận, chứng minh điều mình đã biết, đã thấy, đã cảm nhận.

- Sâu thể nhập: Có thâm nhập tột cùng ý nghĩa của Giáo Pháp, mới quyết chắc điều này là đúng và nhất định nó phải là như vậy.

Mấy câu hỏi đưa ra, rất quan trọng trong Bồ Tát Đạo. Thấu suốt và trả lời được những câu hỏi này. Vị lai, các bạn sẽ biết: “Nói gì, làm gì, và đâu là thời điểm tốt nhất của hai điều trên”.

Câu “Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác...” Của Thế Tôn tuyên thuyết ngày đó với năm anh em Kiều Trần Như, hàm chứa vô số điều “vi mật”. Câu này đã khiến ba cõi “chấn động sáu cách”, và khai mở tâm trí cho năm người trong hiện tại cũng vạn loại chúng sanh ở vị lai.

Lần đầu tiên cõi Ta Bà, trong “Châu kỷ Thích Ca Mâu Ni” xuất hiện “Phạm Âm”. Phạm Âm đã đưa người đến giải thoát và làm nên “Mùa Mưa Đại Pháp 49 năm”.

Trong kinh Vệ Đà có ghi lại, một Đẳng Chánh Giác phải có đầy đủ 32 tướng tốt và 64 mỹ diệu âm. Phật đã dùng Phạm Âm tuyên thuyết ba lần câu “Ta là...”. Nhờ Phạm Âm này, năm anh em Kiều Trần Như khai Pháp Nhãn Tịnh, nhờ công đức của Pháp Nhãn Tịnh nên họ thấy được 32 tướng tốt, nhờ thấy tướng tốt và nghe được Phạm âm nên quyết chắc rằng “đây chính là Như Lai Đẳng Chánh Giác”. Vì thế, sinh tâm cung kính và thay đổi thái độ.

Các bạn!!!

Có một số HĐ, khi nghe nói đến sự cần thiết của chiều rộng… các vị này bèn lên mạng internet và ôm tất cả những gì có được trên đó, coi như "bửu bối"… Thật là một sự nhầm lẫn đáng tiếc!!!

Chiều rộng được nói ở đây, là sự thâu thập có chọn lọc, có chánh kiến, có căn cứ, có lợi ích. Chứ không phải ôm trọn những “luận điểm vu vơ”, “vô căn cứ”, “thô thiển” và chỉ toàn một mớ “ngữ nghĩa xà bần” được lắp ghép một cách gượng ép, mà trong đó không hề có một chút “bóng dáng của trí tuệ”.

Con đường đến với đạo, đòi hỏi mọi kiến thức phải được thẩm định giá trị. Vì thế, việc tiếp nhận những kiến thức chưa được chọn lọc sẽ vô cùng tai hại cho con đường tu tập. Mong các bạn thận trọng!!!

(16-11-2013)

5. CẢM GIÁC… ĐÃ HIỂU

Các bạn!!!

Mình có cảm nhận rằng: Khi đọc một bài viết, các bạn bị cảm giác “mình đã hiểu rồi”, làm trở ngại quá trình đào sâu ý nghĩa.

Vì, bị cảm giác “đã hiểu rồi”. Nên các bạn yên tâm “cất nó vào trong tủ”, sau đó quên hẳn đi. Vì thế các bạn: Không tiếp tục chiêm nghiệm, xem xét, đào sâu những ý nghĩa này đến tột cùng của nó.

Các bạn không trải qua giai đoạn, biến nó chính là bạn. Tức nhân hiểu biết mà thành đời sống, đời sống là hiểu biết. “Ý Sanh Thân” của Đạo Nhất Thừa chính là thành tựu việc làm này.

Ngày xưa, mỗ̃i một ý nghĩa của Phật Pháp thoáng qua. Mình không cất vào tủ, không bị cảm giác “đã hiểu” đánh lừa. Mà mình đặt nó thành đối tượng để mổ xẻ, mổ xẻ đến bao giờ hiểu hết mọi tầng nghĩa cũng như bản chất của pháp đó, rồi ứng dụng đến thuần thục trong đời sống. Chính nhờ vậy mà mình là hiểu biết, hiểu biết là mình, không còn “năng tri sở tri”.

Đối trước một ý nghĩa nào đó của Phật Pháp, mình luôn luôn đặt câu hỏi:

  • Vì sao Phật tuyên thuyết điều này???

  • Tuyên thuyết điều này để làm cái gì???

Nhờ những câu hỏi tự đặt ra như vậy. Nên ngoài việc “lãnh hội ý nghĩa” của văn tự, mình còn thấy được bản chất thật sự của những điều Thế Tôn giáo dạy.

Những điều trên đã giúp mình rất nhiều trong việc “giải mã Phật Pháp”.

Trong giai đoạn này, giai đoạn “tiên khởi của Đạo Nhất Thừa”, việc làm nêu trên, đối với từng HĐ rất quan trọng. Không làm như thế để hiểu hết ý nghĩa của những điều Phật đã dạy thì không thể “Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt”. Chưa Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt đúng như ý nghĩa đích thực của câu này, thì khó có thể thực hành Bồ Tát Đạo một cách hoàn hảo.

Về chiều rộng và chiều sâu.

  • Chiều rộng là thấu suốt từng tầng bậc ý nghĩa về mặt văn tự.

  • Chiều sâu là thấu suốt bản chất thật của pháp đó và ứng dụng nhuần nhuyễn. Tức là công dụng đích thực của pháp này trong Phật Đạo đã được giải mã và như pháp “y giáo phụng hành”.

Về tự độ và độ tha.

Phật có dạy: “Bồ Tát là người chưa độ mình, mà đã phát tâm độ người”. Câu này có ý nghĩa giống như Thầy giáo là những người chưa lo dạy mình mà đã đi dạy người. Tức là, vị Thầy giáo, sau khi học xong “nghề Thầy giáo”, vị này không đem kiến thức đã học, ngồi ở nhà dạy mình, mà họ đến trường để dạy học trò. Sau một thời gian dài dạy học trò, hiểu biết của người Thầy sẽ hoàn hảo hơn lúc vừa tốt nghiệp sư phạm. Độ tha để viên mãn tự độ nằm trong ý nghĩa trên. Giai đoạn này, chúng ta sẽ học cách độ tha, học cách làm Thầy giáo.

Hy vọng những điều mình đã nêu, sẽ giúp các bạn làm quen với môn thần công “Chiết Phát Đẳng Pháp Tu Rị Tu Mọ Ta Rị Ta Mọ”. Đây là môn thần công khi thành tựu có thể chẻ một cộng tóc thành mười sáu phần bằng nhau. Mười sáu phần của cộng tóc được chẻ, một phần tương ưng với một dạng tâm thức của hữu tình.

(20-11-2013)

Thư viện

Phần IV: 6. Ngôi Nhà Tịnh Độ; 6.1. Nhất Tâm...(Một Lòng Một Dạ...); 6.2. Về..."Phương Pháp Vãng Sanh"; 6.3. Cách Thức (Kỹ Thuật) Tu Hành; 6.4. Làm Thế Nào Để...(Tu Trồng Công Đức"? (Trang 69 - 83)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Anh Lạc Luận 2
Tác giả: Lý Tứ
NXB Hồng Đức 
Phần 4. 6. Ngôi nhà tịnh độ; 6.1. Nhất tâm...(Một lòng một dạ...); 6.2. Về..."Phương pháp vãng sanh"; 6.3. Cách thức (kỹ thuật) tu hành; 6.4. Làm thế nào để...(Tu trồng công đức"?
Từ trang 69 - 83
Giọng đọc: Lý Bạch Huệ Minh
Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Cổ

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Thầy kính!!! Xin Thầy dạy con làm cái trống

Thầy kính!!! Xin Thầy dạy con làm cái trống. Con.

 Muốn trở thành cái trống,

Thì trong ruột phải rỗng,

Muốn trống kêu tiếng hay,

Thì da trống phải căng.

Muốn trống kêu tiếng thanh,

Thì vỏ trống phải khô,

Muốn người nghe vừa ý,

Thì trống không ngã nhân.

Muốn kêu tiếng bất tử,

Thì trống phải không sanh,

Muốn thành trống Bát Nhã,

Thì trống phải vô ngại,

Từ, nghĩa, pháp, biện tài,

Đủ bốn tâm vô lượng,

Cộng thêm bốn vô uý,

Mười tám bất cộng pháp,

Mười lực, ba bảy phẩm,

Bốn trí phải suốt thông,

Nếu mà được như thế,

Pháp cổ(1) phát diệu âm!!!

(13-11-2013)

--------------------

(1). Pháp cổ: Là cái trống

Thư viện

Phần III: 1. Một Số Khái Niệm Trong Phật Pháp; 2. Bốn Giai Đoạn Tu Tập Trong Phật Đạo; 3. Giác Ngộ Lột Vai Diễn; 4. Thấy Xa Cũng Thấy Gần; 5. Quan Niệm (Pháp) Tu Hành (Trang 42 - 68)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 18.02.2023

Anh Lạc Luận 2 Tác giả: Lý Tứ NXB Hồng Đức 
Phần 3: 

1 Một Số Khái Niệm Trong Phật Pháp
1.15. "Phát tâm" và "Phát xu" đại đạo; 
1.16. thấy được ba "Thân Phật"; 
1.17. Hàm tàng thức; 
1.18. Cái thấy, biết bản nhiên; 
1.19. ''Thiệnkiến"; 
1.20. "Tư duy và "Quan sát"; 
1.21. "Quyền" và "Thiệt"; 
1.22. Vipassan (Tỳ bà xá na); 
1. 23. "An" và Ổn"; 
1.24. "Hồi hướng"; 
2. Bốn giai đoạn tu tập trong Phật đạo; 
3. Gíac ngộ lột vai diễn; 
4. Thấy xa cũng thấy gần; 
5. Quan niệm (Pháp) tu hành; 
Từ trang 42 - 68 Giọng đọc: Lý Bạch Huệ Minh 
Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tags:

Subscribe to