Những Vấn Đề Liên Quan Đến Định: Giới – Định – Huệ Bồ Tát Quyền Thừa
Bồ Tát dẫn khởi vô lậu học bằng Bát Nhã (trí tuệ), chính trí tuệ đã đưa họ thành tựu các món vô lậu. Trí tuệ giúp thấu suốt bản chất hiểm họa là gì, nguyên nhân phát sinh, cách thức trừ diệt.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Quy trình ứng dụng tam vô lậu Bồ Tát có thay đổi so với nhị thừa do thừa này lẫn lộn tăng tục, lẫn lộn tăng tục nên giới đức không cụ túc hoặc một phần không cụ túc.
Giới của họ chỉ gói trọn trong Bồ Tát giới, thậm chí khi giác ngộ chỉ là năm giới. Thiếu sót này thiệt thòi trong đời sống tu hành vì không được giới hỗ trợ triệt để như nhị thừa sa môn, do đó hiểm nguy ba cõi nhất là ngũ dục của dục giới luôn là mối đe doạ đến tịnh hạnh.
Để bổ khuyết cho thiếu hụt này, Bồ Tát thừa phải là những người thật sự có trí tuệ và thiên về trí tuệ, lấy trí tuệ làm cơ sở thoát ly mọi hiểm họa của ba cõi.
Trí tuệ giúp thấu suốt bản chất hiểm họa là gì, nguyên nhân phát sinh, cách thức trừ diệt. Khi thấu suốt những yếu tố trên, ý không phát khởi các nguyên nhân phát sinh lậu hoặc nên tâm không bị che mờ, tâm không bị che mờ, ý giác được bản nguyên thanh tịnh; nơi bản nguyên thanh tịnh tâm rỗng rang dừng lặng gọi là định, trong định thấy được tánh đức của giới; vì thấy giới tánh bản nguyên cũng thanh tịnh nên giới không khuyết, giới không khuyết gọi là thường trụ giới.
Cho nên Bồ Tát thừa tu học tam vô lậu trong ý nghĩa của tam giải thoát, vì vậy trình tự giới-định-huệ có sự thay đổi lớn từ huệ sanh định, định sanh giới. Đoạn kinh sau minh họa khái niệm nhân nơi huệ thành tựu tất cả của Bồ Tát:
“Kiều Thi Ca! Các thiện nam tử thiện nữ nhân này vượt hơn Thanh Văn và các bậc Độc Giác. Vì cớ sao? Vì giải thoát tất cả tâm hèn kém của Thanh Văn, Độc Giác vậy.
Kiều Thi Ca! Tất cả Thanh Văn, Độc Giác đã trọn nên nhóm giới, nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến.
Đối các thiện nam tử thiện nữ nhân đây đã trọn nên nhóm giới, nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến trăm phần chẳng kịp một, ngàn phần chẳng kịp một, trăm ngàn phần chẳng kịp một, trăm ức phần chẳng kịp một, trăm trăm ức phần chẳng kịp một, ngàn trăm ức phần chẳng kịp một, trăm ngàn trăm ức phần chẳng kịp một, trăm ngàn trăm ức muôn ức phần chẳng kịp một, số phần, toán phần, kế phần, dụ phần cho đến cực số phần cũng chẳng kịp một.
Vì cớ sao? Kiều Thi Ca! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân này vượt hơn tất cả tâm tưởng hèn kém của Thanh Văn, Độc Giác. Đối với các pháp Thanh Văn, Độc Giác trọn chẳng xưng khen. Đối với tất cả Pháp không chỗ chẳng biết, nghĩa là năng chính biết, đều vô sở hữu.
Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử, thiện nữ nhân chẳng lìa tâm Nhất thiết trí trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, đối Bát Nhã Ba La Mật Đa đây chăm lòng lóng nghe, thọ trì đọc tụng, tinh siêng tu học, như lý suy nghĩ, rộng vì hữu tình tuyên nói lưu khắp, hoặc lại thơ tả, các thứ trau dồi. Lại đem vô lượng thượng diệu tràng hoa, hương xoa, hương bột, y phục, anh lạc, bảo tràng, phan lọng, các ngọc diệu trân kỳ quý lạ, kỹ nhạc, đèn sáng, hết các sẵn có cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen. Các thiện nam tử thiện nữ nhân này, Ta nói quyết được vô lượng vô biên công đức thù thắng đời hiện tại và vị lai.
Khi ấy, Thiên Đế Thích lại thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu các thiện nam tử, thiện nữ nhân chẳng lìa tâm Nhất thiết trí trí, đem vô sở đắc làm phương tiện, đối Bát Nhã Ba La Mật Đa đây chăm lòng lóng nghe, thọ trì đọc tụng, tinh siêng tu học, như lý suy nghĩ, rộng vì hữu tình tuyên nói lưu khắp, hoặc lại thơ tả, các báu trau dồi. Lại đem các thứ thượng diệu tràng hoa, hương xoa, hương bột thảy, y phục, anh lạc, bảo tràng, phan lọng, các ngọc diệu trân kỳ quý lạ, kỹ nhạc, đèn sáng, hết các sẵn có cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen. Chư thiên chúng tôi thường theo vệ hộ, chẳng cho tất cả người, phi người thảy, các thứ ác duyên làm rối hại.
Bấy giờ, Phật bảo Thiên Đế Thích rằng: Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử, thiện nữ nhân đem tâm tương ưng Nhất thiết trí trí, dùng vô sở đắc làm phương tiện, đối Bát Nhã Ba La Mật Đa đây thọ trì đọc tụng; khi ấy có vô lượng trăm ngàn Thiên tử vì nghe pháp nên đều đến nhóm hội, vui mừng nhảy nhót, kính thọ Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế.
Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử, thiện nữ nhân, đem tâm tương ưng Nhất thiết trí trí, dùng vô sở đắc làm phương tiện tuyên nói pháp tương ưng Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế; khi ấy có vô lượng các Thiên tử thảy đều đến nhóm hội, đem thiên oai lực khiến kẻ thuyết pháp tăng thêm biện tài, tuyên diễn vô tận.
Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử, thiện nữ nhân đem tâm tương ưng Nhất thiết trí trí, dùng vô sở đắc làm phương tiện tuyên nói Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế; khi ấy có vô lượng các Thiên tử thảy vì kính trọng pháp nên đều đến nhóm hội, đem thiên oai lực khiến kẻ thuyết pháp biện tài không tận, dù có chướng nạn chẳng thể ngăn dứt được.
Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử thiện nữ nhân thảy, đem tâm tương ưng Nhất thiết trí trí, dùng vô sở đắc làm phương tiện, đối Bát Nhã Ba La Mật Đa đây chăm lòng lóng nghe, thọ trì đọc tụng, tinh siêng tu học, như lý suy nghĩ, rộng vì hữu tình tuyên nói lưu khắp, hoặc lại thơ tả, các báu trau dồi. Lại đem các thứ thượng diệu tràng hoa, hương xoa, hương bột thảy, y phục, anh lạc, bảo tràng, phan lọng, các ngọc diệu trân kỳ quý lạ, kỹ nhạc, đèn sáng, hết các sẵn có cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen. Các thiện nam tử thiện nữ nhân này, ở đời hiện tại phải được công đức thắng lợi vô biên, các ma quyến thuộc chẳng thể xâm loạn.
Lại nữa, Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử, thiện nữ nhân ở giữa bốn chúng tuyên nói Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế, tâm không khiếp sợ, lại chẳng bị tất cả luận nạn bẻ gãy. Vì cớ sao? Vì kia do được Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế gia hộ vậy. Lại nếu Bát Nhã Ba La Mật Đa đây, trong bí mật tạng đủ rộng phân biệt tất cả pháp vậy. Nghĩa là hoặc pháp thiện, pháp bất thiện, pháp vô ký; hoặc pháp quá khứ, pháp vị lai, pháp hiện tại; hoặc pháp buộc cõi Dục, pháp buộc cõi Sắc, pháp buộc cõi Vô Sắc; hoặc pháp học, pháp vô học, pháp phi học phi vô học; hoặc pháp thấy bị dứt, pháp tu bị dứt, pháp chẳng bị dứt; hoặc pháp thế gian, pháp xuất thế gian; hoặc pháp hữu lậu, pháp vô lậu; hoặc pháp hữu vi, pháp vô vi; hoặc pháp có thấy, pháp không thấy; hoặc pháp có sắc, pháp không sắc; hoặc pháp cộng, pháp bất cộng; hoặc pháp Thanh Văn, hoặc pháp Độc Giác, hoặc pháp Bồ Tát, hoặc pháp Như Lai. Các pháp như thế thảy, vô lượng trăm ngàn các thứ pháp môn đều nhiếp thuộc vào đây.
Lại do các thiện nam tử, thiện nữ nhân như thế thảy khéo trụ nội không, khéo trụ ngoại không, khéo trụ nội ngoại không, khéo trụ không không, khéo trụ đại không, khéo trụ thắng nghĩa không, khéo trụ hữu vi không, khéo trụ vô vi không, khéo trụ tất cánh không, khéo trụ vô tế không, khéo trụ tán không, khéo trụ vô biến dị không, khéo trụ bổn tánh không, khéo trụ tự tướng không, khéo trụ cộng tướng không, khéo trụ nhất thiết pháp không, khéo trụ bất khả đắc không, khéo trụ vô tánh không, khéo trụ tự tánh không, khéo trụ vô tánh tự tánh không. Vậy nên đều chẳng thấy có kẻ năng luận nạn, cũng chẳng thấy có kẻ bị luận nạn, cũng chẳng thấy có Bát Nhã Ba La Mật Đa được thuyết ra. Vì những cớ ấy nên, Kiều Thi Ca, các thiện nam tử thiện nữ nhân này do nhờ sức đại oai thần Bát Nhã Ba La Mật Đa đây hộ trì, nên chẳng bị tất cả luận nạn hoặc phái khác làm khuất phục.
Lại nữa, Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử thiện nữ nhân, đối Bát Nhã Ba La Mật Đa đây chăm lòng lóng nghe, thọ trì đọc tụng, tinh siêng tu học, như lý suy nghĩ, giải nói thơ tả, rộng khiến lưu khắp. Các thiện nam tử thiện nữ nhân này, tâm họ chẳng kinh, chẳng bố, chẳng chìm đắm cũng chẳng lo lắng, ăn năn. Sở vì sao? Vì các thiện nam tử, thiện nữ nhân này chẳng thấy có pháp đáng khiến họ phải kinh khủng, bố úy, chìm đắm và lo lắng, ăn năn.
Kiều Thi Ca! Nếu các thiện nam tử thiện nữ nhân này, muốn được những công đức vô biên hiện tại đây, nên đối với Bát Nhã Ba La Mật Đa thẳm sâu như thế chăm lòng lóng nghe, thọ trì đọc tụng, tinh siêng tu học, như lý suy nghĩ, rộng vì hữu tình tuyên nói lưu khắp, hoặc lại thơ tả, các báu trau dồi. Lại đem các thứ thượng diệu tràng hoa, hương xoa, hương bột thảy, y phục, anh lạc, bảo tràng, phan lọng, các ngọc diệu trân kỳ quý lạ, kỹ nhạc, đèn sáng, hết các sẵn có cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen.”[[1]]
Trên đây là đoạn kinh đề cập sự ưu thắng khi Bồ Tát nương trí tuệ thành tựu các pháp bất khả tư nghì. Nương trí thành tựu, kinh gọi là tương ưng Nhất Thiết trí hay tương ưng Bát Nhã, thuật ngữ của kinh là “tương tợ Bát Nhã Ba La Mật Đa” chứ chưa phải thành tựu Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Bồ Tát dẫn khởi vô lậu học bằng Bát Nhã (trí tuệ), chính trí tuệ đã đưa họ thành tựu các món vô lậu. Trí tuệ (Bát Nhã) khác với trí thức hay ý thức, ý thức hay trí thức là những hiểu biết có thức nghiệp chen vào, tức hiểu biết của thế gian giới hạn bởi ba cõi do nghiệp dẫn đạo làm thiên lệch thấy nghe hay biết, hướng thấy nghe hay biết theo quan điểm của nghiệp.
Ví dụ như con người thấy cái bàn là cái bàn, hiểu biết đó là cái bàn dùng để đồ vật. Con mọt thấy cái bàn là cái bánh, hiểu biết cái bàn là cái bánh ăn vào thì no.
Hai hiểu biết sai khác này do nghiệp làm thành, thực chất của cái bàn là bàn hay là bánh? Bánh hay bàn do nghiệp phân biệt làm thành, rõ hơn là nghiệp thức cho ra kết quả thấy biết. Khi thấy bàn biết rõ nó là cái bàn nhưng không khởi phân biệt và chạy theo cái bàn hay cái bánh tạm gọi là trí tuệ.
Về nguyên tắc khi thấu suốt như vậy tâm dừng lặng, nhưng tập khí nhiều đời định chưa kịp tuệ.
Bồ Tát này phải trải qua thời gian tu hành, y nơi giác ngộ lắng sạch phàm tâm đến khi định tuệ quân bình mới thành tựu quả vị, vì thế gọi là quyền thừa.
Thông thường chỗ chứng cao nhất của hàng Bồ Tát này là vô sanh nhẫn (tương đương chỗ chứng nhị thừa), tức tâm không sanh khởi nên được nhẫn vị.
Tiếp theo Bồ Tát này tu hai pháp nhẫn là nhu thuận nhẫn và âm hưởng nhẫn. Y nơi chỗ ngộ tu hành gọi là nhu thuận nhẫn, y nơi chỗ giác tu hành gọi là âm hưởng nhẫn, viên mãn hai nhẫn này gọi là vô sanh pháp nhẫn (hơn nhị thừa vì thấy pháp vô ngã).
Cũng có thể nói hai pháp này là chỉ và quán, thuật ngữ của kinh gọi là “quân bình chỉ quán.” Có thể thấy nhị thừa thiên về chỉ (yểm ly ngũ ấm, ngũ dục), Bồ Tát thiên về quán (trí tuệ), cho nên kinh nói nhị thừa định nhiều huệ ít, Bồ Tát huệ nhiều định ít.
Muốn vào nhất thừa, nhị thừa và Bồ Tát phải tu Thiền Na Ba La Mật để quân bình hai pháp này sau đó mới thể nhập Viên Giác (giác ngộ viên mãn) gọi là nhất thừa.
[[1]] Trích kinh Đại Bát Nhã – HT. Thích Trí Nghiêm dịch.
(còn nữa)
Phần II: 1. Một Số Khái Niệm Trong Phật Đạo (Trang 23 - 41)
Anh Lạc Luận 2 Tác Giả: Lý Tứ Nhà Xuất Bản Hồng Đức
Phần II: 1.8. Ngũ Ấm Xí Thạnh; 1.9. Khái Niệm Đế; 1.10. Tự Độ, Độ Tha, Phát Tâm, Phát Nguyện...; 1.11. Tứ Bất Y; 1.12. Trần; Pháp Trần; Pháp Giới; 1.13. Pháp Giới Trong Phật Đạo; 1.14. Cặp Phàm Trù "Bản Chất - Hiện Tượng" Và ''Thiệt Tướng - Hư Vọng Tướng"
Từ Trang: 23- 41 Giọng Đọc: Lý Bạch Huệ Minh
Nguồn Nhạc: Giấy Phép Creative Commons
Những Vấn Đề Liên Quan Đến Định: Giới – Định – Huệ Nhị Thừa
Nhị thừa y thánh giáo tuân thủ nghiêm ngặt ba học pháp vô lậu, dùng cụ túc giới làm tường vách yểm ly rốt ráo ngũ ấm (giới), thân tâm không sai phạm thấu suốt mối nguy hại của sự buông lỏng ngũ ấm, ngũ ấm yểm ly, không phóng dật không hý luận hướng đến chánh trí chánh niệm nên thiền sanh.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Đoạn văn trên có đề cập đến giới-định-huệ, huệ định giới, và định tuệ Ba La Mật, ba điều này khác nhau như thế nào?
a. Giới - Định - Huệ Nhị Thừa
Nhị thừa y thánh giáo tuân thủ nghiêm ngặt ba học pháp vô lậu, dùng cụ túc giới làm tường vách yểm ly rốt ráo ngũ ấm (giới), thân tâm không sai phạm thấu suốt mối nguy hại của sự buông lỏng ngũ ấm, ngũ ấm yểm ly, không phóng dật không hý luận hướng đến chánh trí chánh niệm nên thiền sanh.
Trong thiền ba nghiệp chuyển từ thô đến tế tuần tự vượt qua tứ lưu là: Kiến lưu, dục lưu, hữu lưu, và vô minh lưu nên định sanh (định).
Dứt bốn lưu này là dứt cành lá vô minh, nhuận chi vô minh sạch, thức không che mờ ý nên trí tuệ sanh (huệ). Trí tuệ sanh, phiền não trụ địa gồm:
Kiến nhứt thiết xứ phiền não trụ địa (kiến lưu);
Dục ái trụ địa (dục lưu);
Hữu ái trụ địa (hữu lưu); và
Vô minh ái trụ địa (vô minh lưu); hoàn toàn chấm dứt thoát khỏi phiền não, chứng giải thoát.
Cũng có thể hiểu nhị thừa vượt tứ lưu là trình tự thân chứng tứ thánh quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, và A La Hán.
Do đó ba học pháp vô lậu của nhị thừa là thánh đạo đưa đến vô lậu tâm giải thoát, chứng thánh quả. Đây là học pháp quan trọng và là chỉ thú tu hành của nhị thừa.
Đoạn kinh sau khái quát về cách thức tu hành học pháp vô lậu của nhị thừa gồm: Tướng sa môn, giới, định, huệ, và giải thoát: “Ở đây, này các Tỳ Kheo, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được." Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỳ Kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền." Vị ấy, vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỳ Kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu."
Cũng vậy, ở đây, này các Tỳ Kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt." Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỳ Kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền." Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy cành lá của phạm hạnh, vì do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Nhưng ở đây, này các Tỳ Kheo, có vị Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt." Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu, giới đức này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta là người trì giới, theo thiện pháp. Các Tỳ Kheo khác phá giới, theo ác pháp." Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỳ Kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói:"Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu."
Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... (như trên)... Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỳ Kheo, Tỷ Kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Nhưng ở đây, này các Tỳ Kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được." Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không khen mình, chê người. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Do thành tựu thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu thiền định này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta có thiền định nhất tâm. Các Tỷ Kheo khác không có thiền định, tâm bị phân tán." Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỳ Kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu."
Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, ở đây Tỷ Kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... (như trên)... Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỳ Kheo, như vậy vị ấy được gọi là Tỷ Kheo đã nắm giữ vỏ trong của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Lại nữa, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt." Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Vị ấy do thành tựu thiền định này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến, vị ấy vì tri kiến này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy do tri kiến này, khen mình, chê người. "Ta sống, thấy và biết. Các Tỳ Kheo khác sống, không thấy và không biết." Vị ấy, do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Chư Tỳ Kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.
Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... (như trên)… Vị này, vì tri kiến này nên mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị này bị đau khổ. Chư Tỳ Kheo, như vậy vị này gọi là đã nắm giữ giác cây của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Lại nữa, ở đây, này các Tỳ Kheo, có vị Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt." Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định, vị ấy do thành tựu thiền định này, hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Do thành tựu tri kiến này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thời giải thoát. Này các Tỳ Kheo, sự tình này có thể xảy ra, Tỳ Kheo ấy có thể từ bỏ thời giải thoát.
Này các Tỳ Kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây mang đi, và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: "Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây mang đi, và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện."
Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, ở đây một Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong khổ đau, bị chi phối bởi khổ đau. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt." Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Vị ấy do thành tựu giới đức này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy, không do thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Vị ấy do thành tựu thiền định nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy vì thành tựu tri kiến này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu được phi thời giải thoát. Này chư Tỳ Kheo, sự tình này không thể xảy ra, Tỳ Kheo ấy không thể từ bỏ phi thời giải thoát này.
Như vậy, này các Tỳ Kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích thành tựu tri kiến. Và này các Tỳ Kheo, tâm bất động giải thoát chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.”[[1]]
Đoạn kinh sau nói về nhân giác ngộ mà thể nhập giới-định-huệ và giải thoát:
“Này các Tỳ Kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh trí tuệ; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát.
Này các Tỳ Kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập, khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập, khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.
Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
“Vô thượng giới và định,
Trí tuệ và giải thoát,
Gotama danh tiếng,
Giác ngộ những pháp này.
Ðức Phật với thắng trí,
Thuyết pháp cho Tỳ Kheo,
Bậc Ðạo sư đoạn khổ,
Bậc Pháp nhãn tịch tịnh.” [[2]]
[[1]] Trích kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây –HT. Thích Minh Châu dịch.
[[2]] Trích kinh Tăng Chi Bộ – HT. Thích Minh Châu dịch.
(còn nữa)
Phần I: Thay Lời Tựa..., "Chăm Bón Sự Nghiệp Tu Tập", 1. Một Số Khái Niệm Trong Phật Pháp, (Trang 5 - 23)
Anh Lạc Luận 2
Tác giả: Lý Tứ
Nhà xuất bản Hồng Đức
Phần 1: Thay lời tựa..., "Chăm bón sự nghiệp tu tập", 1. Một số khái niệm trong Phật Pháp, 1.1. Xa ma tha (chỉ); Tỳ bà xá na (quán); 1.2. Ngũ triền cái; 1.3. Khái niệm " Diệu đế; Thánh đế; Diệu trí; 1.4. Khái niệm "ý căn'; 1.5. Khái niệm "bố thí''; 1.6. Khái niệm "kiết sử"; 1.7. Khái niệm "bốn tướng" và 'tập khí"
Từ trang: 5 - 23
Giọng đọc: Lý Bạch Huệ Minh
Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons
Video Sách Nói Anh Lạc Luận - Tập 2

Ba Mươi Bảy Phẩm – Thất Giác Chi – Định Giác Chi
Định giác chi là định trong giác ngộ hay khác hơn là do giác ngộ lẽ thật mà tâm không loạn động, có nghĩa nhân nơi thấu suốt bản chất sự việc hay một pháp nên tâm không chạy theo pháp hoặc bị loạn động bởi cảnh duyên.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Có lẽ trong thất giác chi không có một từ ngữ nào bị hiểu lầm và hàm oan nhiều như chữ ĐỊNH.
Đây là đối tượng bị chụp mũ và gán ghép nhiều ý nghĩa bất lợi rồi trở thành tội đồ cho cái gọi là công phu, mà ngày đêm bốn thời người tu hành miệt mài tìm kiếm hình thức đặt để nào đó cho tâm.
Với định kiến rằng định tâm phải như thế này hay định tâm phải như thế kia, xin thưa! Thế này hay thế kia là sự chấp nhứt thế này hay thế kia, chứ không phải định giác chi, vì định của Phật giáo không như một cái gì hết, như cái gì thì là cái đó, càng không phải định giác chi.
Hoặc đem tâm dõi theo một sở pháp cho đó là định, khác nào đặt bó cỏ để trước mặt con lừa buộc con lừa đi theo hướng ông chủ đã định. Thành ra nói định mà trong sâu thẳm lại có hình bóng của vọng tưởng, như con lừa kia vọng nơi bó cỏ tưởng là bình yên.
Định trong đạo giải thoát lại hiểu như một sự cột trói hoặc chạy theo thì chắc là không có nỗi oan nào bằng. Định của đạo giác ngộ lại được mô tả như là sự vây hãm đóng đinh trí tuệ thì ‘định’ này làm sao sinh được ‘tuệ’, mà nói rằng ‘nhân giới sinh định’, ‘nhân định sinh tuệ’.
Do đó trước khi đi sâu vào chi phần được gọi với cái tên đầy ấn tượng là định giác chi. Cũng nên cần minh oan chữ định, trả lại nó ý nghĩa đích thực của một thuật ngữ tiêu biểu cho tinh hoa Phật pháp. Một thuật ngữ chủ đạo mang tính khái quát cao khi nghe đến liền biết đây là biểu tượng cao đẹp của Phật giáo. Và cũng trả lại cho định ý nghĩa trong sáng từ bản chất an bình tuyệt đối trong bản thể sâu thẳm của tâm mà người xưa gọi là định giải thoát, định giác ngộ, hay định giác chi.
Trong thế pháp có thể hiểu định bằng ý nghĩa này hay ý nghĩa khác, nhưng trong đạo xuất thế nếu hiểu sai ý nghĩa của định thì mọi nỗ lực tu hành coi như tiêu tan và sẽ không có thành tựu đúng như mong muốn.
Bởi lẽ mọi người tu hành đều coi định như mục tiêu cần nhắm đến hay là mục đích cần phải đạt được. Do đó chữ định vừa là mục tiêu vừa là định hướng cho những khái niệm tu tập sau này, hòng tìm giải pháp tối ưu để thành tựu nó.
Không một ai trong giới tu hành không biết rằng nếu đạt được định tâm thì mọi vấn đề coi như giải quyết. Nhưng định như thế nào được gọi là hoàn thành sứ mệnh tu hành thì thường ít có ai nghĩ đến hoặc có nghĩ cũng khó tìm ra ý nghĩa đích thực của định.
Khi nói đến định người tu hành cứ y như tên gọi để hiểu nên dễ đưa đến sự ngộ nhận trong thuật ngữ này, và thường khuyến khích nhau hiểu định như một thứ tập trung tư tưởng, hoặc cột chặt tâm vào một sở pháp để tâm bị nhiếp vào một cái gì đó. Lại có một số người hiểu định có ý nghĩa đối lập của động và tìm mọi cách làm cho tâm không động là được.
Hiểu định như những cách vừa nêu là cách hiểu của thế gian hoặc chủ trương của một số học phái nào đó. Hiểu biết này không liên quan gì đến định giác chi, cũng không liên quan đến tất cả những chữ định mà Phật pháp nêu lên.
Định giác chi là định trong giác ngộ hay khác hơn là do giác ngộ lẽ thật mà tâm không loạn động, có nghĩa nhân nơi thấu suốt bản chất sự việc hay một pháp nên tâm không chạy theo pháp hoặc bị loạn động bởi cảnh duyên.
Ví như biết rõ cục vàng trước mặt đích thực là trái phá có thể giết chết người thì một cách rất tự nhiên là sẽ lánh xa trái phá hoặc không bị cuốn hút chạy theo tướng vàng của nó.
Hoặc một người hiểu biết thấu đáo luật giao thông, khi tham gia giao thông không vi phạm luật sẽ không bị phiền bởi những người làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự giao thông.
Hay chén thuốc cực độc có hương vị quyến rũ cho dù khát nước cách mấy nếu biết đó là chén thuốc độc thì chẳng ai uống bao giờ.
Có những trường hợp sau khi giác ngộ trong lòng không tham sân, rỗng rang nên tâm rời xa cớ sự thường tình gọi là định. Ví như ngày trước thấy bóng dáng kẻ thù thì hoặc chạy trốn hoặc tìm kiếm để trả thù, khi tâm thù hận đã hết cho dù kẻ thù xuất hiện trước mặt cũng không làm tâm dao động vì thù hận, không lo âu cũng không chạy theo kẻ thù ấy để tạo nghiệp.
Chữ định trong Phật pháp dù lý giải ở góc độ nào cũng nằm trong nguyên lý: Mọi trạng thái thanh tịnh của tâm hoặc định tâm đều là thuộc tính của giác ngộ, nhân giác ngộ mà có được.
Những ví dụ trên phần nào minh họa chữ định trong định giác chi, có thể kết luận định giác chi là kết quả nhất định của sự thấu suốt, hay do giác ngộ mà tâm không dao động gọi là định.
Chữ định là cách nói vắn tắt của thiền định, tức nhân nơi thiền mà tâm được an ổn gọi là định. Thiền là tĩnh lự, tức tĩnh tâm suy nghĩ đến việc cần suy nghĩ không suy nghĩ mông lung.
Thiền khác với suy nghĩ bình thường ở chỗ có tĩnh tâm và chỉ suy gẫm một việc đến tận nguồn cơn, khi nguồn cơn thấu đáo thì tâm an định, hay nói khác hơn đây là sự an ổn khi thấu suốt sự việc.
Nếu tất cả mọi việc (bốn niệm xứ) đều thấu đáo thì tâm vĩnh viễn an ổn. Pháp giới mênh mông nhưng Niết Bàn an ổn chỉ cất dấu ở bốn nơi thân thọ tâm pháp, nếu ra công tìm kiếm ở bốn nơi đó thì mọi việc đều xong.
Do đó trước khi đưa đệ tử vào đời sống tu hành Phật giảng giải vấn đề rất khúc chiết. Đoạn kinh sau mô tả cách giảng giải của Phật cho người tu thiền để được định:
“Lại nữa, này các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi?
Này các Tỳ Kheo, ở đây Tỳ Kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có niệm giác chi," hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có ý niệm giác chi." Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy. Hay nội tâm có trạch pháp giác chi... (như trên)... hay nội tâm có tinh tấn giác chi... (như trên)... hay nội tâm có hỷ giác chi... (như trên)... hay nội tâm có khinh an giác chi... (như trên)... hay nội tâm có định giác chi... (như trên)... hay nội tâm có xả giác chi [[1]], tuệ tri: "Nội tâm tôi có xả giác chi," hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có xả giác chi." Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp, hay sống quán pháp trên các ngoại pháp, hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp.
Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp." Có những pháp ở đây, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác Chi.”[[2]]
Toàn văn đoạn kinh Phật giảng giải rất tỉ mỉ một pháp và cách quán sát, khi quán sát đến tường tận nguyên nhân sanh khởi và nguyên nhân diệt tận, vị ấy hướng tâm đến chánh trí, chánh niệm (thiền), và tâm không dao động (định): “Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời,” nghĩa là do thấu suốt nguyên nhân sinh khởi, nguyên nhân diệt tận một pháp (thiền), vị ấy tâm an định, không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời (định).
Không nương tựa, không chấp trước việc gì trên đời Phật giáo gọi đó là thiền định, định giác chi là ý nghĩa này. Ở đây thấu suốt nguyên nhân sinh khởi và nguyên nhân diệt tận một pháp cực kỳ quan trọng.
Thấu suốt này là cơ sở để tâm hoàn toàn không bị nhiếp bởi pháp dù đó là năng hay sở.
Nội pháp là năng, ngoại pháp là sở. Tâm nhiếp nội pháp sanh ngã, tâm nhiếp ngoại pháp sẽ sanh phiền muộn gọi là trần lao. Ngã và trần lao là hai chủ thể của sinh tử và phiền não.
Thiền định là cách tư duy quán sát nguyên nhân sanh khởi, nguyên nhân diệt tận của hai pháp này để tâm không nhiếp cũng không bị hai pháp này nhiếp gọi là định.
Đến đây có thể hình dung được tâm định là tâm như thế nào và định này do đâu sanh. Hiểu biết tường tận để định hướng cho con đường tu tập sẽ ít nhọc sức tốn công mà kết quả thành tựu như ý.
Đoạn kinh sau là tiêu biểu của sự tu tập đúng hướng và thành tựu thanh tịnh tự thân gọi là định:
“Lại nữa, này các Tỳ Kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Đế. Này các Tỳ Kheo, thế nào là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Đế? Này các Tỳ Kheo, ở đây, Tỳ Kheo như thật tuệ tri: "Đây là Khổ," như thật tuệ tri: "Đây là Khổ tập," như thật tuệ tri: "Đây là Khổ diệt," như thật tuệ tri: "Đây là con đường đưa đến Khổ diệt." Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp, hay sống quán pháp trên các ngoại pháp, hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp, hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp." Có những pháp ở đây, vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỳ Kheo, như vậy là Tỳ Kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh Đế.
Này các Tỳ Kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm Xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất Hoàn.
Này các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn . Đó là Bốn Niệm Xứ .”[[3]]
Trong ‘định giác chi’ có sự khác biệt rất xa của ba thừa.
− Nhị Thừa giác ngộ yểm ly niệm xứ nên tâm không lay động.
− Bồ Tát Quyền Thừa nghe giản trạch một pháp đến nguồn cơn nên tâm thanh tịnh.
− Nhất Thừa nhân nơi thánh ngôn lượng thấy được tâm và pháp đồng là đạo nên an ổn phát sinh.
Cả ba trạng thái này đều gọi chung là định.
Sở dĩ ba thứ định phát sinh là vì động cơ giác ngộ sai khác, thường gọi là tùy theo căn cơ.
Có thể ví dụ, trong tối người ta lầm tưởng sợi dây thành con rắn, Thanh Văn tìm nơi an ổn lánh xa con rắn và phòng hộ vững chắc nên tâm không có sự lay động nào về con rắn (đầy đủ giới-định-huệ);
Bồ Tát quyền thừa được dạy các biện pháp vô hiệu hóa nọc độc nên không coi con rắn là mối đe doạ nên tâm được thanh tịnh trước con rắn (huệ-định-giới);
Bồ Tát nhất thừa biết con rắn chỉ là sợi dây có thể dụng tâm dùng sợi dây làm lợi ích nên toàn tâm và pháp là đạo (định tuệ Ba La Mật).
Hiểu biết sai khác về con rắn là giác, an ổn thân tâm gọi là ngộ, cho nên Phật giáo còn gọi là đạo giác ngộ.
Nếu không giác ngộ thì mọi thứ định nếu có được đều đồng ngoại đạo, tức định này không đưa đến giải thoát. Do đó hiểu biết thế nào là định đúng ý nghĩa Phật pháp là quan trọng và rất cần thiết.
Hiểu biết sai hoặc lệch hướng sẽ không thể có thành tựu nào trong con đường tu hành. Giống như người đào vàng mà không hề biết tướng trạng của vàng nhất định sẽ đem về sỏi đá.
Thực tế hãy tự kiểm tra xem ta đang có được vàng hay đá? Sự nhầm tưởng tác hại này chỉ là hệ quả của không thấu đáo, việc đời đã vậy việc đạo không khác.
Bỏ một đời dấn thân tu hành không phải làm cho vui cho lấy có, nếu vì không biết mà nhầm lẫn thì không lỗi lầm gì chỉ cần bỏ hiểu biết sai ấy đi là xong, không nên cố chấp.
Phật đạo không dành cho những cá nhân tâm tình cố chấp, xả chấp nhất đi thì đã là định rồi đấy!
[[1]] (trình tự bảy giác chi của nhị thừa)
[[2]] Trích kinh Niệm Xứ -HT. Thích Minh Châu dịch.
[[3]] Trích kinh Niệm Xứ - HT. Thích Minh Châu dịch.
(còn nữa)
Trực Chỉ Nhân Tâm (直指人心)

- Hỏi
“Cho mình hỏi, trong kinh Phật nói tâm chúng sanh thanh tịnh, chưa từng bị nhiễm ô, do tham sân si vọng tưởng, chấp ngã, phân biệt phải chịu luân hồi sáu nẻo.
1) Làm sao quay về với bản tâm thanh tịnh niết bàn diệu tâm?
2) Chúng sanh sống chung với bản tâm thanh tịnh hằng ngày, sống chung với nó mà không hay biết mà sống với cái tâm vọng tưởng, làm sao để nhận biết cái bổn tâm thường trụ thanh tịnh và ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày?”
(11/09/2020 17:41:01; Nguyễn Hoàng Nghiêm)
3) “Đức Phật thuyết pháp 49 năm nhằm chỉ cái tâm thanh tịnh ấy, ngài dạy muôn ngàn pháp môn nhằm cũng vì cái tâm ấy, bỏ vọng theo chơn, như thế nào là tu trực chỉ chơn tâm, khi chúng ta xưa nay sống với cái tâm vọng tưởng, còn cái tâm thanh tịnh thì chúng ta lại không biết bản lai diện mục của nó ra làm sao, như thế nào thử hỏi làm sao tu, bỏ cái tâm vọng đó đi sống lại với nó, làm sao tu trực chỉ chân tâm được?”
(11/09/2020 17:51:46; Nguyễn Hoàng Nghiêm)
- Đáp
53.1 (1) Làm sao quay về với bản tâm thanh tịnh niết bàn diệu tâm? ... (2) ... và ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày?
Theo mình thì, hai câu hỏi của bạn gần như có cùng nội dung!!! ... Giải quyết được thắc mắc này, sẽ giải quyết được thắc mắc kia!!!
Để có thể tìm lại “bổn tâm thanh tịnh”, người tu hành không phải cất công tìm kiếm bổn tâm thanh tịnh là gì, hoặc suy xét làm thế nào để chung sống với cái bổn tâm thanh tịnh ấy!!!
Vì rằng, người ta không thể đi tìm, hay chung sống với một thứ mà ta không từng thấy, không từng biết về nó!!! Ha ha ha ha!!! Giống như một chàng trai, không thể đi cưới một cô vợ với mong ước được chung sống trọn đời... Trong khi chàng trai không hề biết hình dáng, mặt mũi, nơi cư trú đích thực, v.v... của cô gái!!! Nếu có biết chăng, chỉ một vài thông tin mơ hồ rằng, cô ấy có tên như thế này, với một vài tánh nết đặt trưng của người phụ nữ mẫu mực như kia, v.v...!!! Rồi vọng tưởng vẽ ra một chơn tâm trong đầu!!!
Xưa nay, cũng chính thói quen “mua trâu vẽ bóng, cưới vợ hoạ hình” của nhiều người... Thành ra, cái cô vợ có tên “Bổn Tâm Thanh Tịnh” gì gì đó, hầu như trở thành chuyện trong mơ!!! Hoặc chém gió cho thiên hạ ớn chơi!!! Chứ thực chất, chẳng một ai thật sự tìm được cô vợ vô hình ấy qua cái tinh thần kì khôi “trực chỉ chơn tâm” hoàn toàn phản giáo dục, phi truyền thống này!!!
Vì thế, Phật đạo không chủ trương “chung sống với bổn tâm” hoặc “quay về với bổn tâm” trong khi “hành giả hãy còn mê”!!! Giống như người ta không thể uống được thứ nước trong, trong khi tất cả các nguồn nước chung quanh người ấy đang bị vẩn đục và nhiễm ô!!!
Để giải quyết vấn đề này, Phật đạo có hẳn một quy trình giáo dục giúp người tu hành “gạn đục khơi trong”, gọi là “đoạn mê khai giác” ... Trước khi “đoạn mê khai giác”, người ấy phải trải qua quá trình dọn sạch cỏ dại tà kiến bằng pháp môn “tồi tà hiển chánh” như người ta dọn đất trước khi gieo giống, chứ chẳng phải khơi khơi mà có thể đoạn mê!!! ... Hết đục đến trong, hết mê đến giác, người tu hành mới có thể “ngộ” ra cái gì là “bổn tâm thanh tịnh”!!! Quy trình này giống như người ta đem nước đục về, bỏ một ít phèn chua vào và để yên... Sau khi tạp chất lắng xuống đáy, người này dùng thứ nước sạch đó đun sôi rồi mới sử dụng!!!
Quy trình để thấy bổn tâm thanh tịnh của Phật đạo, gồm có Tứ Đế hay Tứ Diệu Đế cũng giống như quy trình làm trong nước!!! Đó là, trước nhất làm cho hết khổ của Khổ Đế, giống như đem nước đục về nhà và bỏ phèn chua vào!!! ... Kế đến, làm cho hết phiền não, kiết sử, lậu hoặc của Tập Đế, giống như đậy kín và để yên nước ở một nơi an toàn!!! ... Sau cùng, đun sôi nước sạch đã được lắng trong rồi mới sử dụng, là cách người tu hành ngộ được bổn tâm thanh tịnh chứng Diệt Đế!!!
Quy trình xử lí nói trên lâu hay mau, tuỳ thuộc vào nguồn nước, chất lượng phèn (tà giác, phèn giả, phèn kém chất lượng chỉ làm cho nước thêm bẩn), vị trí đặt lu nước, cách xử lí, v.v... Nếu quy trình trên được thực hiện tốt, đúng kĩ thuật nhất định trong một thời gian ngắn là có nước sạch để sử dụng!!!
53.2. “Làm sao tu chực (trực) chỉ chân tâm được”???
Chân tâm, chơn tâm, bổn tâm, bổn lai thanh tịnh, bản lai diện mục, niết bàn, v.v... Tuy tên gọi khác nhau, nhưng cùng để chỉ chung cho “bản lai thanh tịnh” ... Bản lai thanh tịnh là bản nguyên vốn tự sẵn đủ của một hữu tình!!! Tuy nhiên, do mê muội, nên tà kiến, khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc từ vọng tâm (tâm người, nhân tâm) che khuất... Do đó hữu tình không tự thấy được bổn tâm thanh tịnh!!! Giống như mặt trời bị mây che, mặt trời tuy có đó nhưng ta lại không nhìn thấy!!!
Tìm lại “bổn tâm” là mục tiêu, là yêu cầu đầu tiên của Phật đạo!!! Tuy nhiên để có thể tìm lại bổn tâm, người tu hành phải phá bỏ “các lớp mê” từ phàm tâm (nhân tâm)!!! Khi các lớp mê từ nhân tâm bị phá bỏ, chơn tâm (thánh tâm) sẽ tự hiện!!!
Xuất phát từ nguyên lí nói trên, người xưa, cụ thể là Tổ Đạt Ma đã tuyên thuyết bài kệ, bài kệ này được coi như phương châm hành động của người tu hành!!! Bài kệ đó là: “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật!!! (教外別傳. 不立文字. 直指人心. 見性成 佛)!!!” ... “Trực chỉ nhân tâm” là phương thức nhắm thẳng phàm tâm để đánh phá!!! Phương thức này ta có thể tìm thấy trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Phá ngũ ấm), Kinh Kim Cang (Ưng vô sở trụ), Kinh Lăng Già (hết thảy tự tâm hiện), Kinh Hoa Nghiêm (dừng trụ phân biệt), v.v...!!! Sau khi đánh phá nhân tâm, dẹp yên được “loạn thần hư vọng”, tịch diệt hết “tặc tử mê muội” ... Người này sẽ “minh tâm kiến tánh”!!! Đây cũng là phương cách nhắm thẳng Tâm Niệm Xứ để tu hành của Bồ Tát!!! ... Cho nên, câu hỏi của bạn: “Làm sao tu chực chỉ chân tâm được”??? Nên coi lại!!!
Tóm lại: Phật đạo là một nền giáo dục, nền giáo dục của Phật đạo có một quy trình dạy và học hẳn hoi!!! ... Vì thế, muốn thành tựu các mục tiêu do Phật đạo đề ra, người học phải học, học và học!!! Song song với việc học, người tu hành cần tư duy thấu đáo, rồi ứng dụng những điều đã học vào đời sống gọi là “văn, tư, tu”!!! Lâu hay mau (đốn hay tiệm) là do cơ trí của mỗi người!!!
Về câu hỏi của bạn có đại ý: “Làm thế nào để trở thành HĐ Lý Gia”??? Bạn có thể xem bài viết có chủ đề LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRỞ THÀNH HUYNH ĐỆ LÝ GIA từ CHUYÊN MỤC CHUYỆN BÊN LỀ (76) đăng ngày 03/08/2020 trên Page Lý Tứ!!!
Chúc các bạn... an vui, tinh tấn, thành công!!!
(13/09/2020)
Chuyện Tro Cốt

- Hỏi
Các bạn!!! ... BQT nhận được tâm sự của Tấn Trí ở TP Hồ Chí Minh!!! Tấn Trí viết như sau:
“Thưa thầy Lý Tứ!
Lại là con, chắc thầy không phiền lòng khi thấy con lải nhải trong trang của thầy. Con tin với một người có tấm lòng bao dung, trí tuệ và tự tin như thầy, sẽ sẵn sàng đọc và trả lời tất cả thắc mắc của bạn đọc như con gởi cho thầy, mà không bỏ qua hay đọc lấy lệ rồi vứt vào xọt rác để tránh phiền phức.
Từ ngày biết đến trang của thầy, con đâm ra nghiện cách viết, cách lập luận, cách lí giải những vấn đề Phật pháp của thầy. Hầu như mỗi ngày cứ rỗi rảnh con lại vào trang của thầy để xem có bài viết mới hay không, điều mà trước đây con chưa từng làm bao giờ đối với một trang mạng, hay khác hơn trước đây con rất chán nản mỗi khi vào mạng xã hội.
Nhờ trang của thầy hôm nay con có niềm tin facebook không phải chỉ là nơi để người ta múa võ miệng, cào bàn phím, vẽ hoa lá hay cắc cắc thùng thùng giống múa lân cho con nít ham vui chạy theo mà trong đó không một chút thực chất. Càng đọc các bài viết của thầy, con nhận ra cách viết cách trả lời không giống ai nhưng lại đào xới từng mảng đến nơi đến chốn làm cho người đọc nhận ra điều mình kẹt mắc, như người ta phá bỏ từng tảng băng để lặn sâu xuống đáy biển.
Con nghiện sự thông suốt của thầy, có đêm con ao ước mình được như thầy. Giờ đây con hoàn toàn tin thầy, lập trang là để nêu chánh lí chứ chẳng phải để vẽ hoa lá cành trên cái mạng xã hội đầy nhũng nhiễu mà anh nào cũng làm thầy thiên hạ nhưng khi viết hay nói ra thì lộn lạo như cái lẩu Thái chua chua ngọt ngọt, chua chẳng ra chua ngọt chẳng ra ngọt.
Gần đây không biết thầy có đọc tin tức hay không? Con thấy người ta bàn tán về chuyện hủ cốt tại chùa Kỳ Quang 2 rồi phản ứng cũng như đàm luận rất nhiều, theo thầy việc đó thế nào? Con không biết tro cốt của người chết bỏ lung tung, không được thờ cúng có ảnh hưởng đến linh hồn của họ? Mong thầy giải thích cho con”!
(07/09/2020 23:07:20; Tấn Trí)
- Đáp
52.1. Quan điểm về tro cốt bỏ lung tung trong Chùa...?
Tấn Trí thân mến!!! ... Thỉnh thoảng mình có đọc tin tức và cũng có thấy người ta bàn tán nhiều về chuyện tro cốt tại chùa Kỳ Quang 2!!!
Thật ra, mình đọc những câu chuyện như vậy theo thói quen, đọc để mà đọc!!! Nghe lỗ tai bên này, chui tọt qua lỗ tai bên kia, thành ra mình không để ý nhiều, cũng không đánh giá việc ấy là thế nào...!!! Bởi lẽ, thế gian muôn ngàn chuyện, chuyện tro cốt cũng chỉ một câu chuyện của thế gian trong muôn ngàn câu chuyện thế gian!!!
Lẽ thứ hai, những thông tin mình đọc được cũng chỉ là thông tin, mà đã là thông tin thì khó có thể phản ảnh toàn bộ câu chuyện!!! Với mình, những gì bản thân không trực tiếp thấy nghe, chỉ nghe do người khác kể lại thì mình không kết luận!!! Vì thế, những câu chuyện như chuyện chùa Kỳ Quang 2, thông thường mình chỉ đọc để biết chứ không tham gia bàn luận!!!
52.2. Tro cốt... bỏ lung tung, không... thờ cúng có ảnh hưởng đến linh hồn...?
Về điều bạn hỏi: “Con không biết tro cốt của người chết bỏ lung tung, không được thờ cúng có ảnh hưởng đến linh hồn của họ? Mong thầy giải thích cho con”
Việc này theo mình: Con người ta có hai phần, một phần là sắc thân, một phần là tâm thức!!! Sắc thân giống như vỏ của trái đậu phộng (lạc, đậu phụng), tâm thức giống như hạt đậu phộng!!!
Hạt và vỏ cùng nhau lớn lên!!! Trong quá trình canh tác, nếu canh tác tốt, canh tác đúng kĩ thuật, v.v... đến khi cây đậu già, sẽ cho ra một trái đậu chắc!!! Nếu ngược lại, sẽ là trái đậu lép!!!
Sau khi thu hoạch, người ta tách hạt đậu ra khỏi vỏ!!! Nếu đã là hạt đậu chắc, cho dù người ta đối xử với vỏ đậu như thế nào đi chăng nữa, nhất định không hề ảnh hưởng đến việc nãy mầm của hạt đậu sau này!!! Ngược lại, nếu là một trái đậu lép, cho dù có trân trọng cái vỏ đậu, cũng không vì thế mà hạt đậu hết lép, hay nãy mầm như hạt đậu chắc!!!
Quá trình canh tác cây đậu cũng giống như quá trình học tập, rèn luyện của thân và tâm con người!!! Đã là quá trình, thì nó phải được nuôi dưỡng, chăm bón từ lúc nhỏ cho đến già mới có kết quả tốt!!! Từ ví dụ trên, hy vọng Tấn Trí hiểu ra mối liên hệ giữa thân và tâm sau khi tâm không còn cộng trú với thân!!!
Tuy nhiên, về phương diện luân lí, đạo đức, phong tục, tập quán, văn hoá, v.v... thì, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo, mỗi nền văn hoá đều có cách nhìn nhận, sự kính trọng riêng đối với xác thân người quá cố...!!! (chẳng hạn như có nơi thì cho chim ăn, có nơi thì đốt rải sông rải biển, có nơi thì treo trong hang, có nơi thì bỏ trong hầm, v.v...) ... Theo mình, mỗi một cách nhìn, mỗi sự kính trọng đều có giá trị nhất định về phương diện giáo dục cũng như đạo đức của nó!!! Do đó, những phản ứng gần đây về việc tro cốt tại chùa Kỳ Quang 2 của nhiều người cũng là chuyện tự nhiên!!!
Chúc các bạn... an vui, tinh tấn, thành công!!!
(08/09/2020)
Kỷ Niệm Một Mùa Phật Đản

Phật Đản năm 1973 có lẽ là mùa Phật Đản khó quên, đánh dấu bước ngoặt về việc tiếp cận Phật pháp... Cũng từ ngày ấy, mình nhận ra Phật pháp có cả một kho tàng triết lí mang tính ứng dụng cao!!!
Năm đó, mình quen một người bạn lớn hơn mình chừng mười tuổi... Đúng ra anh ta chỉ là thư kí và mình có chức vụ cao hơn!!! Sau thời gian tìm hiểu người thư kí “văn hay chữ tốt” và “có vẻ thông thái”... Mình mới biết được anh ta có một lí lịch không vừa!!! Tuy ở đơn vị, anh ta chỉ là một thư kí... Nhưng ở ngoài đời từng là Hiệu Trưởng một trường Trung Học Tư Thục, là thành viên của Mặt Trận Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc, vừa là Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử một Tỉnh, từng là Đại Uý (chế độ cũ) và bỏ ngũ sau chiến dịch Lam Sơn 719 ở Hạ Lào... Nói chung, anh ta xuất thân trong một gia đình bề thế, bản thân có uy tín ở địa phương... Vì chán ngán chiến tranh, anh ta phải “luồn lách” để có được một chân thư kí văn phòng!!!
Mình và anh ta rất thân nhau, cuối tuần thường về nhà anh ta ở một huyện nhỏ... Ở đó có vườn cây ăn trái, có căn nhà gỗ cổ kính, trong nhà gồm toàn những người học thức cao, lịch thiệp và anh ta có mấy người cháu trạc tuổi của mình!!!
Mình được anh bạn lớn tuổi mời tham dự buổi cắm trại của Gia Đình Phật Tử một tỉnh miền Trung nhân ngày Phật Đản (1973)!!! Sau lửa trại, một số Huynh Trưởng, các vị Đại Đức ngồi lại với nhau đàm đạo!!! Vì là khách mời, nên mình cũng được tham gia vào buổi trà đạo ấy!!!
Khi nghe mọi người đàm đạo, họ nói về kinh điển, họ nói về thiền, họ nói về phương hướng đấu tranh của mặt trận... Thú thật, khi nghe những thứ ấy bản thân mình như “vịt nghe sấm”, chẳng hiểu mô tê gì hết, nhưng cũng gục gặc cái đầu, ra vẻ đăm chiêu như người hiểu chuyện!!!
− Sáng hôm sau ở đơn vị, người bạn ấy hỏi mình: Hồi tối nghe mọi người nói chuyện, ông có hiểu gì không??? Ông chức vụ cao hơn tôi mà dốt quá, tôi thật mắc cỡ!!!
⁕ Tự ái của một thanh niên nổi lên, mình trả lời: Anh Q à!!! Những điều các anh bàn hồi tối, tôi chưa từng nghe qua!!! Nhưng xin hẹn anh, sáu tháng sau mình sẽ nói chuyện!!!
Thế là từ hôm ấy, mỗi ngày người bạn lớn tuổi thay mình giải quyết công việc, chiều về mình đến đơn vị kiểm tra, xem công văn do anh ta soạn thảo, kí tắt và giao cho anh ta trình lên cấp trên kí chính thức!!! Sáu tháng trời, mình chỉ biết đến tủ sách (gần như một thư viện nhỏ) của Tỉnh Giáo Hội ở đó miệt mài đọc kinh sách... Có đêm mình đọc đến khi các vị Sư đuổi ra ngoài vì đã khuya mới lững thững đi về nhà trọ với cái đầu đầy ắp triết lí!!!
Những ngày đầu, các vị Sư đưa cho mình các cuốn sách theo yêu cầu... Nhưng, ngày nào cũng đọc từ sáng đến chiều, đọc lâu thành quen, các vị Sư cho mình được phép muốn đọc cuốn nào thì tự tìm trong tủ mà đọc!!! Và, mình đã đọc hết kinh sách của thư viện trong vòng sáu tháng như đã hứa!!! Cũng xin nói thêm, hồi nhỏ sức đọc của mình cực lẹ... Chỉ một đêm, mình có thể đọc hết bộ kiếm hiệp Tiếu Ngạo Giang Hồ hay Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung và nhớ vanh vách từng chi tiết!!!
Ở thư viện, mình đọc miệt mài, mình đọc căm cụi, chỉ biết đọc và đọc, không nói chuyện với những người chung quanh!!! Các vị Sư trong chùa có lẽ rất ngạc nhiên trước thái độ và tính cách cần cù đọc sách của mình... Thi thoảng có một vài vị đến làm quen, tìm hiểu, nhưng mình chỉ mỉm cười!!!
Tết năm ấy!!! Cũng một buổi trà đạo... Cũng những vị Huynh Trưởng... Cũng những vị Sư ấy... Mình đã khiến mọi người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về sức rộng giáo pháp!!! Hầu như những gì các vị ấy biết, mình biết, thậm chí còn biết rõ hơn (vì mới vừa đọc xong)!!!
Mình nhớ như in, trong lúc đang thao thao bất tuyệt về Kinh Viên Giác và Thiền Đốn Ngộ, một vị Đại Đức đứng lên chắp tay vái mình với vẻ mặt đầy kinh ngạc... Tất nhiên lúc đó mình chỉ biết kiến giải theo sách vở... Bây giờ, mỗi khi nhớ lại cảnh đó thiệt là buồn cười... Với mớ kiến thức vụn vặt, chắp vá lung tung, không có chiều sâu, không biết thật nghĩa và cũng không có giá trị ứng dụng... Nhưng khi trình bày, mọi người cũng lắng nghe một cách cung kính!!! Thế mới biết, cái thâm u của Phật đạo không dễ mấy người lãnh hội!!!
Để trả ơn cho người bạn lớn tuổi đã khơi dậy sức học tập, giúp mình có dịp nhận ra “cái dốt nát” của bản thân về giáo pháp!!! Năm 1975 tự tay mình làm hồ sơ để người bạn lớn tuổi về Sài Gòn học một khoá chuyên môn Hành Chánh Quản Trị (nhằm trụ vững trong ngành)!!! Khi vị ấy đi được một tháng, đơn vị giải tán... Từ đó đến nay, đã 45 năm trôi qua, mình và vị ấy không còn gặp lại nhau!!!
Có lẽ, nhờ những kiến thức trong sáu tháng đọc sách, mình hiểu được một số điều cơ bản về giáo pháp... Nhờ những hiểu biết đã có từ trước, công việc nghiên cứu, tu tập của mình sau này gặp nhiều thuận lợi!!!
Và cũng chính nhờ lần bị chê là dốt nát trong mùa Phật Đản năm đó, mình hiểu ra giá trị của học tập!!! Từ đó đến nay, mình không ngừng học tập!!! Nói khác hơn, mình thuộc loại người “ghiền học tập”!!!
Khi viết những dòng tâm sự này, không biết người bạn lớn tuổi sau những biến cố của cuộc tồn sinh có còn sống??? Có đọc được bài viết và có còn nhớ đêm lửa trại “đầy kỉ niệm” ấy chăng!!!???
⁕ Anh Q ơi!!! Cảm ơn nhân duyên thân quen với anh!!! Cảm ơn cầu nối vô hình và câu nói khích tướng nhưng đầy tính giáo dục của anh... Đã giúp tôi đến với giáo pháp và trở thành “tên ghiền học tập” ở tuổi mười chín!!!
(06/05/2020)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/phat-dao-va-con-duong-tien-hoa-nhu-phap
Trân trọng,