Tác Phẩm Lý Tứ

Ba La Mật Tâm

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Ba La Mật Tâm là một nguồn tâm hoàn toàn Đáo Bỉ Ngạn, một thứ tâm không phiền, không não, không bị cột buộc, đã được giải thoát.

Các bạn!!!

Thời gian qua, mình không nhớ là bao lâu, chúng ta đã bàn luận, mổ xẻ, góp ý, thực hành việc tu sáu Ba La Mật để thành tựu Ba La Mật Tâm.

Ba La Mật Tâm là một nguồn tâm hoàn toàn Đáo Bỉ Ngạn, một thứ tâm không phiền, không não, không bị cột buộc, đã được giải thoát.

Chính nhờ một nguồn tâm như vậy, khi thực hành bố thí, không thấy mình là kẻ ban bố, kia là người nhận ơn. Không vì danh mà bố thí, không vì lợi mà bố thí, không vì sợ hãi mà bố thí, không vì bắt chước mà bố thí, không vì ép buộc mà bố thí, không vì thân thuộc mà bố thí, không vì lấy lòng mà bố thí. Chỉ như pháp lành mà bố thí.

Chính nhờ một nguồn tâm như vậy, người tu hành trì giới, không thấy mình là kẻ có đủ giới đức đáng được kính trọng. Còn người kia là kẻ phá giới nên bị khinh chê.

Chính nhờ một nguồn tâm như vậy, khi kham nhẫn, không thấy mình là người thành tựu pháp lành kham nhẫn đáng được nêu gương. Còn kia là kẻ thiếu sự kham nhẫn đáng bị quở phạt.

Chính nhờ một nguồn tâm như vậy, trong lúc tinh tấn, không thấy sự tinh tấn này đáng được khen ngợi. Còn người kia nên chê trách vì thiếu tinh tấn.

Chính nhờ nguồn tâm như vậy, khi tu tập thiền định, không thấy thiền định này vượt thoát. Còn thiền định kia trói buộc.

Chính nhờ một nguồn tâm như vậy, khi thấu suốt được một ý nghĩa nào đó trong Phật Đạo, không khởi tâm suy lường, so đo cao thấp với người. Không thấy ta là kẻ có trí, còn người kia là hạng ngu si.

Nói chung, sáu Ba La Mật thành tựu sẽ giúp HĐ có một nguồn tâm thật sự rỗ̃ng rang, không còn hai pháp, chẳng khởi lên hai pháp. Một nguồn tâm hoàn toàn thảnh thơi, trong đó chủ thể và đối tượng không hiện khởi. Mọi thứ so đo, cao thấp, ghét thương, phải quấy hoàn toàn tịch diệt.

Ba La Mật Tâm là bước khởi đầu quan trọng của Bồ Tát Pháp, nó giống như chiếc áo giáp thần kỳ của người chiến binh khi xông pha mặt trận. Nó là loại “Thần Chú Bất Khả Xâm”, như câu: “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”.

Người chiến binh khi xung trận, nếu chỉ với bộ giáp bất khả xâm, cái được đối với chiến binh này là: “Thân và Tâm không bị xâm hại”, nhưng quân giặc vẫn còn đó. Có nghĩa, “quân giặc cũng bất khả xâm”. Vì thế, người chiến binh ngoài bộ giáp tốt để bảo vệ bản thân, còn phải được trang bị vũ khí sắc bén để xua đuổi quân địch, đó là Trí tuệ Ba La Mật tức vũ khí Ba La Mật.

Giáp Trụ Ba La Mật là Ba La Mật Tâm dùng để tự cứu, vũ khí Ba La Mật hay Ba La Mật Trí là công cụ để cứu người. Có TÂM mà thiếu TRÍ thì Ba La Mật chưa thể gọi viên mãn.

Bây giờ là lúc, HĐ chúng ta cần trang bị thêm cho mình vũ khí hiện đại. Vũ khí hiện đại này chính là “Trí Ba La Mật”.

Trí Ba La Mật có thành tựu, Bồ Tát mới có thể đẩy lùi trận giặc sanh tử cho tất cả chúng sanh, muốn có thứ vũ khí lợi hại này, mỗ̃i người phải tự rèn cho mình thứ vũ khí đó.

Để có thể rèn cho mình thứ vũ khí trí tuệ như ý, điều kiện tiên quyết là: Phải đủ kiến thức nhất định, thiện xảo trong sử dụng, tinh nhuệ khi lâm trận. Những điều này, trong tiến trình Đạo đế sẽ dạy tất cả. Đây là giai đoạn tu tập để “Tâm, Trí, Kiến” không còn là ba, giống như người tướng giỏi, nhìn đến đâu, quân giặc ở đó tan biến thành hư không. Pháp giới có trở thành hư không, Bồ Tát mới có thể biến hư không đó thành Phật quốc độ, chỉ có Phật quốc độ mới là nơi để mọi chúng sanh thành toàn cho mình đời sống tốt đẹp nhất.

(10-10-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Bát Nhã - Bát Nhã Ba La Mật

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Đừng trụ nơi nào hết để sinh tâm, khi các căn tiếp xúc trần cảnh (Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm). Không nên có chỗ̃ trụ mà sanh tâm (ưng vô sở trụ, nhi sinh kì tâm)

Các bạn!!!

Hôm nay, có HĐ mời đến nhà. Vừa đến Vườn Mai, trời mưa rất lớn, mưa trên hai tiếng đồng hồ. Trong lúc ngồi ở đây với một số HĐ để chờ hết mưa sau đó đi tiếp, mình có trao đổi với mọi người cùng ngồi chờ mưa ở đây câu chuyện xoay quanh đề tài:

Thế nào là Bát Nhã???

Thế nào là Bát Nhã Ba La Mật???

Hiểu biết những gì được gọi là Bát Nhã???

Hiểu biết những gì được gọi là Bát Nhã Ba La Mật???

Mình nghĩ, có lẽ đã đến lúc chúng ta nên, và rất nên đào sâu ý nghĩa của Bát Nhã và Bát Nhã Ba La Mật này.

Vì sao cần đào sâu hai đề tài Bát Nhã và Bát Nhã Ba La Mật???

Theo mình, trong giai đoạn này, HĐ có nhận rõ một số cấp độ trí tuệ trong Phật Đạo, mới có thể giúp HĐ tiến tu tốt hơn. Và vị lai, không bị nhầm lẫn giữa loại “trí tuệ này và và trí tuệ kia”.

Để "làm nóng" đề tài này. HĐ nào có kiến giải gì về sự khác biệt giữa Bát Nhã và Bát Nhã Ba La Mật. Xin chia sẻ đến mọi người để cùng lợi ích...

(05-10-2013)

Các bạn!!!

Hai điều mình vừa đề cập, thuộc loại “đề tài lớn”. Không phải chỉ dựa vào kiến thức và suy luận chủ quan mà có thể kết luận được. Muốn có một kết luận tạm coi là chính xác, đòi hỏi chúng ta phải nghiền ngẫm, nghiền ngẫm đến bao giờ trực nhận và thấy biết rõ ràng về sự khác biệt của Bát Nhã và Bát Nhã Ba la Mật. Lúc này đưa ra kết luận sẽ hợp lý.

Đề tài trên, là "bài toán trí tuệ" chứ không phải "bài toán cuộc đời". Muốn giải được bài toán trí tuệ, ngoài kiến thức cần thiết, còn một yếu tố quan trọng nữa, đó là "sự thâm đạt". Tức mức độ lãnh hội ở một ngưỡng nhất định nào đó của giáo pháp trong quá trình tiến tu.

*****

Các bạn!!!

Qua trao đổi, mình nhận thấy mọi người đều có chung một ngưỡng: Ba La Mật là tối thượng!!! Ha ha ha ha!!!

Theo mình thì, quan điểm của các HĐ chưa thấu đáo và không thuyết phục. Để thấu đáo vấn đề, mình xin nêu lên một vài gợi ý, giúp HĐ tư duy về hai ý nghĩa trên:

1) Cái gì làm nên: Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, các Ba La Mật cũng như các Pháp Lành???

2) Nếu, thành tựu Bát Nhã Ba La Mật, thì thành tựu cao nhất của nó là những gì???

3) Phật dạy: “Duy tuệ thị nghiệp” hay dạy “duy Ba La Mật thị nghiệp”???

4) Nếu một vị tu hành, thành tựu các Ba La Mật. Tức rốt ráo sang bờ kia thì, lợi ích như thế nào???

5) Cứu cánh của Phật Đạo là: Tu hành để được “sang bờ kia” hay “chẳng thấy bờ này bờ kia”. Có nghĩa rằng, ngũ uẩn giai không, hay ngũ uẩn chẳng phải có chẳng phải không???

6) Trong thẳm sâu, mục đích chúng ta phân tích hai điều trên để làm gì??? Chú ý!!! Đây là câu hỏi khó, thậm chí rất khó!!!

7) Ba La Mật để tự giải thoát, còn Ba Lô Mật để làm lợi ích muôn loài. Bạn chọn cái nào??? Ba La hay Ba Lô!!! Đây là câu hỏi vui, không bị trừ điểm nếu không làm.

(08-10-2013)

*****

Các bạn!!!

Mình hoan hỷ, khi nhận ra: “có sự chuyển biến nhận thức nào đó từ các bạn” sau khi gợi ý. Mình rất xúc động trước những “tư duy không mệt mỏi” của các bạn.

  • Mình xin tán thán công đức của tất cả HĐ!!!

Có thể nói!!! Nếu so sánh bài viết của các bạn trong mấy hôm nay và những bài viết trước kia. Nó khác nhau “một trời một vực”.

Trước đây, khi đọc bài viết của các bạn, mình cảm nhận nó mang nặng “giáo điều”. Trong đó chỉ toàn là lời lẽ của “những người nuốt hết kinh vào bụng”, nhưng “lại thiếu...cái...đầu”!!!

Bây giờ, khi đọc các bài viết mấy ngày qua, mình có cảm nhận “cái da bàn chân đã không còn nữa”!!! Có sự vượt thoát nào đó, đã đưa các bạn ra khỏi hàng rào cột trói của tính cách "Hàn Lâm Kinh Viện"... Một chút "hơi hám của Bát Nhã"... hình như... “thoang thoảng đâu đây”!!! Ha ha ha ha!!!

Chúc mọi người “không còn là mình nữa”. Mà đó là, “những cục Bát Nhã lăn tới lăn lui” trong cái được gọi là: Ba bốn năm sáu cõi... gì gì đó... Cho “thiên hạ ghê chơi”...!!! Chiêu thức của Lý mỗ̃, mọi người...ớn... chưa!!!???

(09-10-2013)

Kính Thầy!!!

Trước hết con xin thành tâm sám hối với Thầy, cùng tất cả HĐTM!!!

Không hiểu vì sao, mấy hôm nay con đọc email mà không thể đem vào đầu??? Không tư duy được và cũng không nhớ luôn nội dung, dù con đọc đi đọc lại mấy lần. Đây thật là hiện tượng rất lạ trong con!!!

Con không sao ngủ được, lại tiếp tục đọc, bỗ̃ng dưng con cười khi đọc những dòng hài hước của Thầy!!!!!! Ôi!!! Phật pháp không khô khan cứng ngắt như con đã nghĩ. Mà là đầy ắp sự thâm sâu, cái nghĩa tình, cái khôi hài...cái...cái... ế… ẩm của Thầy...!!!

Thầy ơi!!! Con cảm nhận rằng, Thầy đang nhắc nhở HĐTM chúng con phải “Thường” tinh tấn... tinh tấn không ngừng nghỉ...

Bây giờ 12 giờ khuya con xin gởi đến Thầy và HĐ vài dòng cảm nhận. Con sẽ củng cố lại cái đầu của con...Hu Hu...!!!

Thầy cho phép con cười cái “hà!!!”, khi đọc hai chữ “ế thật!!!” và con biết mình phải làm gì... làm gì!!!

Con kính chúc Thầy và HĐ an lành!!!

Con kính lễ Thầy.

Các bạn!!!

Hiện tượng “cái đầu trống rỗ̃ng” là tốt... Rất tốt...!!!

Đây là giai đoạn tự nhiên, quan trọng "phải có" và "cần có" trong quá trình tu hành.

Vì sao nó như vậy???

- Người không tu tập, sáu căn (Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) duyên nơi cảnh và các thứ tưởng (tưởng quá khứ, tưởng vị lai, mê hiện tại) không dứt. Cho nên thức (hiểu biết) khởi lên thường xuyên theo các duyên, vì thế suốt ngày “đầu óc họ bận rộn”... Và “chuyện bận rộn đầu óc”, cũng như luôn luôn sinh tâm đối với người đời “trở thành bình thường”, nó là “chuyện thường ngày ở huyện”.

Giống như một người, suốt ngày làm việc và sống trong “môi trường nhiễm ô”, môi trường này trở thành quen thuộc và họ cho đó là bình thường. Giống như những người dân ở Bắc Mĩ, sống gần thác Niagara. Họ nghe tiếng gầm thét của thác suốt ngày đêm, nghe riết thành nghiện, nghiện riết khó bỏ. Họ giả sử, lúc nào đó, thác Niagara ngưng hoạt động, im lặng... Có lẽ đời sống họ sẽ bị xáo trộn và mất đi ý vị... Hay những người sống gần đường sắt, suốt ngày nghe tiếng các đoàn tàu chạy qua, nghe riết thành quen. Và mọi thứ trở thành bình thường. Chỉ có các căn của họ đang bị nhiễm ô và bị huỷ diệt qua từng giờ mà họ không hay biết. Khi cái bình thường (theo họ) bị thay đổi, họ sẽ ngạc nhiên!!!

- Người có tu hành, sau một thời gian dài, ý thức được rằng: Không nên để sáu căn nhiễm ô sáu trần, họ “hộ trì các căn”, “ngăn chặn các nhớ nghĩ không cần thiết”, “dập tắt những tưởng nhớ vu vơ”... Quyết không cho ba duyên (căn, trần, thức) hoà hiệp, tạm gọi là sống trong thiền định. Đến lúc nào đó chín muồi, tự dưng thức không còn hoạt động. Thức không hoạt động, các pháp do nhiễm ô không sanh. Các pháp do nhiễm ô không sanh nên tâm không sanh. Khi thức mê không hiện khởi, tâm hư dối không sanh. Vị này sẽ ngạc nhiên trước sự đổi thay này... Giống như một người ở Bắc Mĩ sống gần thác Niagara đi đến một làng quê yên ắng, họ sẽ thấy trống vắng và đêm về không ngủ được, vì thiếu âm thanh quen thuộc!!!

- Do quá trình “thúc liễm thân tâm”, kết quả là: Thức đã tịch diệt phần lớn. Vì thế, “cái cũ tạm quên”, “cái mới chưa hiện”... Cho nên tuy căn có đối trần mà “đầu óc vẫn trống rỗ̃ng”, không ghi nhận được gì... Đừng có lo, hãy giữ nó như vậy, một vài bữa sẽ quen!!! Và sau đó là "sự sáng suốt" của trí tuệ hiện lên. Giống như một người vừa thức giấc sau một giấc ngủ dài. Tuy mắt đã mờ, các căn đã hoạt động, nhưng không thể định hướng được đông tây và chẳng biết nơi mình đang ở là đâu. Trạng thái này không tồn tại lâu... Ha ha ha ha!!! Trẻ con, khi thức dậy, bước xuống khỏi giường, thường hay đi lộn, thay vì đi ra cửa lại đâm đầu vô vách!!!

- Đừng bất ngờ trước trạng thái như vậy, và cũng đừng "cố nhớ". Qua vài ngày, mọi thứ sẽ ổn. Nếu có suy nghĩ, hãy suy nghĩ ý nghĩa "vô sanh". Thấu suốt hai chữ vô sanh, nhất định sẽ được tưởng thưởng xứng đáng của Chư Phật!!!

Lúc này, HĐ cần đọc Kinh Kim Cang. Chỉ cần đọc, đọc càng nhiều càng tốt.

Muốn tìm kinh Kim Cang, mỗ̃i ngày lúc năm giờ sáng, chạy ra chợ Hoàng Hoa Thám, ngồi xuống trước cửa chợ trong tư thế kiết già hai mắt lim dim, xây mặt về hướng tây, tay cầm chuổi hạt Mộc hoạn tử, la lớn ba lần như sau: “Giữa trần thế khổ đau này, Ai??? Ai??? Ai!!! là kẻ trong hiện tại có thể phát tâm mãnh liệt, cúng dường cho ta cuốn Kinh Kim Cang, người này đời sau sẽ được phước đức vô lượng”...

Chỉ cần dùng chiêu nói trên, không quá bảy ngày, sẽ như ý nguyện, ít nhất là có được trên bốn ngàn sáu trăm cuốn, đọc không hết, đem đến chùa chiền chia sẻ lại, chỉ cần lấy vốn thôi... không cần lời!!!

Ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng nhờ nghe thiên hạ tụng Kinh Kim Cang mà Giác Ngộ. Kinh này có đại ý khuyên rằng: Đừng trụ nơi nào hết để sinh tâm, khi các căn tiếp xúc trần cảnh (Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm). Không nên có chỗ̃ trụ mà sanh tâm (ưng vô sở trụ, nhi sinh kì tâm).

Kì tâm: Một cái tâm kì khôi của phàm phu, không giống thanh tịnh tâm của Phật... Khi nào cái tâm kì khôi không sanh, thì đó là lúc nên nấu nồi chè, đổi cái tên Hoài Nhân thành Hoài Bồ Tát... 

Chúc tinh tấn, an vui và “không sanh tâm”!!!

(10 -10 -2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tốc Tậc Lão Quái

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Sự học, như con thuyền đi trên dòng nước ngược, đứng lại tức là lùi

Các bạn!!!

Chiều nay, mình nhận được bài viết của Tốc Tậc Lão Quái. Cảm nhận đầu tiên, khi đọc bài viết này, đó là tán thán sức tinh tấn của Lão.

Mình chiêm nghiệm về bài viết và chợt nhận ra, trong cung cách tu tập của Lão Quái có một chút gì đó mang máng bóng dáng của mình năm xưa.

Ngày đó, và cả bây giờ, mình cũng như vậy, không ngừng tư duy, không ngừng rèn luyện. Có những điều, phải mất cả năm trời, có khi hơn thế nữa, bỏ thời gian tư duy, chiêm nghiệm. Chiêm nghiệm đến cùng tận vấn đề, khi vỡ lẽ ra, biết chắc đây là điều đúng nhất. Mình như muốn bay lên ngọn cây. Và cứ thế, cứ thế!!! Mình không dừng lại, không bằng lòng với hiểu biết đã có.

Nhiều đêm không ngủ, một tiền đề được nêu lên. Sau đó, tự chia chẻ, phân tích, biện luận và tự phản biện. Mình tự phản biện và lập luận bảo vệ đến bao giờ biết chắc rằng: Kết luận này là đúng nhất, không thể có một phản biện nào bẻ gãy được, mình mới xả bỏ.

Một ngày, mình tìm ra và thấy được lợi ích của môn thần công mà mình đã giới thiệu với các bạn, mình say sưa luyện tập, luyện tập miệt mài. Và một kết quả thú vị, thú vị và ra ngoài mong đợi, đó là: “Một thấy biết mới xuất hiện”!!!

Thấy biết mới này, thực tế nó không “ăn nhập” gì đến những gì trước đó mình đã bỏ công tư duy rèn luyện. Hoàn toàn không có một sự kế thừa, dù nhỏ nhất đối với những gì mình đã thành tựu do công phu nói trên thấy biết mới này, mình tạm gọi là “vụ nổ Big Bang tâm thức”.

Nhưng rồi, một phát hiện lý thú khác lại đến. Mình nghiệm ra: Cái tròn sáng của trăng rằm hôm nay, không phải là sự kế thừa của những ngày trăng khuyết trước đó, thậm chí nó cũng chẳng phải là sự kế thừa của trăng tròn hôm trước là mười bốn. Nhưng, nếu không có những ngày trăng khuyết trước đây, thì cũng chẳng có cái trăng tròn ngày rằm hôm nay!!!

Các bạn!!! Ngày còn đi học, một câu châm ngôn treo trong lớp học, không biết mình nhập tâm lúc nào. Nhưng thỉnh thoảng câu châm ngôn đó lại hiện về, tuy rằng đó là câu nói của người đời, 100% đời, nhưng dù là đời, nó cũng có cái hay hay của nó. Trong tu tập, cũng có phần nào đó mang ý nghĩa này: “sự học, như con thuyền đi trên dòng nước ngược, đứng lại tức là lùi ”

Ngay trong HĐ chúng ta, qua thực tế tiếp xúc, hoặc nghe nói lại. Mình cũng cảm thấy điều này hiện hữu trong một vài người. Tất nhiên, mọi thứ trên đời đều có lý do riêng của nó. Nhưng, cuộc đời con người ta mà!!! Nếu thuận theo những lý do được coi là chánh đáng này, để bằng lòng dừng lại với những gì đã có. Theo mình thì...thì...thì...!!!

Khi chiều, trong lúc tưới cây, mình có thói quen, bao nhiêu điều Phật Pháp trong trí lại chảy theo từng giọt nước. Có lẽ do mải mê tưới và tư duy, mình quên rằng đang có một vị HĐ bên cạnh. Có lẽ vị HĐ này phát hiện ra cái miệt mài quên trời quên đất, quên mọi thứ chung quanh.

Vị HĐ lên tiếng: Thầy siêng quá hả??? Trồng rồi lại phải chăm sóc!!!

Mình buộc miệng trả lời: Chăm sóc cây như chăm sóc người. Có những kẻ, cả đời không từng biết chăm sóc một thứ gì hết. Rồi cuộc, đời họ như thế nào nhỉ???

Sáng nay, ngồi uống trà, nói chuyện với HĐ ấy về nghĩa Bản Giác, Tánh Giác, Diệu Minh, Minh Diệu, Thế gian pháp và Phật Pháp. Hình như HĐ có chút lãnh hội...!!! Mình nhất định phải "tự thưởng" cho bản thân, một cái gì đó, để...động...viên!!!

(01-10-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Công Phu Chiết Phát Đẳng Pháp

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Công phu này có tên là: “Chiết Phát Đẳng Pháp Tu Rị Tu Mọ Ta Rị Ta Mọ Đại Thần Công”.

Các bạn!!!

Lại có việc “phải động não nữa rồi”. Sáng nay mình nhận được mấy câu hỏi của một HĐ. Theo mình, những câu hỏi này, là đương cơ tốt nhất để HĐ tập “chẻ sợi tóc làm hai”.

Khi chẻ được sợi tóc thành hai rồi, dần dần chúng ta sẽ tập chẻ sợi tóc đó thành bốn, thành tám, thành mười sáu. Người luyện thành tựu môn công phu này, vung đao lên, tức thì một sợi tóc đang bay phất phơ trong gió, có thể chẻ thành nhiều phần như ý.

Công phu này có tên là: “Chiết Phát Đẳng Pháp Tu Rị Tu Mọ Ta Rị Ta Mọ Đại Thần Công”. Tuyệt kỹ này đã thất truyền cả ngàn năm. May mắn Lý mỗ̃ đã lượm được bí kiếp này trong một lần nằm mơ thấy mình lên “Đâu Suất”, sau đó âm thầm luyện tập và đã thành tựu phần lớn. Thành rồi, mới biết nó có công dụng như mơ!!! Ha ha ha ha!!!

Khi nào chẻ một sợi tóc đến 42 phần hoặc hơn thế nữa, mà không bị lỗ̃i một chút xíu nào hết, sẽ thành tựu môn: “A Tự Đại Môn Kỳ Khôi Đệ Nhất Quái Quái Quái”, môn này có giới thiệu sơ lược trong Đại Bát Nhã, Đại Niết Bàn, Đại Bảo Tích... Nói chung kinh nào có chữ "Đại" đều có đề cập.

Kẻ thành tựu môn “Chiết Phát Đẳng Pháp Tu Rị Tu Mọ Ta Rị Ta Mọ Đại Thần Công”. Mới có đủ “công lực và sự khéo léo” để tiếp nhận “Đệ Tam Đao” của dòng họ Lý. Ngày xưa có nhà thơ họ Lý, chưa biết môn công phu này một chút xíu nào hết, mà bày đặt “múa lung tung” nên trượt chân “té xuống sông chết đuối”!!! Đời sau con cháu không biết, đổ thừa Lý Thi Sĩ do nhậu xỉn, quờ quạng rớt xuống sông...!!!???

Nay, thấy được lợi ích lớn lao của môn thần công nói trên, không nỡ thủ đắc một mình. Bèn “Mở Lượng Hải Hà”, truyền cho HĐ...!!!

Ai không kham nổi môn thần công này thì đừng luyện, chẳng có sao hết. Như con gấu sáu tháng mùa đông ở bắc cực, không có gì ăn hết trơn hết trọi, bèn đánh một giấc dài… nhưng khi thức dậy, cũng “sống nhăn răng”, rồi: “Gấu lại hoàn gấu”, có sao đâu???

Còn vị nào tò mò, muốn luyện để thử sức mình, đặng sau này học đao thứ ba thì... Xin mời!!! Xin mời!!!

(28-09-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Lặng Lẽ, Quan Sát...

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Chúc HĐ và mọi người “lặng lẽ quan sát” để thấy được ý nghĩa đích thực của thân tâm và vạn hữu. Mà cổ Đức gọi là “thấy thiệt tướng”. Từ đó, có thể an lập cho mình và hữu tình trở về với bản chất chân thật của chính họ!!!

Kính bạch Thầy,

Con có ý định là sẽ thực tập tọa Thiền theo sự giảng dạy của Thầy một tuần lễ mới viết thư này. Song con thấy cái kết quả do “lặng lẽ quan sát” thật vi diệu, nên con viết thư này sớm hơn. Chỉ mới vài lần quan sát con thấy những lợi ích sau đây, xin trình lên Thầy:

1) Do quan sát ngay từ lúc băt đầu ngồi xuống, con hoan toàn không còn thời giờ để khởi một vong niệm nào, mà trước đây các vọng niệm này hành hạ con đôi khi cả tiếng đồng hồ. Nay thì có lúc con để tự nhiên cho vọng niệm khởi để quán sát mà nó lại không khởi, có lẽ tại mình chú tâm quá thì nó lặng, có thể khi bất giác thì nó lại khởi.

2) Do vọng niệm không sanh khởi con quan sát thân, tâm, ý và thế giới cùng các pháp.

Do cái nhìn với trí, thân và các thân căn chỉ là những tướng giả hợp do 4 đại hợp thành không ảnh hưởng gì tới cá thể của mình, sao ta lại phải ưu bi sầu khổ? Con phân biệt được tâm và thức chẳng dính líu gì tới thân này. Các pháp cùng thế giới vốn dĩ thiệt tướng là không tướng.

3) Chiều nay con tạo được một khung cảnh ngoạn mục, là xách bồ đoàn lên sân thượng ngồi nhìn ra bờ đê với sông nước tàu thuyển buổi chiều về bến đậu, người qua lại, trẻ nô đùa, âm thanh của các mái chèo, của các trụ buồn chạm vào giây giăng buồm. Với tất cả âm thanh như cái linh trước gió và cái vẻ đẹp của buổi chiều hè trước khi mặt trời lặn. Con có được cái cảm giác hỷ lạc, gió chiều mát rượi, âm thanh nhẹ nhàng không quá ồn trừ tiếng hụ còi khi tàu lớn ra vào cảng. Con nhắm mắt quan sát những cảm giác lạc thọ đem lạị bởi sắc thanh (huơng vị) xúc. Làm sao mà chúng sinh không mê đắm cảnh hỷ lạc được? Cái lạc thọ rồi đi vào quá khứ, chỉ còn vọng của lạc thọ. và vì đó con nhận ra sự vô thường, sanh diệt cũng xuất hiện chỉ trong sát na để trở về với thiệt tướng của các pháp ấy là vô tướng.

 4) Một lần khác con tiếp tục quan sát thân tâm ý cùng cảnh vật thế giới con nhận ra chỉ vì chấp ngã mà chúng sanh mê lầm, tưởng thế giới là thường hằng cho nên thường đắm chìm trong cái ngã, này là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Con cũng quán thân niệm xứ để biết rằng thân này là vô thường, là khổ, các pháp là vô ngã. Con bỗ̃ng nhớ bài tụng Bát nhã có câu “các pháp không sanh, không diệt...” Thì ra tất các phápđều không có tướng!!!

Ðây chỉ là những quán tưởng để tìm ra thật tướng của các pháp, hẳn con còn phải tu tập nhiều hơn như Thầy dạy để có một kết luận rút ra một phương châm sống, một lẽ sống, rồi thành thục một “ý sanh thân”...

Con nguyện có gắng tinh tấn. Nhờ bài pháp ngắn của Thầy con thay đổi được phương pháp tọa thiền mà bấy lâu nay con bị bế tắc.

Con xin kính đảnh lễ Thầy ba lạy.

*****

Hay quá!!!

Mình vô cùng hoan hỷ khi đọc email của HĐ. Bài viết của HĐ nói lên cảm xúc chân thật đạt được trong lúc thiền quán.

Phật Giáo rất thực dụng, Phật Giáo không ru ngủ bằng những lý luận hư ảo. Phật giáo không phải là kết quả do “ma trận ngữ ngôn” thành lập. Mà: Phật giáo chính là kết quả của sự thấu suốt, khi nhìn nhận đúng bản chất của sự việc.

Chúc HĐ và mọi người “lặng lẽ quan sát” để thấy được ý nghĩa đích thực của thân tâm và vạn hữu. Mà cổ Đức gọi là “thấy thiệt tướng”. Từ đó, có thể an lập cho mình và hữu tình trở về với bản chất chân thật của chính họ!!!

(04-06-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Cây Kim Đồng Hồ

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Kinh dạy, chỉ nên nghe như vầy, chỉ nên thấy như vầy, chỉ nên sống như vầy, v.v... Còn chúng sanh thì mỗ̃i ngày, nghe như kia, thấy như kia, sống như kia, v.v... Không đảo điên mới là sự lạ!!!

Cuộc đời chỉ là một mớ khái niệm, nhận thức và quan niệm lộn tới lộn lui như ba cây kim đồng hồ. Một cây chỉ giờ, cây chỉ phút, cây chỉ giây.

Khi nào ba cây kim này còn nương tựa vào một trục và quay quanh nó thì, người ta bảo đó là “cái đồng hồ sống nhăn”.

Chừng nào ba thứ khái niệm, nhận thức và quan niệm còn nương tựa vào một chủ thể, quay chung quanh chủ thể này thì, Cù Lão Đại Tổ Tông gọi đó là chúng sanh. Tức gom nhóm mớ “tạp pí lù” ấy mà sanh mà diệt.

Cái đồng hồ, cứ mỗ̃i ngày lặp đi lặp lại trên những con số vô hồn mà không biết chán. Dân nhậu gọi đó là: “Cá Lóc Nấm Bổ Hoành”...!!!

Con người ta suốt ngày cứ quay cuồng, lặp đi lặp lại bởi những quan niệm “xưa như trái đất”, mà không biết chán. Thì Cù Lão Đại Tổ Tông gọi đó là “Sanh Diệt Luân Hồi”...!!!

Cá Lóc Nấm Bổ Hoành hay Sanh Tử Luân Hồi. Tuy khác tên nhưng đồng nghĩa. Đó là sự quay cuồng, đảo điên, lặp đi lặp lại mãi trong vòng tròn nhận thức bởi những cái pháp "Ba Lăng Nhăng". Hết sáng rồi trưa, hết trưa rồi chiều, hết chiều rồi tối. Cứ thế... cứ thế... cứ thế...!!! Mà chẳng biết như vầy, như vầy, như vầy...!!!

Kinh dạy, chỉ nên nghe như vầy, chỉ nên thấy như vầy, chỉ nên sống như vầy, v.v... Còn chúng sanh thì mỗ̃i ngày, nghe như kia, thấy như kia, sống như kia, v.v... Không đảo điên mới là sự lạ!!!

Cù Lão Đại Tổ Tông dạy rằng: Hãy bẻ gãy cái trục ngã, hãy vứt cây kim khái niệm, hãy từ bỏ cây kim nhận thức, và hãy ném cây kim quan niệm vào sọt rác. Khi ba cây kim này không còn tụ hội nơi cái trục ngã. Thì...thì...thì... Lý Gia gọi đó là Cái Đồng Hồ Giác Ngộ, thế gian thì la lớn rằng Cái Đồng Hồ Chết Queo!!!

Lúc đó, Lão Tổ Tông nhà ta cao hứng mất cảnh giác, cao giọng ngâm to bài kệ như vầy:

Tâm địa hàm chư chủng,

Phổ vũ tất giai manh.

Đốn ngộ hoa tình dĩ.

Bồ đề quả tự thành. 

Lý Tứ bèn phụ họa:

Đồng hồ kim ba cây

Quay hoài không biết chán

Quăng mẹ thói, cáo, cầy

Bỗng dưng đời lên mây!!!

(22-06-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Nguyên Lý … Thật Pháp

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

“Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp, ai biết được pháp sẽ biết được không pháp, ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không, ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp, ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp...”

(Trích TÂM PHÁP)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tập Khai Thị

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Sau khi có được thành tựu bước đầu rồi hãy: Tinh tấn đọc tụng, tinh tấn tư duy, tinh tấn nghe pháp, tinh tấn giáo hoá, tinh tấn thiền định. Nói chung, tinh tấn không giảm!!!

Các bạn!!!

Chỉ cho người bước đầu tu tập nhận ra điều gì đó, chưa phải là lớn lao gì trong Phật Đạo. Nhưng nó lại rất quan trọng. Giống như “người viễn xứ về lại quê hương”. Về lại quê hương để làm “người muôn năm cũ”.

Có về lại chốn cũ mới “thành người chốn cũ”. Muốn thành người chốn cũ, phải “Sống” và “Học” cái rất cũ nhưng đã bị lãng quên. Thành tựu sự học này thiên hạ gọi là "văn hoá". Phật đạo có văn hoá riêng của mình. Xin những ai đã về lại, hãy học và tiếp tục học. Để đời sống trở thành bất cộng.

Theo như những gì bạn kể lại, như vậy là đã thành công bước đầu trong “kỹ thuật khai thị”. Kỹ thuật này có thể giúp người khai tâm, trao chiếc chìa khoá để người tự mở cánh cửa Niết Bàn Tập Đế, điều này đã nhiều HĐ học được, có người thành thục, có người chưa.

Việc biết khai thị cho người, chỉ mới là giai đoạn sơ khai của giáo pháp. Nó nhằm “giúp người dứt tập”, tức là giúp họ nhận ra, cái mình đã hiểu, mình đã biết, cái mình đã sống, cái mình đeo đuổi bấy lâu nay... Chỉ là “một giấc mơ”...!!!

Biết như vậy, từ đó, kiết sử của họ không còn hiện khởi, không còn là nỗ̃i ám ảnh, không còn là lẽ sống, không còn là “bóng ma thường trực” dắt họ rong ruổi, tìm kiếm, hy vọng từ một ảo ảnh (vô thường)... Một chút an vui do xa lìa kiết sử làm họ thấy thảnh thơi!!!

Giai đoạn này, khi được khai thị, đối tượng có thấy an lạc, thấy được chút ánh sáng tự tâm. Nhưng bất giác vẫn còn lẩn khuất, nếu không khéo hộ trì, thì đâu vẫn hoàn đó, như “ném đá ao bèo”, đá chìm, bèo tụ. Vì cái thấy này, chút ánh sáng này vẫn còn là “sự nhận biết”, nó thuộc về “thế pháp”. Có nghĩa dùng một “hữu vi pháp” để “dứt một hữu vi pháp”. Phật dạy: “lấy huyễn pháp để diệt huyễn tâm”.

  • Đặc biệt, kỹ thuật này nó như con dao hai lưỡi. Nếu không khéo hộ trì, không tiếp tục “trao một công cụ đủ mạnh” một “hiểu biết chắc thật” cho người thì...thì...thì người ấy sẽ phiền muộn trở lại. Vì sao cớ sự lại như vậy??? Vì bản chất của hữu vi là như vậy mà!!! Không tin thì cứ lặng lẽ quan sát người ấy sẽ thấy ngay.

  • Điều quan trọng thứ hai, xưa nay thường hay xảy ra, đó là: Nếu vị Pháp Sư không khéo thiện xảo, không am tường Bát Nhã, không biết dùng Bát Nhã Trí, Bát Nhã Lực, Bát Nhã Phương Tiện để tác động đúng mức, nhằm thúc đẩy tối đa giúp người mau chóng chứng Diệt, thì người đó sẽ phát sinh tà kiến, vị lai không có thuốc chữa. Lịch sử Thiền Môn không thiếu những “cớ sự tréo ngoe” này!!! Giai đoạn giúp người rốt ráo chứng diệt rất cam go và dài lâu, vì đây mới là Niết Bàn Chân Thiệt. Cho nên trong giáo hoá đừng có nản, đừng tự mãn, chỉ một lòng một dạ vì người và vì người!!!

  • Đó là lý do vì sao Phật phải thuyết Bát Nhã ròng rã 12 năm trời. Nó cũng chính là lý do mà mình phải tận dụng mọi phương tiện có được, nói xa nói gần, không trực tiếp gặp được...thì...thì...thì gián tiếp dùng Thần Thông Vi Tính. Coi đây như một “pháp gia trì” để gia trì cho HĐ. Thậm chí viết truyện kiếm hiệp cho HĐ đọc...chơi đặng khỏi thối chuyển, và không thể phủ nhận giá trị nhất định của “sự linh hoạt này"!!!

  • Muốn làm được điều này, tức Thành tựu Bát Nhã Trí, Sở Đắc Bát Nhã Lực, thành thục Bát Nhã Phương Tiện... Thì không thể không mong cầu thấy Phật Tánh. Kinh Niết Bàn, Phật có đề cập đến giai đoạn tối hậu này như sau: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân, thọ thực xong, Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hoá thức ăn, biến nhục thân thành Kim Cang chi thân, thấy Phật Tánh. Thành Đẳng Chánh Giác”.

  • Như vậy nhục thân là gì??? Kim cang thân là gì??? Tiêu hoá thức ăn nào??? Vì sao phải tiêu hoá nó??? Cái gì là Kim Cang Thân??? Thành tựu mấy món này rồi, mới mong Phật Tánh hiện.

Thấy Phật Tánh??? Thật sự điều này hiện tại đối với HĐ còn là bước khá dài. Đúng hơn, nó là khoảng cách mà dường như mọi người “đang ở dưới núi”, chỉ đứng xa xa mà nhìn. Hi hi hi hi!!! Và không biết cái mình đang thấy đằng kia là dãy núi hay đàn trâu. Là cái mũ hay con quạ!!!

Nếu mình không lầm thì, cái thấy này không dễ. Vị tu hành muốn thấy Phật Tánh, đòi hỏi phải hội đủ nhiều yếu tố, gồm những tố chất bẩm sinh như: Nguyện xưa, phước đức, trí tuệ, và những tố chất do rèn luyện trong đời mà có, như đam mê, dấn thân, quên mình, vị tha, và phải là một người không tư lợi.

Mình còn nhớ, lâu lắm rồi, cách đây năm trăm kiếp của một con muỗ̃i, mình có một bằng hữu, lẽ ra sức trí tuệ của vị này tiến rất xa trong Phật Đạo. Nhưng vị bằng hữu này chỉ nhầm một điều, để rồi một ác pháp ra khỏi cửa miệng. Ác pháp đó như thế này: “Kinh doanh Phật Đạo là món kinh doanh siêu lợi nhuận”.

Từ đó đến nay, mình ngầm quan sát vị bằng hữu này và câu nói đó, thì...thì...thì... Chính ác pháp trên đã làm vị bằng hữu kia không tiến thêm về trí tuệ, thâm chí phát sinh tà kiến. Rất nhiều HĐ cũng nhận thấy như vậy, họ cảm nhận, vị này chỉ giỏi “lý sự” mà không thật sự giác ngộ, đây là lực cản chính của vị ấy.

Hy vọng những lời này đến tai vị bằng hữu kia và mong y ta nhớ lại mà sám hối để có thể thành tựu pháp lành. Xin đừng coi Phật Pháp như một "mặt hàng kinh doanh"!!!

Để hoàn thành bản nguyện và giúp người rốt ráo như chư Phật xưa đã làm. Mình mong mọi người cần tinh tấn hơn nữa, không "ngủ quên trên chiến thắng". Sau khi có được thành tựu bước đầu rồi hãy: Tinh tấn đọc tụng, tinh tấn tư duy, tinh tấn nghe pháp, tinh tấn giáo hoá, tinh tấn thiền định. Nói chung, tinh tấn không giảm!!!

(19-06-2013)

Tác Phẩm Lý Tứ

Sóng Ấy Tức Nước

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Tâm thanh tịnh, giống như hồ nước trong... Niệm niệm xảy ra trong tâm thức, giống như “từng đợt sóng vô thường” hiện ra rồi mất theo quy luật “sanh trụ diệt”...

Kính gửi Thầy.!!!

Ngàn lời tri ân Thầy đã cho con bài pháp "Đục Trong”, con chợt nhớ lời Phật trong kinh “Ta vì ông mà nói”, con thành tâm đảnh lễ Thầy muôn ngàn ức lạy.

Bấy lâu con cứ nghĩ tâm “Thanh Tịnh”, ví như mặt nước yên lặng, không có sóng, có sóng tức còn động tâm, là không thanh tịnh, nên con cứ lo có sóng mà không nghĩ làm cho nước trong.

Thầy ơi, các bài email Thầy gửi, giúp con nhớ lại những lời vàng ngọc mà Thầy đã cho, vậy mà con không biết ứng dụng, con tự trách, và từ nay kiên quyết trả "năm thức" này về đúng vị trí của nó một cách rạch ròi, rõ biết, không cấu nhiểm1 

Các bạn!!!

Trên đời chưa có một hồ nước hay một đại dương nào không có sóng. Trừ nước trong chai, để ở... tủ lạnh...!!!

Sóng trong hồ hay sóng ngoài biển khơi, dù lớn hay nhỏ, cũng chẳng thể làm cho biển hay hồ kia thay đổi tính chất của nó. Đã là biển, sóng ấy cũng là thứ sóng của đại dương...

  • Nếu là hồ nước trong, thì cho dù có sóng, sóng này cũng trong...!!!

  • Nếu là hồ nước đục thì, có sóng hay không sóng, hồ kia cũng đục...!!!

  • Đã là nước đục, thì chẳng thể làm được công việc của một nguồn nước trong. Và nó sẽ làm vẫn đục, nhiễm ô những gì bị nó thấm ướt...!!!

Vấn đề ở đây là: Hãy làm cho hồ nước này trong. Khi hồ đã trong, thì “sóng ấy và nước kia”, bản chất có khác nhau chăng???

Tâm thanh tịnh, giống như hồ nước trong... Niệm niệm xảy ra trong tâm thức, giống như “từng đợt sóng vô thường” hiện ra rồi mất theo quy luật “sanh trụ diệt”...

  • Để khỏi tổn hại bởi những đợt sóng vô thường. Người trí, khi thấy sóng nổi lên, hãy bình tĩnh bước lên bờ. Không ngụp lặn trong cơn cuồng nộ của sóng dữ!!!

  • Bước lên bờ và lặng lẽ quan sát. Bây giờ người trí mới nghiệm ra rằng: “Tất cả đều vô hại”. Chết hay sống trong hoàn cảnh này chỉ khác nhau ở “kẻ trí và người ngu”!!!

Đợi khi sóng yên, và nước kia không đục, người trí dùng nước ấy làm nên việc lợi ích...!!!

(30-05-2013)

“Thưa  Thầy!

Tối nay, con nhớ Thầy, mở máy lên, thấy có email Thầy gởi, thật sung sướng như Thầy hiện bên cạnh!

Đọc Email, con như được Thầy dẫn ngược dòng đời, vào tận sâu thẳm trong ấy, thấy “cái chơn thiệt” thường hằng bất biến vẫn còn nguyên bất động vì không ai lấy hay nắm bắt xê dịch được. Rồi như được Thầy trắc nghiệm lại bằng một câu: “...Và khi thấy được Chân Tâm, thì mọi quan sát từ đây phát ra đều trở thành Diệu Minh...” (chỉ câu này thôi).

Thưa Thầy!

Bản Giác Diệu Minh, Tánh Giác Minh Diệu. Khi thấy được “Chân Tâm”, thì mọi quan sát từ đây phát ra là Tánh Giác của Bản Giác. Nên chữ “Diệu Minh” trong câu này, Thầy cho con đọc là “Minh Diệu”, được không thưa Thầy.

Con, Thiện Hòa, kính chờ Kim khẩu giáo từ Thầy! Kính Thầy ba lạy tri ơn không ngằn mé!!!”

Các bạn!!!

Khi chưa thấy đèn thì, nương ánh sáng để đến với đèn... Khi gặp đèn rồi thì mới biết ánh sáng ấy từ đèn mà ra...!!! Diệu minh hay minh diệu...thì... “tuỳ...giám đốc...!!!”... Ha ha ha ha!!!

(30-05-2013)

________________

(1) Cấu nhiễm là vấy bẩn, nhuốm bụi trần

Tác Phẩm Lý Tứ

Về Công Đức

MB 857 Lý Diệu Sinh 18.02.2023

Công Đức trong Phật Đạo chính là thù lao mà Vô Lậu Tâm trả cho người tu hành

1. CÂU HỎI VỀ… CÔNG ĐỨC

Sáng nay, mình có trao đổi với một vài HĐ về ý nghĩa của hai chữ Công Đức. Sau đó, mình có yêu cầu các HĐ này đưa ra một khái niệm ngắn gọn, nhưng phải thật rõ ràng về “thật nghĩa của Công Đức”.

Mình xin chuyển đề tài này đến mọi người. Và, vị nào có thể đưa ra khái niệm chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ ứng dụng về nghĩa hai chữ Công Đức. Xin vui lòng chia sẻ với mọi người... (Chú ý!!! Sau khái niệm, các bạn có thể cho thí dụ minh họa).

(10-04-2013)

Các bạn!!!

Mình rất vui, khi sáng nay đọc thật nhiều emails góp ý của các bạn. Không ngờ đề tài “công đức” lại hấp dẫn như vậy!!!... Chiêm nghiệm một hồi, mình mới nhận ra: Đúng như vậy!!!... Đây mới là đề tài thật sự hấp dẫn, và cần đào sâu ý nghĩa đối với người tu hành trong Phật Đạo. Mình suy nghĩ:

Công Đức trong Phật Đạo chính là thù lao mà Vô Lậu Tâm trả cho người tu hành. Nó giống như tiền lương ông chủ trả cho nhân viên. Nhìn vào mức độ thu nhập của một người, sẽ thấy được: Năng lực, giá trị công việc, thành quả lao động và đời sống cũng như tương lai... của người đó!!!

Nếu người lao động, không hề biết thù lao của mình đích thực là gì??? Thì thiệt là chuyện vô lý!!! Giống như kẻ đi làm công, mà không biết ông chủ trả công cho mình thứ gì, sử dụng ra sao, đâu là đơn vị để tính??? Phỏng người này có còn tiếp tục công việc được không???

Trong khi đó, trên thực tế, rất nhiều vị tu hành còn mù mờ về ý nghĩa hai chữ công đức (chuyện khó tin nhưng có thật). Nó giống như người làm công mà không hề biết, hoặc chưa một lần thử đặt khái niệm về chuyện thù lao cũng như giá trị thù lao!!!

(11-04-2013)

Thầy ơi, cho con xin kính lễ Thầy 3 lạy!!!

Con vừa đọc một bài email của Thầy thôi, mà sao trong lòng con lại thấy bật khóc. Con chỉ biết khóc, khóc và phải khóc mới thỏa lòng con!!!

Và hiện giờ tâm con như rỗ̃ng tuếch, sau khi đã khóc xong một trận... Thầy ơi!!!

Ngày xưa, Ngài Tu Bồ Đề đã là một La Hán. Với danh hiệu Đệ Nhất Nghĩa không, mà cũng từng bật khóc khi nghe Phật thuyết Kinh Kim Cang. “Tu Bồ Đề thế lụy bi khấp nhi bạch Phật ngôn. Hy hữu thay Thế Tôn”.

Ngày nay, cũng biết bao nhiêu HĐTM “đã khóc” khi nhận ra chân lý. Cũng là giọt nước mắt, nhưng đó lại là “dòng nước công đức”, đưa người tu hành “xuôi về nguồn thanh tịnh”. Chúc tinh tấn!!!

(11-04-2013)

2. THẬT NGHĨA CỦA CÔNG ĐỨC

Là kết quả của một hành động, một nghĩ suy, một việc làm... Được phát ra từ nguồn tâm thanh tịnh, không mê lầm, không cấu nhiễm...

Hành động, nghĩ suy, từ một chúng sanh không sinh ra công đức. Vì, chúng sanh khi làm hay suy nghĩ một điều gì, đều phát xuất từ tâm điên đảo, so đo, phân biệt, tính toán, quan niệm... Nói chung, tâm chúng sanh không thanh tịnh và luôn mê lầm, nên chẳng có chi đáng gọi là đức, cũng chẳng có chi đáng để ghi công trong Phật đạo...

Vì thế, một chúng sanh hành động hay nghĩ suy, chỉ có kết quả là phước đức hay ác đức. Tức kết quả của ràng buộc, cột trói, phiền não và không giải thoát. Những hành động, nghĩ suy này đều nằm trong ba cõi khổ!!!

Muốn sinh công đức, vị này tâm phải thanh tịnh, phải giải thoát. Tâm thanh tịnh, không khởi mong cầu. Ý giải thoát, không bị buộc ràng bởi các quan niệm... Khi công đức đủ, vị này sẽ thành tựu đạo quả nào đó. Nhỏ như sơ ngộ, vừa vừa như Bồ Tát, to như thành Phật...!!!

Giống như người ta đi làm để kiếm tiền. Ít thì mua bánh, nhiều thì mua vàng. Nhiều nữa thì mua chức. Có chức rồi thì mua bằng để thiên hạ tưởng mình có “chí tệ” mà ghê chơi... Ha ha ha ha!!!

3. CHỈ SỐ THÀNH CÔNG… (IQ, EQ và AQ)

Ngày nay, một người được coi là thành công, người ta nhận thấy rằng: “Người đó phải thoả mãn ba chỉ số, đó là: IQ, EQ và AQ”

IQ: Chỉ số thông minh. (Cần 20%)

EQ: Chỉ số tình cảm. (Cần 60%)

AQ: Chỉ số vượt khó. (Cần 20%)

Ngày xưa, để đánh giá mức độ thành công, người ta chỉ yêu cầu chỉ số IQ cao là đủ...!!! Nhưng rồi... Thực tế đã buộc xem xét lại đánh giá này. Và, sự chú trọng hoàn toàn vào IQ để hướng đến thành công đã bị phủ nhận. Người ta nhận thấy:

Nếu chỉ số IQ (thông minh) cao, mà thiếu AQ (tình cảm) hoặc EQ (vượt khó) thấp, sẽ đưa đến những hệ quả không tốt, và thất bại lập tức xuất hiện sau đó. Lịch sử nhân loại đã chứng minh điều này.

Trường hợp hội đủ hai chỉ số kia, mà thiếu AQ thì, thành công do may mắn nhiều hơn là năng lực bản thân. Điều này, chung quanh chúng ta không thiếu!!!

Các bạn!!!

Sau ba ngày trao đổi, chúng ta đã có cả một kho tàng tư liệu vô giá về ý nghĩa hai chữ “Công Đức”. Đây là tài sản riêng của HĐ chúng ta, mà ít ra cho đến thời điểm này, khó nơi nào có được.

Kho tàng của chúng ta gồm những “thông tin vô giá”. Nhưng, để sử dụng một cách có hiệu quả những thông tin vô giá này, không phải là chuyện dễ dàng...!!!

Việc tiếp nhận, xử lý, phân loại, đánh giá, tổng kết và ứng dụng các thông tin đã có, là điều rất nên làm đối với tự thân mỗ̃i người trong HĐ chúng ta. Những thông tin bất vụ lợi này, là biểu hiện của Trí Tuệ và sẻ chia. Vì thế, bây giờ chính là lúc chúng ta cần đến EQ và AQ!!!

EQ (tình cảm), sẽ giúp chúng ta nâng niu từng góp ý, từng bài viết. Có nâng niu từng bài viết, việc nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại sẽ không mỏi chán. Không mỏi chán, cơ hội thấu suốt sẽ rất lớn (> 60%).

AQ (vượt khó), sẽ giúp chúng ta vượt qua “hạn chế của bản thân”. Hạn chế của bản thân, có thể là: Thời gian, trình độ văn hoá, năng lực tiếp thu, khả năng phân tích, phương pháp đánh giá, thái độ tiếp nhận...

Phật Đạo là “Đạo của Trí Tuệ”. Nếu người tu hành, không thể làm nổi công việc mà người đời vẫn thường làm, đó là: Tiếp nhận, xử lý, phân tích, đánh giá và tổng hợp các thông tin có được rồi đưa vào ứng dụng, thì có được gọi là Trí Tuệ chăng???

Kinh Điển là một kênh thông tin.

Chia sẻ của HĐ là một kênh thông tin.

Nghe Pháp là một kênh thông tin.

Đàm đạo cũng là một kênh thông tin.

Nói chung, những gì thuộc về Giáo Pháp mà ta tiếp nhận được, đều là những thông tin bổ ích. Vì thế, việc yêu cầu: Tiếp nhận, xử lý, phân tích, đánh giá, tổng kết và ứng dụng, là yêu cầu quan trọng và chánh đáng để làm nên Trí Tuệ. Có thực hiện những phần việc nêu trên, mới sử dụng một cách hiệu quả kho tư liệu mà HĐ chúng ta đang có trong hiện tại.

Mong rằng các bạn hãy vận dụng EQ và AQ của mình một cách tốt nhất, để từng người có thể viết một “bài tổng kết về các góp ý công đức vừa rồi” và chia sẻ đến mọi người. Đây cũng là việc “tự đánh giá bản thân” sau một thời gian tu tập.

(11-04-2013)

4. THUỐC “CÔNG ĐỨC”

Thầy kính.!!!

Mấy hôm nay con gặp nhiều chướng duyên, thử thách quá. Con luôn nhớ lời Thầy và các HĐTM để hộ trì tâm Thanh Tịnh... Mới đây con nhận bài pháp Thầy cho, nhắc nhở đọc kỹ bài này. Con như được Thầy tiếp sức để lên dốc, con như nhẹ nhõm!!!

Con xin tri ân Công Đức Thầy, con kính tâm đảnh lễ Thầy 3 lạy!!!

Các bạn!!!

Hiểu rõ ý nghĩa công đức, mới có được công đức...

Công đức càng nhiều, thanh tịnh càng sâu...

Thanh tịnh càng sâu, an lạc càng lớn...

An lạc càng lớn, phiền não không hiện...

Phiền não không hiện, gọi là Niết Bàn...

Chúc bạn an vui, tinh tấn!!!

(19-04- 2013)

5. CÔNG ĐỨC BẢN VỊ

Hôm trước, trên đường đi từ Las Vegas về lại Houston. Ngồi trên máy bay, một HĐ có hỏi mình mấy câu. Mình nghĩ… ghi lại, có thể giúp các bạn hiểu ra điều gì đó.

Hỏi: Xin Thầy có thể cho một định nghĩa cụ thể về hai chữ “Công Đức”???

Trả lời: Công đức có thể hiểu là đơn vị tính của xuất thế gian (giống như tiền là đơn vị tính của thế gian), dùng để đổi lấy các "Vô Vi Quả Vị” trong Phật Đạo.

Hỏi: Xin hỏi, vì sao lại dùng hai chữ “đổi lấy” mà không nói là “trao đổi”???

Trả lời: Nói đổi lấy, vì rằng người hội đủ một số công đức nhất định nào đó, người này có toàn quyền đổi lấy một quả vị tương ưng với số công đức mình đã có. Và vị này cũng có quyền không đổi, nếu không thích quả vị đó. Điều này Kinh gọi là Nhập Chánh Vị và không Nhập Chánh Vị. Ví dụ như Ngài Văn Thù Sư Lợi trong vô lượng đời giáo hoá người thành Phật, số lượng công đức có thừa, nhưng không chịu đổi lấy quả Phật. Cho nên, đành phải làm “Muôn Năm Đại Bồ Tát”!!!

Nói đổi lấy mà không nói “trao đổi”. Vì rằng: Vô Vi Quả Vị thuộc “sở hữu toàn dân”. Tức là thuộc về của trời, của đất, của hư không... ai đủ công đức nấy được, không là của riêng của ai. Cho nên ở xuất thế gian không một ai có toàn quyền sở hữu để trao lại cho người khác. Vô Vi Quả Vị, không giống quả cà quả mướp của thể gian (hữu vi quả), chỉ cần ra chợ mua bán trao đổi là có liền. Nên Vô Vi Quả Vị chỉ nói đổi mà không nói trao đổi là vậy!!!

Hỏi: Có mấy cách để người tu có thể thành tựu công đức???

Trả lời: Có hai cách để người tu hành có thể thành tựu công đức. Đó là thanh tịnh tâm và trí tuệ.

Hỏi: Nếu thanh tịnh tâm và trí tuệ cùng làm ra công đức, như vậy hai thứ này bằng nhau chăng?

Trả lời: Thanh tịnh tâm và Trí tuệ nhất quyết công đức không thể bằng nhau. Giống như con kiến không thể ngang bằng con voi.

Hỏi: Thanh tịnh tâm và trí tuệ, cái nào là kiến??? Cái nào là voi???

Trả lời: Thanh tịnh tâm là kiến, trí tuệ là voi... Có thể hiểu như sau: Trong một giờ dùng thanh tịnh tâm để lao động (hoặc thân, hoặc khẩu, hoặc ý), xuất thế gian chỉ trả chừng 10 đến 12 công đức. Trong khi đó, một vị có trí tuệ dùng thân khẩu ý để lao động trong một giờ, thù lao có thể trả đến số lượng công đức bằng một hoặc nhiều hơn số lông một con voi (tương đương 351592053000 cộng lông voi)... Sai biệt ghê chưa!!!

Hỏi: Trên cõi đời này, ai là hạng người có thể dùng trí tuệ để lao động???

Trả lời: Phật và các Đại Bồ Tát là những vị ưa dùng trí tuệ để lao động. Vì thế trong Thập Bát Bất Cộng của Chư Phật (Đại Bồ Tát) có nói rằng: “Thân, khẩu, ý tùng trí tuệ hành...”. Còn Nhị Thừa và Thập Trụ Bồ Tát, chỉ dùng thanh tịnh tâm để lao động (thân, khẩu, ý) nên số lượng công đức kiếm được rất chi là...nhỏ nhoi!!!

Hỏi: Có thể cho biết công đức tối thiểu và công đức tối đa đổi được những Vô Vi Quả Vị Nào???

Trả lời: Có bốn nhóm công đức tương ưng với bốn nhóm Vô Vi Quả Vị... Cụ thể như sau:

Nhóm nghèo nhất: Tài sản công đức tích lũy bằng số lông bốn chục bầy voi, đổi được tứ quả Thanh Văn.

Nhóm trung lưu: Tài sản công đức tích lũy bằng số lượng lông 1000 bầy voi rừng, có thể đổi được Thập Trụ Bồ Tát.

Nhóm đại gia: Tài sản công đức tích lũy bằng số lượng lông mười rừng voi, có thể đổi được Thập Địa Bồ Tát.

Hạng Hy Hữu Gia: Tài sản công đức tích lũy bằng số lượng lông voi của toàn cõi Diêm Phù Đề, có thể đổi được Phật Quả.

Hỏi: Muốn có được số lượng công đức của hạng đại gia và Hy Hữu Gia, phải dùng trí tuệ nào mới có tài sản nhiều như vậy???

Trả lời: Muốn có được công đức của hai hạng này, phải là loại trí tuệ “Phi Hữu Phi Vô”, tức là lìa mê lìa giác. Nói khác hơn, đó là hạng người khi đi, bàn chân của họ cách mặt đất hai tấc tây (khoảng 8 inch), nhưng vẫn để lại dấu chân của mình rõ ràng. Bất kể vị ấy đi trên sình (bùn), đất khô, đất ướt, gạch, đá, xi măng, bê tông cốt thép hay kim loại... Dù đi trên những con đường khác nhau như vậy, nhưng dấu chân in xuống vẫn bằng nhau, không sâu cạn sai khác. Những con đường các vị này đi qua, đều gọi là “Trung Đạo”...!!!

Hỏi: Vì sao người tu hành, lìa mê thì dễ ợt, còn lìa giác khó hơn lên trời???

Trả lời: Vì cái ngã hãy chưa rốt ráo sạch!!! Và vì tổ trác...vậy!!!

Ví như người quay máy đánh bài ở Las Vegas... Năm ký hiệu nằm trên một hàng liền kề là OK!!! Nhưng khi bấm, chỉ xuất hiện có hai ký hiệu liền kề xuất hiện, đây là hai ký hiệu lìa mê, vì thế Credic Card bị trừ tiền. Bấm thêm vô số cái nữa, hết tiền ăn cháo, Credic Card trống trơn. Nếu có trúng chăng, chỉ là ba hoặc bốn ký hiệu liền kề xuất hiện. Ba hoặc bốn ký hiệu liền kề này xuất hiện, chính là bốn ký hiệu của giác. Số tiền trúng được, giỏi lắm chỉ bằng hạng trung lưu, tức ngang Thập Trụ. Ký hiệu thứ năm giống như “lìa giác”, muốn có được nó, khó hơn lên... chời!!!

Do đó, lìa mê đắc giác thì dễ, lìa mê lìa giác thiệt là khó!!!

Chính vì điều này, mà xưa nay hàng Bồ Tát Thập Trụ nhiều như lá mùa thu, còn Thập Địa Bồ Tát thì hiếm như... như... như... “Hoa Ưu Đàm Bát La”. Ngàn năm chỉ nở một... vài... lần!!! Ha ha ha ha!!!

 (02-05-2015)

Subscribe to