Chuồn Chuồn Cắn "Rốn" Biết Bơi

Phần lớn trẻ em sinh ra và lớn lên từ nông thôn, chẳng lạ gì chuyện “chuồn chuồn cắn rốn biết bơi”!!! Tất nhiên, bản thân mình cũng không ngoại lệ!!!
Thời thơ ấu, mình sinh ra và lớn lên từ một vùng quê nghèo... Trẻ con chúng mình chỉ học một buổi, nghỉ thứ năm và chủ nhật!!! Trường học là một cái kho cũ kĩ, tường vôi mái ngói phủ đầy rêu phong... Bàn ghế là những thớt cây cong queo đẽo gọt đơn sơ bằng gỗ tạp!!! Thầy giáo dạy chúng mình là một người biết chữ trong làng sống bằng ruộng nương, dạy cho đám trẻ để chúng nó khỏi dốt bằng cả tâm huyết một người Thầy hơn là lương bổng!!!
Trong làng, đầu trên xóm dưới đều nhà tranh vách lá đơn sơ, số tường vôi lợp ngói đếm được chừng dăm bảy cái... Mình cùng bọn trẻ miền quê lớn lên từ những mái tranh nghèo vấn vương khói lam chiều như thế!!!
Học một buổi, nghỉ thứ năm và chủ nhật... Bọn trẻ con chúng mình thằng nào thằng nấy đầu tóc rối bù, thân hình khét nắng, da đen như cột nhà cháy, mặt mũi tèm nhem, vận mỗi chiếc quần cộc... Thời gian không đến trường, tụm lại với nhau chia phe đánh lộn, chơi trò chơi dân gian... Hết chia phe đánh lộn, chán trò chơi dân gian... Cả bọn lang thang từ khu vườn này đến khu vườn khác, tìm trái cây non để ăn đến cồn cào trong ruột, rủ nhau bắt chuồn chuồn cắn rốn cho mai mốt biết bơi!!!
Không biết từ bao giờ, câu chuyện cho chuồn chuồn cắn lỗ rốn biết bơi được đám trẻ con tụi mình tin sái cổ... Cứ thế, lớp này lớn lên, đem cái bí kíp trời ơi đất hỡi đó truyền lại cho đám đàn em!!! Thế là, những đứa trẻ với lỗ rốn đầy thẹo vết do chuồn chuồn cắn, trở thành một thứ huy chương anh hùng mà bọn trẻ con chúng mình lấy đó hãnh diện với nhau!!! Thằng nào ít dấu ở lỗ rốn, thằng đó thuộc loại nhát như thỏ, là thứ bỏ đi, mai mốt sẽ chết chìm!!!
Lớn lên, mỗi khi nhớ lại thời thơ ấu, nhớ lại những buổi lang thang trong vườn tìm trái non để ăn, bắt chuồn chuồn cắn rốn, miệng ê a câu ca dao “rủ nhau đi bắt chuồn chuồn, khi vui nó đậu khi buồn nó bay”... trở thành một kỉ niệm khó quên!!!
Cứ ngỡ, khi người ta trưởng thành, chuyện cho chuồn chuồn cắn rốn để biết bơi, chỉ là chuyện của những đứa trẻ ngây ngô đáng yêu sinh ra từ những miền quê!!! Đã là người lớn thì, chẳng bao giờ có thể tin vào cái “bí kíp trên trời dưới đất” ấy nữa!!!
Lớn lên, ước ao để cho chuồn chuồn cắn lỗ rốn biết bơi khi rớt xuống nước không còn, vì anh nào rồi cũng biết bơi, cũng biết rằng bơi được là do tập tành đúng cách chứ chẳng phải do chuồn chuồn cắn lỗ rốn...!!!
Người lớn biết bơi, không còn sợ rớt xuống ao, hồ, sông, suối chết chìm... Nhưng, họ lại sợ thứ khác!!! Cái họ sợ bây giờ, chẳng phải chết đuối vì sông hồ... mà họ sợ bản thân bị nhấn chìm bởi dòng sông khổ đau ba cõi!!! Thế là, cái “bí kíp trên trời dưới đất” để chuồn chuồn cắn lỗ rốn biết bơi một lần nữa trở thành niềm tin khiến họ tin sái cổ!!!
Thiệt là, “chẳng cái dại nào giống cái dại nào”!!! Một lần nữa, bọn người lớn như mình của ba mươi năm trước lại lang thang hết khu vườn bí kíp này đến khu vườn bí kíp khác tìm trái dại, trái non làm thức ăn tinh thần đêm về phì phò tu luyện, như bọn trẻ con bắt chuồn chuồn cho nó cắn lỗ rốn tâm thức mỗi ngày để không bị chết chìm bởi dòng chảy cuồng nộ của ba cõi!!!
Tệ hơn, con chuồn chuồn bây giờ, chẳng phải là thứ chuồn chuồn mây, chuồn chuồn kim đủ sắc màu xanh đỏ... Trái dại, trái non bây giờ không phải là trái bứa, trái thị, trái keo hay dái mít non...!!! Những lỗ rốn đỏ lòm đầy dấu tích anh hùng, bây giờ không phải của những thằng nhỏ mũi dãi lòng thòng, thân hình khét nắng, da đen như cột nhà cháy, vận có cái quần cộc chỉ biết đánh nhau rồi cười, về nhà cạp vụng miếng đường đen trong bồ lúa, rồi cứ mỗi chiều về nhìn khói lam vấn vương trên những bếp nhà tranh... mà thay vào đó là những con chuồn chuồn đạo lí, cắn lỗ rốn tâm thức mê muội của kẻ đã trưởng thành!!!
Hơn ba mươi năm, mình và bao nhiêu người đã cho những con chuồn chuồn bí kíp, chuồn chuồn đạo lí cắn vào lỗ rốn niềm tin, chẳng khác gì bọn trẻ thơ lớn lên từ nông thôn ngày ấy... Cái “lỗ rốn niềm tin loang lổ vết sẹo” bởi “cái bí kíp kì khôi” từ những người đi trước truyền lại vẫn còn giá trị với những đứa “trẻ con nhiều tuổi” như mình hôm nay!!!
Giờ đây, khi đã biết bơi, khi đã không còn sợ bị nhấn chìm bởi dòng nước ba cõi... Ngoảnh lại bên kia dòng sông tâm thức, câu chuyện chuồn chuồn cắn lỗ rốn biết bơi của thời thơ ấu được người lớn hôm nay tái hiện một cách say mê, cuồng nhiệt hãy còn đó!!! Và, chắc chắn còn bao nhiêu người với cái lỗ rốn đỏ lòm, nhiều vết hằn loang lỗ đang hãnh diện như những chiếc huy chương trên ngực của một anh hùng... và sẵn sàng truyền lại cái “bí kíp bất nhơn” đó cho người đi sau bằng những ngôn từ đao to búa lớn của đạo pháp ở quán cà phê, ở bên bàn trà hay những giảng đường đồ sộ!!!
Chao ôi!!! Chỉ với niềm tin!!! Niềm tin!!! Và chỉ với niềm tin vô căn cứ... nếu ta cứ mãi tin mà chẳng dựa vào cơ sở đáng tin cậy, chẳng một lần biết phản biện việc ta đã nghe là đúng hay sai, là chân hay vọng!!!
Thứ niềm tin ấy, thứ triết lí ấy, thứ đạo lí ấy... nhất định không khác gì chuyện “để chuồn chuồn cắn lỗ rốn biết bơi” của bọn trẻ con ngây ngô sinh ra lớn lên ở những miền quê nghèo thời ấy!!!???
(06/04/2020)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/cach-ly-tam-de-tri-benh-phien-nao
Trân trọng,
Lý Thuyết Ba Hồ
Phật Giáo là môn giáo dục tâm cơ, không phải hình thái truyền đạt kiến thức như thế giáo

Các bạn!!!
Phật Giáo là môn giáo dục tâm cơ, không phải hình thái truyền đạt kiến thức như thế giáo. Lại càng không phải là môn học suy luận, phân tích… Tuy nhiên, còn điều gì đó trong phần tinh túy nhất của Phật đạo, mà các bạn vẫn chưa nhìn ra. Có thể là thời gian tu tập chưa đủ chăng???
Để giúp các bạn có cái nhìn tốt hơn trong truyền đạt Phật pháp, cũng như khi HĐ gặp nhau trao đổi, mình có vài góp ý sau:
1. KHI TRAO ĐỔI.
Cốt lõi của trao đổi là, khi có người nói, hãy lắng nghe tiếng tâm (nội tâm, tâm cơ) của họ, chứ không chạy theo những gì họ trình bày.
2. KHI NÓI VỚI NGƯỜI.
Hãy nói bằng tất cả tấm lòng, chỉ muốn cho người thành tựu điều gì đó, không căn cứ trên kiến thức mình đã học, muốn thực hiện được điều này, phải biến kiến thức thành thực chứng.
3. KHI MỞ MIỆNG, LỜI NÓI PHẢI XUẤT PHÁT TỪ TÂM TỪ, TÂM BI...
Có như thế, người nghe không khó chịu, và không có cảm giác bị lên lớp.
Để có thể giúp người nhiều lợi ích, phải nhìn thấu tâm cơ của người, có nhìn thấy tâm cơ của người mới có phương tiện phù hợp. Để thực hiện điều này, mình tạm đưa ra một phương pháp, tạm gọi là “Lý Thuyết Ba Hồ”, như sau:
Muốn biết rõ cái hồ bên kia thế nào, hồ bên này phải hội đủ ba điều kiện, đó là: Trong suốt, tĩnh lặng và sâu thẳm.
Hồ bên này có trong suốt, mới biết hồ bên kia có bao nhiêu phần đục, trong. Tâm bên này có thanh tịnh, mới biết tâm người bao nhiêu phiền não, lậu hoặc.
Hồ bên này có tĩnh lặng, mới biết hồ bên kia sóng gió thế nào. Tâm bên này có bất động, mới có thể nhìn thấy chỗ̃ động lay của tâm người.
Hồ bên này có sâu thẳm, mới biết hồ bên kia sâu cạn là bao. Trí tuệ bên này có đủ rộng sâu, mới có thể đo được trí người đến đâu trong đạo pháp.
Khi một trong ba điều này khiếm khuyết, lời thuyết thường hay bị “phản tác dụng”. Thậm chí trong một số “trường hợp đặc biệt” lại làm “hỏng tâm cơ của người”. Mà chuyện này vẫn thường xuyên xảy ra trong anh em mình.
Mong các bạn chiêm nghiệm những điều trên, để tránh rủi ro khi đàm đạo hay thuyết pháp, vô tình biến thiện pháp thành bất thiện.
Đối với bằng hữu, anh em với nhau. Không nên lẫn lộn giữa đàm đạo, đóng góp ý kiến thành giáo huấn. Không ghi nhớ điều này, vô tình biến buổi đàm đạo, trao đổi, học hỏi lẫn nhau thành sự đối đầu không cần thiết.
Cuối cùng mình vẫn thích nhất câu nói của Tịnh Hiền: “Một Pháp sư thuyết pháp, thì "kiến thức" chỉ là 1, "tâm Từ" là 9...”
Mình cũng xin góp vài lời cho xôm tụ, và tạm biệt ở đây hẹn gặp lại, câu góp ý của mình như sau:
“Một Giáo thọ khi giáo dạy, thì kiến thức lên đến 9, mà tâm Từ chỉ là 1...”
Vài lời mong các bạn hiểu cho!!!
(06-2011)
Hạnh Tu Học… Người Xưa, Lời Tâm Huyết
Muốn cứu người, phải có trí tuệ. Mà “trí tuệ chẳng phải từ trên trời rơi xuống”. Nó là…“cả quá trình tích luỹ kiến thức, miệt mài tư duy và rèn luyện tự thân”.

Các bạn!!!
Có thể nói, sức tinh tấn của một số HĐ rất đáng để chúng ta tán thán. Tuy nhiên, cũng không ít HĐ tu tập “rất mực cầm chừng”.
1.HẠNHTUHỌCMIÊNMẬTCỦANGƯỜIXƯA
Ngày xưa theo sách vở ghi lại thì, Đại Sư Vĩnh Gia Huyền Giác là người có thâm niên 20 năm miệt mài tu tập công phu chỉ quán của Thiên Thai Tông. Khi diện kiến Lục Tổ Huệ Năng, Đại Sư chỉ đi nhiễu ba vòng rồi chống tích trượng đứng nhìn, mà không dám đảnh lễ vì “sanh tử trong tâm” chưa giải quyết được!!!
Sanh tử chưa giải quyết được, chẳng thể buông niệm này để làm việc khác, cho dù đó là đảnh lễ!!! Sự việc trên của Đại Sư, tốt xấu, hay dở... chúng ta chưa bàn đến. Chỉ một chuyện, chưa giải quyết sanh tử chưa buông niệm này, cũng đã đủ để chúng thấy rằng, người xưa tu học “miên mật” như thế nào.
Hôm nay, HĐ chúng ta may mắn thấy rõ từng chặng đường mà mình đã, đang và sẽ đi, “trên tay lại có bó đuốc dẫn đường”. Cái may mắn hôm nay, không dễ mấy người trên đời có được. Nếu trong đời này, không nhân cái may mắn đã có, tận dụng thời cơ để “biến sự may mắn này thành hiện thực”, thì vị lai “phỏng cái may mắn có đến lần thứ hai hay không”???
2. LỜI TÂM HUYẾT
Các bạn!!!
Với bản thân, có thể các bạn không quan tâm. Nhưng… biết bao nhiêu người chung quanh đang còn khổ phiền não, mê lầm, ta có thể làm ngơ được hay sao??? Hy vọng mọi người tận tâm tận lực tu hành, không vì mình thì cũng vì người. Cứu ta thì dễ, nhưng còn những người chung quanh thì thế nào đây???
Muốn cứu người, phải có trí tuệ. Mà “trí tuệ chẳng phải từ trên trời rơi xuống”. Nó là…“cả quá trình tích luỹ kiến thức, miệt mài tư duy và rèn luyện tự thân”.
Nếu không thực hiện những điều này ngay từ bây giờ, đến khi nào… mới thành tựu???
Lời tâm huyết, mong các HĐ tự xét!!!
(17-09-2014)
Tản Mạn Về… Duy Tuệ Thị Nghiệp
Mọi thứ đều có thể tan hoại theo quy luật vô thường, chỉ có trí tuệ mới tồn tại vĩnh hằng. Vì thế Phật dạy “Duy Tuệ Thị Nghiệp”, có nghĩa người tu hành lấy trí tuệ làm sự nghiệp.

Mọi thứ đều có thể tan hoại theo quy luật vô thường, chỉ có trí tuệ mới tồn tại vĩnh hằng. Vì thế Phật dạy “Duy Tuệ Thị Nghiệp”, có nghĩa người tu hành lấy trí tuệ làm sự nghiệp.
Mọi sự nghiệp, phải bỏ sau tám mươi năm đời người ngắn ngủi. Duy "Trí tuệ" còn sống mãi với thời gian.
- Quý vì, có thể đưa chúng sanh thoát khỏi trầm luân.
- Không mất vì, có thể giúp hữu tình tìm cái ngàn năm khó gặp!!!
Người ngu:
Chạy lung tung để tìm cầu phiền muộn.
Chẳng thể thoát ra ngoài được mất hơn thua.
Lúc cuối đời vẫn chưa chán ganh đua.
Bao khốc liệt, xin đem về...dưới...ấy!!!
Vì thế Phật dạy:
“Pháp hữu vi như huyễn, bèo, sương, ảnh.
Sau cuộc hơn thua, là một đống xương tàn.
Trước mặt người, là hố thẳm thênh thang.
Hãy dừng lại, quay đầu rời biển khổ”!!!
Người trí:
Người có trí chỉ cầu mong Giác Ngộ.
Sống một đời trong đạo vị thanh cao.
Hy vọng gì giữa cuộc thế chiêm bao.
Ném chén rượu cảnh, khoanh chân ngồi…chóc...ngóc!!!
Thanh tịnh thì:
Như con nhạn bay giữa từng trời không mỏi.
Ngắm cuộc đời qua sương khói chiều thu.
Như rừng cao nghe gió hú giữa ngàn mây.
Nghe tiếng à ơi từ cõi nào...xa...vắng!!!
(05-2011)
Về… Chánh Tư Duy
Chánh tư duy là, khi suy nghĩ như pháp đến rốt ráo thấu triệt một vấn đề hay một nghĩa lý, tư duy cũng theo đó mà tịch diệt và an lạc hiện khởi.

Chánh tư duy là, khi suy nghĩ như pháp đến rốt ráo thấu triệt một vấn đề hay một nghĩa lý, tư duy cũng theo đó mà tịch diệt và an lạc hiện khởi. Hiện tượng này báo cho hành giả biết rằng, ta đang tư duy đúng hướng.
Vọng tâm như thị trường, ý thức như nhà sản xuất. Khi thị trường có nhu cầu, nhà sản xuất sẽ cung cấp sản phẩm của mình, một khi thị trường không còn nhu cầu, nhà sản xuất sẽ ngưng cung cấp.
Cũng như vậy, một khi tâm không có nhu cầu, ý thức sẽ ngưng hoạt động, không cung cấp các sản phẩm nghĩ suy của mình, dần dần thức tịch diệt, không làm chức năng sinh pháp. Đến khi thức hoàn toàn không sinh pháp, thức trở thành trí, “hay quên” là dấu hiệu của giai đoạn chuyển đổi này. Giống như những sản phẩm không còn phù hợp thị trường bị ngưng sản xuất, muốn tồn tại nhà máy phải tạo ra những sản phẩm mới, phù hợp với người tiêu dùng.
“Thức” cung cấp những sản phẩm đảo điên, “trí” cho ra những hiểu biết sáng suốt, do đó khi thức diệt, những hiểu biết hay nhớ nghĩ không cần thiết sẽ không còn hiện khởi. Vì thế, trong giai đoạn nào đó, nếu tu hành đúng chánh pháp, người ta thường có cảm giác như hay quên. Điều này không sao, một khi trí trưởng thành, trí sẽ đảm nhận công việc trước đây của thức, một loại công việc mới không do nghiệp chi phối. Dấu hiệu của nó là, khi khởi tư duy hỷ lạc sẽ sanh, hiện tượng này trong Phật đạo gọi được thiền, một cách nói khác của giác quán.
Có được trí tuệ, hành giả sẽ làm chủ “ý căn”, muốn tư duy thì tư duy, không muốn thì thôi, những suy nghĩ vu vơ sẽ tự mất, đây là dấu hiệu của “vọng tưởng” tịch diệt, nhường chỗ̃ cho “định tâm” xuất hiện.
Khi không cần thiết, tâm và ý sẽ bất động, chính vì thế các kiến giải phi thời, không đương cơ sẽ không xuất hiện. Nói khác đi, ngã đã tịch diệt, hành động muốn chứng tỏ về mình không còn nữa.
Nghĩ suy và tuyên thuyết đúng thời, lời nói sẽ có trọng lượng dễ đến tai người nghe vì nhiều lợi ích, những lời nói từ đây phát ra sẽ làm cho mình và người thanh tịnh. Giai đoạn này mới thật sự được coi là thí pháp, một trong những hình thức của bố thí Ba La Mật.
Bố thí Ba La Mật là những hành động xuất phát từ tâm ý thanh tịnh giải thoát, không còn bóng dáng của ngã và mong cầu lợi ích cho riêng mình. Biểu hiện của Ba La Mật tâm là, chấp nhất thường thấy của phàm phu không sinh, ngữ ngôn không kẹt tứ cú.
Tứ cú là những câu nói phát ra từ nội tâm dính mắc, dùng thế luận để kiến giải hết thảy mọi vấn đề, những hành giả như vậy tâm chưa thật sự thanh tịnh và chưa thật sự hết ngã. Khi phát biểu, lời nói của họ nhằm bảo vệ chính mình hơn là vì người!!!
Do vậy, căn bản để thành tựu những điều này là dừng vọng tưởng, tiêu thất tự ngã, loại thức ra khỏi các căn. Chỉ nhớ những điều cần nhớ, biết quên những điều đáng quên, chỉ nghĩ suy những điều cần nghĩ suy, chỉ nói những điều cần nói, biết im lặng khi cần im lặng, nói hay im đều thanh tịnh, nói hay nín đều vì người. Được như vậy; đi, đứng, nằm, ngồi, thức, ngủ, nói, nín... đều không rời đạo tràng. Ở đâu cũng tu được, làm gì cũng là tu. Không biết, không thấu suốt những điều này cho dù tối ngày ngồi kiết già cũng chỉ là người ngồi kiết già cho chúng nhìn thấy ghê chơi, lợi ích không lớn!!!
Những điều nói trên, nhằm giúp các bạn có được một cái nhìn khái quát về quá trình thay thức bằng trí, một lô gich chuyển biến từ vọng đến chơn, từ phiền não đến bồ đề, từ kẹt mắc đến giải thoát, từ kiến giải đến thuyết pháp, từ ngã đến tứ vô lượng tâm, và từ phàm phu đến thánh quả...
(04-2011)
Cách Ly "Tâm" Để ..Trị Bệnh "Phiền Não"

Đa dạng và phong phú trong cách thức tu tập để có thể hoà mình vào đời sống thường nhật, không tách rời bản thân ra khỏi sinh hoạt xã hội mà vẫn thành tựu những gì cần thành tựu trong Phật đạo, là một trong những nét tu học đặc trưng của HĐ Lý Gia!!!
Để đáp ứng các yêu cầu trên, Lý Gia trang bị cho HĐ của mình, mỗi người một cây đuốc giáo pháp vừa đủ đối với căn tánh từng người, sau đó chỉ cho họ mục tiêu cần phải đạt đến trong giai đoạn trước mắt... Cuối cùng, khuyến khích mỗi người tự soi sáng cho chính bản thân bằng cây đuốc đã có trên tay và bước tới!!!
Chính nhờ mỗi người một cây đuốc, một mục tiêu, một phương pháp, một đời sống, một nỗ lực... Nói chung, không ai giống ai... Nhưng tất cả những thứ ấy, đã tạo nên các hình thức tu tập đa dạng, phong phú trong HĐ Lý Gia!!!
Đối với HĐ Lý Gia, bất kì hoàn cảnh nào, điều kiện ở đó là gì, thuận cảnh hay nghịch duyên, v.v... Khi có cây đuốc trên tay, họ đều có thể tự soi sáng rồi biến những hoàn cảnh ấy thành đối tượng quán chiếu, khắc phục phiền não, lậu hoặc và đưa đến giác ngộ!!!
Chính sự linh hoạt trong cách tu tập, chính cách ứng xử linh động trong mọi hoàn cảnh... đã giúp HĐ Lý Gia có thể thiết lập đạo tràng tu học ngay giữa đời thường, mà không cần đến một trú xứ nhất định hay điều kiện sinh hoạt đầy đủ... Việc linh hoạt trên, đã đem lại những kết quả tích cực đối với HĐ Lý Gia trong thời gian qua!!!
Ngoài việc tu tập để có những thành tựu nhất định cho tự thân, Lý Gia còn đưa ra một yêu cầu khác đối với HĐ của mình, đó là: Tạo cảm hứng tu tập và lan toả cảm hứng ấy đến những người chung quanh...!!! Để thực hiện thành công yêu cầu này, các bài viết kể chuyện tu hành, những dòng tâm sự nhằm khuyến tấn bạn đồng môn... cho đến các buổi sinh hoạt trực tuyến do chính HĐ Lý Gia tự chọn đề tài, rồi trình bày trước đại chúng và đại chúng góp ý, đặt câu hỏi, phản biện, v.v... cũng được thực hiện thường xuyên!!!
Nói chung, đa dạng hoá phương pháp tu học, tạo cảm hứng và lan toả cảm hứng ấy đến những người chung quanh... đã giúp HĐ Lý Gia cho dù đang ở nơi đâu, đang làm việc gì, v.v... Cũng có thể cháy hết mình vì công việc... Cháy hết mình vì mục tiêu tu tập trước mắt!!!
(29-03-2020)
Pháp Hộ Trì Tứ Gia Hạnh
Tứ gia hạnh gồm bốn pháp, giúp người tu hành bảo vệ và trưởng dưỡng thành quả giác ngộ.

Các bạn!!!
Giác ngộ rất quan trọng đối với người tu hành trong Phật đạo. Vì thế, Phật đạo còn được gọi là Đạo Giác Ngộ...
Giác ngộ ban sơ, là lúc người tu hành trong Phật đạo đặt một chân vào thế giới mới, gọi là xuất thế. Vì là lần đầu tiên đặt một chân vào cảnh giới xuất thế, nên tất cả đều mới lạ. Để làm quen với cuộc sống ở đây, và giữ gìn thành tựu này, phải biết cách hộ trì, một trong những pháp hộ trì tối ưu là Tứ gia hạnh.
Tứ gia hạnh gồm bốn pháp, giúp người tu hành bảo vệ và trưởng dưỡng thành quả giác ngộ. Giống như từ quả trứng, để cho ra con gà, quả trứng này phải được chăm sóc đặc biệt, bất kỳ một lỗ̃i nhỏ nào cũng có thể làm cho quả trứng hư thối... Bốn pháp như sau:
1. NOÃN VỊ.
Noãn là cái trứng. Người tu hành khi vừa giác ngộ, giữ gìn sự giác ngộ này giống con gà giữ cái trứng. Giác ngộ ban đầu như là cái phôi, không giữ gìn đúng phép sẽ bị hư hoại
2. NHẪN VỊ.
Muốn cái trứng này thành hình, phải dùng sức nhẫn để gia bị. Nhẫn có hai thứ là: Nhu thuận nhẫn và Âm hưởng nhẫn. Hai nhẫn này chính là thiền và định, giúp cái phôi kia thành tựu.
Âm hưởng nhẫn: Trong thấy nghe hay biết, người tu hành dùng sức giác để quán sát lỗ̃i họa của thấy nghe, không cho các căn duyên nơi trần cảnh để sinh pháp như người đời. Hành động này giúp Tiền ngũ thức trở về chỗ̃ đồng gọi là “Thành sở tác trí”.
Thực hành như vậy trong tứ oai nghi (đi, đứng, ngồi, nằm), bây giờ ý thức không duyên nơi trần cảnh mà quay trở về nội tâm, lặng lẽ quan sát nội tâm gọi là “Diệu quan sát trí”. pháp tu này gọi là Tỳ Bà Xá Na.
Nhu thuận nhẫn: Đầu hôm, giữa khuya, gần sáng đưa tâm thuận theo chỗ̃ đã giác ngộ. Quán sát sự vắng lặng của tâm ý, hỷ lạc khinh an sẽ sanh, các thiền chi xuất hiện. Sự xuất hiện các thiền chi làm thay đổi tâm sinh lý để người tu hành thuận theo dòng Giác. Khi các thiền chi tự xả, hành giả phát hiện “bản lai tâm này thanh tịnh, chưa từng có ngã” gọi là Ngộ.
Lúc này Mạt na thức không chấp lấy A Lại Da để sinh ngã, mà hoạt động độc lập gọi là “Bình đẳng tánh trí”. A Lại Da không bị ngã chi phối, nhìn nhận sự việc như gương sáng soi cảnh duyên, gọi là “Đại viên cảnh trí”. Pháp tu này gọi là Xa Ma Tha.
Sự thay đổi tâm sinh lý này cực kỳ quan trọng, nó sẽ giúp thân tâm hành giả thích nghi với đời sống mới của một vị đã giác ngộ. Giống như con cá nước ngọt đã làm quen với môi trường nước mặn, nếu không được thích nghi và trở thành tập quán mới, con cá sẽ chết hoặc quay trở về với ao hồ nước ngọt, nơi đã sinh ra mình, gọi là thối chuyển.
Lâu dần, con cá đã thích nghi, có thể di chuyển từ nguồn nước ngọt đến nước mặn hay ngược lại mà không hề trở ngại, gọi là tự tại. Điều này sẽ giúp hành giả khi giáo hóa “Biết rõ tâm người”. Trong kinh gọi là: Tâm tham biết có tham, không tham biết không tham, hành tâm biết hành tâm, đại hành tâm biết đại hành tâm, tâm si biết có si… Thành tựu hai thứ Nhẫn trên, gọi là “Vô Sanh Pháp Nhẫn”.
3. ĐẢNH VỊ.
Đảnh là cái đỉnh, như đỉnh núi. Người tu hành đưa sự giác ngộ đến chỗ̃ cao nhất trong đời sống, làm thành cao trào tu tập. Đỉnh cao này giúp hành giả dùng trí tuệ tự thoát ra khỏi ràng buộc của "Đỉnh núi Tu Di" ba cõi.
Nếu không giác ngộ thật sự và giác ngộ này không được đưa lên tột đỉnh, trở thành cao trào, hành giả không thể tự thoát khỏi đỉnh núi để đến với hư không...
Giống như một người đứng trên đỉnh núi, cho dù thân đã ở trong hư không, nhưng da bàn chân vẫn còn dính trên đỉnh núi, không thể tự vượt thoát được.
4. THẾ ĐỆ NHẤT VỊ.
Thành tựu này là thế gian đệ nhất. Đây là cảnh giới cao tột đối với thế gian, thuộc về vô vi, thế gian không thể suy lường mà biết được, nên gọi là Thế đệ nhất. Đến đây, coi như quả trứng đã nở ra con gà con khoẻ mạnh, với đời sống mới, con gà con sẽ trưởng thành theo thời gian...
Mong rằng, những lời giải thích ngắn ngủi này có thể giúp các bạn thực hành và trưởng dưỡng, không để cho “quả trứng giác ngộ” trở thành “quả trứng thối”!!!
(12-2010)
Tâm, Tâm Đà La Ni (Đại Bi Tâm)
Phật Giáo lấy thanh tịnh tâm làm căn bản tu học. Mọi nghĩa đều quy về nghĩa này nên gọi là đệ nhất nghĩa, tức chỉ có nghĩa này mới là tối thắng không có nghĩa khác cao hơn.

Thế nào là Tâm Đà La Ni?
Lời giải thích về Tâm và Tâm Đà La Ni của vài HĐ rất đúng, có xu hướng thiên về đệ nhất nghĩa. Bám chặt giải thích này sẽ phát sinh công đức. Nếu tư duy thấu suốt chiều sâu sẽ phát sinh trí tuệ vô lậu.
- Phật Giáo lấy thanh tịnh tâm làm căn bản tu học. Mọi nghĩa đều quy về nghĩa này nên gọi là đệ nhất nghĩa, tức chỉ có nghĩa này mới là tối thắng không có nghĩa khác cao hơn.
- Tuy nhiên, nếu biết phát huy nghĩa căn bản này đến tột cùng thì trí huệ vô lậu trở thành Đà La Ni, tức Đại Bi tâm. Giống như ngọn đèn, nếu tăng nguồn sáng đến cực độ, ngọn đèn này có thể tự chiếu và chiếu vạn vật. Đây là hình tượng của Niết bàn Ba thừa và Viên giác của Chư Phật. Tự chiếu hoặc chiếu giới hạn gọi là mặt trăng Ba thừa, nếu chiếu không cùng tận gọi là mặt trăng Viên Giác.
- Trong Phật pháp, chữ Đẳng có nhiều tầng nghĩa. Sơ cơ người tu hành phải tu cho tâm được Bình Đẳng, tức còn thấy mình và người bình đẳng
- Khi tâm hoàn toàn thanh tịnh thì chữ Bình mất đi (mất sự so sánh) chỉ còn nghĩa Đẳng, đây là cảnh giới giải thoát, sắp duyên vào trí tuệ chơn thật.
Vị này rời tứ cú, tâm và lời nói đồng không kẹt mắc, viên mãn vô lậu tâm, trí huệ và đại bi phát sinh có thể làm lợi ích cho chúng sanh, ngôn thuyết của vị này là quang minh, ai tiếp cận sẽ hưởng được mùi vị thanh lương; Giống như ban đêm gặp trăng sáng, gọi là Vô Đẳng Đẳng, vị này có thể tuyên “Chú” để giúp người sang sông.
Viên mãn công hạnh, như trăng rằm, thân tâm ngôn thuyết đều có thể chiếu gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng. Sức chiếu đồng Chư Phật xưa nên gọi là Chánh Đẳng, không còn sức chiếu nào sáng hơn nên gọi Vô Thượng.
Có thể tóm tắt:
Sơ cơ tu để Bình Đẳng.
Thanh tịnh (giải thoát) rốt ráo sẽ được nghĩa Đẳng.
Tích tụ viên mãn Tâm Đà La Ni tiến về cảnh giới Vô Đẳng Đẳng.
Tự mình giác ngộ viên mãn cũng giác ngộ người viên mãn, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Cũng có thể hiểu:
Tu tập để được chữ “Như vầy” (tự Như). Phát nguyện rộng sâu và thực hành “lời nguyện này” (tập hạnh Như Lai). Nguồn sáng tương ưng với vật tiếp cận (tu hạnh Ứng Cúng bình đẳng Bố Thí Ba La Mật). Có sức chiếu không cùng (Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc…)
Mười danh hiệu Phật từ Như Lai, Ứng Cúng… Phật, Thế Tôn là chuỗ̃i quá trình của công đức và trí tuệ huân tập cho đến viên mãn.
Những điều trên, một phần đáp ứng câu hỏi của HĐ về nghĩa Thanh tịnh (như vầy) và làm sao phát sinh đại bi. Muốn phát sinh bi tâm (từ bi) phải phát nguyện rộng sâu cứu độ chúng sanh. Khi nguyện chín mùi Bi Tâm sẽ hiện.
Trong kinh Lăng Già Phật dạy: “Khi vào địa, Bồ Tát nhớ lại nguyện xưa” hoặc Phật nhắc: “Ông có nhớ lại nguyện xưa”. Cũng có thể hiểu, đối với các Bồ Tát, đại bi là hệ quả tất yếu của thanh tịnh tâm, Bồ Tát khác Thanh Văn ở điểm này.
Đừng có lo, cứ tu tập cho Thanh Tịnh, Đại Bi sẽ hiện vì đây là nguyện xưa. Nếu không hiện, Phật sẽ nhắc. Vài dòng cùng các bạn. Tư duy những nghĩa trên, bầu trời Phật pháp sẽ rộng mở.
(10-2010)
Nhục Thân Phật Đa Bảo
Mình có thắc mắc: “Khi Phật Thích Ca thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, do nghĩa nào mà Phật Đa Bảo mang Nhục thân để trong Bảo tháp đến tán thán nơi nào có thuyết kinh Pháp Hoa, mà không đến bằng Hóa thân hay Pháp thân như ta thường thấy chư Phật và các Bồ Tát phương khác xuất hiện trong các thời thuyết pháp?

Các bạn!!!
Khi ngồi một mình trong quán cà phê, nhìn lại quá trình tìm hiểu Phật pháp của các bạn, đúng là không uổng phí… Giờ này, mọi người say đắm trong ngũ dục và đấu tranh được mất hơn thua… thì các bạn lại tìm vui nơi giáo pháp. Người vận dụng nghĩ suy để cầu thỏa mãn tham dục… thì các bạn lại tìm cách rời xa, và cố gắng nghĩ suy cách nào có thể làm lợi mình lợi người. Khi mọi người trong từng mỗ̃i phút giây đi qua cuộc đời tích góp biết bao phiền não… thì các bạn lại tận dụng từng giây phút hiếm hoi trong bề bộn cuộc sống để tích góp trí tuệ. Và còn rất nhiều điều xứng đáng để ngợi khen hơn thế nữa… nhưng văn tự thế gian đành bất lực. Thôi thì hãy giúp nhau ngày một tốt hơn và cùng nhau tinh tấn để không phụ lòng chư Phật!!!
Các bạn!!!
Đoạn trích kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Lúc đó, Phật bảo ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát:
Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương Đông có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa Bảo. Đức Phật đó tu hành đạo Bồ Tát phát lời thệ nguyện lớn rằng:
Nếu ta được thành Phật sau khi diệt độ, trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng:
Hay thay! Hay thay!
Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng trời, người bảo các Tỳ kheo rằng:
Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thời nên dựng một tháp lớn.
Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng:
Hay thay! Hay thay!”
… khi đọc, mình có thắc mắc: “Khi Phật Thích Ca thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, do nghĩa nào mà Phật Đa Bảo mang Nhục thân để trong Bảo tháp đến tán thán nơi nào có thuyết kinh Pháp Hoa, mà không đến bằng Hóa thân hay Pháp thân như ta thường thấy chư Phật và các Bồ Tát phương khác xuất hiện trong các thời thuyết pháp?”
Xin mời các bạn cùng tham gia giải đáp.
(10-2010)