Tác Phẩm Lý Tứ

Ngôi Nhà Tịnh Độ

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương khi nghe danh hiệu của con, một lòng một dạ nhớ nghĩ đến cõi nước của con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác.

Các bạn!!!

Có HĐ hỏi, làm thế nào để có thể vãng sanh Cực Lạc và những vấn đề liên quan... Mình tạm giải thích như sau:

Cõi Cực Lạc, được Phật mô tả rất cặn kẽ trong kinh A Di Đà. Muốn đến đó, việc đầu tiên là, bạn hãy hình dung, thường xuyên nhớ nghĩ đến hình ảnh quốc độ này như những gì được mô tả.

- Trích lời nguyện thứ 20 của Ngài Pháp Tạng: “Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương khi nghe danh hiệu của con, một lòng một dạ nhớ nghĩ đến cõi nước của con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác”.

- Vì sao, việc đầu tiên của người cầu vãng sanh là phải hình dung, và sau đó là một lòng một dạ (nhất tâm) nhớ nghĩ đến hình ảnh cõi Cực Lạc???

  • Hình ảnh ban đầu của Cực Lạc đến với tâm thức gọi là khí phần. Thường xuyên nhớ nghĩ, đi đứng nằm ngồi đều không quên, không mất gọi là tướng phần hay Chí Thành Tâm. Khi hình ảnh này viên mãn, các nét từ đại cương đến chi tiết đều rõ ràng trong tâm thức, như bức tranh để trước mặt người mắt sáng, gọi là Thâm Tâm. Nếu phát nguyện hồi hướng tâm này đến tất cả chúng sanh, thì gọi là hồi hướng phát nguyện tâm.

  • Người này nếu muốn về cõi Tịnh Độ sau khi bỏ báo thân, do thiện tập nhân là những hình ảnh của Cực Lạc thường nhớ nghĩ đã thành hạt giống trong tâm, chiêu cảm với thiện giao báo là sự ham thích vãng sanh, tập nhân chiêu cảm với giao báo, cõi Cực Lạc hiện ra trước mắt... Cõi Cực Lạc hiện ra trước mắt gọi là thắng khí. Ba giai đoạn từ khí phần, tướng phần đến thắng khí, giống như chuyện chiếc điện thoại di động, từ tưởng ban đầu (khí phần), đến các bản vẽ thiết kế trên máy tính (tướng phần) và sau cùng là một chiếc điện thoại cầm tay ra đời (thắng khí), sự có mặt của chiếc điện thoại chính là quá trình ba nghiệp phần này viên mãn. Nếu không có hình ảnh đầu tiên làm nền tảng trong tâm thì thắng khí sẽ khó hiện khi viên mãn nghiệp báo. Đó là lý do tại sao Phật mô tả rất chi tiết về cõi Cực Lạc, mô tả này chính là gieo ba nghiệp phần vào tâm thức chúng sanh, để người nào ham thích, có thể từng bước thực hiện ước nguyện vãng sanh.

- Về chuyện Cực Lạc ở đâu??? Các bạn có thể tạm hiểu, Cực Lạc chẳng nằm trong ba cõi, cũng không phải ngoài ba cõi. Nếu trong ba cõi thì chẳng phải cõi Phật, còn nếu ngoài ba cõi thì làm sao chúng sanh đến đó được!!!

  • Điều tốt nhất của bây giờ là, nên có một định hướng và những kiến thức cơ bản tốt nhất liên quan đến nơi mình cần đến. Những định hướng đó là: Nơi đó mình có thật sự ham thích? Đã được trang bị một số hiểu biết nhất định về nơi ấy hay chưa? Nơi ấy như thế nào? Có cái gì hay? Vì sao mình phải đến? Đến đó để làm gì? Trả lời được những câu hỏi này, sẽ giúp tự tin hơn, và nhất định chuyến đi sẽ có những bước chuẩn bị hữu ích.

  • Một điều không kém phần quan trọng, đó là: Điều kiện ắt có và đủ để có thể đến được Cực Lạc bao gồm những gì??? Trong bấy nhiêu điều kiện, mình đã đáp ứng được bao nhiêu phần??? Còn thiếu cái gì, cái gì cần phải bổ sung??? Tư duy, tìm hiểu và trả lời thoả đáng những câu hỏi này, sẽ giúp chúng ta có một hành trang vừa đủ, để “đi đến nơi về đến chốn”.

  • Về mười ba pháp quán, theo mình thì có lẽ không nên tùy tiện thực hành, nếu chưa am tường cụ thể những điều cần có của một pháp quán cũng như ý nghĩa của nó.

Tốt nhất, cần tìm một bậc Đạo Sư hướng dẫn, vì những pháp quán như vậy giống như con dao hai lưỡi, có thể đứt tay bất cứ lúc nào. Đây chỉ là ý kiến riêng tư và kinh nghiệm cá nhân. Điều gì không nắm chắc thì hãy khoan thực hiện, thôi thì cứ nghiên cứu kinh điển và thực hành các pháp đơn giản rồi sau đó hãy tính.

  • Nếu muốn gìn giữ tâm không cho tán loạn thì có nhiều cách, đâu nhất thiết phải quán mặt trời lặn. Ví dụ như niệm Phật hoặc quán hơi thở chẳng hạn.

(09-2010)

 1. NHẤT TÂM… (MỘT LÒNG MỘT DẠ…)

- Tâm bất loạn là thường hay nhớ nghĩ cõi Cực Lạc và một lòng muốn được đến đó. Có nghĩa những cảnh tốt lành của Cực Lạc thường xuyên ở trong tâm. Nếu tâm nghĩ điều khác thì phải lập tức quay trở lại điều mình cần nhớ. Đạt được cảnh giới này sẽ tương ưng bất thối. Khi nào tâm không còn điều khác làm cho chi phối gọi là “Bất loạn”. Người đắc bất thối tâm, gọi là A Bệ Bạt Trí (Avevatthi).

- Nhất tâm, hiện nghiệp sẽ dừng, tương đương một Tu Đà Huờn, vì một Tu Đà Huờn cũng không thối chuyển về cõi Dục. Người được nhất tâm, hiện nghiệp đã dừng cũng không quay về cõi Dục, tức không chảy vào dòng đời. Nếu không chảy vào dòng đời, thì nhất định chảy vào dòng Thánh. Chảy vào dòng Thánh gọi là nhập lưu.

Các bạn!!!

Phật pháp là pháp xả. Phật dạy: “Phật pháp còn phải xả hà huống phi pháp” (kinh Kim Cang). Kẻ trí không nên rơi vào cực đoan.

- Mỗ̃i lời Phật dạy đều là phương tiện để khiến người thanh tịnh bản tâm, giống như mỗ̃i lời của bà mẹ đối với đứa con, dù dỗ̃ dành hay dọa nạt đều mong cho nó ngủ ngon... Phật đạo cũng như thế, tùy căn, tùy cơ mà nói pháp phương tiện. Đừng mang chiếc bè trên vai khi đã sang sông! Chiếc bè chỉ có thể giúp mình qua sông nhưng nếu thương tiếc công lao của nó mang vác trên vai, thì chiếc bè kia chính là trở ngại rất lớn cho hành trình.

- Phật thuyết các thứ cảnh giới cũng chỉ khiến cho bà Vi Đề Hi chứng quả Vô Sanh, thanh tịnh bản tâm, không sanh tâm khác. Cho nên kinh Quán Vô Lượng Thọ cũng là Kim Cang vậy. Hãy nhìn ngón tay để thấy mặt trăng. Ngón tay không phải mặt trăng, người thấy mặt trăng nên lập tức rời ngón tay!!!

(01-09-2010)

2. VỀ… “PHƯƠNG PHÁP VÃNG SANH”

 Như, thế nào là nhất tâm bất loạn, trưởng dưỡng tâm, kỹ thuật tu hành để thành tựu Tư Lương Vị (hành trang tối thiểu giúp dễ dàng rời bỏ cõi này)... Mình xin giải thích các vấn đề nêu trên như sau:

 2.1. Nhất Tâm Bất Loạn

Lòng không tạp loạn, được hiểu là chỉ một tâm hướng về điều gì đó, không có tâm khác. Tức người này chỉ giữ trong lòng điều mình đeo đuổi, không có mong cầu khác.

Muốn thành tựu nhất tâm bất loạn, phải có quyết tâm cao, coi việc tu hành là lẽ sống, không cho chi phối hay lay chuyển bởi tác động ngoại duyên. Khi có ý nghĩ thối chuyển, hay gặp nghịch duyên, phải tức thời củng cố niềm tin và tự quở trách mình. Giống như một người quyết tâm đi từ A đến B, một lòng một dạ muốn đến điểm B, trên đường đi dù xảy ra bất kỳ tình huống nào, khó khăn cách mấy, bao nhiêu cản ngại, người này cũng tìm cách vượt qua. Một khi chưa đến được điểm B thì chưa thôi dứt lòng mong muốn này.

2.2. Trưởng Dưỡng Tâm

Là cách nói khác của “Một lòng một dạ”. Một lòng một dạ nuôi dưỡng hoài bão này không để phai lạt, không để bất kỳ lý do gì làm cho tâm này thối thất.

2.3. Tư Lương Vị

Cũng giống bất kỳ hình thức vãng sanh nào, người muốn vãng sanh Cực Lạc hoặc vãng sanh các Thiền Thú đều phải chuẩn bị hành trang tối thiểu cho chính mình, gọi là Tư Lương Vị (gồm mười hai món: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc)...

Tư Lương Vị, có hai công dụng: Một là, tu tập thành thục các pháp giúp đoạn dứt những ái luyến từ thân tâm và thế giới này... Hai là, trang bị những hiểu biết cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận và thích nghi với quốc độ mới!!!

2.3.1. Tứ Niệm Xứ.

  • Đối với thân: Phải biết nhàm chán thân thai sanh, để cầu thân hoá sanh.

  • Đối với cảm thọ: Phải biết xa lìa các cảm thọ thấp hèn của cõi này, để cầu thượng diệu lạc thọ của bậc Thượng Thiện Nhân.

  • Đối với tâm: Phải biết từ bỏ các thứ tâm hạ liệt, loạn động, vô thường, phiền não rỉ chảy của phàm phu... Một lòng một dạ nghĩ nhớ Cực Lạc Quốc, không sanh dị tâm

  • Đối với các pháp: Phải nhận thức rằng, pháp thế gian chẳng có chân lý... Thường nhớ nghĩ ý nghĩa ba pháp Tam Bảo xuất thế (niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng).

2.3.2. Tứ Chánh Cần.

Chưa nhàm chán thân này, chưa ghê sợ cõi này là ác pháp. Ác này phải từ bỏ.

Chưa một lòng một dạ ham thích Phật quốc độ, tham đắm duyên ba cõi, tham đắm này là ác pháp. Ác pháp này nhất định không cho tăng trưởng.

Thường xuyên nghĩ nhớ những điều tốt đẹp của Phật quốc, nghĩ nhớ này là thiện pháp. Thiện pháp này nhất tâm giữ gìn.

Trong tâm không rời Phật cảnh, thức ngủ không để quên, không quên Phật cảnh là thiện pháp. Thiện pháp này phải làm cho tăng trưởng từ nay đến khi thân hoại mạng chung.

2.3.3. Tứ Như Ý Túc.

- Khi năm căn không còn ham muốn trần cảnh, biết duyên cõi này đã tận... Khi đủ duyên lành, có thể thẳng đến Tịnh Quốc Độ như ý.

- Thức, ngủ chẳng quên tâm nguyện vãng sanh... Biết rằng, sức tinh tấn này giúp ta thành tựu mong ước vãng sanh như ý.

- Tâm thức không còn ham ưa các lậu (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu)... Biết rằng, tâm này đã chuyên nhất, chỉ cần đủ duyên sẽ làm bạn với các bậc Thượng Thiện Nhân như ý.

- Quan sát ba cõi như nhà cháy, không mau ra khỏi sẽ phải khổ đau... Cõi Phật ba thời đều an vui, nếu được vãng sanh như con gặp mẹ... Quan sát thuần thục hai điều này, thân tuy chưa làm công dân Phật quốc, nhưng tâm thức đã đủ công đức trang nghiêm, có thể lại qua nơi đó một cách như ý.

Tóm lại, Tư Lương Vị là hành trang tối thiểu của người cõi này, nó có thể giúp người cõi này đi đến bất kỳ cõi nào trong Phật đạo. Còn Kiến Đạo Vị (Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần) và Tu Đạo Vị (Bát Thánh Đạo Phần)... là những môn học đặc thù của mỗ̃i cõi, người được vãng sanh, đến đó sẽ tiếp tục học tập những thứ này... Vì thế, kinh A Di Đà có dạy: "Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.

Tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, v.v...Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!

Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ...”

(09-2010)

3. CÁCH THỨC (KỸ THUẬT) TU HÀNH

Trong 48 điều nguyện của Ngài Pháp Tạng, trích điều nguyện thứ hai mươi: “20. Nếu con được thành Phật, mà chúng sinh trong mười phương khi nghe danh hiệu của con, một lòng một dạ nhớ nghĩ đến cõi nước của con, tu trồng các công đức, dốc lòng hồi hướng, cầu sinh về cõi nước con mà không được vừa lòng, thì con chẳng trụ ở ngôi Chính giác”… nói rất rõ cách thức để được vãng sanh về quốc độ của Ngài, nhưng không thấy nói đến dụng công tu hành mà người tu Tịnh Độ thường hay làm, gọi là hành trì… Xin Hỏi: Hành trì để được vãng sanh là thực hiện theo yêu cầu của điều nguyện này, hay hành trì giống như mọi người đang làm?

Các bạn!!!

- Lời nguyện được trích ở trên, có lẽ đã đủ để người cầu vãng sanh thực hiện ước nguyện của mình. Lời nguyện này, chính là điều kiện bắt buộc do ngài Pháp Tạng, chủ nhân cõi Cực Lạc đặt ra, những ai thực hiện đầy đủ các yêu cầu đó, nhất định sẽ được vãng sanh.

- Tu hành để được vãng sanh, là thực hiện trọn vẹn các yêu cầu của chính chủ nhân nơi đó đề ra, chứ không phải thực hiện một yêu cầu khác do một ai đó định đặt. Giống như anh muốn định cư ở nước của tôi, anh phải đáp ứng các điều kiện do chính phủ của tôi đề ra, nếu anh làm khác đi, hoặc không thoả mãn các yêu cầu đã nêu, chắc chắn chúng tôi không tiếp nhận.

- Thông thường, người tu hành trong Phật đạo luôn chấp nhất rằng, đã là người tu, thì phải “Tu” một cái gì đó. Mà họ quên rằng tu là giác ngộ, là thấu suốt những điều chỉ dẫn của Phật và ứng dụng sự giác ngộ đó vào đời sống cho thuần thục.

Giống như người trồng lúa, sau khi hiểu rõ (giác ngộ) kỹ thuật canh tác, người này liền ứng dụng những hiểu biết đã học vào công việc gieo trồng. Làm như vậy gọi là người làm ruộng, không phải làm ruộng là tối ngày đọc các kỹ thuật canh tác, rồi sau đó cầu một cách thức gieo trồng nào khác ngoài những hiểu biết đã có và đã được hướng dẫn. Cụ thể hơn, giống như người lái xe, sau khi học xong các kỹ thuật điều khiển chiếc xe và am tường luật lệ giao thông, người này ứng dụng những điều đã học vào công việc điều khiển chiếc xe. Điều khiển đến thuần thục, người này không cần phải lẩm nhẩm các luật lệ và kỹ thuật lái xe nữa. Khi lái xe thuần thục, các điều đã học trở thành nhất tâm, tạo ra sự phản xạ nhất định khi xe lăn bánh trên đường, thì chuyện “thượng lộ bình yên” là tất nhiên. Nếu làm khác đi, thì... thì... thì nhất định sẽ “thượng... lộ... nằm... im”!!!

- Cũng vậy, người tu Tịnh Độ sau khi đặt trọn niềm tin vào cảnh giới Cực Lạc, người này thực hiện các yêu cầu để được vãng sanh như phát Bồ Đề tâm, tu trồng công đức và hồi hướng những gì đã có, thường xuyên nhớ nghĩ cảnh giới Cực Lạc gọi là niệm… Ứng dụng những điều này đến độ nhất tâm, là đã đạt yêu cầu vãng sanh, và làm như vậy gọi là tu hành. Không phải tu hành là xa rời những điều trên, để cầu một hành động nào khác nhằm thoả mãn cái...ngã...của...mình!!!

- Nếu có một cách thức nào đó để được vãng sanh ngoài những điều nguyện của ngài Pháp Tạng thì Ngài Pháp Tạng chủ cõi Cực Lạc có lẽ không đến nỗ̃i quên khi phát đại nguyện, để người đời sau bổ túc cho... đủ!!!

(7-09-2010)

4. LÀM THẾ NÀO ĐỂ…“TU TRỒNG CÔNG ĐỨC”???

Cũng liên quan đến đề tài vãng sanh... Có một HĐ hỏi: Làm thế nào để… “tu trồng công đức”?... Nhân đây, xin giải thích những vấn đề liên quan đến hai chữ công đức và thiện ác của đạo xuất thế như sau:

- Chữ “công đức” trong Phật Giáo nhằm chỉ cho một thứ giá trị nào đó khi thân, khẩu, ý hoàn toàn thanh tịnh... Nói khác hơn, hành động của thân khẩu ý thanh tịnh thì phát sinh công đức.

- Hành động tạo tác nào có năng sở (có chủ thể, có đối tượng của chủ thể), có toan tính, có lý do, có mong cầu, có một ý nghĩa nào đó… đều cho ra phước báo hay tội báo, gọi nôm na là tội phước.

Người tu hành thường đánh đồng hai chữ tội phước thành thiện ác. “Thiện ác”và “tội phước” theo quan niệm thế gian không khác, nhưng đối với “pháp xuất thế”, hai khái niệm thiện ác và tội phước không giống nhau. Ta có thể hiểu ý nghĩa của hai khái niệm này trong đạo xuất thế như sau:

- Hành động nào xuất phát từ thanh tịnh, giải thoát hay hướng đến thanh tịnh, giải thoát cho mình hoặc cho người được gọi là “thiện”, hành vi này cho ra công đức.

- Hành động nào không xuất phát từ các ý nghĩa nêu trên, đều cho ra “tội hay phước thế gian”. Đạo xuất thế gọi chung là “ác”.

  • Không kể người tu Tịnh Độ hay tu Thiền, tất cả người tu hành trong Phật đạo đều cần phải thấu suốt ý nghĩa công đức và làm như thế nào để phát sinh công đức. Chưa thấu suốt hai chữ này, mọi hành vi đều không thoát khỏi tội phước thế gian, nếu thấu suốt ý nghĩa công đức thì làm gì, ở đâu cũng đều phát sinh công đức.

 - Tất cả các cõi xuất thế, đều dùng chung một giá trị thanh toán đó là công đức. Giống như ở đời người ta dùng tiền bạc, vàng để làm giá trị trao đổi gọi là “kim ngân bản vị”... Ta có thể hiểu, ở các Phật quốc dùng “công đức bản vị” để thanh toán. Thiên quốc dùng “phước đức bản vị”. Địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ… dùng “ác đức bản vị”.

- Thấu suốt điều này và giác ngộ chân thật thì, gieo trồng mọi thứ bất kỳ đều sinh công đức, không kể nhân nào. Cho nên, ở Cực Lạc mới có chuyện tréo ngoe là, cây vàng sanh trái bạc, cây pha lê sanh trái mã não, cây san hô sanh trái xa cừ… Không giống như phước báo thế gian cây xoài sanh trái xoài, cây mít sanh trái mít, người sanh người, gà sanh gà…

  • Đây là lý do vì sao, trí tuệ của Phật đạo có thể biến “củ ấu sanh hoa sen”. Những chuyện như vậy gọi là “Bất khả tư nghì”!!!

(27-09-2010)

5. TU HÀNH… TRONG CHÁNH PHÁP

Các bạn!!!

Thông thường người tu hành hay tư duy “vô tội vạ”… Không định hướng, không trọng tâm, không chiều sâu và không biết tư duy để được cái gì...??? Nếu tư duy như vậy thì có khác gì người đời suy nghĩ.

Tất nhiên một vấn đề tạm gọi là lớn mà chúng ta đang xâm nhập, đã cho ra kết quả nhất định của nó. “Nan đề” này không dễ một ngày hay một bữa mà người tu hành có thể xuyên thấu được. Nhưng ít ra các bạn đã cho ra những tư duy tốt hơn và có chiều sâu, một thứ chiều sâu cần thiết của người tu hành. Những câu hỏi thuộc loại vừa nêu, ẩn chứa cả bầu trời Phật pháp. Càng tư duy, ngày càng thâm sâu, càng tư duy trí tuệ càng bén. Hãy mài dũa trí tuệ bằng những dòng tư duy như vậy.

Tư duy Phật pháp phải có thú hướng và phải có kết quả của điều mình tư duy. Kết quả đó là gì? Kết quả mọi tư duy trong Phật đạo đều có yếu tố chân chánh gọi nôm na là Chánh tư duy. Như thế nào được gọi là chánh? Chữ chánh trong Phật đạo có nghĩa nhờ tư duy mà mọi chấp mắc trên đời đồng tịch diệt, hay khác hơn mọi thứ kiến chấp đồng thanh tịnh. Tư duy để mất năng sở, tư duy để biết “hết thảy do tâm hiện” kể cả tư duy và kết quả của nó. Giống như một người cầm gươm tự chặt đầu mình, trước khi chặt có người chặt, có đầu để chặt, nhưng sau khi đầu rơi thì tất cả đồng mất hết. Một kết quả nào đó của tư duy, cho dù tốt đến mấy mà chấp chặt, coi đây là “chân lý tối thượng” thì kết quả đó trở thành kiến chấp. Đây là lực cản lớn nhất của người tu hành.

Câu hỏi đặt ra: “Thế nào mới được gọi là Chánh pháp?”

(Từ từ suy nghĩ cho kỹ, “trả lời liền, nhất định sẽ sai”. Khi thấy không còn nghĩa nào tốt hơn rồi hãy trả lời.)

Các bạn!!!

- Thật ra, tư duy một vấn đề của Phật pháp là phương pháp tối ưu để nâng trí tuệ lên một nấc thang mới trong đời sống tu hành. Con đường đến Vô Thượng Bồ Đề là con đường của trí tuệ. Nhờ trí tuệ thấu suốt mà tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh nên trí tuệ tốt hơn. Cứ như vậy, hai thứ tâm và trí hỗ̃ trợ cho nhau để cùng viên mãn.

- Chánh Pháp là cái gì rất rộng lớn thâm u, càng tư duy càng thấy thú vị và càng phát hiện ra nhiều điều mới lạ.

- Tư duy là cách tu thù thắng của Bồ Tát pháp. Trong sáu Ba La Mật (Bố thí, Trì giới, Kham nhẫn, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ), trí tuệ Ba La Mật là tinh hoa của năm Ba La Mật kia. Vì thế muốn thâm nhập sâu vào Chánh pháp không thể không tư duy và không có trí tuệ.

- Các địa trong Phật pháp hơn kém nhau bằng Công Đức và Trí Tuệ, cho nên muốn đạt được chiều sâu nhất định trong Giáo Pháp thì phải không ngừng thanh tịnh bản tâm và tư duy Giáo Pháp… Xin đọc lại bài kệ này:

 “Ðệ tử của Như Lai

Sự nghiệp là trí tuệ

Bất luận quốc độ nào

Tâm vẫn thường thanh

Lậu hoặc(1) tức Bồ đề.”

- Khái niệm “lậu hoặc” này của Thanh văn, nên Thanh Văn tu cho dứt lậu hoặc để tiến về cảnh giới Vô Lậu. Còn Bồ Tát đạo thì tu hành để thường chảy đến chúng sinh các pháp lành, gọi là “quang minh”. Vì thế, Bồ Tát không tu để được Vô Lậu mà phải dùng trí tuệ để biến “Vô Lậu” thành... “Lậu...Vô”, phát ra cái thanh lương!!!

Hỏi: Có phải Chánh Pháp bao gồm tự lợi và lợi tha?

Trả lời: Đúng là Chánh pháp bao gồm cả tự lợi và lợi tha. Nhưng nếu khái niệm Chánh pháp chỉ gồm trong hai điều như vậy thì khái niệm này không rõ ràng. Có vô số câu trả lời thế nào là Chánh pháp. Mỗ̃i người tu hành đều hiểu Chánh pháp theo cách suy nghĩ của mình. Những suy nghĩ như vậy không có gì là sai, nhưng bảo là đúng nhất thì phải còn coi lại.

- Trong giai đoạn tu tập này, có thể nói “Chánh kiến là hòn đảo để mọi người tu hành nương tựa” và Phật tri kiến chính là chánh kiến tối thượng. Nếu nương tựa được nơi đây (Phật tri kiến) thì sẽ không còn nơi nào tốt hơn, và muốn có trí tuệ tối thượng này thì cần tiếp tục “đốt ngọn đuốc trí tuệ” và tiếp tục đi nữa, nhất định sẽ tìm gặp “hòn đảo Phật trí” (cội nguồn của “Phật tri kiến”).

Các bạn!!!

Chỉ một thời gian ngắn, tri kiến, độ thâm sâu, sự tinh tế trong nhìn nhận vấn đề của các bạn đã vượt xa mong đợi, nhất là các bạn đã bám chặt lấy cội gốc Giáo Pháp. Cái hay của Chánh Pháp là như vậy.

- Chữ “Chánh” trong trường hợp này tức mọi lời nói, hành động, v.v… không rời xa Giáo Pháp, không rời xa Giáo Pháp đồng nghĩa việc từng bước thành tựu các yêu cầu của hệ thống Giáo Pháp đặt ra...

Các yêu cầu của hệ thống Giáo Pháp đề ra gồm: Biết khổ, dứt tập, chứng diệt, tu đạo... Không giải quyết tận gốc bốn bước này, các bạn có bay được lên trời thì, Phật Đạo cũng gọi đó là... tà pháp!!!

(09-2010)

-------------------------------------------

(1) Lậu: Rỉ chảy; hoặc: Che mờ

Tác Phẩm Lý Tứ

Quan Niệm (Pháp)… Tu Hành

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Người ta không thể diệt ngã một khi chưa tự giác ngộ rằng mình vô ngã.

Hỏi: Làm sao để diệt ngã?

Trả lời: Ngã không thiệt có thì làm sao mà diệt. Người ta không thể diệt ngã một khi chưa tự giác ngộ rằng mình vô ngã. Vì thế nói diệt ngã không phải nhắm cái ngã mà diệt, mà sau khi giác ngộ vô ngã chỉ nên không khởi cái ngã, tức không chấp thủ một vấn đề gì (một cái gì) hết, không khởi tưởng “có mình trong vấn đề này”. Có nghĩa hoàn toàn tĩnh lặng trước mọi việc dù có xảy ra hay không xảy ra. Tâm như vậy gọi là Vô Ngã.

Khi chưa được vô ngã thì hãy thường xuyên quở trách cái ngã này, và thầm biết rằng nó không thiệt có, chỉ do mê mà hiện khởi.

Tất nhiên được như vậy không phải dễ. Quan trọng là phải thường “Giác ngộ bản lai vô ngã” để tâm như hư không, giống như gió thổi vào đồng trống thì có gió hay không đều vô hại. Nhưng nếu có một vật cản (ngã), gió sẽ làm ngã đổ những gì chướng ngại nó. Ngã cũng vậy, giống như lá cờ trước trận gió lớn, cờ sẽ tung bay.

Hãy cuốn ngọn cờ xuống khỏi cột cờ, không sợ gió thổi. Nếu không, gió sẽ làm ngọn cờ rách te tua (phiền não). Hãy chết cái ngã đi một lần, thì sẽ có đời sống an vui vĩnh hằng.

Hỏi: Gió ở đây có phải là gió ngũ dục hay không?

Trả lời: Đúng là gió ngũ dục.

Hỏi: Có phải nếu lấy “tu hành vì người” cũng sẽ giúp dần dần quên đi mình, giác ngộ chúng sanh vô ngã, và thêm sức tinh tấn?

Trả lời: “Tu hành vì người” là thật nghĩa của tu hành vì mình (Bồ Tát lấy chúng sanh làm tự thể tu tập). Thanh Văn chủ trương vô ngã nên không thể giác ngộ chúng sanh.

Bồ Tát biến Ngã thành Bi, biến Khổ thành Từ, thấy Không thành Hỷ, hiểu Vô Thường nên tâm thường tự Xả. Vì rốt ráo xả nên tâm thanh tịnh, tâm thường thanh tịnh nên gọi là tinh tấn. (Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã = Từ, Bi, Hỷ, Xả).

Hỏi: Một trong những điều kiện cần có và đủ để được vãng sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà là phải dốc lòng hồi hướng. Đây có phải là một cách để tăng trưởng từ bi tâm?

Trả lời: Thanh Văn dốc lòng hồi hướng để thành tựu “Vô Ngã”. Bồ Tát dốc lòng hồi hướng để thành tựu Ba La Mật tâm. Người cầu vãng sanh dốc lòng hồi hướng để rũ bỏ chốn này. Phàm phu dốc lòng hồi hướng để mau thành bậc Thánh. Đại Bồ Tát dốc lòng hồi hướng để thành tựu Phật quả…

Hỏi: Vì sao cõi Cực Lạc còn được gọi là An Dưỡng Quốc?

Trả lời: Gọi là An Dưỡng Quốc vì Cực Lạc chỉ là trạm nghỉ ngơi (trại An Dưỡng). Giống như Niết

Bàn của Ba thừa chỉ là Hóa thành, trạm dừng chân để nghỉ ngơi của người lữ hành trước khi đến Bổn Sở (nơi chốn thật sự của mình). Vì thế Niết bàn Ba thừa hay Cực Lạc chỉ là trạm dừng chân tạm nghỉ do chư Phật hóa hiện ra, để người tu hành uống cà phê, trà đá… đỡ khát… trước khi đi đến quả vị Phật.

Hỏi: Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ có đoạn như sau: “Này Vi Ðề Hi! Người muốn sang nước Cực Lạc ấy nên tu ba phước.

- Một là hiếu nuôi cha mẹ, kính thờ bực Sư Trưởng, có tâm nhơn từ chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành

- Hai là thọ trì Tam Quy y, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi.

- Ba là phát tâm Bồ Ðề, sâu tin nhơn quả, đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa và khuyên dạy sách tiến người tu hành.

- Ba sự như vậy gọi là tịnh nghiệp. Nầy Vi Ðề Hi! Nay bà có biết chăng? Ba tịnh nghiệp ấy là: Chánh nhơn tịnh nghiệp của tam thế chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại”.

Vì sao ba tịnh nghiệp này được gọi là Chánh Nhơn Tịnh Nghiệp?

Trả lời: Chánh nhơn tịnh nghiệp: Gọi là chánh nhơn vì nhơn này không kẹt ba thừa. Nói tịnh nghiệp vì nghiệp này là nghiệp của Phật và Bồ Tát.

Hỏi: Ngoài việc thường xuyên nhớ nghĩ đến những cảnh tốt lành của cõi Cực Lạc, có phải người tu Tịnh Độ cũng nên thường xuyên nhớ nghĩ và thực hành ba tịnh nghiệp nói trên để tự trồng công đức?

Trả lời: Tâm thường nhớ cảnh giới tốt lành của Cực Lạc, Ý thường không quên ba tịnh nghiệp, Ý thức thường biết rõ hai món này là chánh nhân của người cầu vãng sanh và tịnh nghiệp của chư Phật. Chánh nhân hiện tại là được vãng sanh, tịnh nghiệp vị lai là thành Phật quả.

Hỏi: Nhận xét “tôi phải qua sông rồi mới trở lại cứu người khác” và nhận xét “tôi biết bao nhiêu thì khuyên dạy sách tiến người tu hành bấy nhiêu”, nhận xét nào thật sự giúp người nhiều hơn? Với nhận xét “tôi biết bao nhiêu thì khuyên dạy sách tiến người tu hành bấy nhiêu”, khuyên dạy người tin sâu nhân quả để làm lành lánh dữ có phải là một bước đầu nên làm?

Trả lời:

1) Không được mà thường cho là quan niệm của chư Phật.

2) Không được cũng không cho là quan niệm của mấy ngài Đại Bồ Tát.

3) Tôi phải qua sông rồi mới trở lại cứu người là quan niệm “chắc cú” của hàng Thanh Văn.

4) Được nhiêu cho nhiêu là quan niệm “hào phóng” của hàng Bồ Tát.

5) Được hai cho một là quan niệm của mấy chàng Quân tử.

6) Được nhiêu cũng không cho là quan niệm của ông nội Trùm sò.

7) Cho một lấy hai là quan niệm của mấy lão kinh doanh.

8) Cho rồi mai mốt lấy lại là quan niệm của bọn thực dân.

Khuyên người tin sâu nhân quả, làm lành lánh dữ… là việc phải làm và làm thường xuyên của Phật Giáo.

(08-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thấy Xa Cũng Thấy Gần

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

“Thấy xa thì cũng thấy gần”, có nghĩa thấy được những nghĩa lý sâu xa, tất nhiên những nghĩa lý nông cạn cũng thấu suốt.

Hỏi: Như thế nào là “Thấy xa thì cũng thấy gần”?

Hàng Bồ-tát nào mới có thể thấy suốt xa lẫn gần?

Trả lời: Trong kinh có nói: “Thấy xa thì cũng thấy gần”, có nghĩa thấy được những nghĩa lý sâu xa, tất nhiên những nghĩa lý nông cạn cũng thấu suốt.

Chữ thấy ở đây không phải chỉ cho con mắt mà chỉ cho trí tuệ. Một khi có được trí tuệ thì vị này thấy những điều bậc Thánh thấy, cũng thấy luôn những điều chúng sanh thấy. Có trí tuệ, nhưng chưa viên mãn thì không có cái biết bao quát. Cụ thể, chỉ có những Bồ Tát từ Thập Địa trở lên, mới thấy suốt xa lẫn gần. Thập Trụ tuy có pháp nhãn, nhưng chưa viên mãn trí tuệ nên cũng không thấy hết những điều từ cạn đến sâu của giáo pháp.

Tóm lại, chỉ có các Đại Bồ Tát mới có thể nổi mây pháp, đánh trống pháp, thổi loa pháp, mưa pháp vũ, quạt gió giải thoát dập tắt lửa phiền não cho chúng sanh. Nếu chúng sanh đủ công đức, vị này có thể thị hiện Như Lai địa, gọi là thấy xa cũng thấy gần.

Do vậy, khi Phật nói: “Thấy xa cũng thấy gần” là chỉ cho hàng Bồ tát này. Hàng Bồ Tát có thể “thấy xa cũng thấy gần” gọi là Đại Bồ Tát. Trong kinh Đại Bát Nhã, khi ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật. Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là ma ha (đại). Phật dạy: “Ma ha là lớn, trí tuệ vô biên, từ đây có thể xuất sinh Tu Đà Huờn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi, Bồ Tát, Phật. Đến đâu cũng làm thượng thủ, gọi là Siêu Nhân Loại…” Đây là một trong những nghĩa “thấy xa cũng thấy gần”.

(08-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Giác Ngộ Lột Vai Diễn

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Giác Ngộ là giác cái hư dối của vai diễn, để ngộ (gặp) con người thật của chính mình. Giải thoát là cởi (mở) cái ràng buộc thấy nghe để thoát ra khỏi trói buộc vai diễn và sân khấu.

Các bạn!!!

Mình rất hoan nghênh khi các bạn nhận ra, cuộc đời chúng sanh chỉ là một vai diễn. Hôm nay, các bạn đã bắt đầu thoát xác, phải một lần chết đi những hiểu biết cũ thì con người mới sẽ xuất hiện.

Lột vai diễn xuống để làm khán giả là tuyệt vời. Nếu cần, chính mình cũng tham gia diễn trò, nhưng không bị lôi cuốn vào vai diễn. Muốn làm được như vậy, phải biết chắc mình là ai… Khi biết mình là ai và độc lập trong suy nghĩ, thì mới cảm nhận về cuộc đời một cách chính xác.

Đúng như điều các HĐ đã nói, một người giác ngộ thì ở đâu cũng an lạc, thời gian không gian chỉ là khái niệm của nghiệp thức phân biệt. Ba cõi tự tâm hiện, tâm thanh tịnh thì ba cõi là Phật quốc. Phàm, Thánh chẳng phải hai… Mê là Phàm, ngộ là Thánh.

Giác Ngộ là giác cái hư dối của vai diễn, để ngộ (gặp) con người thật của chính mình. Giải thoát là cởi (mở) cái ràng buộc thấy nghe để thoát ra khỏi trói buộc vai diễn và sân khấu.

Những khái niệm đơn giản này nó có thể giúp người an lạc. Đúng vậy! “Thân tâm an lạc” là biết rõ và thấy rõ thân tâm đích thực, tức là biết rõ bản chất (tự tánh) thân tâm này thanh tịnh từ vô thủy.

Vì hiểu lầm thân tâm theo cách hiểu của vai diễn, nên buồn vui theo nó. Bốn Niệm Xứ là Thân, Thọ, Tâm,

Pháp phải đưa nó trở về bản nguyên thanh tịnh không bị vai diễn làm ảnh hưởng… Ngay nơi hành động này, bốn món kia lập tức trở thành “Chân Đế”, tức bốn món ấy chính là chân lý, quan sát kỹ một vai diễn, bạn sẽ hiểu ra vấn đề.

Người diễn viên sống trong vai diễn nên Thân, Thọ, Tâm, Pháp của họ là Thân, Thọ, Tâm, Pháp của vai diễn. Đây là ngộ nhận cực kỳ lớn. Chính ngộ nhận này gọi là “điên đảo mê lầm”. Vì thế, nơi thanh tịnh sanh phiền não, trong vô sanh bỗ̃ng hiện sanh diệt, niệm niệm tiếp nối không ngừng, hết khổ tới vui gọi là chúng sanh.

Lột vai diễn “Chúng Sanh” xuống thì ngay đó “Vô Sanh”.

Không chạy theo ngoại cảnh và không tạo nhân duyên cho tâm sanh khởi thì niệm niệm tự dứt. Có cung ắt có cầu, đây là nguyên lý thị trường. Tạm xa lìa các nhu cầu hư dối thì nhà cung cấp ngoại duyên tự phá sản. Bây giờ trong ngoài đồng thanh tịnh, ba cõi tịch diệt.

Phật Giáo là nói tổng thể, Phật pháp là chỉ những pháp của Phật dạy. Phật pháp là những pháp Phật thuyết cho chúng sanh. Phật Giáo là nói đến phần rộng bao gồm Phật, Pháp, Tăng tức xã hội Phật Giáo… Cái này không quan trọng lắm, tùy hiểu như thế nào cũng không hại. Điều quan trọng nhất ở đây là, phải thấy được bổn tâm thanh tịnh, tự lột vai diễn xuống để làm một Khán Giả Siêu Việt trước sân khấu cuộc đời.

(05-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Giai Đoạn Tu Tập… Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

“Làm mất chủ thể” có nghĩa là coi như “không có mình trong đời”, mọi thứ chỉ vì tâm nguyện mà tồn tại.

Hỏi: Thưa Thầy, sao gọi là làm mất chủ thể? Tu tập trong Phật Đạo đại khái có mấy giai đoạn? Xin Thầy giảng dạy cho chúng con.

Trả lời: “Làm mất chủ thể” có nghĩa là coi như “không có mình trong đời”, mọi thứ chỉ vì tâm nguyện mà tồn tại.

Lâu dần sẽ quen khái niệm này và Bốn Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) sẽ thành tựu. Có như thế, khi làm hay suy nghĩ một việc gì sẽ vì người khác hơn là vì mình, và bỗ̃ng dưng trở thành khách quan trong mọi vấn đề. Từ đây, Bát Nhã Trí hay còn gọi là Trí Giải Thoát sẽ hiện.

Bát Nhã Trí là thứ trí tuệ không phụ thuộc vào chủ thể, tức không có cái "Ngã" trong đó. Tạm có thể hiểu là một thứ hiểu biết khách quan không chi phối bởi cái gì hết, kinh gọi là “rốt ráo không”.

Có thể hiểu, một người tu tập trong Phật Đạo có bốn giai đoạn:

- Vớt củ̉ ấu (trái ấu) lên khỏi ao sình (bùn) bằng Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc (dừng vai diễn, ra khỏi hiện nghiệp). Giống như múc nước ra khỏi sông rạch.

- Làm cho củ̉ ấu hết mùi sình (Niết bàn Ba Thừa, còn gọi là quyền Niết bàn hay hóa thành) gọi là Thánh Pháp. Đây là giai đoạn dùng Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi. Giống như bỏ phèn vào để nước tự lóng trong (dùng Thánh Pháp để lóng trong nghiệp quả).

- Dạy cho họ một thứ văn hóa mới gọi là Nhất Thiết Trí hay Bát Nhã Trí để biến củ̉ ấu thành củ̉ sen. Đây là giai đoạn của Đạo Đế, giai đoạn này có công năng làm cho nước trong trở nên tinh khiết (sạch). Kinh gọi là Khai Phật Tri Kiến (kinh Diệu Pháp Liên Hoa).

- Đem củ̉ sen trồng trở lại ao sình (bùn) và từ củ sen này sẽ mọc nhiều cây sen khác, gọi là Nhất Thiết Chủ̉ng Trí (chữ "Chủng" ở đây có nghĩa là trồng, là gieo giống…).

Cũng có thể hiểu đem thứ nước tinh khiết đã qua quá trình chuyển biến tinh lọc ban rải cho mọi chúng sanh đều được uống để dứt cơn khát Ái Dục, nên gọi là cam lồ.

Khi viên mãn công hạnh, cây sen này sẽ thành Chánh Đẳng Chánh Giác.

(05-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Hồi Hướng

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Để thực hành hai chữ hồi hướng, chúng ta quay trở lại với thanh tịnh này, quay trở lại với hiểu biết này, gọi là công đức.

Hồi hướng, gồm hai việc là HỒI và HƯỚNG.

HỒI (Hán-Việt) có nghĩa là: trở lại, quay lại, trở về...

HƯỚNG (Hán-Việt) có nghĩa là: hướng đến… (một mục tiêu, một nơi nào đó...)

Chúng ta thực hành việc hồi hướng bằng cách gì???

Để thực hành hai chữ hồi hướng, chúng ta quay trở lại với thanh tịnh này, quay trở lại với hiểu biết này, gọi là công đức. Sau đó hướng về tất cả HĐ, cũng như những ai đủ duyên để chia sẻ, trao đổi, giúp người cũng được điều mình đã được. Làm như vậy chính là chúng ta đang thực hành phép hồi hướng. Viết email, chia sẻ lợi ích cho nhau, là thật sự đang làm công việc hồi hướng.

Các bạn!!!

Mình biết, trong HĐ chúng ta, ngoài việc lo kế sinh nhai, anh em đã dành một số thời gian nhất định nào đó để tu tập. Sau thời gian tu tập, sự vui ở đời không còn hứng thú. Nếu có tiếp xúc, nếu có tham gia, nếu có ngồi lại với đời, chỉ là “bất đắc dĩ”!!!

Niềm vui của HĐ bây giờ chỉ còn lại tình HĐ đồng tu, niềm vui là sự học tập và được chia sẻ ý nghĩa Giáo Pháp tự thân mỗ̃i người đạt được.

Cho đến lúc này, những bài viết, những dòng emails của HĐ là thức ăn tinh thần, là niềm vui để sống, là tri thức, là ngọn đuốc để HĐ chúng ta vươn lên. Nó giống như dây bầu dây bí hướng theo ánh mặt trời, thiếu ánh mặt trời, dây bầu dây bí sẽ “đun ngọn”, không kết trái đơm bông!!!

Mấy ngày trước, có lúc bận công việc, vì vài lý do khách quan, và để cho “con mắt nghỉ ngơi”, mình tạm không gởi emails cho mọi người. Rất nhiều HĐ tâm sự với mình là: Cảm thấy trống vắng, thiếu sức sống của Đạo, cảm giác hụt hẫng!!! Mở máy ra mà không có email, buồn năm phút!!! Thế mới biết, những bài viết, những sẻ chia của HĐ là nguồn sống, là ban vui, là ánh dương để dây bầu dây bí theo đó mà phát triển.

HĐ hãy chiêm nghiệm ý nghĩa hai chữ hồi hướng, và biến nó thành hiện thực ngay trong hiện tại này bằng việc làm cụ thể trong khả năng có được của mình. Trước mắt, HĐ mình không thực hiện được hai chữ này, thì đợi đến bao giờ mới thành tựu hai chữ hồi hướng???

(25-10-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

An và Ổn

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Bổn tâm và thế giới, tức tâm và vật tự đủ tính chất của an và ổn. Chỉ vì không biết hộ trì tâm, chỉ vì ý hay sinh pháp, nên mới không an và bất ổn!!!

Mục tiêu đầu tiên của tu hành là được an ổn. Muốn thành tựu hai điều an và ổn, phải biết nguyên nhân nào làm cho người tu hành “tâm không an và trí bất ổn”. An thuộc về tâm, ổn thuộc về thế giới tức những thứ ngoài tâm do trí suy lường.

1) Muốn "an tâm", phải biết rằng tâm này vốn đã tự an. Chỉ do vọng phân biệt, sanh vọng tâm. Vọng tâm sanh khởi, bỏ mất bổn tâm, chạy theo sự việc, lấy sự việc làm ta, lấy sự việc làm tâm, lấy sự việc làm ngã...

Vì thế, bất an sinh khởi. Nếu biết dừng lại, không chạy theo sự việc, không lấy sự việc làm ta, làm tâm, làm ngã. Bổn tâm hiện trở lại và an sẽ tự đến.

Giống như một người, cầm chiếc chìa khoá trên tay, nhưng vì vọng khởi, quên mất trong tay có chiếc chìa khoá. Do không bình tâm, suy diễn lung tung, người này hướng ra bên ngoài tìm chiếc chìa khoá. Vì không tìm thấy chiếc chìa khoá bên ngoài nên bất an sinh khởi.

Chỉ cần bình tâm, không vọng khởi, không suy diễn lung tung, thảnh thơi ngồi xuống. Nhất định sẽ phát hiện ra chiếc chìa khoá đang nằm trong tay của mình. Biết được như vậy, không cầu, không tìm tâm cũng tự an!!!

2) Sở dĩ người tu hành "bất ổn", chỉ vì đối với thế giới, trí não hay sinh các quan niệm, muốn chiếm hữu, hy vọng mọi thứ của thế giới thuộc về ta, phục tùng ta... Chính quan niệm, mong cầu, hy vọng và muốn chiếm hữu làm cho bất ổn!!!

Muốn "không bất ổn", phải biết bản chất của thế giới. Bản chất của thế giới tự nó không tánh, không tướng, chẳng thể sở hữu được, vì người và thế giới là “hai thực thể riêng biệt”. Biết như vậy, không khởi hy cầu, không sinh tâm chiếm hữu, bình thản trước mọi sự... Bất ổn sẽ không xảy ra.

Giống như trong bóng tối, nhìn thấy sợi dây tưởng lầm là con rắn. Do lầm tưởng nên ý sinh khởi các quan niệm chung quanh con rắn, vì thế trong lòng bất ổn. Chỉ cần bình tâm, thắp lên ngọn đèn, quan sát thật kỹ biết được sự thật, an ổn sẽ tự hiện!!!

Tóm lại, muốn thành tựu an và ổn. Người tu hành phải thực hiện hai điều đó là:

  • Trong: Không khởi vọng phân biệt “Tâm” sẽ “An”.

  • Ngoài: Không chạy theo hiện tượng để sinh pháp “nhất định Trí” sẽ “Ổn”.

Bổn tâm và thế giới, tức tâm và vật tự đủ tính chất của an và ổn. Chỉ vì không biết hộ trì tâm, chỉ vì ý hay sinh pháp, nên mới không an và bất ổn!!! 

(08-06-2015)

 

An và Ổn

Tác Phẩm Lý Tứ

Vipassana (Tỳ Bà Xá Na)… Chuyên Sâu

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Vipassana là loại thiền cổ xưa của Ấn Độ, thiền này có trước khi Phật ra đời. Thời trước Phật, nó chỉ là “Học Pháp Hữu Lậu”.

Vipassana là loại thiền cổ xưa của Ấn Độ, thiền này có trước khi Phật ra đời. Thời trước Phật, nó chỉ là “Học Pháp Hữu Lậu”. Vì thế những người tu loại thiền này thời đó không thể tự giải thoát, mặc dù họ rất nỗ̃ lực tu hành để tìm kiếm giải pháp giải thoát.

Khi Phật ra đời, thuận theo một số đệ tử đã từng tu thiền này, Phật đã triển khai nó, và biến nó thành “Học Pháp Vô Lậu”.

Để biến nó thành học pháp vô lậu, Phật phải dùng đến ba công đoạn nâng dần từ thấp lên cao, từ hữu lậu sang vô lậu. Ba công đoạn đó là:

1) Dạy Minh Sát Thiền.

2) Sau khi thành tựu Thiền Minh Sát hữu lậu, bậc Đạo Sư sẽ chuyển bước kế tiếp là Tuệ Minh Sát vừa hữu lậu vừa vô lậu.

3) Đến khi thành tựu Tuệ Minh Sát, bậc Đạo Sư sẽ khiến vị này thành tựu Giác Minh Sát vô lậu.

Đủ ba điều này, mới có thể được coi là thành tựu "học pháp Tuệ Vô Lậu" trong Tam Vô Lậu Học. Vì thế, chỉ thuần tuý tu Thiền Minh Sát mà không biết Tuệ Minh Sát và Giác Minh Sát thì... "Ô hô chi tai"!!!

Trong khi đó, Tuệ Minh Sát và Giác Minh Sát thuộc về Thánh Đế và Chân Đế, hai món này không giác ngộ triệt để chẳng thể biết được!!!

Thiền Minh Sát thuần tuý thuộc về thế đế, vì là thế đế nên ai đọc cũng hiểu, ai làm cũng được. Cho nên, nếu chỉ chăm chăm tu Thiền Minh Sát thì cứu cánh cao nhất của nó cũng không thể vượt thoát ba cõi. Giống như một người ngồi trong thau, không thể tự bưng cái thau lên. Hoặc một người không thể nắm tóc của mình để tự nhấc mình lên khỏi mặt đất. Vì rằng, tất cả các thứ thiền định trên đời, nếu không được gia thêm vị giác ngộ đều chỉ là "Thế Gian Thiền"!!! Cho nên Lục Tổ mới nói một câu đầy ẩn ý như sau:

Có người hỏi LụcTổ: Thầy của Ngài ở Huỳnh Mai dạy thiền định và giải thoát như thế nào???

Tổ đáp: Thầy của ta (Ngũ Tổ) không dạy thiền định và giải thoát vì, Phật Pháp là pháp không hai!!!

Cái chính là hương vị giác ngộ được nêm nếm trong các loại thiền. Bất kỳ thiền nào, được nêm nếm vị giải thoát vào, thì sẽ thành “Thiền Xuất Thế”.

Vì thế: Nếu tu Thiền Minh Sát mà không được dẫn dắt bởi một vị Đạo Sư thấu suốt hai thứ Minh Sát kia. Chẳng khác gì những người tu thiền định trước khi Phật ra đời...!!!...!!!

(25-06-2014)

Tác Phẩm Lý Tứ

Quyền và Thiệt

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Thiệt tướng là không tướng, thiệt nghĩa là không nghĩa, thiệt tâm là không tâm, thiệt tánh là không tánh.

Các thứ tướng do sáu thức nhận biết được, đều là hư vọng tướng. Những tướng sai biệt, hư vọng này từ nghiệp thức sản sanh, do nghiệp duyên mà thấy, y nghiệp báo mà thành, trong nghiệp quả nhận biết có tốt xấu, nơi nghiệp trí mà sinh sai khác, vì nghiệp lực mà nhận khổ vui...

Rời cái thấy của nghiệp thức, thiệt tướng sẽ hiện. Vì thế kinh Kim Cang có dạy: “phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng...” Có nghĩa, hễ vật gì trên đời mà ta thấy có tướng, do căn cùng thức nắm bắt, các tướng đó đều hư vọng...

Nói trong thiệt có quyền, v.v... Là nói về phương tiện giáo hoá. Trong bài “luận về quyền và thiệt” mà mình đã viết, là luận nghĩa của văn tự, chứ không phải luận cái thấy...

- Khi nào người tu hành chưa thấy thiệt tướng, thì chưa thể biết thiệt nghĩa. Còn y nơi hư vọng tướng để nhận biết, thì bây giờ còn có nghĩa quyền và thiệt, hoặc trong thiệt có quyền. Tóm lại còn có văn tự ngữ ngôn...

- Đến khi nào người tu hành thấy thiệt tướng, thấu rõ thiệt nghĩa. Bây giờ mới biết rằng: Thiệt tướng là không tướng, thiệt nghĩa là không nghĩa, thiệt tâm là không tâm, thiệt tánh là không tánh. Tướng kia và nghĩa này chẳng phải hai...

Tác Phẩm Lý Tứ

Tư Duy và Quan Sát

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Đặt nó trước mặt, lặng lẽ quan sát, trong một nguồn tâm bất động và thức đã tịch diệt

Sự khác biệt giữa tư duy và quan sát một hiện tượng.

- Tư duy: Suy nghĩ đến một vấn đề nào đó, thuộc chức năng của ý căn.

- Quan sát: Đặt sự vật trước mắt để nhìn ngắm, xem xét cụ thể sự vật này, quan sát liên hệ đến nhiều căn.

Vì thế, để thấu rõ câu hỏi, nhằm có câu trả lời thoả đáng. Điều cần nhất là: “Đặt nó trước mặt, lặng lẽ quan sát, trong một nguồn tâm bất động và thức đã tịch diệt”. Trong Phật Đạo, có loại câu hỏi dùng chánh tư duy để thấu suốt. Cũng có loại câu hỏi phải cậy vào chánh kiến để soi sáng mới có thể trả lời được.

(15-04-2013)

Subscribe to