Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/cam-xuc-khi-doc-cac-bai-tra-loi-tro-choi-tri-tue-cua-hdtm
Trân trọng,
Cảm Xúc Khi.. Đọc Các Bài Trả Lời " Trò Chơi Trí Tuệ" Của HĐTM

Các bạn!!!
Khuya nay, đọc lại tất cả các bài viết trả lời TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ kỳ 04-2019 mà mình đã nhận được… Bây giờ là 03 giờ 30 phút sáng, một cảm giác rất khó tả trong lòng, thay vì đi nghỉ, mình quyết định phải thức, để viết điều gì đó cho các bạn!!!
Thông thường, sau khi nhận được trả lời của một bạn nào đó, lần thứ nhất mình đọc lướt qua… Lần thứ hai, đọc thật kĩ từng câu, từng chữ và phân tích những điều các bạn viết có thoả mãn những yêu cầu câu hỏi đặt ra hay không… Sau đó, gởi email (hoặc điện thoại) phản hồi các bài có nhiều lỗi chính tả, góp ý cách trình bày, lập luận, đặt câu, phương pháp dùng từ thế nào cho phù hợp với Phật đạo… Phần việc cuối cùng là, đọc một lượt tất cả các bài đã nhận để đánh giá, so sánh, nhằm tìm ra bài viết hay nhất!!!
Tối hôm nay, những công việc như thế lặp lại… Có thể nói, trong mười bảy (17) bài viết mà mình đã nhận được cho đến giờ phút này, có đến mười lăm (15) vị HĐ đã trả lời đúng yêu cầu các câu hỏi đặt ra… Chỉ khác nhau ở cách lập luận, trình bày và kĩ năng viết!!!
Điều này cho thấy rằng, trải qua quá trình học tập và ứng
dụng, hầu hết HĐ chúng ta thấm nhuần ý nghĩa của Tứ Niệm Xứ, một trong những yêu cầu cốt lõi và quan trọng của Phật đạo (tu hành mà không rành bốn món này, coi như “hai bàn tay trắng, làm nên một đống…nợ…đời”)!!!
Vì rằng, nếu chưa thấm nhuần ý nghĩa bốn xứ thì, không thể trả lời thoả đáng câu thứ hai… Nếu chưa ứng dụng thuần thục bốn xứ thì, sẽ khó có thể trả lời hoàn hảo câu hỏi thứ ba!!! Khi đặt câu hỏi thứ hai và thứ ba, mình đã ngầm chú ý đến việc thẩm định, đánh giá mức độ thành tựu của các bạn thông qua câu trả lời!!!
Các bạn!!!
Có thể nói, mặc dù trong mười bảy bài viết mình đã nhận được, có người viết hay, có người viết chưa hay… Hay hay chưa, phụ thuộc rất nhiều vào năng khiếu và công việc ở đời của từng người, vì chúng ta không phải là dân sử dụng bàn phím chuyên nghiệp (hi hi hi hi!!! May quá, còn chút nữa, là viết chữ “phím” thành “phiếm”).
Điều mình hoan hỉ đến không ngủ được là tinh thần tu tập và thành quả những câu trả lời đúng của hôm nay (15/17)!!! Con số 15/17 bạn trả lời đúng cả ba câu hỏi đặt ra, không phải ngẫu nhiên có được, kết quả này không phải là thứ kết quả rủi may, mà nó là hoa trái của cả một quá trình “lao động trí tuệ” miệt mài từ HĐ chúng ta để chăm bón cây giác ngộ, mới có ngày hôm nay!!!
Hồi trưa, nói chuyện với HĐTM Tây Nguyên, HĐTM có trình bày câu hỏi thứ ba… Và, một điều không ngờ, HĐ cũng đã trả lời đúng tinh thần câu hỏi được coi là khó này (Ha ha ha ha!!! Vì còn e ngại là HĐ mới của Lý Gia, nên “chưa dám cào bàn phím” để so găng cùng mọi người)!!!
Thế đấy các bạn!!! Hạnh phúc ngập tràn đến không ngủ được là như thế!!! Cảm ơn mọi người!!! Cảm ơn tất cả HĐ tốt của Lý Gia, những người đã ngày đêm miệt mài vì giáo pháp để rồi Lý Tứ có những phút giây hạnh phúc đến không thể… ngủ… được!!! Hu hu hu hu!!!
Rất mong, ngày mai sẽ nhận thêm nhiều câu trả lời lí thú từ các bạn!!!
(23/10/2019)
Những lần sinh hoạt vừa rồi, nhằm giúp các HĐ mới (gia nhập) có cái nhìn tổng quát về Phật đạo, cũng như giúp các bạn ấy bắt kịp, hoà cùng nhịp điệu tu tập của toàn thể HĐ Lý Gia, mình đã tập trung triển khai, giới thiệu các bước tu tập trong Phật đạo và mục tiêu cao nhất của Phật đạo là gì!!! Đồng thời, khái quát về 37 phẩm, nhân đó đào sâu Tứ Niệm Xứ!!!
Như các bạn đã biết!!! Nếu ta coi Tứ Diệu Đế là bốn cấp học trong Phật đạo thì, Ba Mươi Bảy Phẩm chính là 37 môn học giúp người học hoàn thành bốn cấp học nêu trên!!!
Trong đó, Tứ Niệm Xứ đóng vai trò chủ đạo, hay khác hơn, bốn niệm xứ chính là bốn mục tiêu cốt lõi, bốn cơ sở giúp người tu hành từ cốt lõi hay cơ sở ấy, tu tập để hoàn thành từng đạo phẩm... Kinh Niệm Xứ, Phật dạy như sau:
“Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ-kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn”. (Trích Kinh Niệm Xứ - Satipatthàna sutta)
Nếu đọc toàn bộ kinh điển của Phật, chúng ta không khó nhận ra, đồng thời là bốn niệm xứ, nhưng mỗi cấp độ tu tập, mỗi thừa lại có một cách quán khác nhau... Có nghĩa, Thanh Văn quán khác, Duyên Giác quán khác, Bồ Tát quyền thừa quán khác, Bồ tát nhất thừa quán khác!!!
Chính sự sai khác này, giúp ta nhận ra, cùng quán bốn niệm xứ, nhưng tuỳ cách quán, tuỳ giai đoạn tu tập mà người tu hành thành tựu Tục Đế, Thánh Đế hay Chân Đế!!! Đây là lí do vì sao, ta thấy có lúc Phật dạy: Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã... Lại có lúc Phật dạy: Bốn món thân, thọ, tâm, pháp chỉ do duyên hoà hợp sanh... Nhưng rồi cũng có lúc Phật dạy: Quán thân đồng với hư không; Quán cảm thọ chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa; Quán tâm chỉ là danh tự, tánh danh tự rời rạc; Quán các pháp thiện chẳng thể được, bất thiện chẳng thể được!!!
Nhưng, cho dù thành quả của phép quán Tứ Niệm Xứ là Tục Đế, Thánh Đế hay Chơn Đế, người tu tập trong Phật đạo muốn có một đạo quả nào đó, nhất định phải y cứ vào Tứ Niệm Xứ để tu tập!!! Rời bốn xứ này thì, nhất định không thể thành tựu bất kì một đạo quả nào trong Phật đạo!!! Nó giống như, trên thế gian có vô vàn mảnh ruộng, nhưng chỉ có bốn mảnh ruộng có tên là Thân Điền, Thọ Điền, Tâm Điền và Pháp Điền mới đủ điều kiện để trồng cây Giác Ngộ (Bồ Đề Thọ)!!!
Để giúp các bạn có cơ hội đào sâu và thấm nhuần Tứ Niệm Xứ!!! TCTT kỳ 04-2019 này có ba câu hỏi sau:
1) Hãy giải thích: Vì sao một người tu hành trong Phật đạo, chỉ có thể thành tựu các đạo quả của Phật đạo, khi người ấy quán Tứ Niệm Xứ (như pháp)???
2) Nếu một người tu tập trong Phật đạo, không quán Tứ Niệm Xứ... Mà quán một niệm xứ khác (như quán cảnh duyên bên ngoài là thế giới hay bình, bàn, v.v...). Người ấy có thể thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay không??? Vì sao được??? Vì sao không??? Xin giải thích cụ thể!!!
3) Xin bạn cho biết, mục tiêu cuối cùng của phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu hành “thành tựu niệm xứ nào” trong tâm trí??? Vì sao như vậy???
Không Hốt Rác Không Xả Rác
Phật pháp ra đời, công việc đầu tiên là giúp cho người tu hành hết điên đảo !!!

Các bạn !!!
Câu chuyện xảy ra cách đây hơn tám năm !!! Lúc ấy có một vị HĐ vừa làm môn đệ Lý Gia !!! Theo thông lệ, sau lễ nhập môn, cả bọn kéo nhau ra quán cà phê làm một chầu để các HĐ mới có cơ hội “trút bầu tâm sự” !!!
Nhân lúc HĐ mới xả bầu tâm sự, đây cũng là đương cơ tốt nhất để mình định hướng cho vị ấy tu tập bước đầu !!!
Sau khi nghe vị ấy trình bày, mình nhận ra trong bụng vị này chứa quá nhiều thứ, từ Phật pháp đến thế pháp, nhưng không thứ gì xài được !!! Thế là trong đương cơ, mình cao hứng thuyết đề tài: Muốn trở thành người văn minh, không đem rác về nhà và không xả rác nơi công cộng !!!
Không ngờ sau bài thuyết, tâm vị ấy dừng lặng !!! Thấy “thời cơ đã đến”, mình dùng chiêu “Cách sơn đả ngưu” giúp bạn ấy “khai thiên nhãn”, nhận rõ mặt “những người khách không mời từ xa” và đánh bại kẻ thù vô hình, đưa đến giác ngộ !!! Giống như hồ nước không bị vẩn đục, việc còn lại chỉ là: Giúp cho người mắt sáng thấy ra những gì dưới đáy hồ mà không cần kẻ kia lội xuống nước !!!
Câu chuyện xin kể vắn tắt như sau: (không thể kể rõ những chi tiết trong câu chuyện, vì đối đáp từ một đương cơ có quá nhiều...lắt...léo, ngôn ngữ đời thường khó thể hiện mạch lạc bằng văn viết cho một người ngoài đương cơ cảm nhận khi đương cơ đã qua rồi !!! Mong bạn đọc thông cảm) !!!
Cuộc trao đổi bắt đầu đại loại như sau !!!
Phật pháp ra đời, công việc đầu tiên là giúp cho người tu hành hết điên đảo !!!
* Thế nào là điên ???
Tâm thức con người ta giống như một cái thùng tưởng chừng như bất tận, nó có thể chứa tất cả mọi thứ trên đời !!! Và thói quen của con người là ném vào cái thùng tưởng chừng bất tận ấy bất kì thứ gì họ nhặt được trên đời khi các căn xúc đối... Từ mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi...v..v...đến nghĩ suy !!! Giống như một người điên, với cái bị to lớn trên vai, lang thang hết nơi này đến nơi khác...Người ấy nhặt tất cả những gì mình bắt gặp trên đường từ năm này đến năm khác, từ ngày nọ sang ngày kia !!!
Người điên không tự biết hành động lặp đi lặp lại của mình là hành động của một kẻ điên !!! Và những người tỉnh táo, rất dễ nhận ra hành động ấy là hành động của một kẻ điên !!!
-............!!!!
- Thế muốn không muốn biến mình trở thành kẻ điên dưới con mắt người trí, ngay từ bây giờ bạn nên làm gì ??? Mình hỏi vị HĐ mới !!!
Vị HĐ mới suy nghĩ một hồi rồi trả lời !!!
- Muốn không trở thành người điên, ta không bỏ vào tâm thức bất kì thứ mình bắt gặp trên đời !!!
- Làm thế nào để ta không bỏ những thứ ấy vào tâm thức ???
- Phải thấy rõ những thứ mình bắt gặp trên đường là không lợi ích trong việc tu tập ???
-Vì sao biết nó không lợi ích ???
-.........!!!
-.........!!!
- Cho đến bây giờ, con nhận ra những thứ con đã nhét đầy tâm thức của mình từ trước đến nay, không giúp cho mình và người an vui !!!
* Thế nào là đảo:
Tâm ý con người ta thường được ví như khỉ ngựa (tâm viên ý mã) !!! Theo mình, tâm ý con người hơn cả khỉ, ngựa !!! Nó như chó hoang, chuột cống !!!
Chó hoang, chuột cống thường bới móc các thùng rác và tha những thứ rác rưởi ấy đi khắp nơi, làm vấy bẩn những nơi nào chúng có mặt !!!
Cũng giống như thế !!! Người điên kia, trong lúc rỗi rảnh, đem những thứ vô bổ mình đã nhặt được bày ra nơi đất trống, người ấy nhìn ngắm, phân tích, đánh giá, suy tư về các thứ đó, xem như chiến lợi phẩm... Rồi, bằng cách này hay cách khác khoe khoang với mọi người !!!
Con người ta cũng như thế !!! Ngày thì nhặt rác, đêm về nằm vắt tay lên trán... Bày các thứ đã nhặt được dùng ý thức phân tích, mổ xẻ, đánh giá, suy lường...v..v... Sáng ra, tụm năm tụm ba ở quán cà phê, nơi làm việc...rồi mỗi người tìm cách khoe khoang các thứ mình nhặt được !!! Đây là việc làm và nghĩ suy trái ngược với việc làm và nghĩ suy của người có trí, vì thế hành động này gọi là đảo !!!
-............!!!!
- Thế thì trong đời bạn có từng làm những việc vừa điên vừa đảo ấy không ???
- Thưa !!! Trước đây con thường xuyên làm những việc điên đảo như thế ạ !!!
- Muốn hết điên đảo thì người trí nên làm gì ???
-.............!!!
- Chỉ nên ban ngày không làm kẻ điên đi nhặt rác lung tung bỏ vào bị !!! Đêm về hay trong lúc rỗi rảnh không bày các thứ vô bổ ấy ra rồi suy nghĩ lung tung làm nhọc nhằn tâm ý !!!
-.............!!!
- Bạn thấy đó !!! Pháp giới bổn lai không có rác !!! Pháp giới bổn lai tự thanh tịnh !!! Chỉ vì điên đảo, người ta cứ chơi trò bày rác lung tung, bạ đâu vứt đó... Rồi quay lại với cái bị to lớn trên vai gặp gì cũng nhặt, nhặt vô tội vạ !!! Người trí muốn pháp giới trở về bản nguyên thanh tịnh vắng lặng, có nên làm những việc điên đảo ấy hay không ???
-...........!!!!
- Thưa thầy !!! Bây giờ con hiểu thế nào gọi là điên đảo rồi ạ !!!
- Ha ha ha ha !!! Thế thì, mình truyền cho bạn “mật chú” này, hãy tụng nó và quan sát tâm ý thường xuyên !!! Khi nào tụng đủ tám mươi ngàn biến, cơ hội thấy điều cần thấy sẽ đến với bạn !!! Thần chú ấy như sau:
“Úm ba la !!! Muốn làm người văn minh, không đem rác về nhà, cũng không xả rác làm mất vệ sinh nơi công cộng !!! Úm !!! Ba la ba la !!! Ummmmm !!!”
-...........!!!
Không cần tám mươi ngàn biến !!! Chỉ sau thời gian ngắn quan sát tâm ý thức... Vị HĐ này đã có cơ hội để mình “mở cánh cửa tâm” cho bạn ấy !!!
Các bạn ui !!!
Các bạn có còn nhớ câu chuyện xảy ra hơn tám năm về trước hay không ???
04/09/2020
LÝ TỨ
* CHÚ Ý !!!
Câu chuyện trên và chiêu “Cách sơn đả ngưu”, chỉ có giá trị khi đọc được tâm người đối diện và thi triển đúng thời điểm !!! Nếu sử dụng bậy bạ, sử dụng không đúng đối tượng, không đúng thời điểm..v..v...chẳng những không hiệu quả, có khi con trâu bên kia núi không chết, mà người dùng bị “sức phụt hậu” của nó làm chết queo !!! Chết nhăn răng !!! Chết mà không biết vì sao...mình...chết !!!
- HÌNH ẢNH MINH HOẠ “SỨC PHỤT HẬU ĐÁNG SỢ” CỦA VŨ KHÍ CHỐNG TĂNG !!! COPY TỪ INTERNET !!!


Xác Lập Vị Trí Của Thân Trong Đời Sống

“Sau khi rời khỏi cội Bồ Đề, Phật quán thấy năm anh em Kiều Trần Như là những người đáng được độ trước. Phật đi thẳng đến vườn Lộc Uyển, từ xa năm anh em Kiều Trần Như thấy Thái Tử nhưng trong lòng không muốn đón tiếp.
Đến nơi, Phật ba lần tuyên nói: Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác. Bây giờ năm anh em Kiều Trần Như mới miễn cưỡng đón tiếp. Với 32 tướng tốt tỏ lộ, Phật đến gần tuyên thuyết:
“Này Kiều Trần Như, sắc là vô thường, hễ cái gì vô thường đều biến hoại và sanh khổ não. Này Kiều Trần Như, không nên lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, và làm tự ngã của ta, diệt sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ. Thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy.” [[1]]
Với đoạn kinh trên ta thấy khi Phật tuyên nói ba lần “Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác,” với 32 tướng tốt đầy đủ và tỏ lộ, năm anh em Kiều Trần Như biết đây thật là Như Lai Đẳng Chánh Giác. Vì trong kinh Vệ Đà của ngoại đạo có nói về một Đẳng Chánh Giác với 32 tướng, và Như Lai lời nói không hư dối.
֎Khi thuyết “không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta” là nói đến sự biến hoại của sắc, cho dù đó là 32 tướng của Phật cũng phải nhập Niết Bàn. Lý luận này bẻ gãy luận cứ của ngoại đạo là hy vọng từ nơi ngũ ấm nếu kiên tâm tu hành có thể thành tựu điều gì đó.
✽Tiền đề ở đây được nêu lên là “ngũ ấm vô thường”, đã vô thường thì không nên căn cứ vào đó để tìm chân lý vĩnh cửu. Không lấy sắc làm ta, có nghĩa không nên cho thân này là của ta. Nếu cái gì của ta khi nó mất đi sẽ khiến ta khổ đau. Ví như tài sản của ta mất đi nhất định ta sẽ đau xót. Nếu tài sản này của ai đó thì chẳng có mối liên hệ nào đối với ta dù mất hay còn. Thân này vô thường nhất định sau 80 năm đời người rồi sẽ diệt mất, cách tốt nhất để khỏi khổ đau khi thân này biến hoại là không có quan niệm sắc này của ta.
✽Vấn đề thứ hai được nêu lên là không lấy sắc làm ngã của ta. Có nghĩa sắc này đã biết là vô thường thì chẳng thể lấy cái vô thường làm chỗ dựa để so sánh với các sắc khác. Bản chất của thân vô thường thì y vào cái gì để so sánh, nếu căn cứ vào vật vô thường để thấy vật này hoặc hơn hoặc kém vật kia thì sự thấy biết này chẳng thể gọi là người có trí. Có nhất thiết đem thân này so sánh với thân khác để tạo nên sự cột trói vô lý hay không? Muốn giải thoát, Phật khuyên Kiều Trần Như hãy xả cái ngã không thực, cái ngã y chỉ trên thân.
✽Điều thứ ba được Thế Tôn dẫn ra là không lấy sắc làm tự ngã của ta. Tự ngã ở đây chỉ ra rằng không thể lấy vật vô thường để làm chỗ nương tựa vĩnh hằng. Những ai mong rằng từ thân này sẽ tạo được mối quan hệ bền vững đời đời là chuyện không tưởng, vì bởi thân này nhất định sẽ mất và thân sau là kết tụ của nghiệp. Không có chuyện y nơi thân vô thường tu luyện để cầu mong thân thường, đây là quan niệm sai lầm của ngoại đạo thời bấy giờ.
֎Thân đã như vậy, thì tâm (thọ, tưởng, hành, thức) cũng đều như vậy, vì thân tâm này là kết quả của nghiệp, nếu y nơi nghiệp thì không thể thoát ra khỏi trói buộc của nghiệp.
֎Luận chứng này đưa ra tiền đề thứ hai trong bài kinh đó là "diệt sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ" có nghĩa người trí cần phải xác lập vị trí của thân trong đời sống. Nếu yểm ly được ba quan niệm trên về thân thì nơi thân này sẽ được thân giải thoát hay giải thoát khỏi sự trói buộc của thân. thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy. Tạo sự yểm ly bằng sự thấy biết rõ ràng thì giải thoát khỏi trói buộc thân tâm vô thường là điều hiển nhiên.
Kiều Trần Như nhờ lời dạy này, chẳng bao lâu sau đó, thấu triệt ý nghĩa và chứng A La Hán quả.
[[1]] Trích tóm tắt kinh Phật Bản Hạnh Tập –HT Thích Trung Quán dịch.
Ba Cõi Ở Đâu Làm Sao Ra Khỏi Ba Cõi

Hỏi: Ba cõi ở đâu mà tại sao nó có thể giam cầm được người ta?
Đáp: Ba cõi trong tâm này.
Hỏi: Tâm vô hình làm sao biết có ba cõi trong đó?
Đáp: Tâm vô hình nhưng có bóng. Thấy bóng nên biết có ba cõi. Như gió vô hình, nhưng thấy cờ bay, người trí biết ngay ở đó có gió.
Hỏi: Cái bóng của ba cõi trong tâm, hình dáng như thế nào?
Đáp:
−Phiền não là bóng dáng của ba cõi trong tâm.
−Tham lam là bóng dáng của ba cõi trong tâm.
−Sân hận là bóng dáng của ba cõi trong tâm.
−Ngã mạn là bóng dáng của ba cõi trong tâm.
−Tà kiến là bóng dáng của ba cõi trong tâm.
−Ngu si là bóng dáng của ba cõi trong tâm.
Nói chung, ba cõi tuy vô hình nhưng có bóng dáng của nó. Khi nào, trong ông hiện khởi những bóng dáng này, thì biết chắc rằng, mình đang là “công dân ưu tú” của ba cõi. Công dân ưu tú nhất định sẽ được tuyên dương! ... Ông đã được ba cõi tặng tấm “huy chương hay kỷ niệm chương vì sự nghiệp phiền não” nào chưa?
Hỏi: Như vậy, những lúc không hiện các bóng dáng nói trên, mình đã ra khỏi vô minh ba cõi rồi chăng?
Đáp: Mọi chuyện đâu có dễ dàng như thế?
Giống như trong tối thì không thấy một bóng hình nào cả... Nhưng bước ra ngoài sáng, lập tức hình với bóng của ta xuất hiện.
Vì thế, “Khi nào, cho dù ở ngoài sáng hay trong bóng tối, cũng không một chút bóng dáng của ta hiện hữu. Lúc đó mới biết chắc, bóng dáng vô minh của ba cõi hoàn toàn tịch diệt trong tâm thức này”.
Đáp: Như đã nói, ba cõi đều do tâm này (Tam giới Duy Tâm), cuộc đời con người có 3 thứ trói buộc:
●Đầu tiên là cái ham muốn gọi là dục giới. Khi nào thấy mình khởi lên ham muốn, biết mình đang ở cõi dục.
●Cái thứ hai là “thân này” gọi là sắc giới. Cái thân không phải của mình. Bây giờ nó chưa bỏ mình thì 80 năm sau nó cũng bỏ. Vì vậy, khi nào khổ vì cái thân này biết đang ở cõi sắc.
●Cái thứ ba là những quan niệm gọi là vô sắc giới: Những quan niệm luôn đúng với người này, sai với người khác, đúng với nơi này sai với nơi khác, đúng với thời này sai với thời khác. Nên khi nào thấy mình hơn thua với ai, mình phải đúng bằng được là biết đang ở vô sắc giới.
Vậy, muốn thoát ra khỏi “ba cõi”, thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn mình tự dựng lên thì làm thế nào?
─Ngồi đây đừng có ham muốn nữa. Thoát khỏi cõi dục.
─Ngồi đây đừng để cái thân trói nữa. Đói thì ăn, bệnh đi bác sĩ. Nhưng nhất quyết không làm nô lệ cho nó. Thoát khỏi cõi sắc.
─Ngồi đây đừng để quan niệm trói nữa. Thoát khỏi vô sắc.
Dễ chưa...! ...! ...!
Lấy Tâm Làm Gốc Thiểu Dục Tri Túc Kiết Sử Do Đâu Mà Thành

✽ LẤY TÂM LÀM GỐC
Hỏi: Người mới bắt đầu tu hành trong Phật Đạo, lấy gì làm gốc?
Đáp: Người mới tu hành trong Phật Đạo lấy “tâm” làm gốc.
Hỏi: Làm thế nào để lấy “tâm” làm gốc?
Đáp: Tâm là cái gốc sản sinh ra các thứ hư vọng, tham lam, mong cầu không có điểm dừng. Mong cầu thành tựu thì thêm tham, không thành tựu thì sân hận, muốn chiếm đoạt, chìm đắm trong tham sân gọi là si mê. Tham, sân, si, Phật Giáo gọi là ba độc, ba độc này khi phát tác, sẽ khiến chúng sinh ưu bi khổ não.
Hỏi: Nếu “tâm” này là hư dối, lẽ nào lấy “cái hư dối” làm gốc?
Đáp: Vì nó hư dối, nên mới lấy nó làm gốc, để diệt trừ tận gốc cái hư dối này. Giống như một người chưa biết chữ, thì nhắm thẳng vào việc chưa biết chữ, quyết tâm học hành cho biết chữ. Giống như muốn làm sạch cỏ, thì phải nhổ tận gốc rễ của chúng... Sau đó, mới tính đến những việc khó hơn.
✽ XÂY DỰNG LỐI SỐNG THIỂU DỤC TRI TÚC ĐỂ THOÁT RA KHỎI “BA ĐỘC, THAM SÂN SI”
Hỏi: Làm sao để thoát ra khỏi ba độc “tham sân si”?
Đáp: Trước mắt, để cho ba thứ độc này không phát tác, chờ cơ hội tận diệt chúng, người tu hành phải biết khu trú, tức bao vây ba độc này để chúng nằm yên một chỗ. Giống như người bị rắn độc cắn phải làm chậm sự hấp thu của nọc độc về hệ thống tuần hoàn.
Hỏi: Đối với ba độc “tham, sân, si” làm chậm sự hấp thu đó như thế nào?
Đáp: Muốn ba độc nằm yên một chỗ, làm chậm sự phát tác của chúng, chờ sau đó điều trị, người tu hành phải xây dựng lối sống “thiểu dục tri túc”. Trong đó, “thiểu dục” được hiểu là: tâm ít ham muốn; “tri túc” được hiểu là: biết đủ trong mọi hoàn cảnh.
Hỏi: Tại sao con người ta lại không bao giờ biết đủ?
Đáp: Tâm bằng lòng với những gì đang có, ý không khởi tham vọng là cách tốt nhất ngăn chặn cơ hội “ba độc” phát tác. Sự độc hại của chúng sẽ biến tham, sân, si thành ưu bi, khổ não. Ít muốn biết đủ quan trọng trong giai đoạn đầu của người tu hành như thế nào, Kinh Di Giáo nói rõ điều này: “Nhược dục thoát chư khổ não, đương quán tri túc. Tri túc chi pháp, tức thị phú lạc, an ổn chi xứ. Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất tri túc chi nhơn, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý.”
Nghĩa là: Muốn thoát khỏi khổ não, ngay hiện tại phải biết quan sát để thâm nhập phép biết đủ. Biết đủ là “pháp” cho các ông tu tập trong lúc này. Biết đủ chính là nguyên nhân đưa đến tâm an ổn nơi hiện tại và giàu có trí tuệ ở vị lai. Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc. Trái lại, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý.
Hỏi: Xin nói rõ, quá trình này được diễn ra như thế nào?
Đáp: Tâm hư dối bị tác động của ba độc tham, sân, si theo nguyên tắc cung cầu. Trong đó “tâm” được ví như thị trường. Ý thức được ví như nhà sản xuất. Khi tâm biết đủ, không vọng sinh các nhu cầu, thì ý thức sẽ dừng cung cấp các sản phẩm nghĩ suy nhằm làm thỏa mãn nhu cầu tham, sân. Khi ý thức dừng cung cấp những sản phẩm độc hại phá hoại tâm này, chừng đó người tu hành mới đủ bình tĩnh và sáng suốt để tiếp nhận Giáo Pháp một cách hiệu quả, không sai lệch.
Hỏi: Thế nào để tiếp nhận Giáo Pháp không sai lệch?
Đáp: Giáo Pháp của Phật giống như thuốc chữa bệnh.
Đáng lẽ ra, “người bệnh” dùng thuốc này để giúp mình tiêu ngã, diệt trừ ba độc, chấm dứt si mê. Thế nhưng người này làm ngược lại, dùng Giáo Pháp như một món trang sức để thỏa mãn cái ngã, nuôi lớn tham vọng học tập để hơn người hoặc làm thầy.
Chìm đắm trong tham vọng này, chẳng khác “dứt dòng le le, tiếp nối dòng cò”. Tiếp nhận Giáo Pháp trong tâm thế như vậy, Giáo Pháp sẽ bị người đó vô hiệu hóa, đôi khi phản tác dụng.
Tóm lại, khi nào người tu hành trong Phật Đạo chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa thiểu dục tri túc, để xây dựng cho mình bằng được “đời sống ít muốn biết đủ, buộc hư vọng tâm phải dừng lại” thì chừng ấy hư vọng tâm và ý thức sẽ là những ông chủ bà chủ độc chiếm thân tâm, bắt các “căn” làm tôi tớ, mãi miết rong ruổi nơi tiền trần tìm kiếm các pháp, để thỏa mãn tham vọng, không có hồi kết.
Phật Đạo gọi đó là: “Mãi mãi trôi nổi (luân hồi) trong pháp giới (tâm thức) chúng sanh”
−Không nhận thức đầy đủ để xây dựng đời sống, không biết đủ, mà cố tình cột trói tâm này ở yên một chỗ bằng các biện pháp cưỡng bức để sanh các thứ thiền, khi dây trói bị cắt đứt, ba độc lại được làm chủ và phát tác sự độc hại của nó mãnh liệt hơn.
−Suy tư để nhận thức đầy đủ một pháp rồi mới ứng dụng, chính là biện pháp phục hồi chức năng Chánh Tư Duy. Chức năng này đã bị người tu hành bỏ quên. Đây cũng là một trong những cách châm ngọn lửa trí tuệ vào cây đuốc Giáo Pháp đang ở trên tay, giúp soi sáng con đường đi đến Giác Ngộ.
−Thông thường, người tu hành chấp nhận Giáo Pháp theo lối mòn, người trước nói thế nào, người sau nghe thế ấy. Nhắm mắt làm theo, mà không sử dụng sức tư duy để phân định điều đã nghe là đúng hay sai. Không suy xét đến tận cùng vấn đề, để có một nhận thức đầy đủ việc mình đang làm, đang tu tập. Điều này dẫn đến hậu quả sau nhiều ngày tháng, khả năng tư duy sẽ bị thui chột, dẫn đến cả tin, mê tín.
−Cuối cùng là, rất khó chuyển thức thành trí để thâm nhập những ý nghĩa ẩn mật của kinh. Không thể thâm nhập ý nghĩa ẩn mật của kinh, cơ hội Giác Ngộ nhất định khó đến với những người này.
Giống như một người khi đi chỉ biết đi, khi đứng chỉ biết đứng, khi ngồi chỉ biết ngồi, khi ăn chỉ biết ăn, khi uống chỉ biết uống. mà không nhận thức đầy đủ rằng: Tôi phải đi đến đâu, vì sao tôi dừng lại, tôi ngồi xuống bởi lý do gì. ăn uống, ngủ, nghỉ, cũng đều như vậy. Nhất định những hành động trong trạng thái không nhận thức đầy đủ này khó có thể chấp nhận rằng, điều này sẽ dẫn đến trí tuệ và Giác Ngộ trong vị lai.
Tất nhiên, trong vài bài kinh, cũng có đề cập đến chuyện người tu hành làm như vậy, nhưng đây chỉ là biện pháp tình thế. Biện pháp bất đắc dĩ có ý nghĩa chữa cháy đối với hạng người ham ưa chuyện thị phi, thường nghe ngóng việc người khác, thích dòm ngó ra bên ngoài, thấy gì cũng muốn, nghe gì cũng ham, không dành trọn tâm ý để nhất tâm tư duy con đường Giải Thoát. Đối với hạng này, vị Đạo Sư phải buộc lòng chỉ định họ thực hiện hạ sách này Biện pháp như vậy, không phải là cách tốt nhất áp dụng cho tất cả mọi căn cơ tu hành.
✽ KIẾT SỬ DO ĐÂU MÀ THÀNH?
Hỏi: Sau khi đã xây dựng được đời sống ít muốn biết đủ, người tu hành cần làm gì tiếp theo, để dứt
sạch tham, sân, si?
Đáp: Việc cần làm tiếp theo để dứt tận gốc tham, sân, si (kiết sử) là: phải học tập Giáo Pháp để biết rằng, kiết sử do đâu mà thành.
Hỏi: Xin cho biết, kiết sử do đâu mà thành?
Đáp: Kiết sử chỉ là hiệu ứng của tổ hợp căn, trần, thức giao nhau trong điều kiện mê muội. Có hai giai đoạn tổ hợp này khi giao nhau, sẽ sanh kiết sử, đó là:
Ý căn giao nội trần rồi vọng khởi phân biệt, đem phân biệt của quá khứ về hiện tại, lôi kéo người tu hành làm theo sự sai khiến của nó...!
Sáu căn giao ngoại trần và vọng khởi phân biệt trong hiện tại, khiến người tu hành bỏ mất bản tâm, chạy theo kiết sử, như con trâu bị con người cầm sợi dây dắt đi...!
Tu Hành Là Làm Cái Chi

Hôm qua vô tình nghe được hai anh “Quảng Nôm” lí sự, mẩu đối thoại nghe ra ngộ ngộ, xin chia sẻ đến mọi người để cùng nhau suy gẫm:
“A: Tau hỏi mi, theo Phật tu hành để thành cái giống chi?
B: Mi hỏi răng lạ rứa, thì ai cũng biết theo Phật tu hành để thành người tốt trong đời!
A: Nếu tu hành để thành người tốt trong đời, thì cần chi đến Phật trời. Tổ tiên ta, Ông bà ta, giáo dục, văn hoá, luân lí, đạo đức, v.v... của đất nước ni, không biết dạy con cháu thành người tốt hay răng, mà phải cần đến cái thứ triết lí xa xôi, xưa như trái đất, du nhập từ Ấn Độ!
B: Nhưng đạo Phật còn dạy người ta làm lành, lánh dữ, bỏ ác theo thiện, biết thương người, biết giúp đỡ người khác, không ích kỉ nhỏ nhen, biết hi sinh, v.v... toàn là điều tốt!
A: Tau hỏi mi, những thứ nớ, từ lúc còn mặc quần xà lỏn ra đàng, tau đã nghe bà Ngoại tau dạy rồi. Lớn lên, thầy cô cũng dạy như rứa, bộ mi không học hay răng, đừng có nói mi là cái thằng không có giáo dục? Hoá ra, thứ Phật của mi thường rêu rao là trí tuệ, chẳng hơn bà Ngoại tau cùng mấy người lớn dạy tau hồi còn con nít. Nếu chỉ theo ổng để học mấy thứ nớ. Xin lỗi! Tau khuyên mi, nên về nhà suy gẫm câu: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục cũng là cái ao”!. Theo Phật trời chi cho thiên hạ cười là đồ vọng ngoại, mấy thứ dân ta làm tốt lại không xài, đến cây tăm xỉa răng cũng xài hàng của Thái, cái đồ “trưởng giả học làm sang!” tau chán bọn nớ đến tận cổ rồi!
B: Rứa, theo mi tu theo Phật là làm cái chi?
A: Theo chỗ tau biết, người đời giống như kẻ nghiện ma tuý. Bình thường hắn là người tốt, người nghiện mô không học, không biết những thứ mi nói, thậm chí biết nhiều hơn mi! Nhưng, một khi cơn nghiện phát lên, lí trí mê mờ, con nghiện không tự chủ bản thân, trở thành kẻ hại mình hại người! Từ một người tốt, trở thành kẻ xấu ác. Theo Phật chính là cai nghiện, khi hết nghiện sẽ trở lại con người tốt, vì bản chất anh nghiện không phải là kẻ xấu!
B: Nói như mi, theo Phật là để cai nghiện, tau cũng đồng ý. Nhưng như rứa, tại răng phải lập chùa chiền, bỏ nhà bỏ cửa xuất gia?
A: Cái đạo lí sơ đẳng mà mi cũng không biết, làm răng biết những thứ sâu xa! Để tau nói cho mi nghe! Đạo cũng như đời, cai nghiện có hai loại hình. Một là cai nghiện tập trung, hai là cai nghiện tại địa phương. Mấy anh địa phương giáo dục không được, thì phải tập trung, ở đó họ có nhiều biện pháp hữu hiệu như, quản lí người tốt, kỉ luật nghiêm, con nghiện không bị rủ rê như ở ngoài, v.v...
B: Nhưng mà tau thấy, có một số người đi tập trung cai nghiện thời gian dài, nhưng hiệu quả không cao, là tại làm răng?!
A: Phàm ở đời, muốn thành công một điều gì đó, phải hội đủ nhiều yếu tố. Cai nghiện cũng như rứa, muốn cai nghiện thành công, có hai điều then chốt đó là: Ý chí cai nghiện và phương pháp cai nghiện, thiếu một trong hai thứ nớ, khó thành! Ý chí, sẽ giúp người vượt qua cơn nghiện. Phương pháp, sẽ giúp người biến ý chí thành hành động cụ thể một cách hiệu quả!
B: Theo mi, cai nghiện tập trung và cai nghiện tại nhà cái mô hiệu quả!
A: Tất nhiên cai nghiện tập trung sẽ hiệu quả hơn, nhưng nó như con dao hai lưỡi. Mấy anh nghiện ở chung, nếu không có ý chí đủ mạnh, không có phương pháp hay, không kiểm soát chặt chẽ, anh quản lí cũng là người nghiện, v.v... Nhất định, khi cơn nghiện nổi lên, mấy ảnh sẽ tìm mọi cách, thậm chí toa rập với anh quản lí, bằng mọi cách làm răng thoả mãn cơn nghiện là được. Chừng đó, thủ đoạn hút chích sẽ tinh vi hơn, khó phát hiện hơn, thậm chí trong khi thiếu thuốc, để đở cơn ghiền, hình thức nghiện sẽ có nguy cơ biến thái, tức chuyển từ nghiện thứ này sang nghiện thứ khác, hoặc nghiện cả hai. Thực tế, xã hội những kẻ nghiện đã chứng minh điều ni.
B: Mi nói có lí, nhưng người tu hành cai nghiện là cai những thứ chi?
A: ─Một, cai ham muốn! Phật giáo gọi là cai ngũ dục. Cai ngũ dục tức mắt thấy sắc không khởi lên ham muốn. Tai nghe tiếng không chạy theo âm thanh để cho đó là tiếng hay tiếng dở, v.v... Nói chung, năm căn thân là: Nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân không chạy theo ngoại trần để sinh các thứ ham muốn. Thực hiện được như rứa, gọi là đã cai xong nghiện Dục Giới.
─Thứ hai, sau khi hết nghiện cõi dục, cai tiếp nghiện cõi sắc, tức không nghiện thân ni, quán thân ni như cái bọc đựng đồ dơ, phải chịu quy luật sanh, lão, bịnh, tử, an nhiên trước những thay đổi biến hoại. Coi thân như công cụ để tu học, không nuông chìu, không để hắn sai sử, không làm tôi mọi cho hắn, ăn ngủ chuẩn mực coi hai thứ nớ như thuốc chữa bịnh, không vác nó tới những nơi mà người tu hành cần xa lánh. Hết nghiện thân, coi như đã cai xong nghiện Sắc Giới.
─Thứ ba, sau khi hết nghiện dục, hết nghiện sắc, cai luôn cái nghiện Vô Sắc. Vô Sắc thuộc về ý thức, là những quan niêm, nhận thức, nghĩ suy, v.v... Những thứ ni, Phật đạo gọi là Pháp, tuy nó không có hình tướng, nhưng làm người ta nghiện. Muốn cai hắn, phải biết những thứ nớ không có chân lí, không có chân lí vì chỉ đúng ở chỗ ni mà sai đằng tê, không chạy theo, không lấy đó làm sở đắc để sinh cái ngã. Quan niệm ở đời hay quan niệm trong đạo đều phiến diện, đạo ni nói tốt theo kiểu mình, đạo kia chỉ trích đạo nớ, v.v...
Nói chung, còn thủ giữ quan niệm thì không thể ra khỏi Vô Sắc Giới! Vì thế, tu hành trong Phật đạo là công cuộc thay đổi tận gốc nhận thức, gọi là chuyển thức thành trí. Tau sẽ giải thích cho mi cái ni khi mô rảnh rỗi!
B: Tau hỏi mi, mấy thằng cai nghiện tại nhà như tụi mình, làm răng thực hiện được những điều mi nói. Còn bao nhiêu thứ linh tinh, chớ có dễ mô!
A: Thì tau đã nói rồi, ý chí và ý chí, muốn thành công phải có ý chí! ... Tất nhiên thằng cai nghiện tại gia phải khôn khéo, không dúng như người tập trung, bề ngoài phải làm vẻ bình thường để vợ con hàng xóm khỏi xốc, nhưng trong lòng, nơi tận cùng ý thức phải bùng cháy mãnh liệt, không cháy như núi lửa, thì việc chi thành được. Nói rứa, chớ cai nghiện tập trung hay cai nghiện tại gia mà chưa đốt lên được ngọn lửa nhiệt huyết, chẳng có phương pháp, thì đừng mong hết nghiện!
B: Sau khi hết ba món nghiện nớ, còn học cái chi nữa không?
A: Tất nhiên là còn, còn rất nhiều thứ! Vì bởi, một người được gọi là tốt trong Phật đạo, phải hiểu cái tốt của Phật đạo là thứ chi, chớ có giống mấy thứ tốt như người đời mà mi nói mô! Người đời như mi, lầm tuốt luốt nên đã “tầm thường hoá Phật pháp” mà không tự biết, làm cho Phật giáo ngang bằng bà Ngoại của tao, thiệt là tội nghiệp cho ông Phật. Giống như cái tốt của con sư tử, không giống cái tốt của con chuột! Đâu có thể lấy cái tốt của chuột dạy thành sư tử tốt! Mi có hiểu tau nói chi không?
B: Răng mi không nói sơ sơ cho tau nghe cách học cái tốt của sư tử?
A: Chưa hết nghiện, mần răng học nghề! Chưa hết nghiện mà dạy nghề, nhất định mấy anh nghiện sẽ bán luôn đồ nghề để lấy tiền mua thuốc nhằm thoả mãn cơn ghiền! ... Thôi, tau còn chạy cuốc xe để kiếm tiền nuôi mấy đứa nhỏ. Chừng mô rảnh, tau với mi đi uống cà phê nói tiếp! Nhớ đem theo tiền để trả tiền cà phê nghe!
B: Cái thằng chạy xe thồ mà nói đạo pháp nghe lọt lỗ tai. Tau nhất định sẽ bao cà phê cho mi dài dài...!”
Khái Niệm Hồi Hướng

Hồi hướng, gồm hai việc là HỒI và HƯỚNG.
−HỒI (Hán-Việt) có nghĩa là: trở lại, quay lại, trở về...
−HƯỚNG (Hán-Việt) có nghĩa là: hướng đến… (một mục tiêu, một nơi nào đó...)
Chúng ta thực hành việc hồi hướng bằng cách gì?
Để thực hành hai chữ hồi hướng, chúng ta quay trở lại với thanh tịnh này, quay trở lại với hiểu biết này, gọi là công đức. Sau đó hướng về tất cả HĐ, cũng như những ai đủ duyên để chia sẻ, trao đổi, giúp người cũng được điều mình đã được. Làm như vậy chính là chúng ta đang thực hành phép hồi hướng...! ... Viết email, a lô... chia sẻ lợi ích cho nhau, là thật sự đang làm công việc hồi hướng.
Các bạn! ... Mình biết, trong HĐ chúng ta, ngoài việc lo kế sinh nhai, anh em đã dành một số thời gian nhất định nào đó để tu tập! ... Sau thời gian tu tập, sự vui ở đời không còn hứng thú. Nếu có tiếp xúc, nếu có tham gia, nếu có ngồi lại với đời, chỉ là "bất đắc dĩ"!
Niềm vui của HĐ bây giờ chỉ còn lại tình HĐ đồng tu, niềm vui là sự học tập và được chia sẻ ý nghĩa Giáo Pháp tự thân mỗi người đạt được.
Cho đến lúc này, những bài viết, những dòng emails của HĐ là thức ăn tinh thần, là niềm vui để sống, là tri thức, là ngọn đuốc để HĐ chúng ta vươn lên. Nó giống như dây bầu dây bí hướng theo ánh mặt trời, thiếu ánh mặt trời, dây bầu dây bí sẽ "đun ngọn", không kết trái đơm bông!
Mấy ngày trước, có lúc bận công việc, vì vài lý do khách quan, và để cho "con mắt nghỉ ngơi", mình tạm không gởi emails cho mọi người...! ... Rất nhiều HĐ tâm sự với mình là: Cảm thấy trống vắng, thiếu sức sống của Đạo, cảm giác hụt hẫng! ... Mở máy ra mà không có email, buồn năm phút! ... Thế mới biết, những bài viết, những sẻ chia của HĐ là nguồn sống, là ban vui, là ánh dương để dây bầu dây bí theo đó mà phát triển.
HĐ hãy chiêm nghiệm ý nghĩa hai chữ hồi hướng, và biến nó thành hiện thực ngay trong hiện tại này bằng việc làm cụ thể trong khả năng có được của mình. Trước mắt, HĐ mình không thực hiện được hai chữ này, thì đợi đến bao giờ mới thành tựu hai chữ hồi hướng?
(25-10-2014)
Khái Niệm Sám Hối

Sám hối là khái niệm mà mọi người tu hành đều biết, đều thực hành ít nhất một vài lần trong đời với hy vọng thành tâm sám hối tội nghiệp sẽ tiêu trừ. Thành tâm sám hối là điều đáng hoan nghênh nhưng như thế nào được gọi là thành tâm thì phải coi lại.
֎Sám hối, ý nghĩa hai từ này không xa lạ gì với người tu hành, ai cũng biết sám hối là ăn năn chừa bỏ thói cũ và không lặp lại lỗi này trong vị lai. ֎Đúng là như vậy không lặp lại lỗi này trong vị lai thì được rồi, nhưng lỗi đã làm thì sao đây?
Không lẽ bắt con gà ông A ăn thịt rồi đứng trước bàn thờ Phật bảo rằng tôi nay thành tâm sám hối, hết lỗi này chăng? ... Con gà của ông A đâu phải con gà của Phật, Phật có thể tha thứ nhưng liệu ông A có tha thứ hay không? ... Những điều như vậy không đơn giản, chưa nói chúng sanh trong nhiều đời kiếp tạo vô số lỗi ác nay làm sao hóa giải...! ... Chuyện con gà ông A là chuyện trước mắt có thể đến năn nỉ xin bồi thường mong ông A tha thứ, nhưng những chuyện từ lũy kiếp biết kiếm ai mà bồi thường...! ... Tu hành ai cũng biết gieo nhân nào gặt quả ấy, vô lượng kiếp gieo biết bao nhân lành dữ nay không khéo phương tiện sẽ thành quả, sám sao đây?
Có người lại luận biện “làm ác mà không nghĩ đến” thì lỗi ác coi như không có...! ... Ba cõi đâu có chấp nhận thứ luận biện kỳ khôi này.
Anh bắt con gà ông A ăn thịt, xong anh có quyền không nghĩ đến hoặc quên đi, nhưng ông A và pháp luật có quên anh không? ... Ông A và pháp luật không quên thì bản thân anh sẽ có vấn đề với ông A và pháp luật, chuyện bảo là quên hoặc không nghĩ đến của anh vô dụng...! ... Đây là chuyện thế gian còn chuyện quả báo sâu xa thì ba cõi rất công bằng. Anh có thể trả con gà nhưng chuyện anh ăn thịt con gà can tội sát sanh hại mạng thì trả bằng cái gì?
Sám hối không đơn giản chỉ là lý luận suông, hoặc quỳ lạy mà được...! ... Người tu hành thường đề cập đến nhiều loại sám hối, nào sám hối hữu tướng, sám hối vô tướng, thậm chí sám hối thiệt tướng. Những thứ này trong kinh luận có nói, nhưng để ứng dụng nó trong đời sống thì không như những gì người đời kiến giải.
Trước khi tìm hiểu cặn kẽ pháp sám hối, thử xem vì sao người tu hành lại phải sám hối?
֎Phật dạy pháp sám hối vì chúng sanh ba nghiệp đã từng phạm lỗi ác hiện đời hoặc những đời trước, trong vô minh thân khẩu ý không thanh tịnh nên thường phạm lỗi lầm. Trong kinh Địa Tạng ngài Địa Tạng nói rằng: “Chúng sanh trong ba cõi nhướng mắt nhíu mày đều tạo nghiệp.” Kinh Tiểu Bộ Phật cũng dạy: “Chúng sanh là chủ của nghiệp, nghiệp là thai tạng của chúng sanh,” có nghĩa chúng sanh tạo tác sinh nghiệp và nghiệp quay lại làm thành chúng sanh. Cái vòng lẩn quẩn này nếu không có cách dứt trừ thì luân hồi sẽ bất tận.
֎Như vậy sám hối là cách thức nào đó để nghiệp cũ không thành quả, hiện tại thân khẩu ý không tạo tác, nghiệp cũ tiêu trừ, nghiệp mới không tạo, vị lai vô sanh. Vì thế pháp sám hối tức đem ba nghiệp sám hối đến khi ba thời thanh tịnh được gọi là “giải thoát”, vì thế muốn pháp sám hối hiệu quả phải biết “nguyên lý nghiệp quả” và “cách thức sám hối”.
֎Cách thức sám hối như thế nào là điều cần sáng tỏ, giống như một người muốn đi xa, điều đầu tiên phải là người đó không bị trói buộc và tự tại trong các phương tiện. Phật dạy pháp sám hối để giúp người tu hành nhân pháp này thoát khỏi mọi hệ lụy ràng buộc ba cõi.
Kinh Tiểu Bộ Phật cũng dạy: “Những ai có tư niệm, tư lường, thầm ý, đây là cảnh sở duyên cho thức an trú, thức an trú thức tăng trưởng, thức tăng trưởng thức chọn lựa.”
֎Vâng! Nếu không biết sám hối “thức” sẽ chọn cho mình con đường phù hợp “thức nghiệp”, đấy là luân hồi vay trả.
1. Giữ giới để không tạo tác nghiệp mới.
Hối trong sám hối là không tạo tác nghiệp mới, muốn giải thoát khỏi khổ đau phiền não điều đầu tiên không tạo tác nghiệp mới là đúng. Nhưng căn cứ vào đâu và làm những gì để thân khẩu ý không phạm lỗi tạo nghiệp thì chúng sanh không làm sao biết được.
Phật là đấng thấu suốt nhân quả nên biết rõ tác hành nào là “nhân hữu lậu” tác hành nào là “nhân vô lậu”, có tạo nhân vô lậu mới gặt hái quả vô lậu. Vì thế vừa thành Đẳng Chánh Giác Phật kiết giới Bồ Tát gọi là Ba La Đề Mộc Xoa, còn có tên Tâm Địa Pháp Môn, đây là pháp môn mà tất cả chư Phật và Phật tử phải học.
Đoạn kinh sau nói rõ: “Rồi từ cung thiên vương ấy, Như Lai trở xuống, ngồi dưới cây bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh phàm phu mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô Xá Na của Như Lai đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới pháp mà từ khi mới phát tâm ngài đã thường tụng. Giới pháp ấy như ngọc kim cang sáng chói, và là bản nguyên của chư Phật, của Bồ Tát, là hạt giống Phật tánh. Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh, và đương nhiên có cái nhân như vậy thì đương nhiên thực hiện pháp thân thường trú.
Về mười Ba la đề mộc xoa mà Như Lai sẽ nói lại như sau đây, khi xuất hiện ở thế giới này, thì đó chính là giới pháp của Phật pháp, là giới pháp mà hết thảy chúng sinh trong quá khứ vị lai và hiện tại nên kính phụng thọ trì.
Như Lai sắp sửa vì cả đại chúng ở đây mà trùng tuyên phần Giới pháp vô tận - giới pháp của hết thảy chúng sinh, bản nguyên là tự tánh thanh tịnh.”[[1]]
Vì thế chỉ có y như giới để giữ gìn thân khẩu ý mới không tạo nghiệp nhân, tác hành những gì không trái giới, không trái giới nên thân khẩu ý không lỗi lầm gọi là nhân vô lậu. Đây là vô lậu giới con đường đưa đến đạo quả vô lậu.
Tóm lại “hối” là y như giới để sám hối, đây là mực thước người tu hành căn cứ để biết đúng sai mà ngăn chừa.
2. Tu thiền định để sám lỗi xưa.
Về nguyên tắc làm lỗi với ai thì gặp người đó xin lỗi, phạm tội ở đâu thì phải được nơi đó tha tội. Chúng sanh từ vô lượng kiếp trôi lăn trong ba cõi thân khẩu ý phạm nhiều lỗi ác, vì thế muốn sám hối phải từ ba cõi mà sám. Khi ba cõi xả bỏ hết lỗi lầm mới gọi sạch nghiệp, từ đây ba thừa có ba cách sám hối khác nhau. Sở dĩ có ba cách sám hối vì ba thừa giác ngộ ý nghĩa lỗi lầm ba cõi khác nhau.
2.a. Nhị thừa: Giác ngộ ba cõi thật có, nên sám hối đối với thừa này là tuần tự xả bỏ ba cõi đó là: Sám hối trước tiên với cõi dục, khi nào thân tâm hết dục, cõi dục không còn trói buộc mới bước vào cõi sắc; ở cõi sắc, sám hối khi nào lỗi cõi sắc không còn thoát khỏi cõi sắc vào vô sắc; vô sắc hết lỗi, thân tâm tự tại gọi dùng huệ thanh tịnh vào cảnh giới giải thoát, giống như người phạm lỗi từ ba xứ sở khác nhau phải tuần tự đến từng nơi xin tha bằng cách thành tâm chừa bỏ những ngu mê ở nơi đó.
֎Sau khi ba xứ sở kia hoàn toàn không còn cột trói vì lỗi cũ, mới tự tại ra đi. Pháp sám hối này gọi là “sám hối hữu tướng”, tức y như hữu vi pháp xả bỏ, cho nên Niết Bàn nhị thừa gọi là hữu dư y Niết Bàn.
2.b. Bồ Tát: Do giác ngộ tam giới duy tâm nên dùng tâm thanh tịnh để sám. Muốn thực hiện sám pháp này phải giác ngộ chơn thiệt, tức giác được bản nguyên của tâm, y bản nguyên mà xả bỏ vọng tưởng ba cõi. Hết vọng tưởng, ngộ bản tâm thanh tịnh tự tại lại qua ba cõi vì đã hết lỗi lầm.
Pháp sám này giống người say ăn trộm gà, trong cơn say đến nhà người khác bắt trộm gà về ăn thịt, khi tỉnh dậy hối hận việc làm xưa ray rứt trong tâm, đến gặp chủ gà xin tạ lỗi...! ... Chủ gà là người có trí bảo rằng con gà anh tưởng là bắt trộm thực tế con gà đã chết vì bệnh dịch, tôi quăng bỏ nơi hố rác sau nhà định sáng ra đi chôn. Hôm qua say quá anh tưởng con gà còn sống đem về ăn thịt, anh không lỗi gì chỉ về uống thuốc cho khỏi nhiễm dịch. Người kia nghe xong tâm trí vui mừng về nhà chỉ còn uống thuốc phòng bệnh và chí thú làm ăn mọi thứ vô sự.
֎Pháp sám này gọi là “sám hối vô tướng”, tức y như vô vi mà sám cho dứt vọng tưởng ngu mê, hết ngu mê như người say được tỉnh, thấy được bản nguyên nhưng chưa sạch mê muội gọi là hữu dư y Niết Bàn vì còn thừa sót hai phần sở trí ngu.
Hạng Bồ Tát này tự tu và làm công hạnh giáo hóa chúng sanh. Giống như người mồi đèn trong động tối, một cây đèn không đủ sức sáng chỉ thấy các vật trong động nơi mình đứng, đi khắp hang động để mồi đến bao giờ tất cả cây đèn đều sáng mọi thứ trong hang động được chiếu không còn chút bóng tối gọi là thành tựu trí tuệ (vô tận đăng). Cảnh giới này mới được gọi là vô dư Niết Bàn vì không thừa sót mê lầm.
2.c. Nhất thừa: Từ thánh ngôn lượng mà giác ngộ thiệt tướng vạn pháp, hàng Bồ Tát này dùng thiệt tướng để sám. Pháp sám này giống như người ngủ mê giật mình tỉnh giấc mọi thứ chỉ là chiêm bao.
֎Nhìn cảnh vật chung quanh mới biết cảnh tượng đã gặp vừa qua trong giấc ngủ không thật, biết như vậy tâm trí an vui, pháp sám này gọi là “sám hối thiệt tướng”.
Đại Bồ Tát lại qua ba cõi giáo hóa chúng sanh không thể không có lỗi lầm cho dù lỗi lầm không lớn nhưng phải sám hối, y nơi thiệt tướng để sám gọi là sám pháp thiệt tướng. Trong kinh Đại Bảo Tích có chuyện kể: “Ngài Văn Thù Sư lợi giáo hóa một ngàn tỳ kheo, sau khi thuyết pháp xong có hai trăm tỳ kheo không giác ngộ từ nơi ý chỉ ngài Văn Thù Sư Lợi nói ra, buồn phiền bỏ đi Phật chỉ cho Văn Thù Sư Lợi biết, Văn Thù Sư Lợi hóa hiện trước mặt hai trăm vị đó thuyết lại, sau khi nghe xong rất hoan hỷ.” ... Đại Bồ Tát sám pháp là như vậy.
3.Y trí tuệ sám hối thiệt tướng:
Có thể nói pháp sám hối là phương tiện tối ưu để thành tựu đạo pháp, sám hối trong Phật pháp tức là y như học pháp vô lậu là giới-định-huệ vô lậu để sám. Đầy đủ giới định sẽ cho ra tuệ quả vô lậu.
Trong phạm vi tài liệu này không đề cập tuệ sám, vì chỉ cần y nơi giới định mà sám đối với người tu hành đã đủ, không cần thiết tìm hiểu tuệ sám, sám pháp của các Đại Bồ Tát là “tuệ sám” hay “sám thật tướng” đã giới thiệu ở phần trước.
4.Phạm vi ứng dụng của pháp sám hối:
Như vậy người chỉ có năm giới hoặc ít hơn và chưa biết ba học giới vô lậu có thực hiện sám pháp được không?
֎Phật dạy, pháp sám hối cho hết thảy hữu tình không dành riêng cho loại nào hạng nào, vì thế mọi Phật tử hay người ngoài đạo đều có thể ứng dụng pháp sám này.
Nơi sám pháp điều cốt lõi là sự thành tâm, trong đời sự thành tâm luôn đưa đến kết quả tốt đẹp. Sám lỗi trước hối lỗi sau là phương châm của người hướng thiện và thật sự cầu thị.
Đời người không thể không lỗi lầm, dù lỗi lầm có lớn đến bao nhiêu mà biết ăn năn chừa bỏ thì nhất định sẽ được tha thứ. Mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo, mỗi thể chế chính trị đều cùng là nhân loại và mục đích chung của con người là đem đến hạnh phúc cho mình và cho người.
Trong dân gian có câu nói: “Đánh người chạy đi không ai đánh người chạy lại,” một câu nói đáng trân trọng và thể hiện đầy đủ tính nhân bản. Câu nói trên ám chỉ những ai biết lỗi lầm mà sám hối sẽ được tha thứ.
•Chính vì thế pháp sám hối là cứu cánh trong đời sống nếu muốn an vui. Phật là đấng thập lực, những gì được tuyên xưng từ đấng này đều có giá trị vĩnh hằng và bình đẳng, vì thế sám pháp vẫn mãi tồn tại như một chân lý bất diệt.
Trong Phật pháp tính linh hoạt của sám pháp rất rộng, trong thánh pháp độ sâu của sám pháp là vô tận. Cho nên ngoài việc y học pháp vô lậu để sám, người xưa còn sáng tác ra nhiều văn sám có giá trị lưu truyền đến ngày nay như: Từ Bi Thuỷ Sám, Lương Hoàng Sám. Đây là những tác phẩm Phật giáo có giá trị thực tế rất lớn để mọi người có thể ứng dụng, phương thuốc an tâm chữa mọi căn bệnh lỗi lầm.
Xin giới thiệu một đoạn văn sám tiêu biểu trích trong Lương Hoàng Sám: “Ngày nay Đại chúng đồng nghiệp trong Đạo tràng đã cùng nhau nguyện vì chư Thiên, chư Tiên Long thần bát bộ mà lễ Phật rồi.
Nay đây nguyện vì nhơn đạo, hết thảy nhơn vương, lễ Phật mà báo ơn nhơn loại.
Lại nguyện cha mẹ, Sư trưởng và hết thảy nhơn dân mà lễ Phật. Vì sao vậy?
Vì nếu không có quốc chủ thì hết thảy chúng sanh không biết nương nhờ vào đâu. Nhờ có quốc chủ nên tất cả mọi người đều an cư lạc nghiệp; đi lại trên đất quốc chủ, sống trên đất quốc chủ, và được nhiều lợi ích khác không thể kể xiết; cho nên Đại chúng phải có lòng biết ơn và báo ơn.
Kinh dạy rằng:
Nếu người nào, ngày đêm sáu thời hay chịu khổ, vì muốn lợi ích nên nguyện báo ơn, thì phải phát tâm nghĩ như thế ấy để tu tập hạnh từ bi.
Do nguyện lực ấy, nên nghĩ báo ơn che chở của quốc chủ, nghĩ báo ơn cung cấp của thí chủ, nghĩ báo ơn sinh thành của cha mẹ; nghĩ báo ơn dạy bảo của Sư trưởng, nghĩ báo ơn tế độ của chư Phật.
Nếu người nào hay chí tâm thường niệm tưởng như vậy, người ấy nhập đạo rất mau.
Ngày nay Đại chúng đồng nghiệp trong Đạo tràng nhận thấy ơn lành của chư Phật, Đại thánh khai hóa dụ dỗ chúng ta, ân cần như thế, khiến chúng ta phải biết báo ơn.
Ngày nay chúng ta sanh vào đời mạt pháp, mong nhờ ơn quốc chủ mà hưng hiển được Phật pháp; nhờ quốc chủ cúng dường đầy đủ, không tiếc của báu, làm cho khắp cả nhơn dân đều noi gương quốc chủ và sanh tâm quy kính Phật Pháp Tăng.
Lại nữa người xuất gia được an tâm hành đạo, đi đứng nằm ngồi được tự do, không bị trở ngại; quốc chủ không cho người xuất gia tham dự việc đời; chỉ lo khuyên người làm lành, nguyện cho chúng sanh mau thoát khỏi sanh tử khổ đau; chỉ lo xiển dương vô lượng Pháp môn, chỉ bày đường chơn nẻo chánh cho trời và người. Nhờ ơn quốc chủ nhiều như vậy thì chúng ta đâu được không hết lòng lễ Phật để báo ơn quốc chủ, phải cùng nhau chí thành đảnh lễ nguyện vì quốc chủ mà quy y thế gian Đại từ bi phụ.”[[2]]
[[1]] Trích kinh Bồ Tát Giới –HT. Thích Trí Quang dịch.
[[2]] Trích Lương Hoàng Sám – Thích Viên Giác dịch.
Khái Niệm Nghiệp Trong Phật Đạo

Khái niệm nghiệp trong Phật giáo rất rộng, tất cả mọi hoạt động của thân khẩu ý đều có liên quan đến nghiệp và bị nghiệp chi phối, nghiệp có nghiệp chung và nghiệp riêng.
Nghiệp chung để chỉ mối tương quan giữa cá nhân và cộng đồng còn gọi là cộng nghiệp. Biệt nghiệp hay nghiệp riêng là nói đến cái riêng của từng cá nhân.
Ví dụ con người và những gì chỉ thuộc cá nhân là biệt nghiệp, nhân loại và những gì nhân loại đang tiếp cận là cộng nghiệp của biệt nghiệp người.
Nghiệp chung và nghiệp riêng không tách rời nhau và không nhất thiết chịu chung quy luật thiện ác như nhau, những gì có tính chất tốt đẹp là thiện nghiệp và ngược lại là ác nghiệp.
Ví dụ trong một trận lũ lớn, mọi gia đình đều bị thiệt hại nặng, được coi như ác hay bất thiện nghiệp tùy mức độ thiệt hại, nhưng đồng thời có những người tận dụng cơ hội đó dùng thuyền chở mướn kiếm được nhiều tiền hơn bình thường, tuy có chịu chung nghiệp lũ lụt (ác) nhưng bản thân lại được điều tốt lành (thiện). Vì thế khái niệm nghiệp khó mô tả hoàn toàn, chỉ có thể tự cảm nhận, nhưng dù thiện hay ác Phật giáo đều gọi chung đó là nghiệp.
Khi nói đến nghiệp, Phật giáo muốn nói đến sự ràng buộc hoặc hữu hình hoặc vô hình nào đó tác động trực tiếp lên một chúng sanh hoặc cộng đồng chúng sanh đó, và đưa ra biện pháp giúp chúng sanh này thoát khỏi sự ràng buộc trên theo tinh thần Phật giáo gọi là thoát nghiệp hay giải thoát.
Và thực tế người tu hành nào cũng sợ nghiệp, nhất là nghiệp ác. Vì thế chủ trương tăng thiện nghiệp để hóa giải ác nghiệp được đông đảo Phật tử chấp nhận, biện pháp này gọi nôm na là giải nghiệp. Nghiệp ác như nước muối, nghiệp thiện như nước ngọt, thêm nhiều nước ngọt thì nước mặn sẽ ngọt dần.
Trong đạo giải thoát biện pháp này chỉ mang tính đối phó tạm thời, không phải biện pháp căn cơ giúp thoát ra khỏi trói buộc của nghiệp.
Trong thâm sâu Phật giáo quan niệm dù nghiệp thiện hay nghiệp ác cũng đều là thứ ràng buộc đối với giải thoát, vì thế Phật giáo không chủ trương dừng lại ở Thiên thừa.
•Về nguyên tắc muốn thoát ra khỏi nghiệp phải biết cơ chế vận hành của nghiệp, biết rõ cơ chế vận hành thì việc tìm phương tiện thoát ra khỏi cơ chế này sẽ khả thi.
•Nói đến nghiệp là nói đến tiến trình tổng quát của cỗ máy nghiệp vận hành. Cỗ máy này được vận hành qua nhiều công đoạn mới hình thành, tuy nhiều công đoạn nhưng có bốn công đoạn chính mà cỗ máy nghiệp phải trải qua nếu thiếu một trong bốn công đoạn này thì nghiệp không thành tựu...! ... Thậm chí khi nghiệp thành tựu, Phật giáo chỉ ra thành tựu này có thể thay đổi vì Phật giáo biết chắc nghiệp chỉ là hiệu ứng của mê và nó vô thường. Vô thường nên có thể dừng và chỉ là kết quả của mê nên không thật, không thật thì có thể thay đổi.
֎Bốn công đoạn của nghiệp đó là: Nhân, duyên, quả, báo. Trong giới tu hành hay gọi là: Nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả, nghiệp báo.
•Nghiệp nhân có thể hiểu như đem hạt giống về nhà;
•Nghiệp duyên như đem hạt giống gieo trồng và thực hiện các kỹ thuật canh tác;
•Nghiệp quả tương tự như giai đoạn đơm hoa kết trái;
•Nghiệp báo là các tính chất có được của quả (trái) như ngọt, đắng, lớn, nhỏ, tốt, xấu.
Thấu suốt cơ chế vận hành của nghiệp nên Phật giáo tận dụng sự hiểu biết này làm vô hiệu hóa thành tựu của mỗi công đoạn. Giống như biện pháp canh tác, hạt giống được canh tác tốt sẽ cho ra kết quả tốt và ngược lại từ nhân đến quả sẽ không thành.
֎Bốn công đoạn trên là tiến trình từ nhân đến quả gọi là nhân quả. Như vậy có thể hiểu nghiệp chỉ thành tựu khi nào viên mãn yếu tố nhân quả.
Hiểu nghiệp theo cách vừa nêu giống như trồng cây thì có thể dừng từng công đoạn để cây không ra trái, tức không thành quả báo. Nếu lỡ đem hạt giống về nhà mà không đem hạt giống này trồng tỉa thì hạt giống vô dụng; nếu trồng tỉa rồi nhưng ngưng chăm sóc không tưới nước bón phân hạt giống không thể nảy mầm; nếu đã nảy mầm mà không đủ duyên tăng trưởng thì chờ ngày hoại diệt; khi đủ duyên kết trái nếu kỹ thuật canh tác đúng khoa học, dùng kỹ thuật cao có thể làm cho trái này thay đổi tính chất của nó, giống như người ta bơm thuốc cho trái cam chua thành ngọt.
Nói chung, từ “nhân” đến “quả” phải trải qua thời gian, trong thời gian này nếu hiểu biết sẽ làm “chậm” hoặc “dừng hẳn” sự vận hành của cỗ máy nghiệp.
✽NHÂN hay hạt giống (chủng tử): Luôn thuộc quá khứ, cho dù việc vừa mới xảy ra nhưng khi ý thức về nó thì sự việc đã thuộc niệm trước, chỉ là hiện tại nhớ nghĩ. Vì chúng sanh niệm niệm không dừng như dòng nước chảy, vừa tác niệm thì niệm này trôi theo quá khứ, không một ai có thể đem quá khứ về hiện tại, giống như chiêm bao khi thức dậy chỉ là sự nhớ nghĩ cho dù giấc chiêm bao này có ảnh hưởng như thế nào.
Vì vậy Phật dạy các pháp như mộng, khi ý thức tiếp cận pháp thì pháp này thuộc niệm đã qua như giấc chiêm bao.
Phân tích vòng đời của một chúng sanh Phật chỉ ra vòng đời này gồm 12 công đoạn duyên cho nhau nên có tên 12 nhân duyên.
•Trong kinh Phật chỉ ra rằng vô minh, hành, thức, danh sắc thuộc nhóm “nhân quá khứ”, kinh gọi là tiền tế, có nghĩa là thuộc về mé trước (quá khứ tâm hay niệm trước).
•Một trong ngũ triền cái là hối quá, tức nhớ nghĩ hối hận chuyện đã qua làm tâm yếu ớt, Phật dạy người tu thiền phải từ bỏ hối quá thì thiền mới sanh. Không truy tìm quá khứ chính là hình thức giúp người tu hành an tịnh nơi hiện tại.
✽DUYÊN: Là những tác nhân làm cho hạt giống nảy mầm và tăng trưởng thuộc về hiện tại. Hiện tại có gieo trồng chăm bón thì mầm mới lớn lên thành cây, do đó để dừng nghiệp phải ý thức hiện tại đang mê, không để thân khẩu ý thi vi tạo tác.
•Trong 12 nhân duyên các khâu: Xúc, thọ, ái, thủ thuộc về hiện tại, kinh gọi là trung tế.
Vì thế Phật thường dạy người tu hành trong hiện tại phải hộ trì các căn, dừng tâm phân biệt, không chạy theo cảnh duyên để dừng xúc đối hay khác hơn phải minh xúc, tức luôn luôn sáng suốt khi thân căn tiếp xúc nội pháp hoặc ngoại pháp.
•Khi xúc dừng thì thọ dừng, hoặc quán thọ để dừng ái, quở trách ái để không nắm giữ gọi là vô xúc, vô thọ, vô ái, vô thủ.
Duyên có nhiều thứ, duyên gần gọi là thân cận duyên, duyên xa gọi là duyên duyên, duyên ngoài gọi là sở duyên. Tất cả mọi duyên đều phải dừng vì hiện tại đang mê, các pháp có thấy có biết đều là ảnh tượng của nghiệp thức nên Phật dạy các pháp như ảnh, như hưởng, như vang, như bóng.
Biết vậy kẻ có trí không chạy theo ảnh tượng hư dối, không chạy theo thì các duyên tự dừng. Tóm lại dừng các duyên là hình thức không giúp nghiệp đủ duyên thành quả, việc làm này phải thực hiện ngay trong hiện tại đang mê này.
✽QUẢ (hay Trái): Là kết quả viên mãn một pháp thuộc vị lai, hiện tại dừng các duyên vị lai quả sẽ không hiện. Như cây không tưới nước bón phân thì ngày mai cây không ra quả, vị lai không thật có vì nó chưa đến, chỉ là thức giong ruổi tìm kiếm nơi không hoặc chưa có tưởng là có.
Vị lai thuộc về pháp tưởng, Phật ví như huyễn ảo, giống như nhà ảo thuật nơi không có bồ câu mà làm thành bồ câu, ảo pháp này chỉ làm mờ mắt dối gạt kẻ vô trí lầm tưởng thiệt có sự tướng.
•Trong 12 nhân duyên các chi: Hữu, sanh, lão, tử thuộc hậu tế. Vị lai chưa đến nên không thể đem vị lai ra tu hành hay sửa đổi vì cái chưa thành hình thì lấy gì để sửa. Dứt mong cầu vị lai cũng chính là cách giúp người tu hành hiện tại dừng duyên để an trú trong chánh niệm.
✽BÁO: Là tính chất của quả, báo có báo lành báo dữ. Trên thực tế đã hiện quả thì khó mà thay đổi tính chất của quả, tuy nhiên không nhất thiết như vậy.
•Phật giáo biết rõ các pháp không tánh, chính yếu tố không tánh của các pháp đã giúp Phật giáo giải quyết nan đề quả báo. Giải quyết nan đề này bằng cách làm thay đổi tính chất của một pháp hiện hữu. Bản lai các pháp không tánh chỉ do duyên mà các thứ tánh giả tạm hiện ra, ví như nước gặp duyên nóng thì thành tánh nóng, gặp duyên lạnh thì tánh nó là lạnh.
Các thứ tánh chúng sanh thấy được chỉ là kết quả của mê lầm và vô thường, vì thứ tánh chúng sanh thấy chỉ là giả tánh nên tánh này có thể thay đổi, tức dừng các duyên trả pháp về bản nguyên không tánh của nó. Bởi nếu các pháp tánh thật có thì tánh ấy là thường,
nếu thường thì không thể thay đổi được.
•Nếu chúng sanh có tánh thì chúng sanh này vĩnh viễn là chúng sanh, khổ đau có tánh thì khổ đau không thể chấm dứt, nhưng thực tế khổ đau tự hết.
Do thấu triệt nguyên lý này, cho dù nghiệp đã thành quả vẫn có thể thay đổi tính chất hiện tại của nó. Phật pháp lý giải được vấn đề nên mới giúp chúng sinh có điều kiện tu hành.
Cũng từ lý giải này chỉ ra rằng “thân chúng sinh là quả nghiệp”, tu hành chỉ có thể “thay đổi tính chất bên trong là tâm.”
•Vì thế chúng sanh này có tu hành thành thánh thì cũng không thể mọc cánh tay thứ ba hay cái miệng thứ hai. Chứng thánh giống như thứ bình cũ thay đổi loại rượu bên trong mà dân gian gọi là “bình cũ rượu mới”. Vì thế ngài Xá Lợi Phất khi chứng quả thường nói: “Con từ miệng Phật sanh”! ... Hay câu nói bất hủ của Ương Quật Ma La: “Tôi từ ngày được thánh pháp sinh ra đến nay, chưa sát hại một chúng sinh nào,” mà thật ra trước khi gặp Phật, Ương Quật Ma La đã bị ngoại đạo xúi dục giết gần 100 người.
•Điều này cũng nói lên vì sao ngài A Na Luật bị mù mắt lại có được thiên nhãn thấy khắp mười phương, nhưng khi xỏ kim vá chiếc y phải nhờ đến Phật. Quả nghiệp không thể đổi, chỉ thay đổi nhãn lực bên trong, tức là thay đổi bản chất thấy nghe suy nghĩ từ phàm thành thánh chứ không phải thay đổi thân này.
•Trong đau khổ cũng vậy, Phật giáo chỉ giải quyết phần khổ bên trong của “tâm”, tức là có đau mà không khổ, chúng sanh đau khổ chịu cả hai; đau thuộc về “thân” phần này có y học giải quyết.
Chuyện kinh kể rằng ngài Xá Lợi Phất đang ngồi thiền bị con quỷ đánh vào đầu, ngài Mục Kiền Liên thấy được hỏi ngài Xá Lợi Phất có kham chịu nỗi không, ngài Xá Lợi Phất nói tuy rất đau nhưng tôi có thể kham nhẫn được. Tuy đã chứng thánh nhưng thân vẫn phải chịu đau khi duyên tác động, do đó đừng nên hiểu lầm tu hành khi chứng quả “thân” như cây cỏ vô tri.
Đoạn kinh sau Phật dạy đệ tử vượt qua khổ thọ bằng cách chế ngự tâm: “Tỷ Kheo ấy nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong. Chính nhờ diệt trừ chúng, nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh.” (Trích kinh An Trú Tâm –HT. Thích Minh Châu dịch)
Tóm lại, khái niệm “nghiệp” không đơn giản, Phật giáo tuyên nói nghiệp quả không chỉ để giới thiệu một kiến thức, mà giúp người tu hành biến kiến thức này thành cửa vào đạo gọi là pháp môn.
֎Mỗi thứ Phật đề cập đến đều giúp chúng sanh mở cánh cửa Niết Bàn. Nghiệp hay nghiệp quả là hành động của thân khẩu ý ngay trong mỗi người tu hành, nếu muốn đóng cánh cửa nghiệp, mở cửa Niết Bàn phải hiểu biết tường tận về nó.
֎Không điều gì Phật vô cớ nói ra và không điều gì Phật nói ra không chỉ cách giải quyết, chỉ vì người tu hành có chịu tìm hiểu tư duy đúng chánh lý hay không.
Tìm hiểu cặn kẽ nhất định có cửa vào, cho nên Phật dạy người tu hành phải đủ bốn pháp: Văn, tư, tu, huệ là vậy.