Ngũ Uẩn Ngũ Ấm Là Gì?

Hỏi: Tôi hiểu chữ uẩn trong đoạn kinh này. Nếu nơi năm món: sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà ta không tích chứa các quan niệm trong các thứ ấy, thì năm món này chẳng phải là năm uẩn. Nó chỉ có tên gọi như sừng thỏ lông rùa.
Đáp: “Uẩn” theo tiếng Hán-Việt nghĩa là tích chứa. Chữ này đồng nghĩa với chữ “pháp”. Có nghĩa rằng, nơi một trí tuệ lớn, không tích chứa các giá trị hư ảo, để cho rằng “sắc” khác “không”. Một khi không tích chứa như vậy, bây giờ mới biết rằng “ngũ uẩn giai không”. Chúc mừng ông đã hiểu ra điều khó hiểu.
Hỏi: Xin kính lễ lời khai thị, cảm ơn Thầy đã làm cho con vỡ lẽ một vấn đề.
Đáp: Không có chi. Tôi có thể đưa thêm một ví dụ để minh họa cho vấn đề chúng ta vừa trao đổi. Ngay nơi thành phố văn minh này, tất cả mọi người đồng quan niệm rằng: vàng có giá trị hơn đá và nhất định khác đá. Nếu có một người lên tận núi cao, nơi không có trao đổi mua bán, rời lìa các quan niệm, để một bên là vàng, một bên là đá, sáng chiều ra vô, nhìn ngắm hai vật kia. Đến khi quyết định vĩnh viễn sẽ không xuống khỏi ngọn núi này, một lúc nào đó, trong lúc nhìn ngắm hai món tạp vật vô tri là vàng và đá kia, vị này mới chợt hiểu ra rằng, ở đây, ở nơi không có quan niệm trần gian thì vàng tức thị đá, đá tức thị vàng.
Cũng tại bởi quan niệm nên sắc mới khác không, quan niệm (hữu vi pháp) tịch diệt thì mới biết rằng không bất dị sắc.
Hỏi: Một lần nữa, con xin kính lễ lời khai thị làm sáng tỏ cái thâm u này.
Đáp: Không có chi. Tôi xin đưa thêm một ví dụ nữa, để có thể làm sáng tỏ ý nghĩa của chữ “uẩn”: Nơi thành phố văn minh này, nếu người ta để một cục vàng và một củ khoai lang, nhất định, mọi người sẽ chọn cục vàng và chẳng đoái hoài đến củ khoai lang. Kẻ lượm được vàng thì cười, người chẳng may lượm được củ khoai thì khóc.
Người đó lại đem vàng và khoai lang lên tận nơi thâm sơn cùng cốc, nơi con người còn đời sống sơ khai, chỉ biết lượm hái và săn bắn, không có văn minh văn hóa gì cả Người đó để hai thứ ấy bên đường, nhất định người ở nơi hoang sơ ấy thấy được hai thứ kia, sẽ giành nhau những củ khoai, mà chẳng ngó ngàng gì đến cục vàng. Người được khoai thì cười, kẻ vấp phải vàng trẹo chân thì khóc.
Khóc và cười trái ngược trong hai trường hợp vừa nêu, chỉ tại quan niệm “hư dối” được tích chứa trong đời sống của mỗi cộng nghiệp, lý lẽ của nó không chắc thật.
Chữ “uẩn” hay chữ “pháp” trong Phật Đạo, ý nghĩa của nó là như vậy. Vì thế Bát Nhã Tâm Kinh mới dạy rằng: “Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.”. Chớ có hiểu lầm chữ “uẩn” thành chữ “ấm” mà cắt nghĩa lung tung, tội nghiệp cho bài kinh.
Hỏi: “Ngũ uẩn” thì nay con hiểu rồi, còn chữ “ấm” thì ý nghĩa như thế nào? Xin vì con mà giảng rộng!
Đáp: Từ nhỏ đến giờ, ông có từng mê một thứ gì mà đêm ngày thứ đó ám ảnh ông không?
Hỏi: Có! ... Thuở còn trẻ, con có mê một vài món đồ đẹp, khi mê nó rồi, thức ngủ gì món đồ đó cũng ở trong tâm trí, nó ám ảnh con đến mất ăn mất ngủ.
Đáp: “Ấm” là như thế đó. Cái gì bao phủ lấy tâm trí của mình, không cho mình thoát ra khỏi nó, Phật Đạo gọi đó là “ấm”.
Hỏi: Như vậy, “ngũ ấm” có phải là năm món: sắc, thọ, tưởng, hành, thức bao phủ, ngăn che, không cho ta thoát ra khỏi nó, bị nó trói buộc, để phục tùng và giữ gìn nó thì ngã và tham sân hiện khởi phải không?
Đáp: Phật dạy: “Kiều Trần Như![1] Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta. Xa rời (sự cột buộc của) sắc vô thường, sẽ được “sắc giải thoát, sắc thường trụ”. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.” Bây giờ ông đã hiểu đoạn kinh này chưa?
Hỏi: Mô Phật! Mô Phật! ... Sai một ly, đi một dặm. Đúng là hiểu sai, sẽ nói sai, nói sai sẽ làm sai, làm sai nhất định kết quả của nó là ngã và kiết sử không thể nào tịch diệt... Mô Phật! ... Mô Phật! ... Mô Phật! ... Cái câu: “Chính vì phần lớn người tu hành hiểu sai chữ “pháp” thành “đồ vật”, cho nên đưa đến giảng giải sai, giảng giải sai nên hành động sai, vì thế giận hờn không dứt được là chuyện thường tình trên cõi đời này... Những sự việc như thế cũng đâu có gì là lạ.” Câu này, bây giờ con mới hiểu.
Đáp: Những chuyện nào không biết thì thôi, còn đã biết rồi thì chớ nên lầm lẫn nữa. Chỉ nên “như thị ngã văn”, chứ đừng nên “như kia ngã mạn” thì nhất định không uổng duyên lành chúng ta gặp nhau.
[[1]] Kiều Trần Như là đệ tử xuất gia và chứng quả A La Hán đầu tiên của Đức Phật.
Về Tam Vô Lậu Học

Hỏi: Thưa SH! Đệ đã đọc rất nhiều tài liệu, nghe các bậc tôn đức giảng nói về “tam vô lậu học” hay còn gọi là “ba học pháp vô lậu”! Các vị giảng ba học pháp này thường đề cao việc nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! ... Xin hỏi: Việc chủ trương như vậy có hợp lí hay không? Phạm vi ứng dụng của ba học pháp này như thế nào? Và kết quả của nó là gì?
Đáp: Về ba học pháp vô lậu hay còn gọi là tam vô lậu học thì, đây là ba học pháp cơ bản giúp người tu hành trong Phật đạo thành tựu đầy đủ ba món vô lậu là: Giới vô lậu, định vô lậu và huệ vô lậu... Thiết nghĩ, điều này không có gì phải bàn! ... Nói khác hơn, thành tựu vô lậu giới, người tu hành sẽ tự thành tựu hai học pháp còn lại là định vô lậu và huệ vô lậu!
Nhưng phạm vi ứng dụng ba học pháp đó như thế nào, đây là việc chúng ta cần sáng tỏ! ... Bởi lẽ, nếu không sáng tỏ ba học pháp trên, nhất định “con đường tu tập để đưa đến vô lậu tâm có vấn đề”! Có vấn đề ở đây là, dù rất tinh tấn, dù rất nỗ lực cũng không thể thành tựu đạo quả vô lậu!
Để đi sâu vào nội dung câu chuyện, để làm sáng tỏ mọi thứ, mình xin đưa ra một số câu hỏi, đệ hãy thẳng thắn trả lời, trả lời đúng với hiểu biết của mình, không quanh co, không bao che cho những gì không phù hợp với chân lí, nhất định mọi thứ sẽ sáng tỏ! ... Nếu đệ đồng ý với các yêu cầu của mình đưa ra, chúng ta bắt đầu cùng nhau trao đổi là vừa, có thẳng thắn trao đổi, mới mong tìm ra ý nghĩa đích thực, có được nghĩa lí đích thực, mới có phương cách ứng dụng tốt nhất, có phương cách ứng dụng tốt nhất, mới hi vọng thành tựu ba học pháp nói trên!
Hỏi: Xin SH cứ hỏi! Đệ sẽ thẳng thắn trả lời!
Đáp: Như vậy là rất tốt! ... Mình xin đưa ra các câu hỏi đây! ... Đệ bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! ... Như vậy, giới là căn bản của định và huệ! ... Theo đệ, những giới nào được coi là “nhân tố quyết định” để khi thành tựu giới ấy, định và huệ sẽ thành tựu? ... Đệ có hiểu hết ý nghĩa từ câu hỏi của mình hay không?
Hỏi: Thưa SH! Đệ hoàn toàn hiểu ý nghĩa từ câu hỏi của SH! Theo đệ, các giới làm “nhân tố quyết định” để định và huệ sanh gồm, năm giới, mười giới, Bồ Tát giới và cụ túc giới!
Đáp: Mình hỏi đệ! Đệ đã thọ mấy giới? Từ ngày thọ giới đến giờ, đệ có từng phạm các giới ấy hay không?
Hỏi: Thưa SH! Đệ từng quy y và thọ năm giới lẫn Bồ Tát giới tại gia! Đối với giới, từ lúc hiểu biết đến giờ đệ chưa từng phạm! Có lẽ do bản chất của đệ nó như vậy, chứ không phải khi thọ đệ mới giữ!
Đáp: Như vậy, đối với giới, đệ coi đó là lẽ tự nhiên trong đời sống, không có tâm niệm giữ gìn, nhưng cũng chẳng bao giờ có ý sai phạm! ... Mình hỏi đệ, xin hãy nói thật, sự không khiếm khuyết về giới của đệ, nó có giúp tâm đệ được vô lậu, có giúp đệ thành tựu một chút định và huệ nào hay không?
Hỏi: Thưa SH! Từ nhỏ đến lớn, nhờ tâm tính hiền lương, nhờ sống có đạo đức, đệ thường được mọi người yêu mến, khen ngợi, kính trọng, v.v... Nhưng, vô lậu tâm là cái gì, định là như thế nào, huệ ra làm sao... Xin thú thật, những điều ấy, trước khi gặp SH, trước khi giác ngộ cho dù đệ đã miệt mài ngồi thiền, miệt mài học tập, nhưng đệ không thể nào thành tựu được!
Đáp: Trên đời, bạn có biết, có thấy người tu hành nào chỉ chuyên tâm giữ giới, coi giới như mạng sống, nhờ nương tựa vào giới mà thành tựu đạo quả vô lậu hay không?
Hỏi: Tất cả mọi người thì đệ không dám nói, nhưng những người đệ quen biết cả tăng lẫn tục, những vị ấy giới luật rất nghiêm, nhưng chính họ cũng thừa nhận bản thân không thể thành tựu định và huệ thế gian, chứ nói gì đến định và huệ vô lậu!
Đáp: Mình xin hỏi đệ! Giới có năm giới, mười giới, Bồ Tát giới, cụ túc giới, v.v... Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! Như vậy, người tu hành cần bao nhiêu giới mới được gọi là đủ chuẩn để sanh định và huệ?
•Nếu bảo rằng, chỉ cần năm giới là đủ, đây chính là chuẩn mực để định và huệ sanh thì, những người thọ và giữ nhiều hơn năm giới, đã làm công việc thừa thải rồi ư!
•Nếu bảo rằng, cụ túc giới không khuyết mới đủ chuẩn để định và huệ sanh thì, những người chưa đủ cụ túc giới sẽ vĩnh viễn không thể nào có định và huệ vì chưa đạt chuẩn theo yêu cầu!
•Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ thì, người tu hành chỉ cần thọ và giữ cấm giới đến thuần thục là đạt yêu cầu, cần gì phải tu thiền định, cần gì học giáo pháp! Vì rằng, cái cần ta đã có, những thứ như định và huệ theo đó tự nhiên thành tựu! Nhưng sự đời chuyện ấy không thể xảy ra, vì thế người tu hành mới tu tập thiền định, và học tập giáo pháp! Đệ có thấy rằng, cách lí luận nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ như đệ đã nghe trước kia, tự nó mâu thuẫn trong thực tế này hay không!
•Nếu bảo rằng, có giới mới sanh định, có định mới sanh huệ thì, khoảng mười lăm đến hai mươi năm trước khi Phật chế giới, người tu hành thời đó tuy không có giới cấm nhưng họ chứng thánh quả vô lậu rất nhiều! Đệ có đồng ý với quan điểm mang tính lịch sử này hay không! Nếu đệ đồng ý với quan điểm có tính lịch sử này thì, giới cấm (quy ước giới) nhất định không phải là hạt nhân để sanh định huệ!
•Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, định sanh huệ thì Huệ Năng lúc chưa được Ấn Tôn Pháp Sư làm lễ thế phát (quy y và xuất gia, thọ giới), cái gì làm cho Huệ Năng giác ngộ!?
•Nếu bảo rằng, tâm thanh tịnh chính là đắc giới thì, giữa tâm thanh tịnh và giới cấm là hai món chẳng liên hệ gì đến chuyện nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! Vì thanh tịnh (định) rồi mới đắc giới!
•Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ thì cái câu “múa đao xông trận cũng thanh tịnh” của Lục Tổ Huệ Năng, hay câu “dâm, nộ, si tự tánh thanh tịnh” trong kinh Duy Ma, hoặc chuyện kẻ giết người Ương Quật Ma La trở thành A La Hán sau vài câu nói của Phật, v.v... chúng ta nên hiểu như thế nào đây?
Một thực tế không thể phủ nhận, không riêng gì Phật giáo, những người học tập luân lí đạo đức ở đời, các tôn giáo khác, những người thiện lương, chân chánh, v.v... phần lớn trong cuộc sống ít ra đều giữ trọn năm giới hoặc nhiều hơn! ... Nhưng, cũng đâu vì thế mà tâm thức họ thanh tịnh hay định, chứ nói gì đến chuyện thành tựu vô lậu tâm! ... Do đó ba học pháp vô lậu không nằm trong ý nghĩa thường thấy từ các vị ấy đã giảng nói!
Theo mình, hiểu và thực hành ba học pháp vô lậu như những gì bạn đã nghe đã biết, nếu có được kết quả cao nhất, cũng chỉ trở thành một người tốt ở đời! Mà một người tốt, một người giới không khuyết, v.v... chưa hẳn đã là người thành tựu vô lậu tâm, vô lậu giới, vô lậu định, vô lậu huệ!
Hỏi: Những gì SH đã nêu, thực tế đúng như vậy! Là người tu hành, người tôn trọng chân lí, chúng ta không nên vì một lí do riêng tư nào đó mà phủ nhận thực tế này! ... Thưa SH: Như vậy, đối với ba học pháp vô lậu, chúng ta nên hiểu như thế nào? Và ứng dụng ra làm sao?
Đáp: Như mình đã nói ở phần trên, ba học pháp vô lậu là ba học pháp căn bản giúp người thành tựu vô lậu tâm! Vì nó là ba học pháp vô lậu, nên không thể dùng trí hữu lậu để hiểu và cắt nghĩa cảnh giới hoặc phép tắc tu học vô lậu! Vì rằng, người chưa thành tựu đạo quả vô lậu, nhất định sẽ không thể biết được con đường nào đưa đến đạo quả vô lậu, con đường nào là hữu lậu! ... Chính sự nhầm lẫn tai hại giữa hữu lậu và vô lậu, tai hại này chẳng những không giúp người tu hành thành tựu đạo quả vô lậu, mà đôi khi trong vô tình nó làm sai lệch con đường dẫn đến cứu cánh của giáo pháp!
Hỏi: Xin hỏi SH! Thế nào là hữu lậu giới và thế nào là vô lậu giới trong Phật đạo?
Đáp: Theo mình biết, giới trong Phật đạo có hai thứ, một là “giới cấm” hay quy ước giới và “giới tánh” hay vô lậu giới!
֎Thứ nhất: Giới cấm hay quy ước giới thuộc hữu lậu giới, gồm năm giới, mười giới, Bồ Tát giới và cụ túc giới, v.v... Những giới này, gọi là “quy ước giới” bởi vì bản thân nó chỉ mang tính phục vụ một vài yêu cầu nào đó trong tổ chức, chứ nó không đại diện cho chủ trương hay đường lối của tổ chức, và nó càng không phải là giềng mối hoàn thành chủ trương của tổ chức đó! Và, chỉ những người trong tổ chức mới bị nó chi phối, còn những người ngoài tổ chức thì hoàn toàn không phụ thuộc!
Ví dụ: Một người muốn gia nhập tổ chức tăng (tăng đoàn), việc đầu tiên là, người đó phải chịu sự chi phối bởi các luật lệ do tăng đề ra! Người không phải là tăng, không bị ràng buộc bởi các quy định kia!
Bồ tát hay cư sĩ mà ở trong tổ chức cũng đều phải tuân thủ như vậy! Đây cũng là lí do vì sao có bố tát, có sám hối! Giữ giới, bố tát, sám hối để gìn giữ huệ mạng, chứ nó không thể là cơ sở để làm thành huệ tâm hay huệ trí! ... Những luật lệ như thế ra đời là vì:
•Một, về đối nội, nhờ mọi người tuân thủ những luật lệ đã đề ra, việc tu tập, tính thống nhất, tính kỉ luật, tính ổn định, tính đoàn kết, v.v... của tổ chức sẽ không bị phá vỡ!
•Hai, về đối ngoại, chính các giới cấm hay các luật lệ như thế, sẽ giúp xã hội có cái nhìn thiện cảm và kính trọng! Nhờ thế, chủ trương gặp nhiều thuận lợi, đường lối được xã hội ủng hộ, điều này làm tăng uy tín của tổ chức!
Về tính chất, giới hữu lậu thuộc thế gian giới, vì bản thân nó có nhiều tầng, nhiều cấp như có khai, có giá, có trì, có phạm, có thọ, có xả, v.v... nên tự các giới ấy phải thay đổi theo từng hoàn cảnh, theo từng nhân duyên, theo từng nhận thức để phù hợp cuộc sống, vì thế trong nó luôn ẩn chứa tính chất vô thường!
Do nhân duyên như trên, nên giới của các tông phái trong Phật đạo từ trước đến nay không có sự thống nhất với nhau, Nam tông ăn mặn, Bắc tông ăn chay đã là sự sai khác ta dễ dàng nhận ra! ... Mà điều gì trong đó ngầm chứa sự sai khác, ngầm chứa sự không thống nhất, bị thay đổi vô thường thì, điều đó “khó có thể coi là hạt nhân, coi là cơ sở đáng tin cậy” để thành tựu đạo quả vô lậu!
֎Thứ hai: Vô lậu giới hay giới tánh là gì? ... Nói đến vô lậu, là nói đến cảnh giới tâm thức không còn khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc! ... Muốn thành tựu cảnh giới này, người tu hành phải thành tựu giới vô lậu chứ không phải giới hữu lậu!
Giới vô lậu là gì? Ứng dụng nó ra làm sao, mình không giải thích, vì “giải thích mất linh”! ... Vì sao giải thích mất linh! ... Sự linh nghiệm của vô lậu giới nằm trong chánh tư duy!
Đoạn kinh giáo giới sau đây của Phật, sẽ giúp các bạn tư duy để hiểu ra cái gì là vô lậu giới, và phạm vi ứng dụng của nó như thế nào! ... Hiểu và ứng dụng thuần thục đoạn kinh sau, nhất định giới vô lậu, định vô lậu và huệ vô lậu không ngoài tầm tay các bạn:
“Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời! Bạch Thiện Thệ nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh.
Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
−Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
Ở đây, này Ananda, vị Tỷ kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý...
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức...”[[1]]
Theo tinh thần đoạn kinh trên, chắc giờ này các bạn có thể hiểu vô lậu giới là thế nào rồi chứ!
Với vô lậu giới này, khi người tu hành thành tựu, tâm thức sẽ hết mê muội! Tâm thức hết mê muội, thấy nghe sẽ không điên đảo, thấy nghe không điên đảo, tâm ý tự dừng! Tâm ý tự dừng trong cảnh giới này, Phật đạo gọi là “định vô lậu”!
Nhờ có định vô lậu, tâm trí vị tu hành bây giờ trở nên sáng suốt, nhờ tâm trí sáng suốt, vị ấy hiểu ra con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu gọi là “huệ hay tuệ vô lậu”!
Tam vô lậu học là như thế! Đây chính là ba học pháp căn bản, nếu người tu hành biết rõ, chỉ từ một giới vô lậu có thể tiến tu để thành tựu định vô lậu và tuệ vô lậu! Nói khác hơn, trong một niệm, người ấy có thể thành tựu cả ba học pháp vô lậu!
Về tam vô lậu học, các bạn còn thắc mắc gì không?
Hỏi: Thưa SH! Đúng là như vậy! Ngày trước dù không phạm cấm giới, nhưng đệ cũng chẳng thể nào biết được vô lậu tâm là gì!... Sau khi được SH khai ngộ, bỗng dưng ba duyên là căn trần thức của đệ tự dừng, rồi từ đó vô lậu tâm của đệ tự hiện!
Bây giờ, được nghe SH giảng giải, đệ mới biết là mình đã từng thực hành vô lậu giới, rồi thành tựu vô lậu định và vô lậu tuệ mà không tự biết! ... Thành tựu rồi, mới biết giới vô lậu này chính là tự tánh vô lậu giới! Xin đa tạ SH đã cho đệ “Đường Đến Hạnh Phúc Đích Thực”! ... Xin vạn lần đội ơn SH! ... Đúng là sai một li, đi một dặm! ... Phật dạy tu giới vô lậu, mà người tu hành cứ đem giới hữu lậu để phân tích, để giảng nói, để thực hành, hèn chi tu hoài mà không thành!
Đáp: Tu hành giống như người bịnh uống thuốc! Uống một thời gian mà không khỏi bịnh, người bịnh phải coi lại thứ thuốc mình đang uống đã đúng hay chưa! Nếu chưa, nhất định phải tìm thuốc khác mà uống! Hà cớ gì cứ phải chấp nhất, cứ bao che cho những thứ thuốc vô bổ mà ta đã uống! Bao che làm gì, để rồi một đời tinh tấn mà kết quả chẳng được là bao!
֎Biết sai, sửa sai để giúp mình và người thành tựu những điều tốt đẹp trong Phật đạo là điều rất cần! Biết sai và sửa sai vì lợi ích của đạo pháp là thái độ của người trí! Chẳng có gì phải ngại trong tu học!
֎Hy vọng, sau lần trao đổi này, mọi người biết được “vô lậu giới của bậc thánh là gì”, đã biết được rồi, xin mọi người hãy bắt tay tu tập để mau chóng thành tựu vô lậu tâm! ... Hoàn thành ba học pháp vô lậu, thành tựu vô lậu tâm, chính là hành động biết ơn và báo ơn chư Phật cụ thể nhất!
[[1]] Trích kinh Vô Thượng Căn Tu Tập Trong Giới Luật Của Bậc Thánh; Việt dịch TK Yhisch Minh Châu.
Giác Quán Là Gì

Hỏi: Phật Đạo có hai thuật ngữ “Giác, Quán”. Xin hỏi, ý nghĩa đích thực của hai thuật ngữ này là gì?
Đáp: Giác, Quán là hai thuật ngữ chuyên dụng của Phật Đạo. Hai thuật ngữ này, giúp người tu hành điều phục tâm, nhằm đưa tâm đạt mục tiêu đề ra.
●Giác: Thuộc về nhận thức. Ví dụ: Người tu hành nhận thức rằng, ba cõi chỉ do mê tâm lập thành, chứ thực tế bản chất của tâm tự nó không có ba cõi... Hoặc: Người tu hành nhận thức rằng, bổn lai chúng sanh không tâm, vì không tâm nên tạm gọi là chơn tâm.
Tóm lại, những nhận thức nào của người tu hành đúng với tinh thần Phật Đạo gọi là “Giác”.
●Quán: Thuộc về suy xét, phân tích, tìm kiếm. Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm những gì thuộc về Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới... Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm. những gì là “bất thiện pháp” có khuynh hướng làm mê tâm này... Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm. những gì là “ác pháp” có năng lực làm chướng Niết Bàn.
Nói chung, những hành động nào của ý căn, giúp người tu hành nhận ra “điều gì đã làm cho ta không thấy được cứu cánh như thật” thì gọi là “Quán”.
Hỏi: Ngoài việc dùng Pháp Quán của ý căn nhằm soi xét, phân tích, tìm kiếm. bất thiện pháp, ác pháp và chướng đạo. người tu hành có còn dùng nó để tìm kiếm, suy xét, phân tích. những gì thuộc về thiện pháp, thiện đạo hay không?
Đáp: Tất nhiên là người tu hành phải dùng cả hai pháp Giác và Quán để thấy biết được những gì là thiện, thuộc về thiện pháp và nhận thức con đường nào là thiện đạo. Vì thế mới có Thiện Giác Quán và Ác Giác Quán.
Hỏi: Thế nào là Thiện Giác Quán và thế nào là Ác Giác Quán?
Đáp:
•Thiện Giác Quán: Là những Giác Quán nào có năng lực giúp người tu hành thành tựu cứu cánh như pháp trước mắt... Ví dụ: Người tu hành hướng tâm đến từ bỏ năm dục để ra khỏi Dục Giới. Và người này suy xét, tìm kiếm, phân tích những gì Phật Đạo gọi là dục, những gì thuộc về dục, đem tâm từ bỏ nó. Cho đến khi nào tâm không còn bị trói buộc bởi dục nữa, đó gọi là Thiện Giác Quán.
•Ác Giác Quán: Là những Giác Quán nào đi ngược lại cứu cánh của Phật Đạo. Khi tâm ý khởi lên, Giác Quán này làm trở ngại cứu cánh, hoặc có khuynh hướng làm trở ngại cứu cánh trước mắt, đối với người tu hành trong Phật Đạo... Ví dụ: Người tu hành do hiểu biết sai lệch nên có nhận thức rằng, muốn được cứu cánh an vui, phải là người đầy đủ các dục, phải được trưởng dưỡng bởi năm dục. Do nhận thức như thế nên ý căn của vị này luôn luôn suy xét, phân tích, tìm cầu các thiện pháp nơi dục và tâm vị này thích thú với vị ngọt của các dục. Chính sự tìm cầu, suy xét, phân tích và tâm thích thú vị ngọt của dục (cho rằng dục là thiện) đã làm người tu hành này không thể ra khỏi trói buộc của dục, không thể đắc thành cứu cánh trước mắt thoát ly Dục Giới. Hành động này Phật Đạo gọi là Ác Giác Quán.
Nhận Biết Thức Và Trí

Hỏi: Đều là hiểu về Phật pháp, thế nhưng những hiểu biết nào thuộc về thức, những tri nhận nào nào thuộc về trí?
Đáp:
֎Hiểu biết và tri nhận mang nặng tính giáo điều, có chứa trong đó mầm mống của “cái ngã”, phát xuất từ sự chấp trước, hay cột trói mình, hay cột trói người, không có ý vị Giải Thoát, không có ý vị Thanh Tịnh. Những hiểu biết như vậy đều thuộc về thức.
֎Hiểu biết nào, ngược với những điều đã nêu, thuộc về trí.
Hỏi: Muốn biến những “hiểu biết” của thức thành trí, ta nên làm gì với hiểu biết đó?
Đáp: Hiểu biết, tự nó không tánh. Có nghĩa rằng: Hiểu biết tự nó không có “tánh” của “thức”, không có “tánh” của “trí”. Chỉ do người sử dụng hiểu biết vào mục đích nào, mà hiểu biết này mang tính chất của “thức” hay tính chất của “trí”. Giống như con dao, tự nó không có tánh “thiện” hay “ác”. Tất cả là do người ta sử dụng con dao này vào mục đích gì, thế nên người ta mới nói: “con dao dùng vào việc thiện” hay “con dao đó dùng vào việc ác” mà thôi.
Người tu hành trong Phật Đạo, muốn biến hiểu biết về Phật Pháp đang có, từ “thức” thành “trí”. Người tu hành này, phải nhận thức rằng:
−Các pháp ta đã học, các pháp ta đang biết, là những pháp lành giúp ta tịch diệt cái ngã hư dối này, giúp ta tịch diệt nguồn tâm mê muội kia, giúp ta không chạy theo thấy nghe hay biết, giúp ta ra khỏi cột buộc của những quan niệm thế gian. Nếu ta thiện xảo sử dụng những hiểu biết này, để tự thân ra khỏi những điều nêu trên, tại nơi đây ta sẽ chứng thực ý nghĩa vô ngã, tâm ta sẽ không còn điên đảo vì thế thanh tịnh tự hiện.
−Nếu ta không rong ruổi theo để thấy - nghe - hay - biết thì kiết sử (tham sân) tự dứt, sẽ là người thảnh thơi trong đời sống này. Nếu dùng hiểu biết này để rời bỏ các cột buộc từ quan niệm (pháp) thế gian, ta sẽ trở thành người tự tại trước những cơn sóng dữ của sự đúng sai, phải quấy, hơn thua, được mất, thiện ác, như một người dựng lại những gì đã ngã đổ sau cơn tàn phá của cuồng phong ba cõi.
Làm được như thế, không biến thức cũng thành trí, không mong ngu si cũng tự chấm dứt, không đốt ngọn đèn trí tuệ, vô minh cũng tự đẩy lùi.
Khái Niệm Kiết Sử

Kiết là kết (cột trói) giống như người ta xâu kết các hạt thành chuỗi tràng hạt; Sử là sai sử.
Kiết Sử là những món cột trói và sai sử, bắt con người (chúng sanh) làm nô lệ cho nó. Giống như con trâu, bị người ta cột cái dây vào lỗ mũi dắt đi, không tự chủ được. Kiết sử cũng có các tên khác như: Thập phiền não, thập hoặc, thập tùy miên...
Trong Phật Đạo, Kiết Sử thường được chia làm hai phần, gồm năm độn sử và năm lợi sử.
✽Năm độn sử hay Lỗi hành vi (Lý Tứ): Là những món trói buộc căn bản, mỗi chúng sanh đều có. Gọi là độn, vì năm món này làm cho người mê muội, chậm Giác Ngộ.
•Tham: Ham muốn, đắm mê những thứ phiền não, hạ liệt của ba cõi (dục, sắc và vô sắc) không thể Giác Ngộ.
•Sân: Sân hận, giận dữ, não hại mình, não hại người.
•Si: Mờ tối, mê mờ, không thấy được ánh sáng Giác Ngộ.
•Mạn:[1] Thấy mình hơn hoặc thua người (tự tôn hoặc tự ti).
•Nghi: Nghi ngờ (hoài nghi) có 3 món gồm:
-Nghi mình: Nghi bản thân không thể Giác Ngộ;
-Nghi người: Nghi bậc Đạo sư không thể dạy đạo Giác Ngộ;
-Nghi pháp: Nghi Giáo Pháp ta đang tu tập không đưa đến Giác Ngộ.
֎Năm lợi sử hay Lỗi nhận thức (Lý Tứ): Là những món cột buộc thuộc về nhận thức (sai lệch), nó chỉ có đối với hạng người lanh lợi. Vì thế năm lợi sử còn gọi là "ngũ kiến" hay "ác kiến", tức các thấy biết đi ngược tinh thần Giác Ngộ.
•Thân kiến: Chấp thủ những hiểu biết sai lầm về thân.
•Biên kiến: Chấp chặt một bên, nắm giữ một định kiến.
•Kiến thủ kiến: Nắm giữ các quan niệm, các thấy biết phi chân lý.
•Giới cấm thủ kiến: Không hiểu rõ giới, chấp chặt. Hy vọng giới có thể thành tựu cứu cánh nào đó trong Phật Đạo.
•Tà kiến: Hiểu biết sai lệch về Giáo Pháp, không như chân lý mà giúp mình cùng người Giác Ngộ.
Để giáo hoá Nhị Thừa thoát ra khỏi ba cõi, thành tựu đạo quả Giải Thoát, trong kinh tạng Nikaya, Phật liệt kê Kiết Sử gồm mười món như sau:
–Thân kiến (sakkàya-ditthi); –Hoài nghi (vicikicchà); –Giới cấm thủ (silabata-paràmàsa); –Tham đắm vào
cõi dục (kàma-ràga); –Sân hận (vyàpàda); –Tham đắm vào cõi sắc (rùpa-ràga); –Tham đắm vào cõi vô sắc (arùpa-ràga); –Mạn (màna); –Trạo cử vi tế (uddhacca); –Si vi tế (avijjà).
֎Tu tập "đoạn kiết" với Bồ Tát (Giác Ngộ) và Nhị Thừa (Giải Thoát) về hai loại Kiết Sử nêu trên có sai khác.
−Đối với Bồ Tát Đạo, quá trình đoạn trừ Kiết Sử tự thân, là quá trình Giác Ngộ từ cạn đến sâu, bắt đầu từ Phát Tâm Bồ Đề gọi là Sơ Giác, đến Minh Tâm Bồ Đề mới có thể dứt hoàn toàn. Năm giai đoạn từ phát tâm đến viên mãn Bồ Đề của Bồ Tát gồm: Phát Tâm, Phục Tâm, Minh Tâm (ba giai đoạn này lần lượt Giác Ngộ để dứt phàm tình cho đến thấy được Bổn Tâm), Kiến Đáo và Xuất Đáo Bồ Đề (hai giai đoạn này gồm học Trí Tuệ đến chứng Thật Trí).
−Đối với Nhị Thừa, muốn ra khỏi Kiết Sử chứng đạo quả Giải Thoát, phải tuần tự vượt qua Tứ Thánh Quả. Tứ Thánh Quả gồm: Dự lưu (Sotàpanna, Tu-đà-hoàn), Nhất lai (Sakadàgàmi, Tư-đà-hàm), Bất lai (Anàgàmi, A-na-hàm), A-la-hán (Arahat, Ứng cúng).
Nhị Thừa sau khi chứng đạo quả Giải Thoát, muốn thành tựu Phật Địa, phải Phát Tâm Bồ Tát, vào Đạo Đế để thành tựu Kiến Đáo Bồ Đề và Xuất Đáo Bồ Đề giống như một Bồ Tát.
(06-2010)
[[1]] Phật đạo chỉ ra 7 loại mạn hình thành kiết sử (thất chủng mạn; thất mạn chủng; hay thất chủng ngã mạn.) Thất chủng mạn gồm: Mạn (nói sai với cái mình thực có, nói cách khác... lời nói, suy nghĩ không trung thực) là căn bản (gốc rễ) phát sinh sáu thứ mạn kia; quá mạn (nói quá cái mình có), mạn quá mạn (người khác hơn mình mà nói mình hơn người); tăng thượng mạn (chưa chứng mà nói mình chứng); ti liệt mạn (nói kém hơn cái mình có, tự ti, thấy mình kém, thua mọi người); ngã mạn (thấy mình là cao nhất, hay nhất, không ai bằng mình); tà mạn (mang trong lòng những quan niệm, chủ trương không chân chánh, phi lý)!
Khái Niệm Ngã Và Tâm

Trong phạm vi bài viết, khi đề cập đến tâm là nói đến hư vọng tâm hay phàm tâm, là loại tâm hay sanh phiền não và che chướng tâm thanh tịnh.
Tâm này và ngã chỉ hai mặt của một vấn đề, cái này dứt cái kia dứt hoặc ngược lại. Chữ tâm trong Phật pháp rất trừu tượng và khó nhận dạng, biến hóa khôn lường.
⁕Khi phiền não thì phiền não là tâm, khi vui thì vui là tâm! ...
⁕Khi thủ giữ hoặc trở thành chủ thể so sánh với khách thể thì tâm bây giờ là ngã.
✽Cho nên tùy lúc, tùy tính chất, tùy chức năng mà có tên là tâm hay ngã! ... Khi đề cập đến khái niệm ba duyên hòa hợp có thể thấy tâm không thực có, nó chỉ là ảnh tượng của các duyên! ... ✽Tâm đã như vậy thì ngã cũng không khác! ... Chính ảnh tượng không thật này mà có tên gọi là tâm hư dối, tâm này thường hay sinh phiền não và gồm đủ các món kiết sử tham sân nên còn có tên phàm tâm.
✽Gọi “phàm tâm” để không nhầm lẫn một loại tâm khác đã dứt sạch các thứ kiết sử là “thánh tâm” hay “thanh tịnh tâm”.
Người tu hành rất muốn dứt tâm và ngã, ai cũng biết nó là thứ cần phải loại trừ mới mong thành tựu điều gì đó trong Phật đạo. Và thực tế đã không ít công trình tìm hiểu bản chất thật sự của tâm và ngã hầu giải quyết tận gốc rễ hai thứ này... Tuy nhiên kết quả không đáng kể, vì tâm hay ngã không phải đối tượng dùng ý thức hoặc hành động có thể tiêu diệt được. Nó như kẻ thù dấu mặt luôn ở bên cạnh và nó chính là ta, tức ý thức hoặc hành động.
Chỉ vì tâm và ngã là hai món không thật, nó chỉ là kết quả mê muội của ý thức. Mọi hoạt động của ý thức chính là sự mê muội này nên không thể dùng mê diệt mê, giống như dùng nước làm khô nước, hay dùng lửa dập tắt lửa.
✽Nếu đề ra phương tiện nào đó để diệt ngã thì phương tiện đó chính là ngã, nếu thấy rằng ngã đã diệt thì “thấy đã diệt” lại chính là ngã, vì thế không thể dùng phương tiện diệt hai món này.
✽Nói như vậy không có nghĩa ngã và tâm không thể diệt, bởi vì nếu ngã và tâm không thể diệt thì sao thánh quả ra đời, chính vì thế Phật giáo tuyên nói vô ngã để chỉ ra một trạng thái nào đó không có mặt của ngã.
Như trên đã đề cập, tâm hay ngã giống như bóng cây,
đã là bóng cây thì không thể nhắm vào bóng mà dứt hay diệt, không thể đem chổi quét sạch bóng, càng cố quét thì bóng cây lại có thêm bóng người, quét đã không sạch, bóng lại tăng lên.
Vì thế trong kinh chưa thấy bài kinh nào đề ra phương tiện diệt ngã. Nếu có nói thì chỉ đề cập đến chúng sanh không ngã, tức là nói bản lai chúng sanh không ngã chứ không phải nói vô ngã để người tu hành dùng biện pháp làm cho vô ngã. Thành ra mọi thứ được gọi biện pháp diệt ngã hay tâm là không khả thi. Chuyện diệt ngã giống như người nhìn mặt mình trong gương, biết rằng gương không mặt nhưng hễ nhìn vào để cầu không thấy thì mặt mình lại hiện.
✽Ngã cũng như vậy, quyết tâm diệt thì ngã biến tướng thành chủ thể diệt, vì thế muốn diệt ngã phải giác ngộ rằng “bản lai không tâm không ngã”! ... ✽Khi mê thì tâm, ngã hiện, dứt mê thì tâm, ngã hoàn không.
Căn Trần Thức Ba Duyên Hòa Hợp

. Ba Duyên Gồm: Căn, Trần, Thức...
⁕Căn: Một người có sáu căn (lục căn) tức là sáu giác quan. Đó là: Nhãn căn (con mắt), nhĩ căn (lỗ tai), tỷ căn (lỗ mũi), thiệt căn (cái lưỡi), thân căn (cái thân), và một căn bên trong đó là ý căn (cái ý)... Sáu căn hay sáu giác quan, là công cụ chính yếu để con người dùng nó giao tiếp với thế giới bên ngoài (năm căn trên thân), hoặc giao tiếp với thế giới nội tâm (ý căn)...
֎Sáu căn tự nó thanh tịnh, không có nhận thức thiện ác, tốt xấu, v.v… gọi là “không Tánh”...
⁕Trần: Là các đối tượng bên ngoài thân hay bên trong thân, khi căn tiếp xúc sẽ nhận biết về nó. Mỗi một căn, tiếp xúc và nhận biết về một đối tượng nhất định.
Đối tượng bên ngoài, gọi là ngoại trần, đối tượng bên trong, gọi là nội trần... Có sáu đối tượng để sáu căn tiếp xúc, gồm năm đối tượng bên ngoài là: Sắc trần do con mắt thấy được, thanh trần do lỗ tai nghe được, hương trần do lỗ mũi ngửi được, vị trần do cái lưỡi nếm được, xúc trần do cái thân cọ xát nhận biết...!
Và một đối tượng bên trong, đó là nghĩ suy do ý nhận biết (nghĩ suy do ý nhận biết gọi là pháp)... Chữ Hán gọi sáu đối tượng này là lục trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp... ֎Sáu trần tự nó giải thoát, không có chức năng trói buộc...
⁕Thức: Sự hiểu biết... Có sáu sự hiểu biết khác nhau về sáu đối tượng khi căn tiếp xúc với trần... Chữ Hán gọi là lục thức. Sáu thức hay sáu sự nhận biết, đó là: Nhận thức thuộc về con mắt, gọi là nhãn thức. Nhận biết thuộc về lỗ tai, gọi là nhĩ thức. Nhận thức thuộc về lỗ mũi, gọi là tỷ thức. Nhận thức thuộc về cái lưỡi, gọi là thiệt thức. Nhận thức trên thân gọi là thân thức. Nhận thức nằm trong nghĩ suy, gọi là ý thức...
•Sáu thức hay sáu sự nhận biết, tự nó không có tánh, không có tướng, nếu mê nơi nhận thức, sẽ bị nhận thức trói buộc, sanh các thứ tánh hư dối đó là tánh tham, tánh sân.
•Nếu nhận thức mà không bị mê, không bị nhận thức cột trói, sẽ không sanh phiền não... Khi nhận thức “bị mê” gọi là “thức”, khi nhận thức mà “không mê” gọi là “trí”...!
2. Ba Duyên Hoà Hợp.
•Khi căn đối trần, khởi lên nhận thức phân biệt về đối tượng mà mình đang thấy nghe... Rồi chấp thủ hoặc chạy theo nhận thức này, và bị nó cột trói, từ đó phiền não sanh khởi... gọi là “Duyên mê” hay “hoà hợp duyên.”
•Khi căn đối trần, không khởi lên nhận thức phân biệt, hoặc khởi lên nhận thức mà không mê nơi nhận thức, không chấp thủ nhận thức đã sanh, không để cho nhận thức cột trói, trong lòng rỗng rang, thanh tịnh, bất động... gọi là “Tịnh duyên” hay “bất hoà hợp duyên.”
3. Các Cách Đoạn Trừ.
Ba duyên hoà hợp, là cụm từ nhằm chỉ cho ba món căn, trần, thức hoà nhập vào nhau để sanh các pháp (nhận thức, khái niệm, quan niệm)...
•Tu hành là làm cho ba duyên này không nhập vào nhau, bằng cách: Dừng phân biệt, đoạn một trong ba duyên, đình chỉ nhận thức...! ... Làm được như vậy, phiền não không thể sanh khởi.
•Hoặc ba duyên phối ngẫu nhưng sáng suốt, gọi là minh xúc. Tức có xúc đối, nhưng không bị mê mờ để sanh các thứ tâm tánh hư dối, gọi là thấy biết thanh tịnh.
(01-2011)
Ý Nghĩa Của Việc Thấu Hiểu Tâm Pháp Trong Tứ Niệm Xứ

Các bạn! ... Một vị khách quý gặp mình và đưa ra tám câu hỏi liên quan đến sách Tâm Pháp (một trong ba cuốn sách Vô Đối Môn (NXB Dân Trí, 2019), Phật Giáo và Thiền (NXB Dân Trí, 2019) và Tâm Pháp (NXB Hội Nhà Văn, 2019) vừa phát hành) ... xin ghi lại cuộc trao đổi thú vị nói trên!
KHÁCH: Ông từng nói với cho học trò, trong tứ niệm xứ có: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Nhưng trong cuốn sách này ông lại nhấn mạnh Tâm, Pháp. Ông có thể giải thích kỹ hơn về điều này được không?
LÝ TỨ: Bốn niệm xứ “Thân, Thọ, Tâm, Pháp” là bốn nơi chốn người tu hành phải gởi gắm tâm ý vào đó để tư duy, quan sát và tu tập, vì rằng phiền não khổ (hay nghiệp) tác động trực tiếp lên bốn món này.
Tuy nhiên, thân và cảm thọ sở dĩ có nhận lấy quả khổ, chỉ vì tâm và thức mê mờ, câu hữu (gắn chặt, không rời) hai món ấy... Nếu tâm không câu hữu, thức không sinh pháp thì, thân trở thành sắc giải thoát (thân không trói buộc) và cảm thọ trở thành thanh tịnh thọ (ra khỏi khổ vui) ...
Do đó, có thể nói tâm và pháp mới là hai đối tượng chính khiến người ta đau khổ hay an vui, nếu giải quyết được hai niệm xứ này là giải quyết tận gốc trận chiến sanh tử khổ!
Giống như muốn giải quyết tận gốc chiến tranh, người ta chỉ cần bắt vị tướng chỉ huy đầu hàng, tức thì cuộc chiến kết thúc, bình yên hiện hữu!
Còn một lẽ nữa, Phật đạo là đạo giác ngộ, đạo giải thoát và là đạo trí tuệ. Nên khi giải quyết rốt ráo hai niệm xứ là tâm và pháp thì, tâm bây giờ trở thành cơ sở giác ngộ và giải thoát gọi nôm na là Niết Bàn, còn thức sẽ biến thành trí tuệ (hết mờ tối).
KHÁCH: Trong Tâm Pháp, ông đúc kết trong những thân phận nhân vật của ông rằng: Hư danh rỗng tuếch, đánh đổi mạng sống bằng những nghi kỵ, che giấu bằng trang sức hào nhoáng hư ảo, v.v… thứ bền vững trong mỗi cuộc đời chúng sinh là có Phật tánh, sống chân thật giữa người với người quan trọng hơn đầu môi chót lưỡi. Để diệt những hư danh rỗng tuếch trên, thấu hiểu Tâm và Pháp đã đủ để đưa những người còn vô minh đến bến bờ giác ngộ?
LÝ TỨ: Thấu hiểu Tâm và Pháp trong bốn món thân, thọ, tâm, pháp là hai cơ sở quan trọng giúp người ra khỏi vô minh đến bến bờ giác ngộ...
Giống như người ta hiểu rõ bốn phép tính cơ bản của toán học là cộng, trừ, nhân, chia cùng mối liên hệ của những phép tính ấy, nhất định người ta sẽ giải quyết mọi bài toán trên đời!
Xin cảm ơn các câu hỏi thú vị!
Tâm Và Pháp

Các bạn! ... Có một vị khách quý đã đặt một số câu hỏi chung quanh cuốn Vô Đối Môn! ... Xin chuyển đến các bạn, nội dung câu hỏi thú vị và thực tế này:
KHÁCH: Tâm và Pháp là hai vấn đề ông nhấn mạnh
trong cuốn sách. Nếu có thể nói ngắn gọn hơn cho một người học đạo Phật thấu hiểu để vận dụng vào thực tế cuộc sống, ông sẽ tóm tắt 2 ý trên như thế nào?
LÝ TỨ: Phật đạo đề ra bốn nơi chốn mà người tu hành phải giải quyết tận gốc nếu muốn được an vui, bốn nơi chốn đó là “Tứ niệm xứ”, gồm: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.
Trong Vô Đối Môn, mình chỉ đề cập nhiều đến Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ mà ít đề cập đến hai niệm xứ còn lại là vì... trong các mẩu đối thoại mà mình đã trao đổi, toàn bộ là cư sĩ, và phần lớn họ chỉ đề cập đến những khúc mắc trong phạm vi của tâm và pháp, cho nên người đọc chỉ thấy Vô Đối Môn nói nhiều đến tâm và pháp là lý do như vậy!
Về “Tâm” và “Pháp” mình xin sơ lược như sau:
─“Tâm” trong Phật đạo, nhằm chỉ một hiệu ứng tình cảm khi các giác quan xúc đối với trần cảnh rồi chấp chặt, mê mờ và sinh các quan niệm hư dối từ nơi trần cảnh ấy, để rồi cuối cùng... một hiệu ứng tình cảm khởi lên.
Ví dụ: Một bức tranh, tự thân nó không có ý nghĩa đẹp xấu, nhưng khi ta tiếp cận bức tranh, tuỳ vào góc nhìn, tuỳ vào quan điểm, tình cảm, v.v... ta sẽ thấy bức tranh đó đẹp hay xấu (theo quan điểm riêng của ta). Nếu ta mê mờ, chấp chặt quan điểm này, trong lòng sẽ sinh các hiệu ứng tình cảm như thương hay ghét (bức tranh), thương thì khởi tâm tham (muốn có được), chán ghét thì sẽ sân hận (muốn xa lánh), những hiệu ứng như vậy, Phật đạo gọi là Tâm hay phàm tâm (khi phàm tâm hay hư vọng tâm rốt ráo tịch diệt, chơn tâm hay bổn tâm thanh tịnh sẽ hiện)!
─“Pháp”, là đối tượng của ý căn, nó là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, quan điểm, v.v... Phật đạo chỉ ra rằng, các pháp hay nhận thức, quan niệm, khái niệm như thế không có chân lý, chỉ đúng với nơi này, người này, văn hoá này... không đúng với nơi khác, người khác, văn hoá khác...
Vì thế một pháp tự nó không có những tính chất nhất định, không bền chắc vì không đại diện cho chân lí, Phật đạo gọi là không tánh. Nếu ta mê say các quan niệm ấy, sẽ bị các quan niệm ấy trói buộc, làm cho u tối và phát sinh phiền não cũng như các thứ kiết sử là tham, sân, v.v... (khi ý thức không mê say các pháp, thức mê sẽ chuyển thành trí)!
─Về ứng dụng, nếu trong cuộc sống, ta tỉnh táo trước mọi cảnh duyên, không mê mờ để cho tâm và pháp hư vọng chế ngự hay làm chủ bản thân, nhất định trước mọi hoàn cảnh ta không động lay hay bị cám dỗ bởi bất kì việc gì (Phật giáo tạm gọi là Định Vô Lậu)... Từ đó, đời sống sẽ an vui!
Một khi không bị cảnh duyên làm vướng bận trong lòng, không phân tâm bởi những tác động bên ngoài, người ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, lao động hay học tập, nhờ đó khi làm việc sẽ cho ra hiệu quả cao!
KHÁCH: Xin cảm ơn cư sĩ!
LÝ TỨ: Xin cảm ơn câu hỏi của quý khách, chúc quý khách an vui, thành công trong cuộc sống! (01-08-2019)
Trần Pháp Trần Pháp Giới

1. Trần: Tự nó như hư không, không có tên tuổi, không có giá trị, tức không tướng, không tánh, không vị, không giới, không danh, không lượng. Nên “Trần” chưa phải là “Pháp”.
2. Pháp Trần (hay Pháp): Khi ý thức tiếp xúc, mới có tên bình bàn, hình dáng bình bàn, giới hạn và giá trị bình khác bàn, tánh chất riêng của bình bàn. Những thứ này do ý thức gắn vào “Trần” nên gọi là “Pháp Trần” (nói gọn là Pháp).
Ở chừng mực nào đó, khi nói đến “Pháp” được hiểu là những gì “ý thức” tiếp cận được. Khi nói đến “Trần” được hiểu là những gì do “các căn còn lại” tiếp xúc.
Tuy nhiên đối với chúng sanh, thức nhập vào các căn gọi là nội lục nhập, buộc các căn phải đón nhận trần cảnh theo chủ ý của mình gọi là ngoại lục nhập, thành tựu sự đón nhận này gọi là thập nhị nhập.
Bây giờ, ý thức mới phân tích sự đón nhận đó theo quan điểm của nghiệp chung và nghiệp riêng, cho ra kết luận như thế này hoặc như thế kia, gọi là sinh pháp, hoàn thành sự nhận biết này gọi là thập bát giới.
Để làm rõ vấn đề, xin đưa thêm một số kiến giải... Pháp có ba tầng, ba tầng này cho ra hệ quả của nó là “Ngu, Mê, Lầm”, đó là:
●Khái niệm: Một loại pháp hình thành do phân biệt, hệ quả của pháp này là Kiết Sử sẽ sanh, gọi là “Ngu”. Hết cái ngu này dứt Tập, ra khỏi Nhuận Chi Vô Minh.
●Tri thức: Đây là loại pháp, nếu mê sẽ sanh ngã, gọi là “Mê”. Hết cái này sẽ chứng Diệt, thành tựu Niết Bàn, ra khỏi Căn Bản Vô Minh.
●Quan niệm: Đây là tầng thứ ba của pháp, pháp này mê hoặc hữu tình, làm cho thánh phàm “Lầm tưởng” cứu cánh. Dứt mê hoặc này, sẽ viên mãn Diệt đế, bước vào Đạo đế, thành tựu trí tuệ. Thoát khỏi Vô Minh Trụ Địa.
3. Pháp Giới: Là những nơi nào ý thức đến được, dễ hiểu hơn, “Pháp Giới” là giới hạn của “Ý Thức”. Ví dụ: Khi nói đến sao hoả, người ta liền liên tưởng đến sao hoả, khi nói “địa ngục”, “Niết bàn”... cũng điều được liên tưởng. Sự liên tưởng này gọi là “Pháp Giới”.
Pháp do “Tâm sanh”, Trần do “nghiệp duyên sanh”. Pháp thuộc “nhận thức”, Trần thuộc về “thế giới”. Hai thứ này cần rạch ròi không nên lẫn lộn.
Phật nói “Pháp Giới không cùng tận”, vì nghĩ tưởng của hữu tình không cùng tận. Khi nói đến cái gì thì người đời liền đưa ý thức đến đó. Nơi chốn của “ý thức” đến được gọi là “Pháp giới”. Do hiểu biết này mà chúng sanh không ra khỏi “Pháp giới”.
Với người tu Phật chỉ nên “không Pháp”, cũng không nên "muốn thấy được chơn tâm". Vì, chỉ khi nào dứt "Cái Muốn" thì chơn tâm mới hiện.
(24-05-2013)