Ba Mươi Bảy Phẩm – Thất Giác Chi
Thất giác chi gồm bảy chi phần đưa đến giác ngộ rốt ráo đạo xuất thế. Bảy chi phần này tuần tự diễn ra trong tâm hành giả theo thứ lớp, đây là bảy giai đoạn rốt ráo đưa đến quả vị giải thoát hay thực chứng Niết Bàn.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Thất giác chi gồm bảy chi phần đưa đến giác ngộ rốt ráo đạo xuất thế, đó là:
− Trạch pháp giác chi;
− Niệm giác chi;
− Hỷ giác chi;
− Khinh an giác chi;
− Tinh tấn giác chi;
− Định giác chi; và cuối cùng là
− Xả giác chi.
Bảy chi phần này tuần tự diễn ra trong tâm hành giả theo thứ lớp, đây là bảy giai đoạn rốt ráo đưa đến quả vị giải thoát hay thực chứng Niết Bàn.
Vì thế chi phần cuối cùng là xả giác chi tương ưng diệt đế cũng là giai đoạn rốt sau của địa vị kiến đạo, chuẩn bị vào địa vị tu đạo (đạo đế).
Bảy chi phần này có sự thay đổi ở hai chi đầu, nếu là Bồ Tát thừa thì trạch pháp giác chi đi đầu, nhị thừa thì niệm giác chi đặt trước.
Sở dĩ có sự thay đổi này là vì Bồ Tát do nghe Phật hoặc Thiện Tri Thức giản trạch nguồn tâm có chỗ thầm hội vào thẳng chơn đế, lấy đây làm chỉ thú thanh tịnh bản tâm gọi là trạch pháp giác chi, có nghĩa nhân nơi giản trạch mà giác ngộ rốt ráo.
Ví dụ như ngài Huệ Năng được giản trạch nguồn tâm bằng câu: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm” trong kinh Kim Cang liền thầm hội “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm.” Có nghĩa kinh giản trạch, phân tích nguyên nhân sanh tâm, Huệ Năng giác được nguyên uỷ, nhân nơi giác dừng nguyên nhân sanh khởi, ngộ nghĩa vô sở trụ TÂM; như thế nhân nơi trạch pháp mà giác ngộ rốt ráo nên trạch pháp giác chi đi đầu.
Nhị thừa thì ngược lại, nhắm thẳng niệm xứ yểm ly rồi mới ngộ rốt ráo diệt đế nên niệm giác chi đi đầu. Ví dụ Phật chỉ thẳng thân ngũ ấm vô thường, yểm ly tất cả giá trị không thực của sắc như không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, và làm tự ngã của ta; nhân nơi yểm ly thân niệm xứ, nhị thừa giác ngộ nghĩa giải thoát, sau mới giản trạch ý nghĩa niệm xứ theo ngôn giáo; vì vậy nhị thừa đặt niệm giác chi lên đầu, chính điều này Phật thường ví trí tuệ Thanh Văn là “trí tuệ lừa què,” ám chỉ con lừa đã chậm mà còn là con lừa què chân thì còn lâu mới đến đích.
Dù giác ngộ bằng trạch pháp hay niệm giác chi thì tuần tự của năm chi sau không thay đổi cho đến viên mãn ‘xả’ mới hoàn thành trình tự giác ngộ.
Giác chi tức là một chi phần trong tổng thể vô lượng chi phần của đạo xuất thế; ba thừa chỉ có thể giác ngộ một phần nhỏ trong toàn bộ các chi phần này; khi nào viên mãn quả vị, ba thừa đồng vào nhất thừa học Nhất Thiết Trí; học xong mới biết toàn bộ các môn giải thoát của Phật, vì biết khắp các môn giải thoát nên gọi là Nhất Thiết Trí.
Tứ hoằng thệ nguyện của Bồ Tát có lời thệ là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học,” đây chính là một cách nói khác của học Nhất Thiết Trí.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật bảo rằng: “Chỉ đồng cho một xe đó là xe nhất thừa,” ba thừa chỉ là quyền phương tiện, cũng cần nói thêm khi nào học xong Nhất Thiết Trí vào Đạo Tướng Trí thì Bồ Tát này mới có danh hiệu là Đại Bồ Tát hay Bồ Tát Ma Ha Tát. Sau đây là đoạn kinh mô tả tướng Bồ Tát Ma Ha Tát và sự biết khắp các môn giải thoát hay các môn tam muội:
“Lại nữa, Thiện Hiện! Tướng Đại thừa Bồ Tát Ma Ha Tát ấy là Kiện hành tam ma địa, Bảo ấn tam ma địa, Sư tử du hý tam ma địa, Diệu nguyệt tam ma địa, Nguyệt tràng tướng tam ma địa, Nhất thiết pháp dũng tam ma địa, Quán đỉnh tam ma địa, Pháp giới quyết định tam ma địa, Quyết định tràng tướng tam ma địa, Kim cương dụ tam ma địa, Nhập pháp ấn tam ma địa, Tam ma địa vương tam ma địa, Thiện an trụ tam ma địa, Thiện lập định vương tam ma địa, Phóng quang tam ma địa, Vô vong thất tam ma địa, Phóng quang vô vong thất tam ma địa, Tinh tiến lực tam ma địa, Trang nghiêm lực tam ma địa, Đẳng dũng tam ma địa, Nhập nhất thiết ngôn từ quyết định tam ma địa, Nhập nhất thiết danh tự quyết định tam ma địa, Quán phương tam ma địa, Tổng trì ấn tam ma địa, Chư pháp đẳng thú hải ấn tam ma địa, Vương ấn tam ma địa, Biến phú hư không tam ma địa, Kim cương luân tam ma địa, Tam luân thanh tịnh tam ma địa, Vô lượng quan tam ma địa, Vô trước vô chướng tam ma địa, Đoạn chư pháp luân tam ma địa, Khứ xả trân bửu tam ma địa, Biến chiếu tam ma địa, Bất thuấn tam ma địa, Vô tướng trụ tam ma địa, Bất tư duy tam ma địa, Hàng phục tứ tam ma địa, Vô cấu đăng tam ma địa, Vô biên quang tam ma địa, Phát quang tam ma địa, Phổ chiếu tam ma địa, Tịnh kiên định tam ma địa, Sư tử phấn tấn tam ma địa, Sư tử tần thân tam ma địa, Sư tử khiếm khư tam ma địa, Vô cấu quang tam ma địa, Diệu lạc tam ma địa, Điển đăng tam ma địa, Vô tận tam ma địa, Tối thắng tràng tướng tam ma địa, Đế tướng tam ma địa, Thuận minh chánh lưu tam ma địa, Cụ oai tam ma địa, Ly tận tam ma địa, Bất khả động chuyển tam ma địa, Tịch tĩnh tam ma địa, Vô hà khích tam ma địa, Nhật đăng tam ma địa, Tịnh nguyệt tam ma địa, Tịnh nhãn tam ma địa, Tịnh quang tam ma địa, Nguyệt đăng tam ma địa, Phát minh tam ma địa, Ưng tác bất ưng tác tam ma địa, Trí tướng tam ma địa, Kim cương man tam ma địa, Trụ tâm tam ma địa, Phổ minh tam ma địa, Diệu an lập tam ma địa, Bửu tích tam ma địa, Diệu pháp ấn tam ma địa, Nhất thiết pháp bình đẳng tánh tam ma địa, Khí xả trần ái tam ma địa, Pháp dũng viên mãn tam ma địa, Nhập pháp đỉnh tam ma địa, Bửu tánh tam ma địa, Xả huyên tránh tam ma địa, Phiêu tán tam ma địa, Phân biệt pháp cú tam ma địa, Quyết định tam ma địa, Vô cấu hạnh tam ma địa, Tự bình đẳng tướng tam ma địa, Ly văn tự tướng tam ma địa, Đoạn sở duyên tam ma địa, Vô biến dị tam ma địa, Vô phẩm loại tam ma địa, Nhập danh tướng tam ma địa, Vô sở tác tam ma địa, Nhập quyết định danh tam ma địa, Vô tướng hạnh tam ma địa, Ly ế ám tam ma địa, Cụ hạnh tam ma địa, Bất biến động tam ma địa, Độ cảnh giới tam ma địa, Tập nhất thiết công đức tam ma địa, Vô tâm trụ tam ma địa, Quyết định trụ tam ma địa, Tịnh diệu hoa tam ma địa, Cụ giác chi tam ma địa, Vô biên biện tam ma địa, Vô biên đăng tam ma địa, Vô đẳng đẳng tam ma địa, Siêu nhất thiết pháp tam ma địa, Quyết phán chư pháp tam ma địa, Tán nghi tam ma địa, Vô sở trụ tam ma địa, Nhất tướng trang nghiêm tam ma địa, Dẫn pháp hành tướng tam ma địa, Nhất hành tướng tam ma địa, Ly chư hành tướng tam ma địa, Diệu hạnh tam ma địa, Đạt chư hữu để viễn ly tam ma địa, Nhập nhất thiết thi thiết ngữ ngôn tam ma địa, Kiên cố bửu tam ma địa, Ư nhất thiết pháp vô sở thủ trước tam ma địa, Điển diệm trang nghiêm tam ma địa, Trừ khiển tam ma địa, Vô thắng tam ma địa, Pháp cự tam ma địa, Huệ đăng tam ma địa, Thú hướng bất thối chuyển thần thông tam ma địa, Giải thoát âm Thanh Văn tự tam ma địa, Cự sí nhiên tam ma địa, Nghiêm tịnh tướng tam ma địa, Vô tướng tam ma địa, Vô trược nhẫn tướng tam ma địa, Cụ nhất thiết diệu tướng tam ma địa, Cụ tổng trì tam ma địa, Bất hỷ nhất thiết khổ lạc tam ma địa, Vô tận hành tướng tam ma địa, Nhiếp phục nhất thiết chánh tà tánh tam ma địa, Đoạn tắng ái tam ma địa, Ly vi thuận tam ma địa, Vô cấu minh tam ma địa, Cực kiên cố tam ma địa, Mãn nguyệt tịnh quang tam ma địa, Đại trang nghiêm tam ma địa, Vô nhiệt điển quang tam ma địa, Năng chiếu nhất thiết thế gian tam ma địa, Năng cứu nhất thiết thế gian tam ma địa, Định bình đẳng tánh tam ma địa, Vô trần hữu trần bình đẳng lý thú tam ma địa, Vô tránh hữu tránh bình đẳng lý thú tam ma địa, Vô sào huyệt vô tiêu xí vô ái lạc tam ma địa, Quyết định an trụ chơn như tam ma địa, Khí trung dũng xuất tam ma địa, Thiêu chư phiền não tam ma địa, Đại trí huệ cự tam ma địa, Xuất sanh thập lực tam ma địa, Khai xiển tam ma địa, Hoại thân ác hành tam ma địa, Hoại ngữ ác hành tam ma địa, Hoại ý ác hành tam ma địa, Thiện quán sát tam ma địa, Như hư không tam ma địa, Vô nhiễm trước như hư không tam ma địa.
Như vậy thảy các tam ma địa, có vô lượng trăm ngàn là tướng Đại thừa Bồ Tát Ma Ha Tát.” [[1]]
Cũng có thể hiểu Bồ Tát chưa được Đạo Tướng Trí thì vẫn còn gọi quyền thừa.
Muốn tìm hiểu ý nghĩa chữ ‘Ma Ha’ xin xem kinh Đại Bát Nhã - HT Thích Trí Nghiêm dịch; Muốn biết học ‘Nhất Thiết Trí’ như thế nào xin xem kinh Hoa Nghiêm - HT Thích Trí Tịnh dịch.[[2]]
[[1]] Trích kinh Đại Bát Nhã – HT Thích Trí Nghiêm dịch.
[[2]] Hai bộ kinh này nếu không thỉnh được thì có thể tìm thấy trong website- www.quangduc.com.
(còn nữa)
Ba Mươi Bảy Phẩm – Ngũ Căn, Ngũ Lực
Ngũ căn xuất hiện là sự kế thừa tất yếu khi thân tâm chuyển biến đúng pháp tức chánh pháp. Vì thế ngũ căn được xếp vào thánh pháp, bước đầu thành tựu của bậc kiến đạo, có nghĩa vị này thấy rõ con đường mình đi và đích phải đến.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Hai pháp ngũ căn ngũ lực trong phần luận này không tách rời bởi vì tuy hai mà một, tức cái này sinh thì cái kia sinh.
Ngũ căn gồm: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, và huệ căn.
Ngũ lực gồm: Tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, và huệ lực.
Quan trọng của phần này chính là chữ căn và chữ lực, hiểu được hai chữ này sẽ hiểu toàn bộ hai pháp căn lực.
Trong Phật pháp thường hay đề cập đến tín tâm, ở đây lại nói tín căn mà không bảo là tín tâm, như vậy tín tâm khác tín căn chỗ nào?
Tín tâm chỉ thuần túy là niềm tin, niềm tin thì có thể thay đổi nếu niềm tin này bị đánh đổ bởi một niềm tin khác mạnh hơn hoặc có cơ sở hơn.
Giống như người bị bệnh khi phát bệnh tin vào một lương y nào đó, và sau thời gian chữa trị bệnh không thuyên giảm hoặc gặp lương y danh tiếng hơn, thì niềm tin vào vị lương y trước bị thay đổi hoặc không còn.
Vì thế tín tâm không thực chứng, và nó chỉ dựa vào thấy nghe phát sinh tin tưởng. Tín tâm đôi khi không cần dựa vào cơ sở hoặc cơ sở không mang tính thuyết phục, chỉ cần nghe người thân hoặc người có uy tín giới thiệu cũng có thể phát sinh niềm tin. Đôi khi do một sự tình cờ nào đó gặp phải vận may, niềm tin phát khởi, do đó tín tâm có chánh tín và mê tín.
Dù là chánh tín hay mê tín, tín tâm chỉ là niềm tin thế gian, tồn tại dưới dạng thế pháp không đưa đến thánh vị.
1. CĂN
Chữ căn trong tiếng Hán dùng để chỉ cái căn bản hay cái rễ bám chặt; chữ căn trong tín căn để chỉ điều gì đó mọc rễ và bám chặt nơi tâm; nguyên nhân để tín căn mọc lên là kết quả thành tựu tư lương vị, tức là viên mãn tứ niệm xứ, tứ chánh cần, và tứ như ý túc.
Tín căn có phát sinh hay không phụ thuộc rất lớn vào quán như ý túc, vì vậy Phật dạy: “Như ý túc câu hữu với tư duy thiền định tinh cần hành…,” có nghĩa quán (tư duy) đến rốt ráo thì định sanh; khi thân tâm có khuynh hướng bất động (định), hỷ lạc sinh.
Trong quá trình quán niệm xứ (quán như ý túc) do đem tâm nhớ nghĩ suy gẫm xem xét nghĩa lý của niệm xứ và thấy được niệm xứ chính là đầu mối phát sinh lậu hoặc, chủ thể quán dừng nguyên nhân sinh khởi, tâm liền an lạc và hoan hỷ; như người đào giếng thấy nước, công sức bỏ ra kết quả có được, niềm tin không còn lay chuyển người đào giếng sẽ dốc sức đào cho đến khi thấy được dòng nước vừa ý mới thôi. Chính pháp quán niệm xứ đưa người tu hành đến an ổn hỷ lạc, giống như đào giếng thấy nước, uống thuốc lành bệnh.
Đây là cơ sở thực chứng phát sinh niềm tin vừa là luận chứng thuyết phục biết con đường mình đi đúng hướng. Từ đây niềm tin mọc ra bám chặt trong tâm, mọi thứ hoài nghi chấm dứt, không có gì làm niềm tin ngã đổ, sự bám chặt không thể ngã đổ này chính là tín căn. Tín căn đã sinh thì năm hạ phần kiết sử là tham, sân, si, mạn, nghi mỏng nhẹ, tinh tấn căn chỉ là hệ quả tất yếu của tín căn.
Nhân nơi niệm xứ thành tựu thì niệm xứ trở thành đối tượng bất di bất dịch trong pháp quán gọi là niệm căn. Niệm căn không dao động hay dời đổi thì năm lợi sử là thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến chưa hoàn toàn triệt tiêu nhưng không có cơ hội phát sinh.
Mười kiết sử không thể sai sử nên gọi là định căn. Ở đây nói mười kiết sử chưa diệt hẳn vì kiết sử chỉ thật sự trừ sạch khi nào viên mãn diệt đế.
Nhân nơi niệm xứ dừng trụ (định căn), quán giả phát sinh những ‘hiểu biết mới’ không y vào kiết sử gọi là ‘thắng trí’. Thắng trí sẽ cho ra thắng giải, ‘thắng giải’ chính là những ‘hiểu biết tường tận’ vì sao thân phát sinh lậu hoặc? Tâm phát sinh phiền não? Vì sao các cảm thọ xuất hiện? Vì sao các pháp hiện hành? Làm thế nào để dừng các món hư ngụy trên?
Quán giả không còn mê mờ bởi kiết sử, hiểu biết thấu đáo ‘kiết sử’ chỉ là ‘bóng dáng của ý thức’, hiểu biết này gọi là huệ căn. Huệ căn phát sinh chính là nhân của trí tuệ vô lậu sau này.
Tóm lại, ngũ căn xuất hiện là sự kế thừa tất yếu khi thân tâm chuyển biến đúng pháp. Chuyển biến đúng pháp gọi là chánh pháp.
Đúng chánh pháp sẽ thành tựu an ổn khoái lạc, an ổn khoái lạc thắng diệu gọi là thánh pháp. Vì thế ngũ căn được xếp vào thánh pháp, bước đầu thành tựu của bậc kiến đạo, có nghĩa vị này thấy rõ con đường mình đi và đích phải đến.
Chỉ có bậc kiến đạo mới thấu suốt ‘kiết sử’ chỉ là bóng dáng của ‘mê’. Khi mê thân tâm phát sinh kiết sử, dứt mê kiết sử tự mất, kiết sử chỉ là tập nhân của khổ đế nên chỉ diệt đế thì tập không còn.
Do hiểu biết này mà không diệt tập, tức là không diệt tham sân, giống như người bị bệnh nhặm mắt thì thấy quầng đèn, khi chữa mắt hết bệnh thì quầng đèn tự diệt, chứ không phải diệt quầng đèn.
2. LỰC
Lực có nghĩa là sức mạnh. Nhưng lực đi sau chữ căn ngoài sức mạnh còn hàm ý chỉ lực hút của cái rễ, nếu hiểu một cách thông thường thì ngũ lực là sức mạnh tăng thêm giúp người tu hành mau thành tựu.
Nếu lực chỉ gói trọn trong nghĩa này thì cái gì tạo ra sức mạnh kia; nghĩa là yếu tố nào làm nên sức mạnh chưa được đề cập đến; chỉ bằng vào niềm tin gọi là sức mạnh thì sức mạnh này chưa đủ để đơm chồi nảy lộc cây giác ngộ mà cành nhánh là giác chi, hoa trái là bát chánh đạo và giải thoát.
Đích đến của Phật pháp là vô lậu quả. Muốn thành tựu đạo vô lậu phải học ba học pháp vô lậu là giới-định-huệ. Nếu như tư lương vị là hành trang hay khác hơn là sự dọn sạch mảnh đất tâm, thì giới-định-huệ chính là dưỡng chất để nuôi lớn cây trí huệ, và niệm xứ là hạt giống được trồng tỉa trên mảnh đất này.
Nếu hạt giống niệm xứ bị trồng trên mảnh đất nghiệp đầy cỏ dại vọng tưởng, vun tưới bằng phân nước ái dục thì niệm xứ này sau khi hút dưỡng chất ngũ dục sẽ cho ra hoa trái mê lầm phiền não.
Bằng ngược lại nếu được vun trồng trên mảnh đất đã làm sạch nghiệp, nhổ sạch cỏ dại vọng tình, vun tưới bằng chất liệu giới-định-huệ thì cũng niệm xứ này nhưng kết tụ thành hoa trái giác ngộ, giống như chuyện kể cây quất trồng ở Hoài Nam thì ngọt mà trồng ở Hoài Bắc thì chua.
Ngọt chua có phải bản chất của cây quất chăng?
Nếu bản chất cây quất là ngọt thì chẳng thể chua và ngược lại. Như vậy bản chất của niệm xứ là mê hay giác? Bảo là mê thì không thể giác, nếu bản chất là giác thì sao lại mê!
Mê hay giác do duyên huân tập, người ở trong tối thì thấy nghe hay biết không rời bóng tối, còn người ra ngoài ánh sáng thì thức ngủ đều trong ánh sáng, sự huân tập là như thế.
Do đó tu tập là đem niệm xứ ra khỏi nguồn mê, có nghĩa tạo các duyên không mê để huân ướp thì niệm xứ tự trở về bản nguyên trong sạch.
Có thể hình tượng hóa bằng biện pháp canh tác cây chánh giác: Mảnh đất tâm nghiệp gieo hạt giống niệm xứ, mọc rễ ngũ căn, hút bằng ngũ lực, vun tưới giới-định-huệ, đâm chồi thất giác chi, kết trái bát chánh đạo.
Thì cũng vậy, đầy đủ pháp tư lương là làm sạch đất nghiệp trong đó nhất tâm để dừng vọng niệm; vọng niệm có dừng ý mới chuyên nhất quán sát thân tâm, thân tâm không dao động (bất động) sanh hỷ lạc, thuật ngữ của thiền gọi là tầm tứ; tầm (giác) là tâm hướng đến tịch tĩnh, tứ (quán) là ý quở trách vọng tình; vọng tình không khởi hỷ lạc sanh, hỷ lạc sanh thắng cảnh sanh.
Tâm vui mừng vì được thắng cảnh nên căn lực sinh, tinh tấn trong thắng cảnh căn lực tăng trưởng đủ sức mạnh hút chất liệu vô lậu của giới-định-huệ đâm chồi giác chi chờ ngày ra hoa chánh đạo, kết trái giải thoát. Quy trình khép kín này có mối liên hệ hữu cơ, cái này sinh cái kia sinh, cái này diệt cái kia diệt.
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu tự thân ba thứ lậu này chẳng thực chỉ do mê, mê sinh thì lậu sinh. Lậu y vào bốn niệm xứ để rĩ chảy các món phiền não che mờ chơn tánh gọi là ‘lậu hoặc’.
Lậu hoặc là phiền não rĩ chảy che mờ linh giác, giống như nước mưa chảy xuống che mờ kiếng chắn gió xe hơi. Sở dĩ có rĩ chảy vì thân tâm có tích chứa các chất rĩ chảy gọi là ngũ uẩn, nếu hai nơi này không tích chứa thì lấy đâu ra phiền não để lậu hoặc.
Giống như chiếc thùng không có lỗ thủng thì sự chảy không diễn ra, hoặc dù thủng hay lành nếu không có nước thì lấy gì mà chảy. Có thể ví:
− Phàm phu giống như chiếc thùng thủng năm chỗ;
− Thanh Văn là chiếc thùng được vá kín các mối;
− Bồ Tát như chiếc thùng rỗng không;
− Nhất Thừa là cái thùng đựng cam lồ, các món chảy ra đều thanh lương lợi mình lợi người.
Nói cho cùng, chỉ vì giải quyết vấn nạn ‘thân thọ tâm pháp’ cho ba thừa mà Phật bày ra các món phương tiện;
∙ Y nơi phương tiện đặt tên, nhân nơi tên mà lý giải;
∙ Lý giải có đầu đuôi khúc chiết gọi là giáo lý;
∙ Thông lý gọi giác;
∙ Giác viên gọi ngộ;
∙ Liễu ngộ gọi thông;
∙ Tông thông gọi chứng;
∙ Nơi chứng thấy trống không;
∙ Trống không thành đạo;
∙ Nơi đạo vô ngôn;
∙ Vô ngôn vô tướng;
∙ Vô tướng thấy thiệt;
∙ Thấy thiệt biết vô; nên Phật dạy: “thiệt tướng là vô tướng”.
Căn hay lực đây!? Tất cả chỉ vì mê, dứt mê thì vô khổ tập diệt đạo, không khổ tập diệt đạo thì không đế, không đế thì chứng cái gì đây? Đắc cái gì đây? Nên kinh dạy: “Vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc.” Tóm lại, căn lực phát sinh là dấu hiệu bất thối của người tu hành, bất thối ở đây chỉ bất thối đối với đạo giải thoát; đây có thể là cảnh giới của Tu Đà Hoàn hay A Bệ Bạt Trí của các Phật quốc, trí này là chủng tử thánh nên Tu Đà Hoàn được xếp vào một trong tứ thánh quả.
Ưu thế của A Bệ Bạt Trí là do giác ngộ mà có nên không thể quay trở lại cõi dục, vì thế Phật xếp Tu Đà Hoàn tương đương với sơ thiền của thiền giải thoát; nếu giải đãi thì bảy đời còn lại nhất định chứng giải thoát, nếu tinh tấn thì trong một đời vượt qua thứ đệ bảy thiền của sắc giới và vô sắc giới, đó là nhị tam tứ thiền cùng bốn không định rồi mới chứng diệt thọ tưởng định gọi chung là cửu thứ đệ định; trụ nơi diệt thọ tưởng định, Phật gọi là độn căn A La Hán.
Hàng nhị thừa trí bén khi đến tứ thiền không kinh qua bốn vô sắc định, phát khởi tam minh;
− Dùng thiên nhãn minh thấy nhân sinh tử;
− Dùng túc mạng minh biết quả hiện đời;
− Phát khởi lậu tận minh thấy biết đầu mối phát sinh lậu hoặc;
Y nơi vô lậu diệt sạch các lậu chứng vô lậu quả có tên diệt tận định; hàng nhị thừa này Phật gọi là hồi tâm Đại A La Hán.
Bồ Tát quyền thừa thì ở trong đệ tứ thiền, tâm không khổ lạc, giác ngộ bất cộng phàm phu pháp tịch diệt nguồn tâm.
Riêng Bồ Tát nhất thừa không phải trải qua các giai đoạn trên, nơi thánh ngôn lượng vào thẳng huệ trí được đạo chơn đế.
Sơ thiền của bậc giác ngộ bốn niệm xứ không giống sơ thiền của ngoại đạo vì ngoại đạo dùng sở pháp tu tập mà thành chứ không do nơi giác ngộ. Nên ngoại đạo dù tu đủ tám thiền chứng, có được năm thắng trí cũng không được gọi là thiền giải thoát vì không xuất phát từ nhân vô lậu, do vậy sơ thiền của họ không được xếp ngang thánh quả Tu Đà Hoàn.
Những trình tự nêu trên đều nằm trong bốn đế.
Phàm phu chỉ biết khổ tập mà không có đế, đây cũng là lời huyền ký của bậc nhất thiết trí cho những ai từ chối nghĩa ĐẾ, thì biết rằng người này phải luân chuyển trong khổ tập nhiều đời.
Thanh Văn gồm đủ bốn đế khẩu hiệu của họ là: Thấy khổ, biết tập, chứng diệt, tu đạo. Phật nói hạng này có đạo có đế mà không có chơn đế.
Bồ Tát không thấy khổ, có tập, có diệt, có đạo, có đế, có chơn đế, nghĩa là trong bốn đế chỉ thấy có ba.
Bồ Tát Nhất Thừa hay Đại Bồ Tát không khổ, không tập, không diệt, nơi thánh ngôn lượng vào thẳng đạo chơn đế nên gọi không đế.
Cũng chính điều này trong kinh Phật nói rõ:“ta dùng bốn đế chuyển pháp luân cho Thanh Văn chứng quả”, có nghĩa Thanh Văn phải chứng đủ bốn đế mới có thánh quả.
Đọc kinh đến đoạn này người đời sau lầm tưởng bốn đế chỉ dùng cho Thanh Văn thừa, hiểu như vậy vô tình loại ba thừa còn lại ra khỏi bốn đế mà không biết rằng ba thừa đều y nơi bốn đế.
Chỉ vì căn cơ sai khác nên khi tu tập có nhất thiết cần thông qua đầy đủ bốn món hay không? Tuy vậy ba thừa đều phải thấu suốt bốn đế mới viên mãn đạo xuất thế.
(còn nữa)
Ba Mươi Bảy Phẩm – Tứ Như Ý Túc – Quán (Niệm) Như Ý Túc
Quán như ý túc là đề ra mục tiêu tấn công, thấy được kẻ thù, và hiểu biết tường tận sở trường sở đoản của đối phương. Có như vậy hiệu quả chiến đấu mới cao và nhất định thắng lợi, thắng lợi này đồng nghĩa với sự như ý.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
‘Quán như ý túc’ là một trong những điều người tu hành cần hiểu biết tường tận để định hướng cho mình mục tiêu thích hợp và hướng trọn tâm ý vào đó thực hiện pháp quán.
Nếu lựa chọn không phù hợp sẽ là cản ngại lớn khi dấn thân trong bước đường tu hành.
Đây được coi như điều kiện tất yếu vì mỗi một căn cơ phù hợp với một phương sở nhớ nghĩ, có người chuyên lấy thân làm đối tượng suy gẫm để tìm chân lý, người cảm thọ, người tâm, kẻ nơi pháp. Không căn cơ nào giống căn cơ nào, mỗi căn cơ có một thế mạnh và cũng nhiều thế yếu.
Biết phát huy thế mạnh của mình, mục tiêu tấn công sẽ dễ dàng chiếm lĩnh và ít nhọc sức.
Trong kinh điển cũng đã nêu lên trường hợp “tu lộn pháp” như trường hợp người thợ kim hoàn và người thợ may được dạy hai pháp quán sai căn cơ. Hai người này tu thời gian dài không thành tựu, đến khi Phật biết được đổi lại thì chỉ thời gian ngắn họ đã đạt được những thành tựu cần thiết.
Khi nói đến quán như ý túc, người tu hành thường lý giải pháp này không rõ ràng, và thực tế chỉ nói cho xong chuyện mà không nêu cụ thể quán hay niệm cái gì để đưa pháp quán đến như ý.
Sự hiểu biết chung chung gặp gì nhớ nghĩ đó, hay miễn cột chặt niệm vào một pháp bất kỳ làm phép quán cũng được, thì không thể gọi là quán như ý, thậm chí quán như vậy vô hình trung làm hư tính chất nhất tâm đã đề cập phần trước.
Có nghĩa là không đề ra mục tiêu tấn công rõ ràng, giống như người chiến binh khi lâm trận không biết phương hướng kẻ thù, tác chiến lung tung thì thắng lợi nhất định thuộc về kẻ thù.
Vì thế quán như ý túc là đề ra mục tiêu tấn công, thấy được kẻ thù, và hiểu biết tường tận sở trường sở đoản của đối phương. Có như vậy hiệu quả chiến đấu mới cao và nhất định thắng lợi, thắng lợi này đồng nghĩa với sự như ý.
Trong Phật giáo nhất là ‘tu thiền’, khi nói đến quán phải nghĩ ngay ‘niệm xứ’ vì đây là ĐẾ cần phải giải quyết, giải quyết đế là cách nói khác của diệt đế. Đế này được nhất quán từ khởi đầu tu hành đến thành tựu, không có sự nhất quán sẽ làm cho người tu lung tung, bạ đâu quán đấy cho xong chuyện.
Nếu tu hành mà mơ hồ về đối tượng cần được tu thì sẽ không có kết quả như mong đợi và làm sao gọi là như ý.
Như vậy quán như ý túc hay niệm như ý túc là nhớ nghĩ suy gẫm quán sát một trong bốn niệm xứ cho đến rốt ráo giác ngộ; vì thế 37 phẩm có niệm căn, niệm lực, niệm giác phần, và sau rốt là chánh niệm.
Vì thế chữ quán, niệm, tư duy là nhắm đến niệm xứ, lấy đây làm tư tưởng chủ đạo để toàn tâm toàn ý gởi gắm vào đó; tu hành đến bao giờ thấy được cứu cánh thì phép quán này được coi là viên mãn, gọi là chánh quán hay chánh niệm.
Suy ra quán như ý túc gồm có năng quán và sở quán, ‘năng quán’ là ‘người quán’ và ‘sở quán’ là ‘đối tượng được quán’.
Theo cách lý giải trên thì năng quán là ‘người tu hành’ còn sở quán là ‘một niệm xứ phù hợp với chủ thể quán’. Niệm xứ mà chủ thể chọn cho mình sẽ làm đối tượng nhắm đến trong suốt quá trình của 37 phẩm.
Nếu người ‘tu tịnh độ’ sau khi nhất tâm là ‘cảnh giới vãng sanh Cực Lạc’ thì người ‘tu thiền’ sau khi nhất tâm sẽ đưa niệm xứ của mình vào ‘thánh cảnh’. Đây là một hình thức vãng sanh tâm ý vào cảnh giới tốt hơn cảnh giới hiện tiền.
Đây cũng là hình thức tách biệt nghiệp khỏi cộng nghiệp, chuẩn bị vào địa vị bất thối của bậc thánh trong tứ thánh quả gọi là hướng Tu Đà Hoàn quả.
Chỉ chính thức là Tu Đà Hoàn khi nào viên mãn tư lương vị, tức là viên mãn tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, bước hẳn vào địa vị kiến đạo.
Tư lương là hành trang tối thiểu và cần có cho một người đi xa. Nếu tư lương chưa đầy đủ thì việc đi xa không thể thực hiện được, do đó tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc rất quan trọng cho bước đường tu hành.
Tư lương không đủ hoặc thiếu sót thì hành trình gặp nhiều trở ngại, nếu không muốn nói là khó có thể tiếp tục.
Tóm lại, quán như ý túc đứng sau nhất tâm như ý túc lại có hàm ý dùng pháp quán đưa thân tâm thoát hẳn cộng nghiệp và biệt nghiệp hiện hành vào cảnh giới thánh, bước khởi đầu của thánh đạo, chuẩn bị mọc lên căn bất thối trong hàng tứ thánh là Tu Đà Hoàn quả.
(còn nữa)
Thử Lạm Bàn Hai Bài Kệ Của Thần Tú Và Huệ Năng

- Hỏi
Các bạn!!! ... BQT vừa nhận được câu hỏi của một độc giả có tên là Đạt Ma Ảnh, bạn ấy cho biết là “đang ở hư không nửa đêm” ...!!!??? ... Thật ra, độc giả Đạt Ma Ảnh không chỉ gởi về BQT hai câu hỏi, mà đúng hơn là một lá thư dài, thật dài, tâm sự về chuyện tu hành...!!! ... Trong thư, bạn ấy cho biết bản thân có trên 15 năm “tìm thầy học đạo”!!! ... Bạn ấy không cho biết học đạo gì? Học với những ai? ... Nhưng cuối cùng, theo lời Đạt Ma Ảnh thì, “mèo vẫn hoàn mèo” ...!!!
... Một đoạn bạn ấy viết: “... Lý Tứ ơi! Vào trang của cụ, Đạt Ma Ảnh mới nhận ra xưa nay theo bao nhiêu thầy học bao nhiêu đạo, cũng chỉ ôm một mớ văn tự mà không biết thật nghĩa nên chẳng ứng dụng được chi. Càng tu càng nhận thấy cái ngã lớn lên theo thời gian bởi chỉ biết so đọ dòm ngó nhau từng thời khoá công phu, chỉ thấy cái ngã phình ra theo số văn tự đao to búa lớn đã học được nào là có, không, chơn, giả, bản thể, chơn như, v.v... các thứ ấy tích chứa trong bụng như người bị xơ gan cổ trướng, suốt đêm ngồi phì phò hai mắt lim dim mà đau thấu tâm can, chắc hết thuốc chữa quá cụ Lý ạ! Bao nhiêu năm miệt mài, bỏ bao nhiêu công bỏ sức, một sáng thức dậy thấy mặt trời lên mới biết mèo vẫn hoàn mèo” ...!!!
Cuối thư Đạt Ma Ảnh viết: “... Tôi đã đọc và nghe không biết bao nhiêu bài giảng về hai bài kệ của Thần Tú và Huệ Năng từ những người danh tiếng trong đó có thầy của tôi, nhưng cảm giác họ giảng không lọt lỗ tai, thô thiển như bò nhai rơm khô, cắt nghĩa văn tự một cách may móc, có gì đó gượng ép không lột tả được tâm tình của hai vị cao nhân tiếng tăm từng là đệ tử Ngũ Tổ. Nếu cụ Lý là người sáng đạo, tôi xin nhờ cụ hai điều:
− (1) Một là cụ vui lòng giảng giải ý nghĩa hai bài kệ của hai cụ nhà ta khác nhau chỗ nào?
− (2) Hai là cụ cho biết vì sao Ngũ Tổ trao y bát cho Huệ Năng mà không trao cho Thần Tú?
Chúc cụ có nhiều bài viết hay làm sáng tỏ ngữ nghĩa của Phật”.
(18/6/2020 23:20:15; Đạt Ma Ảnh; Đang ở hư không nữa đêm)
- Đáp
Các bạn!!! ... Đọc tâm sự của Đạt Ma Ảnh, mình rất đồng cảm với bạn ấy...!!! Những gì Đạt Ma Ảnh viết trong thư mình cũng đã bắt gặp ở nhiều người tu hành khác... Tâm tình của họ giống như đoàn người miệt mài “đi tìm miền đất hứa”, nhưng rồi một sớm mai thức dậy, khi đối diện với chính mình, mới bất chợt nhận ra, miền đất hứa chỉ là “chuyện con lừa và bó cỏ” ...!!!
41.1. Ý nghĩa hai bài kệ của hai cụ nhà ta khác nhau chỗ nào?
Về câu hỏi (1), xin được kiến giải như sau:
Bài kệ của Thượng tọa Thần Tú:
Thân thị bồ-đề thọ
Tâm như minh kính đài
Thời thời thường phất thức
Vật sử nhạ trần ai.
身 是 菩 提 樹
心 如 明 鏡 臺
時 時 勤 拂 拭
勿 使 惹 塵 埃
Bài kệ của Lục tổ Huệ Năng:
Bồ-đề bổn vô thọ
Minh kính diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?
菩 提 本 無 樹
明 鏡 亦 非 臺
本 來 無 一 物
何 處 惹 塵 埃
Về hoàn cảnh ra đời của hai bài kệ, mình xin tóm tắt như sau: Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn muốn truyền lại y bát cho người kế thừa. Bèn yêu cầu các đệ tử làm kệ kiến tánh, nếu ai làm được bài kệ thể hiện đúng chỗ giác ngộ thì sẽ truyền y bát...!!! ... Thần Tú và Huệ Năng đồng trình kệ của mình, sau đó Huệ Năng là người được y bát để trở thành tổ thứ sáu, vì thế mới có tên Lục Tổ Huệ Năng...!!! Các bạn có thể tìm hiểu giai thoại này từ Pháp Bảo Đàn Kinh...!!!
Bài kệ của Thần Tú...!!!
“Thân thị bồ-đề thọ
Tâm như minh kính đài
Thời thời thường phất thức
Vật sử nhạ trần ai”
Trong Phật đạo, cụm từ “Bồ Đề Thọ” được người tu hành thường hay nhắc tới với hàm ý chỉ cho “căn nguyên giác ngộ”. Vì ngày xưa Đức Phật nhân ngồi dưới gốc cây này mà trở thành bậc Đại Giác...!!! Vì thế, khi nói đến Bồ Đề Thọ, không chỉ nhằm nói đến tên một loài thực vật vô tri...!!! ... Mà, trong cụm từ này còn có các nghĩa sâu xa như: Cơ sở giác ngộ, cái gốc của mọi giác ngộ, nơi xuất sinh giác ngộ, mầm mống của giác ngộ, hạt giống giác ngộ...!!! Do những ý nghĩa của cụm từ Bồ Đề Thọ như đã nêu ở trên...!!!
Khi trình kệ cho Ngũ Tổ, Thần Tú đã dùng cụm từ này để đưa ra quan điểm tu tập của mình:
− Thân thị bồ đề thọ: Thân là cơ sở quan trọng để làm nên sự giác ngộ...!!!
− Tâm như minh kính đài: Tâm như một cái đài giương sáng...!!!
− Thời thời thường phất thức: Nếu hàng ngày hàng giờ ta thường phòng hộ, thường điều phục thân tâm ấy...!!!
− Vật sử nhạ trần ai: Nhất định bụi trần (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu và các pháp thế gian) không có cơ hội nhiễm trước...!!!
Xét về quan điển tu tập, bài kệ Thần Tú nêu bật quan điểm tu tập của bản thân...!!! ... Đây là quan điểm cốt lõi của Nhị Thừa, lấy thân và tâm làm cơ sở để thành tựu đạo quả giải thoát sau quá trình tiệm tu...!!!
Về bài kệ của Huệ Năng...!!!
“Bồ-đề bổn vô thọ
Minh kính diệc phi đài
Bổn lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai?”
Xét về bản thân, Huệ Năng là một người không biết chữ...!!! Do không biết chữ, nên Huệ Năng chẳng thể làm được thơ, phú... Vì thế, Huệ Năng phải dựa vào bài kệ của Thần Tú, sau đó chỉnh sửa một vài chỗ cho phù hợp tâm cảnh của mình nhằm nêu lên quan điểm cá nhân sau khi sơ ngộ mà trình lên Ngũ Tổ...!!!
Chính việc không biết chữ của Huệ Năng, khi đọc bài kệ của Ngài, người đọc chỉ nên nhìn thấy “tâm cảnh” của tác giả hơn là phân tích văn tự...!!! Vì rằng, văn tự của một người “không biết chữ” khó có thể diễn đạt hết nỗi lòng...!!! Ý nghĩa bài kệ của Huệ Năng như sau:
− Bồ-đề bổn vô thọ: Giác ngộ chẳng đợi học nhiều giáo pháp!!! (chữ thọ ở đây nên hiểu như sự thọ nhận văn tự giáo pháp, sự lâu mau trong tu hành, sự dựa nương vào một cơ sở nào đó của thế gian)
− Minh kính diệc phi đài: Bởi vì tâm của người giác ngộ như gương sáng, cho dù đặt gương ấy ở vị trí nào gương ấy cũng sáng (cũng tịch tĩnh, thanh lương) ...!!!
− Bổn lai vô nhất vật: Vì rằng, gương sáng (tâm người giác ngộ) không chứa các pháp (không một pháp, một cảnh có thể lưu giữ trong cái gương ấy) ...!!!
− Hà xứ nhạ trần ai: Vì thế, vô tác, vô động (không cần lau chùi, công phu, phòng hộ) mà bụi trần (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu cùng các pháp thế gian cũng như lục trần) chẳng làm cho lu mờ, hay nhiễm ô...!!!
Xét về quan điểm tu tập: Huệ Năng đã có được sơ ngộ khi nghe kinh Kim Cang trong lúc gánh củi... Vì thế, quan điểm tu học của Huệ Năng rất rõ ràng... Muốn thành tựu Đạo Trí Tuệ, phải giác ngộ trước, chỉ cần một phen giác ngộ, tâm ý tịch tĩnh, vắng lặng, hết nhiễm ô mà không cần phải làm gì hết (vô tác) ...!!! Ngũ Tổ cũng đã từng dạy: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích” ... Câu này có nghĩa rằng, người chưa giác ngộ bổn tâm, chẳng thể học đạo trí tuệ của chư Phật...!!!
Quan điểm tu tập của Huệ Năng thể hiện chỉ thú cốt lõi của Bồ Tát Thừa, chỉ thú này hoàn toàn đi ngược lại tinh thần tu tập của Nhị Thừa...!!! Một bên chủ trương tu rồi mới giác ngộ, một bên giác ngộ rồi mới tu đạo trí tuệ...!!! Một bên rèn giũa thân tâm để cầu giải thoát, một bên mong giác ngộ thật tướng của thân tâm để “ngũ uẩn giai không” ...!!!
Tóm lại, xét hai bài kệ của Thần Tú và Huệ Năng...!!! Ta thấy hai vị có hai quan điểm rõ rệt, một bên thiên về tiệm tu của Nhị Thừa... Một bên thiên về giác ngộ của Bồ Tát...!!! Chính sự khác biệt về quan điểm tu hành chứ không phải ai sai ai đúng, đúng sai tuỳ vào căn cơ, tuỳ vào xu hướng tu tập... Mà sau này, tuy Huệ Năng được y bát làm Tổ thứ sáu... Nhưng, người đương thời vẫn coi Thần Tú là một vị đại sư, danh vọng không thua kém Huệ Năng... Từ đó mới có câu nói: “Nam Năng Bắc Tú” ...!!!
Xét đến đây, ta mới thấy sự khác biệt giữa Giáo Tông và Tâm Tông...!!! ... Giáo Tông lấy giáo làm cơ sở tu tập thân tâm... Tâm Tông lấy trực chỉ nhân tâm (tâm người) làm cơ sở giác ngộ...!!! Cả Giáo Tông và Tâm Tông đều có ưu, nhược điểm riêng của nó...!!!
Vì thế, muốn thành tựu Vô Thượng Đạo, phải thành tựu cả Giáo Tông và Tâm Tông, như con chim muốn bay được phải đủ hai cánh... Giáo Tông cho ra thuyết thông, Tâm Tông cho ra tông thông...!!! ... Để minh hoạ cho sự toàn bích khi thành tựu hai thứ này, Phật có dạy như sau: “Ta có hai thứ thông, thuyết thông và tông thông, thuyết dạy kẻ đồng mông (chậm lụt, kém hiểu biết), tông vì người tu hành (người ham ưa giác ngộ) ...”!!!
42.2. Vì sao Ngũ Tổ trao y bát cho Huệ Năng mà không trao cho Thần Tú?
Về câu hỏi (2), xin kiến giải như sau:
Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ...!!! ... Vì thế, chỉ có người đã giác ngộ mới thấy được thật nghĩa của Phật đạo, chỉ có người đã giác ngộ mới hiểu hết thâm ý của giáo pháp, chỉ có người đã giác ngộ mới tiếp nhận được giáo pháp của chư Phật, chỉ có người đã giác ngộ mới có thể truyền thừa đúng chánh pháp, chỉ có người đã giác ngộ mới dạy người thành tựu tất cả các đạo quả trong Phật đạo, chỉ có người đã giác ngộ mới dành hết tâm nguyện cho chúng sanh, chỉ có người đã giác ngộ khi dạy người mới chẳng phải vì mình (vị ngã) ... Và cuối cùng, chỉ có người đã giác ngộ mới có thể dạy người Đạo Giác Ngộ của Chư Phật...!!! ... Những điều vừa nêu, chính là nguyên nhân vì sao Ngũ Tổ chọn Huệ Năng để... Gởi... Vàng, mà không gởi vàng... cho... Thần... Tú...!!! ...
Hy vọng, những kiến giải đã nêu, có thể giúp Đạt Ma Ảnh giải toả những thắc mắc về chuyện Thần Tú và Huệ Năng...!!!
Chúc Đạt Ma Ảnh và tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn!!!
(20/06/2020)
Khổ Não - Tâm Và Trí

- Hỏi
Các bạn!!! ... Đã gần một tháng, kể từ ngày khởi động Hành Trình Xuyên Việt, mình mải miết đi, không có thời gian đọc các thắc mắc từ Chuyên Mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời” ... Vì thế, không thể trả lời mọi người đúng kì hạn!!! Xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc!!! ... Sáng nay vào trang, đọc được hai câu hỏi... Một của độc giả có tên là Đấu Trí Thắng Phật và một của độc giả ghi là Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ!!! ... Nhìn qua, cách đặt câu hỏi của hai vị rất giống nhau (ngắn gọn, dứt khoát, mang dáng dấp của thiền ngữ) ... Vì thế, mình cảm nhận hai vị Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ là một vị, chỉ do thời điểm đặt câu hỏi khác nhau nên trang tính tự động chia thành hai văn bản khác nhau!!! Không biết suy nghĩ này có đúng không??? ... Nếu không đúng, xin hai vị thứ lỗi!!!
Lời đầu tiên, Lý Tứ và Chuyên Mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời” xin chân thành cảm ơn hai độc giả Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ đã đặt những câu hỏi giúp người tu học hướng đến mục tiêu chính của Phật Đạo...!!!
Hoà Thượng Thích Thanh Từ là một trong những cây đại thụ của rừng thiền, bản thân Lý Tứ đã ngưỡng mộ Ngài từ những ngày mới chập chững tìm hiểu Phật đạo!!! ... Nay danh Ngài lại được xướng lên, Lý Tứ xin cúi đầu đãnh lễ...!!!
Hai vị Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ có các câu hỏi như sau:
1a) Khổ não do đâu sanh? 1b) Trí Tuệ lấy gì đựng?
(18/05/2020 10:56:56; Đấu Trí Thắng Phật)
2a) Tâm có cấu Tạo ra sao? 2b) Nguyên tắc hoạt động?
(18/05/2020 20:27:24; Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ)
- Đáp
Và, Lý Tứ xin được trả lời theo thứ tự...!!!
40.1. (1a) Khổ não do đâu sanh? ... (1b) Trí tuệ lấy gì đựng?
Theo Phật đạo, khổ não do mê sanh!!! Dứt mê, khổ não tự tịch diệt!!! Giống như không đèn bóng tối ập đến, có đèn bóng tối tự mất...!!!
Nếu có chỗ đựng, nếu có cái để đựng, hai thứ ấy chẳng phải là trí tuệ trong Phật đạo!!! ... Vì trí tuệ của Phật đạo thuộc vô vi, mà vật để đựng và chỗ để đựng là hữu vi... Cho nên, hữu vi chẳng thể dung nạp vô vi!!!
40.2 (2a) Tâm cấu tạo ra sao? ... (2b) Nguyên tắc hoạt động?
40.2a
Hư vọng tâm: Cấu tạo của mê như thế nào thì tướng mạo và cấu tạo của hư vọng tâm như thế ấy...!!!
Chơn tâm: Cái gì do cái khác cấu tạo nên đều chẳng phải chơn... Vì thế, chơn tâm không do gì cấu tạo nên!!! ... Giống như hư không chẳng do gì cấu tạo nên, nơi nào không bị ngăn bít, hư không lập tức có mặt!!!
40.2b
Ba duyên (căn, trần, thức) phối ngẫu (trong điều kiện vô minh xúc) ... Tâm mê liền hiện!!!
Ba duyên (căn, trần, thức) phối ngẫu (trong điều kiện minh xúc) ... Chơn tâm liền hiện!!! (Xin xem Đại Niết Bàn, chương nói về vô minh xúc, minh xúc và phi minh phi vô minh xúc)!!!
Hai vị Đấu Trí Thắng Phật và Đại Đệ Tử Thích Thanh Từ cùng bạn đọc thân mến!!! ... Hy vọng những trả lời ở trên, góp một phần nhỏ giúp mọi người nhận diện nguồn cơn của khổ não, nhận diện thế nào là vô vi trí tuệ, nhận diện thế nào là hư vọng tâm cùng chơn tâm và thấy được nguyên tắc hoạt động của các thứ ấy!!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!!! ...
(11/06/2020)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tat-ca-chung-sinh-deu-co-phat-tanh
Trân trọng,
Tất Cả Chúng Sanh Đều Có ""Phật Tánh"" (Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh)"

Các bạn!!!
Từ sáng đến giờ bận trả lời phỏng vấn của báo chí chung quanh cuốn Tâm Pháp vừa mới phát hành và ra mắt, mãi đến giờ này mới có thời gian vào thăm chuyện mục!!! Vì thế, kì này không thể viết bài mới!!!
Thôi thì!!! Không có mới ta dùng bài cũ vậy, mong mọi người thông cảm!!! Xin chuyển đến các bạn một đoạn nói về cuộc tao ngộ giữa Lý Tứ và Trung Nguyên Cửu Tuyệt, được trích từ cuốn Tâm Pháp!!!
NHẤT THIẾT CHÚNG SANH GIAI HỮU PHẬT TÁNH
“... Riêng thiếu nữ áo hồng Thất Muội, thì vẫn đứng như trời trồng sau cú nhảy. Cái mất hồn chưa tan trên khuôn mặt... Hai hàng nước mắt “lăn dài trên má”... Ả muốn làm một điều gì đó để tỏ lòng tôn kính và thân thiện với môi trường, nhưng hai chân ả nặng như đeo chì, muốn bước tới mà không thể nhấc chân lên, muốn làm quen mà miệng mồm tê cứng, muốn nói bốn ngàn rưởi lời ngưỡng mộ mà chỉ lắp bắp ú ớ như ngậm cục xôi gà...
Trước tình cảnh như vậy, vừa thương hại vừa buồn cười. Lý Tứ sực nhớ lời bài hát: “Con gái nói có là không, con gái nói không là có... Con gái nói đứng là đi, con gái nói đi là đứng..”... Thiệt là không một ai trên đời hiểu con gái hơn mấy anh chàng nhạc sĩ...
Trung Nguyên Cửu Tuyệt, chín con người đã làm nên tên tuổi của mình trên giang hồ, hai đạo hắc bạch khi nghe đến cái tên này chẳng một ai không cung kính và ngưỡng mộ. Họ là đại diện những gì tốt đẹp nhất của khái niệm “chính nhân quân tử”.
Tên tuổi gắn liền với tác phong và đạo nghĩa. Mọi giao tiếp được đặt trong nền tảng của những hình thức “bất di bất dịch”. Nghĩa là: Nói phải “uốn lưỡi bảy lần”. Đi đứng, co duỗi... đều không thể tách rời tác phong định sẵn, được cho là chỉ có ở những con người mệnh danh “chính nhân”. Mọi cử chỉ của họ phải là biểu tượng cho cái gọi là “quân tử” khiến người khác phải tôn trọng... Lễ nghi và nghĩa khí là “hai sợi dây cột giày” dính chặt trên đôi chân giang hồ...
Họ là những anh hùng hảo hán thứ thiệt. Họ tâm niệm: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thà chết để “hậu thế ngưỡng mộ”. Chết làm sao để được khắc vào bia đá dựng nơi công cộng nhiều người qua lại. Chết làm sao vang danh mà cụ ông lẫn cụ bà, trẻ già lớn bé, đui điếc câm ngọng... đều biết. Chết như thế nào để là đề tài ít nhất khi hai người ngồi lại với nhau trở thành
câu chuyện đầu môi biểu lộ sự thông tuệ.
Chết như thế nào để tiệc tùng, ma chay, cưới gả, thôi nôi đầy tháng được luận bàn trên những cái đầu đỏ au vì rượu với hai mắt lim dim gật gù tâm đắc... Chết cho bằng hữu giang hồ đốt nén nhang kính trọng, với bài điếu văn dài thòng đầy những văn từ ai oán nhưng liệt oanh... Thà chết để rồi sống mãi trong lòng mọi người... Nhất định không sống như “mèo chó chỉ biết kiếm ăn”... Và họ đã thực hiện điều này suốt những tháng ngày giong ruổi!!!
Lý Tứ lấy làm lạ, bởi những con người như vậy, sống bằng những tư duy như vậy, được nuôi lớn bởi những nhận thức như vậy, đã học tập và hành động như vậy... thì cái gì làm cho những con người được coi là “cỗ máy đạo đức”, những con người mà khẩu hiệu “thân bất do kỷ” đặt lên hàng đầu, thậm chí nó là thứ chân lý để giữ mạng sống này tồn tại trên đầu lưỡi kiếm. Vì cái gì khiến họ đã quăng bỏ những thứ này như quăng bỏ cái bọc ny lon rách để đến với mình trong buổi sơ giao, bằng tất cả chân tình như những “đứa con xa gặp mẹ”. Cái gọi là “tác phong quân tử” để ở đâu? Cái được gọi là “hành vi hảo hớn” để ở đâu? Lý Tứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về những con người bằng xương bằng thịt trước mặt... mà họ đã một thời ngang dọc!!!
Có lẽ, cuộc đời và những danh vọng từng gặt hái đã ngầm cho họ biết rằng, cái đích thực của một con người đang thiếu vắng trong họ nghiêm trọng. Khát khao đi tìm “lẽ sống đích thực” đã âm ỉ trong lòng cả bọn. Sự tồn tại của họ bấy lâu nay được che đậy bởi những giá trị hình thức vô ích nay mới có dịp vỡ tan, như con sóng xô đẩy những thứ không tốt đẹp giữa biển khơi trôi dạt vào bờ...
Có lẽ, cái được coi là những giá trị tiêu biểu một thời mà họ trót cưu mang không làm họ thỏa mãn. Những tiêu chuẩn đo lường giá trị nhân văn nay đã lỗi thời vừa được phát hiện... Có lẽ, họ đã nhận ra rằng cây đao lưỡi kiếm nạm ngọc khắc rồng, những cái cung tay đầy nghi thức, những lời chào hỏi đổi trao mang nặng xã giao khách sáo đã theo họ suốt thời dọc ngang bây giờ trở thành chán ngắt. Họ vô vọng và cô đơn giữa những con người. Quá khứ vàng son không phải là thứ bây giờ cần gìn giữ...
Trước tình cảnh như vậy, Lý Tứ thầm nghĩ, không lẽ con đao sét của mình hay con người với hình hài ốm đói mang đầy bụi đời của Lý Tứ đã đánh thức họ...!!!
Trong phút chốc, với Trung Nguyên Cửu Tuyệt những gì được coi là “tâm tình của một con người đích thực” hiện diện. “Những tâm hồn” thật sự đã đơm hoa kết trái, khoảng cách ứng xử giữa người với người lâu nay được chắt chiu bằng thứ “trí tuệ vay mượn” đến giờ hấp hối. Phút chốc ngắn ngủi làm người hồi sinh. Họ đến với nhau thông qua cử chỉ thương yêu bằng tất cả tấm lòng hơn là môi mép. Sự thân thiện hồn nhiên sống dậy trong những con người đã một đời từng trải dưới bao nhiêu danh nghĩa rỗng tuếch. Thậm chí đánh đổi mạng sống của mình bằng những nghi kỵ, che dấu, trang sức bằng những hào nhoáng của triết lý hư ảo...
Cuộc đời của những con người được “tô hồng đánh phấn” bằng hư danh nay hình như không còn nữa. Những con người thật sự là con người có lẽ bắt đầu từ đây... Bắt đầu từ cuộc tao ngộ của những ước ao tìm lại chính mình... Có lẽ, rồi đây với những người này binh khí của họ là “đao kiếm và miệng lưỡi” trở thành cổ vật... Chỉ để trưng bày như một chứng tích ngu si...
Sáu con người sau những bất ngờ của bất ngờ, Trung Nguyên Cửu Tuyệt không còn là Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Cái ngỡ ngàng đầu tiên thoáng qua, sáu con người trở thành nhất thể vội vàng ôm chầm lấy Lý Tứ, thiếu nữ áo hồng cũng không ngoại lệ. Khẩu hiệu “thọ thọ bất thân” đã bị đánh đổ... Họ ôm Lý Tứ như chưa từng được ôm, giữ chặt Lý Tứ như sợ con người này rồi sẽ vĩnh viễn vụt khỏi tầm tay của họ... Lý Tứ cực kỳ xúc động!!!
Lý Tứ ơi là Lý Tứ! “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh” có phải đã thành hiện thực trên những hình hài này”!!!????
Kinh "Thật" Hay... Kinh "Giả"
Phật đạo là một nền văn hoá !!! Bất kì nền văn hoá nào cũng hàm chứa trong nó ba thứ cơ bản, đó là: Đạo đức, khoa học kĩ thuật và nghệ thuật !!! Vì bởi, ba thứ ấy chính là linh hồn làm nên cái mà thiên hạ gọi là văn hoá !!!

Các bạn !!!
Vừa rồi, trong trang Lý Gia, Vô Uý Đức có hỏi mình như sau: “Kính thưa Đạo sư Lý Tứ, có người nói Kinh Đại Vân, Kinh Vu Lan là Kinh giả. Theo Đạo sư thì hai bộ Kinh này là thật hay là giả ạ?” !!!
Bạn Vô Uý Đức thân mến !!!
Theo mình biết, thắc mắc của bạn, cũng chính là thắc mắc của rất nhiều người tu hành !!! Bản thân mình từ những năm qua, cũng đã được rất nhiều người đặt các câu hỏi tương tự như bạn !!!
Về việc này, mình xin có một số ý kiến như sau:
1- Đây là câu hỏi “có phần nhạy cảm”, vì nó ảnh hưởng đến số đông người tu hành !!!
Cho nên, trước khi quyết định bảo rằng các cuốn kinh đó là “thật hay giả”...Nếu là người trí, phải xem trả lời của ta tác động như thế nào đến niềm tin của quảng đại quần chúng theo Phật giáo... Và, trả lời đó có giúp người tăng trưởng thiện căn, hoàn thành việc tu học hay không !!!
Nếu, trả lời của ta “cho dù đúng với sự thật”, nhưng trả lời ấy đưa đến bất lợi, làm mất niềm tin từ người khác đối với giáo pháp...Thì thôi, cho dù “có bị cắt lưỡi” cũng không nên nói !!! Vì rằng, trả lời để giúp người phát sinh tín căn, hay trả lời để chứng tỏ hiểu biết của mình !!!??? Chưa thấm nhuần điều này, trả lời thật hay giả cũng chỉ để thoả mãn cái ngã và rơi vào hí luận (nói cho đã cái lỗ miệng, hơn là nói lời có ích) !!!
2- Theo quan điểm của mình, thật hay giả không quan trọng !!! Mà quan trọng đối với người có trí là, trong (những cuốn kinh) ấy dạy ta điều gì !!!??? Nếu trong ấy dạy ta và mọi người pháp lành, khiến tăng ích đạo tâm, mau thành tựu đạo quả thì, cho dù đó là lời của “Con Quỷ”... Con Quỷ ấy đối với mình, rất xứng đáng được tôn kính như là một đức Phật !!!
Bằng ngược lại, nếu lời dạy nào đó, được cả thiên hạ rêu rao: “Đó là lời Phật” !!! Nhưng khi ứng dụng vào thực tế, những lời ấy chẳng giúp bản thân tăng ích đạo tâm, không thành tựu đạo quả, chẳng hết phiền não, chẳng dứt tham sân, thậm chí ngu si còn nguyên..v..v... thì, chắc chắn một điều, Lý Tứ sẽ là người “bye, bye” sớm nhất !!!
3- Theo mình, giả sử có ai đó “vui miệng”, trả lời kinh này là thật, kinh kia là giả, thì người ấy cũng đâu lấy gì làm cơ sở để chứng minh (hay bằng chứng cụ thể) trên tinh thần giáo pháp (do thực chứng mà biết, chứ chẳng phải nghe người khác nói hay suy lường mà biết)...Trong trường hợp như vậy, nếu người kia có gượng gạo chứng minh (hoặc đưa ra một vài chứng cứ để vớt vát) thì, cũng chỉ dựa vào suy luận thế gian, hay phỏng đoán theo lịch sử mà thôi !!!
Mà theo mình biết, lịch sử chỉ ra rằng, trong thời kì Phật còn tại thế, lúc ấy chữ viết chưa có (hoặc có mà không được phổ biến rộng rãi)...Như vậy, tất cả kinh điển của Phật, chỉ được truyền miệng từ người này sang người kia qua một thời gian rất dài...Những bản kinh xuất hiện sớm nhất (do điều kiện xã hội thời đó cho phép biên chép lại), được mọi người nói rằng: “Đó mới đích thực là kinh Phật” thì, các bản kinh như thế cũng ra đời sau khi trải qua nhiều trăm năm, nhiều thế hệ truyền miệng !!!
Mà, những gì thông qua truyền miệng, chỉ cần đến người thứ ba, điều được nói lại, đã sai lệch so với cái gốc của nó rất xa (vì bị chi phối bởi sở học, quan điểm của người kể, cũng như hoàn cảnh xã hội) !!! Chưa nói đến chuyện, những người kể lại đã giác ngộ hay chưa !!!??? Nếu một người chưa giác ngộ, mà kể lại một đoạn kinh thuộc cảnh giới xuất thế, giống như chuyện con nai kể chuyện đi lại của con cá !!! Nhất định trong lời nói ấy có sai lệch, vì văn hoá chẳng đồng !!!
4- Đứng trước thực tế như vậy, chúng ta phải làm gì đây !!!???
Theo mình, thay vì chúng ta bỏ công sức tìm hiểu các bản kinh ấy là thật hay giả, trong khi bản thân chưa đủ sức thẩm định khi nghe người khác trả lời (rằng thật hay giả)...Và, một thực tế ta dễ nhìn ra, đó là người trả lời chưa chắc đã nắm vững vấn đề thì, tại sao ta không dành thời gian quý báu ấy vào việc tu học để thành tựu những mục tiêu cốt lõi của giáo pháp !!!???
Mục tiêu cốt lõi của giáo pháp là: GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT - TRÍ TUỆ !!! Mình tin rằng, bất kì một người tu hành nào, sau khi đạt được ba mục tiêu cốt lõi nói trên, nhất định sẽ tự trả lời cho chính bản thân “điều gì là thật, cái gì là giả” đang lẫn lộn trong giáo pháp của thời mạt pháp, mà không cần đến việc đi hỏi người khác !!!
5- Và điều này, mình cũng đã áp dụng với tất cả HĐ LÝ GIA tỏ ra vô cùng hiệu quả !!! Đó là, mình chưa bao giờ kết luận rằng “kinh nào là thật, kinh nào là giả” (mặc dù mình biết rất rõ đâu là giả, đâu mới là thật, hoặc trong đó có cả thật lẫn giả), mà mình chỉ giúp cho họ thành tựu ba mục tiêu cốt lõi nêu trên, nhờ thế mọi người đạt được những lợi ích thật sự trong việc tu học !!! Khi lợi ích thật sự đã đến, tức khắc họ nhận ra thật và giả một cách dễ dàng !!! Như một người sáng mắt đứng giữa trời xanh, hai màu đen và trắng sẽ không làm họ nhầm lẫn hay hồ nghi !!!
6- Vô Uý Đức ui !!! Giống như người trúng phải mũi tên độc !!! Công việc đầu tiên của người ấy là: “Tìm thầy chữa trị vết thương, càng sớm chừng nào càng bảo toàn tánh mạng chừng ấy” !!! Nếu người đó vì đảo điên, xử sự ngược lại: “Dốc tâm đi tìm người đã bắn, giòng họ như thế nào, trú ngụ nơi đâu, mũi tên làm bằng gì, thuốc độc từ đâu ra, thuốc ấy là thật hay giả...v..v...” !!! Xin thưa, người ấy sẽ “bỏ mạng” trước khi được nghe những câu trả lời (vì tò mò hơn là...cứu...mạng...) !!!
7- Tóm lại, Phật đạo là một nền văn hoá !!! Bất kì nền văn hoá nào cũng hàm chứa trong nó ba thứ cơ bản, đó là: Đạo đức, khoa học kĩ thuật và nghệ thuật !!! Vì bởi, ba thứ ấy chính là linh hồn làm nên cái mà thiên hạ gọi là văn hoá !!!
Đối với văn hoá Phật đạo, hỏi đáp là một nghệ thuật, mà đã là nghệ thuật thì, luôn luôn mang trong nó những nét đẹp và tính ưu việt của ba thứ cơ bản nêu trên !!! Nét đẹp và tính ưu việt của nghệ thuật hỏi đáp trong Phật đạo chính là những câu trả lời phát xuất từ tứ vô lượng tâm, tứ vô lượng tâm là một trong những thứ làm nên đạo đức Phật giáo... Vì thế, mọi câu trả lời của Phật đạo đều bắt nguồn từ thứ đạo đức ấy, chứ không phải dùng thứ kiến thức xuất phát từ sở học thế gian để bàn luận đúng sai, thật giả !!!
Tứ vô lượng tâm là biểu hiện toàn bích của nghệ thuật hỏi đáp của Phật đạo, vì trong đó có đủ tinh thần của một nền giáo dục tiên tiến !!! Do vậy, hỏi và đáp trong văn hoá Phật giáo, không phải loại hỏi đáp “yes, no” của thế gian...Hay là một diễn đàn để diễn giả phô bày sở học trước quần chúng...Mà nó là sự thể hiện nhịp nhàng các cung bậc cảm xúc giữa người hỏi và kẻ trả lời, trên cơ sở những gì được hỏi có khuynh hướng phổ truyền hay biệt giáo...kèm theo đó là các điều kiện cần và đủ như: Căn, cơ, thời, dụng...v..v... !!! Cho nên, đây là lí dó vì sao, Phật thường hay ngợi khen những người “khéo hỏi và khéo đáp” !!!
Để có thể tìm hiểu về nghệ thuật hỏi đáp trong Phật đạo... Các câu hỏi về mười phạm trù siêu hình của Malunkyaputta được ghi chép lại từ kinh Cula-Malunkya-sutta...Sau khi Malunkyaputta đưa ra mười câu hỏi, thay vì trả lời, Phật đã im lặng (từ chối trả lời)...Và cuối cùng, bản kinh trên đã ghi lại như sau: “Sự hiểu biết những thứ ấy không giúp cho việc thăng tiến trên bước đường tu tập, vì nó chẳng lợi ích gì cho sự an bình và giác ngộ. Những gì lợi ích cho sự an bình và giác ngộ mà Đức Phật thuyết giảng cho các đệ tử của Ngài là những điều sau đây: Sự thật về khổ đau, nguồn gốc của khổ đau, sự loại bỏ khổ đau, con đường đưa đến sự loại bỏ khổ đau”. (Trích kinh Cula-Malunkya-sutta) !!!
Hoặc trường hợp Vacchagotta đã hỏi Phật về “Trú xứ đi về của một A La Hán” !!! Phát xuất từ nghệ thuật hỏi đáp siêu việt của Phật, mà sau đó, chính Vacchagotta đã thốt lên: “Thật vi diệu thay! Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì đã bị quẳng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong tối để những ai có mắt có thể thấy sắc, cũng vậy, chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, Quy y Pháp, Quy y Tăng. Mong Tôn giả nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung con nguyện trọn đời quy ngưỡng.” !!!
Lời dạy của Phật sau đây, nói lên nghệ thuật hỏi đáp của Phật đạo là như thế nào: “Này Kosi, ta điều phục những người đáng điều phục, khi thì ôn hoà, khi thì cứng rắn, khi thì vừa ôn hoà vừa cứng rắn”
Ta thấy, để trả lời những câu hỏi khác nhau từ những đối tượng khác nhau, Phật đã sử dụng những cách thức riêng cho từng đối tượng... Có trường hợp Đức Phật trả lời trực tiếp, có trường hợp dùng biện pháp phân tích để người nghe thấm nhuần, có trường hợp giải quyết bằng cách hỏi lại, có trường hợp Phật dùng ví dụ, và cũng có những vấn đề Đức Phật im lặng (từ chối trả lời) !!!
8- Và cuối cùng, mình cũng xin được “không trả lời” rằng kinh nào thật, kinh nào giả !!! Bởi điều này, không giúp người thành tựu những mục tiêu cốt lõi của Phật đạo !!!
Cảm ơn Vô Uý Đức đã có câu hỏi thật hay, giúp Lý Tứ nhận ra, đây là một trong những đương cơ tốt để có cơ hội thực hiện bài viết hôm nay !!!
Chúc Vô Uý Đức an vui, tinh tấn !!!
30/10/2019
LÝ TỨ



Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/thuc-pham-sach
Trân trọng,
Thực Phẩm Sạch
(36) CHUYÊN MỤC CHUYỆN BÊN LỀ
THỰC PHẨM SẠCH
(Trích Anh Lạc Luận - Lý Tứ)
Các bạn!!!
Sáng nay, mình có trao đổi với một vài HĐ về việc: Vì sao các bài viết của HĐ, khi gởi đến mình, mình phải chỉnh sửa đôi chút, mà không để nguyên như vậy chuyển cho mọi người. Mình tâm sự như thế này:
1) Phần lớn, mình chỉ sửa lỗi chính tả nếu bắt gặp... Vì thế không phải email nào cũng sửa.
2) Nếu bài viết: Văn tự sai, mà ý nghĩa đúng, thì mình sắp xếp lại câu văn để người đọc dễ hiểu.
3) Nếu ý nghĩa sai, mình sửa lại ý nghĩa. Vì rằng mọi kiến giải khi chuyển đến HĐ, phải bảo đảm một điều là: Khi đọc email, là lúc HĐ được tiếp nhận ý nghĩa đúng nhất, không thể gởi ý nghĩa sai đến mọi người... Nó giống như thực phẩm đến tay người tiêu dùng, phải là thứ thực phẩm an toàn cho sức khoẻ, đã qua kiểm định chất lượng.
4) Trong email, HĐ thường viết: "Có gì sai sót, xin Thầy sửa chữa"... Và mình đã làm đúng yêu cầu này!!!
5) Khi sửa, người viết sẽ nhận ra chỗ chưa đúng của mình, để tự điều chỉnh tri kiến. Nếu không sửa, thì làm sao biết họ biết chỗ sai mà sửa.
6) Có HĐ đặt câu hỏi: "Nếu bài viết đã bị đã sửa, thì biết ai viết mà tán thán??? Mình xin nói rõ: Chúng ta tán thán là tán thán ý nghĩa tốt mà chúng ta đã học được, chứ chẳng phải tán thán cá nhân, hay tán thán cái tên được ghi phía dưới.
Cho nên chúng ta phải hiểu, tác giả là ai không quan trọng, điều quan trọng ở đây là ta học được gì ở những điều đã đọc. Chưa vượt qua cái ải "danh tướng" này, thì còn lâu mới có thể thâm nhập Tâm Tông... Vì bởi Tâm Tông không dành cho những tâm địa còn kẹt mắc nơi danh tướng!!!
7) Nói chung, nhiệm vụ của mình là: Gởi đến HĐ những kiến giải được cho là tốt nhất... Vì thế, sửa chữa rồi mới gởi đi là điều nhất định phải làm, mình không thể "cẩu thả" chuyển đến mọi người khi biết rằng: Thức ăn này có vấn đề!!!
Xin mọi người hoan hỷ!!!
(20-01-2015)

