Khái Niệm Căn Và Ý Căn

Như thế nào được gọi là “Căn”, là “Ý”? Và cái “Ý căn” này nó có hại gì hay không?
1. Căn: Một người có sáu căn (lục căn) hay còn gọi là sáu giác quan. Sáu căn gồm: Nhãn căn (con mắt), nhĩ căn (lỗ tai), tỷ căn (lỗ mũi), thiệt căn (cái lưỡi), thân căn (cái thân), và một căn bên trong, đó là ý căn (cái ý)... Sáu căn hay sáu giác quan, là công cụ chính yếu để con người dùng nó mà giao tiếp với thế giới bên ngoài (năm căn trên thân), hoặc giao tiếp với thế giới nội tâm (ý căn)! ... ֎Sáu căn này tự nó thanh tịnh, không có nhận thức thiện ác, tốt xấu, v.v… gọi là “không tánh”!
2. Ý: Là một căn trong sáu căn... Chức năng của ý là nghĩ suy... Nghĩ suy chân chánh, theo đúng Chánh Pháp gọi là Chánh Tư Duy... Nghĩ suy tà vạy, không dựa vào cơ sở của Chánh Pháp gọi là Tà Tư Duy...
3. Ý căn: Như phần sáu căn đã nói ở trên, mỗi căn có một chức năng riêng biệt. Tự mỗi căn chỉ là công cụ giao tiếp với thế giới bên ngoài hay thế giới nội tâm... Ý căn cũng chỉ là một công cụ như thế... Tự thể các căn này không có chức năng gây hại... Giống như con dao, cái búa, cây viết, ống dòm, tai nghe điện thoại… Các món này không tánh, tức không có tánh thiện, không có tánh ác, không thể tự gây hại, v.v…
Hại hay lợi, đúng hay sai, thiện hay ác... là do người sử dụng các căn (công cụ) này vào mục đích như thế nào... Nếu sử dụng nó vào mục đích thiện thì nó là thiện công cụ, ngược lại sử dụng vào mục đích ác thì nó biến thành ác công cụ...
(04-2010)
Khái Niệm Luân Hồi

Hữu tình, chỉ vì một niệm mê, bất giác, vọng khởi các "quan niệm”, rồi tự buộc ràng mình bởi những quan niệm đó. Vì thế mới sanh “phiền não khổ vui”... Thử hỏi, khi con người chưa có nhận thức đúng, sai, phải, quấy, nhận thức này từ đâu sanh?
●Bình tâm, suy nghĩ thiệt kỹ, mới thấy rằng: Những nhận thức như vậy trước đây chưa từng có, chưa từng sanh ra. Nay do mê một sự vật, mê một sự việc, mê chính mình, nên sanh khởi các quan niệm...
−Sanh quan niệm rồi chấp chặt quan niệm. Từ đó mới có khổ vui...
−Con người không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của khổ vui, nên gọi là Luân Hồi...
●Luân hồi chính là cái vòng luẩn quẩn của những nghĩ suy và các quan niệm hết sanh rồi diệt, diệt rồi lại sanh. Cứ như thế, dắt con người đi từ trạng thái tâm này đến trạng thái tâm khác, gọi là lên xuống sáu đường.
●Nghĩ suy và quan niệm không thật, chỉ do Mê sanh, nó thuộc về hư vọng. Biết rõ tính chất như vậy, người trí bèn từ bỏ quan niệm, không nô lệ cho những quan niệm... Tâm trí rỗng rang, tự thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của nghĩ suy, gọi là ra khỏi luân hồi, gọi là ra khỏi sanh diệt, gọi là vô sanh...
●Thực hiện một đời sống không dựa trên những quan niệm để “trói buộc mình” và “trói buộc người”, gọi là Giải Thoát! ... Giải thoát chính là, cởi bỏ sợi dây vô hình quan niệm đã trói buộc mình và người ngay trong hiện tại này. Vì thế Phật dạy: “Chư hành vô thường; Thị sanh diệt pháp; Sanh diệt diệt dĩ; Tịch diệt vi lạc”
Có nghĩa: Các quan niệm, nghĩ suy bản chất của nó là vô thường, hết sanh rồi diệt, đoạn dứt các quan niệm, ngay đó là Niết Bàn... (12-2011)
Khái Niệm Chúng Sanh

Phật dạy: “Hy vọng là tâm chúng sanh”. (Chúng: gom nhóm các hy vọng không thật; Sanh: sanh khởi vọng tâm)! ... “Chúng sanh” có thể hiểu là các hữu tình gom nhóm những hy vọng không thật để sanh khởi vọng tưởng nơi tâm.
Muốn không trở thành chúng sanh, người trí nên biết làm gì trong tinh thần của khái niệm này…
●Khái niệm Chúng sanh[1] trong Phật pháp, là từ gọi chung cho các sinh vật hữu tình (có tri có giác) của thế gian và xuất thế gian.
Tuy nhiên, phần lớn người ta thường phân biệt và xem hạng phàm phu là chúng sanh, còn các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán, v.v... thì không phải là chúng sanh.
●Nghĩa thường dùng: Chỉ chung cho các loài trong Ba cõi, Sáu đường. Thọ nghiệp sanh tử liên miên trong vòng luân hồi... “Chúng sanh” sanh ra bằng bốn cách: Thai sanh (sanh từ bào thai), noãn sanh (sanh ra từ trứng), thấp sanh (sanh từ chỗ ẩm ướt), hóa sanh (sanh ra do sự biến hóa). (02-2010)
[[1]] Chúng Sanh: (S: sattva, P: satta, 眾生; Hán dịch âm là Tát đỏa, dịch nghĩa là Chúng sanh, hay hữu tình, hữu thức, hàm sanh...)
Khái Niệm Đế

Đế (nghĩa 1): Là sự hiểu biết thấu đáo về căn nguyên sinh khổ hoặc vui.
a) Phàm phu không biết “Đế” tức không biết rõ căn nguyên sinh khổ. Chỉ biết có khổ mà không biết căn nguyên sinh khổ, nên Phật nói: “Phàm phu có khổ không đế”. Phàm phu có tập tức là có căn nguyên sinh khổ mà không biết căn nguyên này từ đâu, nên Phật nói: “Phàm phu có tập không có đế”.
b) Bồ tát hiểu khổ, tức hiểu phàm phu có khổ, tự mình không thấy khổ, biết chúng sanh có tập nhân sinh khổ (khổ này không tự có, chỉ do huân tập mà có). Do biết tập nhân này trước không, nay mới có nên Bồ Tát thanh tịnh các đế. Phật dạy: “Bồ tát hiểu khổ… hiểu tập, không có tập mà có chơn đế (đế thanh tịnh)”.
c) Do Bồ Tát thanh tịnh các đế (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) nên bốn món trở thành đạo quả và đạo quả này y cứ (dựa) trên đế mà có nên Phật nói: “Bồ Tát có đạo, có chơn đế ”.
Đế (nghĩa 2): Là cái mà cái khác nương cậy để tồn tại. Tất cả chúng sanh đều có “đế”, nhưng không giác ngộ nên không biết cái gì là “đế”. Vì không biết cái gì là đế nên gọi là phàm phu.
Biệt ly chỉ khổ khi nào có mối liên hệ với chủ thể sinh khổ, chủ thể này là “ái”. Nếu biệt ly mà không có ái thì không khổ… (06-2010)
Văn Tư Tu

Vừa rồi, có một vị khách quý đã đặt một số câu hỏi chung quanh cuốn Vô Đối Môn! ... Xin chuyển đến các bạn, nội dung câu hỏi thú vị và thực tế này:
KHÁCH: “Văn - Tư - Tu” là điều kiện cần và đủ để nuôi dưỡng con đường của một người tu hành. Không một bậc Thầy cao siêu nào có thể dạy được học trò nếu học trò không chịu trải qua con đường rèn luyện trên. Xin cư sĩ cho hỏi, Văn - Tư - Tu trong giáo lý ông dạy học trò có khác Phật tử tu học từ các tăng ni trên chùa không?
LÝ TỨ: Bản thân là một Phật tử, thấm nhuần lời dạy của Phật: “Kính Tăng như kính Phật”, do đó việc làm, việc dạy, và học của Tăng, Ni, Phật tử như thế nào, mình không can dự và cũng không có ý kiến (khi chưa nhận được yêu cầu từ các vị tôn túc)! ... Vả chăng, việc so bì, phê phán chuyện đúng, sai, hay, dở, v.v... của người, không phải là tác phong của Lý Tứ!
Vì thế, xin mạn phép trả lời những gì có liên hệ đến mình và bạn bè cùng tu học với nhau!... Theo mình:
−Văn: Tiếp nhận kiến thức.
−Tư: Suy nghĩ thấu đáo kiến thức đã tiếp nhận.
−Tu: Ứng dụng triệt để những nghĩa lí đã thấu đáo vào thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ: Phật dạy: “Tham là giềng mối của khổ, phiền não”. Nghe được lời dạy này gọi là Văn. Nghe xong, suy nghĩ thấu đáo ý nghĩa: Vì sao tham là giềng mối của khổ phiền não, vì sao tham lại hiện hữu trong ta, hiện hữu bằng cách gì, làm sao để nó tịch diệt vĩnh viễn, v.v... Suy nghĩ như thế gọi là Tư (tức tư duy quan sát, thuật ngữ hay dùng là Thiền tư). Suy nghĩ thấu đáo rồi, ứng dụng triệt để hiểu biết này vào đời sống, đến khi nào tham không còn hiện khởi trong ta gọi là Tu!
Chữ “tu” theo mình, là hình thức dùng chính giác ngộ của tự thân để biến “hữu lậu tâm, hữu lậu trí” thành “vô lậu tâm, vô lậu trí” ngay trong cuộc sống này!
KHÁCH: Xin cảm ơn cư sĩ!
LÝ TỨ: Xin cảm ơn câu hỏi của quý khách, chúc quý khách an vui, thành công trong cuộc sống!
Làm Thế Nào Để Tu Tập Thành Công

Các bạn! ... Làm thế nào để tu tập thành công, hay nói khác hơn là, làm thế nào để có thể thành tựu các mục tiêu của Phật đạo đề ra, là câu hỏi mà không ít người tu hành đã từng nghĩ đến! Và thực tế, câu hỏi này ít ra cho đến hiện tại, không mấy người có câu trả lời thoả đáng! ... Vì rằng, nếu đã có được câu trả lời thoả đáng thì, giờ này đa số người tu hành đã thành công trong tu tập rồi!
Thành công đó là, bản thân đã đạt được một số mục tiêu nhất định từ quá trình dạy và học của Phật đạo! Nhưng thực tế, nếu bình tĩnh, khách quan, công tâm quan sát bản thân và những người tu hành chung quanh, sẽ không khó nhận ra bản thân và những người tu hành mà ta có cơ duyên tiếp xúc, đàm luận, v.v... không thể hiện thành quả mang lại từ đạo pháp một cách cụ thể!
Vì sao nó lại như vậy?
Theo kinh nghiệm bản thân, sở dĩ đa số người tu hành không đạt được tất cả hay một số mục tiêu nhất định nào đó của đạo pháp đề ra là do một số nguyên nhân cơ bản sau:
1. Không tìm hiểu mục tiêu của Phật đạo là gì!
Mọi người đều biết, Phật đạo là một nền giáo dục… Mà đã là giáo dục thì, nhất định nền giáo dục đó phải đặt ra các mục tiêu của mình và chỉ giải quyết những gì trong mục tiêu đã dặt ra mà thôi! ... Đằng này, số đông người tu hành rất mơ hồ về các mục tiêu của Phật đạo! Từ đó họ đến với Phật đạo để tìm cầu những điều mà Phật đạo không thể giải quyết được… Điều này dẫn đến hệ quả là, công sức bỏ ra rất nhiều nhưng kết quả chẳng như mong muốn!
Việc này giống như người bệnh mong ước được chữa lành bệnh và sau đó học cách chữa bệnh cho người… Vì duyên cớ nào đó, họ lại học phải phương pháp làm đẹp hoặc học cánh mở tiệm làm đẹp! Sau khi học xong, đã không giải quyết bệnh tình của bản thân, cũng chẳng giải quyết bệnh tình của người! Sự thể này, không hiếm gặp đối với đa số người tu hành đã vấp phải và đang chia sẻ cho nhau!
Vì thế, trước khi quyết định dấn thân tu hành, muốn đạt được kết quả tốt! ... Đầu tiên, ta phải xem ước nguyện của ta là gì? ... Phật đạo có giải quyết thoả đáng các ước nguyện đó hay không? ... Nếu hai câu hỏi trên, chưa được giải quyết thì hãy khoan, đừng vội dấn thân!
2. Đặt mục tiêu hư ảo!
Thông thường, người tu hành trong quá trình dấn thân, vì không hiểu biết hết giáo tình tu tập của Phật đạo ra sao? Giáo trình đó giúp ta thành tựu điều gì trong cuộc sống này! Chính vì thiếu những thông tin cần thiết nêu trên nên, người tu hành thường đặt ra các mục tiêu hư ảo như:
−Người dạy ta đạo pháp phải là mẫu người như ta tưởng tượng dựa theo những gì ta học được từ cổ tích, thần thoại, hư cấu, văn hoá dân gian lưu truyền, v.v...!
−Trong quá trình dấn thân tu tập, ta phải đạt được những thành quả mang đậm màu sắc huyền bí, thần thông, phản khoa học, v.v... mà những điều ấy, thực tế không một nền giáo dục nào trên đời có thể làm được…!
−Chạy theo triết lí, hành động mơ hồ… Điều này dẫn đến việc người nói lẫn người nghe không biết mình đang nói gì, nghe gì cùng hành động như vậy để đạt được điều gì… Cơ sở nào minh chứng cho triết lí, hành động đó sẽ đưa ta đến thành công một cách hợp lí, có tính thuyết phục cao!
Nếu người tu hành, không sáng suốt, không bình tâm, không tìm hiểu cặn kẽ con đường mình sắp dấn thân, chỉ nghe người khác nói, chạy theo văn hoá đám đông, v.v... rồi đặt ra các mục tiêu hư ảo và cầu mong tu hành để đạt được các mục tiêu hư ảo đó, nhất định không thể thành công trong việc học tập Phật pháp!
3. Kiến thức phải chuẩn!
Bất kì nền giáo dục nào cũng có những triết lí, quan điểm riêng của mình… Để mô tả triết lí quan điểm của mình, nền giáo dục đó luôn đặt ra những khái niệm, những thuật ngữ có tính chuyên biệt… Và, khái niệm, thuật ngữ chuyên biệt này luôn hàm chứa thứ văn hoá đặc trưng của họ… Vì thế, các khái niệm, thuật ngữ đó phải được giải thích đúng ý nghĩa của nền giáo dục, văn hoá đó! ... Mọi sự hiểu sai, diễn giải sai hoặc diễn giải theo ý nghĩa của nền giáo dục, văn hoá khác… sẽ không cho ra kết quả đúng đắn trong học tập!
֎Điều này, chúng ta rất dễ dàng bắt gặp đối với phần lớn người tu hành trong Phật đạo! ... Phật đạo là đạo xuất thế, văn hoá của Phật đạo là văn hoá vô lậu…! ... Nhưng hầu hết người tu hành lại dùng hiểu biết thế gian, lấy văn hoá hữu lậu để cắt nghĩa các khái niệm, thuật ngữ vô lậu, xuất thế…
Điều này giống như con nai lấy hiểu biết, đời sống, văn hoá sơn lâm để hiểu về đời sống, văn hoá thuỷ tộc của loài cá…! ... Những giải thích theo cách thế gian như vậy, nhất định chính nó và những con nai khác sẽ chẳng bao giờ cảm nhận hoặc sống đúng những gì loài cá đã cảm nhận và đang sống!
Muốn không rơi vào tình cảnh này, người tu hành trong Phật đạo phải nắm vững các khái niệm, các thuật ngữ của Phật đạo một cách đúng đắn nhất! Mọi sự hiểu sai sẽ dẫn đến thực hành sai và kết quả sai là điều không thể tránh khỏi! Ta có thể hiểu việc này như sau:
Giống như người Việt đọc tiếng Anh bằng ý nghĩa tiếng Việt, rồi giải thích ý nghĩa ngữ âm người Anh bằng ý nghĩa ngữ âm của người Việt… Ví dụ như câu: “I go to…”, đọc là “ai go tu” và khẳng định câu đó có ý nghĩa “ai đi tu” thì… thì…! ... Hỏng…! ... Cho nên, việc hiểu đúng ý nghĩa các khái niệm, thuật ngữ của Phật đạo là một trong những điều kiện cần thiết giúp việc học tập và tu hành thành công là điều không thể thiếu đối với bất kì một người nào khi đã dấn thân trên con đường đạo!
3. Xây dựng thái độ tu hành!
Một số người, tuy có tìm hiểu và biết được mục tiêu của Phật đạo là gì, mục tiêu đó đưa ta đến đâu trong cuộc sống này! Nhưng do thói quen cũng như cách sống… Không tự xây dựng cho bản thân một thái độ tu hành đúng mực, rất khó đạt được thành quả trong học tập! ... Giống như đứa trẻ cắp sách đến trường nhưng trong đầu nghĩ đến phòng game, chỉ muốn mau hết giờ để được chơi game! Về nhà, ngồi trước đống sách vở với mục đích ôn bài nhưng trong lòng trông mong đứa bạn hàng xóm đến rủ đi chơi, và sẵn sàng xếp sách vở để theo bạn bè!
Thực tế này khá phổ biến đối với người tu hành! ... Đã dấn thân tu hành trong Phật đạo nhưng thích chuyện thị phi, thích tìm hiểu suy nghĩ các thứ triết lí không liên hệ đến mục tiêu mình đang hướng đến, ham ưa phóng dật, v.v... Những người học không ra học, chơi không ra chơi! ... Không xây dựng thái độ tu hành đúng mực, lười đọc tụng, lười tư duy, ngại khó, không muốn thay đổi, v.v... Rất khó thành công trong học tập và tu hành!
4. Tóm lại, ba điều đã nêu trong bài viết gồm:
−Không tìm hiểu mục tiêu của Phật đạo là gì!
−Đặt mục tiêu hư ảo!
−Xây dựng thái độ tu hành!
Tuy chỉ là ba điều đơn giản, thậm chí ít khi ta lưu tâm… Nhưng nó chính là hòn đá lớn làm cản ngại con đường mà ta đang đi! Nếu giải quyết được “hòn đã tảng” chặn đường này, hành trình phía trước nhất định sẽ dễ dàng hơn!
Các bạn! ... Tất cả các nền giáo dục đều có chuẩn mực riêng! Phật đạo là một nền giáo dục nên cũng không ngoại lệ! ... Tất nhiên, để đạt được thành quả nào đó trong học tập, người học bắt buộc phải tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đã đề ra!
Và, Phật đạo là nền giáo dục tâm cơ, là hệ thống triết lí giúp người thay đổi nhận thức… Vì thế, mọi hiểu biết về Phật đạo phải đúng ý nghĩa đặc trưng của Phật đạo, nếu hiểu sai sẽ thực hành sai và cho ra kết quả sai!
Bài viết chỉ khái quát một số điều bất cập mà phần lớn người tu hành thường hay mắc phải, công sức bỏ ra nhiều, nhưng kết quả lại chẳng như mong muốn!
Rất mong những gì đã nêu, có thể giúp người đọc nhìn lại bản thân, khắc phục những bất cập trong việc học tập, định hướng, thực hành… để có thể gặt hái thành quả tu tập như ý! ...
Chúc mọi người đều có cơ hội học đúng, hiểu đúng, thực hành đúng và đạt được thành quả đúng! ...
Chúc các bạn an vui, tinh tấn!
Về Cái Cớ Sự Đáng Sợ Của Tâm

Các bạn! ... Tất nhiên khi bàn đến cái đáng sợ của tâm, là bàn đến cái phàm tâm, hư vọng tâm, chúng sinh tâm, v.v... Vì rằng, đây là thứ tâm mà người nào chưa một lần biết sợ nó thì, chẳng bao giờ có cơ hội để xa lánh, làm cho nó mất đi!
Đặc điểm của hư vọng tâm là: Sáng ghét chiều thương, sáng thiện chiều ác, sáng thân chiều thù, sáng bạn chiều địch, sáng tham chiều thí, sáng sân chiều hoà, sáng mê chiều tỉnh, v.v... Nói chung, cái tâm nào sáng nắng chiều mưa, chợt vui chợt buồn... cái tâm ấy đích thị là hư vọng tâm! Vì thế Phật dạy: “Quán tâm vô thường”!
Hư vọng tâm chẳng khác biển lớn, tham vọng và nhu cầu bất tận! Khi một nhu cầu khởi lên, tâm liền trở thành ngã và ngã trực tiếp chỉ đạo ý thức bày ra trăm phương ngàn kế, bất kể mưu mô ấy là gì, chỉ cốt làm sao thoả mãn nhu cầu của mình! Đây là lí do vì sao, tâm sanh, ngã thủ sanh và pháp sanh!
Ví dụ: Khi tâm thương một thứ gì hoặc một ai đó, tâm liền trở thành ngã thủ... Và ngã chỉ đạo cho ý thức bằng trăm phương nghìn cách, kể cả bày ra cạm bẫy, thủ đoạn nhằm chiếm hữu cho bằng được cái mình thương! Khi tâm thương quay lưng, trở thành chán ghét... Tâm lại trở thành ngã thủ rồi bắt ý thức bày ra trăm phương nghìn kế tận diệt cái mình chẳng ưa cho hả dạ! Nói chung, hư vọng tâm đáng sợ đến như vậy!
Đây là lí do vì sao Phật dạy: “Chỉ có tâm ý của một A la hán mới đáng tin cậy...”! Lời dạy này hàm ý, tâm ý của một người chưa giác ngộ Diệt đế chẳng thể tin cậy! ... Và trong một bài viết nào đó, mình cũng đã từng nói: “Trên đời, mình không thấy có người xấu kẻ tốt, mà chỉ nhìn xem người ấy đã giác ngộ hay chưa...!”
Câu này có nghĩa rằng, xấu tốt của người đời không thật, nay tốt mai xấu, tốt xấu vô thường, không thể y cứ vào đó mà đánh giá... Chỉ khi nào người ấy giác ngộ, trong lòng xa rời tốt xấu, ghét thương, thiện ác... bây giờ mới biết họ thật sự là như thế nào!
Các bạn! ... Tâm như thị trường, ngã thủ như giặc cướp, ý thức như nhà máy không chủ! Một khi thị trường có nhu cầu, giặc cướp không chừa một thủ đoạn tàn ác nào, nhà máy không chủ bị ngã chiếm giữ và ra lệnh sản xuất vô số sản phẩm đau thương!
Tu hành trong Phật đạo là làm cho hư vọng tâm tịch diệt, làm cho hư vọng ngã không còn, làm cho hư vọng pháp không sanh! Để đạt được điều này: Các bạn hãy một lần ngồi xuống kiểm điểm xem hư vọng tâm của ta có còn hiện hữu hay không! ... Ngồi xuống để kiểm điểm cái tâm vô thường xưa nay đã gây ra bao đau thương cho mình cho người! ... Hãy tĩnh tâm và phải biết ghê sợ cái tâm hư vọng đang ngự trị trong ta, rồi tìm cách tịch diệt nó như pháp!
֎Các bạn! ... Chỉ khi nào hư vọng tâm tịch diệt! ... Chỉ khi nào tâm thức ta không còn sáng ghét chiều thương! ... Chỉ khi nào nhận ra “ta không là cái đinh gì trong cuộc đời này”! ... Chỉ khi nào nhận ra cuộc đời chỉ là một giấc mơ dài hư vọng, cho dù có ghét hay thương rồi cũng đến lúc tàn cuộc, ta chẳng được gì!
֎Phải biết rằng: Đến khi nào, ta chưa tịch diệt cái tâm hư dối sáng nắng chiều mưa, sáng thương chiều ghét, sáng bạn chiều thù... thì, con đường đưa mình và người đến an vui đích thực hãy còn...xa...lắm!
(25/03/2021)
Về Cái Cớ Sự Đáng Sợ Của Các Pháp

Các bạn! ... Chữ pháp trong Phật đạo mang rất nhiều ý nghĩa! Một trong những ý nghĩa quan trọng nếu người tu hành thấu đáo, sẽ dập tắt tất cả khổ, phiền não, lậu hoặc, kiết sử...! Đó là chữ pháp thuộc đối tượng của ý căn, được sản sanh bởi ý thức!
Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn quán sát hết thảy sơn hà, đại địa, sông ngòi, biển cả, núi non, tinh tú, nhật nguyệt, hữu tình, vô tình, v.v... không một pháp có được”! ... Lời dạy này có nghĩa rằng, bản chất của thân, tâm, thế giới, v.v... không phải là pháp, và vĩnh viễn không thể là một pháp!
Thế nhưng, trong cuộc sống, con người từ lúc sanh ra cho đến chết đi... được học tập và trưởng thành trong cái nôi các pháp, chưa bao giờ họ một lần tự thoát ra khỏi cái nôi ấy! Vì thế, ta có thể tạm hiểu: “Cái được gọi là đời sống của một hữu tình, chính là sự tiếp nối triền miên của các pháp”!
Các pháp được lặp đi lặp lại trong tâm thức của hữu tình, và mặc nhiên biến hữu tình với pháp trở thành nhất thể! Chính điều này, pháp trở thành sợi dây vô hình cột buộc và dẫn dắt hữu tình suốt đời rong ruổi, quay cuồng trong các pháp mà không tự biết! Phật mô tả sự việc này: “Như con chó bị sợi dây cột vào cái cọc... Con chó ăn, uống, thức, ngủ, đại tiện, tiểu tiện, v.v... không thoát khỏi sợi dây và cây cọc”! ... Từ sự cột trói vô hình này, cho dù hữu tình đó có nghe nói bản chất các pháp, đã được giáo dục để thấy được sự cột trói của các pháp là như thế nào... Nhưng, thực tế cuộc sống cho thấy, hữu tình vẫn rất khó rốt ráo thoát ra khỏi sự cương toả của các pháp! Chính việc khó rốt ráo thoát ra khỏi vòng kiềm toả của các pháp nên, trong đời sống, khi một sự việc nào đó đi ngược lại các pháp... ưu bi, khổ não nhất định sẽ hiện khởi!
Tu tập trong Phật đạo chính là công việc nhận ra bản chất của các pháp! Chỉ đến khi nào người tu hành trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức thật sự nhận ra bản chất của các pháp, và người này thật sự nhận ra giá trị của không pháp...Bây giờ, hữu tình đó mới hết làm nô lệ cho các pháp, mới có thể tự thoát ra khỏi cái vòng luân hồi, luẩn quẩn của các pháp! Từ đó, khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc... mới có cơ may chấm dứt vĩnh viễn!
Các bạn! ... Hãy một lần ngồi xuống! Hãy quán sát thật kĩ các pháp! Hãy truy vết và tìm cho ra F0 của các pháp là gì! Con đường lây lan của nó như thế nào!? Pháp xuất phát từ đâu và đi đến những nơi đâu!?
Nếu các bạn chưa tìm được F0 của các pháp, và chưa có các biện pháp quyết liệt như cách li, điều trị tận gốc! Nhất định, có ngày các pháp sẽ nhấn chìm các bạn! (24/03/2021)
Năng Lễ Sở Lễ Tánh Không Tịnh

Lục Đệ lại nói: Lão Sư ơi!... Bao nhiêu công phu trì kinh quán nghĩa của đệ tử xưa nay, nay đã đến hồi đúc kết, như lấy quặng nấu vàng... Nếu chẳng nghe được những lời vàng ngọc của Lão Sư, không biết ngày nào đồ đệ mới bước ra ngoài ánh sáng. Lão Sư mới thiệt là người chèo đò đưa người ra sáng. Một khi chưa ra ngoài sáng cứ ở trong tối nói chuyện ban ngày, chẳng khác nào người mù luận bàn màu sắc. Nói càng nhiều chỉ thêm hý luận... Con hiểu, muốn nói chuyện sáng, phải bước ra nơi có sáng. Không thể ở mãi trong tối mà nghiền ngẫm luận bàn ánh sáng ra sao... Cho dù có bàn hết một đời cũng chỉ là người ở nơi bóng tối... Đạo cốt ở việc dắt người ra sáng rồi họ tự thấy chớ chẳng phải bàn chuyện ngày đêm... Văn tự ngữ ngôn của Lão Sư không có con mắt, không có ngón tay, nhưng lại chỉ được con đường...
Xin Lão Sư nhận con làm đồ đệ... Nói đến đây hắn lại quỳ gối lạy dài Lý Tứ... Mọi người còn lại cũng đồng làm theo...
Lý Tứ nhìn mọi người thành tâm, trong lòng cũng muốn thuận ý, nhưng nghĩ đến “cái ràng buộc” mà đâm ra ngán ngẫm... Lý Tứ lại nghĩ, ta vốn không coi nặng lễ nghi hình thức, mọi thứ cốt ở tâm. Những người này sống trong giang hồ đã lâu, lấy nghi lễ làm trọng, nay đã quen rồi thiệt là phiền phức... Tuy vậy, những lễ nghi này cũng phần nào nói được cái tâm của họ... Họ một lòng chí thành cầu đạo trí tuệ nên mới chịu hạ mình một lễ lạy hai lễ lạy như vậy. Tâm thành của những người này rất xứng đáng được hưởng cái thâm thúy của đạo. Nghĩ đến đây Lý Tứ lên tiếng:
Thưa các vị!... Tấm lòng của các vị thiệt làm cho Lý Tứ tôi cảm động. Với tâm thành như vậy, không điều gì chẳng thành tựu... Nhưng thưa các vị, Lý Tứ tôi thường tâm niệm, đạo như miếng bánh ngon, dùng giúp người đỡ đói...
Đối với Lý Tứ, nếu người nào lạy mình mà giác ngộ thì Lý Tứ để cho lạy. Nếu người nào đánh mình, chửi mình mà giác ngộ thì Lý Tứ cũng hoan hỷ cho người đánh chửi. Đánh chửi hay lạy lục tôi chẳng thấy sai khác. Cái quan trọng đánh chửi hay lạy lục xong người đó được gì, có tăng ích đạo tâm hay không...
Nếu một bề hễ một chữ thì lạy, hai chữ cũng lạy, mà trí tuệ không sáng, nguồn tâm không trong... Cho dầu mỗi ngày lạy ngàn cái, chỉ thêm vô ích...
Nhược bằng, ✽cái lạy thứ nhất rụng rơi tự ngã, ✽cái lạy thứ hai buông bỏ chấp nhất, trong sạch nguồn tâm, ✽cái lạy thứ ba lòng hết ngu tối, phát sinh trí tuệ... thì chỉ ba lạy thôi cũng hơn người suốt đời vái lạy...
Trong Pháp Bảo Đàn cũng sơ lược điều này. Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Lạy cốt bẻ cờ kiêu”. Trong Phật môn, kiêu mạn là thứ đầu tiên phải bỏ.
Người có tâm kiêu mạn là tự rời bỏ tinh tấn vì chẳng cầu tiến thân, người kiêu mạn sẽ nhiều phiền não vì lầm tưởng hơn người, người kiêu mạn sẽ tự hủy trí tuệ vì chẳng cầu học, người kiêu mạn sẽ không thanh tịnh vì luôn nhìn ngó so bì, người kiêu mạn không thể gần gũi cao nhân vì cao nhân không cùng kiêu mạn chung đường, người kiêu mạn sẽ không được quả vị vô thượng vì chẳng có từ bi... Thành ra, các pháp tự nó rỗng rang, tự nó giải thoát... Chỉ tại tâm người chấp nhất cột trói, lấy ngã làm chỗ dựa, lấy pháp làm chỗ nương, vô tình pháp có ngã... Thì lạy cũng như thế... Kinh có dạy: “Các pháp không không, lặng lẽ, tàn tạ, niệm niệm sanh diệt”.
֎Các vị, lạy cũng là một pháp. Người trí nhân cái lạy này xét soi tột lý của nó để việc làm có lợi ích. Xét soi đến khi nào thấy rằng cái lạy này tự nó hồn nhiên không tịch; chẳng phải vì sợ mà lạy, chẳng phải vì cầu cạnh mà lạy, chẳng phải vì muốn thân cận mà lạy... Nếu xét soi thấu suốt như thế, thì “cái lạy trở thành vô thượng”. Xét soi như thế Phật đạo gọi là Chánh Tư Duy.
֎Người xưa do thấu suốt ý nghĩa của lễ nghi nên đã dạy người đời sau: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch.” Đó chẳng phải là điều để chúng ta suy gẫm hay sao!
Ăn Chay Hay Ăn Mặn

Vừa rồi, có một vị HĐ[1] điện thoại cho mình và hỏi:
‒Thầy ơi! Bây giờ con nên ăn chay hay mặn?
⁕Mình trả lời: Từ ngày gặp mình đến giờ, bạn thấy bản thân có chút thay đổi chút nào không?
‒Thầy ơi! Con thay đổi rất nhiều, gần như trở thành một con người khác...! ... Gia đình và bạn bè đều nhận ra cũng như rất ngạc nhiên trước thay đổi của con! ... Vợ con là người nhận ra điều này đầu tiên, và cô ấy dạo này thường hay khen con (một điều hiếm gặp trước đây)! ... Con của con cũng có nhận xét: “Ba lúc này hiền, vui vẻ... không giống lúc trước”!
⁕Thế thì, bạn thấy bản thân của mình thay đổi những gì?
‒Thầy ơi! Từ lúc gặp Thầy đến giờ, trong lòng con lúc nào cũng an vui, hỉ lạc tràn đầy! Lòng thương người trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết! Những thứ tâm như: Tham lam, sân hận, si mê bỗng dưng tự biến mất...! Đặc biệt là, các thú vui ngày trước, hiện nay không còn hấp dẫn đối với con...! Làm việc cả ngày không biết mệt mỏi! Những lúc rảnh rỗi, chỉ thích đọc sách của Thầy!
⁕Mình lại hỏi bạn ấy: Thế thì những thay đổi của bạn, do bạn ăn chay hay ăn mặn mà có được?
‒Bạn ấy ngập ngừng một hồi, rồi trả lời: Thay đổi của con, đâu phải do ăn chay hay ăn mặn làm thành! Mà nhờ, con thường nghe Thầy giảng giải, tâm trí thông suốt, nên tự dưng nó thay đổi như vậy!
⁕Mình cười lớn và nói với bạn ấy: Thế thì bạn đã tự trả lời cho chính bạn rằng, bản thân nên ăn chay hay ăn mặn rồi, đâu cần hỏi mình nữa! ... Và có lẽ giờ này bạn cũng tự nhận ra: “Thành tựu đạo pháp, không do bởi ăn chay hay ăn mặn rồi chứ”! Bạn có hiểu mình nói gì không?
‒Thưa Thầy! Con hiểu! Con hiểu thế nào là một người, khi thành tựu Tu Đà Hoàn quả, trong lòng tự dứt ba kiết sử, đó là: “Thân kiến, giới cấm thủ và nghi”!
‒Thưa Thầy! Trong HĐ chúng ta, mọi người ăn chay hay mặn?
⁕Ha ha ha ha! Trong HĐ chúng ta có đến 95% là người ăn chay! Mình không yêu cầu mọi người ăn chay, nhưng phần lớn sau khi hiểu ra vấn đề, mọi người tự nguyện ăn chay!
Đối với bạn cũng như thế! Chay hay mặn tuỳ bạn! Đến khi nào trong lòng thấy thương tất cả chúng sanh, coi chúng nó như quyến thuộc, không đành lòng ăn thịt chúng nó thì, lúc đó ăn chay cũng không muộn!
‒Cảm ơn Thầy! Hôm nay Thầy đã cho con bài pháp về “sự khác biệt giữa từ bi tâm và giới cấm thủ kiến”!
[[1]] HĐ: Huynh Đệ (từ Hán-Việt); Từ thuần Việt là Anh Em (AE)