Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Môn và Phép Tu

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Nghe nói trong Phật Đạo có vô lượng Pháp Môn, tại sao trong hiện tại, chỉ thấy người tu hành nói đến ba Pháp Môn, đó là: Tu Thiền, Tu Tịnh hay Tu Mật?

Đáp: Tu Thiền, Tu Tịnh, Tu Mật là ba phép tu, ông lại hiểu lẫn lộn thành ba Pháp Môn.

Hỏi: Như vậy, thế nào mới là “Pháp Môn” của Phật Đạo?

Đáp: "Pháp Môn” là phép tắc, cách thức (pháp) mở cửa (môn) tâm (đạo). Câu kinh, lời pháp nào có thể giúp người: dập tắt phiền não, soi sáng vô minh, chuyển biến tâm thức, thẳng đến Niết Bàn, Minh Tâm Kiến Tánh, dứt mê đặng Giác, quạt gió Giải Thoát, khai thông Trí Tuệ, biến ngu thành trí, ra khỏi trầm luân, đi vào Chánh Đạo. Những câu kinh, lời pháp như vậy, Phật Đạo gọi đó là Pháp Môn.

Hỏi: Xin huynh dẫn chứng cụ thể, câu kinh nào, lời pháp nào thực hiện được yêu cầu của một Pháp Môn?

Đáp: Tất cả những lời kinh của Phật, lời dạy của bậc Đạo Sư đều ẩn chứa trong đó ý nghĩa khai mở tâm trí cho người, giúp người đi vào Chánh Đạo. Vì thế không lời kinh nào, không lời dạy nào chẳng phải là Pháp Môn. Ví dụ:

Sau khi nghe Phật dạy: “Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta.”, Kiều Trần Như từ một ngoại đạo đang chống đối Phật liền chứng La Hán và thành đệ tử của Phật.

Cũng có Tỳ Kheo [[1]] nghe Phật dạy đến  câu: “Pháp  do duyên mà sanh, pháp theo duyên mà diệt.”, Tỳ Kheo đó hoát nhiên dừng lặng tâm thức, đặt gánh nặng xuống, thôi không sanh tâm, thôi không sanh pháp, nhập vào dòng đạo.

Hay kẻ giết người Ương Quật Ma La,[2] sau nghe Phật nói câu: “Ta dừng còn ông thì chưa dừng”, đã tiêu thất sát nghiệp, tâm trí tịch diệt, chứng quả A La Hán. 

Bà  Vi  Đề  Hi [3]  nghe  Phật  khai  thị  đến câu: “Khi tâm tưởng Phật, tâm ấy là Phật”, liền chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, biết rằng nơi đây cũng chính là Cực Lạc.

Hoặc như Lục Tổ Huệ Năng nghe Kinh Kim Cang, đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, hoát nhiên thấy được cảnh giới không tâm!

Kinh Lăng Già Phật dùng một chữ Phi để trả lời một trăm lẻ tám câu hỏi của Bồ Tát Đại Huệ, nhân chữ Phi này Bồ Tát Đại Huệ khai mở trí tuệ, thấu suốt diệu lý. Kinh Đại Thừa, trong một bài thuyết pháp của Phật, có vô số người đắc quả Tu Đà Hoàn, vô số người chứng Vô Sanh, vô số người phát Bồ Đề Tâm, vô số người ra khỏi sanh diệt. Tất cả những lời dạy như thế đều là Pháp Môn trong Phật Đạo.

Hỏi: Nếu nói rằng, tất cả lời kinh, lời dạy của bậc Đạo Sư đều là Pháp Môn, có thể đưa người đến cội nguồn Chánh Đạo. Vì sao trên đời này, có biết bao nhiêu người hàng ngày nghe kinh, được Đạo Sư thuyết pháp, lại không thấy một ai nhập vào Chánh Đạo?

Đáp: Nói không có người nào nghe kinh, được Đạo Sư thuyết pháp mà không nhập vào Chánh Đạo là không đúng.

Hỏi: Vì sao không đúng?

Đáp: Ông có biết trên đời này có bao nhiêu người đang tu học trong Phật Đạo hay không? ... Và bản thân ông có quen biết hết những người đó chưa? ... Phải chăng, không lẽ có người Giác Ngộ vào Chánh Đạo, vị ấy mừng quá liền mở tiệc mời bạn bè đến ăn mừng, gọi nôm na là “rửa kiếp”, như người đời mở tiệc rửa chức, mở tiệc rửa lon, rửa nhà, rửa xe, trúng số đề. hay sao mà ông nói rằng ông không thấy? ... Thậm chí, ngày xưa Huệ Năng nghe câu kinh hoát nhiên Giác Ngộ, âm thầm bỏ mẹ già đi phương xa cầu Ngũ Tổ. Đâu có rần rần tiệc tùng gì mà người khác biết.

Hỏi: Nhưng, theo những gì ông vừa dẫn dụ, kinh Đại Thừa có vô số người chứng khi nghe Phật thuyết. Và hiện tại, theo tôi biết, cũng có vô số Pháp Sư đang thuyết Kinh Đại Thừa như Phật, sao không thấy ai chứng? 

Đáp: Đại Đạo Sư là Phật thuyết pháp, không giống Tiểu Đạo Sư là người đời thuyết pháp. Lấy voi so với thỏ, coi sao đặng...! (cười vang)

 

LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 03); NXB Dân Trí 2019


 

[[1]] Tỳ Kheo: là danh từ phiên âm từ chữ bhikkhu trong tiếng Pali và chữ bhiksu trong tiếng Phạn, chỉ người khất thực.

[[2]] Ương Quật Ma La: là tên khác của Ahimsaka một kẻ giết người man rợ ở vương quốc Kiều Tất La.

[[3]] Vi Đề Hy: Hoàng hậu của nước Ma Kiệt Đà, đau khổ vì đứa con bạo ngược, sau này nương nhờ thần lực của Phật tổ để cảm hóa con trai.

Tác Phẩm Lý Tứ

Mù Và Điếc Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Trong Phật Đạo, cái gì làm cho họ mù đối với lời kinh. Cái gì làm cho họ điếc đối với tiếng pháp?

Đáp: Có vô số cái làm cho người sáng mắt trở thành mù tối, đang nghe tốt trở thành kẻ điếc trong Phật Đạo! ... Đó là do những nguyên nhân:

✽Sự ngã mạn, tham sân si, chấp nhất, hồ đồ, ngây thơ, háo danh, không biết lắng nghe, v.v...

✽Ngoài ra, còn phải kể đến tật lười tư duy, thích khoe khoang một cách sáo rỗng...

✽Đừng khó chịu khi thấy người khác hơn mình. Ai nói lời phải, khuyên nhủ điều đúng đắn thì phải biết lắng nghe. Nên nghe nhiều hơn và nói ít đi, đừng như một số kẻ chỉ nghe bằng một tai nhưng nhiều lời như thể có ba bốn cái miệng...

✽Phàm làm việc gì cũng phải có chủ kiến của mình, đừng chạy theo đám đông một cách vô bổ…

✽Nói chung, có vô số cái làm cho một người tu tập trở thành kẻ đui mù.

Hỏi: Như vậy đối với người mù, người điếc thì nên làm gì để họ hết mù hết điếc mà có thể Giác Ngộ?

Đáp: Thì hãy chữa cho người mù hết mù, người điếc hết điếc trước cái đã

 

LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 03); NXB Dân Trí 2019

Tác Phẩm Lý Tứ

Chữ Tu Trong Phật Đạo Là Như Thế Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Kinh dạy: “Khi mắt đối sắc, tai nghe âm thanh, v.v... không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, không cho rằng cái ta thấy nghe là vừa ý hay không vừa ý, cũng đồng thời không cho rằng các thứ ấy cũng vừa ý cũng không vừa ý, v.v...  Khi nào các quan niệm như thế khởi lên, biết đây là hữu vi, hữu lậu (quan niệm do tâm ý sản sanh làm che mờ tâm trí), phải xả nó lập tức, thanh tịnh giải thoát sẽ tự hiện…”

Đạo Phật là con đường giúp người thay đổi nhận thức, con đường đó chính là Phật pháp! Phật pháp gồm vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật đạo… Nói nôm na, Phật pháp giúp ta nhìn nhận cuộc sống và thế giới theo nhãn quan Phật giáo…!

Phật đạo chỉ ra rằng, thế giới tự nó không tánh, không tướng… Cái được gọi là cuộc sống (nhân sinh) chỉ là sự tiếp nối liên tục trong tâm thức, thông qua những pháp (quan niệm) được ý thức sản sinh một cách chủ quan, khi nhìn về thế giới và nhân sinh!

Từ quan điểm đó, Phật đạo chỉ ra rằng: Thế giới bản lai (xưa nay) không phải là một pháp như người đời vẫn thường quan niệm… Giống như mặt trời, mặt trăng, núi non, biển cả, bình, bàn, li, chén, v.v... bản chất các thứ ấy chẳng trói buộc hay giải thoát vì nó không phải là pháp (tự nó không phải là một quan niệm!) ... Cho nên Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn quan sát hết thảy tinh tú, nhật nguyệt, núi sông, ao hồ, các đại, hữu tình, vô tình, v.v... không một pháp có được…”!

Cũng từ quan điểm đó, Phật đạo chỉ ra rằng: Cuộc sống tự nó là không! Tức thân, tâm, ý thức bản lai tự không… Có nghĩa, trong tận cùng sâu thẳm của thân, tâm, ý thức cũng chẳng hề có pháp nào… Kinh dạy: “Ngũ uẩn giai không” (năm uẩn pháp đều không)!

Như vậy, xét cho cùng, thế giới và nhân sinh không phải là các pháp uẩn (các quan niệm trói buộc)! Chỉ tại ta mãi chạy theo hiện tượng (hư vọng tướng) từ thấy nghe hay biết (kiến văn giác tri) rồi bỏ quên cái được gọi là “bản lai vô sanh” vốn dĩ là bản chất (thiệt tướng) mà mỗi mỗi hữu tình tự có! ... Vì thế, trong bản nhiên vô sanh mà lại sanh ưu bi, khổ não! Thấy có trói buộc, thấy có giải thoát!

Nhận thức đúng những điều này rồi, ta bình tâm suy xét thân tâm và thế giới, mới thấy công việc là công việc, ta là ta, tất cả đều không có tánh sanh diệt, cũng chẳng có tướng áp lực hay không áp lực! ... Chỉ tại một niệm mê, mê thân tâm, mê thế giới, mê công việc, v.v... áp lực mới hiện!

Nếu mọi thời, mọi lúc, mọi nơi ta đều ý thức như vậy (chánh niệm)… Không chạy theo hiện tượng, không để công việc trở thành quan niệm chiếm cứ tâm trí ta (mê)! Kinh dạy: “Khi mắt đối sắc, tai nghe âm thanh, v.v... không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, không cho rằng cái ta thấy nghe là vừa ý hay không vừa ý, cũng đồng thời không cho rằng các thứ ấy cũng vừa ý cũng không vừa ý, v.v...  Khi nào các quan niệm như thế khởi lên, biết đây là hữu vi, hữu lậu (quan niệm do tâm ý sản sanh làm che mờ tâm trí), phải xả nó lập tức, thanh tịnh giải thoát sẽ tự hiện…”

Với những gì được nêu ở trên, con đường của Phật đạo chính là thứ văn hoá giúp ta nhận thức một cách minh bạch về bản chất của thân tâm và thế giới… Mà, những gì thuộc về nhận thức, những gì thuộc về văn hoá khi nhận thức thấu đáo, nó sẽ là hơi thở làm nên “sự sống”, nó sẽ là chất liệu làm nên “đời sống”… Hay khác hơn, nó chính là ta, ta chính là nó, ở đâu ta cũng là nó, làm gì nó cũng là ta (ta và văn hoá đó không hai)!

Như vậy, không nhất thiết phải ngồi thiền, tụng kinh, công phu, v.v... mới là tu, mà tu theo Phật đạo là hành động biến nhận thức thành văn hoá trong mọi hoạt động của đời sống (biến nhận thức thành văn hoá và sống với nó gọi là văn, tư, tu)! Đây là lí do vì sao, Phật đạo gọi là “Đạo Giác Ngộ”! ... Giác ngộ là nhận thức như pháp, là thấy biết thân tâm và thế giới một cách minh bạch, cuối cùng bắt gặp điều ta đã nhận thức, đã thấy biết minh bạch ấy ngay trong thực tại này!

FanPage LÝ TỨ; TẢN MẠN... (trích Bài 100); Website: lytu.vn

Sinh Hoạt Lý Gia

Tứ Niệm Xứ

Content Editor 12.02.2023

SINH HOẠT TRỰC TUYẾN LÝ GIA ngày 22/3/2022
Chủ đàn: Lý Nữ Phương Danh Lý Phương Anh
Chủ đề: Tứ niệm xứ

Tác Phẩm Lý Tứ

Đức Phật Do Tu Cái Gì Mà Thành?

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Như vậy, Đức Phật do tu cái gì mà thành?

Đáp: Đức Phật do trí tuệ thấu suốt mà thành, nên gọi là Đấng Vô Thượng Trí.

Hỏi: Sao có kinh nói Đức Phật nhiều đời trước đã tu hành dưới các Đức Phật, lại còn được Phật Nhiên Đăng thọ ký?

Đáp: Ông đang hỏi trong hiện đời tu hành, hay hỏi nhân duyên tiền kiếp? Trong hiện đời của Đức Phật thì kinh dạy: “Do trí tuệ thấu suốt mà thành.” Còn trong đời kiếp quá khứ, kinh nói rằng: “Hồi còn là Bồ Tát, đã theo học các Đức Phật xưa, rồi được Phật Nhiên Đăng[1] thọ ký. Trong kiếp đời cuối cùng, Bồ Tát Thích Ca đã được Phật Bút Đa khai mở để thấy Phật tính”. Mà chuyện của Phật, ông hỏi để làm gì? ... Nếu ông biết được Đức Phật do đâu mà thành, thì chắc bản thân ông đã… thành Phật từ lâu rồi, đâu có đợi đến hôm nay...! ... Vì thế, tu hành trong Phật Đạo, nếu là người chín chắn thì chỉ nên hỏi những câu hỏi mang tính ứng dụng cao như: Phật dạy tôi làm điều gì? Tôi đã làm đến đâu?

Còn những ai bỏ công tìm hiểu những chuyện xa vời như: Đức Phật do đâu mà thành? Hoặc “cái ngã” của Phật là gì? Những câu hỏi đại loại như thế, Phật Giáo gọi là hý luận[2]

Giống như người bị tên độc, không lo trị vết thương, chỉ lo tìm xem ai đã bắn mình. Hạng người như thế, sẽ chết trước khi tìm ra câu trả lời.

LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 03); NXB Dân Trí 2019


 

[[1]] Phật Nhiên Đăng: là vị Phật thứ tư trong số 8 vị Cổ Phật.

[[2]] Hý luận: ý chỉ lời nói sáo rỗng, làm người nghe cảm thấy rối trí.

Tác Phẩm Lý Tứ

Hai Con Đường Tu Học Phật

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Về cơ bản, Phật Đạo có mấy con đường để người tu hành chọn lựa cho mình hướng đi và đạt thành mục tiêu trước mắt?

Đáp: Có thể nói, về cơ bản, Phật Đạo có hai con đường, có hai mục tiêu trước mắt để cho người tu hành lựa chọn.

Hỏi: Xin ông cho biết hai con đường đó, là những con đường nào?

Đáp:   

⚜Con đường thứ nhất: tu hành để được Giải Thoát. Mục tiêu này, đưa người ra khỏi mọi thứ trói buộc người ta hàng ngày.

⚜Con đường thứ hai: tu hành để được Giác Ngộ. Người tu hành có Giác, có Ngộ, tâm trí sẽ an vui, thanh tịnh, sáng suốt.

Hỏi: Xin cho biết, cách thức tu hành của hai con đường này?

Đáp: 

⚜Con đường thứ nhất, dành cho người xuất gia: Sau khi chấp nhận từ bỏ gia đình, người thân, từ bỏ tài sản lớn, nhỏ; từ bỏ họ hàng gần xa, người xuất gia, đến nơi có Bậc Đạo Sư hiểu biết về Đạo Giải Thoát, cầu học đạo ở vị này. Ở đây, vị ấy lấy gốc cây, miếu hoang, gò mả làm trú xứ! ... Nếu cộng trú với các đồng phạm hạnh trong một tịnh xá thì cũng chỉ lấy đó làm chỗ nghỉ ngơi, thân không tài sản, chỉ được sở hữu những gì Phật cho phép...! ... Ngoài những vật ấy ra, những gì không được phép mà cố cất giữ gọi là “vật bất tịnh”! ...  Vị ấy với “ba  y  và  một bát”, như con chim với đôi cánh, vào làng khất thực để nuôi thân...! ... Ngoài việc khất thực để nuôi thân và nghe thuyết pháp. Thời gian còn lại, vị này “sống trong thiền định”! ... Nhờ sống trong thiền định, tâm thức vị này lần lượt vượt qua “dục giới, sắc giới và vô sắc giới”! ... Sau khi, vượt qua ba cõi, vị tu hành này được nghe Bậc Đạo Sư tuyên thuyết về “sự cột trói của ngũ ấm”... Và vị ấy quyết tâm dứt trừ ngũ ấm.

Sau khi dứt trừ ngũ ấm, vị này hoàn toàn được Giải Thoát, chứng thánh quả cao nhất, đó là A La Hán, tuyên bố tứ thành tựu. Điều này, người tu hành hay nói nôm na rằng: Xuất thế tục gia, xuất tam giới gia và xuất ngũ ấm gia.

⚜Con đường thứ hai, dành cho người xuất gia lẫn người tại gia:

✽Người xuất gia cũng như người tại gia đi vào con đường này, thường là những người có trí tuệ và chí lớn. Ngoài việc tu học để tự cứu bản thân, họ còn mang hoài bão, đó là sau khi đạt được những thành tựu mà bản thân mong muốn, vị tu hành này sẽ đem hiểu biết mà mình có được, giúp mọi người cũng được hoan hỉ như mình, để thỏa mãn “Từ Bi tâm”, gọi  là làm công hạnh của Bồ Tát.

✽Người tu hành chọn con đường này, có trí tuệ lớn, có ý chí dũng mãnh, nên họ không cầu Giải Thoát, chỉ mong muốn ngay tại nơi đây được an vui, và cũng chính nơi đây mới có thể thực hành chí nguyện độ sanh.

✽Muốn đạt được thành tựu, vị tu hành đó tuy không xuất gia về hình tướng, nhưng bước đầu cũng phải từ bỏ những gì cần từ bỏ trong tận cùng của tâm thức, gọi là: “xây dựng thái độ tu hành”. Đồng thời, sẽ được Bậc Đạo Sư trang bị những kiến thức tối thiểu về ba cõi và nguyên lý hình thành của nó. Kiến thức này, giúp thành tựu các món thiền định như người xuất gia.

 Sau khi thành tựu các món thiền định, vị này sẽ được Bậc Đạo Sư giảng nói về “ý nghĩa của Ngũ Uẩn, giảng nói ý nghĩa thế nào là Tâm, thế nào là Pháp, thế nào là Vật, thế nào là Thế Giới”! ... Nhân hiểu biết này, vị tu hành đó “Giác được huyễn Tâm và huyễn Pháp”... Sau khi giác ngộ được “huyễn Tâm” và “huyễn Pháp”, bậc đạo sư sẽ khai thị để vị này “ngộ được bản tâm”. Thấy được bản tâm, coi như phần tự độ đã xong.

Hỏi: Ngoài hai con đường này, Phật Đạo còn có con đường nào khác?

Đáp: Ngoài hai con đường này, Phật Đạo không có con đường khác! ... Tuy nhiên, với những người chưa đủ dũng khí xuất gia để tìm đến đạo Giải Thoát, hoặc trí tuệ và chí nguyện chưa đủ lớn để có thể dung chứa Đạo Giác Ngộ, Bậc Đạo Sư có thể dạy cho người ấy “một số Pháp Lành”, để chờ thời cơ chín muồi hướng họ vào hai con đường đã nêu!

Pháp lành như cái núm vú giả đối với đứa trẻ mới sinh. Cái núm vú này không mang lại nguồn sữa cho nó, nhưng chí ít giúp đứa trẻ đó an tâm. Chờ đến lúc lớn, nó sẽ “tự mắc cỡ” mà từ bỏ cái vú giả, để bắt đầu chuyện học hành...! ... Tuy vậy, đối với một “Bậc Đạo Sư đúng nghĩa” thì chuyện này rất khó xảy ra, vì họ biết rõ từng căn cơ, và có những phương tiện thích hợp, nhằm giúp người tu hành thành tựu đạo quả sớm nhất... Giống như chuyện ông Bàn Đặc Ca và sức “giáo hóa bất khả tư nghì”[[1]] của Đức Phật, hoặc chuyện bà Vi Đề Hi cầu vãng sanh, nhưng Phật giúp bà ta chứng quả Vô Sanh Pháp Nhẫn trong hiện tiền.

Hỏi: Nếu như một người suốt cuộc đời bỏ ra tu tập, mà không được nghe nói đến hai con đường trên, cũng không thành tựu một trong hai đạo quả cơ bản này thì số phận họ sẽ như thế nào?

Đáp: Số phận họ sẽ giống như ông trong hiện tại.

Hỏi: Hai đạo quả nói trên, sau khi thành tựu, có quy về một mối hay không?

Đáp: Trước mắt thì chưa quy về một mối vì sự khác biệt cơ bản, nhưng sau đó, phải quy về một mối.

Hỏi: Xin hỏi, sau đó quy về một mối như thế nào?

Đáp: Một vị được đạo quả Giải Thoát, nhất định sẽ Giác Ngộ. Một vị thành tựu Đạo Giác Ngộ, nhất định sẽ hiểu được ý nghĩa của Giải Thoát. Giống như một người giàu sang sẽ biết cách làm ra tiền, một người làm ra tiền sẽ  biết cách để mình trở thành giàu sang. Giống như hai con sông nhỏ chảy vào biển lớn, khi hòa vào biển lớn, thì sự khác biệt cơ bản của hai con sông nhỏ không còn nữa.

Hỏi: Xin hỏi, ngoài việc quy về này, sau đó còn có điểm khác biệt nào chăng?

Đáp: Phật Đạo là đạo Trí Tuệ, dù đạo của người xuất gia, hay đạo của người tại gia, dù đạo Giải Thoát hay đạo Giác Ngộ. Sau khi, đạt được thành tựu đạo quả căn bản, đồng phải học chung một thứ Trí Tuệ.

Học Trí Tuệ và thành tựu Trí Tuệ mới đích thực là tu học trong Phật Đạo, gọi là Tu Đạo. Thành tựu Đạo Đế chính là biến khẩu hiệu “Duy Tuệ Thị Nghiệp” trở thành hiện thực. Vì rằng, thành Phật là thành tựu Trí Tuệ Vô Thượng. Chính vì điều này, Phật mới dạy trong kinh những câu đại loại như: “Ba thừa là không thật” hoặc “Niết Bàn của ba thừa là hóa thành”.

Hỏi: Một người không kinh qua ba thừa để thành tựu đạo quả Giải Thoát hay đạo quả Giác Ngộ trong hiện đời có thể một đường thẳng tiến đến Trí Tuệ Vô Thượng hay không?

Đáp: Tiến thẳng đến Trí Tuệ Vô Thượng là điều có thể xảy ra, nhưng nó rất hy hữu. Ví dụ như: Đức Phật, không từng kinh qua đạo quả ba thừa trong hiện đời nhưng vẫn thành Phật. Vì thế, trong kinh Phật cũng có nói: “Một hữu tình chứng Vô Thượng Bồ Đề, không nhất thiết phải kinh qua Bát Niết Bàn”.

Hỏi: Có thể lý giải việc này có được là do nhiều đời trước, vị tu hành này đã từng kinh qua các giai đoạn tu tập như vậy, nên trong đời hiện tại không cần kinh qua nữa, như những bài kinh kể về tiền thân của Đức Phật?

Đáp: Chúng ta đang bàn chuyện hiện tại.

Hỏi: Thú thật, tôi đã cầu đạo và tu học nhiều nơi, nhưng chưa từng được nghe và học tập về những điều ngài vừa nói... Thậm chí, tôi cũng đã từng ngậm “cái vú giả” như vậy nhiều ngày, nhưng chỉ nghe ở những nơi ấy giảng nói về công dụng của cái vú giả, thậm chí cái vú giả này sẽ nuôi người lớn khôn. Nhưng  chưa  một  lần  được  nghe nói: “Đây là cái vú giả, hãy bỏ nó đi để khôn lớn và học đạo Giải Thoát hay đi đến Giác Ngộ”.

Đáp: Cầu đạo và tu học ở nhiều nơi, không có nghĩa là đã đã học được mọi thứ. Chưa nghe nói, không phải là không có người nói ra những điều đó.

Còn nếu có ai giảng giải về “cái vú giả”, và bảo rằng: “Nó sẽ nuôi người lớn khôn”  thì có lẽ vị Đạo Sư đó do “ngậm vú giả mà khôn lớn...”! ... Cho nên ông ta mới lấy kinh nghiệm của mình mà ông ta dạy người như thế...!

Trên đời này, việc gì lại không thể xảy ra. Chỉ trách mình vô duyên, hồi trước chuyên tạo nghiệp “làm... vú giả”. 

LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 17); NXB Dân Trí 2019

 

 


 

[[1]] “Giáo hoá bất khả tư nghì” (còn có tên gọi khác là “hóa nghi tứ giáo”): đây là một cụm từ để chỉ 4 khái niệm: “đốn”, “tiệm”, “bí mật” và “bất định” của nhà Phật.

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mục Tiêu Giác Ngộ Giải Thoát Trí Tuệ

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Vừa rồi, có một vị khách quý đã đặt một số câu hỏi chung quanh cuốn Vô Đối Môn. Theo mình, đây là những câu hỏi thú vị và thực tế! ... Xin chuyển đến các bạn, nội dung cuộc hỏi đáp lí thú này:

KHÁCH: Với mục tiêu cho người học đạo là “Giác ngộ ─ Giải thoát ─ Trí tuệ” ... ông có sợ mục tiêu này của mình có cao siêu quá không dù ông đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu. Ông có thể giải thích cho độc giả hiểu thấu chân lý: Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ?

LÝ TỨ:  Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ là ba mục tiêu của Phật đạo, chứ không phải của mình tự đề ra, cho nên Phật đạo còn có tên là Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát và Đạo Trí Tuệ!

−Việc mục tiêu này có cao siêu quá hay không?... Xin thưa... không riêng gì Phật đạo, mà bất kì nền giáo dục nào cũng có những mục tiêu của nó, và bổn phận của giáo dục là bằng mọi cách giúp người học hoàn thành các mục tiêu đã đề ra!... Và theo mình, việc hoàn thành mục tiêu của giáo dục đề ra không liên hệ đến chuyện cao siêu hay tầm thường, mà nó là kết quả tất yếu của quá trình dạy và học!

−Về ba phương châm “Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ”, mình xin tóm tắt ý nghĩa của nó như sau:

✽Giác ngộ, là thấy biết và thấu suốt điều mình đang học, đang hướng đến.

✽Giải thoát, là không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm (các pháp) hư vọng từ thân tâm đến thế giới.

✽Trí tuệ, là biết cách giúp mình và người thành tựu rốt ráo hai phương châm Giác ngộ và Giải thoát.

KHÁCH: Xin cảm ơn cư sĩ!

LÝ TỨ: Xin cảm ơn câu hỏi của quý khách, chúc quý khách an vui, thành công trong cuộc sống!

(01-08-2019)

Nguồn: LÝ TỨ; CHUYỆN TRÊN MÂY Tập 1 (trích Bài 13); NXB Hà Nội 2021

Sinh Hoạt Lý Gia

Thực Tập Đẳng Ngữ Môn: Chuyển Thức Thành Trí

Content Editor 12.02.2023

SINH HOẠT TRỰC TUYẾN LÝ GIA ngày 5/4/2022
Chủ tọa: Lý Nữ Phương Danh Lý Diệu Tâm
Chủ đề: Chuyển thức thành trí

Tác Phẩm Lý Tứ

Hai Anh Quảng Nôm Bàn Chuyện Đạo Phật và Phật Pháp

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Bữa trước nghe nói: “Với mi, Đạo Phật và Phật pháp là hai thứ. Mi đi chùa vì mi là tín đồ của Đạo Phật, còn nghiên cứu Phật pháp là để tự thay đổi bản thân, hai thứ ni phân minh!”, có thể giải thích rõ hơn được không?

Đáp: Mi muốn hiểu rõ điều chi trong hai thứ nớ?

Hỏi: Tau muốn biết, Đạo Phật và Phật pháp khác nhau ở chỗ mô?

Đáp: Theo tau, Đạo Phật là một tôn giáo, cũng giống như bất kì tôn giáo mô ở đời, tức cũng có giáo chủ, giáo luật, giáo lễ (nghi thức, lễ hội), giáo hội, giáo quyền, giáo chúng, giáo sở, v.v... Và, tín đồ của họ đều coi giáo chủ là đấng tối cao cũng như đặt niềm tin trọn vẹn vào giáo chủ. Nói chung, về mặt tâm linh, về mặt hình thức, về mặt đức tin, theo cái nhìn chủ quan của tau, các tôn giáo không khác nhau là mấy!

Còn Phật pháp! Theo tau, đây là một nền giáo dục, một thứ triết lí, một loại văn minh, một hình thức văn hoá, v.v...

Phật pháp chủ yếu khai thác tối đã sức mạnh trí tuệ trong mỗi con người, hay khác hơn là, dùng chính trí tuệ của người đó để giải quyết vấn đề tâm thức, nhằm đạt đến mục tiêu được coi là hoàn hảo nhất của nền giáo dục đó đề ra.

Vì thế, Phật pháp không chú trọng nhiều đến các hình thức bên ngoài hay tâm linh như tôn giáo!

Theo tau biết, ngày còn tại thế, Đức Phật là một vị thầy, các môn đồ là những học trò, họ cùng tụ tập dưới gốc cây, bãi đất trống, v.v... để nghe Phật giảng thuyết về triết lí của mình gọi là văn, nếu trong lúc nghe giảng chưa thấu đáo, các đệ tử tìm nơi vắng vẻ chiêm nghiệm lời dạy gọi là tư (thiền tư), hiểu xong họ ứng dụng lời dạy đó vào đời sống cho đến khi nào thuần thục gọi là tu.

Đề khỏi quên lời Phật dạy, họ chia thành từng nhóm nhỏ, đứng đầu là các trưởng lão, họ thường xuyên tụng lại các lời giảng vừa nghe như một hình thức ôn bài (tụng đọc để không quên, là cách giải quyết vấn nạn chưa có văn bản ghi chép sự kiện). Kèm theo đó, họ cùng nhau mổ xẻ, trao đổi, đào sâu ý nghĩa lời dạy gọi là luận! ... Ở những nơi cách xa Phật, các vị hiểu biết nhiều, học cao hơn các vị còn lại, thay mặt Phật giảng nói những điều Phật đã dạy, gọi là Bồ Tát!

Về nghi thức, họ có cách ứng xử riêng giữa thầy và trò, giữa huynh trưởng với người dưới, v.v... Như đi nhiễu, quỳ xuống hôn chân Phật, chắp tay cung kính với người trên. Theo tau, đây là một loại văn hoá ứng xử thời đó, quỳ lạy là phép cung kính tối cao, chứ không mang nặng ý nghĩa van xin!

Về luật lệ, để bảo đảm tính ổn định của một tổ chức, họ có những luật lệ riêng, mọi người trong tổ chức phải tuân thủ nội quy đề ra, luật lệ đó chính là giới luật ngày nay. Giới luật với họ: Về đối nội, đây là biện pháp nhằm ổn định tổ chức, giúp cho việc học tập không bị xáo trộn, hoặc đời sống giảm thiểu rắc rối (giống như nội quy trường lớp). Về đối ngoại, giới luật giúp tăng uy tín, tạo sức ảnh hưởng to lớn, và hình thành nét đẹp cao quý trong con mắt xã hội! ... Vì thế, Phật chỉ chế giới, khi trong tổ chức có người vi phạm làm mất tính ổn định của tổ chức, hoặc bị xã hội phê phán!

Về tu học, Phật trình bày thế giới quan và nhân sinh quan do bản thân giác ngộ và nêu bật lợi ích thiết thực của nó, gọi chung là Phật pháp. Từ thế giới quan và nhân sinh quan đó, người tu hành thấu triệt và thấm nhuần đến khi không còn u mê, gọi là thành tựu vô lậu giới. Từ vô lậu giới đã thành tựu, tâm ý tự an định gọi là định vô lậu. Do biết rõ con đường mô hữu lậu con đường mô vô lậu, gọi là tuệ vô lậu. Theo tau, đây là nét đặt trưng của giáo pháp, và chỉ khi nào người tu hành thấm nhuần nhân sinh quan và vũ trụ quan do Bậc Đại Giác tìm ra mới đạt đến hiệu ứng tuyệt vời ba (3) trong một (1) ni.

Vì thế, vô lậu giới không giống hữu lậu giới (một hình thức của nội quy, ngăn cấm)! Tu tập đầy đủ ba thứ giới, định, tuệ hữu lậu (của thế gian), chỉ cho ra đạo quả thế gian (hữu lậu), đạo quả đó cao nhất là giúp người tu hành trở thành một người có đạo đức trong đời, chớ không thể vượt thoát ra khỏi ba cõi hữu lậu!

Ngược lại, thấu suốt những gì gọi là vô lậu giới và thành tựu giới ni, nhất định người đó sẽ thành tựu định và tuệ vô lậu! ... Đây là nét đặc trưng, là hệ quả tất yếu do tính chất siêu việt của giáo pháp, và nó chính là con đường duy nhất dẫn đến một trong ba cánh cửa giải thoát, gọi là tam giải thoát môn, tức cửa không, cửa vô tướng và cửa vô tác! ... Mi có thể thấy đặc điểm ni ở thời kì đầu của giáo pháp, lúc đó Phật chưa chế giới (hữu lậu) nhưng người chứng thánh quả rất nhiều!

Hỏi: Nói như mi, thời Phật như một trường học. Mần răng mà Phật pháp lại biến thành Đạo Phật?

Đáp: Do quá trình phát triển, do tác động lịch sử, do niềm tin của người, do thuận theo nhu cầu xã hội, do Phật pháp siêu quá tư duy bình thường, do năm thời kì dẫn đến chánh pháp suy vong như tau nói với mi hôm trước, v.v... Nói chung, có vô số lí do từ chủ quan đến khách quan, mà lí do chủ yếu vẫn là “pháp nhĩ nó như vậy”!

Mi thấy đó, ví như Đạo Khổng! ... Ngày xưa Khổng Tử là người thầy, mở trường dạy môn hạ của mình đạo lí do ông ta tìm ra gọi là Nho giáo. Đến hôm nay, vì trân trọng bậc thầy, người ta lập Khổng Miếu (miếu thờ Khổng Tử), lẽ ra Khổng Miếu là nơi thờ phụng, tri ân và là nơi học tập tư tưởng Khổng gia. Nhưng trái lại, hầu như trong hiện tại, người ta đã biến những nơi ấy thành chỗ cúng bái, cầu xin (một hình thức tín ngưỡng, tôn giáo), coi Khổng Tử như một vị thần linh. Như rứa ta có thể thấy, thịnh suy và biến thể là quy luật gần như muôn đời đối với các hệ tư tưởng phương Đông!

Hỏi: Theo mi, Đạo Phật xuất hiện trong đời, ích lợi có nhiều hay không?

Đáp: Nói đến lợi ích, thì Đạo Phật hay bất kì tôn giáo mô cũng có những lợi ích nhất định của nó, đây là điều hiển nhiên không thể chối cãi. Vì tôn giáo đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của những người theo đạo đó! ... Và phần lớn, tôn giáo, tín ngưỡng ra đời phát xuất từ nhu cầu có thật của xã hội, chứ chẳng phải bỗng dưng mà thành! ... Nói chung, khi nào con người còn chưa thật sự giác ngộ, thì tôn giáo hay tín ngưỡng vẫn là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu!

Nhưng mà, nếu người tu hành trong Phật đạo chỉ biết có một Đạo Phật, không tìm hiểu, tu học đúng với tinh thần giáo pháp thì, lợi ích không nhiều như mong muốn của giáo pháp! ... Thậm chí, chỉ sa đà vào chức năng tôn giáo, chính Đạo Phật đôi lúc lại đi ngược tinh thần giáo pháp!

Hỏi: Tau thấy nơi chùa am, người ta cũng đề ra khẩu hiệu “Duy Tuệ Thị Nghiệp”, tức là nơi đây ngoài việc đáp ứng yêu cầu của một tôn giáo, họ còn chú trọng đến việc dạy người giáo pháp!

Đáp: Tau cũng thấy như rứa! Biện pháp lồng ghép ni theo tau là đúng, không có gì để bàn! ... Nhưng, như hôm trước đã nói: “Đạo giác ngộ, phải được giảng dạy bởi những người giác ngộ, bây giờ người học mới có cơ may giác ngộ! Còn ngược lại, thì hòn than mô cũng đen thui như hòn than mô”! ... Thành ra, trước khi dạy người đạo giác ngộ, bản thân phải giác ngộ.

Nếu chưa giác ngộ, khi dạy người chỉ nên giảng dạy những điều căn bản của giáo pháp, không nên dạy những gì mà ta chưa thật sự thấu đáo, hoặc những thứ giáo pháp không có yêu cầu. Nhưng, phần lớn người dạy, sợ người nghe chê mình dốt, cao hứng, tỏ ra mình hiểu biết, nói những thứ mình chưa biết, chưa nắm vững, việc ni theo tau, chẳng những không đem lại lợi ích, mà có khi hại cả đôi bên! ... Vì rằng, trong giáo dục, dạy sai, dạy người cái mình không hoặc chưa biết, hoặc dạy ngoài giáo trình, là điều không thể chấp nhận!

Hỏi: Theo mi, những điều như rứa đã xảy ra hay chưa?

Đáp: Theo những gì tau biết, những điều như rứa xuất hiện nhan nhản! ... Tất nhiên theo tau nghĩ, “không phải mọi nơi đều như rứa”, nhưng cái “không phải mọi nơi đều như rứa” thì bản thân tau chưa thấy! Cũng như bản thân mình không thể thấy hết mọi nơi là điều chắc chắn! Nhưng, những gì tau thấy, tau nghe, tau chứng kiến thực tế là như vậy!

Tau chỉ cầu mong, trên cõi đời này, còn có những nơi Đạo Phật vừa mang hình thức tôn giáo nhằm giải quyết nhu cầu tâm linh cho người, vừa là nơi giúp người giác ngộ đúng như tinh thần giáo pháp là, “giải quyết sự u tối, triền phược của tâm thức!”.

Có làm được như thế, chuyện thịnh suy của giáo pháp, mới không còn là trăn trở của những người như tau, mi và con nhỏ ni!

Nguồn: Lý Tứ, CHUYỆN TRÊN MÂY Tập 1 - trích Bài 66, NXB Hà Nội, 2021

Sinh Hoạt Lý Gia

Kết Quả Giác Ngộ Sau 10 Ngày Học Tập Giáo Pháp

Content Editor 12.02.2023

SINH HOẠT TRỰC TUYẾN LÝ GIA ngày 21/06/2022

KẾT QUẢ GIÁC NGỘ SAU 10 NGÀY HỌC TẬP GIÁO PHÁP

1002 LÝ THẬP NHẬT 

Subscribe to