Tác Phẩm Lý Tứ

Về Ngã Và Vô Ngã

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Các bạn! ... Hôm nay, mình muốn chia sẻ với các bạn một vấn đề mà người tu hành nào cũng quan tâm, đó là chữ “ngã” trong Phật đạo!

Nói đến chữ ngã, không một người tu hành nào trong đời lại chưa một lần để ý, không ưu tư hay đề cập đến, thậm chí ngã và vô ngã còn là đề tài dẫn đến tranh luận! ...

Và “vô ngã” là cảnh giới mà hầu hết người tu hành đều ước mong bản thân đạt đến! Tuy nhiên, muốn hay không muốn nói ra, dù rất nỗ lực, nhưng phần lớn đều tự cảm thấy: “bản thân ta vẫn còn cái ngã”! ... Vì thế, cái ngã luôn là một trong những “vật cản” rất lớn trên con đường tiến tu!

Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần xem xét chữ “ngã” và “vô ngã” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì! ... Và, làm thế nào để có thể chạm vào cảnh giới vô ngã!

✽Thấu đáo hai khái niệm trên, chuyện “có ngã” hay “không ngã”, không còn là vấn đề!

✽Khi người tu hành luận về chữ “ngã” trong Phật đạo, hầu hết đều mặc nhiên hiểu chữ “ngã của Phật đạo” theo khái niệm “ngã hay bản ngã của Triết học hoặc Phân tâm học”!

✽Người tu hành thường hiểu chữ ngã nằm trong các nghĩa: Cái tôi, cái ta, chủ thể đón nhận những gì xảy ra trong chính mình (bản ngã), hoặc hành vi hay sự nhận biết khi các căn xúc đối với ngoại trần, trong đó nó hàm chứa những “đặc tính” để phân biệt, ứng phó với những “cái tôi” khác, v.v...!

Theo nhận xét chủ quan của mình, khi người tu hành hiểu về khái niệm ngã như những gì đề cập ở trên, cái hiểu này không sai, nhưng nó không phải là khái niệm “ngã” mà Phật đạo muốn nói đến!

Nếu chúng ta cứ mặc định “ngã trong Phật đạo” có những ý nghĩa như Triết học hoặc Phân tâm học, sự mặc định này vô hình trung “chúng ta tự làm khó chúng ta”! ... Chính sự “tự làm khó” này, chẳng thể nào giúp chúng ta “giác ngộ thật nghĩa vô ngã của Phật đạo”!

Để làm sáng tỏ vấn đề, mình cùng các bạn thử khảo sát ba khái niệm “ngã” theo ba quan điểm sau:

●Trong triết học, “ngã hay cái tôi” được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác.

●Trong phân tâm học, “cái tôi” (ego) là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Theo Sigmund Freud, "cái tôi" cùng với "nó" (id) và "cái siêu tôi" (superego) là ba miền của tâm thức.

"Cái tôi" được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, "cái tôi" học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận. "Cái tôi" có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội.

✽Trong triết lý Phật giáo, "cái tôi", thường gọi là “ngã”, là "cái tôi" được thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. (nguồn Wikipedia)

✽ Theo Lý Tứ, chữ ngã trong Phật đạo, nếu dịch thành “cái tôi” như thế này (đoạn văn dẫn), rất dễ dẫn đến hiểu nhầm thành cái tôi của Triết học. Có thể! ... Cứ giữ nguyên từ Hán-Việt là “ngã” như các bản dịch của kinh, việc giữ nguyên (chữ ngã) như thế, hy vọng người tu dễ cảm nhận hơn!

Các bạn! ... Theo những giải thích trên, chúng ta thấy rất rõ một điều, phần lớn người tu hành đang hiểu nhầm chữ “ngã của Phật đạo” trở thành khái niệm “ngã hay bản ngã” của Triết học hoặc Phân tâm học!

Chính sự hiểu nhầm nói trên, đã đưa chúng ta đi quá xa khái niệm “ngã và vô ngã” của Phật đạo! Cũng chính sự đi quá xa về khái niệm, nó đã không giúp chúng ta giác ngộ (hiểu rõ và thấy đúng) bản chất đích thực của cảnh giới vô ngã trong Phật đạo!

Hỏi: Như vậy, trong Phật đạo có những khái niệm nào tương đối giống “khái niệm ngã của Triết học và Phân tâm học”?

Đáp: Theo mình thì có, ... có nhiều! Chữ ngã mà người tu hành đã hiểu theo nghĩa Triết học, thực chất nó gần giống với chữ “mạn” của Phật giáo!

Cũng có khi, người tu hành đánh đồng khái niệm bản ngã của Phân tâm học thành khái niệm “cái biết” hay “tánh giác” trong Phật đạo! ... Mình xin tạm giải thích các điều trên như sau:

●Khi nào người tu hành hiểu chữ ngã của Triết học, thành chữ “mạn” trong Phật đạo? ... Đó là khi, người tu hành hiểu chữ ngã của Phật đạo có các nghĩa như: Cái tôi, cái ta, sự phân biệt, sự chấp chặt, một hình thức đối kháng hay đồng tình trước một đối tượng hay các quan điểm trái ngược, v.v... Những nghĩa kể trên, chính là các nghĩa mang trong nó những tính chất thuộc về “thất chủng mạn” [[1]] của Phật đạo!

Mạn: Chủ thể mê lầm (có hình thái) đại diện, là căn bản phát sinh sáu thứ mạn kia, khi chủ thể này bị chấp chặt, người tu hành không thể thoát khỏi những định kiến mà bản thân huân tập trước đó!

Mạn là một trong mười kiết sử! ... Mười kiết sử, gồm: Năm độn sử: Tham, sân, si, mạn, nghi. Năm độn sử thuộc về lỗi hành vi, những hành vi nói trên không tự có, mà nó xuất phát từ nhận thức sai lệch, nhận thức không như pháp (tức nhận thức phi pháp)! ... Có năm thứ nhận thức sai lệch, năm kiến chấp phi chân lí (phi pháp), trở thành nhân tố làm nên các lỗi hành vi, gọi là năm lợi sử, gồm: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến!

Nói chung, chữ ngã của Triết học, theo mình thì, có “một số nét tương đồng” với chữ mạn của Phật đạo!

Hỏi:  Xin cho biết, khi nào người tu hành tịch diệt mười kiết sử, trong đó có “mạn kiết sử”, mà người tu hành hiểu thành chữ ngã?

Đáp: Như đã trình bày ở trên, mạn (bao gồm thất chủng) thuộc lỗi hành vi (độn sử)! Mà độn sử (các lỗi bị ngu mê sai sử) sở dĩ xuất hiện, là do nhận thức sai lầm. Khi nào người tu hành có được một số kiến thức cơ bản chuẩn và đúng đắn (gọi là giác), cũng như áp dụng triệt để những kiến thức này vào đời sống, áp dụng đến thuần thục, các kiết sử sẽ tự dừng, trong đó “thất mạn cũng dừng theo”! ... Phần tu tập này thuộc về Tập đế của Tứ đế!

Vì thế, người tu hành thành tựu quả vị đầu tiên của Phật đạo là Tu Đà Hoàn, người này chỉ dứt được ba kiết sử, đó là: Thân kiến, giới cấm thủ kiến và nghi! Trong ba kiết sử trên, có đến hai kiết sử thuộc về nhận thức (lợi sử) là thân kiến và giới cấm thủ kiến, chỉ một thuộc về độn sử là nghi! ... Nói khác đi, tu tập để dứt phiền não kiết sử, chính là quá trình thay đổi nhận thức! ... Do nhận thức thay đổi, hành vi sẽ thay đổi! ... Mạn (hay cái ngã theo quan điểm của Triết học) sẽ tự chấm dứt khi, người đó thật sự giác ngộ đúng như chánh pháp!

Hỏi: Xin hỏi! Còn khái niệm bản ngã được hiểu theo Phân tâm học là những gì? Và nó sẽ tịch diệt khi nào?

Đáp: Chữ ngã (hay bản ngã) được hiểu theo Phân tâm học, gồm các khái niệm như: Tôi cảm nhận, tôi biết, tôi nhận thức, v.v... Các đặc tính này, chính là tánh biết, hay tánh giác trong Phật đạo! ... Phân tâm học hình thành khái niệm này, trong quá trình tánh giác đã bị tri thức (xã hội, luân lí, nhận thức) làm nhiễm ô!

✽Khi tánh giác (cái biết) không còn nhiễm ô! ... Cái được người tu hành gọi là “bản ngã” theo quan niệm của Phân tâm học, sẽ trở về nguyên trạng của nó là tánh giác! ... Tánh giác là một trong những tính chất cơ bản của “tự tánh” (tánh bản nhiên). Nó chính là “nhân Phật”!

✽Tánh giác hay “thỉ giác” (cái biết bản nhiên) là cơ sở tốt nhất, là “điều kiện ắt có” để người tu hành dùng nó như một công cụ không thể thiếu để tiếp thu “bản giác” (cội nguồn giáo pháp) do chư Phật chiếu ra! ... Vì thế kinh dạy: “Chư Phật từ bản giác (chiếu) đi ra, người tu hành từ thỉ giác (thể nhập, học tập) đi vào, chỗ gặp nhau gọi là đẳng (nhận thức, thấy biết không sai khác)!”

Hỏi: Xin hỏi! Như vậy, khái niệm ngã và vô ngã đích thực của Phật đạo nhằm nói lên điều gì?

Đáp: Chữ ngã (hay khái niệm ngã) của Phật đạo, hoàn toàn không giống khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học và Phân tâm học!

✽Khái niệm ngã của Phật đạo, nhằm chỉ cho cái gì đó, hay một nền tảng nào đó, mà trong ấy gồm đủ tính chất thường hằng, tức không bị chi phối bởi thời gian, không gian hay các pháp (quan niệm)! ... Nói khác đi, chữ ngã của Phật đạo, là thuật ngữ nhằm chỉ cho: Đại Niết Bàn, Phật tánh, Phật trí, hay Phật pháp, tức thứ chân lý tuyệt đối mà chư Phật đã giác ngộ!

Trong kinh Phật cũng thường dạy: “Phật tánh là ngã, ngã là Phật tánh”, hoặc “Đại Niết Bàn là thường”, hay “Phật trí là thường, Phật trí là ngã”!

⚜Nói chung, hai đức tính “ngã và thường” của Phật đạo, chính là hai mặt của một vấn đề, ta có thể hiểu ngã và thường là hai tính chất thuộc về chân lí, tức cái này có nên cái kia có, nếu cái này không cái kia cũng sẽ không! ... Có nghĩa rằng, cái gì có tính chất thường hằng, cái đó luôn là ngã! ... Cái gì thuộc về ngã, cái đó luôn thường hằng! ... Hai thứ thuộc về chân lí nêu trên, vĩnh viễn không chịu sự chi phối hay tác động bởi bất kì một nguyên nhân nào!

●Về vô ngã: Ngày xưa (có thể cả hôm nay), có rất nhiều trường phái tu hành!

− Có trường phái chủ trương tu luyện để thân này (tức sắc ấm) trở thành thường hằng (ngã)!

− Có trường phái chủ trương tu luyện để thọ ấm trở thành thường hằng! 

− Có trường phái chủ trương tu luyện để tưởng ấm trở thành thường hằng!

− Có trường phái tu luyện để hành hoặc thức ấm trở thành thường hằng!

Họ hy vọng rằng, với sự tôi luyện này, ngũ ấm sẽ trở thành nơi nương cậy vĩnh cữu gọi là ngã hay thần ngã!

Phật, sau khi tự thân chứng ngộ, bèn tuyên thuyết chân lí do mình tìm thấy, đó là: “Cái gì vô thường, cái ấy không bền chắc! Cái gì vô thường, cái ấy tự không thể là ngã (sự bền chắc, thường hằng)!”

Phật cũng chỉ ra rằng: “Ngũ ấm và trong ngũ ấm tự nó không có ngã! Không có ngã vì nó vô thường!”

Phật cũng lại chỉ ra rằng: “Cái gì thuộc về tạo tác, do tạo tác mà thành, cái đó không thể là ngã, và nó chịu quy luật của sanh, trụ, dị, diệt!”

Phật cũng dạy: “Các quan niệm (pháp), không thể trở thành ngã, không thể trở thành trú xứ vĩnh cữu cho một hữu tình, vì các quan niệm sẽ đổi thay theo năm tháng!” Cho nên Phật dạy: “Quán pháp vô ngã”!

✽Nói tóm lại, khi Phật tuyên thuyết “vô ngã” là tuyên nói một sự thật! ... Người biết sự thật này, sẽ không phải mất công đi tìm chân lí từ những thứ hư vọng nêu trên! ... Nói khác hơn! ... Vô ngã là một sự thật, người tu hành giác ngộ được sự thật này, cơ hội tìm thấy chân lí đích thực, cơ hội tìm thấy an lạc vĩnh hằng, sẽ trở thành hiện thực ngay trong hiện tại này khi nhận thức sai lầm về ngã đã bị cởi bỏ!

Tóm lại, Phật tuyên thuyết ngã hay vô ngã, ý nghĩa của nó không giống như hai khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học và Phân tâm học mà người tu hành hiện nay đang hiểu! ... Nếu chúng ta không biết thật nghĩa của ngã và vô ngã của Phật đạo, lấy những khái niệm của Triết học hay Phân tâm học làm cơ sở lí luận, coi như đây là quan điểm chính thống của Phật đạo, hoặc dùng nó để tiến tu, nhất định sẽ không thể nào thấu suốt cảnh giới vô ngã của Phật đạo!

Hỏi: Xin hỏi! Như vậy, người tu hành hiểu sai thật nghĩa chữ ngã và vô ngã trong Phật đạo, hậu quả của nó là gì?

Đáp: Phật đạo là một nền giáo dục! Vì thế, nó luôn có những từ ngữ chuyên môn! Trong giáo dục, hiểu sai từ ngữ, sẽ không thể thành tựu các mục tiêu do nền giáo dục đó đề ra!

Phật đạo cũng như thế! Nếu hiểu đúng hai chữ ngã và vô ngã, các bạn đã thâm nhập cảnh giới vô ngã từ lâu rồi, đâu nhất thiết phải đợi đến hôm nay!

Một khi, dù đã rất cố gắng mà ta không thể nhập được, xin hãy coi lại hiểu biết của mình đã thật sự đúng hay chưa! ... Giống như một cung thủ, miệt mài nhắm bắn, mà không có phát nào trúng mục tiêu, thì phải xem lại, mục tiêu mà ta định bắn có phải là cái mà ta đang thấy hay không!

Kết luận! Phật tuyên thuyết ngã hay vô ngã, không nhằm để chỉ đến cái tôi hay cái ta như mọi người đã hiểu mà, nhằm chỉ ra rằng: Anh không thể dùng thân tâm (ngũ ấm) hư vọng này, hay các quan niệm hư vọng kia để tu luyện, mong nó trở thành chỗ nương cậy vĩnh hằng!

✽Lời dạy này, cũng chính là cảnh báo, nhằm điều chỉnh những hiểu biết sai lầm về ngã hay thần ngã, xuất phát từ những định kiến sai lầm mà thế gian thường biết đến!

✽Có một điều rất khó là, khi người ta đã hiểu sai một điều gì đó, mà điều đó lại được số đông đồng tình, thậm chí cái sai trở thành văn hoá.

Sự hiểu sai này rất khó sửa chữa! Khi đó, cái đúng chẳng những không được chấp nhận, đôi lúc còn bị cái sai chỉ trích, thậm chí ném gạch đá lung tung!

(28-07-2019)

Nguồn: LÝ TƯ; CHUYỆN TRÊN MÂY Tập 1 (trích Bài 72); NXB Hà Nội 2020


 

[[1]] Thất chủng mạn gồm: Mạn (nói sai với cái mình có) là căn bản (gốc rễ) phát sinh sáu thứ mạn kia; quá mạn (nói quá cái mình có), mạn quá mạn (người khác hơn mình mà nói mình hơn người); tăng thượng mạn (chưa chứng mà nói mình chứng); ti liệt mạn (nói kém hơn cái mình có, tự ti, thấy mình kém, thua mọi người); ngã mạn (thấy mình là cao nhất, hay nhất, không ai bằng mình); tà mạn (mang trong lòng những quan niệm, chủ trương  không chân chánh, phi lý)!

Tác Phẩm Lý Tứ

Hai Anh Quảng Nôm Bàn Về Tánh Không

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Cả tuần ni không gặp mi, ở nhà tau nghiền ngẫm mấy cuốn sách nói về “tánh không”. Thú thiệt với mi, dù cố gắng hết sức, tau cũng không thể lãnh hội ý nghĩa của tánh không, thậm chí nếu cố áp đặt rằng mình hiểu một chút gì đó về cái tánh quỷ quái ni, thì cũng như cố hiểu về ông kẹ! Mi có thể cắt nghĩa tánh không là thứ tánh chi hay không, triết lí của nó ra răng?

Đáp: Răng mi không hỏi những vị nói về cái nớ! ... Mi thấy hồi mới quen tới chừ, có khi mô tau đề cập đến “tánh không” mô mà mi biểu tau cắt nghĩa. Nói khác hơn, tau chỉ có bổn phận giải thích những gì mình nói, vì tau có trách nhiệm về những gì mình nói ra, còn người khác nói, biết họ nói với ý chi, biết họ nói đúng hay sai mô mà a đầu vô cắt nghĩa! Họ nói đúng, mình cắt nghĩa, giải thích còn chấp nhận được! Lỡ họ nói sai, mình cũng làm tài khôn, nhảy vô bàn luận, giải thích, cắt nghĩa, v.v... có phải đi làm trò cười cho người hiểu biết hay không? ... Thành ra, cái người ta nói, mình biết rõ điều nó là đúng, may ra tham gia chút chút, còn cái chi mình còn mơ hồ, thì thôi im cái miệng là khôn ngoan nhứt! ... Mi có đồng ý với tau điều ni không?

Hỏi: Đồng ý! Hoàn toàn đồng ý cả hai chưn (chân) hai tay! ... Nhưng có hồi mô mi nghe nói đến hai chữ tánh không hay chưa?

Đáp: Có! ... Có nhiều! ... Đầy lỗ tai! Nhưng bản thân tau, không đồng ý với quan điểm cho rằng “tánh của các pháp là không” hoặc “các pháp tánh không”!

Hỏi: Răng mi không đồng ý! Không đồng ý chỗ mô!

Đáp: Theo tau biết, các pháp không tánh, chớ không phải tánh không! ... Nếu bảo rằng các pháp có một thứ tánh hay tính chất của nó là không, thì pháp ni không thể thay đổi, bởi cái chi có tánh thì cái đó là thường. Mà Phật dạy: “Hết thảy các pháp hữu vi, đều vô thường biến hoại”, như rứa ai bảo rằng, các pháp có tánh, cho dù đó là tánh không hay tánh có, lời ni ngược với lời Phật!

Hỏi: Mi có thể cắt nghĩa cụ thể hay không?

Đáp: Pháp là đối tượng của ý căn, tức pháp là các thứ “nghĩ suy, quan niệm, nhận thức, v.v...”  Mà, nghĩ suy, quan niệm, nhận thức, v.v...  tự nó không có tánh. Như thế nào là không tánh? ... Ví dụ: ֎Khi nghĩ về nóng, cái suy nghĩ ni nó không có tánh nóng. Nếu nghĩ suy có tánh nóng, trời lạnh chỉ cần nghĩ đến nóng sẽ hết lạnh và sẽ không phải mặc áo len! ... ֎Hoặc giả,  khởi lên quan niệm giờ này tôi no, nếu quan niệm của mi có tánh no, thì lúc đói mi không cần ăn, chỉ cần khởi quan niệm no là sống thoải mái, sống dai nhách, sống bền vững, không phải đi làm chi cho mệt! ... ֎Khi nhận thức con trâu ni bự, con gà nớ nhỏ. Hai nhận thức về trâu và về gà trong cái đầu của mi không có tánh (hay tướng) lớn nhỏ. Nếu mi nhận thức con trâu nó lớn, mà nhận thức đó lớn như con trâu thiệt ở ngoài, thì cái đầu mi bể từ khuya rồi, mô còn đến bữa ni mà đi uống cà phê với con nhỏ mắm ruốc ni!

Tau đưa ra ba ví dụ về ba loại pháp nêu trên, để cho mi thấy rằng “các pháp không tánh”. Tức trong nhận thức, nghĩ suy, quan niệm, v.v... tự nó không hề có tánh!

✽Từ những ví dụ trên, mi có thể hiểu ra các pháp chẳng những không có tánh, mà nó cũng không có tướng, cho nên Phật dạy: “Các pháp tự nó bình đẳng!” Tức trong suy nghĩ tự nó không có tánh trâu hay tánh gà, cũng không có tướng trâu tướng gà, vì không có tánh tướng như rứa, nên hai nghĩ suy (trâu, gà) bình đẳng!

✽Còn về thế giới, theo tau biết, thế giới cũng không tánh chớ không phải tánh không! Ví dụ như, trên trái đất ni, vì không tánh nên khi đủ duyên mi cất nhà, hết duyên cái nhà thành đống gạch vụn. Nếu thế giới tánh không, thì chẳng thể làm nhà, đào ao, hay làm thứ chi được hết, vì tánh chất nó là không. Đã là không thì, có làm cái chi cũng thành không, bởi bản chất nó như rứa mà!

✽Về hữu tình, tau cũng biết rằng, hữu tình cũng không tánh. Do không tánh, nên khi mê, hữu tình đó là chúng sinh. Hết mê, hữu tình đó là thánh! Nếu hữu tình tánh không, tức tính chất nó là không, thì không thể có người trí kẻ ngu, không thể có kẻ mê người ngộ, nói chung không thể giáo dục, tu hành chi ráo nạo! Tau nói những điều như rứa, mi có hiểu tau nói chi không?

Hỏi: Sau khi nghe mi nói, tau hiểu! ... Đúng là các pháp không tánh chớ không phải tánh không! ... Nhưng tau vẫn thắc mắc, rứa tại răng xưa ni, người ta luôn giảng nói và luận giải về tánh không? Không lẽ họ hiểu sai?

Đáp: Họ hiểu sai hay đúng, tau không dám kết luận, muốn rõ ràng hơn mi đi hỏi họ, tau chỉ biết như rứa!

Hỏi: Theo mi, giữa hai nghĩa tánh không và không tánh, nghĩa mô ưu việt hơn?

Đáp: Theo nhận định chủ quan của tau, khi thấu suốt thật nghĩa “vạn pháp không tánh”, nghĩa ni rất thực tế, dễ ứng dụng tu tập. Vì rằng, vì khi biết rõ các quan niệm, nghĩ suy, nhận thức, căn thân, thế giới, v.v...  đều không có tánh, người tu hành sẽ không mê mấy thứ đó. Người trí, biết nó không tánh, không tướng thì mê mà làm chi? ... Mà đạo Phật, dứt mê là cơ sở quan trọng đầu tiên đưa người đến giác ngộ, thành ra pháp mô giúp người mau chóng dứt mê, mau chóng giác ngộ, pháp nớ theo tau là ưu việt nhứt! Là number one!

Hỏi: Nhưng tau nghe thiên hạ đồn, Bồ Tát Long Thọ giảng như rứa mà?

Đáp: Bồ Tát Long Thọ giảng như rứa, hay mấy anh sau này hiểu như rứa...! ... Giống như anh mũi lõ nói Ô Kê, anh mũi tẹt hiểu thành Kê Ô. ... Từ chữ OK là tốt, chấp thuận, chấp nhận, đồng ý... biến thành Kê Ô là con gà đen, chuyện ni xảy ra cũng có lạ chi mô!

Tau cũng biết một số người, hể gặp nhau là họ bàn luận tánh không, thậm chí còn giảng nói triết lí tánh không gì gì đó! ... Nhưng, theo nhận xét của tau, mấy anh ni gặp nhau triết lí chưa xong, anh mô cũng ôm cục giận đi về, chẳng anh mô giải quyết thỏa đáng cho anh mô! ... Có một sự lạ là, bàn đến chuyện ni là mấy ảnh giận nhau, nhưng ngày mô mấy ảnh cũng gặp cũng bàn! ... Mi thấy cái “triết lí tánh không” chi chi đó, nó có lạ không rứa! ... Tau khuyên mi!  Triết lí “tánh không chi chi” đó, cao siêu quá, biết mình không đủ sức lãnh hội mà cố học, cố tư duy, có ngày đi Biên Hoà như chơi! ... Hai chữ “không tánh” tuy xấu xấu một chút, nhưng dễ hiểu, dễ giác ngộ, dễ xài! ... Mi cứ xài đi, không giác ngộ thì cũng hết mê, khỏi tốn tiền thuốc!

Nguồn: LÝ TỨ; CHUYỆN TRÊN MÂY Tập 1 (trích Bài 65); NXB Hà Nội 2020

Tác Phẩm Lý Tứ

Hai Anh Quảng Nôm Luận Về Buông Xả

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Một trong những yếu tố quan trọng, đưa đến chuyện thành bại trong việc tu học, đó là: Người tu hành phải biết “buông xả”! ... Tau hỏi mi! Tại răng, tau cùng bao nhiêu người tu tập trong Phật đạo, đã thực hành việc buông xả, mà vẫn không hết phiền não, kiết sử, lậu hoặc! ... Nói chung, mọi người vẫn nói rằng mình đã buông xả, nhưng trong lòng họ, theo nhận xét chủ quan của tau, họ vẫn còn vướng mắc nhiều thứ?

Đáp: Phật đạo mô dạy người buông xả? ... Theo tau biết, Phật đạo chỉ dạy người “xả pháp” (phép xả), chứ không dạy người “buông xả”! Người tu hành, thành tựu “xả pháp”, sẽ thành tựu một trong bốn tâm vô lượng, là “từ tâm, bi tâm, hỉ tâm và xả tâm”!

Hỏi: Mi có thể cắt nghĩa cho tau hiểu, sự khác biệt giữa pháp xả của Phật đạo, và quan niệm buông xả của người đời?

Đáp: Bàn đến việc ni, là bàn đến một trong những nhận thức cốt lõi của Phật đạo! Tau vẫn thường nghe mọi người bàn luận chuyện buông xả, nhưng nhận thấy rất khó góp ý! ... Tại răng? Bởi vì hai chữ buông xả, giống như chữ tu, những chữ ni đã hằn sâu vào tâm thức người tu hành đến độ gần như trở thành định kiến, nên họ rất khó chấp nhận ý kiến trái chiều, cũng như khó sửa chữa! ... Nó giống như một đoàn người, lũ lượt kéo nhau đi về một hướng, tất nhiên số đông đã cho họ niềm tin về con đường mình đang đi!

Nếu có một ai đó bảo rằng! ... Hãy đi ngược lại, con đường mà quý vị đang đi không có kết quả tốt! ... Phản ứng tự nhiên của đoàn người là, ném gạch đá vào phát ngôn của người kia!

Chính thái độ thiếu bình tĩnh, chính thói quen nghe mà không suy nghĩ, chính tính cách tư duy theo lối mòn, chính sự dễ dãi khi tiếp nhận thông tin, v.v... đã làm cho phần lớn người tu hành chỉ biết nghe, nghe rồi thực hành mà không tự phản biện hay kiểm chứng thông tin, cũng như không nghiêm túc đánh giá thành tựu bản thân! ... Vì thế, hệ quả của nó là, công sức bỏ ra rất nhiều, nhưng thành tựu thì không đáng kể!

Nếu mi dám nghe điều tau nói, bình tĩnh nhận định sự việc, dám từ bỏ những hiểu biết mà mình đã tôn thờ, tau sẽ phân tích cho mi nghe!

Hỏi: Từ hồi gặp lại nhau đến chừ, qua thời gian dài tiếp xúc, đã cho phép tau tin mi! Nhờ tin mi, nhờ hiểu rõ cái gì mới là lợi ích thiết thực trong việc tu hành! Giờ đây, tau cảm thấy mình sáng ra nhiều điều, nhờ sáng ra nhiều điều, trong lòng tau đã nhẹ nhõm hơn! Mi cứ nói đi! Tau đang tập trung nghe đây!

Đáp: Tau nói đây! ... Chữ xả là phép tu đưa đến cứu cánh thành tựu “ba học pháp vô lậu” của đạo xuất thế! ... Còn chữ buông xả là phép thực hành thuộc về đạo thế gian! Hay nói cho dễ hiểu hơn, để đưa đến đạo quả xuất thế, người tu hành tu tập xả pháp, chứ không tu tập buông xả! ... Tại răng nó lại như rứa?

Mi phải biết rằng, mỗi từ ngữ trong Phật đạo đều hàm chứa trong nó thật nghĩa, gọi là đệ nhất nghĩa! Đệ nhất nghĩa chính là nghĩa tối ưu, khi phát ra tự nó như con dao bén, cắt đứt mọi nhân duyên ràng buộc của thế pháp! ... Nói khác hơn, mỗi một từ của Phật pháp đều chứa trong nó cảnh giới tự chứng, từ ngữ ni như thuốc chữa bịnh, uống vào sẽ giúp người giảm thiểu các thứ bệnh thuộc về tâm! ... Nếu phân tích từ ngữ, ta sẽ thấy rằng:

✽Buông xả: Là hành động vứt bỏ, bỏ xuống cái gì đó hoặc điều gì đó sau khi ta đã nắm giữ trên cơ thể hoặc trong tâm thức!

✽Xả: Là thuật ngữ chuyên môn của Phật đạo, nhằm cảnh báo để người tu hành biết rằng: Không nên nắm giữ bất kì một nhận thức nào, không nên cầm giữ một niệm tưởng cho dù đó là niệm tưởng tốt hay xấu trong tâm thức!

Hỏi: Mi có thể phân tích sâu hơn được không?

Đáp: Mi biết đó, chúng sinh niệm niệm sinh diệt không ngừng, niệm ni vừa sinh tức khắc nó tự diệt, để niệm khác sinh khởi, Phật đạo gọi đó là: “Niệm niệm sinh diệt, vô thường”! Có nghĩa rằng, cái (niệm) mi cho là hiện tại, khi cái biết nhận ra trong hiện tại, niệm đó đã trở thành quá khứ, gọi là hiện tại không dừng! ... Điều ni giống như trên một dòng nước chảy, mi lấy một cái cây, đâm chiếc lá đang trôi, khi cái cây đến vị trí chiếc lá mi đã xác định, chiếc lá thực chất đã không còn ở đó nữa, mà nó đã trôi khỏi vị trí mi đã nhắm!

✽Tâm thức con người ta cũng như rứa, giống như chiếc lá trôi theo dòng nước, không cố định, không ở yên một chỗ, vừa tưởng như hiện tại, niệm ni đã trở thành quá khứ! ... ✽Quá khứ của tâm thức không thể đem về hiện tại, cho dù chỉ quá khứ của một sát na trước đó! ... ✽Nếu cố nhớ lại, cố đem cái quá khứ về hiện tại, thì quá khứ đó cũng không còn, mà thực chất: “Cái được gọi là quá khứ, chỉ là một niệm mê của hiện tại, khi giật mình biết hiện tại mình đang mê thì, hiện tại ni lại trở thành quá khứ”! ... Mi có thể hiểu đạo lí ni không?

Cho nên, Phật dạy phép xả, tức là ngay nơi hiện tại ni, không thủ giữ, không để cho tâm thức cầm nắm bất kì một pháp nào hay một niệm nào! ... Vì rằng, một khi tâm thức đã cầm nắm một điều gì đó, khi ta quyết định buông nó, thì nó có còn ở hiện tại đâu mà buông? Hiện tại chỉ là niệm mê nhớ về quá khứ, chứ thực chất “quá khứ có còn đâu mà đòi buông với xả”!!

Điều ni, giống như sáng ra người ta nhớ về giấc mơ trong đêm! Giấc mơ trong đêm chỉ là “sự tưởng nhớ” về quá khứ của niệm mê hiện tại! Vì thế, tu tập phép xả là: “Trong hiện tại ni, không để tâm thức nắm giữ cái được gọi là hiện tại, cũng không để tâm thức gợi nhớ cái được cho là quá khứ, cũng không đem tâm thức vọng tưởng về cái chưa đến là vị lai”!

Thực hành điều ni, kinh gọi là “Tam tâm bất khả đắc”! ... Câu ni có nghĩa rằng, không đem tâm quá khứ về hiện tại, vì quá khứ đã qua rồi, gọi là quá khứ như mộng! ... Không đem tâm nhớ nghĩ đến vị lai, vì vị lai chưa đến, gọi là vị lai như huyễn! ... Không cầm nắm hiện tại, vì hiện tại chẳng dừng, gọi là hiện tại như ảnh (chỉ là bóng dáng của tâm thức, bóng dáng tiền trần)!

Nói tóm lại, tu tập trong Phật đạo là xả chứ không phải buông xả! Một khi tâm thức đã nắm giữ điều chi đó, hành động nắm giữ ni đã thuộc về quá khứ tâm, mà quá khứ tâm như giấc mơ đã qua rồi, nếu có còn trong hiện tại chăng, đó chỉ là niệm mê trong hiện tại, mà hiện tại thì chẳng thể buông cái mà mình đã nắm trong quá khứ! Cho nên, muốn hết mê, muốn tìm về với đạo xuất thế! Ở hiện tại ni, chỉ nên không nắm giữ bất kì pháp mô hay niệm mô gọi là xả, chớ không phải nắm nó để rồi buông! ... Mi có hiểu không?

Vì thế trong kinh Lăng Già, Đại Bồ Tát Đại Huệ có đoạn xưng tán Phật như sau:

“Quán mâu ni tịch tĩnh

Thế là xa lìa sanh

Ấy gọi là chẳng thủ (Và cũng không có thọ, tuỳ bản dịch)

Đời nầy đời sau tịnh!”

Nội dung bài kệ như sau:

Quán mâu ni tịch tĩnh: Nếu người tu hành quán sát để thấy được rằng, tâm thức ni xưa nay tự nó vắng lặng, tịch tĩnh, bất động [Không khác chi tâm thức của chư Phật]

Thế là xa lìa sanh: Thế là [vị ấy] đã ra khỏi mọi mê muội sanh diệt [của tâm và thức]

Ấy gọi là chẳng thủ [hay: Và cũng không có thọ]: Câu ni có nghĩa rằng “Hành động ấy, chính là không thọ nhận, hay thủ giữ bất kì một pháp, một niệm nào trong hiện tại” [Đây chính là phép xả của Phật đạo]

Đời này đời sau tịnh: Từ đây cho đến vĩnh viễn tận cùng đời vị lai sẽ không còn phiền não, tham sân, lậu hoặc!

Nếu để ý kĩ, mi nhận ra bài kệ không nói “cả ba thời đều tịnh”, mà chỉ nói “đời này đời sau tịnh”! ... Cái tuyệt vời, cái thâm u, cái đệ nhất nghĩa, cái tuyệt cú trong văn tự Phật pháp là ở chỗ ni! ... Từ bây giờ trở về sau tịnh, chứ quá khứ đã qua rồi, không luận đến tịnh hay bất tịnh! ... Lời ni cũng có nghĩa rằng, hiện tại tịnh thì, ba thời đều tịnh!

Chính vì nghĩa ni mà, kẻ giết cả ngàn người như Ương Quật Ma La, niệm trước là ác niệm của kẻ sát nhân, chỉ cần trong hiện tại (lúc đó, lúc ấy) [gặp Phật, gặp cái Mâu Ni của bản tâm] khi nghe đến câu: “Ta dừng, còn ngươi chưa dừng” hoát nhiên tâm thức rốt ráo xả, thành tựu xả pháp, chứng vô sanh!

Tau hỏi mi! ... Nếu cứ bắt Ương Quật Ma La mê muội buông xả cái tâm giết người đã nắm trong quá khứ, chừng mô Ương Quật Ma La mới buông hết đây, “khi hiện tại nhất quyết nắm giữ nó để mà buông?” Cái sâu thẳm, cái tuyệt vời, cái chính xác đến từng câu từng chữ của Phật đạo, người đời không dễ lãnh hội!

Tóm lại, buông xả là quan niệm thế gian! ... Xả, là pháp môn cốt lõi của đạo xuất thế! ... Mỗi ngữ nghĩa của Phật đạo đều là một pháp môn xuất thế, nằm trong vô lượng pháp môn! ... Hiểu không đúng, hiểu sai, giống như người dùng thuốc nhầm lẫn giữa “sanh địa và thục địa,”[1] nhẫm lẫn tai hại ni, sẽ không thể hết bịnh!

Hỏi: Cảm ơn mi! Nghe những điều mi trình bày, tau không lấy tri thức đã học suy lường về điều mi nói, mà tau đem tâm thực hiện theo từng câu, từng chữ điều mình vừa nghe! ... Không ngờ, kết quả tuyệt vời! ... Văn tự của mi, như nước chảy vào tâm, ý nghĩa của nó như thuốc trị bịnh tâm! ... Câu chuyện vừa xong, trong hiện tại ni, tau không cầm giữ bất kì pháp nào, kể cả lời mi nói!

Tau như người đặt gánh nặng xuống! ... Đúng! ... Xả pháp là như thế! ... Xuất thế là như thế! ... Không nắm giữ gọi là xả chớ không phải đem vào tâm rồi sau đó buông xả ra! ... Sai một li đi một dặm! ... Mỗi lời Phật là một cảnh giới! ... Bây chừ tau hiểu ra cái câu: “Ngữ ấy tức nghĩa ấy”! ... Mi không dạy tau phép Tam Ma Đề mà tau thành tựu phép ni! ... Mi không dạy tu Xa Ma Tha, mà tau thấu suốt Xa Ma Tha (xuất thế gian định) là gì! ... Mi chính là Thầy của tau! ... Nếu không phải là quán cà phê, tau phải lạy mi cả ngàn cái để đền đáp cái ơn khai trí!

LM! [2] ... Sư Huynh ơi! Nghe những điều Sư Huynh nói! Muội không đủ lời lẽ để diễn đạt tâm mình! Nhưng, quan niệm thế gian cũng như xuất thế, đã rơi rụng trong lòng muội! Bây giờ muội mới hiểu, thế nào là nghe pháp bằng tâm và hiểu pháp bằng tâm! Muội cũng xin thầm lạy tạ công ơn Sư Huynh trong lòng!

Đáp: Rứa đó! Rứa đó! ... Đạo pháp là rứa đó! ... Xả pháp là rứa đó! ... Bây chừ, hai đứa bay hiểu ra câu: “Đạo pháp siêu quá quan niệm tu cùng không tu của thế gian hay không”? ... Tu là rứa đó! ... Chứng là rứa đó! ... Không thấy tu mà tu! ... Không thấy chứng cái chi hết, mà chứng nhập cảnh giới xuất thế! ... Mần được như rứa mới đích thị tu học trong Phật đạo!

Thôi! ... Hai đứa về nghiền ngẫm những điều đã nghe bữa ni! ... Đừng chạy theo văn tự, đừng cắt nghĩa lung tung, cái tâm lại loạn động trở lại! ... Lờn thuốc! Rất khó chữa lần hai! ... Hai đứa có hiểu không?

 

Nguồn: LÝ TỨ; CHUYỆN TRÊN MÂY Tập 1 (trích Bài 69); NXB Hà Nội 2020

 


 

[[1]] Sanh địa và thục địa là hai vị trong thuốc Bắc, tuy tên có giống, nhưng công dụng khác nhau]

[[2]] LM: Lã Muội (FB Lã Thị Hạ Đế)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thiền Tịnh Song Tu

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Hai pháp môn thiền và tịnh có tu chung được không? Và chủ trương thiền tịnh song tu có phải do Phật dạy hay không?

Đáp: Thiền tịnh song tu, hay thiền tịnh mật tam tu, v.v… Ở đây, chỉ nêu lên chủ trương của thiền và tịnh (về mặt lí thuyết)! ... Sau khi hiểu rõ chủ trương, chắc chắn bạn sẽ tự trả lời cho bản thân thắc mắc trên!

Về lí thuyết, THIỀN và TỊNH chủ trương như sau:

●Mục đích: Thiền chủ trương vô sanh! ... Tịnh chủ trương vãng sanh!

●Chỉ thú: Thiền chủ trương vô niệm! ... Tịnh chủ trương hữu niệm (niệm Phật)!

●Cảnh giới: Thiền chủ trương vô trú xứ! ... Tịnh chủ trương lấy Cực Lạc làm trú xứ!

●Quả chứng: Thiền chủ trương tu chứng hiện tiền! ... Tịnh chủ trương sau khi mạng chung mới có kết quả!

●Tâm: Thiền chủ trương vô tâm! ... Tịnh chủ trương nhất tâm!

●Tướng: Thiền chủ trương vô tướng (thiệt tướng)! ... Tịnh chủ trương Cực Lạc ở tây phương là cõi nước có đầy đủ hảo tướng!

●Học pháp: Thiền chủ trương hiện đời hoàn thành 37 phẩm trợ đạo! ... Tịnh chủ trương hiện đời chỉ giải quyết 12 phẩm tư lương vị, các phẩm còn lại sẽ được tu tập sau khi vãng sanh (vì thế, ở Cực Lạc mới phát ra các âm thanh ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi và bát thánh đạo phần mà không đề cập đến các phẩm tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc)!

●Lực: Thiền chủ trương tự lực! ... Tịnh chủ trương tha lực!

●Dụng: Thiền chủ trương giải ngộ! ... Tịnh chủ trương tín nguyện hạnh!

Nhìn chung, về mặt lí thuyết giữa thiền và tịnh có rất nhiều khác biệt về chủ trương! ... Tuy chủ trương khác biệt là như thế, nhưng trong thực tế lại cũng có những người vừa tu thiền vừa tu tịnh… Thậm chí thiền tịnh mật tam tu (tức lúc tu thiền, lúc niệm Phật, lúc trì chú!) ... Vì sao lại xảy ra thực tế này...! ... đối với không ít người tu hành...? ... Riêng câu hỏi, “thiền tịnh song tu có phải do Phật dạy hay không?” thì mình không thấy kinh điển đề cập đến! ... Tuy nhiên việc kết hợp thiền tịnh được ngài Vĩnh Minh thiền sư đời đầu nhà Tống (904-975) nói trong bài kệ Tứ Liệu Giản (Bốn phép độ người)!             (22/10/2020)

Nguồn: LÝ TỨ; CHUYỆN CHI ĐÂY Tập 1 (trích Bài 55); NXB Hà Nội 2021

Tác Phẩm Lý Tứ

Sự Khác Biệt Giữa Thiền Của Phật Giáo Và Các Loại Thiền Khác

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Các bạn !!!

Thói quen dậy sớm không biết đã hình thành trong con người mình từ khi nào !!! Mấy chục năm qua, cho dù ngủ muộn (sau 00 giờ) hay ngủ sớm (trước 23 giờ) mình vẫn thức giấc vào lúc 2 hay 3 giờ sáng !!!

Hôm nào mệt quá, có nằm ráng thêm vài tiếng đồng hồ cũng chỉ “nhắm mắt để đó cho vui” với thiên hạ !!! Thói quen sau khi thức giấc cũng “xưa như trái đất”, đó là châm một bình trà, chế một li cà phê... Nhâm nhi và đọc hay viết điều gì đó !!!

Sáng nay thức dậy lúc 2 giờ 30, lướt nhanh xem tình hình dịch bệnh, đọc emails, tin nhắn của HĐ… Và mở máy để viết !!! Thế nhưng, cái đầu không chịu làm việc, nó cứ trống không như một cái thùng rỗng !!! Cho dù cố hết sức huy động trí não !!! Cho dù cố hết sức huy động kinh nghiệm viết lách…v..v… thì, cái đầu vẫn cứ trơ trơ như bị tảng đá cản đường, không nhích lên được chút nào !!!

Chán quá, quay qua đọc sách, rồi lang thang trên mạng mong tìm thấy một đương cơ nào đó có thể giúp cái đầu làm việc trở lại, nhưng rồi mọi thứ “Vũ Như Cẩn” !!! Mình lại suy nghĩ !!! Ô hay, hôm nay cái đầu làm sao thế nhỉ ??? Rồi mình nghiệm ra, hình như từ đầu mùa dịch đến nay, chả viết được một bài nào ra hồn !!!

Vì sao lại có cớ sự này ??? Thì ra, trong tâm trạng chung của cơn đại dịch !!! Thì ra, trong cái âu lo của mọi người khi phải đối phó với chuyện “tai trời ách nước” !!! Thì ra, những bản tin nhanh về tình hình dịch bệnh !!! Thì ra, trong cái nổi niềm chung của đất nước hôm nay…v..v… Bản thân mình cũng chẳng còn hứng thú gì khi múa may con chữ !!! Cứ như vậy, đầu óc lại tiếp tục rỗng không !!!

Ghé qua trang nhà, đọc được bài viết cũ nói về thiền, thấy hay hay, bèn copy và đăng lại như một món quà tinh thần của sáng hôm nay gởi đến mọi người !!!

Cầu mong đại dịch sớm qua, để mình cùng mọi người khơi dậy hứng thú trong lao động và viết lách !!!

Chúc mọi người một ngày mới bình yên !!!

23/07/2021

LÝ TỨ

1) Thiền là gì ???

Từ xưa đến nay, có rất nhiều định nghĩa về thiền hay thiền định là gì… Tuy nhiên, để có một định nghĩa gần gũi, thực tế và cụ thể nhất về thiền hay thiền định, ta có thể tóm tắt như sau: Thiền hay thiền định là một biện pháp, một hành động, một cách xử lí..v..v.. nào đó, nhằm giúp người tu thiền vượt qua những trở ngại thường tình của bản thân (gồm thân, tâm và trí) nhằm tìm đến một cứu cánh nào đó mà ở trong thường tình con người không thể vượt qua cũng như không thể tìm được cứu cánh đó !!!

Giống như mọi người đều biết, ở các tầng sâu trong trái đất có những khoáng vật vô giá… Muốn sở hữu những khoáng vật này, bằng cách nào đó, người ta phải đào bới, xuyên thủng một số lớp đất đá nhất định thì mới có thể tìm thấy và sở hữu vật mình cần sở hữu…!!!

Thân, tâm, trí thường tình của một con người chính là các lớp đất đá phía trên ngăn cản, không cho người ta thấy cái siêu việt cần thấy… Tu thiền hay thiền định chính là công việc đào bới, xuyên thủng các lớp ngăn che bằng các loại công cụ đặc biệt để tìm thấy cái mình cần tìm thấy… Các loại công cụ đặc biệt này là các tầng bậc của thiền và định !!! Cũng từ những hiểu biết vừa có giá trị, vừa mơ hồ nêu trên… Từ đây, các trường phái, các phương pháp, các loại hình thiền định ra đời !!!

2) Định hướng !!!

– Như những gì đã nêu ở trên, việc người ta biết chắc phía dưới số lớp đất đá phủ trên bề mặt trái đất có nhiều khoáng vật là chuyện hiển nhiên !!!

– Nhưng, không phải bất kì nơi nào ở phía dưới các lớp đất đá ấy cũng chứa khoáng vật giá trị, đây cũng là điều hiển nhiên !!!

– Và, đối với mỗi lớp đất đá thuộc mỗi địa tầng có độ cứng mềm khác nhau, muốn đào bới, xuyên thủng những lớp khác nhau ấy, cần có những công cụ phù hợp cũng là chuyện hiển nhiên !!!

– Và cuối cùng, làm thế nào để có thể xác định được vị trí mà ta đào bới là vị trí mà phía bên dưới ấy nhất định có chứa khoáng vật, đây cũng là kiến thức chuyên môn mà hiển nhiên người đào bới cần phải biết rõ, nắm chắc !!!

Thế nhưng, không hiếm người có thể do thiếu hiểu biết, do nhẹ dạ cả tin, do nôn nóng, do văn hoá đám đông, do thiếu sự hướng dẫn cần thiết về công tác định vị cũng như kĩ thuật từ các nhà chuyên môn… Sau khi nghe nói phía dưới đất đá là khoáng vật, chỉ cần học sơ sài, chỉ cần nghe loáng thoáng, chỉ cần đọc vài tư liệu thô thiển…v..v… đã vội “xách cuốc chim” hì hục đêm ngày đào bới !!! Và kết quả sau cùng là gì, chắc không cần phải bàn !!!

Lại có những người, cho dù được hướng dẫn cụ thể các bước đào bới từ những công cụ phù hợp, nhưng chỉ vì người đào không đủ năng lực, hay do người hướng dẫn không đủ năng lực… dẫn đến việc không biết cách xác định vị trí đào bới, do đó đào hết lớp này đến lớp khác mà vẫn không tìm thấy khoáng vật, hoặc đã tìm thấy nhưng đó là thứ không có giá trị, hay nhận lầm giá trị vật cần tìm (tạp vật tưởng là vàng)…v..v… !!!

Vì thế, để có thể tìm thấy khoáng vật hay tìm thấy cứu cánh từ thiền định, một số yêu cầu bắt buộc thuộc về chuyên môn kĩ thuật mà người tu thiền nhất định phải học tập là rất quan trọng, nếu không muốn trở thành người làm việc vô ích !!!

3) Sự khác biệt giữa thiền của Phật giáo và các loại thiền khác !!!

Như những gì đã nói ở trên, tu thiền chính là đào bới lớp vỏ thân, tâm, và trí để vượt qua những thường tình của nhân sinh, hầu tìm thấy một cứu cánh nào đó sau sự che lấp của những nhìn nhận thường tình ấy !!!

Và, như thế nào là cái không thường tình ẩn khuất sau những nhìn nhận thường tình là các giá trị mà mỗi trường phái thiền có một quan điểm khác nhau, do đó cứu cánh họ tìm kiếm cũng rất khác nhau !!!

Chính sự không cùng chung quan điểm này, hay nhận lầm quan điểm này thành quan điểm kia do không hiểu biết tường tận từng quan điểm riêng của mỗi trường phái, từ đây dẫn đến việc tu theo cách của trường phái này nhưng lại hy vọng thành tựu cứu cánh của trường phái kia..v..v… đây là chuyện không khó bắt gặp trong đời !!!

Với Phật đạo, cái được gọi là thiền, thiền định, hay tu thiền chẳng phải là việc gì ghê gớm, cũng chẳng phải là thứ được chủ trương thông qua một thiền phái nào đó, hoặc công phu vận luyện, hay bức tử, cột chặc tâm ý thức từ một sở pháp…v..v… Mà thiền hay thiền tư của Phật đạo chỉ là một phần việc trong chuỗi phần việc của ba pháp “văn, tư, tu”… Nói khác hơn, thiền hay thiền tư trong Phật đạo chính là quá trình tìm nơi thanh vắng để tư duy (tư) một vấn đề của đạo pháp sau khi hành giả tiếp nhận kiến thức chân chánh từ người hướng dẫn (văn) !!!

Đây là lí do vì sao, sau khi thuyết một thời pháp, Phật thường hay nói với đại chúng đại ý như sau: “Này các ông !!! Đây là khu rừng, kia là gốc cây, đó là ngôi miếu hoang, đằng xa là ngôi nhà trống…v..v… Các ông hãy đến đó mà “thiền tư”… (trong thanh vắng, lặng lẽ mà tư duy những điều Phật vừa dạy) !!!

Trong quá trình tư duy (thiền tư), hành giả nhận ra các chỉ thú cốt lõi từ lời dạy, do giác ngộ chỉ thú cốt lõi từ lời dạy, nên thân; tâm; trí không còn bị cột buộc bởi các quan niệm thường tình… Nhờ đó thân; tâm; trí trở nên hoan hỉ, nhẹ nhàng, sáng suốt, nhất tâm, định tĩnh… Các thiền chi vừa nêu hiện khởi không khác gì các thiền chi người chuyên tâm tu thiền (từ các trướng phái khác) đạt được, nên Phật đạo gọi những vị ấy là “được thiền” (đắc thiền) !!! Đây là lí do vì sao, người tu hành trong Phật đạo không chuyên tâm tu thiền mà vẫn được thiền !!!

Khác hơn, thiền của Phật đạo do giác ngộ mà thành chứ không phải do chuyên tâm tu thiền mà thành !!! Sự khác biệt từ cách tu thiền và được thiền của Phật đạo chính là sự hoá kiếp từ sữa đến lạc, thành tô (gồm sanh tô và thục tô) và cuối cùng là đề hồ… !!!

– Sữa: Giáo pháp chân chánh…

– Lạc: Dùng thiền tư để chánh tư duy giáo pháp…

– Tô: Gồm sanh tô là Niết bàn Nhị thừa; Thục tô là Niết bàn chân đế của Bồ tát…

– Đề hồ: Phật tánh, Phật trí !!!

Như vậy, chỉ từ một nguồn sữa giáo pháp (sữa), mà sau khi dùng chánh tư duy (thiền tư) để hoá kiếp, sửa ấy trở thành lạc (thiền vị, thiền chi), tô (Niết bàn, giải thoát) và đề hồ (Phật tánh, Phật trí) !!!

4) Kết luận !!!

Giống như học toán, cho dù học cả ngàn bài toán sai, người ấy cũng không thể biết được bài toán đúng !!! Ngược lại, chỉ cần giải được bài toán đúng, sẽ biết được tất cả các bài toán sai !!!

Phật pháp chính là phép giải toán đúng !!! Một bài toán được coi là giải đúng từ các phép giải của Phật pháp, nhất định kết quả của nó phải là “Niết bàn và Trí tuệ” !!!

– Niết bàn gồm chấm dứt khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc và giải thoát khỏi thế gian pháp… !!!

– Và, Trí tuệ gồm thấu suốt thiệt tướng các pháp và biết rõ các Tam muội môn cùng các Giải thoát môn của chư Phật… !!!

Các bạn !!!

Phía dưới mặt đất là khoáng vật vô giá !!! Tận cùng sâu thẳm của thân, tâm, trí chính là Niết bàn và Phật tánh !!! Thiền tư của Phật đạo chính là công việc đào bới xuyên thủng thân, tâm, trí nhằm giúp ba món này vượt qua những nhận thức thường tình của thế nhân… Để tìm đến cái siêu việt của đạo Giác ngộ bắt nguồn từ giáo pháp chân chánh (chân lí), hành động này gọi là “Thiền của Phật đạo” hay “Bất cộng phàm phu pháp” !!!

Mọi hành động đào bới lung tung, đào mà không có công cụ phù hợp cho mỗi địa tầng, đào mà không biết mình đào ở đâu và tìm kiếm cái gì…v..v… nói chung hành động mà không được dẫn khởi bởi chân lí… Nhất định, cái mà bạn bắt gặp sau thời gian dài đào bới mệt mỏi, chắc chắn không phải là “khoáng vật có giá trị thông qua nhãn quan chuyên môn của Phật đạo” !!!

– Phật đạo là đạo trí tuệ, cứu cánh của Phật đạo chính là trí tuệ !!! Thiền của Phật đạo là hành động của trí tuệ !!! Vì là hành động từ trí tuệ nên khi thành tựu, tâm trí sẽ sáng suốt, mỗi mỗi phân minh chứ chẳng phải sau khi tu hành, tâm trí hành giả giống cục đất, củ khoai hay con… cù… lần các bạn ạ !!!

– Tu thiền là phương thức tư duy theo phương châm “như lí tác ý” để sau đó trở thành bậc thấu suốt và thông tuệ như sự thấu suốt và thông tuệ của các bậc hiền trí xưa….Chứ chẳng phải hình thức vùi dập lí trí theo kiểu “phi lí tác ý” làm cho tâm trí mờ mịt, trở thành vô tri hay thiểu năng trí tuệ, thậm chí bất bình thường các bạn ạ !!!

Hy vọng, bài viết có thể giúp các bạn nhận định thiền của Phật đạo là gì… Nó khác với các loại thiền thế gian như thế nào… Và đi con đường nào mới có thể tìm thấy cứu cánh chắc thiệt của Phật đạo !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

LÝ TỨ

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tản Mạn Buổi Sáng Với Cái Đầu Trống Rỗng

Tác Phẩm Lý Tứ

Ý Nghĩa Từ Bi Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Hồi nãy, có đề cập đến hai chữ Từ Bi. Vậy hai chữ Từ Bi trong Phật Đạo có giống như sự thương xót ở đời hay không?

Đáp: Xin thưa hai chữ từ bi ấy hoàn toàn khác nhau.

Hỏi: Xin ông nói rõ chúng khác nhau như thế nào?

Đáp: Phật dạy: “Từ Bi của Nhị Thừa không lớn hơn cái thân, chỉ để tự cứu. Từ Bi của Bồ Tát rộng lớn, có thể cứu nhiều người nên gọi là Đại Từ Bi. Từ Bi của Chư Phật không có giới hạn nên gọi là Vô Lượng Từ Bi.” Trong ba thứ Từ Bi của ba kiểu này, không thấy nói đến người đời.

Hỏi: Nhưng ở đời cũng có người biết thương xót cho kẻ yếu thế, bệnh tật; nhiều người sẵn sàng giúp đỡ người khác, sao Phật không nói những người đó là Từ Bi?

Đáp: Từ Bi trong Phật Đạo nằm trong nghĩa giúp mình giúp người được Giác Ngộ, được Giải Thoát, và thành tựu Trí Tuệ. Chứ không nhằm giúp người ra khỏi đói nghèo hoặc bất hạnh như ở đời, nên hai chữ Từ Bi trong Phật Đạo có ý nghĩa riêng của nó.

Hỏi: Nếu còn thấy Từ Bi của “đời” khác “đạo” thì Phật Giáo tuyên bố ý nghĩa bình đẳng như thế nào?

Đáp: Chữ “bình đẳng” trong Phật Giáo nhằm nói: “ở phép đối đãi thường tình... với người thân, cư xử có tình với nhau và đối xử vô tình với người ngoại đạo, với những kẻ bị ghét bỏ...! ... Nhưng trong Phật Đạo, nếu chịu khó tu hành, mọi người đều được giáo hóa như nhau và đồng chứng đạo quả như nhau”... Vì thế người tu hành mới có lời nguyện:

“Hư không hữu tận, Ngã nguyện vô cùng,

Tình dữ vô tình, Ðồng viên chủng trí…” 

hoặc câu: 

“Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật Đạo”.

Hỏi: Bây giờ tôi mới cảm nhận một chút ý nghĩa của chữ “tình” và “vô tình” trong bài nguyện thường đọc.

Hai chữ tình và vô tình ngụ ý chỉ các thứ tâm thức sai biệt, mà lại hiểu thành hai loài hữu tình và vô tình. Thành ra cứ lý giải vòng vo hoài, thậm chí còn đem pháp tánh ra mà cắt nghĩa, thật là những lý giải thô thiển và gượng ép.

Đáp: Ông hãy thường xuyên đọc bài nguyện sau để thấm thía ý nghĩa bốn câu này:

“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa.”

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt (chân thật) nghĩa mà chỉ dùng sức hiểu ở đời để lý giải sẽ cho ra những nhầm lẫn tai hại khi tu tập trong Phật Đạo.

Hỏi: Nếu ngài nói như vậy, những thứ vô tri, vô giác  như cỏ, cây, ngói đá. có thể tu hành để đạt thành tựu điều gì đó không?

Đáp: Muốn biết điều này, ông thử về lấy một viên đá hay một khúc gỗ, rồi ngày ngày dạy nó. Xem coi, chừng nào nó biết chữ. Chứ đừng nói chuyện sâu xa là dạy nó tu hành để thành Phật! ... Vì thế, Ngũ Tổ mới có bài kệ:

“Hữu tình lai hạ chủng,

Nhơn địa quả hoàn sanh,

Vô tình diệc vô chủng,

Vô tánh diệc vô sanh.” 

Đừng có thêm một lần nữa hiểu sai hai câu nói sau trong bài kệ của Ngũ Tổ, mà tội nghiệp cho… người quá cố.

Nguồn: LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 17); NXB Dân Trí 2019)

Tác Phẩm Lý Tứ

Chữ Hiếu Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Phật Giáo chỉ nói đến Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Như vậy, Phật Giáo có chú trọng đến chuyện báo hiếu hay không?

Đáp: Giống như các loại hình học tập ở đời, trong học tập, người ta chỉ nói đến thành tài, nói đến danh vị, nói đến bằng cấp, nghề nghiệp. chứ không nói đến báo hiếu. Nhưng một người học hành thành tài, có danh vị, có bằng cấp, nghề nghiệp. có phải người này đã ngầm một phần báo hiếu, đền đáp công ơn sinh dưỡng cuả cha mẹ hay không?

Hỏi: Trong cuộc đời người tu hành, Phật Đạo đặt mục tiêu báo hiếu ở vị trí thứ mấy?

Đáp: Báo hiếu là mục tiêu tối thượng, là mục tiêu cao nhất, là mục tiêu số một. Và nó là mục tiêu quan trọng nhất trong cuộc đời người tu hành, theo quan niệm của Phật Đạo.

Hỏi: Xin hãy chứng minh điều mà ngài vừa nói?

Đáp: Ông có nghe chuyện Hoàng Hậu Maya[1] vừa sanh Thái Tử[2] bảy ngày, từ một người phàm tục, trở thành Thiên Chúng của cõi Đao Lợi hay không? Thái Tử vừa được sinh ra, sau này lớn lên mới thành Phật, mà đã thực hiện chữ hiếu của mình cao cả như thế. Phỏng xưa nay, ông đã từng nghe qua, ai là người làm được việc hy hữu này hay không?

Hỏi: Đấy là chuyện hy hữu của một Đức Phật, còn chuyện này từ trước đến giờ ngoài Phật đâu có ai làm được?

Đáp: Ông có nghe Mục Kiều Liên là người chứng quả La Hán, một quả vị có thứ hạng thấp của Phật Đạo, Sau khi chứng quả, tức thì dùng đạo lực của mình, lặn lội xuống Địa Ngục để tìm cách cứu mẹ hay không?

Hỏi: Mục Kiền Liên[3] chứng thánh, tuy là thánh hạng thấp. Nhưng người chứng thánh thì ít, hạng chưa chứng thì nhiều. những người chưa chứng, làm sao báo hiếu?

Đáp: Ông có nghe chuyện nàng Quang Mục, là cư sĩ hạng bình dân, chưa từng chứng một quả vị nào trong Phật Đạo, cho dù đó là quả vị dưới hạng cuối cùng của hàng thánh. đã cứu được mẹ mình ra khỏi Địa Ngục hay không?

Hỏi: Chỉ có ba trường hợp báo hiếu hy hữu này, còn những trường hợp khác thì đâu có thấy làm được những chuyện lớn lao đến vậy?

Đáp: Vì những người tu hành còn lại, đâu người nào có cha mẹ làm nhiều chuyện ác, bị đọa xuống Địa Ngục đâu, mà bắt họ đi cứu.

Hỏi: Tu hành trong Phật Đạo, ngoài cứu cha mẹ, còn các quyến thuộc khác thì thế nào?

Đáp: Chẳng những Hoàng Hậu Maya, sinh mẫu của Đức Phật làm một Thiên Chúng. Vua Tịnh Phạn là thân sinh của Phật, sau khi tạ thế cũng sanh Đạo Lợi Thiên. Kế mẫu của Phật là Kiều Đàm Di[4] chứng thánh, ra khỏi ba cõi. Vợ là Công Chúa Gia Du Đà La cũng chứng thánh, thành bậc Ứng Cúng. Con trai là La Hầu La cũng chứng thánh, thành Đệ Nhất Mật Hạnh. Nguyên dòng họ Thích bị quân của vua Lưu Ly giết sạch cũng sanh Thiên toàn bộ. Ông còn muốn điều gì hơn nữa về chuyện báo hiếu như thế này của Phật Đạo.

Hỏi: Phật Đạo phân chia việc báo hiếu ra thành mấy lớp?

Đáp: Phật Đạo chia việc báo hiếu ra thành bốn lớp.

Hỏi: Bốn lớp như thế nào, xin ngài nói rõ cho tôi hay.

Đáp: Bốn lớp là Tiểu Hiếu, Trung Hiếu, Đại Hiếu và Tối Thượng Hiếu, ý nghĩa như sau:

Lớp Tiểu hiếu: Kiểu này tu hành trong Phật Đạo, nhưng ý chí thấp kém, mong ước nhỏ nhoi. Làm người của Đạo lớn, nhưng chỉ dám mong ước được báo hiếu như người đời, ví như chuyện ngồi đó khóc măng, đội gạo, hái lê, làm thuê.

Nói chung, báo hiếu theo kiểu Quách Cư Nghiệp[5] đời Nguyên đã viết. Như ông, là bậc làm cha mẹ, có muốn con cái mình sau này báo hiếu cho ông theo “cách thê thảm” đó không? Chắc là không rồi! Đừng nói là có. Nhỡ người đời nghe được thật xấu danh Phật Tử.

Lớp Trung hiếu: Hạng này tuy trong Phật Đạo, nhưng tu hành chỉ để mong ước là người thành tài, ở đời kiếm chút công danh, ngày hai bữa cận kề bên cha mẹ, sáng chiều dâng cơm ngon, mặc áo đẹp, ở nhà sang. Mặc cho cha mẹ, phải chịu nóng bức bởi lửa phiền não, hàng ngày bị cột trói trong ngục tù ba cõi. Tôi hỏi ông, cha mẹ giống người tù chung thân, có món ăn ngon, khi ăn có thấy ngon không, hay là nuốt không trôi, chỉ muốn sớm được ra ngoài, sống trong tự do, ăn dở mặc rách cũng cam.

Bản thân là cha mẹ, ông có muốn suốt đời mình ở trong nhà tù ba cõi, bị thiêu đốt bởi lửa phiền não, hầu được ăn miếng cơm ngon, mặc chiếc áo đẹp từ sự báo hiếu của con cái, theo kiểu này hay không? ... Chắc là không rồi. Đừng có nói là có, Phật mà nghe được điều này, chắc Phật buồn lắm.

Lớp Đại hiếu: Đây là hạng người tu hành trong Phật Đạo, có ý chí, quyết tu tập để tự thân Giác Ngộ, sớm được Giải Thoát.Vị ấy thành tựu xong, dùng các pháp lành này hồi hướng, cứu cha mẹ thoát khỏi cảnh đốt thiêu bởi lửa phiền não. Trong một niệm biến ngục tù tam giới thành Niết Bàn, đời này, đời sau vĩnh viễn an vui.

Là một người làm cha, làm mẹ. thấy con cái mình theo Phật, thành Bậc Ứng Cúng, là vị đủ tài đức, hơn hẳn mọi thứ tài đức trong ba cõi, người người có gặp cùng không gặp, đều chắp tay cung kính, lễ bái, ngợi khen. Con cái thành tựu đạo quả và báo hiếu trong ý nghĩa thắng diệu này.

Đã là Phật Tử ông muốn làm điều này cho cha mẹ mình hay không?

Lớp Tối Thượng Hiếu: Đây là hạng tu hành trong Phật Đạo, có trí tuệ lớn, đủ năng lực thừa kế sự nghiệp của Đức Phật... Khắp nhân loại này, cho dù người trong đạo, kẻ ngoài đạo, người thương, kẻ ghét, trong lòng đều cung kính xưng tán công đức, trí tuệ của vị ấy. Ngoài chuyện, báo hiếu cho cha mẹ, quyến thuộc hiện đời. cha mẹ những đời trước và tất cả chúng sinh, nếu học hành theo Giáo Pháp của Phật do vị này truyền dạy, nhất định toại nguyện... Phàm làm cha mẹ, ông có muốn con mình thành tựu Trí Tuệ và báo hiếu cùng khắp theo như những gì Đức Phật dạy hay không? ... Đã là Phật Tử, chắc ai cũng mong muốn.

Thế đấy, Phật Đạo chia việc báo hiếu ra làm bốn thứ lớp trước sau như vậy. Ông muốn mình và con cái thuộc lớp nào, để sau này thực hành báo hiếu?

Hỏi: Xin hỏi, những việc báo hiếu như vậy, chỉ nghe có ông nói. Trước nay,  chưa thấy người tu hành nào nói như thế?

Đáp: Có rất nhiều người tu hành trong Phật Đạo nói như thế từ xưa đến nay, chỉ tại ông chưa đủ duyên để được nghe mà thôi! ... Vả lại, Phật Đạo là pháp tối thâm u, tối thắng diệu. Ông và những người tầm thường như ông, nếu tự hiểu ra được những đạo lý thâm ảo này, hóa ra Phật Đạo là thứ triết lý chỉ ngang bằng sức suy nghĩ của một kẻ tầm thường như ông hay sao?

Hỏi: Nếu nói rằng, Phật Đạo có năng lực báo hiếu thắng diệu nhường ấy. Tại sao người tu hành, sau khi người thân qua đời, lại không trực tiếp đi cứu như Phật, như Mục Kiền Liên, như Nàng Quang Mục, mà phải thỉnh Tăng cầu siêu?

Đáp: Nguyên nhân người tu hành thỉnh Tăng cầu siêu cho cha mẹ sau khi qua đời là vì:

−Vị đó, tuy tu hành trong Phật Đạo, nhưng chưa đến mức biết người thân của mình qua đời đang ở đâu, nên họ báo hiếu bằng cách nhờ Tăng đến trợ giúp. Nếu rủi ro người thân xuống Địa Ngục thì Tăng trợ giúp để ra khỏi đó. Người thân may mắn được sanh các cõi khác thì sớm Vãng Sanh, không còn trở lại cõi đời đầy phiền não này nữa... Chuyện này đâu có gì là sai mà phải bàn cãi? ... Như bản thân ông, thân làm con, khi cha mẹ qua đời, tự thân mình không biết cha mẹ nay ở đâu,  liệu có lặn lội nhờ vả người khác cứu cha mẹ của mình để tròn đạo hiếu hay không? Hay là cha mẹ chết rồi, đến đâu thì đến, sướng cực mặc kệ, thân tui tui lo? Làm người như thế, có đáng hay không?

Tóm lại, tự mình chưa thể cứu được, thì nhờ vả người khác cứu giúp. Được không chưa biết, nhưng việc làm này chí ít cũng thỏa mãn lòng hiếu đạo của người tu hành !

Hỏi: Nhưng theo tôi, cầu là chuyện rủi may, đâu có biết chắc là được hay không? Mà đã không biết chắc, thì tại sao phải nhờ vả người khác cầu xin điều mình chưa biết chắc?

Đáp: Tôi chưa thấy trên đời có ai lý luận ngược ngạo như ông. Không biết chắc mới đi cậy nhờ người ta...! ... Chứ đã biết chắc, thì tự mình đi cứu, chớ nhờ mà làm chi cho tốn kém, lại phải mang ơn... Vả chăng, như Mục Kiền Liên, tuy biết chắc mẹ mình ở đâu, đang làm gì, nhưng một thân một mình không kham nổi, nên phải nhờ công đức của chư Tăng. Giống như có người thấy tảng đá bự bằng con voi giữa đường, muốn dời nó đi, sức mình không làm nổi, thì nhờ thêm nhiều người, chuyện này có gì là lạ mà phải thắc mắc.

Hỏi: Trong Phật Đạo, dựa trên tiêu chuẩn nào để làm cơ sở đánh giá đời sau của quyến thuộc?

Đáp: Đâu riêng gì Phật Đạo, ở đời cũng có lắm tiêu chuẩn làm cơ sở đánh giá tương lai của một con người.

Hỏi: Các tiêu chuẩn của Đạo Phật cụ thể như thế nào?

Đáp: Phật dạy:

−Quy y Phật, không đọa địa ngục.

−Quy y Pháp, không đọa ngạ quỷ.

−Quy y tăng, không làm súc sinh..

−Giữ năm giới, không mất thân người.

−Tu thập thiện, được quả báo sanh thiên.

−Người nhất tâm nhớ nghĩ Phật Quốc, khi bỏ cõi này, “Vãng Sanh” làm công dân của Phật Quốc đó.

−Người chứng Tu Đà Hườn, tệ lắm bảy đời cũng được Giải Thoát.

−Người chứng La Hán, ra khỏi ba cõi.

−Người Giác Ngộ, thấy đây là Niết Bàn.

−Người thành tựu Trí Tuệ, làm thầy trời người.

Vô số tiêu chuẩn làm cơ sở đánh giá, tại ông không biết đó thôi !

Hỏi: Người đã quy y Tam Bảo, nhưng sau đó làm ác thì có bị trừng phạt vì tội lỗi mình gây ra hay không?

Đáp: Nếu có chịu, sau khi trả xong lỗi ác, thì cái quy y vẫn còn, vì Tam Bảo thường trụ. Giống như một người có cha mẹ làm quan to, vì mắc tội với người khác, nên bị giam cầm. Sau khi mãn hạn, vị thế con của quan to của cha mẹ đâu có mất.

Nguồn: LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 15); NXB Dân Trí 2019


 

[[1]] Hoàng hậu Maya: vợ vua Tịnh Phạn, mẹ của Thái tử Tất Đạt Đa.

[[2]] Thái Tử: ở đây chỉ Thái tử Tất Đạt Đa.

[[3]] Mục Kiền Liên: là người nước Magadha, một trong những học trò xuất sắc nhất của Đức Phật khi ngài còn tại thế.

[[4]] Kiều Đàm Di: sinh trưởng ở nước Câu Ly, bà là em gái của hoàng hậu Maya. Hai chị em cùng lấy vua Tịnh Phạn. Bà là ni trưởng đầu tiên của nhà Phật.

[[5]] Quách Cư Nghiệp: là một học giả đời nhà Nguyên (Trung Quốc). Ông là người biên soạn cuốn “Nhị thập tứ hiếu”kể về 12 tấm gương hiếu thảo nổi tiếng.

Tác Phẩm Lý Tứ

Các Cảnh Giới Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Lúc đàm đạo, tôi có nghe nói, khi Ngũ Tổ tiễn Lục Tổ ra đi, kề tai nói nhỏ: “Ai có cái cục kiến tánh đó sẽ làm thầy của cõi trời và cõi người”. Xin hỏi, làm thầy của người, thì nghe còn có lý, còn trời ở trên cao, làm sao lên đó được mà làm thầy?

Đáp: Sao ông biết trời ở trên cao?

Hỏi: Thì người ta vẫn nói thế. Ví dụ như người ta thường nói, “trời cao, đất thấp.”

Đáp: Ông là người có tu tập, tụng đọc kinh điển của Phật, sao lại giữ quan niệm như người đời? ... Ở đời, người ta có quan niệm, trời thì ở trên cao, trên đó có thiên nữ bay liệng như chim, muốn gì được nấy. Còn người trần gian thì ở dưới đất, phải làm lụng vất vả để có cái ăn. Địa ngục thì ở sâu dưới đất cái, đào vài trăm thước chưa đến, tối ngày dầu sôi lửa bỏng. Người đời quan niệm như vậy, ở đây chúng ta không bàn đến chuyện đúng hay sai. Nhưng đã là người tu hành trong Phật Đạo, mà cũng giữ quan niệm như thế, thì làm sao nghe cho thông được.

✽Cảnh Giới CÕI THIÊN

Hỏi: Như vậy, Phật Đạo giải thích như thế nào về những cảnh giới (trời người) đó?

Đáp: Như tôi đã nói ở những phần trước, bất kỳ cảnh giới nào, Phật Đạo cũng chỉ nhắm nói đến thân tâm này, không nói ra ngoài. Ông có bao giờ nghe câu: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức chưa”?

Hỏi: Tôi đã từng nghe nhiều lần câu này, nhưng ý nghĩa thế nào thì tôi không rõ. Xin giải thích giùm.

Đáp: Tam giới duy tâm có nghĩa rằng: Trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh gì. Phật dạy: “Cũng do tự tâm này mà có”. Vạn pháp duy thức có nghĩa rằng: “Hết thảy các quan niệm đều do hiểu biết mà thành”. Những ai còn tâm, dù thứ tâm đó thanh cao vô cùng, những ai còn niệm, dù quan niệm đó tốt nhất, muốn Thanh Tịnh, muốn Giác Ngộ, muốn Giải Thoát, muốn có Trí Tuệ đều phải cầu Phật Đạo! ... Vì thế mới nói, ai được cái cục (kiến tánh) đó thì làm thầy của cõi trời và cõi người! ... Vì rằng, Phật cũng dạy: “Tất cả các thứ tâm đều vô thường, vô thường nên hết vui thì đến khổ”.

Tất cả các pháp đều do thức biến hiện, do thức biến hiện nên không phải là ngã, vì không phải là ngã nên chẳng bền chắc, chẳng bền chắc vì thế bản chất nó không thật, không thật nên chỉ đúng với nơi này sai với nơi kia. Đúng với nơi này sai với nơi kia thuộc về tỷ lượng, mà đã thuộc về tỷ lượng thì chẳng thuộc về chân lý. Cho nên, cái gì vô thường, vô ngã nhất định không thể đưa đến rốt ráo an vui.

Hỏi: Quan niệm “thiên”, theo Phật Đạo nhằm chỉ cho những thứ tâm nào?

Đáp: Thiên, theo Phật Đạo chia làm nhiều hạng, nhưng tựu trung có ba.

•Hạng thứ nhất gọi là “Phước sanh thiên”, tức là những người tâm thức chứa toàn thiện nghiệp. Do vì tâm thức chứa toàn thiện nghiệp, nên phước đức đầy đủ. Phước đức đầy đủ vì thế muốn gì được đó, đời sống vui vẻ. Được như vậy, Phật Đạo gọi là “Phước sanh thiên”.

•Hạng thứ hai: “Định sanh thiên”, tức là những người, do có tu tập thiền định, nên tâm hay sinh hỷ lạc, thân thường được khinh an. Lấy hỷ lạc khinh an, làm đời sống. Hạng này Phật Đạo gọi là “Định sanh thiên”.

•Hạng thứ ba: “Trí sanh thiên”, tức là những vị có Giác Ngộ, được Trí Tuệ Vô Lậu, nhưng vì thương tưởng chúng sanh, các vị này không cầu Giải Thoát, ở lại ba cõi kề cận chúng sanh để giúp họ thành tựu đạo nghiệp. Tuy thân các vị ấy ở trong ba cõi, nhưng tâm vắng lặng, trí thấu thoát, không chung cùng tâm trí phàm phu. Phật Đạo gọi hạng đó là “Trí sanh thiên”.

Cho nên, khi nghe Phật Đạo nói đến “thiên”, phải biết những lời này nhằm chỉ đến các cảnh giới nào  trong tâm thức, chứ không nhằm nói đến các loại thiên như người đời quan niệm.

✽Cảnh Giới ĐỊA NGỤC SÚC SINH

Hỏi: Phật Đạo quan niệm như thế nào về địa ngục, súc sinh?

Đáp: Hạng nào tâm thức chứa toàn nghiệp ác, Phật Đạo ví tâm thức của hạng đó là “tâm thức địa ngục”. Hạng ngu si, tâm trí mờ tối, hạng này Phật Đạo ví như súc sinh.

Hỏi: Vì sao trong kinh Phật thường miêu tả chư thiên thì bay liệng trên không, địa ngục thì dầu sôi lửa đốt?

Đáp: Những lời đó Phật Đạo gọi là dùng “quyền” để hiển “thiệt”. Những lời như vậy, do người trí hóa hiện ra cái không thật (quyền), để dẫn dụ kẻ mê hướng đến cái thật (đời sống tốt đẹp). Ví như, có người nói rằng: “Người nào biết thương người, hay giúp đỡ kẻ khốn cùng thì được làm tiên”.

Người kia hỏi lại: “Tiên là như thế nào?”. Người này bèn dùng lời quyền, nhằm dẫn dụ, để kẻ kia ham thích cái phi thường mà thành người tốt, bèn nói rằng: “Tiên là những người ở trên trời, sống lâu đến muôn tuổi, bay liệng như chim, muốn gì được đó”. Người kia nghe những lời như vậy, ham ưa thích thú, vì thế thường hay thực hành thiện pháp, từ bỏ ác nghiệp.

Đọc kinh mà không biết rõ ý nghĩa, chẳng phân biệt được lời nào là quyền, lời nào là thiệt, thì cho dù có đọc bao nhiêu kinh điển, hiểu biết cũng chẳng khác gì người đời.

Vì thế, Phật căn dặn: “Khi chép kinh, phải mở đầu bằng câu Tôi nghe như vậy”, tức là tôi nghe nói như vậy, chứ chẳng phải tôi được thấy như kia. Phần lớn người tu hành, miệng thì đọc tôi nghe như vầy, mà trong tâm trí lại cầu thấy như kia. Tối ngày nghĩ tưởng chuyện trên mây, cho nên không thể hiểu được diệu lý của kinh điển cũng tại lý do này.

Hỏi: Nếu nói rằng, “tâm thức chứa toàn thiện nghiệp, nên phước đức đầy đủ, phước đức đầy đủ vì thế muốn gì được đó, đời sống vui vẻ”, hạng như vậy, Phật Đạo gọi là “Phước sanh thiên”. Nhưng thực tế trong đời, tôi thấy có rất nhiều người thường hay đi chùa lễ bái, giúp đỡ người  nghèo,  siêng  năng  làm  chuyện  phước thiện, mà sao cuộc đời của họ khổ nhiều hơn vui, lại thường gặp chuyện không may?

Đáp: Cái quả có được hôm nay, là do nhân ngày trước đã gieo. Cái nhân mới gieo hôm nay, thì ngày sau sẽ hái quả. Giống như trước đây anh trồng ớt, trồng chanh, thì hôm nay anh hái được trái chua, quả cay. Hôm nay anh trồng lúa, trồng xoài, thì ngày sau anh có gạo lại thêm quả ngọt. Vì thế, hôm nay anh trồng lúa, nhưng hái toàn là ớt thì phải biết cái quả này chẳng phải của nhân lúa hôm nay, mà nó do cái nhân ớt trước đây anh trồng. 

Vì thế trên đời, cũng có những người hiện tại chuyên làm thiện mà hay gặp chuyện không vui, người kia làm ác mà đời sống đầy đủ, nhân quả trước sau chẳng phải cũng tương tự như vậy hay sao? 

Nguồn: LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 05); NXB Dân Trí 2019

Tác Phẩm Lý Tứ

Đạo Là Gì? Vì Sao Suy Nghĩ Tự Ngưng Bặt?

MN 102 Lý Thanh Liêm 12.02.2023

− Hỏi:

1) “Tôi thường theo dõi trang của Ngài và cũng đồng ý với cách giải thích rành mạch của Ngài. Không biết gọi bằng gì nên tôi tạm gọi Ngài là Ngài cho phải lẽ. (1a) Xin Ngài cho biết đạo (con đường) của Ngài là gì? (1b) Nó như thế nào? (1c) Những người đi theo Ngài đã và sẽ được gì? (1d) Có chắc là con đường của Ngài dẫn họ đi đúng hay không”? 

(03/05/2020 15:26:34; Nguyễn Trọng Ân)

2) Trong khi suy nghĩ tự nhiên ngưng bặt, khởi động lại suy nghĩ đó, nó lại tiếp tục ngưng lại lần nữa... Có phải sự ngưng bặt đó là Trí Tuệ tự điều chỉnh không”? 

(04/05/2020 21:30:33; Lê ngọc Tới)

- Đáp

39.1. Xin Ngài cho biết đạo (con đường) của Ngài là gì?

Lời đầu tiên, Lý Tứ xin cảm ơn đánh giá của bạn trong câu hỏi trên!!! ... Chuyện xưng hô như thế nào, Lý Tứ không quan trọng... “Ngài, bướm, thầy, mày, v.v...” chỉ là danh xưng thông qua mối quan hệ xã hội, bản thân Lý Tứ không quan tâm!!! ... Bạn thích thế nào, cứ gọi thế ấy!!! ... Về các thắc mắc, xin được trả lời:

39.1.1. (1a) “Xin Ngài cho biết đạo (con đường) của Ngài là gì?

Con đường của mình và các bằng hữu của mình (tạm gọi là Lý Gia) đang đi, không phải là con đường do mình đặt ra, mà con đường này mình học từ kinh điển của Phật... Sau khi dấn thân trên con đường ấy, bản thân thấy nhiều lợi ích cũng như đạt được các mục tiêu do Phật đạo đề ra!!! ... Từ đó, mình chia sẻ lợi ích của con đường này đến những người thân quen và những ai có ham thích như mình!!! ... Về tên gọi là gì? ... Cho đến giờ này, mình và các bằng hữu không đặt tên riêng, chỉ gọi nôm na là Phật đạo, tức con đường Phật vẽ ra cho bọn mình đi theo!!!

39.1.2.  (1b) “Nó như thế nào”?

Xin trả lời vắn tắt: Con đường đó có bốn bước!!!

Bước thứ nhất: Dắt người ra khỏi thế gian pháp... Tương đương Khổ Đế trong Tứ Đế!!!
Bước thứ hai: Thành tựu vô lậu tâm và đạo quả xuất thế... Tương đương Tập Đế và Diệt Đế trong Tứ Đế!!!
Bước thứ ba: Học trí tuệ, để thành tựu đạo quả xuất thế gian thượng thượng... Tương đương Đạo Đế trong Tứ Đế!!!
Bước thứ tư: Quay trở lại thế gian và tiếp tục dắt người đi ba bước trước... Tương đương Đẳng Giác và Diệu Giác!!!
39.1.3.  (1c) “Những người đi theo Ngài đã và sẽ được gì”?

Như đã giải thích ở phần 39.1.1 (1a) & 39.1.2 (1b) Những người đi theo mình, tuỳ vào từng bước họ đã đi:

Nếu người ấy đi xong bước thứ nhất: Sẽ thoát khỏi phần lớn tám món khổ nhân sinh là: Sinh; Lão; Bệnh; Tử; Ái biệt li; Cầu bất đắc; Oán tắng hội; Ngũ ấm xí thịnh!!!
Nếu người ấy đi hết bước thứ hai: Tâm thức sẽ không còn phiền não, kiết sử, lậu hoặc (gọi chung là thành tựu Vô Lậu Quả) ... Sau đó thấy được Bổn Tâm; Bổn Tánh (gọi chung là minh tâm kiến tánh)!!!
Nếu người ấy tiếp tục đi hết bước thứ ba: Trí tuệ sẽ được khai mở để học tập các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của chư Phật, gọi nôm na là học Nhất Thiết Trí!!! Thành tựu Hữu Sư Trí!!!
Cuối cùng, bước thứ tư: Vị này phát đại tâm, làm công hạnh... Khi nào đủ duyên, sẽ thấy Phật tánh, tự chứng Vô Sư Trí!!!
39.1.4.  (1d) “Có chắc là con đường của Ngài dẫn họ đi đúng hay không”?

Về câu này, mình xin thưa: Đúng hay không đúng không phải do con đường, mà do mục tiêu của người đi đặt ra!!!

Người nào đặt ra một hay bốn mục tiêu như đã nêu ở trên, con đường này là con đường đúng với người ấy... Vì rằng, bốn bước nêu trên, đáp ứng một hoặc bốn mục tiêu của họ đặt ra...!!!
Người nào đặt những mục tiêu cho mình, mà các mục tiêu ấy không gồm bốn bước nêu trên... Con đường này nhất định sai với họ...!!!
Tóm lại, đúng hay sai, ma hay Phật, v.v... không phải do con đường!!! ... Bởi tự mỗi con đường luôn không tánh, tức không có tánh chất của đúng hay sai, của ma hay Phật!!! ... Ví dụ: Một người muốn học nghề kim hoàn mà đi đến lò rèn chuyên rèn dao kéo để học, con đường họ học sẽ sai với tâm nguyện và mục tiêu họ đề ra!!! ... Còn người thích học làm dao kéo thì, lò rèn chính là con đường dẫn họ đi đúng hướng!!!
39.2. Trong khi suy nghĩ tự nhiên ngưng bặt, khởi động lại..., nó... tiếp tục ngưng lại... Có phải sự ngưng bặt đó là Trí Tuệ tự điều chỉnh không”?

Bạn... thân mến!!! ... Câu hỏi của bạn không rõ ràng, tức bạn không nêu hoàn cảnh nào thì sự ngưng bặt xảy ra cũng như trước đó bạn đã làm gì để hôm nay có hiện tượng ấy nên rất khó trả lời!!! Tuy nhiên, mình cũng xin “đoán mò” ý của bạn và trả lời như sau:

Theo mình biết, phần lớn người tu hành nếu thường xuyên dùng một sở pháp để điều phục ý thức, sau một thời gian dụng công, hay xảy ra trạng thái ý thức (nghĩ suy) bỗng dưng ngưng bặt!!! Khi gặp trạng thái này, người ấy cảm thấy “đầu óc trống rỗng” một thời gian ngắn... Muốn suy nghĩ trở lại, phải khởi động não bộ!!! Bạn hỏi trạng thái này có phải trí tuệ tự điều chỉnh hay không???
Trạng thái ý thức ngưng bặt không phải là trí tuệ tự điều chỉnh, mà nó là kết quả như đã trình bày ở trên, tức ý thức bỗng dưng bị “phanh” do thói quen của việc “dụng công có chủ ý trước đó”!!! Ta có thể hiểu điều này qua ví dụ sau: Giống như những người huấn luyện thú để làm xiếc, họ thường bắt con thú làm theo ý của mình và thưởng cho nó thức ăn... Sau một thời gian, con thú đã quen với tập tính mới, trong quá trình làm xiếc, con thú tự ngưng hoạt động khi đang làm xiếc, chừng nào người huấn luyện thưởng cho nó thức ăn, nó sẽ tiếp tục làm theo ý người huấn luyện!!!
Ý thức con người cũng như thế, khi ta thường xuyên bắt nó dừng lại bằng một sở pháp... Ý thức quen với thói quen này, trong một tình huống bất ngờ nào đó, ý thức tự dừng theo “lối mòn” đã được huấn luyện do dụng công trước đó!!! ...
Đây chỉ là trả lời theo kinh nghiệm cá nhân của mình... Không biết có đúng với ý câu hỏi của bạn hay không??? Cảm ơn bạn đã không quên Lý Gia!!! ... Chúc các bạn... cùng tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn!!!

(11/05/2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Lợi Ích Của Phép Tu

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Hỏi: Như vậy, các phép tu hành người ta hay dùng ở đời như, Tu Thiền, Tu Tịnh, Tu Mật. Có thể nào trở thành Pháp môn giúp người vào Chánh Đạo hay không?

Đáp: Tất nhiên là được, vì hết thảy pháp đều là Phật pháp. Ngày xưa, ngoại đạo cất công tu phép tu của ngoại đạo, đến khi gặp Phật, Phật cũng nương nơi những gì người đó tu tập trong quá khứ để mở cửa Chánh Đạo cho họ, giúp họ Giác Ngộ. Ví dụ như: Tu Bạt Đa La[1] là một ngoại đạo, chứng đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Phật y nơi chỗ sở đắc của ông này, giúp ông ta Giác Ngộ, chứng quả Vô Sanh.

Hỏi: Nếu những người tu như vậy, cặm cụi với phép tu, không gặp Thiện Tri Thức khai mở tâm trí thì có thể tự mình Giác Ngộ để đi vào Chánh Đạo hay không?

Đáp: Tất cả các pháp tu, đều là thế pháp, kể cả các phép như: Tam Ma Đề, Xa Ma Tha, Thiền Định... đều khó có thể đưa người đến Giác Ngộ trong Phật Đạo.

Vì Đạo Giác Ngộ giúp con người ta tìm ra Chánh Đạo, thế nên không do tu mà thành, không do chấp nhất mà được, không do thiếu trí mà biết. Tuy nhiên, nếu có người thực hành những phép tu đó, siêng năng nhất quyết mài mòn phàm tâm, thực hiện đời sống thiểu dục tri túc, thường quở trách cái ngã, hay ngăn chặn chướng đạo, tinh tấn đọc tụng kinh điển, thường thấy được lỗi họa ba cõi, không chấp nhất pháp mình đang tu, nhất tâm tinh cần quan sát tư duy những lời Phật dạy, mong cầu được Giác Ngộ như Chánh Đạo. Nhờ những điều như vậy, khi hội đủ công đức, trí tuệ sáng suốt, trong bất chợt nào đó, vị này có thể Giác Ngộ thế nào là Chánh Đạo. Tuy nhiên trường hợp này rất hiếm trong đời. Những người như vậy thuộc hạng “kỳ lân trong loài người”, như Hoa Ưu Đàm Bát La ngàn năm mới nở một lần, khó có được. Còn kẻ nào chấp nhất, coi cái mình đang dụng công là tối thượng, quyết cặm cụi nơi đây tin rằng trong đó có cứu cánh,

thì rất khó...! ... Rất khó...!

Hỏi: Vì sao cặm cụi tu những phép như vậy khó mà Giác Ngộ được Chánh Đạo?

Đáp: Như đã nói ở trên, tất cả các phép tu đều là phép làm ra, là hữu vi pháp, nên khó có thể Giác Ngộ Chánh Đạo, không thể thành tựu cứu cánh vô vi! ... Vì rằng, Chánh Đạo không phải đạo làm ra, “nhân hữu vi” thì chẳng thể “chứng quả vô vi”, đường thế gian không thể đến ngõ xuất thế, chìa khoá phàm tục không thể mở chốt khoá Giải Thoát! ... Có vô số lý do mà một người nhất quyết nắm giữ phép tu không thể Giác Ngộ. Nó giống như một người không thể nắm tóc của mình để nhắc thân này rời khỏi mặt đất; ngồi trong thau, lại mong muốn bưng cái thau lên. Những chuyện như vậy, hầu như không thể thực hiện được.

Hỏi: Nếu cặm cụi tu hành trong các phép tu, không gặp bậc Đạo Sư khai mở tâm trí, cũng không tự mình giác ngộ Chánh Đạo thì có được lợi ích gì không?

Đáp: Có.

Hỏi: Vậy lợi ích cụ thể của nó là gì? 

Đáp: Lợi ích đó là... Có thời gian tu hành, ít làm việc ác hơn người không tu...! ... Nếu nói lợi ích thì nhiều.

Nguồn: LÝ TỨ; VÔ ĐỐI MÔN (trích Bài 03); NXB Dân Trí 2019

 


 

[[1]] Tu Đạt Ba La: Người đệ tử cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn.

Subscribe to