Tác Phẩm Lý Tứ

Bàn Về Một Vài Điểm Trong Chứng Đạo Ca

MN 102 Lý Thanh Liêm 12.02.2023

Giác ngộ có nhiều tầng bậc… Mỗi một thuật ngữ, mỗi một khái niệm trong Phật đạo luôn luôn tương ưng với một cảnh giới giác ngộ nào đó…Vì thế, chuyện cảnh giới này sử dụng sai khái niệm của cảnh giới kia là chuyện thường thấy ở người tu hành (chưa giác ngộ rốt ráo) !!!

Các bạn !!!
Nửa năm qua, HĐ chúng ta tập làm quen với hai môn học quan trọng của Nhất Thiết Trí là Thẩm Sát Môn và Thấu Thị Môn… Cũng như tập phân tích các lỗi thuộc về Tứ Cú, Tam Cú, Nhị Cú, Nhất Cú và Phi Cú của Bát Nhã Môn !!!

Thế nhưng, các đề tài có liên quan đến những môn học này tương đối hiếm… Và tìm kiếm một đương cơ tạm coi là thù thắng, nhằm triển khai để giúp các bạn học tập lại càng hiếm !!! Vì rằng, muốn giảng nói, phân tích một nội dung nào đó liên quan đến các món trên, phải đợi một đương cơ thích hợp !!!

Hồi tối, mình nhận được thắc mắc của bạn V.D. Long từ link Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả lời… Xét thấy các câu hỏi của bạn V.D. Long là một trong những đương cơ tốt… Vì thế, mình tạm gác những chuyên mục khác của Trang để trả lời V.D. Long !!! Hy vọng sau bài viết này, các HĐ chúng ta có thêm cơ hội để thể nhập những gì chúng ta đang học !!!

V.D. Long thân mến !!!
Từ ngày Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả Lời khai trương đến nay đã là 36 kì !!! Có thể nói, đề tài bạn hỏi đã tạo cho mình nhiều cảm hứng… Bây giờ, mình xin trao đổi với bạn về những gì bạn thắc mắc !!!

Bạn V.D. Long đã viết như sau:

“Xin chào Ban quản trị trang và Lý gia.
Tôi có thắc mắc xin được làm sáng tỏ.
Trong Thập nhị nhân duyên, thì Vô minh đứng đầu, vô minh là đầu mối tạo thành vòng tròn luẩn quẩn, khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử…

Nhưng trong Chứng Đạo ca lại có câu: “Vô minh thực tánh tức Phật tánh”. Lý gia có thể làm rõ chỗ này không?

Vô Minh trong Thập nhị nhân duyên và Vô Minh trong Chứng đạo ca có nghĩa thế nào? Xin cho ví dụ minh họa. Tôi xin cảm ơn”. 11/04/2020 16:47:20 V.D. Long

V.D. Long và bạn đọc thân mến !!!
Nói đến Chứng Đạo Ca của Ngài Huyền Giác thì chắc rằng người tu tập nào cũng một vài lần nghe nói đến… Vì bởi, Chứng Đạo Ca là một áng văn nổi tiếng trong giới tu hành sau thời y bát thất truyền !!!

Bài Chứng Đạo Ca là một tài liệu Phật học được nhiều nơi đưa vào chương trình giảng dạy chính thức cho môn đồ… Vì thế, tác phẩm này trong giới nghiên cứu cũng như tu hành rất coi trọng !!!

Tuy nhiên, dù gì Chứng Đạo Ca cũng chỉ là một bài văn của người đời sau sáng tác (không phải Tổ có y bát)… Mà những gì người sau viết về Phật đạo chưa chắc đã hoàn toàn thấu thoát !!!

Chúng ta tôn trọng các áng văn ấy… Nhưng, chúng ta tôn trọng không có nghĩa những gì trong ấy nói ra chúng ta nhất nhất phải nghe theo…!!! Nhân đương cơ bạn V.D. Long có một vài thắc mắc liên quan đến vài phần nhỏ trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác !!! Lý Tứ cũng xin góp một vài phân tích, trước làm sáng tỏ những điều V.D. Long thắc mắc… Sau đó, cũng nhân cơ hội này, giúp HĐ Lý Gia thâm nhập một số học phần của Nhất Thiết Trí mà các bạn ấy đang học !!!

Thắc mắc của V.D. Long mình xin tạm chia thành hai phần để trả lời:

* Phần 1:
Tôi có thắc mắc xin được làm sáng tỏ.
Trong Thập nhị nhân duyên, thì Vô minh đứng đầu, vô minh là đầu mối tạo thành vòng tròn luẩn quẩn, khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử…

Nhưng trong Chứng Đạo Ca lại có câu: “Vô minh thực tánh tức Phật tánh”. Lý gia có thể làm rõ chỗ này không?

V.D. Long thân !!!
Trước khi phân tích, làm rõ vấn đề… Mình xin chép lại đoạn văn có liên quan đến điều bạn hỏi trong Chứng Đạo Ca !!!

Chứng Đạo Ca viết:

無明實性即佛性
幻化空身即法身
Vô minh thật tính tức Phật tính
Huyễn hoá không thân tức Pháp thân
Tạm dịch:
Tính thật vô minh tức Phật tính
Huyễn hoá không thân tức Pháp thân.

* Về Phật tánh và Vô minh:
– Mọi người đều biết, Phật tánh là thường, và Kinh Đại Niết Bàn cũng dạy như vậy !!!
– Mọi người đều biết, Vô minh là vô thường, vì thế Kinh cũng dạy: “Vô vô minh diệc vô vô minh tận” !!!

Một bên là thường (có thực tánh), một bên vô thường (không thực tánh)… Vì thế, câu “Vô minh thật tính tức Phật tính” xét về Đệ Nhất Nghĩa, câu ấy bị lỗi Phi Cú (mệnh đề hay một câu không thể thành lập được dưới cú pháp Bát Nhã) !!!

Nếu câu ấy viết lại như sau: “Vô minh không tánh đồng pháp tánh” có thể tạm chấp nhận… Vì rằng, Vô minh và pháp tánh bổn lai đều không tánh, hai thứ ấy chỉ do mê sanh !!! Còn đằng này, Vô minh và Phật tánh là hai thứ hoàn toàn khác nhau về bản chất, cho nên chẳng thể “tức” được !!!

* Về Huyễn hoá và Pháp thân:
– Pháp thân là thường…Vì pháp thân là thường nên ra ngoài hai khái niệm Huyễn và Phi Huyễn !!!
– Cái gì (pháp nào) mang trong nó tính chất Huyễn hoá hay Phi huyễn đều vô thường !!!
– Pháp thân là không thân… Đã là “không thân” sao lại có chuyện Huyễn hoá trong đó !!!??? Huyễn là thuật ngữ của Phật đạo nhằm chỉ cho một nhận thức hữu vi (có thân)… Còn pháp thân là vô vi, ra ngoài nhận thức có không… Vì thế, Pháp thân cũng siêu quá hai khái niệm Huyễn cùng Phi huyễn !!!

Cho nên câu: “Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” xét về Đệ Nhất Nghĩa, câu ấy bị lỗi Phi Cú (mệnh đề hay một câu không thể thành lập được dưới cú pháp Bát Nhã) !!!

Nếu câu ấy viết lại như sau: “Huyễn hoá không thân tựa Hoá thân”… Câu này tạm chấp nhận được… Vì rằng, Hoá thân cũng thường cũng vô thường… Nên nó cũng có thân cũng không thân !!!

Tóm lại, hai câu: “Vô minh thật tính tức Phật tính. Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác biểu hiện sự không thấu đáo về các nghĩa: Vô minh, Phật tánh, Pháp tánh, Pháp thân và Hoá thân, Huyễn, Phi Huyễn !!! Vì rằng, nếu thấu đáo, nhất định khi tuyên thuyết về cảnh giới Đệ Nhất Nghĩa sẽ không phạm vào những “lỗi cơ bản của Bát Nhã văn tự” được nêu ở trên !!!

Phần 2:
* “Vô Minh trong Thập nhị nhân duyên và Vô Minh trong Chứng đạo ca có nghĩa thế nào? Xin cho ví dụ minh họa”.

Trong Phật đạo, chỉ có một chữ Vô minh và đồng mang ý nghĩa u tối, không sáng suốt !!! Tuy vậy, tuỳ tầng bậc giác ngộ, người tu hành có thể nhìn thấy “tướng trạng của Vô minh” qua các thứ nhãn quan như sau: Mê thấy Vô minh là Vô minh; Đại ngộ thấy không có Vô minh cũng không làm cho hết Vô minh; Liễu ngộ thấy Phi minh phi vô minh !!!

Giống như người ngủ mê thấy chiêm bao là chiêm bao… Người thức giấc thấy chẳng có chiêm bao cũng chẳng có làm cho hết chiêm bao… Người biết chuyện bảo rằng: Chiêm bao cũng có cũng không có !!!

Để có thể hiểu Phật tánh và Vô minh là tức hay chẳng tức… Ví dụ sau có thể làm sáng tỏ vấn đề:

– Mặt trời ví như Phật tánh, Pháp thân = Thường !!!
– Ngày và đêm ví như Vô minh và minh = Vô thường !!!
Nếu ai đó bảo rằng: “Đêm ngày huyễn hoá tức mặt trời” thì…thì…thì có “Ô hô ai tai” không các bạn !!!???

Các bạn !!!
Không phải tất cả những gì người xưa nói ra đều là chân lí !!! Không phải điều gì được nhiều người xưng tụng, giảng dạy hay thuộc về truyền thống đều đúng hết !!!

Khi phân tích những điều trên, mình biết chắc có rất, rất, rất nhiều người không vừa ý !!! Họ không vừa ý vì những phân tích vừa rồi đã chạm đến thứ mà người ta tôn thờ, giảng dạy cho người khác !!!

Thế nhưng, những điều họ tôn thờ có phải là chân lí chưa ??? Những điều họ giảng dạy như Phật tánh, Pháp thân chính họ đã thấy đã thành tựu các thứ ấy hay chưa ??? Hay là họ tôn thờ, giảng dạy vì người khác đã tôn thờ giảng dạy điều ấy nên nay họ cũng phải làm thế !!!??? Đời là như thế mà !!! Đời là như thế nên Đạo mới xuất hiện !!!

Hy vọng rằng, với những phân tích đơn sơ ở trên, sẽ là nhân duyên giúp các bạn bình tĩnh hơn, nhận xét khách quan hơn, không choáng ngợp trước hào quang của một ai đó rồi nhất nhất phải nghe theo !!!

Giác ngộ có nhiều tầng bậc… Mỗi một thuật ngữ, mỗi một khái niệm trong Phật đạo luôn luôn tương ưng với một cảnh giới giác ngộ nào đó…Vì thế, chuyện cảnh giới này sử dụng sai khái niệm của cảnh giới kia là chuyện thường thấy ở người tu hành (chưa giác ngộ rốt ráo) !!!

Nếu ta không nắm vững vấn đề !!! Nếu ta không bình tâm suy xét !!! Nếu ta chỉ biết tin mà không đủ năng lực phản biện khoa học !!! Nhất định những thuật ngữ, những khái niệm, những áng văn mà ta đã đọc đôi lúc dẫn ta vào mê trận ngữ ngôn… Điều ấy, nhất định không giúp ta thấy được thật nghĩa của Phật đạo, đôi khi khiến ta đi vào mê lộ mà không tự biết !!!

Chúc bạn đọc và V.D. Long an vui, tinh tấn !!!
BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
14/04/2020
LÝ TỨ

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Chứng Đạo Ca

Bài viết Lý Tứ

Lý Tứ Đọc Truyện Lý Tứ - 4

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

“Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp, ai biết được pháp sẽ biết được không pháp, ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không, ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp, ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.


Cái tên Lý Tứ bắt nguồn từ câu chuyện này !!! Không ngờ một cái tên từ nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết Tâm Pháp, tự dưng trở thành tên của tui... Nghe cũng có lí !!! Ha ha ha ha !!!

TÂM PHÁP - TÁC GIẢ LÝ TỨ

(Hội Nhà Văn xuất bản - 2020)

“Tự tâm hồ vô hữu

Kiến tính sơn bất không

Tự tánh động vô động

Trí huệ tự viên thông.”

- Lý Tứ -

ĐẠI SƯ HUYỀN KHÔNG

Lý Tứ ngồi vắt vẻo trên ngọn tùng cao nhất. Cây tùng giữa Đại ngàn này ước chừng tuổi đời không dưới mấy trăm năm... Phía trước mặt là dãy núi Kiến Tính.

Kiến Tính thật ra là tên của ngọn núi cao nhất trong quần thể gồm nhiều dãy núi nối nhau. Kiến Tính nằm ở giữa, bên trái thấp hơn là ngọn Hư Vọng, bên phải là ngọn Giác Tâm...

Ba ngọn núi hợp cùng những ngọn vô danh khác chạy dài hai bên tạo thành vệt xanh đến tận chân trời. Ngọn Kiến Tính sừng sững ở giữa. Nếu nhìn từ xa, người giàu tưởng tượng sẽ thấy Kiến Tính như một người cao lớn đang ngồi xếp bằng ngay tại trung tâm. Hai bên vô số những con người từ cao đến thấp cùng ngồi trầm mặc... Thiên nhiên đã tạo nên diện mạo riêng của mình...

Muốn đến được đỉnh Kiến Tính, phải vượt qua một cái hồ rất rộng. Hồ này có tên là hồ Tự Tâm. Hồ Tự Tâm sâu bao nhiêu thì không ai biết, mặt hồ trong suốt soi rõ dãy Kiến Tính tạo thành bức tranh thủy mặc, ngoạn mục và kỳ bí... Sáng sớm, khi mặt trời lên chừng hai sào, cả dãy Kiến Tính lấp lánh bởi ánh sáng phản chiếu từ hồ Tự Tâm. Buổi chiều khi mặt trời gần lặng phía sau dãy núi, hơi nước từ hồ bốc lên, người ta thấy đỉnh Kiến Tính được bao phủ bởi vầng hào quang nhiều màu sắc...

Hồ Tự Tâm, tích nước từ dãy Kiến Tính chảy xuống. Nước ở hồ trong vắt nhưng rất độc. Độc tố trên núi theo nước mưa tích tụ trong hồ... Chẳng may, sinh vật nào để nước hồ dính vào thì suốt đời coi như tàn phế... Độc tố ăn sâu vào da thịt xương tủy và vô phương cứu chữa. Khi độc tố lan dần đến tim, coi như người này hội ngộ tổ tiên...

Nghe đồn trên ngọn Kiến Tính có một loại thảo dược có thể làm tiêu độc này, nhưng chẳng mấy ai lên tới... Vì thế, Kiến Tính từ xưa đến nay trở thành khu vực bất khả xâm phạm. Nơi đây được coi như thâm sơn cùng cốc và người đời thêu dệt không biết bao nhiêu câu chuyện huyền bí chung quanh ngọn núi này...

Có vài khách giang hồ, cao nhân ẩn sĩ tò mò muốn khám phá ngọn núi đầy bí ẩn sừng sững và nhiều thách thức… Vì thế Kiến Tính huyền bí lại thêm huyền bí...

Mười tháng trước, ngày mười bốn tháng tám năm ngoái... trong lúc nhàn cư, Lý Tứ ngao du lên Long Sơn. Trên núi là một tu viện nổi tiếng cùng tên với ngọn núi. Những ngày lễ lớn cả ngàn khách thập phương đổ dồn về đây để viếng chùa và nghe giảng pháp... Viện chủ là một Lão Hòa Thượng đã gần chín mươi. Nghe đồn Lão Hòa Thượng viện chủ trước đây xuất thân từ Thiếu Lâm, cái nôi võ học của Trung Nguyên. Nhưng sau đó vì chỉ muốn tu hành độ thế, Lão Hòa Thượng không theo nghiệp võ mà lên Long Sơn mở chùa lập viện... thuyết pháp, giảng kinh dạy người tu hành.

Sau hơn bốn mươi năm hoằng hóa, đệ tử tăng tục của Hòa Thượng không dưới vài vạn người. Vì thế, nhắc đến Đại Sư Huyền Không, chẳng một ai trong giới tu hành mà không nghe tiếng và ngưỡng mộ... Chữ Huyền của Lão Hòa Thượng ngang vai vế với Phương Trượng hiện thời của thiếu Lâm là Huyền Nhân. Nghe đồn nếu tiếp tục ở lại Thiếu Lâm thì chức Phương Trượng đã thuộc về Huyền Không Đại Sư... Đại Sư ngoài cái danh Viện chủ Phật môn, trong mình Lão Hòa Thượng còn mang một thân võ học. Nghe nói Phương Trượng Thiếu Lâm hiện thời còn phải nể nang Lão Hòa Thượng vài thành...

Nhân duyên lần đó lên núi vãng chùa nghe pháp, Lão Viện Chủ giảng về Tự Tánh. Trong ngày có buổi pháp đàm, đích thân Lão Viện Chủ giải nghi cho thính chúng... Cơ hội này Lý Tứ quen biết với Lão Hòa Thượng Huyền Không thông qua cây đao sét... Đêm đó, đích thân Viện Chủ mời Lý Tứ ở lại chùa và đàm đạo... Cái đêm hội ngộ này khiến một tăng một tục trở thành đôi bạn vong niên... Sáng ngày thứ ba, Lão Hòa Thượng tiễn Lý Tứ xuống núi và có cuộc ước hẹn hôm nay...

Ngồi trên ngọn tùng già, Lý Tứ miên man suy nghĩ về những gì đã qua... Vài tháng nay giang hồ đồn đại về chuyện Đại Sư Huyền Không giao chức Viện Chủ Long Sơn lại cho người kế thừa, còn bản thân Lão Hòa Thượng đi đâu thì không một ai biết được... Tăng lữ trong viện thì có người nói rằng chính mắt mình thấy Lão Hòa Thượng như một vệt khói đi thẳng vào trong lòng núi và ngọn núi khép lại như chưa hề có sự việc gì xảy ra... Có người lại kể rằng nửa đêm hôm đó một con hạc thật lớn đến chở Hòa Thượng đi thẳng lên trời... Mọi câu chuyện thêu dệt chung quanh sự mất tích đột ngột của Lão Hòa Thượng làm cho Lý Tứ càng thêm kính trọng tư cách một cao Tăng.

Chỉ vì chân lý Lão Hòa Thượng dám từ bỏ danh phận Viện Chủ, từ bỏ bao nhiêu tâm huyết một đời, từ bỏ cả ngàn con người luôn vây quanh chúc tụng tán dương... Âm thầm lên Kiến Tính, chỉ vì chợt nhận ra cái gì mới thật là chân lý...

Từ xa, tiếng Lão Hòa Thượng vang dội giữa Đại ngàn như tiếng chuông đồng. Chứng tỏ dù đã gần chín mươi nhưng khí lực của Lão chẳng thua kém trung niên... Lý Đệ!... Lão Đại Ca tự nghĩ, nếu có nhanh lắm, chiều nay Lý Đệ mới đến được nơi này. Không ngờ cước lực của Lý Đệ quả là thiên hạ khó bì, mới sáng sớm Lý Đệ đã vắt vẻo trên ngọn tùng già. Lão nạp này lại một phen tính toán trật lất...

Lý Tứ buông mình xuống đất lên tiếng:

Hòa Thượng Đại Ca!... Tiểu Đệ đêm ngày mong gặp Hòa Thượng Đại Ca nên gia tăng cước lực. Phí sức một chút, bù lại được diện kiến Hòa Thượng Đại Ca là Tiểu Đệ thỏa nguyện lắm rồi... Hòa Thượng Đại Ca tính toán như thần. Chẳng qua Tiểu Đệ đến sớm hơn một chút chỉ vì cái tâm này hối thúc chứ chẳng phải Hòa Thượng Đại Ca tính toán sai đâu...

Cả hai, một tăng một tục cùng sánh vai tiến thẳng về ngọn Kiến Tính... Vừa đi, Lão Hòa Thượng vừa tâm sự:

Lý Đệ!... Lão nạp nhớ mãi cái lần đầu tiên nhìn thấy cây đao sét của Lý Đệ... Câu hỏi hôm đó của Lý Đệ, nếu không nhờ cây đao sét nói lên danh phận của người mang nó, thì lão nạp này cũng thao thao bất tuyệt cắt nghĩa về tự tánh, như bao nhiêu lần lão nạp nói về đề tài này trước mấy ngàn lỗ tai đồ chúng...

Bây giờ ngẫm lại, thiệt là nhầm lẫn... Ha ha ha ha!...

“Tự tánh là tánh mình!...?” Tánh mình mà là tự tánh thì tự tánh này nhất định sanh diệt... Ha ha ha ha!... Cây đao sét nhưng cắt đứt được vô minh...

“Tánh mình” là thứ tánh do nhân duyên nghiệp quả làm nên, đầy đủ tính chất của phàm tình. Một mực cho rằng “tánh mình là tự tánh” thì than ôi Giáo pháp của Thích Ca trở thành vô thường sanh diệt… Ha ha ha ha!... Cái giọng hào sảng của Lão Hòa Thượng vang vang giữa núi rừng như đánh thức Đại ngàn bao đời nay ngủ say theo năm tháng...

Cả hai đứng bên bờ hồ Tự Tâm, hình bóng một tăng một tục soi rõ dưới mặt hồ...

Lý Tứ lên tiếng:

Hòa Thượng Đại Ca!... Đại ca thấy đó... Nếu mặt hồ không bị tác động bởi một duyên nào hết, thì tính chất tự nhiên của hồ sẽ hiện... Tính chất tự nhiên này, Phật gia gọi là tự tánh... Nhưng nếu có một nhân duyên nào tác động lên mặt hồ, thì Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Mặt hồ sẽ nổi sóng.

Khi mặt hồ nổi sóng nhất định hình ảnh của tiểu đệ và Hòa Thượng Đại Ca theo đó mà biến dạng, theo đó mà nổi trôi...

Cái biến dạng nổi trôi do duyên tác động vào mặt hồ Phật gia gọi là hư vọng tánh, là tánh mình, là chúng sanh tánh, là sân si tánh... là sanh diệt tánh, là phàm phu tánh chứ chẳng phải tự tánh đâu Hòa Thượng Đại Ca...

Cho nên, “tự tánh” là tánh đồng nhất không sai biệt mà Phật và hữu tình đồng có, trong điều kiện chưa bị một duyên nào tác động. Giả sử như một vạn cái hồ, lớn nhỏ sai khác... nếu một vạn cái hồ này không bị tác động bởi duyên thì vạn cái hồ đó đồng một tự tánh...

“Tự tánh” là tập hợp của nhiều tính chất, khi dứt các duyên, dần dần những tính chất này lần lượt sẽ hiện...

Ví như tính chất trong sạch của nước, tính chất giác liễu khi chiếu soi, tính chất bất động đứng lặng, tính chất mát diệu thanh lương... Thì hồ tâm này cũng vậy!... Khi dừng các duyên, đừng ném hòn đá thấy nghe vào tâm thì tự tánh sẽ hiện. Khi tự tánh hiện, những tính chất nhất định của nó lần lượt hiện theo mà người tu hành có thể cảm nhận được...

Các tính chất đặc biệt đó là: Thanh tịnh, bất động, liễu tri, an lạc, chân ngã, chân thường, từ bi... khi hiện đủ, hiện viên mãn, Phật gia gọi đó là Phật Tánh...

Sự xuất hiện lần lượt này, kinh Niết Bàn nói rằng: “Phật Tánh của Phật gồm đủ bảy điều, Bồ Tát Thập Địa có sáu điều, Thập Trụ có năm điều”.

Nó chẳng phải tánh mình. Nếu lầm nhận tánh mình là tự tánh thì cái hiểu này xa rời Phật đạo... Khi nói tánh mình tức có đây có kia, tánh mình khác, tánh người khác, tánh người kia khác tánh người nọ... Những tánh riêng này đã bị tác động bởi các duyên sai khác thì làm sao gọi là đồng... Trong khi đó kinh dạy: “Phật và chúng sanh đồng một tự tánh”.

Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Đại Ca có nhớ khi Lục Tổ Huệ Năng thấy được tự tánh bèn la lên rằng: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh!... Nào dè tự tánh vốn không sanh diệt!... Nào dè tự tánh vốn không lay động!... Nào dè tự tánh liễu tri muôn pháp”.

Chứ đâu có nói: “Nào dè tánh mình vốn hay sân hận!... Nào dè tánh mình vốn hay tham dục!... Nào dè tánh mình vốn thích phân biệt!... Nào dè tánh mình theo duyên động lay!...”

Nói đến đây, Lý Tứ lượm một viên đá nhỏ ném xuống mặt hồ... Hình ảnh của Lý Tứ và Lão Hòa Thượng chao đảo theo từng đợt sóng. Lý Tứ cười ha ha rồi nói:

- Hòa Thượng Đại Ca!... Viên đá rớt xuống mặt hồ làm diện mục của tiểu đệ và Đại ca méo mó... Cái “bản lai diện mục” đâu rồi? Ha ha ha ha!...

Tánh mình lại sanh diệt theo duyên!... Ha ha ha ha!... Nói đến đây Lý Tứ đọc mấy câu của Tổ Long Thọ:

“Chúng duyên trung hữu tánh,

Thị sự tắc bất nhiên,

Tánh tùng chúng duyên xuất,

Tức danh vi tác pháp,

Tánh nhược thị tác giả,

Vân hà hữu thử nghĩa,

Tánh danh vi vô tác,

Bất đãi dị pháp thành.”

Ha ha ha ha!... Cổ nhân đã nói như vậy!... Cố đem tánh mình cắt nghĩa tự tánh thiệt oan cho cái tự tánh!... Ha ha ha ha!... Tự tánh lìa mê lìa giác. Đem mê hiểu tự tánh đã sai, nay lấy giác hiểu tự tánh thiệt là mê chồng thêm mê...

Lão Hòa Thượng trầm ngâm rồi nói:

Lý Đệ quả nhiên biết dùng phương tiện để giải thích vấn đề. Cái thấu suốt của Lý Đệ, lão nạp đây một đời giảng kinh thuyết pháp mà chẳng thể bì kịp...

Từ ngày lão nạp từ bỏ thân phận viện chủ, từ bỏ những gì có thể từ bỏ để tìm đến ngọn Kiến Tính này, thật ra không phải dễ dàng gì... Tâm huyết một đời của lão nạp, ân tình một đời với bao nhiêu con người gắn bó vì hạnh phúc của bản thân và đồng đạo. Đành lòng từ biệt quá khứ những tháng năm dấn thân đi tìm chân lý và dạy người chân lý... thiệt là việc khó làm!...

Để có được ngày hôm nay, để có được những phút giây làm bằng hữu với Lý Đệ, để có được cái thong dong giữa Đại ngàn sáng nghe suối reo, chiều nhìn hạc múa, để có được phút giây “tu du phản chiếu”... lão nạp đã phải nhiều đêm trằn trọc, nhiều đêm chọn lựa, nhiều đêm tự nhủ với lòng và nhiều đêm đối diện với chính mình để tìm xem thành tựu bản thân là chân hay giả...

Câu nói của Lý Đệ, lão nạp nhớ mãi không quên: “Tâm này chính là đối tượng để người tu hành nhắm đến mà hàng phục, tâm này chính là đối tượng để người tu hành nghiêm khắc đánh giá mức độ thành tựu chứ không phải là những lý luận hay sự tung hô ngoài kia...”

Lão nạp cũng từng trằn trọc với câu nói chí thiết của Lý Đệ: “Trượng phu là kẻ dám nhả bỏ những gì cần nhả bỏ mà người đời không dám nhả bỏ, dám nuốt vào những gì mà người khác không dám nuốt vào...”

Thiệt là nhả bỏ những vị ngọt mình đã từng thụ hưởng không dễ, nuốt vào những thứ cay đắng của ngã này cũng thiệt khó làm...

Nhưng rồi lão nạp lại nghĩ, một đời dấn thân tu hành là vì cái gì? Chẳng lẽ là vì cái ngã này... ? Chẳng lẽ để giữ gìn cái phù phiếm của sáng được tung hê chiều nghe chúc tụng…?

Chẳng lẽ cứ tháng ngày giảng nói những lý lẽ cao thâm mà người nói lẫn người nghe đều mơ hồ trong cơn tùy mộng... Rồi đêm đến lại lo sợ bởi cái thân già này một mai nằm xuống chẳng biết sẽ về đâu…? Chẳng lẽ gặp nhau lại tung hô giải thoát, nhưng đêm đêm một mình âm thầm lần chuỗi niệm Phật cầu được vãng sanh... Nhưng mà có được may mắn vãng sanh hay không, chưa đến hồi kết làm sao biết được...

Từ ngày gặp Lý Đệ, lão nạp mới ngờ ngợ rằng mặt trăng hãy còn xa lắm... Mấy chục năm trời, mở miệng là răn dạy đồ chúng hãy từ bỏ ngón tay để thấy mặt trăng. Nhưng mặt trăng là cái gì thì điều này lão nạp thật tình không dám nghĩ đến...

Từ bỏ ngón tay này để lại nhìn ngắm ngón tay khác, rồi lại ve vuốt giảng giải ngón tay mà cứ lớn tiếng cho rằng mình đang giảng nói mặt trăng...

Cho đến khi Lý Đệ hỏi lão: “Tự tánh là cái gì?”

Câu hỏi này đã đánh thức lão nạp. Câu hỏi của Lý Đệ chính là động lực để lão nạp nhìn lại chính mình... Lão nạp này chợt nhận ra như người đứng trên đỉnh núi, toàn thân ở trong hư không nhưng da bàn chân hãy còn dính chặt vào mảnh đất ba cõi đang nằm dưới chân mình. Một đời lão nạp dấn thân cho Phật đạo, nhưng tâm này lại bị cột trói bởi danh vọng, địa vị, lễ nghi, hình tướng... Ba cõi hãy còn sờ sờ ra đó, có khác chăng, nó là sự biến tướng khôn ngoan của cái ngã này...

Lần này lão nạp dứt áo ra đi, từ bỏ thân phận, từ bỏ đồ chúng... Không phải lão nạp này yếu hèn làm người chạy trốn trước thực tế của chân lý, mà lão nạp này hãnh diện với những gì mình thấy được... Vì tôn trọng chân lý, lão nạp này từ bỏ tất cả không phải với tâm trạng của người thua cuộc. Buông vũ khí chiến đấu không phải của một kẻ hàng binh... Lão nạp này thề quyết với lòng, chưa thực chứng chân lý là gì, chưa thấu suốt những điều mình đã từng giảng nói... lão nạp quyết bỏ thân nơi thâm sơn cùng cốc này để không phụ lòng chư Phật, không phụ niềm tin của đồ chúng đã gởi gắm cho mình...

Cả đời lão nạp, vật thực thế gian không thiếu, danh vọng không thua... Nhưng cái lão nạp cần tìm là chân lý chứ không phải những thứ đó, không phải địa vị hư ảo và danh dự hão huyền...

Khi nãy, lúc mặt hồ đứng lặng... lão nạp soi mặt mình xuống nước và câu nói của Lý Đệ, lão nạp như tỉnh cơn mê...

Đúng là “bản lai diện mục” không phải ở duyên thấy nghe, không phải tìm thấy qua cái chao đảo của làn sóng tự tâm, mà nó chỉ hiện khi bặt dứt các duyên...

Đúng là, người ta đã ném hòn đá thấy nghe, thổi ngọn gió nghĩ suy xuống mặt hồ rồi nhìn những hình ảnh biến dạng méo mó của duyên thấy nghe mà cho rằng diện mục...

Hình ảnh thấy được qua các duyên này chính là tướng hư vọng. Chính là sự phản chiếu những hình ảnh hư vọng rọi xuống mặt hồ… Đừng tác động một chút duyên nào lên mặt hồ, thiệt tướng sẽ hiện... Bản lai hồ kia không tướng. Thiệt tướng chính là không tướng...

Lão nạp bây giờ mới nghiệm ra thế nào là “Bất ưng trụ sắc sanh tâm”. Bất ưng trụ sắc là ngón tay, bất sinh tâm mới là mặt trăng... Ha ha!...

Cả đời lão nạp giảng giải không biết bao nhiêu lần câu bất ưng trụ sắc, nhưng lại trụ câu nói đó để rồi sinh tâm mà chẳng dám từ bỏ nó để nhìn thấy mặt trăng...

Lý Tứ và Lão Hòa Thượng cùng ngồi trên bãi cỏ ven hồ... Cả hai không nói lời nào!... Thi thoảng vài cơn gió nhẹ làm mặt hồ gợn sóng lăn tăn... Cứ như thế trời vẫn xanh, hồ vẫn trong và mây vẫn bay!...

Lý Tứ lên tiếng:

Hòa Thượng Đại Ca!... Tấm lòng của Hòa Thượng Huyền Không Lý Tứ này hiểu, tấm lòng Đại Ca Tiểu Đệ cũng hiểu... Cái vĩ Đại của Hòa Thượng Đại Ca trên đời không mấy người có được...

Tiểu Đệ kính trọng cái chân thực của Đại Ca, Lý Tứ kính trọng cái dấn thân vì chân lý của Hòa Thượng...

Chỉ cần cái chân thực của tấm lòng, chỉ cần sự dấn thân vì chân lý... nhất định Hòa Thượng Đại Ca sẽ thấy được cái cần thấy và tìm được cái cần tìm...

Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Trong Phật đạo có hai chữ, người tu hành nào cũng biết, người tu hành nào cũng nghe, người tu hành nào cũng đọc... Thậm chí biết, nghe, tụng, đọc nhiều lần... nhưng chẳng mấy ai để tâm... Vì sao? Vì nghe riết rồi quen, đọc riết rồi thuộc, biết riết rồi nhàm chán, giảng nói riết rồi nó trở thành sáo ngữ tầm thường. Không một lần để tâm đến nó, rồi nó trở thành vô dụng như tiếng mõ đêm khuya... Đó là hai chữ:

“Như Thị” và “Nhất Thời”... Không phải vô cớ mà trước khi nhập diệt, Thế Tôn lại di huấn đầu kinh phải đề: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại”.

Hòa Thượng Đại Ca!... Ai cũng biết ý nghĩa câu này, ai cũng hiểu câu trên ngụ ý nói rằng những lời kinh kia của ngài A Nan nghe và thuật lại... Nhưng nếu ý nghĩa của nó chỉ gói gọn như thế thì làm gì nhọc công Thế Tôn lại phải di huấn trong lúc lâm chung... Chẳng lẽ, trước khi lâm chung, người cha lại đi trăn trối cho con cái những điều tầm thường như thế…

Nếu bảo rằng câu đó để chỉ ra rằng ngài A Nan nghe và thuật lại, thì vô hình trung tự loại mình ra khỏi ngữ ngôn văn tự ý nghĩa của lời kinh, mà Phật pháp là thường, Phật thường thuyết nên tôi thường nghe... Thành ra, phải là “Tôi nghe như vầy”

Chứ không phải ngài A Nan nghe... Tôi nghe như vầy, chính tôi được nghe như vầy, mọi lúc mọi thời mọi nơi tôi chỉ nghe như vầy chứ không nghe khác... Ai thấu suốt được chữ như vậy người đó sẽ dứt vọng... Nghe được như vầy, thấu suốt như vầy, sáng trưa chiều tối đều không thấy sai khác vì chỉ như vầy, thì bây giờ nghĩa “Nhất Thời” sẽ hiện...

Ai thấu suốt nghĩa “Nhất Thời” Nhất định dứt “tưởng”. Vì sao?

Vì tưởng do ba thời mà sanh... Không vọng, dứt tưởng, chư Phật hiện tiền... Nên kinh nói rằng: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại”.

Lão Hòa Thượng sau một hồi trầm ngâm, ngước nhìn Lý Tứ rồi lên tiếng:

Lý Đệ!... Đúng rồi Lý Đệ!... Thì ra câu “Nghe cái chưa từng nghe, thấy cái chưa từng thấy, biết cái chưa từng biết”… của kinh Niết Bàn bây giờ đã rõ. Nghe cái chưa từng nghe là nghe cái “Như Vầy”, thấy cái chưa từng thấy là thấy nghĩa “Nhất Thời”, biết cái chưa từng biết là biết “Tự tâm chính là Phật”... Ha ha ha ha!...

Lý Đệ!... Lý Đệ!... Lời nói của Lý Đệ khiến lão nạp hiểu ra nhiều điều. Thì ra mặt trăng ở đằng sau ngón tay, rời ngón tay mới thấy mặt trăng. Nghe như vầy dứt vọng, thấy như vầy dứt tưởng, không vọng không tưởng, chư Phật hiện tiền...

Lý Đệ quả có con đao sét rẹt mà bén ngót... Chỉ một đường đao chặt đứt nhân duyên...

Như vầy!... Như vầy và chỉ như vầy mà thôi... Không như vầy mà thấy, không như vầy mà nghe, không như vầy mà hay, không như vầy mà biết... nhất định vọng sanh. Buông thấy nghe hay biết như kia, chỉ thấy nghe hay biết như vầy thì tự tánh sẽ hiện!... Ha ha ha ha!...

“Chí đạo vô nan;

Duy hiềm giản trạch,

Đản mạc tắng ái;

Đổng nhiên minh bạch.”

Lời Thánh chẳng phải ngón tay!... Ha! Ha! Ha! Ha!... Đừng ve vuốt giảng nói ngón tay, mặt trăng sẽ hiện... Ngữ ngôn không tánh, nhưng lại biết gạt kẻ ngu!... Ha ha ha ha!...

Câu nói của Lý Đệ hôm ở Long Sơn viện bây giờ đã rõ...

⁕ “Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp, ai biết được pháp sẽ biết được không pháp, ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không, ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp, ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.

Thì ra câu nói của Lý Đệ ẩn chứa cả một quá trình tu tập thấu suốt và tâm chứng...

Lý Đệ!... Lý Đệ đã dựng lại những gì ngã đổ trong lòng lão nạp. Lý Đệ đã đốt ngọn đuốc cho lão nạp này đi... Tiếc thay!... Tiếc thay!... Lão Hòa Thượng nói hai lần chữ tiếc thay rồi nín lặng...

Lý Tứ quay qua hỏi Lão Hòa Thượng:

- Đại Ca tiếc điều gì?

Lão nạp này tiếc!... Lão nạp này chỉ tiếc!... Ấp úng một hồi, cố vượt qua cái gì đó khó khăn. Lão Hòa Thượng mới mạnh dạn nói lớn:

Lão nạp chỉ tiếc Lý Đệ là Cư Sĩ, tiếc mình là Hòa Thượng nên chẳng thể thành nghĩa thầy trò!...

- Đại Ca!... Thân Đại Ca là Sa Môn, Tiểu Đệ là cư sĩ!... Cư sĩ phải đảnh lễ Sa Môn Hòa Thượng Đại Ca một cái mới xứng đạo tăng tục... Nói đến đây, Lý Tứ chắp hai tay hướng về lão Hòa Thượng xá ba xá...

Lão Hòa Thượng đột nhiên tung mình lên cao, chiếc áo cà sa phất phới như chim phượng hoàng vụt qua mặt hồ bay về hướng núi Kiến Tính...

Chỉ còn văng vẳng hai tiếng Mô Phật!... Mô Phật!... Lão nạp này không dám nhận!... Lão nạp này không dám nhận!...

Lý Tứ cười ha hả rồi tung mình đuổi theo nói lớn:

- Hòa Thượng Đại Ca!... Tiểu Đệ đi theo Đại Ca đây... Cả hai cùng hạ xuống chân núi kiến Tính. Trước mặt hai người hiện ra cửa Hang động Tự Tánh...

Trích Tâm Pháp - tác giả Lý Tứ
 

Bài viết Lý Tứ

Tản Mạn Đầu Tuần

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

Học Đạo Đế mà không có những hiểu biết nhất định về kinh Diệu Pháp Liên Hoa... Nó giống như người đi tìm châu báu mà không có những hiểu biết nhất định về châu báu !!!


Các bạn !!!

Sáng nay, duyên lành có hai Thầy Tăng phương xa đến thăm, lại còn tặng mấy hủ mắm chay cùng bọc ớt núi...!!!

Để đáp lại tấm chơn tình tăng tục, Lý Tứ chẳng có gì đáp báo, bèn cung kính tặng lại hai vị Thầy Tăng bốn quyển Nội San Lý Gia và hai huy hiệu Lý Gia để gọi là "bánh ít trao đi, bánh quy trao lại..." Ha ha ha ha !!!

Sau vài giờ đàm đạo, trà cũng hết, sau khi tiễn hai Thầy Tăng ra về... Bất chợt đọc được bài viết từ mấy năm trước do SM Lý Song Hà đăng lại trên FB cá nhân...!!!

Không ngờ, bài viết hồi xửa hồi xưa ấy lại có nét gì đó khá giống nội dung buổi đàm đạo hôm nay, mặc dù ngôn ngữ và cách thể hiện theo một hướng khác...!!!

Thế mới biết, trái đất giống như cái mâm thau, chứ chẳng phải tròn lụi như xưa nay thiên hạ vẫn thường rêu rao !!! Ha ha ha ha !!! Đúng là "nhầm tuốt luốt" !!!

Vài dòng tản mạn đầu tuần, xin chuyển đến mọi người bài viết...hồi...xưa...ấy...!!!

10/10/2022

LÝ TỨ

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Các bạn !!!

Mình còn nhớ như in, những ngày cách đây trên bốn mươi năm, mình và một số bạn bè thường hay đến ngôi chùa gần nhà để tụng Diệu Pháp Liên Hoa hàng đêm... Tất nhiên ngày ấy, mình chỉ biết cùng chuông mõ tụng hết phẩm này sang phẩm khác, nhưng ý nghĩa của nó, ngô khoai như thế nào thì mù tịt... !!! Mình chỉ tin một điều, tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa sẽ phát sinh công đức (điều này cũng chỉ nghe thiên hạ đồn)... Và, công đức là thứ gì, nó được tính bằng lon, lít, ký, tạ tấn hay mét... mình cũng không hình dung nổi...

Nhưng, chỉ với niềm tin vào kinh Phật, mình đã tụng đọc bộ kinh này không biết bao nhiêu lần !!! Thế rồi, không biết có phải do tích luỷ được nhiều tấn hay nhiều ký công đức hay không !!!! Ha ha ha ha !!! Một ngày cách đây chừng mười năm, mình đã hiểu ra kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói gì, dành cho đối tượng nào và ứng dụng ra sao !!!

Theo mình biết, trong hiện tại, cũng có rất nhiều Phật tử đang tụng Diệu Pháp Liên Hoa như mình hồi xưa, thậm chí có những đạo tràng chuyên tụng kinh này... Và, cũng không ít Pháp Sư đang giảng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa trong hiện tại !!! Khi viết những dòng này, tận sâu thẳm của thâm tâm, mình cầu mong cho những vị Phật tử đang gởi gắm niềm tin vào việc tụng đọc kinh Diệu Pháp Liên Hoa, rồi sẽ có ngày tích tụ đủ công đức để có thể nhận ra Phật tri kiến là cái gì và trực nhận rõ ràng làm thế nào để phát sinh công đức !!!!!!

Các bạn !!!

Hầu như mọi người tu hành trong Phật đạo đều biết, kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra đời, nhằm khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến... Có nghĩa kinh này chỉ ra rằng, Phật đạo không dừng lại ở những quả vị nhỏ nhoi của phần tự độ (giới hạn cuối cùng của Diệt Đế), mà mục tiêu tối thượng là: Giúp hết thảy người tu hành trong Phật đạo thành tựu quả vị cao nhất, đó là Vô Thượng Bồ Đề quả (tức thành Phật đủ mười danh hiệu) !!!

Muốn thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, ngoài việc phải thành tựu phần tự độ (độ bản thân) của Diệt Đế, người này còn phải học trí tuệ (của Đạo Đế)... Có trí tuệ, vị tu hành này mới có thể làm công hạnh, để hoàn thành công việc độ tha (độ người), khi công việc độ tha viên mãn, chừng ấy quả Vô Thượng Bồ Đề với mười danh hiệu mới hiện !!!

Phàm ở đời, muốn học nghề gì, phải biết rõ nghề đó... Muốn mua món đồ nào, phải hiểu món đồ mình cần mua... Thì cũng vậy, muốn thành tựu Vô Thượng Quả, muốn có trí tuệ trong Phật đạo, điều đầu tiên vị tu hành này phải biết trí tuệ của Phật đạo là gì, Vô Thượng Quả do đâu mà thành !!!

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đảm nhận vai trò chỉ rõ hai công việc này, trong kinh giới thiệu thế nào là Phật tri kiến (sức hoạt dụng của Phật trí), điều kiện để chứng Vô Thượng Bồ Đề (độ vô lượng chúng sinh, cúng dường vô lượng Chư Phật) !!! Tất nhiên để học Phật Trí và sau đó là chứng Phật Quả, hai thứ này luôn luôn bao gồm những điều kiện bắt buộc của nó... Một trong những điều kiện không thể thiếu, đó là: “Vị tu hành này phải thành tựu Diệt Đế và học trí tuệ để thành tựu Đạo Đế”...

Ta có thể hiểu, Pháp Hội Diệu Pháp Liên Hoa có phần nào đó giống như một buổi tư vấn hướng nghiệp đối với những học sinh vừa tốt nghiệp Phổ Thông Trung Học, những học sinh này đang cần những kiến thức tối thiểu về ngành nghề và cơ sở đào tạo, để tự mình có thể chọn ngành nghề, chọn trường lớp phù hợp với năng lực bản thân... Đây cũng là lý do vì sao năm trăm vị tăng thượng mạn (chưa chứng A La Hán tưởng đã chứng, chưa tốt nghiệp...Diệt...Đế tưởng tốt nghiệp Diệt...Đế !!!!!????), từ bỏ pháp hội này ra đi... !!!

Tất nhiên, giới thiệu về Phật tri kiến hoàn toàn không giống một buổi tư vấn hướng nghiệp tuyển sinh... Vì, những ngữ nghĩa thâm u của cảnh giới xuất thế chỉ có những tâm cảnh tương ưng xuất thế mới cảm nhận được, ta có thể hiểu, nó giống như buổi hướng nghiệp đó được giảng giải bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, mà chỉ có những người đã tốt nghiệp mới có thể hiểu được (còn những ai chưa tốt nghiệp ‘Diệt Đế’ thì...pó...tay) !!!

Đây cũng là lý do vì sao kinh Đại Thừa khó hiểu hoặc không thể hiểu nổi với những người chưa Giác Ngộ... Điều này, cũng phù hợp với câu nói bất hủ của Ngũ Tổ: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”... Ta có thể hiểu nôm na câu nói này với đại ý: “Chưa Giác Ngộ, chưa chứng Diệt Đế, không thể học Đại Thừa Pháp của Đạo Đế”... Và đây cũng là lý do vì sao, các kinh giáo Nhị Thừa (bất liễu nghĩa, dạy pháp thế gian) khi đọc lên, dù người có tu hay không tu... đều có thể nhận hiểu một cách dể dàng !!! Đến đây, chúng ta mới thấy rõ sự khác biệt về ngữ nghĩa, cảnh giới của văn tự thế gian được biên chép phần lớn trong kinh tạng Nikaya và ngữ nghĩa, cảnh giới của văn tự xuất thế gian được biên chép phần lớn trong kinh Đại Thừa là khác biệt như thế nào !!!

Nếu, Tứ Đế là quy trình học tập, nhằm đưa một phàm phu vô văn đến quả vị cao tột Vô Thượng Bồ Đề thì, kinh Diệu Pháp Liên Hoa được coi là tư liệu cơ sở, tư liệu này nhằm đặt nền móng xây dựng một loại hình văn hoá mới, đó là văn hoá Đại Thừa, một loại văn hoá thể hiện đầy đủ cảnh giới rộng lớn của Trí Tuệ (thuộc về Đạo Đế), ta thường gọi là KHAI, THỊ Phật tri triến... Khai thị, là giới thiệu, là chỉ cho thấy, là tập làm quen, là tập nhận biết... Khi đã thấy, đã làm quen, đã nhận biết... Chừng ấy, cơ may NGỘ NHẬP Phật tri kiến mới có thể đến !!!

Ngày xưa, khi chưa tuyên thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tức Thế Tôn chưa tuyên nói về những điều thâm u của Phật tri kiến... Các La Hán thường nghĩ rằng, quả vị A La Hán là cứu cánh cuối cùng của Phật đạo, sự nhầm lẫn này được biểu hiện rõ nét qua lời tuyên bố: “Chư lậu dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu”... Cho đến khi Pháp Hội Diệu Pháp Liên Hoa ra đời, chừng ấy các A La Hán mới biết rằng, quả vị La Hán chỉ là Hoá Thành... Đây là lý do vì sao các Phẩm Thí Dụ, Phẩm Hoá Thành Dụ hay câu chuyện Gã Cùng Tử có mặt trong kinh này !!! Và, đây cũng là lý do vì sao các Phẩm Pháp Sư, Phẩm Như Lai Thọ Lượng, Phẩm Tòng Địa Dõng Xuất, Phẩm Phân Biệt Công Đức hay Phẩm Thọ Ký được tuyên thuyết trong Pháp Hội này !!!

Các bạn !!!

Học Đạo Đế mà không có những hiểu biết nhất định về kinh Diệu Pháp Liên Hoa... Nó giống như người đi tìm châu báu mà không có những hiểu biết nhất định về châu báu !!!

22-06-2018

Lý Tứ

- HÌNH ẢNH MẤY HŨ MẮM CHAY SÁNG NAY !!!

Bài viết Lý Tứ

Lý Tứ Đọc Truyện Lý Tứ - 2

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

“Cuộc đời như một Đại dương, không ai khác hơn các ông, hãy tự làm hòn đảo, nơi nương tựa cho chính mình và hãy tự mình đốt đuốc lên mà đi”.

Các bạn !!!

Sáng nay, cũng bên chung trà và li cà phê nóng...!!! Hớp một ngụm, đọc Tâm Pháp do Lý Hiển Long trích đăng trên FB cá nhân bạn ấy...!!! Lại một đoạn viết hay...!!!

Xin mời các bạn cùng nhâm nhi buổi sáng để thấy hoa Ưu Đàm của ngàn năm một lần nở trong tâm thức !!!

06/10/2022

LÝ TỨ

"Như Bổn Mạt đứng dậy, cung tay chào mọi người, hướng về Lý Tứ và nói:

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Sau mấy ngày nghiền ngẫm ý nghĩa Diệt và Đạo Đế, sau những trăn trở về thế nào là Giải Thoát Bất Động, đệ tử nhìn lại tâm mình, nhìn lại những gì mình gặt hái được qua những lần nói chuyện của Lão Sư.

Đồ đệ nghiệm ra, trước đây nhân nghe những gì Lão Sư nói, nhờ hiểu biết, nhờ lắng nghe, nhờ ứng dụng những điều đã được nghe nói vào đời sống, trong lòng đồ đệ cảm thấy an ổn thanh tịnh... Điều này cũng từng được Lão Sư khen ngợi trước mọi người.

Nhưng rồi, khi nghe tuyên nói ý nghĩa Giải Thoát Bất Động, nghe Lão Sư giảng giải ý nghĩa Diệt Đế và Đạo Đế... Đệ tử lần này nhìn lại mình. Đệ tử phát hiện ra rằng, giống như những gì Lão Sư đã nói... Đâu đó trong lòng đệ tử vẫn còn những nghĩ suy mông lung... Và rồi tâm của đệ tử không thể tách rời khỏi giác.

Giác và tâm tạm thời làm nhân cho nhau để có được một chút an bình... Đệ tử biết rằng cái biết của mình là cái biết của giác, cái thanh tịnh của mình là hệ quả do giác làm ra... Mà những gì có được do bởi thứ khác làm ra đều là vô thường, vô thường bởi nó là hữu vi pháp.

Chính sự thanh tịnh trong ý nghĩa vô thường này, nên tâm của đồ đệ có khi dao động, có khi thụ động, có khi biếng nhác... Nói chung một chút an lành của giác đồ đệ cảm thấy chưa phải là cứu cánh, chưa phải là mục tiêu cuối cùng...

Lúc đầu, mới thấy được tâm này, con rất phấn khởi, được Lão Sư khen ngợi... và tạm bằng lòng!... Nhưng qua những bước triển khai tiếp theo về mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, con nhận ra được lỗ hổng trong tâm của chính mình... Nhận ra cái vô thường của nguồn tâm hãy còn, nhận ra trí này đang bị giác bao phủ... Nó giống như người mù đã được sáng mắt nhưng hãy còn ở trong bóng tối... Tâm có được chút thanh tịnh, có chút không phiền não... nhưng đồ đệ cảm nhận rằng bóng dáng phiền não còn lẩn khuất đâu đây... Nó đang chờ cơ hội bất giác sẽ chiếm lấy nguồn tâm... Nó như kẻ thù trong bóng tối... chực chờ một chút sơ hở là lập tức bắt ngay lấy thân tâm này giao cho phiền não.

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Con cảm thấy mình hạ liệt, con cảm thấy mình là một hàng binh, con cảm thấy mình như gã cùng tử được no đủ bởi chút cơm thừa của người bố thí...

Và con cũng thấy mình là kẻ phản bội, không dám từ bỏ bát cơm thừa để nhận những gì cao quý. Con biết rằng bằng lòng với một chút thanh tịnh có được do hiểu biết này là phản bội tâm huyết của Lão Sư, phản bội nỗ lực của các huynh đệ...

Sau mấy ngày trăn trở, nhìn các huynh đệ đặt gánh nặng xuống, nhìn sự quở trách âm thầm của Lão Sư... Con tự ngồi xuống. Ngồi xuống với quyết tâm cao nhất... Con đã học từ tấm gương Thế Tôn... Chưa thấy được vấn đề quyết không đứng dậy...

Cho đến đêm hôm, trong cái mệt mỏi của những nỗ lực, trong tuyệt vọng của chính cái giác âm thầm tồn tại trong con...

Con chợt nhớ câu nói lâu rồi của Lão Sư, đó là: “Nhất tâm để dừng hiện nghiệp”. Con nghiền ngẫm câu nói này, và lần này con thấu suốt ý nghĩa của “Nhất tâm như ý túc”.

Con quán lại duyên thấy nghe... Con bằng lòng bỏ các duyên thấy nghe xuống... Con quán nhân duyên sanh tâm... Con bằng lòng từ bỏ cả mê lẫn giác... Con quán các pháp... Con thấy các pháp lặng lẽ trôi qua trước mắt mình như dòng nước chảy qua cây cầu... Con quán lại tâm này… Thấy tâm này tự nó dừng lặng...

Một lần nữa, trong tư thế dừng lặng như vậy, con thấy lưu chú âm thầm lặng lẽ vượt qua trong con như đoàn người lũ lượt đi trên một con đường, con với họ không hề có mối liên hệ nào...

Cứ thế con lặng lẽ quán sát... Bất chợt ý nghĩa câu kinh hiện lên trong con: “Các pháp, không không, lặng lẽ, tàn tạ, niệm niệm sanh diệt”. Thưa Lão Sư!...

Con hoát nhiên thấy được “Tâm này bản lai bất động, trí này bản lai chưa từng bị cột trói”. Cộng nghiệp, biệt nghiệp... con thấy rõ nó chỉ là danh tự... Tâm này chỉ là danh tự... Pháp kia cũng chỉ là danh tự... Thế giới cho dù có động lay nhưng tâm này vĩnh viễn bất động... Các pháp cho dù có hay không, trí này vẫn tuyệt nhiên tự tại...

Khi con sống trong những thấy biết như vậy, thưa Lão Sư!... Các thiền chi lại khởi lên trong con... Lần lượt các tam muội hiện rõ... Lúc đầu tập khí giác quán hiện khởi, con quở trách tập khí này, con quyết liệt với chính nó... Chính nhờ quyết liệt này mà trí quán tịch diệt... nhưng một chút cảm nhận và tư duy hãy còn...

Con tiếp tục quyết liệt với chính mình. Hùng tâm khởi lên, nó mạnh mẽ đến nỗi toàn thân tâm của con bỗng dưng biến mất… chỉ còn cái biết bản nhiên... Cái biết này không hề bị ràng buộc hay chi phối bởi thứ gì trên đời... Nó hoàn toàn độc lập... Con chợt hiểu ra thế nào là giải thoát... Con đem trí này nhìn lại nguồn tâm, thì ý nghĩa bất động hiện rõ trước mắt... Con nhìn nó như nhìn một vật trong lòng bàn tay... Bây giờ con thấu hiểu triệt để ý nghĩa giải thoát bất động... Rồi con tự cười mình... Đúng là xưa nay hết mê đến giác... như con tằm nhả tơ tự trói...

Thưa Lão Sư!... Con đã hiểu, con đã thấy, và con thật biết thế nào là giải thoát, thế nào là bất động... Con cũng hiểu thật rõ ý nghĩa độc cư thiền định… Con thấu suốt cả câu nói của ngài Duy Ma Cật nói với Xá Lợi Phất:

“Thưa ngài Xá Lợi Phất, đâu phải ngồi một mình nơi thanh vắng mới gọi là yên... mà yên là nơi ba cõi tự yên... tứ oai nghi đều yên mới chân thật yên”.

Con nghiệm ra độc cư thiền định trong ý nghĩa này là ý nghĩa của giải thoát bất động. Thấy được giải thoát bất động chính là cứu cánh của nghĩa yên...

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Con thật sự vui mừng những gì mình chân thật thấy, những gì mình chân thật biết... Lão Sư vẫn thường hay nói:

“Giải thoát bất động là thấy rõ biết rõ... Nó là cảnh giới thực chứng chứ không phải suy luận... Nó ra ngoài mọi kiến giải ngữ ngôn”.

Đúng là Thế Tôn vẫn thường ví dụ về sự thấy biết này bằng câu nói: “Như xem trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay”. Con đã thấy những gì cần thấy trong lòng bàn tay của mình…

Con nghiệm ra: Giải thoát bất động chính là Đạo Đế, Đạo này lấy Đạo làm Đế... Thưa Lão Sư!... Những thấy biết của con như vậy đã hoàn toàn đúng chưa? Thấy biết như vậy có hoàn toàn chính xác không? Xin Lão Sư từ bi chỉ dạy...

Lý Tứ hướng về Như Bổn Mạt nghiêm giọng: “Xin chúc mừng Lão Ca... Xin chúc mừng, một chân Lão Ca đã đặt vào cửa ngõ bất động...”.

Như Bổn Mạt Lão Ca!... Vì sao tôi nói một chân đặt vào bất động... Giống như người ta ném hòn sỏi xuống hồ nước... hòn sỏi làm hồ nước nổi sóng... Hòn sỏi đã chìm, nhưng những gợn sóng không vì thế mà ngay lập tức lặng dứt... Thì cũng vậy, Lão Ca!... Cái Lão Ca thấy hoàn toàn đúng, cái Lão Ca biết không hề sai...

Nhưng những đợt sóng còn sót lại của hồ tâm hãy còn... Đừng ném vào cái hồ kia một hòn sỏi nào nữa... Đợi giây lát sau, các con sóng sẽ yếu dần và mất hẳn...

Thưa các vị!... Giải thoát bất động là như thế... Diệt Đế và Đạo Đế là như thế... Trí như ngọn đèn sáng, tâm như bầu trời xanh... Trí này sáng không ngăn ngại, tâm kia chẳng có áng mây... Tất cả đồng mất hút vào hư không... Chỉ có những ai một lần tự thấy thì vạn kiếp chẳng thể quên...

Các vị!... Đã đến lúc chúng ta quyết liệt với chính mình, đã đến lúc bỏ cái hạ liệt của gã cùng tử, đã đến lúc không khoan nhượng với những suy luận phải quấy đúng sai... Cái gì là đúng, cái gì là sai...

Cái gì là thế pháp, cái gì là Phật pháp? Các bạn thử nói đi... Còn một chút pháp nào phát ra từ tâm trí các bạn, phải lập tức biết chắc rằng nó là hư vọng... Các bạn!... Nó chính là ngón tay Thế Tôn nói trong kinh Viên Giác... Hãy từ bỏ những kiến giải về ngón tay để cho tâm trí rảnh rang mà hướng về mặt trăng chơn thiệt...

Các bạn!... Ba thứ tam muội các bạn phải vượt qua, một cái có giác có quán, một cái có giác không quán và cái cuối cùng không giác không quán...

Không giác không quán là cửa ngõ vào bất động giải thoát... Dứt giác quán, thiệt trí sẽ hiện, thiệt trí hiện bất động tâm hiện... Hai thứ này hiện rõ trong một hành giả như các bạn nhìn thấy bình hoa trước mắt... Kinh gọi điều này là “Như cái thấy mà thấy, như cái biết mà biết”... Chứ không như cái bị thấy mà thấy, không như cái bị biết mà biết...

Nói văn hoa hơn là: “Như thị kiến, như thị tri”.

Mọi bí mật đều ở chỗ này, mọi thấu suốt cũng ở chỗ này... Vào đó một lần, mới biết lời Như Lai chính là chân ngữ...

Các vị!... Một lần vào đây, các vị sẽ có được ngọn đèn sáng soi vào kinh điển... Lời Phật là chơn ngữ, muốn hiểu nó phải lấy chân tâm mà hiểu.

Lời Phật là thiệt ngôn, hãy lấy thiệt trí mà soi rọi... Các vị tự soi vào tâm này, bức tượng tự tâm sẽ lần lần hiện rõ trước mắt các bạn. Khi rọi ra ngoài, các bạn sẽ thấy những gì che chướng tâm người...

Mọi thứ rồi sẽ minh bạch dưới ngọn đèn trí tuệ...

Các vị!... Sáng hôm này, buổi sáng của hoa Ưu Đàm... Như Bổn Mạt Lão Huynh, từ đây Lão Huynh mới biết rằng mình chính là Phật Tử...

Mọi nghi ngờ, mọi thắc mắc của Lão Huynh sẽ không còn nữa... Thấy được rồi, như con hương tượng, cứ thẳng tiến vào rừng Đại Giác, không còn gì ngăn trở được Lão Huynh... Phật dạy:

“Cuộc đời như một Đại dương, không ai khác hơn các ông, hãy tự làm hòn đảo, nơi nương tựa cho chính mình và hãy tự mình đốt đuốc lên mà đi”.

Chắc bây giờ huynh thấm thía với ý nghĩa của câu nói này chứ!...

Các vị!... Chúng ta có một buổi sáng thật đẹp... Trong đời Lý Tứ mọi thứ xấu đẹp của thế gian không còn ý nghĩa... Cái đẹp của bây giờ, cái đẹp của chúng ta chính là nụ hoa Ưu Đàm đã nở... Với tôi, đây là cái đẹp nhất trong mọi cái đẹp...

“Như mây bay trên trời,

Không đẹp cũng không xấu...

Cái người trí cần tìm,

Cái đẹp trong cái đẹp.”

Xin chúc mừng Lão Huynh!... Chúc mừng các bằng hữu!..." (Còn tiếp)

Trích Tâm Pháp - tác giả Lý Tứ

Nhà xuất bản Hôị Nhà Văn - 2020 !!!

Bài viết Lý Tứ

Lý Tứ Đọc Truyện Lý Tứ - 3

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

Một trong mười kiết sử đó là nghi. Nghi chính là lực cản lớn nhất che mờ tâm trí. Người tu hành muốn thành tựu các thứ phải dứt nghi... Nghi chính là hòn đá lớn cản đường làm trở ngại tinh tấn và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người tu hành đi vào lối tẻ và từ đây phát sinh tà kiến...


Các bạn !!!

Đang ngồi khề khà chung trà lướt facebook...Đọc được đoạn trích Tâm Pháp do Lý Hiển Long đăng lại trên Trang cá nhân !!! Thấy hay quá, nên mình cũng ăn có đăng theo để mọi người cùng đọc...chơi !!!

05/10/2022

LÝ TỨ

Lý Tứ lại nói tiếp:

Các vị!... Cho đến bây giờ, trong các vị, có ai còn thắc mắc điều gì thì hãy nêu lên để được giải đáp... Một trong mười kiết sử đó là nghi. Nghi chính là lực cản lớn nhất che mờ tâm trí. Người tu hành muốn thành tựu các thứ phải dứt nghi... Nghi chính là hòn đá lớn cản đường làm trở ngại tinh tấn và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người tu hành đi vào lối tẻ và từ đây phát sinh tà kiến...

Nghi có nhiều thứ, nhưng tựu trung có ba:

- Một là nghi mình. Nghi mình là nghi tự thân không đủ sức thành tựu đạo quả bậc thánh. Chuyện này thường thấy ở đời, có những người cứ mở miệng rao giảng Đại thừa, mở miệng là “đao to búa lớn”, tối ngày bàn luận có không... thường xuyên chê bai kẻ khác là thanh Văn, là chạy theo văn tự... Thậm chí bắt chước Phật chỉ trích các quả vị của Nhị thừa... Điều họ rao giảng chưa xét đến đúng sai... Nhưng một khi có ai đó đề cập đến việc làm sao để thoát khỏi khổ phiền não, thì người này một mực chối quanh, trườn uốn như con lươn, cho rằng các quả vị Phật đề cập là của bậc thánh, mình là người thì làm sao có thể đến đó...

Các vị!... Hạng này ngoài miệng thì ngã mạn, nhưng thâm tâm thì hạ liệt... Hạng như thế, khó thành tựu Phật đạo... Giống như kẻ sợ ma, đi một mình trong đêm tối thường hay nói lớn... Nói lớn để trấn áp nỗi sợ hãi trong lòng, nói lớn để tự khỏa lấp cái lo sợ bản thân, chứ chẳng phải người này không sợ, chứ chẳng phải tự tại mà nghêu ngao...

Lại cũng có hạng vì tự mình không kham nổi ý nghĩa kinh điển, muốn khiến người khác cũng giống như mình... Vì thế, bác bỏ việc tìm tòi học tập, bác bỏ việc đọc tụng nghiên cứu, bài xích những ai ham ưa giáo pháp, sợ đụng đến ý nghĩa thâm u... Để che giấu cái yếu kém của mình, bày ra các thứ lỗi lầm khi đọc tụng văn kinh, khiến người nghe sợ hãi mà từ bỏ như mình... Hạng này là đồ đệ của ác kiến, phá hoại chánh pháp... Hành động như vậy mặc nhiên vô hiệu hóa pháp Phật mà không tự biết, lỗi lầm này khó bề sám hối...

Các vị!... Chớ có nên như vậy!... Hãy tin vào chính mình... Những gì người xưa làm được thì nay mình cũng nhất định làm được. Các quả vị Phật nói ra là chung cho vạn loại hữu tình, chẳng của riêng ai... Ai quyết tâm như pháp, người ấy sẽ thành tựu... Khi Ngũ Tổ hỏi Huệ Năng: “Ông đến đây cầu gì?” Huệ Năng đáp: “Đến để cầu làm Phật, không cầu cái khác.” Chính sự tự tin, chính cái mạnh mẽ mà thẳng thắn của Huệ Năng đã đưa con người quê mùa thất học này đến ngôi vị Tổ Sư... Có người cho rằng nói như thế là ngã mạn, xin thưa các vị, lời này không ngã mạn. Vì sao? Vì nói như những gì trong tâm suy nghĩ thì lời này không gọi là ngã mạn. Không nói hơn cái mình có thì chẳng thể gọi đó là ngã mạn. Không nói quá cái biết cái thấy của mình thì chẳng thể gọi đó là tăng thượng mạn... Bao giờ Huệ Năng nói rằng tôi đang là Phật, hoặc tôi bằng thậm chí hơn Phật, thì câu này mới đáng trách, đáng gọi là ngã mạn, tăng thượng mạn... Còn nói để cầu học, nói để thực hiện bản hoài của chư Phật, thì những câu như vậy, những ý tưởng như vậy thiệt đáng cho ta học tập...

- Thứ hai là nghi người. Nghi người ở đây là nghi bậc đạo sư... Khi nghe bậc đạo sư giảng giải, không lãnh hội hết cũng chẳng hỏi lại. Vì chẳng hỏi lại nên tâm trí không thông, không thông thì trong lòng nghi hoặc là điều khó tránh khỏi...

Phật đạo là đạo của trí tuệ nên mọi thứ liên quan đến việc tu học cần phải minh bạch.

Vì thế, điều gì chưa thông thì nên hỏi lại cho thông, không vì lý do nào đó mà để trong lòng...

Chúng ta tôn trọng nhau không có nghĩa là tôn trọng cả cái đúng lẫn cái sai... Tôn trọng nhau không có nghĩa những điều trong lòng chưa minh bạch mà không dám hỏi… không có nghĩa chấp nhận một vấn đề mà không cần biết lý do, không cần xét nét đúng sai... Làm như thế, vô hình trung trở thành kẻ si mê...

Như thế nào gọi là “Si” trong Phật giáo. Tôi xin đưa một ví dụ, các vị có thể nhân ví dụ này mà hiểu nghĩa. Ví như có người nam bắt gặp người nữ, rồi đem lòng yêu thương, thương quá hóa cuồng... Nam nhân không cần tìm hiểu thân thế người nữ, không cần biết người nữ đức hạnh ra sao, xuất thân tốt xấu, tiền sử dữ lành... Gặp người hiểu biết, chỉ ra rằng người nữ kia là giống La Sát, đêm đến ăn thịt người... Người này vì quá si mê, bỏ ngoài tai tất cả những gì đã nghe, bất chấp đúng sai, bất chấp phải quấy... Vì si mê người nữ, nên bằng mọi giá chỉ cần sống chung là mãn nguyện... Và hậu quả của si mê là nam tử ấy phải chuốc lấy khổ hoạn vào thân... Si mê có tác hại lớn như vậy...

Các vị!... Vì thế muốn có trí tuệ phải dứt si mê. Muốn dứt si mê cần phải minh bạch, điều gì chưa thông thì phải hỏi lại... Không nên chấp nhận vấn đề được nêu ra một cách mù quáng... Khi ai dạy mình điều gì, phải cần hỏi lại, vì sao ông dạy tôi cái này, tôi thực hiện theo lời nói của ông thì được những gì, không làm theo thì hại gì... Có nghĩa thực hành một điều, hay từ bỏ một điều, nhất nhất phải biết rõ lý do của nó. Cần hiểu rõ lợi ích của việc thực hiện hay từ bỏ sẽ đưa đến dứt nghi, và hiểu rõ thì mới thực hành đúng. Việc làm có đúng mới cho ra kết quả đúng đắn...

Cần nhất, hiểu rõ việc đang làm thì hồ nghi tự dứt... Có hỏi lại chỗ chưa thông, vị đạo sư mới nhân đây mà giải đáp cặn kẽ. Cặn kẽ rồi thì trong lòng nhất định dứt mối nghi về đạo sư của mình... Dứt nghi là một trong những hình thức tôn trọng. Dứt nghi mới có cung kính, có cung kính mới thực hành rốt ráo những lời được chỉ dạy...

- Thứ ba là nghi pháp. Nghi pháp là nghi cái mình đang thực hành có rốt ráo đưa đến giải thoát hay lại thêm trói buộc. Nghi pháp là nghi những gì đạo sư chỉ dạy có đưa đến an lạc hay chỉ chuốc lấy phiền não. Nghi pháp là nghi rằng những điều mình được nghe nói có phải là chánh pháp hay tà thuyết... Các vị!... Muốn dứt cái nghi này phải căn cứ vào lời dạy của Phật. Muốn dứt cái nghi này phải có sự thông cảm của hai bên. Muốn dứt cái nghi này trước tiên cần phải giác ngộ... Vì thế muốn dứt cái nghi này, cần có sự nỗ lực của cả hai bên, đó là nỗ lực của đạo sư và nỗ lực của người cầu học... Và cả hai, mỗi mỗi đồng căn cứ vào lời Phật dạy… gọi là nương thần lực chư Phật...

Thế nào là phải căn cứ vào lời Phật dạy? Lời Phật chính là mực thước để người tu hành y theo đó xác định đúng sai. Giống như người thợ hồ, muốn xây chiều đứng phải có dây dọi, muốn cân chiều ngang phải có thước thủy... Đây là công cụ để người thợ xác định đúng sai... Phật pháp cũng có những công cụ như vậy. Trước khi nhập Niết Bàn, Phật có di huấn lại, để đời sau biết đâu là lời Phật, đâu là chẳng phải...

Phật dạy: “Người tu hành nên căn cứ vào hai điều, đó là: Giới luật và nghĩa kinh... Giới luật lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy, nghĩa kinh lấy tứ Niệm Xứ làm chỗ nương tựa... Lời nào phù hợp với giới là lời của Phật, Pháp nào đưa đến thanh tịnh, sáng tỏ bốn niệm xứ là phù hợp nghĩa kinh…”.

Phật cũng dạy: “Nơi nào, những ai làm cho các ông an lạc, làm cho các ông thấu triệt diệu lý, thì dù người đó có đánh đuổi các ông cũng không được bỏ đi...”. Cái này phụ thuộc vào hai bên. Thứ nhất thuộc về người thính pháp... Người thính pháp phải thỉnh hỏi đạo sư cặn kẽ để dứt cái nghi về người. Người thuyết pháp phải thiện xảo giúp người thính pháp giải tỏa nghi hoặc và mau chóng đưa họ đến giác ngộ như pháp... Khi đã thật sự giác ngộ thì nghi hoặc chấm dứt, kiết sử trói buộc không còn thì thế lực trì kéo sẽ bị triệt tiêu...

Điều này Phật có đưa ra ví dụ: Như con chó, khi ném một vật, tức thì con chó chạy theo vật bị ném... Con sư tử khi ném một vật, sư tử sẽ vồ ngay chủ thể ném ra vật đó... Thì cũng vậy, người tu hành, như con sư tử, khi nghe thuyết pháp, liền vồ ngay nguồn tâm của mình, chẳng như con chó kia chạy theo văn tự... Vồ ngay nguồn tâm sẽ giết chết đối tượng làm cho tâm này điên đảo. Người thuyết pháp, đối trước người thính pháp, không chạy theo tiền đề hươu vượn đảo điên của người nói đưa ra, mà hãy vồ ngay nguồn tâm khiến họ mau giác ngộ...

Với người chưa giác ngộ, chớ có giảng giải đạo lý nhiều... Giống như người uống rượu, say quá hóa mê. Vì mê, lầm tưởng gốc cây bụi cỏ là nhà... Người đời chưa giác ngộ như kẻ nghiện rượu, sáu căn uống sáu thứ rượu trần cảnh cả ngày lẫn đêm, uống riết từ say đến mê. Vì mê nên chẳng biết “mặt mũi xưa nay”, lấy ba cõi làm nhà, lấy dục ái làm cha mẹ... Đối với người đang say mê vì rượu như thế, chớ có nên giảng giải đạo lý, mà biện pháp trước mắt là hãy làm cho họ tỉnh dậy hết say. Thì cũng vậy, đối với người đời say mê trần cảnh danh tướng, thì không vội giảng giải đạo lý cao siêu, mà hãy làm cho họ dừng lại, thôi không uống trần cảnh nữa... Một khi người kia tĩnh tâm tĩnh trí, bây giờ giảng giải đạo lý cũng không muộn... Bằng làm ngược lại thì thứ đạo lý nói ra chẳng khác người say nói chuyện với người say, người mê giảng giải đạo lý trong mê, không có nhiều ích lợi...

Giảng giải trong hoàn cảnh như thế cũng gọi là điên đảo. Chẳng những tự mình điên đảo mà thêm khiến người điên đảo... Tự mình điên đảo mình chịu được rồi, khiến người điên đảo tội nghiệp cho họ... Các vị!... Chớ có làm như vậy!...

Đó là lý do vì sao Phật chưa sẵn sàng nói thật nghĩa khi tâm đồ đệ còn hư dối. Đó là lý do vì sao Phật phải ba lần chuyển Pháp Luân. Đây là lý do vì sao đồng một Phật đạo lại có quyền có thiệt... Ngày trước, khi còn tại thế, Phật dùng Tứ Đế để chuyển pháp luân lần thứ nhất tại vườn Lộc Uyển, giống như làm cho người say giã rượu.

Lần chuyển thứ hai tại núi Kỳ Xà Quật khai nói Diệu Pháp Liên Hoa, như người say đã tỉnh, bây giờ mới giảng giải đạo lý để người kia hồi tưởng tên họ thân thế quê quán của mình mà biết đường về...

Lần chuyển thứ ba tại thành Câu Thi Na, giống như người say kia đã về đến quê quán, bây giờ biết đích thực mình là ai. Vì thế thật nghĩa mới được nói ra, đó là “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Có nghĩa ba cõi chính là Phật quốc, ông đang là Phật, trước đây vì say mê ngủ bờ, ngủ bụi mà quên mất cái cao quý của tự thân... Như gã cùng tử, làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày mà chẳng biết cha mình là trưởng giả...

Các vị!... Nhưng vì sao đồng là Phật đạo, mà người tu hành lại hiện khởi các mối nghi? Ngoài những ý nghĩa như tôi đã nói, còn một lý do khác khiến người chưa thông hiểu Phật lý phát sinh nghi ngờ... Đó là: Chính cái thâm u muôn màu muôn vẻ của Phật đạo!...

Nếu có người nào đó, nhìn Phật đạo dưới nhãn quan tôn giáo thì thấy Phật đạo là một tôn giáo, vì ở đây có đầy đủ màu sắc của tôn giáo, vì rằng cũng có các nghi lễ, cũng có giáo chủ, cũng có giáo điều... Nếu ai đó nhìn Phật đạo dưới nhãn quan triết học, thì thấy Phật đạo đúng là triết lý, vì ở đây cũng có lý luận khúc triết, cũng có suy tư và trăn trở, cũng có các khái niệm vũ trụ nhân sinh... Nếu nhìn Phật đạo dưới con mắt của một nhà giáo dục thì Phật đạo lại là một nền giáo dục, vì ở đó có đầy đủ giáo trình giảng dạy, có học thuật, có các thứ cần có của một nền giáo dục chính thống...

Như vậy Phật giáo đích thực là cái gì... Xin thưa các vị, Phật đạo là Phật đạo chẳng là cái gì hết!... Nếu Phật đạo là cái gì, thì thứ đã nhìn thấy là cái đó chứ chẳng phải Phật đạo...

Giống như viên ngọc dưới ánh sáng mặt trời, nó có màu gì... Xin thưa viên ngọc kia không màu... Vì không màu, nên tùy vào góc nhìn, tùy vào ánh sáng mà người ta cảm nhận viên ngọc kia có nhiều màu sắc khác nhau... Nếu quả thật viên ngọc có một màu nhất định thì mọi người dù nhìn ở góc độ nào cũng chỉ thấy đồng nhất một màu...

Điều này đưa đến kết luận gì? Xin các vị hãy rời xa nhãn kiến của mình thì sẽ thấy ý nghĩa đích thực của Phật đạo...

Dùng nhãn quan của một cá nhân hay một nhóm người rồi đánh giá Phật đạo là gì thì nhãn kiến này sẽ làm chúng ta chấp nhất và nghi ngờ... không giúp tự thân và mọi người thấu suốt đạo lý... Chính vì điều này mà…

Phật thường tuyên nói: “Không pháp mới là Phật pháp”. Có nghĩa: Nếu còn một pháp nào, thì đó là pháp chứ chẳng phải Phật pháp...

Giống như người ngủ mê thấy mình chạy qua nhiều thành ấp, bảo rằng những thành ấp là có thì kết luận này không đúng, nhưng ngược lại một bề quyết rằng thành ấp này là không thì điều này cũng trật... Muốn thấy chân thật là có hay không, xin các vị hãy thức dậy đi. Khi thức dậy thành ấp là có hay không, là đẹp hay xấu, nó như thế nào... sẽ tự biết rõ!...

Nhưng thưa các vị!... Vì sao Phật đạo lại muôn màu muôn vẻ như thế? Chỉ vì chúng sanh tâm nghiệp chẳng đồng, chỉ vì chúng sanh căn cơ sai khác, chỉ vì chúng sanh ham ưa mỗi loài một thứ... Để khiến hết thảy đồng rời những dị biệt hư dối kia, mà Phật phải nhọc lòng hóa hiện muôn hình muôn vẻ, dùng sai khác để dẫn hữu tình về cái chẳng khác. Dùng quyền để dần dần nói cái thiệt... Cái thiệt nói ngay, như đứa trẻ ăn đồ sống sẽ phát bệnh cuồng... Vì thế, kinh Phật có dạy: “Vì thương chúng sanh nên Như Lai vẽ các hình”. Đã đến lúc, các vị!...

Hãy từ bỏ thấy nghe sai khác, đã đến lúc phải quay về với chỗ đồng... Thanh tịnh tâm chính là bến bờ, chính là bãi đỗ, chính là cội nguồn của những kẻ lạc loài...

Các vị!... Mười người các vị, ít ra đến giờ phút này cũng thấy được tác hại của sáu thứ rượu trần cảnh. Có người dừng uống, có người đã tỉnh hẳn, có người sắp làm một cái gì đó khi biết mình hết say sưa... Con đường trước mặt còn rất dài...

Ai còn nghi ngờ gì trong hoàn cảnh này, cần thiết phải nêu lên. Nêu lên để tất cả cùng mổ xẻ, cùng nhau làm sáng tỏ... Sáng tỏ để chuẩn bị làm một hành trình mới dài hơn trong Phật đạo... Nào xin mời các vị, nếu chưa dứt nghi quyết chưa đi tiếp...

Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người một lượt, rồi nói:

Như Lực Cô Nương!... Cô Nương hãy tận dụng hết những gì có được trong khả năng của mình... Chế một bình trà thật ngon rồi mời các bằng hữu... nâng chén... Nào Cô Nương hãy nhanh lên... Như Lực!...". (Còn nữa) !!!

Trích Tâm Pháp - tác giả Lý Tứ
 

Bài viết Lý Tứ

Lý Tứ Đọc Truyện Lý Tứ

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

Cái ngã (hư vọng) vẫn là đề tài muôn thuở...Nó chính là ngọn núi Tu Di sừng sững mọc lên trong trong tâm thức u mê che mờ ánh sáng chân lí... ngăn bước tiến của người tu hành !!!


Các bạn !!!

Vừa thể dục xong, tính nghỉ một chút rồi làm công chuyện !!! Bất ngờ đọc được một đoạn Tâm Pháp do Lê Nhất Diệu Thảo (Lý Hiền Long) đăng lại trên Facebook của bạn ấy !!!

Lâu lắm rồi, chẳng có thì giờ đọc mấy cuốn sách mình đã viết !!! Không ngờ hôm nay đọc đoạn trích Tâm Pháp thấy hay hay, trong lòng thầm nghĩ: Không biết hồi xưa sao mình lại viết được những đoạn văn như thế ??? Có lẽ mạch văn bắt nguồn từ một đương cơ nào đó, đến nay không còn nhớ nổi !!!

Mình biết rất rõ thói quen của bản thân, không có đương cơ thì cái miệng "câm như hến", nặn một chữ làm thuốc cũng không ra !!! Bởi vì, ngôn thuyết Phật đạo mà không bắt nguồn từ đương cơ, nhất định sẽ như "bò nhai rơm khô" chẳng có chút ý vị !!!

Và, cuộc đời của mình đã cho ra cả ngàn trang sách, cả ngàn bài viết...Chưa trang sách hay bài viết nào chẳng bắt nguồn từ một đương cơ cụ thể !!!

Đọc xong đoạn trích, mới thấy rằng đương cơ của ngày ấy đến hôm nay vẫn còn nguyên ý vị !!! Tâm cơ của HĐ ngày đó và tâm cơ của HĐ hôm nay chẳng có gì sai khác !!! Đây cũng là lí do vì sao vô số món thuốc chữa tâm bệnh của chư Phật để lại từ ngàn xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị !!! Nếu có khác chăng, chỉ khác ở cách bào chế, nhãn mác...bao...bì...!!!

Tối nay, mình sẽ tiếp tục trao đổi với các bạn về chuyện cái ngã !!! Vâng, cái ngã, cái ngã...và...cái...ngã !!! Cái ngã (hư vọng) vẫn là đề tài muôn thuở...Nó chính là ngọn núi Tu Di sừng sững mọc lên trong trong tâm thức u mê che mờ ánh sáng chân lí... ngăn bước tiến của người tu hành !!!

Mời các bạn cùng Lão Lý nhâm nhi đoạn trích Tâm Pháp cũ mèm, coi như nhâm nhi li cà phê buổi sáng cho...đỡ...ghiền !!! Ha ha ha ha !!!

20/09/2022
LÝ TỨ

"....Bát đệ từ đầu đến giờ mới lên tiếng. Thiệt là hoan hỷ!... Thiệt là hoan hỷ!... Đệ tử đã gần lục tuần, cái thân lùn thước rưỡi này mới có cơ duyên tận mắt chứng kiến sự việc khó tin... Cái đầu hói của đệ tử tóc không còn mấy cọng, chắc là từ đây có thể mọc lại rồi... Nói đến đây lão cất giọng cười sang sảng... Lão rót trà ra ly, mời mọi người nâng chén...

Lão tiếp:

Thưa Lão Sư!... Đệ tử ngày xưa vốn là con hát, nghề ngỗng chẳng tinh thông gì mấy, nhưng cũng không đến nỗi vô duyên... Cuộc đời của đồ đệ toàn là diễn tuồng, không ngờ hôm nay vở tuồng thành thật... Lão mới nghiệm ra giả thật không hai... Ha ha ha ha!...

Thật giả tùy duyên, nơi hư không mà dựng lên cái sân khấu là đã có thể biến ra thành quách, thì nơi thành quách lẽ nào chẳng hóa thành không... Có hay không cũng chỉ là việc của mê lầm... Như người diễn tuồng giỏi, nhập vai rồi cười rồi khóc... Khi lột cái áo trả lại phường tuồng thì bản chất thật sự nào có khóc cười... Ha ha ha!... Thiên hạ đang diễn tuồng đời mà không tự biết, diễn riết tưởng thật, quên hẳn thân thế của mình... Đã đến lúc hạ màn!... Vai diễn trả về cho sân khấu… Ha ha ha ha!...

Nói tới đây lão lạy dài Lý Tứ... Lão tiếp:

Lão Sư đúng là kỳ nhân, chỉ vài lời nói khiến người mê thành ngộ, biến kẻ u tối này trở thành sáng suốt... Thân này như cái áo diễn tuồng, hết vai thì bỏ, nào có tiếc gì...

Bây giờ đồ đệ mới hiểu ra câu nói của Lục Tổ Huệ Năng: “Lá rụng về cội”... Kẻ chẳng thức ngộ, như lá trên cành bị gió cuốn đi... Rồi lão cất giọng phường tuồng:

“Gió thu hề, lá vàng rơi hề,
chẳng biết về phương mô hề”…

Cả bọn nghe lão hát xong đồng vỗ tay tán thưởng... Lão tiếp:

“Đời nghệ sĩ chỉ mong có tiền hề,
chẳng cần tiếng cười hề”.

Lý Tứ nghĩ thầm trong bụng, chín người này toàn hàng quái kiệt trên đời. Cái danh Trung Nguyên Cửu Tuyệt không phải vô cớ...

Bát Đệ trong cơn cao hứng lão lại ngâm tiếp:

“Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán”.

Lão lại hát:

“Ngày xưa hát để mua vui,
Bây giờ hát để cho người thế gian.
Biết đời như mộng kê vàng,
Hoàng Lương chưa chín đã tan mộng rồi!...
Giấc Nam Kha tỉnh dậy thôi!...
Mộng thì chẳng thật có rồi lại không.
Có không chẳng giữ trong lòng,
Chữ “Như” hiểu thấu có không chẳng màng”.

Lý Tứ lại nghĩ: Cái lão này ứng phó mau lẹ, nguồn tâm linh hoạt mà hơi hám tinh thông.

Nghĩ vậy Lý Tứ lên tiếng:

Thưa Bát Huynh!... Tôi vừa nghe lão hát: “Có rồi lại không”, tôi không hiểu Lão Huynh muốn nói cái gì có cái gì không, xin Lão Huynh vui lòng luận giải cho mọi người cùng nghe.

Lão Bát nói liền:

Thưa Lão Sư!... Nhân khi đọc mấy câu kệ trong kinh Kim Cang, tâm đồ đệ chợt vỡ lẽ. Bổn lai tâm này như chiếc gương sáng, chẳng thấy “có” cũng chẳng thấy “không”. Một phen mê lầm vạn pháp sinh khởi, vì mê cái sinh khởi nên nói rằng “có”... dứt cái mê kia tạm gọi là “không”... Thật ra nơi vắng lặng tự như, cái “không” còn không có thì làm gì có cái “chẳng không”. Xin Lão Sư ấn chứng cho đồ đệ...

Lý Tứ nghiêm giọng nói:

Lão Huynh thiệt chẳng phải phường tuồng, mà là bậc Long Tượng trong đời. Lời luận của Lão Huynh chính là chiếc chìa khóa mở toang cửa đạo. Xin chúc mừng Lão Huynh hôm nay con mắt sáng ra...

Lão Bát nói tiếp:

Ơn đức của Lão Sư muôn kiếp đồ đệ chẳng thể đáp đền... Từ hôm gặp nhau đến nay, lời nào của Lão Sư cũng như thể cầm chiếc chìa khóa trao tận tay anh em chúng con. Chỉ có cơ duyên chưa đến nên chẳng nhận ra. Mỗi lời luận của Lão Sư là một nhát gươm chặt đứt ràng buộc trong lòng. Tuy thế, cho tận mãi đến hôm nay, khi thấy Lão Sư ân cần cầm tay Ngũ Huynh hỏi han, đồ đệ mới nhận ra cái gì là “Ngã”.

Một phen thấy nó, mới biết xưa nay không ngã không tâm. Như người diễn tuồng mê vai diễn mà có khóc có cười, nhầm tưởng có ngã rồi đi tu cho vô ngã. Hỡi ôi!... Thiệt ra cái gì là ngã, cái gì là tâm... Khi mê nhận cái hư dối làm tâm, giữ gìn cái tâm hư dối thành ra có ngã. Một khi thức tỉnh, mới biết rằng “ngã” còn không có hà huống “vô ngã”... Bây giờ đồ đệ mới hiểu cái câu: “Bạch Thế Tôn! Từ lâu chúng con bị cái vô ngã làm ngại”. Lão Sư ơi!... Nhất cử nhất động của Lão Sư đều có ý vị, đều để dạy người... Lão Sư thiệt là từ bi. Trong mắt đồ đệ Lão Sư chẳng phải con người...

Lý Tứ tiếp lời:

Nếu chưa biết thì thôi, một phen thấy rồi chớ để nó mất... Tuy có giác ngộ nhưng tập khí thế gian vẫn còn. Phải biết cách giữ gìn, giống như con gà ấp trứng, khi chưa nở thành con thì chớ có rời khỏi ổ...

Xin các vị cố nhớ lời tôi, tất cả các quả vị của Phật môn đều dùng tứ gia hạnh để gia trì, như con gà ấp trứng...

Khi vừa thoáng thấy chút thanh tịnh trong lòng gọi là Noãn Vị. Đây chỉ là cái phôi thai, phải chăm sóc nó bằng cách xa lìa hai nghiệp đó là cộng nghiệp và biệt nghiệp. Xa lìa cộng nghiệp bằng cách tìm nơi A Lan Nhã vui cảnh độc cư để tránh cái duyên thấy nghe. Không được bàn chuyện quân trận, nắng mưa thế thường... là nghĩa này. Giống như thuần dưỡng con thú hoang phải không cho nó gần gũi nơi hoang dã quen thói bầy đàn... Xa lìa biệt nghiệp là phải siêng năng tu tập thiền định, kinh gọi là “Làm trái hiện nghiệp”...

Cái thân này ham thích phóng dật nên ưa ngủ nghỉ vì thế không có Chánh Tinh Tấn... Cái miệng này ham thích nói năng bàn chuyện thế gian nên chẳng sanh Chánh Ngữ... Cái ý này suy nghĩ mông lung làm hư thanh tịnh nên không thể có Chánh Định… Xa rời hai nghiệp, giữ gìn cho cái phôi kia thành trứng gọi là Noãn Vị...

Khi đã thành trứng rồi, đến thời, cái trứng thành con. Con lớn dần khảy mỏ thoát ra khỏi vỏ, đây là thời kỳ đưa thanh tịnh đến cao trào.

Đi đứng thức ngủ đều chẳng rời cái vị thanh lương này gọi là Đảnh Vị. Giống như người leo núi, lên đến đỉnh núi nhưng chút da bàn chân vẫn còn dính đất. Vì thế thân đã ở trong hư không nhưng chẳng thể rốt ráo vào hư không. Muốn rốt ráo vào trong hư không phải quyết tâm đoạn tuyệt cái tâm sinh pháp... kể cả khái niệm thanh lương thanh tịnh cũng chẳng chút bận lòng. Cái ngã phải sạch từ thô đến tế. Làm như thế mới mong vượt qua Đảnh Vị. Vượt qua Đảnh Vị lòng tựa hư không...

Như con gà đã ra khỏi vỏ, một cuộc sống mới bắt đầu. Môi trường thế gian như là mật ngọt, như là quả đắng, như là thuốc độc... dễ hại thánh quả nên phải dùng Nhẫn Vị để bảo toàn mạng sống.

Mạng sống này do Phật pháp hóa sanh nên không thể dùng cách thế của ba cõi mà giữ gìn, vì thế phải dùng cách riêng của Phật đạo đó là Nhẫn Vị...

Nhẫn Vị có nhiều cách, nhưng tôi lược nói có hai, đó là Nhu Thuận Nhẫn và Âm Hưởng Nhẫn. Dùng hai nhẫn này để bảo vệ thánh quả, như người lính bảo vệ chủ soái của mình, không được lơ là, không được sơ suất, tối sáng cận kề bên mình tay lăm lăm gươm bén...

Nhu Thuận Nhẫn là y như chỗ đã giác ngộ mà trụ, gọi là lấy vô trụ mà trụ, kinh gọi là “Lấy thanh tịnh tâm để trang nghiêm Phật quốc”... thuật ngữ Phật gia gọi là Xa Ma Tha...

Âm Hưởng Nhẫn là đối trước thấy nghe hay biết phải biết cách giữ gìn, cách giữ gìn này gọi là Tỳ Bà Xá Na hay là Huệ quán, tức nơi thấy nghe hay biết đều nương nơi trí tuệ để thấu suốt “các pháp do tâm sanh”, kinh gọi là “dùng huệ Bát Nhã hiển bày tánh tịnh...”, cũng gọi là “bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm”.

Hai thứ nhẫn này khi viên mãn sẽ có tên Vô Sanh Pháp Nhẫn…Vô Sanh Pháp Nhẫn nghĩa là tâm không sanh pháp, Vô Sanh Nhẫn nghĩa là nơi các pháp chẳng có sanh tâm...

Vô Sanh lấy không tâm làm nhẫn, Vô Sanh Pháp lấy không nhẫn làm tâm... Chỉ thú này chưa giác ngộ thì muôn đời chẳng hiểu, ngộ rồi thoáng qua lỗ tai phát sinh vô số tam muội...

Từ đây, người tu hành như con sư tử tự tại giữa núi cao gọi là Thế Đệ Nhất Vị. Chỉ dựa vào chính tâm này không dựa vào cái gì khác gọi là Thế Đệ Nhất. Từ đây thế gian ba cõi không chung cùng gọi là Thế Đệ Nhất. Từ đây biết chắc ba cõi duy tâm gọi là Thế Đệ Nhất. Từ đây mới biết cái gì là chánh nên gọi Thế Đệ Nhất.

Từ đây Bát Chánh Đạo là cái nôi, là môi trường tồn tại của bậc thánh gọi là Thế Đệ Nhất.

Từ đây mới biết thế nào là tam vô lậu học, thế nào là tâm vô lậu, trí vô lậu, văn hóa vô lậu (huệ) nên gọi là thế đệ nhất... Lấy Tam Giải Thoát môn để tự ấn chứng...

Tứ gia hạnh chính là công cụ đoạn dứt phàm tình trưởng dưỡng thánh pháp. Đoạn dứt phàm tình trưởng dưỡng thánh pháp nên có tên là gia hạnh... Gia hạnh có công dụng như thế chớ có coi thường.

Như người đầu bếp chẳng giỏi, nguyên liệu đầy đủ mà không biết nêm nếm cho vừa thì thức ăn không ngon, đổ đi thì tiếc, giữ lấy phiền lòng. Như ra chiến trận mà chẳng biết sử dụng vũ khí chiến thuật thì chẳng thể thắng quân thù. Như vua mà chẳng biết điều khiển bầy tôi thì quần thần trở thành loạn thần tặc tử. Như qua sông mà không biết lái đò thì làm mồi cho La Sát...

Ở đời cũng không thiếu, một vài người may mắn sơ ngộ mà chẳng biết trân trọng giữ gìn thì chính chỗ ngộ này là đầu mối của tà kiến, chẳng những cái ngã không tiêu thất mà còn hẫy hừng.

Hẫy hừng vì ỷ thị vào chỗ có được... giống như có diệu dược mà không biết chỗ dùng trở thành độc dược, giống như có cây gươm bén mà không học cách sử dụng gươm kia trở lại đâm mình. Những lời tâm huyết xin các vị nhớ cho..." !!!

- NHÂM NHI CÀ PHÊ ĐEN VỈA HÈ CŨNG CÓ CÁI THÚ CỦA NÓ !!! 

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/dang-cap-va-phong-do

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Tâm - Hiểu - Thương

MN 102 Lý Thanh Liêm 12.02.2023

Hỏi

Các bạn!!! ... Kì này, mình xin trả lời ba câu hỏi của Thuỷ Anna!!! Trước khi trao đổi về nội dung ba câu hỏi của Thuỷ, mình xin giới thiệu đôi chút về bạn ấy!!!

Mình gặp Thuỷ trong một lần lên Tây Nguyên và quen Thuỷ từ đó!!! ... Có thể nói, lần đầu gặp Thuỷ, mình rất ấn tượng với cô gái Kinh Bắc trẻ, xinh đẹp, thông minh và ăn nói lưu loát!!!

Sau nhiều lần tiếp xúc... Mới biết Thuỷ là người con gái mang trong mình một nghị lực phi thường cùng với trái tim nhân hậu!!! Thuỷ mắc bệnh đã rất nhiều năm, mỗi năm phải trở về Hà Nội trị liệu một thời gian, nhưng vừa ra viện lập tức trở lại Sài Gòn để lao vào công việc!!!

Công việc của Thuỷ hiện tại là giám đốc công ty HaNoiBooks; Phụ trách một số chuyên mục truyền hình; Phóng viên của một số tờ báo lớn; Nhà thơ; Tác giả nhiều cuốn sách... Đặc biệt, Thuỷ chịu trách nhiệm chương trình từ thiện mổ tim miễn phí cho trẻ em!!! Với khối lượng công việc như thế... Theo mình, cô bạn trẻ Kinh Bắc làm thế nào để có thể vượt qua những khó khăn nhất định của bản thân và hoàn thành đây??? ... Quả là phi thường!!!

Thuỷ Anna cùng Thường Xuân Vân Đài là những người đã có công rất lớn giúp hai cuốn sách của mình là Vô Đối Môn và Tâm Pháp xuất bản!!! ... Mình cùng Lý Gia rất trân trọng và ghi ơn công sức của hai bạn trẻ ấy!!!

Chúc Thuỷ luôn trẻ, khoẻ để hoàn thành những gì mà cuộc đời đã trao cho bạn!!! ... Các câu hỏi của Thuỷ Anna như sau:

1) Con xin hỏi thầy về ý nghĩa sâu xa của ba chữ: Tâm - Hiểu - Thương, để thực hành được 3 từ này theo quan điểm Đạo Phật, người Phật tử phải hiểu thế nào để thực hành đúng?

2) Làm thế nào để buông cái Tôi xuống, thầy từng nói vui với con rằng: Đừng coi mình là cái đinh gì hết, thì cái Tôi khắc rơi rụng. Nhưng làm thế nào để buông được tham, sân, si xuống thưa thầy?

3) Câu hỏi này của con có thể giống câu 2 một chút, làm thế nào để những lời nói, hành động vô tình của người khác không làm mình cảm thấy tổn thương, dậy sóng trong lòng? (Có thể không coi mình là cái đinh gì, nhưng con muốn được Thầy khai thị thuyết phục hơn) Làm thế nào để ta có thể đủ kiên nhẫn với những người thường có lời nói, hành động làm tổn thương ta?

“Lặng lẽ quan sát, không đưa ra kết luận”. (Con rất thích lời dạy này của thầy, vì lời dạy này giúp con người trí tuệ, sâu sắc và nhân văn hơn. Thủy Anna)

Đáp

35.1. Ý nghĩa sâu xa của ba chữ: Tâm - Hiểu - Thương

Về câu hỏi thứ nhất, mình xin trả lời: Tâm - Hiểu - Thương là ba khái niệm mới nhìn có vẻ khác nhau... Nhưng theo mình, ba khái niệm này có cùng một bản chất...!!! ... Khi người ta giải quyết được chữ “Tâm”, nhất định hai món là “Hiểu” và “Thương” sẽ chuyển biến theo!!!

Điều này có nghĩa, Tâm là đầu mối của mọi vấn đề... Nếu Tâm ta rộng mở, nhất định ta sẽ Hiểu được người... Khi ta Hiểu được người, nhất định ta sẽ Thương người!!!

Vấn đề được đặt ra ở đây là: Làm thế nào để Tâm của ta có thể rộng mở trước mọi người, trong mọi hoàn cảnh??? ... Đối với Phật đạo, để có thể thực hiện được điều này, người ấy phải phát đại nguyện “sống vì lợi ích của hết thảy chúng sinh”!!! ... Và quyết tâm “sống với đại nguyện ấy” cho đến bao giờ: “Người ấy là đại nguyện, đại nguyện là người ấy” ... Nguyện và người phát nguyện không còn sai khác, nhất định bạn sẽ là người “Có Đại Tâm − Hiểu Người Như Hiểu Mình − Và Thương Yêu Hết Thảy Muôn Loài!!!”

35.2. Làm thế nào để buông cái “Tôi, tham, sân si” xuống thưa thầy?

Ha ha ha ha!!! Tham, sân, si là mặt trái của “cái Tôi”!!! Khi người ta không còn cái Tôi, nhất định tham, sân, si sẽ tự diệt!!! Giống như bóng đêm (cái Tôi) là môi trường tốt của những hãi sợ vô cớ (tham, sân, si) hiện hữu... Mặt trời lên, nhất định sợ hãi sẽ chấm dứt!!!

35.3. Làm thế nào... đủ kiên nhẫn với người... làm tổn thương ta?

Giống như câu hỏi thứ nhất và thứ nhì!!! ... Cái Tôi và Tâm lượng nhỏ hẹp... Chính là môi trường tốt nhất tạo nên một ổ dịch lớn (Tâm là môi trường, Tôi là virus), để con “virus ác bất thiện pháp” sinh sôi nảy nở tàn phá tất cả mọi thiện pháp, khiến ta dễ bị tổn thương khi có tác động ngoại duyên!!! ... Cách tốt nhất để tiêu diệt con virus quỷ quái ấy là: Hãy tự cách li, phun thuốc sát trùng, vệ sinh nhà cửa, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng ít nhất 20 giây, đeo khẩu trang khi ra ngoài, ăn uống đủ dinh dưỡng, tập thể dục giúp nâng cao sức đề kháng... Sau ba tuần (21 ngày), nếu thân nhiệt không tăng, không ho, không tức ngực, không khó thở, ăn ngon, ngủ kĩ, v.v... có thể dở bỏ việc cách li và hoà nhập với xã hội!!! ... Ha ha ha ha!!! ... Trường hợp sau khi tự cách li, mà cảm thấy bản thân có các dấu hiệu mắc bệnh, tâm thức bị tổn thương, phải đến cơ quan chuyên môn để người ta làm xét nghiệm và điều trị!!! Chú ý: Không được tự ý kê đơn bốc thuốc!!!

Chúc bạn... thực hiện thành công trong việc ngăn chặn và tiêu diệt con “virus bất thiện pháp” ...!!!

(14/04/2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Đẳng Cấp Và Phong Độ

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 12.02.2023

Các bạn!!! 

Những năm 2010 - 2011...Thời ấy, điện thoại thông minh chưa nhiều như bây giờ, Lý Gia cũng chẳng có Facebook!!! Phần lớn HĐ trao đổi, học tập qua email, gặp gỡ nhau bằng ứng dụng Skype trên máy tính!!!

Nhưng, không phải HĐ nào cũng biết sử dụng máy tính... Trong khi đó, yêu cầu của Lý Gia là, mọi người tối thiểu phải biết viết một bài luận ngắn thông qua đề tài đã học!!! Thế là phần lớn HĐ Lý Gia (anh nào chưa biết sử dụng máy tính) đều phải đi học Tin Học... Và, cũng nhờ tập viết luận, tập trình bày sở chứng, tập lí luận phân tích, tập phản biện, trả lời Trò Chơi Trí Tuệ thông qua emails, v.v... nên HĐ Lý Gia nâng kĩ năng viết lách, lý luận như pháp của mình lên một cách đáng kể!!!

Chẳng những thế, để nắm vững Luật Giao Thông Đường Bộ, để có thể sử dụng thành thục xe bốn bánh (ô tô), HĐ Lý Gia lại phát động phong trào học lái xe (bất kể nam, nữ), bạn nào có điều kiện là đi học, thiếu điều kiện sẽ được HĐ hổ trợ... Nhờ thế, năm người của Lý Gia ngồi trên xe, hầu như cả năm người đều có Giấy Phép Lái Xe, tệ lắm cũng B2!!! Anh này mệt thì nghỉ cho khoẻ, để anh kia ôm vô lăng...!!! Đi xa, không phải vất vả tìm tài xế!!!

Theo quan điểm của Lý Gia... Ngoài việc học đạo, HĐ Lý Gia còn phải học nhiều thứ của thế gian, vì rằng sự học không bao giờ thừa!!! Và, trong Bồ Tát Đạo, nếu Ngũ Minh (nội minh, ngoại minh, thanh minh, công xảo minh, y phương minh) khiếm khuyết một món, sẽ bất lợi trong việc giáo hoá!!!

Xin chuyển đến mọi người, một vài nét chấm phá trong sinh hoạt, học tập của Lý Gia vào những năm 2011... Sau đây là email của Lý Tứ gởi cho HĐ, luận về việc tham gia viết bài trên email, dưới hình ảnh một cầu thủ bóng đá!!!

ĐẲNG CẤP VÀ PHONG ĐỘ

Những năm của thập niên 90, trong làng bóng đá thế giới, người ta nói nhiều đến “phong độ” và “đẳng cấp”. Hai điều này, được Sir Alex Ferguson nhà cầm quân tài giỏi, đã cụ thể hoá bằng câu nói: "Form is temporary, but class is permanent” có nghĩa "Phong độ là nhất thời, đẳng cấp là mãi mãi.”

Thực tế, trong bóng đá đỉnh cao là như vậy. Cứ bốn năm

người ta tổ chức giải vô địch một lần, thỉnh thoảng có một vài đội bóng “ăn phải cái giống gì mà nổi lên như một hiện tượng”, đá cho thiên hạ xếp re, thậm chí các đại gia trong làng bóng đá cũng phải ngả mũ kính nể. Nhưng, bỗng dưng sau đó, đội bóng này xẹp hơi, mất tăm, không còn dấu tích, những “ngôi sao của một thời” vĩnh viễn lặn mất!!!

Điều này người ta gọi là phong độ. Vì thế khi nói: “Phong độ là nhất thời” cũng có cái đúng của nó, bởi thực tế như vậy.

Trong khi đó, một số nước có nền bóng đá thuộc hàng đẳng cấp, trong các giải đấu lớn, những “đại gia bóng đá” này không nổi đình đám như anh phong độ. Nhưng hầu như họ có mặt thường xuyên trên các đấu trường, và chức vô địch của những giải đấu giống như “tiền trong túi của mình”. Thỉnh thoảng, cũng có hụp lặn nhưng sau đó lại trồi đầu, và chễm chệ ngồi trên chiếc ghế “đã định sẵn của mình”!!! Những anh như vậy, thiên hạ gọi là “đẳng cấp”.

Qua hiện tượng nói trên, người ta có thể tạm rút ra kết luận về nguyên nhân hình thành “phong độ và đẳng cấp”, cũng như “định giá trị” cho hai hạng bóng đá này.

• Loại phong độ: Thuộc về những đội bóng có nền bóng đá tương đối hiện đại, nhưng thiếu “tố chất tự nhiên” của bóng đá. Phần lớn thành công của họ dựa vào sự cao hứng của một vài ngôi sao đơn lẻ, nổi lên trong một thời gian nhất định. Nó như một cơn lốc, bất chợt thổi tung tất cả những gì trong

phạm vi nó đi qua, nhưng sau đó cơn lốc kia tan biến...

• Loại đẳng cấp: Thuộc về những quốc gia có truyền thống chơi bóng, và được nuôi dưỡng cũng như tiếp cận trình độ bóng đá hiện đại, cộng với những con người có đầy đủ “tố chất một ngôi sao”... Họ được rèn luyện thường xuyên, cọ xát trận mạc ở đỉnh cao và khát khao chiến thắng...

Sự góp mặt thường xuyên trong “mâm cỗ bóng đá” nói lên đẳng cấp của mình. “Sự quyết tâm trồi lên” sau “một hồi lặn hụp” chính là “bản chất thật sự” của đẳng cấp.

Qua thời gian dài, với những emails của HĐ Lý Gia qua lại với nhau, ta có thể nhận ra rất rõ điều này. Những emails nào thuộc loại phong độ, những emails nào thuộc hàng đẳng cấp. Vị nào thuộc loại cầu thủ phong độ, vị nào được xếp vào hàng đẳng cấp... chắc không khó nhận ra!!!

Để trở thành đội bóng có đẳng cấp không dễ. Nó là sự thường xuyên góp mặt, thường xuyên cọ xát, thường xuyên rèn luyện, khát khao chiến thắng và danh dự... Để có thể trở thành “người tu hành có đẳng cấp”, việc thường xuyên tu dưỡng, thường xuyên (tập) tạo luận, thường xuyên trả lời những câu hỏi khó, thường xuyên thực hành lý luận và phản biện để tìm ra chân lí, v.v... nhất định không thể thiếu!!!

Những điều này chỉ thành tựu trong những con người có sẵn “tố chất của đẳng cấp” và sự “tập luyện thường xuyên”, cũng như biết cách tự tạo cho mình những yếu tố “cần và đủ” để làm nên đẳng cấp.

Những ngôi sao của Lý Gia ngụp lặn đâu rồi, xin hãy trồi lên, tham dự vào “mâm cỗ” của đẳng cấp đi chớ!!!

Rất mong!!!

Khán giả đang chờ quý vị!!!                      

 (22-09-2011)

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tam-su-cua-nguoi-luu-dan

Trân trọng,

Tags:

Subscribe to