Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/nhap-dai-dao

Trân trọng,

Tags:

Bài viết Lý Tứ

Phiếm Đàm Của Lý Ngọc Hải (Phần 4)

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

"Sao y bản chính" từ Group Lý Gia !!!


Phiếm đàm
CÔNG PHU LÝ GIA

Phần 2: THUẬT KHINH CÔNG CỦA LÝ NỮ PHƯƠNG DANH

Nếu như hệ thống nhân vật trong Tâm Pháp xuất hiện theo kiểu dương thịnh âm suy (nhiều nam, ít nữ - chỉ một mình Thất muội là nữ nhi), thì ở các cao thủ Lý Gia trang, yếu tố “âm” lại vô cùng thịnh (nhưng dương không suy). Một trong những minh chứng cho âm thịnh, chính là sự tinh tấn vượt bậc trong luyện thuật khinh công (môn công phu nhẹ bẫng) của 19 Lý Nữ Phương Danh – “tấm huân chương” mà “Lý Gia lão trang chủ” đích thân tán thán và phong tặng.

Tại hạ (kẻ ở dưới) – tức người viết bài này – đã từng không ít lần thầm thốt lên: “Các hạ (người ở trên) quả không phải nữ nhi thường tình”. Các hạ thật khiến cho kẻ này mở mang tầm mắt. Không hổ là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu ngoài đời, con cháu Ngài Quán Thế Âm trong đạo.”

Ai không tin nhận xét này, xin mời thâm nhập Lý Gia để tự mình “kiến thiệt tế” (nhìn thực tế) các nữ đồ đệ Lý Gia trang an tọa chủ đàn, vung đao ngôn, múa kiếm luận, khinh công hành, mà hồ tâm vẫn không gợn động, dù những cuộc ấy gặp rất nhiều câu hỏi khó và đôi khi, cả…thái độ khó của “người trong giang hồ”.

CÙNG “LÝ”, KHÁC SỰ

Trong Thần Điêu hiệp lữ của Kim Dung, có một nữ nhân ghê gớm họ Lý, đó là Lý Mạc Sầu. Lý Mạc Sầu là đệ tử đời thứ ba của phái Cổ Mộ, và cũng chính là sư tỷ của thần tiên tỉ tỉ Tiểu Long Nữ.
Cùng là họ Lý, nhưng hắc phụ Lý Mạc Sầu và Lý Nữ Phương Danh (nữ nhân họ Lý vang danh bốn phương) khác nhau rất xa ở cách hành sự.

Vốn là người con gái rất đẹp, nhưng vì chìm đắm trong Dục giới, nên sau khi thất tình, Mạc Sầu trở thành người tàn độc. Ả dùng công phu “Ngũ độc thần chưởng” và “Băng phách ngân châm” để giải tỏa hận thù, nên ngày càng lún sâu vào sát giới.

Người viết không biết trong số các nhân vật sau này trở thành Lý Nữ Phương Danh có ai thất tình không, nhưng chắc chắn một vài người, trước khi tìm ra Lý Gia trang, đã phải trải qua một vài biến cố.

Trên hành trình hành tẩu giang hồ ba cõi, họ đã bị đả thương bởi nhiều “cao thủ hắc bang” (Tham bang, sân bang, si bang chứ không phải Cái Bang) hoặc bị “tẩu hỏa nhập ma” khi luyện “Phiền não cầm nã thủ”, “Khổ sở thần kiếm”, “Hàng mê thập bát chưởng”, “Kiết sử đao pháp”, “Lậu hoặc đả cẩu bổng”, “Vô minh kiếm phổ”… Tuy nhiên, vì không biết rõ căn nguyên thâm sâu này, và không phải là nhà “chưởng học” nên các y bác sĩ thế gian gọi bệnh này là “trầm cảm”, “suy nhược thần kinh”…

Xuất phát điểm của hai họ Lý này giống nhau ở chỗ: Đều gặp những chuyện phiền não, bất như ý, nhưng Lý Nữ Phương Danh may mắn hơn Lý Mạc Sầu ở điểm cốt tử: Tìm đúng thầy chữa tâm bệnh. Tất nhiên, từ nhân đến quả là một quá trình không chỉ ở hiện đời. Những cơ duyên mà Lý Nữ Phương Danh có hôm nay, cũng không ở ngoài những nỗ lực và nhân duyên đã gieo trồng bền bỉ từ bao lâu không biết nữa.

Lý Mạc Sầu cũng có người thầy dẫn dắt, nhưng nàng không biết vị này chỉ là một “Vô minh thiền sư”, nên càng đi đường càng tắc. Tương lai của Lý Mạc Sầu cũng giống cái tên buồn bã của môn phái mà nàng bái sư: Cổ Mộ. Còn tương lai của Lý Nữ Phương Danh càng đi càng sáng giống cái tên môn phái họ cầu học - phái Niết Bàn chân đế.

Lý Mạc Sầu thường cưỡi một con lừa hoa, trên cổ đeo một chiếc chuông phát ra tiếng nhạc. Mỗi lần Mạc Sầu xuất hiện, đều nhắc đến câu hát "Vấn thế gian tình thị hà vật?" ("Hỏi thế gian tình là gì?") – để nhắc lại mối thù tình đã được nàng huân tập trong tâm thức suốt mấy chục năm rong ruổi giang hồ.

Lý Nữ Phương Danh thường cưỡi cỗ xe Bát Chánh Đạo, tay cầm dây cương cột bằng bằng 11 cuốn sách của ân sư. Mỗi lần Lý Nữ Phương Danh xuất hiện, họ không hỏi “thế gian, tình là gì” mà khẳng định: “Muội xin tán thán sự tinh tấn của các huynh đệ”. Chỉ nhìn hai cái “sự” đó đủ biết cái “Lý” cũng khác nhau một trời một vực.

KIẾP NẠN, YÊU QUÁI VÀ BƯỚC CHÂN BẤT ĐỘNG

Đoạn kết (quả báo) của Lý Mạc Sầu cũng cay đắng như những nhân duyên mà Lý Mạc Sầu đã tạo tác: Trả thù tình, nhưng lại trúng độc hoa tình. Nửa viên thuốc giải duy nhất bị Thần điêu đại hiệp Dương Quá ném xuống vực sâu, Mạc Sầu tuyệt vọng tử tự trong đám cháy tại Tuyệt tình cốc. Đến phút cuối, nàng vẫn còn hát:

"Tình là chi hỡi thế gian
Câu thề sinh tử đa mang một đời..."

Cuộc đời của Lý Mạc Sầu là minh chứng rõ ràng của một ác nghiệp được vận hành viên mãn bởi 4 yếu tố: Nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả, nghiệp báo. Cái mầm cây (nhân) thù hận được chăm sóc bằng thuốc tăng trọng tàn độc liều cao (duyên) thì quả (mất mạng) và báo (phải chết đau đớn, chết bởi đúng thứ mình khởi tạo để trả thù tình).

Cả đời Mạc Sầu đi hại người để tìm thuốc giải khỏi hận thù, nhưng nàng không biết rằng phương thuốc đoạn trừ phiền não, hận thù lại không bao giờ có trong tủ thuốc của các ông lang, dù ông lang ấy có là thần y như Hoa Đà, Biển Thước.

Thần dược ấy chỉ có trong một loại cây có “quả” tên là Vô lậu. Cái cây dị biệt kia chỉ mọc và sinh trưởng được trên “vùng đất tâm thức” có tên là Hai vô sanh (không sanh tâm, không sanh pháp). Con đường đi tới nơi có quả đó gọi là Phật đạo – nơi không thể đến bằng tàu xe chạy bằng cơm hoặc bằng xăng. Chỉ có tàu không gian chạy bằng Trí mới có thể đưa người ta đến bến Giác, cảng Ngộ!

Có đường, có cây, có quả, biết rõ nơi đến, nhưng việc hái được nó vừa khó hơn lên trời vừa dễ hơn thò tay lấy tiền trong túi. Bằng chứng là bao đời bao kiếp, hằng hà sa số người khua chiêng gióng trống đi hái quả, cuối cùng vẫn chỉ gặt được toàn quả đắng. Thế nhưng, vẫn có nhiều người hái được quả trong một niệm – thuật ngữ mà Lý Gia lão trang chủ thường gọi là “hoát nhiên”.

Muốn có có quả trong tay, ngoài nỗ lực tự thân, buộc phải có một Hướng đạo sư thượng thặng. Nếu ai không tin, xin mời nghe lại bài hát nổi tiếng “Con đường dưới chân anh” trong phim Tây du ký:

Đây hành lý anh mang�Tôi cầm cương dắt ngựa�Nhìn ngắm trời cao chập chùng�Lòng lo lắng không yên�Đường thỉnh kinh thật xa�Không màng hiểm nguy cất bước�Ngày tháng cùng năm trôi dần�Ngọt bùi đắng cay đều qua�Biết đi hướng nào về đâu�Là la là la la lá la la là la

Như vậy dù có hát “là lá la” cả đời, cũng không thể đến được đích. Nói tóm lại, đường thỉnh kinh, nếu không có Tề Thiên Đại Thánh mắt lửa ngươi vàng hộ trì, thị hiện 72 phép thần thông, ra uy Như ý gậy, nương tựa duyên lành, thì Đường Tăng sao có thể vượt được ải mỹ nhân ở Tây Lương Nữ Quốc, chứ nói gì đến ải yêu quái hóa hiện trùng trùng điệp điệp.

Nếu Lý Mạc sầu mất cả đời Mê vẫn hoàn Mê, thì Lý Nữ Phương Danh mới đi được một phần nhỏ của đời, đã cập bờ Giác. Căn bệnh trọng của họ đã được Vị lão nhân theo phương pháp “Tuệ y” kê đơn bốc thuốc. Vì lão nhân ấy là thầy thuốc kiêm kiếm khách, kiêm nhà văn, kiêm nhà sáng tác kệ, kiêm giáo viên Đại học offline, kiêm giáo viên online, nên cách chữa bệnh cũng kỳ quái: Bất kỳ thứ gì cũng có thể dùng làm biệt dược cứu người.

Ngoài đời, nếu ai quảng bá chữa được bách bệnh, ta có thể suy ra vị đó thần y dỏm. Nhưng trong đạo thì khác. Đệ nhất nghĩa y là người có thể bốc thuốc hiệu quả cho mọi loại tâm bệnh nhân gian.

Gặp đúng “quý nhân”, cộng với ý chí và sự say mê tự thân, vô minh bệnh của họ dần dần thuyên giảm, cho đến một ngày, họ “hoát nhiên” thấy thân tâm mình rỗng rang, nhẹ bẫng, hỷ lạc, không luyện khinh công mà lại đạt khinh công. Họ an trú trong trạng thái đó, không mở nhục nhãn mà dùng giác liễu soi lại tâm mình và sung sướng nhận ra: “Té ra, ta vốn chả bệnh tật gì. Cũng chả có hắc bạch bang phái nào đả thương ta, chính tâm thức hư huyễn này đã khai đao và hóa hiện ra yêu quái và các vết thương ngày càng trầm trọng.”.

Từ đó, thuật khinh công của các Lý Nữ Phương Danh ngày càng ảo diệu. Họ tiến rất nhanh trên con đường đến vùng đất có nhiều quả ngọt xuất thế. Họ điềm tĩnh và sắc sảo trên vị trí chủ đàn và thi triển võ công “Hộ trì nhất dương chỉ” cho huynh đệ. Họ ngày càng bình dị trong đời thường. Và từ chỗ là bệnh nhân, giờ đây, một mặt họ nương nhờ “Bát nhã y lực” của vị ân sư, một mặt nâng cao tay nghề, bắt đầu ra tay bốc thuốc cứu người. Họ đang bước những “bước chân bất động” đến miền đất Chân Thiệt! Họ đang thực tập để biến cả may mắn và kiếp nạn thành xăng Trí, nạp nhiên liệu cho cỗ xe vĩnh cửu!

Họ vẫn đang khiến “Lý Gia lão trang chủ” vuốt cằm (không có râu) cười ha ha tự hào và khiến cánh mày râu Lý Gia vừa nể phục, vừa “sốt ruột một cách văn minh” trên con đường tu học.

THẬT LÀ:
Nữ nhi, đâu có thường tình
Mày râu cũng phải đứng hình, sởn da
Mới hay Lý Tứ lão gia
Rèn gươm, đúc kiếm đúng là nghệ nhân!
Lý Ngọc Hải

Bài viết Lý Tứ

Ba Lần Chuyển Trí

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

Phật đạo là đạo trí tuệ và Phật đạo lấy trí tuệ làm sự nghiệp (duy tuệ thị nghiệp) !!! Tuy nhiên, để có được thứ trí tuệ ấy và lấy nó làm sự nghiệp, người tu hành phải mất một thời gian dài học tập, tích luỹ kiến thức, nghiêm cẩn tư duy, thấu suốt diệu lí và ứng dụng nhuần nhuyễn !!!


Các bạn !!!

Phật đạo là đạo trí tuệ và Phật đạo lấy trí tuệ làm sự nghiệp (duy tuệ thị nghiệp) !!! Tuy nhiên, để có được thứ trí tuệ ấy và lấy nó làm sự nghiệp, người tu hành phải mất một thời gian dài học tập, tích luỹ kiến thức, nghiêm cẩn tư duy, thấu suốt diệu lí và ứng dụng nhuần nhuyễn !!!

Giống như một người muốn có được một sự nghiệp vẻ vang nào đó… Người này phải trải qua quá trình học tập, thấu suốt công việc, lao động miệt mài, tích luỹ kinh nghiệm, trải nghiệm bản thân…vv… mới có được sự nghiệp như ý !!!

Theo diễn giải ở trên, để có được sự nghiệp trong Phật đạo người tu hành phải trải qua quá trình chuyển đổi nhận thức từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ thế gian đến xuất thế và từ xuất thế đến xuất thế gian thượng thượng !!! Ta có thể tạm hiểu quá trình chuyển đổi ấy gồm các bước sau:

- Quá trình chuyển đổi để có được “Căn bản trí”: Đây là quá trình “chuyển đổi” từ nhận thức Phàm phu thành Thánh trí, ta hay gọi nôm na là Chuyển thức thành trí !!!

- Quá trình chuyển hoá để có được “Nhất thiết trí”: Đây là quá trình “chuyển hoá” từ Thánh trí thành Sai biệt trí, ta hay gọi nôm na là học Nhất thiết trí hay học Bát nhã trí !!!

- Quá trình chuyển biến để thành tựu “Tự nhiên trí”: Đây là quá trình bùng vỡ tâm thức lần cuối cùng sau khi đầy đủ công đức, ta hay gọi nôm na là thành tựu Vô sư trí, Nhất thiết chủng trí hay Phật trí !!!

Trong quá trình chuyển đổi, chuyển hoá hay chuyển biến nêu trên… Việc chuyển đổi từ “nghiệp hữu lậu” sang “nghiệp vô lậu” là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu !!! Đây là “quá trình bản lề” giúp tẩy sạch mê muội và nhiễm ô thô trọng của tâm thức !!! Điều này giống như một nguồn nước bị nhiễm ô nghiêm trọng, muốn sử dụng nguồn nước này vào việc có ích, người ta phải làm sạch nguồn nước đó !!!

Trong buổi sinh hoạt trực tuyến của Lý Gia đêm 29/07/2022 các HĐ có nêu một số thắc mắc, mình xin được trả lời cụ thể như sau:

Hỏi:

1) Một hữu tình sau khi đã chuyển đổi thành công từ nghiệp hữu lậu sang nghiệp vô lậu, chuyển đổi này có được coi là đã chuyển thức thành trí hay chưa ???

Trả lời:

Quá trình một hữu tình chuyển đổi thành công từ nghiệp hữu lậu sang nghiệp vô lậu nằm trong quá trình chuyển thức thành trí nhưng chưa viên mãn !!!

Quá trình chuyển thức thành trí có bốn giai đoạn gồm:

- Chuyển Tiền ngũ thức thành Thành sở tác trí !!

- Chuyển Ý thức thành Diệu quan sát trí !!!

- Chuyển Mạt na thức thành Bình đẳng tánh trí !!!

- Chuyển A lại da thức thành Đại viên cảnh trí !!!

Muốn chuyển đổi thành công từ nghiệp hữu lậu sang nghiệp vô lậu, người này phải dùng Tam vô lậu học làm công cụ chuyển đổi !!! Mà, Tam vô lậu học là ba học pháp thuộc thế gian học pháp, lấy Giác lực làm nền tảng ứng dụng và hộ trì… Vì thế, ba học pháp vô lậu (thế gian pháp) chỉ có thể chuyển Tiền ngũ thức thành Thành sở tác trí và Ý thức thành Diệu quan sát trí để có “định và tuệ vô lậu” !!! Còn hai thức Mạt na và A lại gia phải cần thêm một lần “ngộ Bổn tâm” mới chuyển được, đây là công việc chuyển đổi từ thế gian sang xuất thế, nên các pháp thế gian (như ba học pháp vô lậu) không đủ năng lực và điều kiện…!!! Điều này giống như một người muốn nhắc cái thau lên, người này phải “đứng ngoài cái thau” !!!

Hỏi:

2) Muốn thành tựu tất cả các thứ trí trong Phật đạo, phải trải qua mấy lần chuyển và chuyển những thứ gì ???

Trả lời:

Muốn thành tựu tất cả các thứ trí trong Phật đạo, người tu hành phải trải qua ba lần chuyển căn bản thông qua quá trình giác ngộ do học tập và làm công hạnh !!! Ba lần chuyển đó là:

- Lần thứ nhất, chuyển Thức thành trí: Muốn chuyển thành công tám thức thành bốn trí để có được Căn bản trí, người này phải chuyển từ hữu lậu sang vô lậu và ngộ được Bổn tâm !!!

- Lần thứ hai, chuyển từ Thánh trí (Căn bản trí) lên Nhất thiết trí (Bồ tát trí): Muốn thành công việc chuyển này, phải học tập các thứ trí của Sai biệt trí, việc học tập này gồm mười học trình sai biệt cần thành tựu, đó là học trình Khổ trí; Tập trí; Diệt trí; Đạo trí; Loại trí; Pháp trí; Tận trí; Vô sanh trí; Đạo tướng trí và Nhất thiết trí !!!

- Lần thứ ba, chuyển Nhất thiết trí (Hữu sư trí) thành Nhất thiết chủng trí (Vô sư trí): Đây là lần chuyển biến sau cùng trong hệ thống trí tuệ của Phật đạo !!! Muốn chuyển từ Hữu sư trí thành Vô sư trí, người này phải trải qua công hạnh dài lâu… Đến khi hội đủ công đức và duyên chúng sanh, tâm thức tự bùng vỡ !!!

Các bạn !!!

Trên đây chỉ là những gì được coi là sơ lược nhất về quá trình thành tựu trí tuệ trong Phật đạo !!! Hy vọng, bài viết sẽ giúp các bạn có cái nhìn tổng quát để từ đấy từng bước các bạn học tập, giác ngộ và thành tựu !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

30/07/2022

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

Thể Nhập Đại Đạo

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 12.02.2023

Các bạn!!!

Sáng nay, vào trang Lytu.vn, lướt qua một số bài viết từ năm 2017 trong sách ANH LẠC LUẬN I, ghi lại sinh hoạt của Lý Gia vào thời điểm ấy!!!

Có thể nói, mười một năm qua, là hành trình dài tu tập không mệt mỏi của Đại Gia Đình Lý Gia!!!

Xin chuyển đến mọi người một vài nét sinh hoạt, những mảng học tập phong phú và sinh động của HĐ Lý Gia đầu năm 2017!!!

 

THỂ NHẬP ĐẠI ĐẠO 

(Đề tài sinh hoạt tháng 01/2017)

Các bạn!!!

“Đại Đạo” là gì???

Làm thế nào để “thể nhập”???

Có bao giờ các bạn đặt hai điều này trở thành “Chánh Niệm” để tư duy hay không???!!!

Giống như một cái máy tính, muốn chạy được những phần mềm (Computer Software) hiện đại, có dung lượng cực lớn, điều kiện bắt buộc là cái máy tính đó phải có cấu hình (computer configuration) đủ mạnh… Vì rằng, cấu hình không đủ mạnh, độ tương thích không cao… việc cài đặt phần mềm vào máy đã khó, nói gì đến việc (mong rằng) phần mềm này hoạt động hiệu quả trong một cái máy “cổ lỗ sĩ” hay “cù lần”!!!

Đại Đạo giống như một hệ điều hành hay một phần mềm hiện đại, có dung lượng cực lớn… Tâm và Trí người tu hành giống như một máy tính có cấu hình siêu mạnh… Chỉ khi nào hai thứ này (Tâm, Trí và Đại Đạo) tương thích với nhau, việc tiếp nhận Đại Đạo mới có thể thực hiện được!!!

Hy vọng sau bài viết này, mỗi HĐ chúng ta sẽ nỗ lực làm thế nào đó để có một “cấu hình mạnh”, sẵn sàng tiếp nhận một Software hiện đại, có ‘dung lượng’ cực lớn!!!

Giống như ngày xưa Thiện Tài với cấu hình siêu mạnh, chỉ cần nghe thoáng qua tai tên một Tam Muội Môn hay một Giải Thoát Môn liền thể nhập vào Software đó…

Hoặc Tát Đà Ba Luân mang một cấu hình vĩ đại đi cầu Software Bát Nhã… Hay tiền thân Phật với cấu hình cực tốt, 

cho dù bửa củi, quét nhà, gánh nước, nấu ăn cho vị Tiên Ngũ Thông “mà lại cài đặt được Đại Đạo”!!! 

Rất mong, “một vượt thoát tức thì nào đó” từ các bạn sau email này!!!                                            

   (23-01-2017)

Các bạn!!!

Muốn thể nhập Đại Đạo, phải có con người của Đại Đạo… 

Con người của Đại Đạo là hạng người mang trong mình tâm thế của Đại Đạo… Tâm thế của Đại Đạo là thứ tâm thế của một trượng phu!!!

Tâm thế một trượng phu là loại tâm thế sẵn sàng từ bỏ cái nhỏ nhen, quyền tiểu của Ba Thừa để bước vào biển lớn Trí Tuệ…!!!

Hay nói khác đi, Đại Đạo là Không Đạo… Không Đạo là trong lòng “chẳng thấy đời và đạo khác nhau”... Giống như muốn vào biển lớn để bắt con Kình Ngư, phải có con người của biển lớn… Con người của biển lớn là hạng người với tâm thế dõng mãnh, không sợ biển khơi, sẵn sàng từ bỏ luồng lạch nhỏ nhen của ao hồ, sông rạch… để dong thuyền ra biển lớn!!! Cho dù đang dong thuyền ra biển khơi, nhưng trong lòng vị này tự tại, thấy biển khơi và sông rạch chẳng có gì sai khác!!!

Muốn có được thứ tâm thế như vậy, đòi hỏi người tu hành

trong lòng phải không còn chấp nhất… Trong lòng không chấp nhất là, không thấy đời khác đạo, không thấy thiện khác ác, chẳng thấy đâu là thế gian đâu là xuất thế, không thấy ngồi thiền tụng kinh khác với mặc áo ăn cơm…!!!

Ở đâu, làm việc gì, tâm cũng như vậy!!! Như vậy!!!

Như vậy!!! Như vậy!!! Là một thứ Đại Tâm, một loại ‘trượng phu tâm’, dù bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không phát sinh ‘dị tâm’ hay ‘kỳ tâm’ (khác thanh tịnh tâm)…

Nói khác hơn, đây là một thứ tâm đã được quét sạch hoàn toàn bóng dáng của “Bốn Tướng” (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả), còn gọi là Ba La Mật Tâm hay Kim Cang Tâm…!!!

Chỉ có một thứ tâm như vậy, mới đủ sức chuyển tải hết ý nghĩa của Đại Đạo… Chỉ có Đại Đạo mới có thể dung chứa cái “vô hạn của Trí Tuệ“… Và, chỉ có Trí Tuệ, mới có thể biến “Nhất thiết pháp giai thị Phật Pháp” (hết thảy pháp đều trở thành Phật Pháp)…!!!

Nếu chúng ta chưa sẵn sàng tu tập để hình thành Đại Tâm như đã nêu thì, con đường vào biển lớn Trí Tuệ hãy còn xa lắm… Giống như muốn vào biển khơi để bắt con cá kình, mà một người hèn yếu lại bơi trên chiếc thuyền nan nhỏ bé, nhất định người này không thể hoàn thành ước nguyện!!!

Giống như miệng nói rằng, “hết thảy pháp đều là Phật Pháp”, mà trong lòng luôn thấy đây kia sai khác, pháp thiện khác pháp ác, đời khác đạo, phàm khác thánh, phiền não khác Bồ Đề… Cái thấy như thế là cái thấy của phàm phu, cái thấy phiến diện của ba thừa chứ chẳng phải cái thấy bằng tinh thần câu kinh vừa nêu hay cái thấy của Đại Đạo!!!

Trên đây, chỉ là những ghi chép sơ lược của buổi nói chuyện hôm qua… Cuộc trao đổi gồm nhiều thứ, với phạm vi của một email, mình không thể viết hết những điều đã luận bàn vừa rồi… Những gì đã viết, chỉ là phần “giới thiệu sơ lược ý nghĩa Thể Nhập Đại Đạo”… Hy vọng, những ngày tới, chúng ta sẽ tuần tự triển khai sâu hơn đề tài này!!!

Mong rằng, trong năm mới 2017, HĐ chúng ta sẽ hoàn thành Tam Tự Quy thứ nhất để làm tiền đề cho những năm tiếp theo hoàn thành các Tam Tự Quy còn lại!!!

                                                                  (02-01-2017)

Các bạn!!!

Để có những bước đầu tiên trên con đường “Thể Nhập Đại Đạo” một cách tốt nhất… Giống như người tập bơi thuyền ra biển lớn, người này phải có những hiểu biết nhất định và nhìn nhận thấu đáo về biển… Có được hiểu biết và nhìn nhận thấu đáo, con đường chinh phục biển cả mới không gặp hiểm nguy…

Trong Phật đạo, người có giác ngộ hoặc am tường kinh điển, sẽ có cách nhìn sự việc không giống người đời, giống như người am tường biển cả sẽ có cách nhìn tinh tế khi đi ra biển… Với trực nhận của một kẻ giác ngộ (hay am tường kinh điển), vị này không thể có cái nhìn lẫn lộn (lầm nhận) như người đời… Vì thế, đâu là người tu hành chân chính, đâu là kẻ giả danh (tu hành chân chính) không thể gạt được người thật sự giác ngộ trong Phật đạo…!!!

Để làm sáng tỏ điều này, mình có một câu hỏi, câu hỏi sắp được nêu lên mang tính giả định, có thể có xảy ra hoặc không có xảy ra trên đời… Hy vọng, câu hỏi sẽ giúp các bạn tư duy và dùng chính sự trực nhận của một người có giác có ngộ (hay am tường kinh điển) để tìm ra câu trả lời thoả đáng… Trả lời được, nhất định các bạn sẽ không còn lầm nhận hay mơ hồ về một đối tượng bất kỳ nào đó có thể chính các bạn bắt gặp ở vị lai… Câu hỏi như sau:

CÂU HỎI TCTT Kỳ 01-2017_Thể Nhập Đại Đạo.

Giả sử, bạn bắt gặp ba người, gồm: Một người tu hành chân chính trong Phật đạo, một ngoại đạo và một con ma, cả hai cũng giả làm người tu hành chân chính!!!

Xin hỏi: Nhìn vào xuất thân (họ hàng, dòng giống, giai cấp), nhìn vào bề ngoài (y áo, thân tướng), nhìn vào trú xứ (chùa am, nhà cửa), nhìn vào phép tắc ngồi thiền tụng kinh, nhìn vào phong cách tế lễ (cúng lạy), nhìn vào phong thái (đi đứng, oai nghi), nhìn vào ngủ nghỉ, nhìn vào cách trì giới, nhìn vào cách hiển thị thần thông… Làm thế nào để bạn biết (hay nhận định) đâu là người tu hành chân chính, đâu là ngoại đạo, đâu là con ma???

Rất mong, nhận được những trả lời lý thú và các phân tích đến nơi đến chốn đầy sáng suốt của các bạn… Những câu trả lời đúng nhất sẽ chuyển đến đại chúng sau khi nhận được trả lời của người cuối cùng…  

          (04-01-2017)

Tác Phẩm Lý Tứ

Có Phải Phật Đạo Chủ Trương "Triệt Tiêu Tất Cả Lòng Tham"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 12.02.2023

Lòng tham hay các dục, là thứ bị phần lớn người tu hành nhìn nó với con mắt không thiện cảm, không muốn nói là xấu xa, cần phải từ bỏ...

Các bạn !!!

Hôm nay thứ Sáu, lẽ ra là ngày của Chuyên Mục Mỗi Tuần Một Câu Hỏi (09)...Thế nhưng, cả tuần rồi, mình không nhận được bất kì câu hỏi nào từ bạn đọc !!! Vì thế, mình tạm thay chuyên mục thường kì “Bạn Đọc Hỏi Lý Tứ Trả Lời”, bằng Chuyện Bên Lề (27) !!!

Để tiếp tục Chuyện Bên Lề (26), hôm nay mình xin ghi lại nội dung mẫu đối thoại giữa mình và các vị khách tại Hà Nội như đã hứa !!! Nội dung câu hỏi như sau: “Có phải Phật đạo chủ trương triệt tiêu tất cả lòng tham (ham muốn), cho dù ham muốn ấy không vì lợi ích bản thân ???”

Về nội dung câu hỏi, mình xin nêu “quan điểm cá nhân” như sau:

Theo mình, lòng tham hay các dục, là thứ bị phần lớn người tu hành nhìn nó với con mắt không thiện cảm, không muốn nói là xấu xa, cần phải từ bỏ...Vì rằng, hầu như người tu hành chỉ thấy những mặt tiêu cực của tham và từ đó phán xét cực đoan về nó !!!

Phật pháp thì ngược lại !!! Phật pháp biết rằng, “tham cũng chỉ là một pháp” mà “bản lai mỗi pháp tự nó không tánh”...Cho nên, cũng pháp đó, nếu nó vào tay người trí, pháp ấy trở thành Phật pháp, theo quan điểm “nhất thiết pháp, giai thị Phật pháp” (hết thảy pháp, đều là Phật pháp)!!!

Nhưng đồng thời cũng pháp ấy, nếu lọt vào tay kẻ vô trí, lập tức trở thành “ác, bất thiện pháp” !!! Ví như con dao, bản chất của nó không tánh, tức chẳng có tánh thiện hay ác !!! Nếu con dao trong tay người trí, sẽ làm nên nhiều việc có ích...Ngược lại, con dao trong tay người vô trí, sẽ trở thành mối hoạ lớn !!!

Dựa vào thấy biết trên, Phật pháp không yêu cầu người tu hành triệt tiêu tất cả ham muốn (dục, tham), mà chỉ dạy người tu hành phải “triệt để từ bỏ” những ham muốn nào có “nguy cơ trở thành kiết sử”, tức các ham muốn có tính chất cột trói và sai sử ta đi vào ác, bất thiện đạo, hay không để ta thoát li ra khỏi ba cõi !!! Từ đó, cũng đồng thời là dục (tham, ham muốn), nhưng Phật đạo lại chia thành ba loại dục, đó là: Dục hạ liệt, dục trưởng dưỡng và dục công đức !!!

- Dục hạ liệt: Là các thứ ham muốn nào, làm cho tâm ta yếu ớt, đắm chìm, sinh các ác bất thiện tâm, cấu nhiễm, không đưa đến cứu cánh giải thoát...!!! Dục hạ liệt, gồm có năm món (ngũ dục), tức mắt đắm mê nơi sắc, tai đắm mê âm thanh, mũi đắm mê mùi hương, lưỡi đắm mê các vị, thân đắm mê xúc chạm !!!

- Dục trưởng dưỡng: Là những ham muốn nào, làm cho tâm ta mạnh mẽ, ham thích thánh cảnh, thích thú các pháp của thánh nhân...!!! Dục trưởng dưỡng, gồm ham ưa các cảnh giới thiền định, ham ưa tư duy các thiện pháp, ham ưa giải thoát, ham ưa trí tuệ bậc thánh, ham ưa làm lợi ích cho người..v..v...Còn gọi là dục thắng diệu !!!

- Dục công đức: Là các ham muốn phát sanh từ nguyện lực (Dục nguyện như ý), dục này phát sinh là do thấy thiệt tướng của các dục, biết rõ các dục tự nó không tánh !!! Do thấy biết này, kẻ trí có thể khiến người biến ham muốn tầm thường (dục hạ liệt) trở thành động lực mạnh mẽ (dục trưởng dưỡng) từ đó mau chóng giác ngộ (thành tựu dục công đức) !!!

Có phân tích đến tận nguồn cơn bản chất, cũng như các mặt tiêu cực lẫn tích cực từ cái được gọi là “lòng tham”, ta mới thấy rằng, Phật pháp sử dụng “liệu pháp trung đạo” (không cực đoan), như một công cụ hữu hiệu, giúp người tu hành biến “lòng tham” trở thành “động lực tiến tu” !!!

Có nghĩa rằng, đối trước một pháp (như lòng tham chẳng hạn), Phật pháp không triệt tiêu tất cả ham muốn của người tu tập, mà sử dụng ham muốn ấy như một công cụ đã có sẵn trong người ấy, giúp họ mau chóng hướng thiện, đây là cách “mượn gió đẩy thuyền”, khi thuyền cập bến, gió to hay nhỏ bây giờ trở thành vô dụng !!! Đây là lí do vì sao, trong Tứ Như Ý Túc lại có Dục Như Ý Túc !!!

Đoạn kinh Tương Ưng Như Ý Túc, Phật dạy có bốn thứ phải tu tập như sau:

“Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia. Thế nào là bốn?

- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tâm định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.

- Với những ai bốn như ý túc bị thối thất, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, bị thối thất là (nguy cơ làm cho) Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau (không thể thành tựu). Với những ai bốn như ý túc được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là (động lực giúp) Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau (mau chóng thành tựu). Thế nào là bốn?

- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành,... tinh tấn định,... tâm định... tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

- Với những ai bốn như ý túc này bị thối thất, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, bị thối thất là (nguy cơ làm cho) Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau (không thể thành tựu). Với những ai bốn như ý túc này được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là (động lực giúp) Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau (mau chóng thành tựu).

(Trích Kinh Tương Ưng Như Ý Túc, Phẩm Càpàla !!! Những chữ trong ngoặc đơn (...) của Lý Tứ thêm vào)

Các bạn !!!

Như vậy, ta có thể hiểu một cách vắn tắt, đối với một người chưa giác ngộ, Phật đạo không đòi hỏi người ấy phải triệt tiêu tất cả các ham muốn (tham, dục), mà chỉ quở trách những ham muốn nào có nguy cơ biến thành kiết sử, bao gồm các loại ngũ dục đã liệt kê ở phần trên !!!

Còn các ham muốn nào có tính chất thắng diệu, Phật đạo khuyến kích người tu hành phải giữ lại, giữ lại và biến nó thành động lực tu hành !!! Khi biết biến tâm ham muốn thành động lực thì, như lời kinh dạy: “Với những ai bốn như ý túc này được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là (động lực giúp) Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau (mau chóng thành tựu)”

Vì thế, các bạn cũng không phải quá băn khoăn trước những ham muốn tốt đẹp từ bản thân !!! Những ham muốn tốt đẹp, ham muốn vì người, ham muốn không phát xuất từ lòng vị kỉ xấu xa...v..v...Nó chính là “ngọn gió mạnh” thổi con thuyền giác ngộ của các bạn mau chóng đến bến bờ giải thoát !!!

Trước khi kết thúc câu chuyện, mình xin đưa ra một ví dụ...Từ ví dụ này, các bạn tự biết rằng ham muốn nào cần đoạn tận, ham muốn nào cần trưởng dưỡng, ham muốn nào sẽ trở thành công đức giúp mình và người mau chóng thành tựu trí tuệ !!!

Ví dụ: Có người do ham muốn vô độ nên lâm bệnh nặng...Người ấy đến lương y, nhờ lương y bốc thuốc, nhân có thuốc, người này cảm nhận bệnh tình thuyên giảm...Từ cảm nhận có được, người bệnh tham ưa gần gũi lương y để thăm khám và tham ưa uống thuốc !!! Khi người ấy hết bệnh, có bao giờ người ấy khởi tâm tham (ham muốn) mà suy nghĩ rằng: Bây giờ đã hết bệnh, ta nên ăn cắp thuốc về để dành, ăn cắp thuốc làm của riêng, hoặc cất giữ chờ ngày ta bịnh trở lại (nếu người ấy không...bị...tâm...thần) !!!???

Các bạn !!!

Hy vọng, bài viết sẽ giúp các bạn giải toả mối lo về “lòng tham” mà mỗi con người sinh ra trên cõi đời này, vốn dĩ ít nhiều cũng đã từng chung sống với nó !!! Phật đạo là trung đạo !!! Trung đạo là trí tuệ !!! Hãy từ bỏ cực đoan (chấp một phía), “lặng lẽ quan sát” nhất định các bạn sẽ tìm thấy sự diệu dụng trong mỗi pháp !!!

Và, một thực tế của đạo pháp không thể chối cãi, đó là: Tham ưa thiện pháp đối với người tu hành, như người tham dùng bè sang sông tránh giặc, khi người đó đã đến bờ an ổn, chẳng một ai khùng điên, lại tiếp tục tham lam, mang vác chiếc bè trên vai, để lang thang đây đó như một hành động “tri ân ngu ngốc”...để...thiên...hạ...cười...chê !!!

Chúc mọi người an vui, tự tin và tinh tấn !!!

20/09/2019

LÝ TỨ

 

Có Phải Phật Đạo Chủ Trương Triệt Tiêu Tất Cả Lòng Tham…

Có Phải Phật Đạo Chủ Trương Triệt Tiêu Tất Cả Lòng Tham…

Có Phải Phật Đạo Chủ Trương Triệt Tiêu Tất Cả Lòng Tham…

Có Phải Phật Đạo Chủ Trương Triệt Tiêu Tất Cả Lòng Tham…

Sinh Hoạt Lý Gia

Chia Sẻ Kinh Nghiệm Tu Tập Của Bản Thân

Content Editor 12.02.2023

SINH HOẠT TRỰC TUYẾN LÝ GIA ngày 21/01/2022

Chia sẻ kinh nghiệm tu tập bản thân

MB - 442 LÝ SONG HÀ

Sinh Hoạt Lý Gia

Thực Tập Đẳng Ngữ Môn: Thập Nhị Nhân Duyên Và 11 Vấn Đề Cơ Bản Của Phật Đạo|

Content Editor 12.02.2023

THỰC TẬP ĐẲNG NGỮ MÔN (Ngày 07/10/2022)
Chủ tọa: Lý Thu Hằng
1 - Thập Nhị Nhân Duyên và các cấp độ tu tập, do Lý Đức Hoàng (Đà Nẵng) trình bày !!!
2 - Mười một vấn đề cơ bản của Phật đạo, do Lý Anh Minh (Hà Nội) thuyết trình !!!

Sinh Hoạt Lý Gia

Thực Tập Đẳng Ngữ Môn: Nghiệp Và Cách Đoạn Trừ Lậu Hoặc

Content Editor 12.02.2023

THỰC TẬP ĐẲNG NGỮ MÔN (Ngày 14/10/2022) 

Chủ tọa: Lý Bạch Huệ Minh 

1 - Các vấn đề liên quan đến NGHIỆP, do Lý Ngọc Hải (Hà Nội) trình bày 

2 - Cách thức đoạn trừ lậu hoặc, do Lý Diệu An (Hà Nội) trình bày

Bài viết Lý Tứ

Phiếm Đàm Của Lý Ngọc Hải (Phần 3)!!!

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

"Sao y bản chính" từ group Lý Gia !!!

        Ly cà phê đen Miền Nam và gôc cây điệp già này là nơi Lão Lý cất tiếng cười ha ha ha ha đầu tiên với HĐ Lý Gia!!!

Phiếm đàm:

CÔNG PHU LÝ GIA

Phần 1: TUYỆT KỸ… HA HA

Trong phiếm đàm này, sẽ không nhắc đến tên của người mà “ai cũng biết là ai đó”. Nhưng những bí mật dưới đây, thì không phải huynh đệ mới vào Lý Gia nào, cũng có thể biết...

Người thành tựu “trí bén” có thể biến vạn pháp thành pháp lành để giáo hóa chúng sanh, kể cả một tiếng cười. Giống như cao thủ võ công thượng thừa có thể sử dụng một cành liễu yếu mềm đánh gãy thanh kiếm sắt.

Ở tầng bậc nào đó, pháp là Phật, Phật là pháp, bất nhị. Vì thế, nếu ai vẫn nhìn “Lão Tam Quái” bằng con mắt phàm trần (nhục nhãn), thì chỉ có thể thấy phàm thân của Lão ấy, mà không thể thấy những thiện xảo sử dụng cái “phàm thân” ấy để xuyên phá u mê tăm tối của người hữu duyên.

CÔNG PHU SƯ TỬ HỐNG

Trong Tam Quốc, Trương Dực Đức (Trương Phi) chỉ dùng tiếng thét khủng khiếp của mình tại cầu Trường Bản, mà khiến tướng Ngụy là Hạ Hầu Kiệt đứt ruột, vỡ gan, ngã ngựa mà chết. Quân Ngụy vỡ trận.

Tiếng thét ấy, còn mạnh hơn gươm đao, súng đạn. Đó là một loại năng lực nhiếp phục thế gian!

Kim Mao sư vương, một kiếm khách mù trong Ỷ thiên đồ long ký của Kim Dung, cũng sử dụng tuyệt kỹ Sư tử hống để làm kẻ thù thủng màng nhĩ, xây xẩm mặt mày, hộc máu, vong mạng.

Không thể đếm hết tuyệt kỹ “ha ha ha ha” trong hơn chục cuốn sách của “người mà ai cũng biết là ai ấy”. Lạ thay, bên cạnh những mổ xẻ cực kỳ nghiêm túc về giáo pháp, vẫn xuất hiện “ha ha”. Lần đầu tiên khi đọc những cuốn sách của Vị ấy, người đồ đệ này quả thực có chút ngạc nhiên: Hình tướng của người đã không giống “tiên phong đạo cốt”, mà văn phong cũng không giống ngữ ngôn của một bậc tu hành đạo mạo, trịnh trọng, chậm rãi, tĩnh lặng mà mình thường hay gặp trên mạng hoặc đời thường. Sao thế nhỉ? Nhưng rồi đọc bài 2, bài 3, bài 4... tự dưng thấy đoạn nào thiếu từ “ha ha”, tự khắc “nhạt miệng” như người quen ăn cay, một bữa không có ớt, tiêu, mù tạt!

Những từ “ha ha” ấy không phát ra âm thanh như Trương Phi, Tạ Tốn, bởi nó chỉ thể hiện trên chữ viết, nhưng lại có một công lực khó bàn.

Như “Vị ấy” đã nói: Cùng là chánh pháp, nhưng được thuyết bởi người chưa Giải thoát, thì kẻ tiếp nhận vẫn thấy có gì đó chưa thoát, bởi vì những lời thuyết ấy, từ sâu thẳm, không mang “vị giải thoát” thực sự. Nhưng nếu là người trí đã chứng ngộ Giải thoát – Trí tuệ, ngữ lực của lời nói sẽ ấy khiến hữu tình được cởi trói, được ngộ, được rảnh rang, an lạc.

HA HA VÀ HI HI

Nhiếp phục hảo hán giang hồ xả bỏ danh tướng, buông đao, quay đầu về bờ giác, là việc cực khó với phàm nhân, nhưng lại chẳng khó với bậc Thiện tri thức. Khó vì “cái tôi” của họ rất cao, thà chịu nhục chứ không khuất phục. Không khó là vì nếu bậc trí dùng thiện xảo, chớp đương cơ, điểm đúng huyệt đạo, thì lại giúp họ đốn ngộ nhanh chóng. Hảo hán vốn ăn to nói lớn, quyết liệt, dõng mãnh, nên nếu quyết xoay chuyển sẽ có kết quả ngoạn mục, chứ không “lờ đờ nước hến” như người lửng lơ.

Có thể thấy, Trong Tâm pháp, “Vị ấy” rất nhiều lần dùng tiếng cười “ha ha” phóng khoáng, hào sảng, hảo hán, để khích tướng và nhiếp phục Trung Nguyên cửu tuyệt. Với 9 kẻ “tiếu ngạo giang hồ” thì không thể dùng “hi hi” để đàm luận. Như vậy chẳng khác nào tặng phấn son lụa là cho nam tử hán.

Khi Thất muội băn khoăn: Tại sao ở chùa am, những người giảng Phật lại dạy cả “Tam cương ngũ thường” của Nho gia, “Vị ấy” dùng rất nhiều từ “ha ha” với đại kình lực châm biếm rất thâm thúy để phá vỡ lớp rỉ chảy lâu ngày thành cứng ngắc trong nhận thức của Thất muội (và của cả người đọc): “Cô Nương ơi!... Các huynh đệ ơi!... Có lẽ chỉ vì các cao nhân đó chắc cảm thấy Phật đạo chưa đủ sức buộc ràng cột trói, nên họ mượn thêm cái lý của Nho gia đặng cột trói thêm cho chắc mà thôi… Ha ha ha ha!... Giống như chuyện người xưa mượn dây cột trâu để trói gà... Ha ha...

Một Phật đạo chưa đủ giải thoát hay sao... mà phải đi vay mượn... Ha ha... Phen này Nho gia lãi lớn… Ha ha ha ha!...”

Với đại sư Huyền Không, cách sử dụng “ha ha tuệ chưởng” lại có khác một chút. Hãy đọc lại đoạn này để thấy cái “ha ha” bung thoát của đại sư (sau khi ngộ) và cái “ha ha” sảng khoái của lão nhân Lý Tứ khi pháp thuyết của mình giúp người hữu hiệu:

“Thiệt là diệu lý!... Thiệt là diệu lý!... Hôm nay lão nạp nghe được những lời này của Lý Đệ, hơn cả một đời tu tập của mình!... Lý Đệ quả nhiên xứng đáng với hai câu:

“Lý!... Viên dung Diệu Pháp

Tứ!... Thâm đạt Tâm Tông.”

Rồi lão Hòa Thượng cười sảng khoái!... Ha Ha Ha Ha!... Lão lại nói:

Cõi đời này còn có một con người như Lý Đệ hay sao? Ha ha ha ha!...

Lý Tứ hướng về phía lão Hòa Thượng, hai tay chắp vào nhau xá xá, miệng mỉm cười rồi nói:

- Đại Ca!... Đại Ca đừng có khen tặng Tiểu Đệ quá mức, biết đâu cái ngã của Tiểu Đệ nó lại lòi ra... Ha ha ha ha!...

Hòa Thượng Huyền Không tiếp lời:

- Lý Đệ!... Nếu có ai đó đủ phước đức thấy được cái ngã của Lý Tứ, thì người này từ đó về sau thôi hết u mê... Ha ha ha ha!...”

Không chỉ xuất hiện trong sách, các buổi zoom hàng tuần, tuyệt kỹ “ha ha” được thị hiện dưới rất nhiều hình tướng ngôn ngữ khác nhau, lúc thì thành cụm từ “cái con khỉ” (khi Vị ấy muốn nhấn mạnh sự phi lý của một nhận thức nào đó), “Nhập Niết bàn rồi sao?” (khi Vị ấy thấy thiếu mấy đồ đệ trong zoom), “Thành Phật hết rồi à?” (khi Vị ấy thấy số người tham gia zoom không đông bằng hôm trước)…

Nói chung, khi một tuyệt kỹ “Ha ha” bắn ra, thường trúng 1 hay nhiều đích: Làm trọng thương cơn buồn ngủ cho người đọc, người nghe; khiến đối tượng “giật thột” coi lại nhận thức còn âm u của mình; Khiến đệ tử thấy sảng khoái, thoát ra, thoải mái, nhẹ nhõm, không còn ràng buộc, nhưng vẫn đọng lại dư vị nụ cười mỉm chi cả trên môi và cả trong nhận thức…

THẬT LÀ:

Muôn pháp đều Phật pháp

Ha ha và hi hi

Ngữ ngôn như bão táp

Vô minh tan tức thì

THẬT LÀ:

Khéo khéo tâm tông một tiếng cười

Phá tan u tối phủ bao đời

Thụy miên đoạn diệt, hôn trầm hết

Sảng khoái thân tâm, học hết lười

(Còn tiếp)

P/s: Phiếm đàm chỉ là góc nhìn vui vẻ. Nếu nó giúp một vài huynh đệ mới hứng thú hơn với việc đọc sách, nghe pháp của Thầy và vui vẻ hơn khi tiếp cận giáo pháp, hòa nhập Lý Gia, thì người viết đã lấy làm hân hạnh lắm rồi!


 

Bài viết Lý Tứ

Phiếm Đàm Của Lý Ngọc Hải (Phần 2)

MN 168 Lý Hoài Thanh 12.02.2023

 Xin giới thiệu đến mọi người, Phiếm đàm phần 2 của Lý Ngọc Hải !!!

          Hôm qua trước nhà mình một cây dại ra hoa - đẹp nhưng không biết nó là hoa gì !!!

Các bạn !!!

Mình nhận được bài viết của Hải vào khoảng gần 23 giờ hồi hôm, lúc vừa đi nghỉ !!! Trong điều kiện đèn đuốc không có, mắt nhắm mắt mở, nheo nheo hai con mắt mà đọc, chữ được chữ mất chỉ cốt xem nội dung bức thư nói gì…!!!

Hoá ra đây là “phiếm đàm phần 2” của Lý Ngọc Hải (Hải gởi cho mình vì có liên quan đến một số trích dẫn lời mình - LT ) !!! Mình vội nhắn cho Hải mấy chữ: “OK !!! Vừa đọc xong, mai mốt (Hải) đăng để hù thiên hạ” !!! Thú thật, lúc đó đọc cho có đọc, chứ chẳng cảm nhận gì nhiều về bài viết !!!

Sáng nay, trong lúc nhâm nhi chung trà, chợt nhớ bài viết của Hải hồi khuya, bèn mở ra xem !!! Đúng là đọc trong lúc trời sáng, hai mắt ráo hoảnh mới cảm nhận hết những gì Hải viết !!! Đến cuối bài, mình “cầm lòng không đậu”, bèn nảy sinh ý tưởng “phải chia miếng bánh ngon này ngay tức thì để mọi người cùng thưởng thức thôi”, đợi Hải thì miếng bánh nguội mất, lại không còn “tính thời sự” !!!

Nhưng rồi lại nghĩ, bài của Hải thì phải để y ta đăng mới hợp đạo lí, vừa không vi phạm “quyền tác giả” !!! Nhưng xưa nay tánh mình vẫn thế !!! Gặp miếng bánh ngon mà không tức thì chia cho mọi người, nó cứ anh ách trong bụng làm sao ấy… Và, thế là mình hớp một ngụm trà nóng, đánh khà một tiếng sảng khoái, giúp tăng thêm dõng khí để “vi phạm quyền tác giả” !!!

May quá, viết đến đây Hải nhắn tin cho mình… Và, nhân tiện mình cũng đề nghị Hải cho phép mình chuyển miếng bánh nóng hổi này đến mọi người !!! Sau một hồi “đàm phán”, Hải đã đồng ý !!! Ha ha ha ha !!! “Quân tử nhất ngôn” !!!

Xin giới thiệu đến mọi người, Phiếm đàm phần 2 của Lý Ngọc Hải !!!

22/07/2022

LÝ TỨ

Phiếm đàm:

TẠI SAO LÝ LÃO SƯ KHÔNG CÓ… HỘ KHẨU THƯỜNG TRÚ?

Nếu ai nghĩ rằng Hộ khẩu thường trú của Lý Lão Sư ở tỉnh An Giang, nước Việt Nam, hẳn người đó đã nhầm…

NGƯỜI “LƠ NGƠ” CHƠI VỚI KẺ LƠ NGƠ

Người Việt đang hân hoan đợi cái ngày mà “nàng tiểu thư hộ khẩu” chính thức ly hôn với đời sống dân sinh sau hơn nửa thế kỷ chung sống. Khi có căn cước công dân gắn chip, thì thứ tài sản đã từng rất quan trọng nhưng cũng gây ra không ít phiền toái cho chúng ta – hộ khẩu – sẽ chẳng còn giá trị.

Ấy thế nhưng, từ mấy chục năm trước, có một Ông giáo nói giọng Quảng Nôm, lại sẵn sàng từ bỏ “hộ khẩu thế gian”, cầm “hộ chiếu xuất thế” đi công cán nơi “xứ xở” Ta Bà.

Những năm tháng đất nước khó khăn, với tất cả mọi người, cuốn hộ khẩu thực sự là “bùa hộ mệnh”: Mua lương thực, chứng nhận giấy tờ, giao dịch mua bán..vv..và..vv... Nhưng đối với Ông giáo, dường như nó không có quá nhiều tác dụng.

Là người đi theo con đường “kiến thiệt tế” trong đạo, nhưng ông giáo lại “thiếu thiệt tế” (thực tế) trong đời, nhất là việc làm ăn, mua bán, đổi chác. Bằng chứng là có những ngày Tết, thay vì đến chốn lao xao Lễ Tết, Ông giáo và bà xã ngồi ôm cuốn kinh Trường Bộ, bài kinh Sa Môn quả, đọc cho… đỡ đói. “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).

Đã “lơ ngơ” trong đời như thế, Ông giáo lại còn “dại khờ” chơi với người vừa nghèo vừa “lơ ngơ” hơn cả mình. Đó là hai người bạn mỗi tháng phải lên Sài Gòn bán máu mấy lần, không phải để mua thịt cá, áo quần, mà lấy tiền in... kinh Phật. Kể lể dài dòng như vậy để thấy rằng, từ lâu, với Ông giáo, tuy thân gửi ở An Giang, nhưng tâm thì đã lang thang cõi khác.

Một lần, đồ đệ hỏi Ông giáo về việc “định cư” của những Bồ tát trên cõi thế. Sau cụm từ “ha ha ha ha” quen thuộc, Ông giáo trả lời: “Bồ tát không có hộ khẩu. Ha ha ha ha. Lục tổ dạy: Lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc. Còn Lý Tứ nói: Đến đi không dấu tích/ Như cánh nhạn lưng trời. Ha ha ha ha”.

BỒ TÁT LÀM... ĐẠI SỨ VÀ CUỘC SỐNG LƯỠNG CƯ

Niết Bàn là miền đất hứa huyền diệu của vô số hữu tình ba cõi. Thế nhưng Bồ Tát lại không chịu đăng ký hộ khẩu thường trú vĩnh viễn tại Niết Bàn như A La hán, mà cứ nằng nặc đòi đi làm đại sứ ở cõi Ta Bà, để “vác tù và hàng tổng” giúp người, hoàn thiện công hạnh, thành tựu Phật quả.

Chính vì thích làm chuyện “ngược đời” như vậy, nên Bồ tát hoan hỉ sống cuộc sống... lưỡng cư (một ví dụ không giống ai của Lý Lão Sư). Lưỡng cư của Bồ tát không phải nửa trên cạn nửa dưới nước, mà là lưỡng cư vừa Niết Bàn vừa Ba cõi, vừa ngày vừa đêm, vừa thực vừa ảo.

Đang sinh sống tại Niết Bàn thanh tịnh, lộn trở lại đăng ký tạm vắng tạm trú tại cõi Ta Bà ô trược, Bồ tát phải tập thích nghi với cuộc sống của Thế gian. Theo cách ví von sảng khoái của Ông giáo: “Đang ăn uống trong sạch ở trên kia, xuống đây Bồ tát có thể phải đối diện với nguy cơ đau bụng”. Chỉ có điều, khác với người phàm, Bồ tát vẫn hoan hỉ kể cả khi đau bụng. Ông giáo kết luận: “Bồ tát như một động cơ vĩnh cửu. Họ có thể biến tất cả khổ vui xung quanh làm nhiên liệu hoạt động. Vì thế Bồ tát không tốn... tiền xăng. Ha ha ha ha. Nói chơi chơi thì đạo Bồ tát do... ăn mà thành, chứ không phải do tu mà thành. Ha ha ha ha”.

Lối sống lưỡng cư giữa ngày và đêm, cũng là đặc sản của Ông giáo 69 tuổi. Những tin nhắn, cuộc gọi lúc nửa đêm, hoặc sáng sớm, đều được phản hồi nhanh chóng đến mức ngạc nhiên. Vì vậy, có thể nói Bồ tát vừa “không tốn tiền xăng” vừa đỡ tốn thời gian ngủ. Liệu đây có phải lý do chủ đạo khiến các cuộc đàm luận online của Lý Gia thường kéo dài đến nửa đêm, trong khi đại bộ phận đồ đệ ngáp ngắn ngáp dài, thì Ông giáo tóc bạc vẫn hớn hở vung đao như nước cuốn?

Lối sống lưỡng cư ảo – thực cũng được Ông giáo thực hành triệt để. Ban ngày uống trà, đàm đạo offline, ban đêm sáng đèn online. Một trong những địa chỉ lưỡng cư tin cậy mà Ông thường xuyên lui tới là Thôn Lý Gia online, xã Tinh Tấn, huyện Rỗng Rang, tỉnh Khinh An, nước Hỷ Lạc. Địa chỉ này tuy không thuộc diện bí mật nhà nước nhưng hiện chỉ có hơn 1.030 người trên toàn thế giới biết đến. Giang hồ đồn thổi rằng: Đó là những người cùng hội cùng thuyền từ kiếp trước.

BỤT CHÙA NHÀ KHÔNG THIÊNG

Một lần khác, đồ đệ hỏi Lý Lão Sư: “Tại sao với người ngoài, con gần như kiểm soát được tâm sân, nhưng đôi lúc đứng trước vợ, việc kìm giữ dây cương con ngựa bực tức vẫn trở thành nhiệm vụ bất khả thi? Sau khi sân, con nhận ra ngay và liền quán Thọ, Thân, Pháp, Ngã, quán Nhân duyên quả báo của mình với vợ, nhưng vì sao con vẫn chưa dứt được hẳn? Xin thầy giúp con cách để kính vợ đắc thọ mọi nơi mọi lúc”.

Lại cái giọng cười “ha ha ha ha” của vị hảo hán tự do tự tại núp dưới hình hài ông giáo 69 tuổi: “Bụt chùa nhà không thiêng. Ha ha ha ha. Chuyện này phải mất thời gian dài mới rèn luyện được hết. Đây là bệnh chung của tất cả mọi người tu hành, không chừa một ai. Ha ha ha ha”.

Nghe câu trả lời, người đồ đệ vừa lái xe vừa cười khùng khục, nhưng thấy nhẹ nhõm cả cái cõi lòng: Hóa ra, hoàn cảnh của ông chồng chưa hết khổ não Lý Ngọc Hải không phải là thiểu số. Hoát nhiên, Lý Ngọc Hải thấy thương các huynh đệ Lý Gia hơn và càng nể phục các tỉ muội Lý Gia thêm nhiều lần nữa!!!

Xét cho cùng, ta với vợ, cũng chỉ là khách đến thăm nhau một kiếp. Mời khách đến nhà, ai lại mắng khách, chửi khách, đuổi khách, đánh khách bao giờ? Và nếu có yêu quý nhau, cũng chỉ là hai người tạm trú trong ngôi nhà vô thường. Hộ khẩu cuối cùng của cả hai vợ chồng phải ở cái nơi không có hộ khẩu kia mà, có gì mà sân hận, mà tranh giành, mà luyến ái!?

VỢ LÀ XẠ THỦ CHUYÊN NGHIỆP

Có lần, đệ tử nhắn tin: “Con đang nghe Thầy giảng về tu ba la mật, hay rởn người luôn. Nhưng có đoạn thầy nói cư sĩ hành đạo Bồ Tát chỉ kiến thiệt tế, không an trú Niết Bàn. Chính vì vẫn sống giữa đời thường, nên hay gặp nhiều chướng ngại. Khi chướng ngại lớn hơn mức độ giác ngộ lúc đó của cư sĩ, thì dễ bị hư tổn đạo quả đã đạt được.

Nhưng khi cư sĩ đã Chứng Diệt rồi, tức là người đó đã được cởi trói khỏi 5 món: Biệt nghiệp, cộng nghiệp, ba cõi, ngũ ấm, pháp, tại sao họ lại vẫn bị chấn động bởi cảnh của ba cõi? Thưa Thầy, điều này có liên quan đến việc Bồ tát giữ lại 20-30% khổ, kiết sử để làm động lực tu tuệ hay không?”.

Câu hỏi có vẻ loằng ngoằng ấy, được ông giáo trả lời cực kỳ tỉnh queo, nhưng lại rất có ý... thọc lét: “Đã chứng Diệt, nhưng không chịu ở yên trong Niết Bàn, mà bỏ đi lang thang ngoài chiến địa, thì đương nhiên bị tên bay đạn lạc!!! Mọi thứ đều liên quan đến trí tuệ, kể cả bị vợ...chưởi!!!”.

“Dạ, nhưng tu tập đến đâu để ta không còn bị thọ thương bởi tên bay đạn lạc và không phiền não khi vợ chưởi?” – đồ đệ hỏi.

“Thành Phật! Vì Phật có áo giáp chống đạn loại xịn nhất. Ha ha ha ha”- ông giáo giảng pháp theo cách của chương trình Ga La Cười.

“Thôi, thế con đành luyện chịu đựng tên bay đạn lạc ở Niết Bàn tại gia vậy. Con nghĩ vợ xứng đáng là cung thủ chuyên nghiệp Thầy ạ” – Người học trò thở hắt ra.

“Tất cả các bà vợ đều là xạ thủ chuyên nghiệp. Ngày xưa bà Da Du Đà La quần cho Ngài Thích Ca toát mồ hôi hột dù Ngài đã thành Phật. Ha ha ha ha” – ông giáo kết thúc “chuyên đề thời sự kéo dài hàng ngàn năm”, bằng một đúc rút có tính “chân lý” như vậy, khiến học trò không thể ngậm miệng giữa đêm.

Đang cười, người đồ đệ giật mình quay sang bên cạnh, may quá, “xạ thủ chuyên nghiệp tóc dài” vẫn đang ngáy đều đều trên giường với vẻ mặt hớn hở, an lành của một tiên nữ. Trời ơi, tại sao mình lại chỉ thấy bổn tâm thanh tịnh của nàng khi nàng... đang ngủ nhỉ”. Giá đêm dài gấp đôi thì hay biết mấy!

Lý Ngọc Hải

Subscribe to