Tác Phẩm Lý Tứ

Theo Kinh Mô Tả Về "Giác Ngộ" Của Ngài Anan Không Tương Ưng? Hay Kinh Không Tin Cậy?

MN 102 Lý Thanh Liêm 10.02.2023

− Hỏi

“Trong kinh có viết: “Lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt. Điều kiện để đươc tham gia kết tập kinh điển là Alahan. Ngài A Nan lúc đó vì mong muốn tham gia, mà cố gắng để giác ngộ nhưng không được, đến khi mệt quá ngài nằm xuống thì Giác Ngộ xảy ra” ... Phải chăng ở đây có sự mâu thuẩn? ... “Giữa chuyện mệt quá nằm xuống và chuyện Giác Ngộ là hai việc khác nhau.” ... Hay nguồn kinh không đáng tin cậy? 

(12/11/2019 20:43:42 - Lê Ngọc Tới)

- Đáp

Theo mình, câu chuyện của Ngài A Nan giác ngộ sau cú vấp ngã hay trong lúc nằm xuống (điều này các tư liệu không thống nhất) không có gì mâu thuẩn!!! ... Chuyện có nhiều người giác ngộ từ những cơ duyên bất ngờ, chẳng phải là việc lạ trong Phật đạo!!! ... Phật sử cũng đã ghi lại những trường hợp giác ngộ tương tự như thế không phải là hiếm!!!

Tại sao lại có chuyện như vậy??? ...

Theo mình, giác ngộ là giây phút bất chợt, tâm thức bùng vỡ sau thời gian dài “nhất tâm tư duy” một vấn đề nào đó của Phật đạo, từ sự bùng vỡ ấy, người tu hành tìm thấy điều cần thấy!!! ...

Nó giống như anh học trò gặp phải một bài toán khó, bỏ rất nhiều công sức tư duy, huy động tất cả kiến thức đã tích luỹ để giải quyết bài toán, nhưng không thành công... Rồi có một phút giây bất chợt nào đó, trong một tư thế (hay việc làm) nào đó, anh học trò tìm ra lời giải bài toán!!! ... Đây cũng là lí do vì sao phẩm Nhất Tâm Như Ý Túc lại là phẩm sau cùng của Tứ Như Ý Túc trong Tư Lương Vị!!! ... Nhất tâm chính là hành trang tối thiểu giúp người tu hành chuyển từ Tư Lương Vị sang Kiến Đạo Vị (từ thế gian sang xuất thế)!!!

Đây chính là nét đặc thù của Thất Giác Chi trong Phật đạo!!! ... Một hình ảnh tâm thức chín mùi và rơi rụng!!! ... Tất nhiên, muốn có sự rơi rụng do chín mùi, trái cây ấy phải trải qua quá trình hình thành, chăm sóc, dưỡng nuôi như pháp, v.v... và cuối cùng mới đến giai đoạn rơi rụng!!!

Trong cuộc đời tu tập của mình, cũng có một vài lần như thế (có lúc xe của mình đâm vào biển báo giao thông, có lúc mình ngồi quên trong nhà vệ sinh) mà thấy được vấn đề!!! ... Cách đây trên 20 năm, có những đề tài của Phật đạo đeo đuổi mình nhiều năm trời... Thức, ngủ, đi, đứng, ngồi, nằm, làm việc... Đề tài đó không rời khỏi tâm trí, nhưng bản thân không thể hiểu nổi!!! ... Trong lúc tưởng như tuyệt vọng, bất chợt mình hoát nhiên hiểu ra điều cần hiểu, thấy được điều cần thấy!!! ... Theo kinh nghiệm cá nhân của mình, giác ngộ là giây phút tâm thức chuyển đổi ngoạn mục “từ một nghiệp sang một nghiệp”!!! ... Đây là điểm khác biệt giữa cách học thế gian và cách học của Phật đạo!!!

Các môn học thế gian, giúp người học hiểu sâu về một lãnh vực nào đó của thế gian, và người ấy chỉ tăng trưởng kiến thức chứ không làm cho người ấy hoàn toàn biến thành một con người khác trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức!!! ... Ví dụ: Anh A trở thành kĩ sư, bác sĩ... Anh A vẫn là Anh A của ngày trước!!!

Còn học tập trong Phật đạo thì khác... Sau khi tiếp nhận giáo pháp, người ấy miệt mài tư duy ý nghĩa, đến lúc vỡ lẽ ra (ta tạm gọi là giác ngộ, hay thân chứng) ... Người ấy bỗng dưng biến thành một con người khác, sống bằng một thứ văn hoá khác!!! ... Để dễ hiểu, mình xin đưa ra vài hình ảnh minh hoạ như sau:

− Giống như người mù bẩm sinh, người ấy sau khi được chữa trị bởi thứ thuốc giáo pháp... Phút giây bất chợt nào đó, người ấy hết mù... Với đôi mắt sáng, người ấy sống và nhìn đời với một nhãn quan rất khác... Đời sống và nhận thức của người ấy, bây giờ hoàn toàn không giống những gì trước đó người mù ấy đã sống và nhận thức!!!

− Hoặc con nai học cách bơi của con cá!!! ... Sau khi con nai tìm hiểu hoạt động của con cá và rèn luyện như một con cá!!! Con nai bỗng dưng biến thành con cá... Từ đó, con nai sống dưới nước và bơi lội như một con cá!!! ... Chứ không phải con nai ở trên bờ hiểu cách sống con cá dưới nước bằng lí trí... Rồi khi rớt xuống nước con nai lại... “chết chìm”!!! ... Hay có người do đọc tụng rồi hiểu Niết Bàn là gì (thông qua lí trí, suy luận) ... Nhưng, cuối cùng khổ đau và kiết sử vẫn không thể tịch diệt bằng chính hiểu biết (theo kiểu thế gian) ấy!!!

Tóm lại, học Phật đạo là để giác ngộ, chứ không phải học Phật đạo để hiểu Phật đạo nói gì!!! ... Nếu ta học Phật đạo mà không giác ngộ thì, thứ Phật đạo mà ta đã học chẳng khác gì học vấn thế gian!!! ... Có nghĩa rằng, sự học ấy chỉ giúp ta tăng trưởng kiến thức chứ không giúp ta “bùng vở tâm thức” và thành tựu các đạo quả xuất thế thông qua chuyển đổi cảnh giới của tâm thức!!! ... Đây là lí do vì sao trong Phật đạo lại có cảnh giới xuất thế và cảnh giới xuất thế gian thượng thượng!!! ... Chính vì điều này, Ngũ Tổ đã có một câu nói bất hủ nhưng khó hiểu, đó là: “Bất thức bổn tâm học pháp vô ích”!!!

Lục Chủng Tánh Anh Lạc trong Phật đạo, chính là sáu (6) lần quả giác ngộ hình thành, được dưỡng nuôi như pháp và rơi rụng theo quy trình từ thấp lên cao của đạo Phật!!! ... Và đây cũng là lí do vì sao, ba cảnh giới của Phật đạo là Giác Ngộ - Giải Thoát - Trí Tuệ luôn được người tu hành coi là ba mục tiêu phải hướng đến (chứ không nhằm học thuộc lòng)!!!

Trên đây, chỉ là những nét khái quát về cảnh giới và hình ảnh giác ngộ!!! ... Hy vọng, có thể giúp bạn tìm thấy một chút gì đó trong cách học tập đặc thù để đưa đến giác ngộ trong Phật đạo!!! ... Chúc bạn an vui, tinh tấn!!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Mươi Bảy Phẩm – Tứ Niệm Xứ

MB 1059 Trần Văn Thắng 22.03.2022

Nếu như tứ diệu đế là nền móng của tòa nhà Phật giáo căn bản làm nên Phật pháp thì tứ niệm xứ được coi như các trường phái kiến trúc. Chính điều này tứ diệu đế và tứ niệm xứ không thể tách rời nhau, xét ở mặt nào đó tứ diệu đế coi như quy trình sản xuất thì tứ niệm xứ là nguyên liệu và 37 phẩm là công nghệ làm ra sản phẩm.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Nếu như tứ diệu đế là nền móng của tòa nhà Phật giáo căn bản làm nên Phật pháp thì tứ niệm xứ được coi như các trường phái kiến trúc. Nền móng, trường phái kiến trúc và chiều cao phải tỷ lệ thuận với nhau, nền móng có vững chắc tòa nhà mới xây cao được, tòa nhà càng cao nền móng càng phải kiên cố.  

Chính điều này tứ diệu đế và tứ niệm xứ không thể tách rời nhau, xét ở mặt nào đó tứ diệu đế coi như quy trình sản xuất thì tứ niệm xứ là nguyên liệu và 37 phẩm là công nghệ làm ra sản phẩm.

Quy trình sản xuất có hoàn hảo, nguyên liệu đảm bảo và công nghệ có tiên tiến thì chất lượng sản phẩm mới đạt yêu cầu. Bằng ngược lại nếu một trong ba thứ bị khiếm khuyết thì chất lượng sản phẩm không như mong muốn.

Phần trước đã khảo sát tứ diệu đế, ít nhiều có được khái niệm về sự tương quan của hai pháp này. Bây giờ tiếp tục khảo sát tứ niệm xứ, sẽ thấy mối liên hệ mật thiết và tầm quan trọng của hai pháp đã nêu.

Nói tứ niệm xứ là trường phái kiến trúc, 37 phẩm là chiều cao tòa nhà hay công nghệ làm nên sản phẩm Phật giáo không phải không có lý của nó.

Bởi lẽ, trước đã nói ba thừa của Phật giáo đều dùng chung quy trình tứ diệu đế để giác ngộ, thì tứ niệm xứ lại là cơ sở và là chánh nhân để ba thừa nương đây giác ngộ và từ giác ngộ này mới tìm thấy phương tiện cho riêng mình.

Phương tiện riêng chính là công nghệ xử lý nguyên liệu, tạo vóc dáng và làm nên tính cách riêng của sản phẩm, mỗi thừa cho ra một sản phẩm khác nhau.

  • Nhị thừa tịch diệt thân hoặc cảm thọ;

  • Bồ Tát quyền thừa tịch diệt nguồn tâm;

  • Bồ Tát nhất thừa tịch diệt tướng hư vọng.

Những sản phẩm này khi hoàn hảo có chung một đặc tính là tịch tĩnh và an lạc, ta quen gọi Niết Bàn.

Vì thế giác ngộ cực kỳ quan trọng trong Phật giáo, bởi chỉ có giác ngộ mỗi thừa mới biết nơi mình đến, con đường để đi, phương tiện đi lại và thấy rõ các chướng nạn cần vượt qua. Có thể hiểu, giác ngộ giống như người đi đường cầm trong tay tấm bản đồ và la bàn, từ điểm xuất phát đến đích biết chắc mình phải qua bao nhiêu chặng đường, mỗi chặng nên dùng phương tiện gì cho phù hợp và đích đến ở đâu.

Vì thế nếu chưa giác ngộ nhất định không thể có phương tiện thù thắng và nhất định không biết đường đi. Do đó người tu hành khi chưa giác ngộ chỉ có thể dùng các phương tiện có sẵn để thúc liễm thân tâm. Nương nơi giới luật nhằm không tạo nghiệp mới cũng như gội rửa thân tâm, làm thiện pháp để cầu phước báo trí tuệ, từ những căn bản này mới có thể giác ngộ.

Trước khi đi sâu vào phương tiện từng thừa, đầu tiên phải tìm xem ba thừa nhân đâu để giác ngộ.

Mọi Phật tử đều biết tứ niệm xứ gồm bốn điều là: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ, Pháp niệm xứ. Sở dĩ gọi niệm xứ bởi mỗi niệm xứ là một nơi chốn để người tu trong Phật đạo gởi gắm sự nhớ nghĩ của mình, có nghĩa dùng đây để ‘nhớ nghĩ, quan sát, tư duy, và giác ngộ’.

Phật giáo chú trọng đến căn, cơ, trí tuệ, mỗi căn cơ sẽ có một niệm xứ tương ưng. Có thể từ đây dùng trí tuệ tư duy quán sát bắt đầu cuộc đời tu tập. Do đó chọn cho mình một niệm xứ và gắn bó với niệm xứ này để tu hành là điều cần thiết.

Ba niệm xứ còn lại nếu đem tâm quán sát cũng chỉ là pháp hỗ trợ niệm xứ chính, làm cho niệm xứ chính rõ nghĩa.

Ví dụ khi chọn THÂN làm niệm xứ trú tâm quán sát, hành giả có thể quán thêm các niệm xứ khác như là các cảm thọ xuất hiện cũng y thân này mà có.

  • Quán tâm niệm xứ cũng phải biết ‘thân tâm’ là hai món riêng biệt, bởi dục ái chưa dứt nên hai món này câu sanh với nhau. Tâm tham đắm nơi thân, lâu dần hai món in tuồng như một gọi là ‘lưỡng chấp’, chính câu sanh lưỡng chấp này khi tứ đại của thân không điều thích tâm sinh đau đớn.

  • Bởi thân do tứ đại làm thành chỉ là vật vô tri, đau kia tự nơi tâm, nếu tâm không chấp thân, thì thân cảm đau đớn có xảy ra, tâm cũng không phiền não, dứt phiền não là đích đến của Phật giáo.

  • Khi quán các pháp cũng cần nhìn nhận thân này cũng là một pháp, pháp này hư huyễn không bền chắc, không đáng tin cậy dựa nương.

  • Quán như vậy đến lúc nào đó thân tâm sẽ tách rời nhau, kinh gọi là quả vị “Ly Thân”. Hành giả sẽ giác ngộ cứu cánh không thân, từ đây mới thấy được phương tiện ứng dụng làm cho thân tâm triệt để ly nhau thông qua các thiền thú.

  • Nói chung mọi niệm xứ khởi lên đều có khuynh hướng làm cho tường tận về niệm xứ chính. Khi niệm xứ chính được hiểu biết rốt ráo sẽ giác ngộ mối nguy hại của niệm xứ này, và cũng giác ngộ được lẽ tịch diệt của niệm xứ đó.

  • Bồ Tát gọi là trạch pháp giác phần, Thanh Văn gọi niệm giác phần. Tùy thừa mà có giác phần chủ đạo, từ đây hành giả có thể đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm điều phục, làm cho niệm xứ này tịch diệt hẳn. “Định giác phần tương đương diệt đế.” Khi tịch diệt rồi mới biết cách gìn giữ và “bát chánh đạo tương đương đạo đế.”

  • Các niệm xứ khác khi lấy làm chánh quán, cũng quán tương tự như vậy. Có nghĩa dồn mọi nỗ lực về một niệm xứ đến khi nào thật sự giác ngộ mới hướng tâm về cứu cánh đã giác theo niệm xứ mình chọn, từ đây hành giả có thể dùng chỉ hoặc quán để thân tâm khế cứu cánh.

  • Có thể thấy ba thừa đều từ tứ niệm xứ mà giác ngộ, tạm phân chia như sau:

− Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) lấy THÂN hoặc THỌ niệm xứ để giác ngộ.

− Bồ Tát lấy TÂM niệm xứ làm cơ sở.

− Bồ Tát nhất thừa quán các PHÁP để làm căn bản giác ngộ thiệt tướng.

Cho nên tứ niệm xứ là bốn nơi chốn làm cho chúng sanh khổ, nhưng tứ niệm xứ cũng là chiếc chìa khóa giác ngộ cho ba thừa. Tu hành trong Phật đạo nếu có giác ngộ nơi chốn nào khác ngoài tứ niệm xứ phải biết giác ngộ này chưa đúng trọng tâm.

  • Tiếp tục tư duy đến bao giờ thấu suốt một niệm xứ mới thật sự giác ngộ, thuật ngữ của kinh gọi là “niệm xứ giác phần tam muội.” Vì tứ niệm xứ quan trọng như vậy nên trước khi nhập Niết Bàn Phật di huấn lại cho đời sau phải lấy tứ niệm xứ làm chỗ trụ, đây cũng là lý do vì sao đối với pháp trợ đạo, tứ niệm xứ được xếp lên hàng đầu.

  • Khi thành toàn một niệm xứ, người tu hành y cứ vào niệm xứ này tịch diệt thân tâm, trong thất giác chi gọi là niệm xứ giác phần, chỗ chứng có tên “niệm xứ giác phần tam muội.”

Tiếp tục khảo sát mọi vấn đề sẽ rõ hơn.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tam Muội Môn Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 10.02.2023

− Hỏi

Trong bài viết “Ngư Tiều Vấn Đáp” có nói đến Tam Muội Môn, con chưa hiểu rõ (tam muội có giác có quán, tam muội không giác có quán và tam muội không giác không quán) kính mong Thầy từ bi giảng cho? 

(06/11/2019 15:33:32; Vũ Tuấn)

- Đáp

“Tam muội” là cách phiên âm từ chữ Samâdhi trong Phạn văn... Cũng viết: Tam ma địa, Tam ma đề, Tam ma đế. Dịch là Chỉ, Chỉ Quán, Quán, Thiền, Thiền định, Định, Đại định, Giải thoát, Chánh thọ. Cảnh Thiền bực cao, khi ấy thân thể và tâm trí của nhà Đạo chẳng còn xao động, lìa tất cả sự tà loạn.

Chư Phật và chư Đại Bồ Tát và La Hán đều có thể nhập phép Tam Muội. Các ngài đắc rất nhiều phép Tam Muội tiện giúp cho các ngài hộ thân và độ đời. Như đức Diệu Âm Bồ Tát: Gadgadasvara Bodhisattva có đắc những phép Tam Muội dưới đây:

− Diệu tràng tướng Tam Muội (Dhvadjâgrakiyura),

− Pháp hoa Tam Muội (Saddharma pundarika),

− Tịnh đức Tam Muội (Vimaladatta),

− Túc Vương Hý Tam Muội (Nakchatrarâdjavikridita),

− Vô duyên Tam Muội (Anilâmbha),

− Trí ấn Tam Muội (Djnânamura),

− Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn Tam Muội (SarvarutaKâucalya),

− Tập nhứt thiết công công đức Tam Muội (Sarvapunya samutchtchaya),

− Thanh tịnh Tam Muội (Prasâdavati),

− Thần thông du hý Tam Muội (Riddhivikridita),

− Huệ cự Tam Muội (Djnânolka),

− Trang nghiêm Vương Tam Muội (Vyuharâdja),

− Tịnh quang minh Tam Muội (Vimalaprabhâ),

− Tịnh tạng Tam Muội (Vimalagarbha),

− Bất cọng Tam Muội (Apkritsna),

− Nhựt triền Tam Muội (Suryâvarta),

Diệu âm Bồ Tát lại còn dùng phép Tam Muội Hiện nhứt thiết sắc thân mà biến hiện ra các thứ thân hình, hoặc thân Phật, thân Thánh hay thân các hạng chúng sanh mà ra đi độ thế cho đắc nhập quả Phật.
Mỗi đức Phật Như Lai đều đắc trăm ngàn vạn ức phép Tam Muội” (Nguồn, Hoa Linh Thoại)
Tóm lại, Tam muội là một loại định thành tựu từ trí tuệ vô lậu (giác ngộ) của Phật giáo!!!

Bạn có thể tìm hiểu rõ hơn nơi bài viết “Giác Quán Ba Phép Tu Tam Muội” (sách Vô Đối Môn; NXB Dân Trí; Tg Lý Tứ) hoặc nơi bài viết được đăng trong Lý Gia Fanpage... hoặc nghe đề tài này trên Youtube... Chúc bạn an vui, tinh tấn!!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Đế Và Ba Thừa – Đạo Đế

MB 1059 Trần Văn Thắng 20.03.2022

Trong Phật pháp, có lẽ ĐẠO ĐẾ là phần rộng nhất và sâu nhất của giáo pháp... Mỗi một thừa, dù đã giác ngộ hay chưa giác ngộ, nói chung là một Phật tử thì không thể không dùng đạo đế để tu tập. Vì nếu không tu tập 37 phẩm, thì không thể giác ngộ như pháp và cũng không thể nào thấy đúng cứu cánh Phật giáo.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Trong Phật pháp, có lẽ ĐẠO ĐẾ là phần rộng nhất và sâu nhất của giáo pháp. Bởi ĐẠO ĐẾ chuyển biến cùng khắp trong ngũ thừa (Nhân thừa, Thiên thừa, Nhị thừa, Bồ Tát thừa, và Phật thừa).

Mỗi một thừa, dù đã giác ngộ hay chưa giác ngộ, nói chung là một Phật tử thì không thể không dùng đạo đế để tu tập. Vì nếu không tu tập 37 phẩm, thì không thể giác ngộ như pháp và cũng không thể nào thấy đúng cứu cánh Phật giáo.

Chính rộng sâu như vậy nên 37 phẩm có nhiều tên gọi khác nhau như: Trợ đạo, trợ Bồ Đề, 37 đạo phẩm. Mỗi khi tên gọi thay đổi, thì công dụng và ý nghĩa của 37 phẩm cũng thay đổi.

Thay đổi này nói lên lẽ diệu dụng của 37 phẩm. 37 phẩm sở dĩ có được là tùy căn cơ chúng sanh. 37 phẩm có ý nghĩa như thế nào là tùy vào trí tuệ, sức giác ngộ của mỗi chúng sanh, hay tùy chỗ thấy được của mỗi thừa. Vì thế, nó luôn thay đổi ý nghĩa để phù hợp với từng giai đoạn tu hành, và cũng để phù hợp với vị trí mới của từng cá nhân trong ba thừa. Điều này chỉ tạm dừng để chuyển lên một khái niệm mới về 37 phẩm khi nào người tu hành vào đúng cứu cánh đã giác, tức thể nhập trọn vẹn vào Niết Bàn của thừa mình tu tập (tạm dừng).

Có thể hiểu chỗ nhập rốt ráo của ba thừa là quả vị A La Hán của nhị thừa, Đệ Bát Bất Động địa của Bồ Tát thừa, hoặc nhập vào hàng Thập địa của Bồ Tát nhất thừa (nhất thừa đăng địa ban đầu là Sơ Hoan Hỷ địa).

Phân bộ này cũng chỉ mang tính tượng trưng để người đọc dễ hình dung vấn đề. Nói khác đi, ý nghĩa 37 phẩm được xây dựng trên cơ sở của tri kiến. Tri kiến đến đâu, sẽ hiểu 37 phẩm đến đó, từ đó 37 phẩm hỗ trợ đắc lực và cho người tu hành biết vị trí của mình ở đâu trong Phật đạo.

Khi địa vị hiện tại viên mãn, ý nghĩa mới của 37 phẩm lại xuất hiện để dẫn người tu hành tiếp tục tinh tấn trên con đường tu học. Đến khi nào thành Phật thì mới được gọi thấy biết viên mãn 37 phẩm. Ta có thể thấy sự biến hóa của 37 phẩm qua một số ví dụ tượng trưng sau.

Ví dụ nói về Chánh Kiến: Thanh Văn thấy thân bất tịnh là chánh kiến. Bồ Tát thấy không thân mới là chánh kiến. Phật thừa thấy chẳng phải có thân chẳng phải không thân (phi) mới được gọi là chánh kiến.

Như vậy, cùng một chánh kiến về thân mà ba thừa có ba tri kiến khác nhau, hiểu biết khác nhau nên cách ứng dụng tu hành tất nhiên là khác nhau.

Hoặc ví dụ như Tứ Chánh Cần: Nhân thừa và Thiên thừa lấy bố thí cúng dường làm thiện, lấy bỏn xẻn tham lam, sát sinh hại vật làm ác. Thanh Văn thừa phải biết ra khỏi ba cõi là thiện, ưa thích ba cõi là ác. Bồ Tát lấy giáo độ chúng sanh là thiện, khởi nghĩ từ bỏ hoặc nhàm chán ba cõi là ác. Phật thừa thấy sanh tử tức Niết Bàn là thiện, thấy có chúng sanh để hóa độ là ác.

Những phẩm khác cũng đều có những khác biệt như vậy. Cho nên có thể nói ĐẠO ĐẾ, hay rộng hơn 37 phẩm biến hóa không cùng, có bao nhiêu căn cơ chúng sanh là có bấy nhiêu ý nghĩa của 37 phẩm. Vì thế, để hiểu hết 37 phẩm, không phải một lúc có thể lãnh hội.

Mỗi một căn cơ chỉ hiểu biết 37 phẩm trong phạm vi có được của tri kiến. Từ đó tu hành, lần lượt trải qua các thứ lớp địa vị, mỗi thứ lớp địa vị lại cho ra một khái niệm mới về đạo đế.

Đến khi nào chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mới thấu triệt hết ý nghĩa 37 phẩm. Vì thế trong kinh Đại Bát Nhã Phật nói: “Như Lai viên mãn 37 phẩm (Pháp đẳng).”

Trong phạm vi một bài luận, chúng ta chỉ có thể khảo sát những điều mang tính căn bản của 37 phẩm thông qua từng thừa. Sau khi khảo sát, chúng ta mới có được một vài khái niệm nào đó về 37 phẩm. Từ những khái niệm này, có thể lấy đây làm cơ sở để tư duy và ứng dụng tu tập.

Trong cuộc đời tu hành tùy theo địa vị, thứ lớp lần lượt sẽ được trí huệ dẫn sâu vào ý nghĩa 37 phẩm.

Đến khi nào hành giả LIỄU nghĩa TỘT CHƠN, liễu đạt này cho phép hành giả có được thấy biết tổng quát về 37 phẩm. Khác hơn hành giả thấy được nét đại cương và chi tiết tu tập của ba thừa một cách tương đối rõ ràng. Từ đó công việc giáo hóa sẽ dễ dàng, phần việc này gọi là học NHẤT THIẾT TRÍ hay học BÁT NHÃ TRÍ.

Cho đến thấy biết của một Bồ Tát Ma Ha Tát còn chưa được gọi tột viên vì chưa là Đẳng Chánh Giác, nhưng có thể tạm coi như con đường tu hành không còn ngăn ngại. Chính điều này nói lên vì sao Phật lại chuyển pháp luân nhiều lần theo một trình tự nhất định, chuyển pháp luân chính là khai thị 37 phẩm cấp độ cao hơn.

Trước khi nhập Niết Bàn Phật tuyên nói “chúng sanh có Phật tánh” là lần chuyển pháp luân cuối cùng. Cho nên có thể tạm kết luận khi nào thấy “chúng sanh có Phật tánh” như lời dạy của Phật thì tạm được coi là thấu suốt 37 phẩm.

Thật ra, nếu đã giác ngộ diệt đế, thì ĐẠO ĐẾ bây giờ chủ yếu là Bát Chánh Đạo. Vì rằng 37 phẩm trong đó bao hàm các pháp hỗ trợ giác ngộ nên gọi phẩm trợ đạo, vì thế các phẩm như Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc gọi là pháp tư lương. Đây là hành trang tối thiểu phải có để tu hành, phần này thuộc thế pháp tương ưng và hỗ trợ khổ đế và tập đế.

Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi gọi là pháp kiến đạo, phần này thuộc thánh pháp tương ưng và hỗ trợ diệt đế.

Cuối cùng Bát Chánh Đạo thuộc về pháp tu đạo nên tương ưng và hỗ trợ ĐẠO ĐẾ. Cho nên trong phạm vi ĐẠO ĐẾ của tứ đế chỉ nói đến bát chánh đạo, hay khác hơn ĐẠO ĐẾ chính là bát chánh đạo, tám điều hỗ trợ viên mãn đạo quả.

Như vậy bát chánh đạo ở đây chính là thánh pháp, gọi thánh pháp vì đó là hệ quả có được từ sự giác ngộ diệt đế.

Bát chánh đạo của ĐẠO ĐẾ gồm tám phẩm đó là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

Ý nghĩa đích thực của tám điều chân chánh này bắt nguồn từ giác ngộ, hết lỗi lầm, Phật giáo gọi là chánh. Tuy nhiên như đã đề cập phần trước, mỗi thừa giác ngộ khác nhau, cho nên thấy biết của các thừa cũng khác nhau, vì thế ba thừa có ba cách tuyên thuyết về sự chân chánh của mình.

Ví dụ Thanh Văn thừa giác ngộ THÂN ngũ ấm là đầu mối của mọi cột trói (đế), ÁI và DỤC là căn nguyên để thân nhận chịu khổ đau (tập).

Nếu muốn thoát ly phiền não chấm dứt sanh tử luân hồi, điều kiện tiên quyết là phải từ bỏ gia đình, từ bỏ quyến thuộc, từ bỏ tài sản, xuất gia, giữ giới không khuyết, hộ trì các căn, sống nơi A Lan Nhã, quán thân bất tịnh, quán thân trên thân.

Vị ấy giác ngộ rằng ba cõi đáng nhàm chán, thân này đáng nhàm chán. Sau khi giác ngộ như vậy, vị ấy lấy thiểu dục tri túc và lấy tịnh hạnh làm đời sống mới (chánh kiến, chánh tư duy mới).

Bằng lòng với sự từ bỏ những gì cần từ bỏ, tìm nơi rừng vắng. Bằng lòng với hiện tại, không khởi lên các ham muốn hạ liệt, yểm ly dục (thêm một chánh kiến, chánh tư duy khác).

Thân căn vị ấy dần dần an ổn, khi thân căn có khuynh hướng bất động, vị ấy diệt trừ các triền cái. Lần lượt các thiền thú xuất hiện với đầy đủ thiền chi, vị ấy hướng tâm đến sanh tử, và thấy biết đâu là đầu mối phát sanh sanh tử. Vị ấy hướng đến diệt tận để thoát ly ra khỏi sanh tử (một loại chánh kiến, chánh tư duy khác nữa).

Sau khi vị ấy thoát ly hẳn phiền não, vị ấy tuyên bố tứ thành tựu của một A La Hán (lại một chánh kiến, chánh tư duy mới).

Như vậy, một chuỗi những sự kiện đi qua trong nhận thức của một Thanh Văn, mỗi một sự kiện là một lần giác ngộ. Mỗi một lần giác ngộ cho ra thấy biết mới gọi là chánh kiến. Cứ mỗi khi có thấy biết mới, vị ấy lại lấy chánh kiến này dẫn đạo cho đời sống của mình, y vào đời sống mới gọi là tu hành.

Đến khi viên mãn quả vị, chấm dứt quá trình giác ngộ, thì bây giờ ĐẠO ĐẾ của một Thanh Văn mới tạm dừng lại, sự dừng lại này tạm gọi chánh vị.

Duyên Giác, đời sống tu tập không khác Thanh Văn là mấy, tri kiến của Duyên Giác không nhắm đến thân, mà thường lấy nhân duyên làm chỗ giác ngộ thông qua thân coi như công cụ chứng nghiệm. Các cảm thọ đều từ thân phát sinh nên cũng từ thân mà diệt, thế nên Duyên Giác được xếp chung Thanh Văn là nhị thừa bởi chỗ chứng tương đồng, cũng như đồng tu tập để thoát ly ba cõi. Do vậy bát chánh đạo của hai thừa này gần như tương đồng. Đoạn kinh sau có thể mô tả cách thức tu hành chỗ giác ngộ và những gì thành tựu của một người giác ngộ 12 nhân duyên.

 “Nầy A Nan! Ông Nan Đà trước kia rất nặng ái dục, tánh rất xấu ác, Đức Như Lai dùng thiện phương tiện chỉ dạy cho ông ấy được lợi ích vui mừng. Phật rõ biết căn tánh của ông ấy, dùng huệ Bát Nhã mà giảng thuyết mười hai nhơn duyên: Chính là vô minh duyên hành, hành duyên thức, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não, đều là rừng bụi vô minh yêu ghét, tất cả hành khổ đầy tràn trong ba cõi, chạy khắp trong lục đạo. Cội gốc sự khổ từ vô minh khởi lên. Dùng huệ Bát Nhã hiển bày tánh tịnh, quán sát kỹ cội gốc thời dứt được tội lỗi trong ba cõi. Vì cội gốc vô minh dứt nên vô minh dứt, vô minh dứt thời hành dứt, nhẫn đến lão tử ưu bi khổ não đều dứt.

Lúc được quán niệm nầy nhiếp tâm đứng dừng thời được nhập Tam Muội, do sức Tam Muội được nhập sơ thiền lần lượt nhập tứ thiền không rời chánh niệm luôn tu tập như vậy, rồi sau tự sẽ được chứng thượng quả thoát khỏi khổ trong ba cõi. Nan Đà Tỳ Kheo tin sâu lời dạy của Phật, siêng năng tu tập trong một ít lâu được chứng quả A La Hán.

Nầy A Nan! Sau khi ta nhập Niết Bàn, các ông nên y theo giáo pháp chánh quán của ta mà chỉ dạy cho Lục Quần cùng Xa Nặc, hết lòng nương theo chánh pháp thanh tịnh nầy, tự sẽ được chứng thượng quả.

Nầy A Nan! Phải biết rằng đều do nơi vô minh mà tăng trưởng cây sanh tử trong ba cõi, nên mãi trôi chìm trong ái hà, chịu khổ mãi dưới vực tối tăm, vòng quanh cột sanh tử. Sáu thức là nhánh, vọng niệm là gốc, lượn sóng vô minh xúc khiến tâm thức dạo chơi theo lục trần, sanh mầm các sự khổ não.

Vô minh nó tự tại như vua, không ai chế ngự được. Do đây nên ta nói ông chủ vô minh niệm niệm làm hại, chúng sanh chẳng hay biết, mãi luân chuyển trong sanh tử.

Nầy A Nan! Tất cả chúng sanh vì vô minh nầy mà khởi những tham ái, bị ngã kiến che đậy, tám muôn bốn ngàn phiền não sai sử thân họ, làm cho thân tâm họ tan vỡ không được tự tại.

Nầy A Nan! Nếu vô minh dứt thời ba cõi đều hết, nên gọi là người xuất thế.

Nầy A Nan! Nếu có thể quán sát kỹ mười hai nhơn duyên rốt ráo không có ngã, sâu vào nơi bổn tánh thanh tịnh, thời có thể xa lìa ngọn lửa lớn ba cõi.

Nầy A Nan! Đức Như Lai là đấng chơn ngữ nói lời thành thật, đây là lời phó chúc tối hậu, các ông phải y theo tu hành.”[[1]]

Trong Phật pháp, những trường hợp chứng ngộ pháp nhân duyên không nhiều, có thể nói đặc biệt là khác. Vì vậy Duyên Giác thừa thường không được coi là điển hình tu tập. Chính yếu tố này ta ít thấy nói Duyên Giác tu tập như thế nào, thường chỉ thấy Phật thuyết minh 12 nhân duyên như một thứ tri kiến làm tăng thêm độ sâu giác ngộ cho các Thanh Văn đệ tử.

Tuy thế trong Phật pháp 12 nhân duyên lại được ba thừa ưa thích, coi đây là cơ sở lý luận để phân tích vòng luân chuyển của sanh tử, đồng thời ứng dụng như một tri kiến chuẩn hòng tìm kiếm giải pháp dừng hư vọng.

Đạo Đế của Bồ Tát cũng tương tự như Thanh Văn Duyên Giác, tức cũng chia hai làm Bồ Tát quyền thừa và Bồ Tát nhất thừa.

Bồ Tát quyền thừa giác ngộ chủ yếu nguồn tâm, sở dĩ gọi là quyền thừa bởi vì tuy giác ngộ tâm là nguyên nhân phát sinh mọi thứ khổ não, chỉ cần thanh tịnh nguồn tâm thì mọi khổ não đều dứt, về mặt lý thuyết là vậy. Nhưng để thanh tịnh nguồn tâm hàng Bồ Tát này cần phải có thời gian tu tập, thường gọi là tiệm tu. Do vậy Bát Chánh Đạo đối với họ có ý nghĩa tiệm tiến, giống như người lắng trong nước đục phải có thời gian, phải có phương pháp, phải hộ trì các căn gần như một Thanh Văn. Lấy thanh tịnh bổn tâm làm chánh kiến dẫn khởi đời sống tu hành, không có tâm nguyện thoát ly ba cõi.

Bồ Tát nhất thừa thì khác, căn tánh hàng Bồ Tát này tối thắng, thuộc về đại căn thường là hàng Bồ Tát thị hiện. Trí tuệ siêu việt chỉ cần đủ duyên là giác ngộ, chỗ ngộ tột sâu không cần thông qua tu chứng. Khi đã ngộ tức thì thấu triệt mọi ý nghĩa Phật pháp vào thẳng nhất thiết trí.

Hàng Bồ Tát này có thể thay mặt Phật giáo hóa chúng sanh thông thường rơi vào các vị Tổ được truyền thừa Y Bát chánh thống.

Tóm lại chính vì sức mầu nhiệm và rộng sâu không cùng của bốn đế, nên bốn đế có tên là Tứ Diệu Đế. Diệu bởi lẽ vượt khỏi suy nghĩ thế pháp.

Nay cách Phật đã xa nếu người tu hành không rành rõ bốn đế thì không thể tự mình minh bạch các pháp. Một khi các pháp không thuyết minh đúng chân tướng của nó thì khó mà giác ngộ như pháp, dễ phát sinh tà kiến.

Vì đối trước thân tâm, nếu không biết đâu là tập, thì làm sao giác ngộ chỗ diệt, chưa nói mỗi thừa tập và diệt không giống nhau. Nếu đã không biết tập, diệt, thì lại càng mơ hồ về ĐẾ.

Đã không biết đế, thì chẳng thể nào biết căn nguyên phát sinh và đầu mối dứt diệt, mà đây là những phần quan trọng, thâm sâu cần có để đưa người đến cứu cánh. Bản thân  người tu hành nếu không thấu suốt bốn đế thì cũng khó phân định tâm lượng mình phù hợp với thừa nào, hòng tìm chỗ diệt như pháp.

Đoạn kinh dưới đây nói một phần của bốn thánh đế:    

“Chư Phật tử! Như cõi Ta Bà này nói về khổ thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là doanh cầu căn, là bất xuất ly, là hệ phược bổn, là làm điều không nên làm, là khắp tranh đấu, là phân tích đều vô lực, là chỗ để tựa, là cực khổ, là tháo động, là hình trạng vật.

Chư Phật tử! Về khổ tập thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là thuận sanh tử, là nhiễm trước, là đốt cháy, là lưu chuyển, là gốc bại hoại, là mối hữu lậu, là ác hạnh, là ái trước, là nguồn bịnh, là phân số.

Chư Phật tử! Về Khổ diệt thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là đệ nhất nghĩa, là xuất ly, là tán thán, là an ổn, là thiện thú nhập, là điều phục, là nhứt phần, là vô tội, là ly tham, là quyết định.

Chư Phật tử! Về khổ diệt đạo thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là mãnh tướng, là thượng hạnh, là siêu xuất, là hữu phương tiện, là bình đẳng nhãn, là ly biên, là liễu ngộ, là nhiếp thủ, là tối thắng nhãn, là quán phương.

Chư Phật tử! Về tứ thánh đế, ở thế giới Mật Huấn có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh để khiến họ  điều  phục.”[[2]]

Chớ coi thường điều căn bản vì tất cả các tòa nhà đều xây trên nền móng, đây là căn bản để tòa nhà xây dựng có vững chắc hay không. Tòa nhà Phật pháp được xây dựng trên nền móng bốn đế, nếu nền móng bốn  đế không vững, thì chắc chắn tòa nhà Phật pháp của chính ta đang xây không thể cao được, nếu không muốn nói là nguy cơ sụp đổ trước mắt.

Phật dạy: “Lần chuyển Pháp Luân đầu tiên tại vườn Lộc Uyển cho năm anh em Kiều Trần Như, Ta dùng bốn đế để chuyển, tất cả Thiên, Nhân, Ma, Phạm không một loài có thể chuyển ngược lại được.”

[[1]] Trích kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Di Giáo –HT. Thích Trí Tịnh dịch.

[[2]]  Trích  kinh  Hoa  Nghiêm, quyển I –HT. Thích Trí Tịnh dịch.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Độc Giác Phật Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 10.02.2023

− Hỏi

Một vị chưa biết Phật Pháp, cũng chưa có ý định học Đạo, tình cờ nghe được Pháp qua Google liền mở được Tri Kiến, vậy vị ấy có phải có chủng tử của Phật Độc Giác không? ... Trong kinh Phật có nói vị Độc Giác không sử dụng ngôn ngữ của Tướng Dụng mặc dù những “sự chứng thực” rất sâu. Nếu thực sự như vậy thì tu tập cách nào để Tướng Dụng có thể diễn đạt lại những gì thực chứng? 

(02/11/2019 8:27:19 Lê ngọc Tới)

- Đáp

Trước khi trao đổi về những gì bạn thắc mắc, chúng ta thử xem khái niệm Độc Giác được giải thích như thế nào!!!

Bích-chi Phật (Devanagari): प्रत्येक बुद्ध; pratyeka-budhha; pacceka-buddha; chữ Hán: 辟支佛), còn được gọi là Độc giác Phật (chữ Hán: 獨覺佛) hay Duyên giác Phật (chữ Hán: 緣覺佛), là một thuật ngữ dùng trong Phật giáo để chỉ khái niệm một vị Phật đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ, nhưng chưa đạt được các năng lực như Nhất thiết trí (sarvajñatā) hay Mười lực (daśabala) của một vị Tam-miệu Tam-phật-đà (samyak-sambodhi). Độc giác Phật được xem như bậc ở quả vị giữa A La Hán và Phật. Có khi Độc giác Phật là danh hiệu chỉ người đạt giác ngộ trong thời không có vị Phật nào xuất hiện trên Trái Đất. (Nguồn, Wikipedia)

Như những gì đã giải thích ở trên thì, Độc Giác Phật là một vị đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ!!! ... Có nghĩa rằng, vị này chứng ngộ mà không có thầy, hoặc không được học giáo pháp từ bất kì một cơ sở nào!!! ... Theo mình biết, Độc Giác Phật là những vị ra đời vào thời kì “không có Phật và không có Phật pháp” ... Chỉ một mình tự tu tự chứng... Cảnh giới chứng ngộ của Độc Giác Phật chưa đủ thành tựu trí tuệ... Cho nên, Độc Giác Phật không thể thuyết pháp độ sinh!!!

Trong thời kì có Phật xuất thế, hoặc Phật pháp đang hiện hữu... Những vị tu hành do quán 12 nhân duyên, thành tựu quả chứng tương đương với Độc Giác, gọi là Duyên Giác Phật!!! ... Quả vị của Duyên Giác và Độc Giác cùng có tên là Bích Chi Phật!!!

Vì thế, những người trong hiện tại, tuy không có Phật xuất thế, nhưng Phật pháp vẫn đang hiện hành trong thế gian... Người ấy cho dù được nghe Phật pháp từ bất kì nhân duyên nào (kể cả băng đĩa, sách báo, mạng internet...), rồi lấy lí thuyết ấy mà tu chứng, cũng không được gọi là Độc Giác!!! ... Do đó, khó có thể kết luận họ có chủng tử Độc Giác!!!

Một vị Độc Giác muốn thành tựu trí tuệ (độ sinh) ... Sau khi chứng quả, đến lúc có Đẳng Chánh Giác ra đời, phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề... Phát nguyện độ hết thảy chúng sanh... Cầu học Nhất Thiết Trí!!! ... Sau khi thành tựu Nhất Thiết Trí, vị ấy trải qua quá trình làm công hạnh (Bồ Tát) dài lâu... Đến khi nào công đức và nhân duyên hội đủ, sẽ có trí tuệ như một Đẳng Chánh Giác!!! Chúc bạn... an vui!!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Quả Vị Chứng Thánh (Kinh Phật) Đã Là Thực Tánh Chân Đế? Trạch Pháp Giác Chi Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 10.02.2023

- Hỏi
1) “Các vị Thánh từ Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm đã chứng được Niết Bàn hữu dư” ... đã là Thực Tánh các pháp hay Thực Tánh Chân Đế chưa?
Trong Kinh Phật có nói. “Các vị Thánh từ Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm đã chứng được Niết Bàn hữu dư” ... Vậy các cảnh giới của các vị ấy đã tu chứng đã là Thực Tánh Chân Đế chưa hay chỉ chứng được Thực Tánh của các Pháp? 

(25/10/2019; Lê ngọc Tới)

- Đáp

Bạn... thân mến!!!

14.1.1. Sơ quả Tu-đà-hoàn (Sotāpatti): Còn gọi là Nhập lưu, nghĩa là bắt đầu nhập vào dòng Thánh. Đây là Thánh vị đầu tiên sau khi đệ tử Phật phá được ba kiết sử Thân kiến, Giới cấm thủ, và nghi.

● Sơ quả (Sotapatti): Chứng quả này gọi là Tu-đà-hoàn, người đoạn trừ ba kiết sử đầu gồm: Thân kiến, Nghi, Giới cấm thủ. Quả Tu-đà-hoàn còn được gọi là quả Nhập lưu (vào dòng Thánh)
14.1.2.  Nhị quả Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī): Còn gọi là Nhất lai, nghĩa là còn trở lại cõi người này một lần nữa. Quả vị này hiện hữu nơi người đã phá xong ba kiết sử trên và tiếp tục làm mỏng nhẹ tham và sân.

● Nhị quả (Sakadagami): Quả này được gọi là Tư-đà-hàm, người đã đoạn trừ ba kiết sử đầu và giảm dần hai kiết sử Tham, Sân.
14.1.3. Tam quả A-na-hàm (anāgāmī): Còn gọi là Bất lai, nghĩa là Không trở lại cõi người nữa, quả này xuất hiện nơi vị đã diệt sạch hai kiết sử tham và sân.

● Tam quả (Anagami): Người chứng quả này được gọi là A-na-hàm, đoạn trừ năm kiết sử đầu. A-na-hàm còn được gọi là Bất lai (không trở lại cõi người nữa), chỉ tái sinh ở cõi Sắc hay Vô sắc để tiếp tục tu hành).
14.1.4. Tứ quả A La Hán (Arahanta): Là quả vị cuối cùng (trong tứ thánh quả), đạt được vô ngã, giải thoát hoàn toàn (ba cõi).

● Tứ quả (Arahant): Người chứng quả này được gọi là A-la-hán, vị đã đoạn trừ mười kiết sử, hoàn toàn giải thoát, đạt được Niết Bàn, không còn nằm trong vòng luân hồi.
Ghi chú: Nguồn Wikipedia; Những câu đánh dấu (●) là nguồn Thư Viện Hoa Sen!!!

Như vậy, trong tứ thánh quả, chỉ có quả vị A La Hán mới hoàn toàn đoạn mười kiết sử, chứng giải thoát hiện tiền và đạt được cảnh giới Niết Bàn (hữu dư), còn ba quả vị của bạn nêu trong câu hỏi thì chưa!!! ... Tuy nhiên ba quả vị, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm đều đã có hạt giống bậc thánh (thánh chủng) trong tâm thức của họ, cho nên được liệt vào tứ thánh quả!!!

Theo những gì định nghĩa ở trên, ta có thể hiểu, một vị chứng A La Hán mới có thể tạm coi là đã chứng Niết Bàn Chân Đế!!!

Việc các A La Hán đã thấu suốt “thực tánh các pháp” hay chưa, thì không thấy nói đến!!! ... Nhưng, theo mình biết, Nhị thừa chứng A La Hán, chỉ mới thành tựu Vô Sanh Tâm, nhưng chưa thành tựu Vô Sanh Pháp... Do đó, khó có thể thấu suốt “thực tánh các pháp”!!! ... Vì rằng, thấu suốt “thực tánh” hay “thực tướng” các pháp, là cảnh giới của “trí chứng”, chứ không phải cảnh giới “tâm chứng” như Niết Bàn Chân Đế!!!

- Hỏi

2) Trong 37 phẩm trợ đạo có phần “Trạch Pháp Giác Tri”, con chưa hiểu lắm. Xin Thầy từ bi giảng cho chúng con hiểu ạ? 

(25/10/2019 10:32:51; Vũ Tuấn)

14.2. Đáp: Có lẽ, bạn muốn hỏi về Trạch Pháp Giác Chi trong Thất Giác Chi!!!??? ... Trạch Pháp Giác Chi, là bước đầu tiên trong bảy bước (bảy chi phần, bảy yếu tố, bảy giai đoạn...) giúp một người (đã hoàn thành Tư lương vị) bắt đầu từ Sơ giác tiến về Giải thoát (chứng Diệt đế, hoàn thành Kiến đạo vị)!!! ... Thất Giác Chi gồm: Trạch pháp giác chi, Niệm giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỉ giác chi, Khinh an giác chi, Định giác chi và Xả giác chi!!!

“Trạch pháp giác chi” là giản trạch, phân tích, tư duy một pháp (một câu kinh, một lời dạy...) cho đến khi nào thấu suốt ý nghĩa của pháp đó, còn gọi là “như lí tác ý”!!!

Trạch pháp giác chi thuộc về “Thiền tư” trong ba pháp “văn, tư, tu” ... Đây là cách dùng “Huệ lực” xuyên phá một pháp (bất kì) để thấu suốt ý nghĩa giải thoát đích thực của pháp ấy... Do đó, Trạch pháp giác chi luôn luôn đi sau Huệ lực (của ngũ lực)!!! ... Vì rằng, nếu chưa thành tựu Huệ lực (của ngũ lực) mà sử dụng Trạch pháp giác chi thì, Trạch pháp giác chi và Niệm giác chi bây giờ trở thành “giác quán” (tầm, tứ) của Thế gian thiền!!!

Từ Trạch pháp giác chi (giác chi đầu) đến Xả giác chi (giác chi cuối cùng), là chuỗi “liên hệ nhân quả” có tính tất yếu, xảy ra trong quá trình tâm thức chuyển hoá như pháp (của người Sơ giác ngộ)!!! ... Chính sự chuyển hoá tâm thức như pháp xảy ra có tính nhân quả này, mà các tính chất đặc trưng của Niết Bàn lần lượt xuất hiện cho đến viên mãn như, hỉ lạc, khinh an, định và xả!!! ... Đây là tướng trạng của các “thiền chi” thuộc về “Thiền giải thoát” (nhân nơi Giác ngộ mà được thiền) ... Sự xuất hiện các thiền chi của Thất Giác Chi hoàn toàn khác hẳn các thiền chi của Thế gian thiền (loại thiền do dụng công mà thành của những người chưa Giác ngộ)!!!

Tóm lại “Trạch pháp giác chi” là chi phần đầu tiên và cũng là chi phần rất quan trọng của “Kiến đạo vị” ... Ở đó, Huệ lực làm nhân tố quyết định thúc đẩy “Trạch pháp” trở thành “Giác chi” (chi phần giác ngộ)!!! ... Nếu không có Huệ Lực thì “Trạch pháp” chỉ là “Trạch pháp” ... Có nghĩa rằng, trong việc giản trạch ấy, không có ý vị của “Giác Ngộ”!!! ... Đây cũng là lí do vì sao ba cảnh giới của Phật đạo là: Giác Ngộ - Giải Thoát - Trí Tuệ lần lượt xuất hiện trước sau như pháp không thể hoán đổi!!!

Bạn... thân mến!!! ... Trên đây chỉ là những gì được coi là sơ lược về những điều bạn hỏi!!! ... Chúc an vui, tinh tấn!!!  

(03/11/2019)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tại Sao Phật Giáo Có Nhiều Tông Phái? Làm Sao Để Biết Căn Cơ Mình phù Hợp Với Pháp Môn Nào?

MN 102 Lý Thanh Liêm 10.02.2023

− Hỏi

1) Tại sao lại có nhiều tông phái trong Phật giáo vậy ạ? ... Và làm sao để biết căn cơ mình phù hợp với pháp môn nào? 

(17/10/2019 4:41:19; Nga Nga)

- 13.1. Đáp:

Câu hỏi của bạn, mình tạm chia hai phần để trả lời!!!

13.1.1.  Tại sao lại có nhiều tông phái trong Phật giáo vậy ạ?
Đúng là cho đến thời điểm hiện tại, theo mình biết, Phật giáo (toàn thế giới) có rất nhiều tông phái, bản thân mình cũng không thể biết hết!!! ... Còn việc, để có thể trả lời “vì sao lại có nhiều tông phái như vậy”, cũng không phải chuyện dễ!!! ... Muốn trả lời thoả đáng câu hỏi này, cần phải căn cứ vào một công trình nghiên cứu khoa học đáng tin cậy, chứ không thể kết luận một cách võ đoán rằng tại vì thế này hay thế kia, mang tính chủ quan!!! ... Cho đến nay, bản thân mình cũng chưa được may mắn tiếp cận một công trình nghiên cứu nào như thế!!!

Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, mỗi một tông phái xuất hiện ở đời luôn luôn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử... Nếu muốn tồn tại, phải đáp ứng các yêu cầu về văn hoá, phong tục, tập quán, lễ nghi... Cũng như tôn chỉ, mục đích của tông phái đó có được cộng đồng những người tu tập chấp nhận hay không!!!

Cũng theo suy nghĩ chủ quan của mình, không riêng gì Phật giáo, mà bất kì một tôn giáo hay tổ chức nào... Trong quá trình phát triển, đến một giai đoạn nhất định nào đó, việc phân thành nhiều nhánh (tông phái) là điều khó tránh khỏi!!! ... Giống như một cái cây, càng lớn, cành nhánh càng nhiều, cành nhánh cành nhiều, càng xa cái gốc của nó!!!

Ở một góc nhìn khác, ta có thể hiểu (việc xuất hiện tông phái), giống như một ống dẫn nước (triết lí hay giáo pháp nguyên thuỷ) ... Sau một thời gian sử dụng, một đầu ống bị nghẽn (bế tắc trí tuệ, không thấu suốt triết lí nguyên thuỷ) ... Trong khi đó, nước vẫn tiếp tục đẩy lên khiến áp lực trong ống gia tăng (nhu cầu tu tập của quần chúng tăng cao), đến lúc hội đủ điều kiện, các tia nước sẽ tìm cách thoát ra bên ngoài (tông phái xuất hiện)!!! [[1]]

13.1.2. Và làm sao để biết căn cơ mình phù hợp với pháp môn nào?
Một người mới bắt đầu tu hành (chưa thật sự giác ngộ), khó có thể nhận biết “căn cơ của chính mình”!!! ... Phần lớn, chỉ có bậc đạo sư (đã thật sự giác ngộ), mới có thể biết rõ căn cơ của người học (giống thầy giáo biết năng lực học trò) ... Nhờ biết rõ căn cơ của người học, vị đạo sư mới có thể điều chỉnh cách dạy như thế nào để phù hợp với căn cơ của người học, giúp người học mau chóng thành tựu những điều cần thành tựu!!!

Trong mười một thứ trí của Phật đạo, người thành tựu “Tỷ Trí” biết rõ căn cơ người khác... Người thành tựu “Đạo Tướng Trí” biết rõ mọi chủng tánh của hữu tình!!! ... Giống như người săn thú, bẫy chim lành nghề, chỉ cần thấy dấu chân, thoáng nghe tiếng kêu... Vị ấy tức thì biết rõ đó là loài chim hay giống thú nào, tập tính ra sao, nơi trú ngụ, tập quán di chuyển, thức ăn ưa thích, đánh bắt bằng công cụ gì, v.v...!!! ... Khi nào đủ duyên, chúng ta bàn sâu đề tài này...!!!

Vì thế, kinh thường hay nói: “tuỳ căn cơ mà thuyết pháp” ... Hay kinh cũng dạy: “Như Lai tuỳ căn tánh của chúng sinh mà khiến hết thảy ngộ nhập Phật tri kiến”!!! ... Chứ chưa thấy nói: “Ta tuỳ vào căn cơ của mình, mà tìm thầy học đạo”!!! ... Bạn... có thể tìm hiểu về những món như: Pháp môn, phép tu, căn cơ, v.v... Trong sách Vô Đối Môn (NXB Dân Trí 2019; LÝ TỨ) hoặc vào Website lytu.vn để xem các bài viết có liên quan đến các vấn đề ấy!!!

Còn chuyện làm thế nào để biết ở đâu dạy dỗ phù hợp với mình!!! ... thì, đầu tiên bạn phải xác định mục tiêu của bạn là gì (có nghĩa bạn phải biết chắc, bản thân mong muốn tu học để thành tựu điều gì)!!! ... Sau đó, bạn tìm hiểu những nơi bạn có ý định đến đó tu học, tìm xem nơi đó có đáp ứng được nguyện vọng của mình hay không!!! ... Nơi nào đáp ứng được, thì đến đó tu học!!! ... Giống như học trò, tìm trường nào dạy ngành nghề mình ưa thích thì sẽ học ở trường đó!!!

Tuy nhiên, cho dù ở đâu, nếu ở đó dạy Phật pháp thì cũng dạy bốn mục tiêu của giáo pháp đề ra, đó là: Đầu tiên họ sẽ giúp bạn hết khổ... Kế đến, dạy bạn chấm dứt phiền não, kiết sử (tham, sân, si...), lậu hoặc (mê mờ) ... Thứ ba, sau khi thành tựu hai điều trên, vị thầy sẽ giúp tâm thức của bạn hết sanh diệt, thấy được bổn tâm, bổn tánh, chứng Niết Bàn an vui... Cuối cùng, sẽ dạy bạn trí tuệ chân thật của Phật đạo!!! ... Chúc Bạn... mau chóng tìm được nơi chốn tu học phù hợp với sở nguyện!!!

- Hỏi

2) Em thường nghe người thế gian bảo: Tu tâm là được rồi, vậy phải hiểu như thế nào là tu tâm? 

(17/10/2019 23:28:57; Quỳnh Nga)

Tu tâm là câu nói của thế gian, câu nói này hàm ý chỉ ra mục tiêu trước mắt mà người tu hành cần phải điều phục!!!

Trong Phật đạo, người tu hành không chỉ có tu tâm mà tu đến bốn món, gọi là Tứ Niệm Xứ!!! ... Trong đó có Tâm Niệm Xứ!!!

Tất nhiên, muốn tu tâm, người ta phải biết tâm là gì... Giống như đi chợ, muốn mua món đồ A, bạn phải biết món đồ đó ra sao, nếu không biết món đồ ta dự tính mua, nhất định sẽ không thể mua được món đồ ấy!!! ... Để hiểu tâm như thế nào và tu làm sao... Bạn có thể đọc bài viết “Ba Vị Huynh Đệ Luận Về Tâm Pháp” sách Chuyện Trên Mây Tập 1 (NXB Hà Nội; Lý Tứ) hoặc từ Facebook Lã Thị Hạ Đế... Còn, muốn biết tu như thế nào cả bốn món thân, thọ, tâm, pháp. Bạn có thể đọc “Tiểu Luận Tứ Niệm Xứ”, sách Anh Lạc Luận Tập 1 (NXB Dân Trí; Lý Tứ) hoặc trên Fanpage LÝ TỨ.

- Hỏi

3) Trong khi ăn mà... tư tưởng bị lôi đi...; Quan sát thấy tạp niệm xen vào...; Khi ăn chỉ cảm nhận có ăn có phải là Thực Tánh Chân Đế?

a) Vì tôi chưa từng đi Chùa, chưa từng thiền định nên các pháp hành không biết đúng, sai, do trình độ sơ cơ nên không biết hỏi như thế nào cho đúng... “Trong khi ăn mà không trọn vẹn với cái ăn, khi tôi biết như vậy, nhưng vẫn bị tư tưởng lôi đi ra khỏi cái ăn thì tôi sử dụng Thất Giác Chi hay phương tiện nào?”

b) Trong khi ăn mà tôi quan sát thấy có tạp niệm xen vào thì “nó” hết, trong tình huống này thì cứ thấy vậy thôi. Tôi làm vậy đã đúng chưa?

c) Trong khi ăn mà chỉ cảm nhận chỉ có ăn thì có phải là Thực Tánh Chân Đế không? 

(18/10/2019 9:45:23 - Lê ngọc Tới)

- 13.3. Đáp

13. 3.1.  (a) Trong khi ăn mà... tư tưởng bị lôi đi ra khỏi cái ăn... 
Trong khi ăn, hoặc làm bất kì điều gì đó mà bạn bị tư tưởng lôi đi, chứng tỏ tạp tâm, tạp niệm vẫn chưa dứt...

Ở cảnh giới này, bạn không thể dùng Thất Giác Chi để chế ngự dị tưởng, mà bạn phải tu tập Tứ Như Ý Túc, trong đó có Nhất Tâm Như Ý Túc!!! Khi bạn thành tựu Nhất Tâm Như Ý, dù ăn, uống hay làm bất kì công việc gì, các thứ dị tưởng (tư tưởng khác) cũng không hiện khởi trong tâm thức của bạn (cũng không lôi bạn đi)!!!

13.3.2.  (b) Quan sát thấy tạp niệm xen vào... cứ thấy vậy thôi... thì “nó” hết...?
Giống trả lời ở trên!!! ... Còn tạp niệm bạn phải tu tập “đến nhất tâm” cho hết tạp niệm... Chứ không phải để nó hiện trong tâm thức rồi nhìn ngó hoặc nói cho nó hết!!! ... Giống như tấm vải (hay cái áo) dính vết nhơ, ta phải giặt cho sạch, chứ không thể để vết nhơ tồn tại rồi nhìn ngó hay nói hết là nó hết!!! ... Xem cách tu tập trong kinh Niệm Xứ!!!

13.3.3.  (c) ... khi ăn mà chỉ cảm nhận chỉ có ăn, có phải là Thực Tánh Chân Đế...?
- Chân đế là cảnh giới Niết Bàn (chân thiệt)!!!

- Thực tánh là cái thấy của Trí Tuệ (thấy thiệt tướng)!!!

Vị nào thành tựu hai thứ trên, nhất định xứng đáng làm thầy của trời, người (ba cõi)!!!

Hai thứ này thuộc về cảnh giới “xuất thế gian” và “xuất thế gian thượng thượng”, không can dự đến chuyện ăn cùng không ăn theo suy nghĩ của thế gian...!!! ... Nếu ăn mà “cảm nhận chỉ có ăn” là cảnh giới của chân đế và thực tánh, thì không lẽ khi kẻ trộm “cảm nhận mình đang trộm cắp” là chân đế và thực tánh hay sao???!!! ... Hình như có điều gì không ổn trong vấn đề này!!! ... Mong bạn tìm hiểu kĩ hơn hai nghĩa đặc thù của cảnh giới xuất thế và xuất thế gian thượng thượng là “chân đế” và “thực tánh”!!! ... Chúc bạn thành công!!!

- Hỏi

Thưa thầy, con đang đọc cuốn "Vô đối môn" của thầy và muốn được thầy hướng dẫn thêm về việc xây dựng cho mình đời sống thiểu dục tri túc. Tự con cảm thấy bằng lòng với cuộc sống của mình, không quá tham lậm vào cuộc sống vật chất. Tuy nhiên, con vẫn luôn có cảm giác tâm mình chưa thực sự an yên. Bằng trực giác của mình con thấy giấc ngủ của con còn nhiều mê man, không được thoải mái như những người đạt được sự an tịnh. Thi thoảng trong cuộc sống, con dễ bị sợ hãi một điều gì đó không đoán định được trước hay một điều gì bất thường xảy ra có thể hút hết toàn bộ năng lượng của con trong ngày hôm đó và có thể kéo dài đến những ngày sau đó. Con đã cố gắng quan sát, phân tích để nhận diện ra hư vọng tâm nào và ý thức nào đang chiếm hữu thân tâm con nhưng chưa thực sự sáng rõ. Con rất mong nhận được sự chỉ dẫn của thầy và các anh chị trong Lý Gia. 

(23/10/2019 16:24:44; Đào Thị Thu Hường)

- 13.4. Đáp

“Thiểu dục tri túc” (ít muốn biết đủ), chỉ là bước đầu xây dựng đời sống tu hành... Mục đích của việc làm này, nhằm giúp cho hành giả “bớt sinh các thứ tâm hư vọng” chứ “chưa phải là tất cả”!!! ... Theo mô tả, bạn đã thực hiện tốt đời sống thiểu dục tri túc!!! ... Tuy nhiên, muốn tâm và pháp hư vọng tịch diệt hoàn toàn, cần trải qua quá trình học tập như pháp... Có nghĩa, phải tu tập cần mẫn và có những bước giác ngộ cụ thể, chứ chẳng phải tự nhiên mà được!!! ... Các bước tu tập trong Phật đạo gồm:

Hết khổ: Tịch diệt tám món khổ nhân sinh gồm: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt li khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ và ngũ ấm xí thịnh khổ!!!
Dứt tập: Sau khi các thứ khổ đã giảm thiểu đến mức thấp nhất... Bạn phải tu tập để các kiết sử, lậu hoặc, phiền não không còn hiện khởi!!!
Chứng diệt: Đây là giai đoạn quan trọng, sau khi tâm thức hoàn toàn vắng lặng, như nước đã được lóng trong... Bạn sẽ được hướng dẫn để thấy bổn tâm, bổn tánh... Chứng Niết Bàn chân đế, thành tựu đạo xuất thế!!!
Đến giai đoạn này, “tâm hư vọng” và các “pháp hư vọng” sẽ không hiện khởi trong tâm thức của bạn... Chừng ấy, những thứ như bạn mô tả (ngủ mê, sợ hải vô cớ, mất năng lượng, v.v...) sẽ tự không còn nữa!!! ... Chúc bạn... sớm giác ngộ!!!

(25-10-2019)

[[1]] ... có thể xem thêm... bài viết “Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về Mạt Pháp”; sách Chuyện Trên Mây Tập 1 (NXB Hà Nội) hoặc từ Website: lytu.vn; Facebook Lã Thị Hạ Đế.

Tác Phẩm Lý Tứ

Mục Tiêu Tu Học Phật Là Gì?

MĐ 831 Lê Thị Trường Sa 09.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn - Tác Giả Lý Tứ

Hỏi: Mục tiêu ra đời của Phật Đạo là vì việc gì, và người tu hành trong Phật Đạo là vì cái gì?

Đáp: Giống như phần lớn các học thuyết thế gian, mục tiêu của Phật Đạo ra đời nhằm giúp cho bản thân người tu hành có được đời sống an vui và sau đó giúp cho mọi người cũng được an vui...

Vì thế, người tu tập trong Phật Đạo ngoài việc tu tập để mình được an vui, sau đó phải nỗ lực giúp cho mọi người cũng được an vui như mình...

Hỏi: Chỉ cần đưa đến an vui là đủ, việc gì Phật Đạo phải có quá nhiều kinh điển... Đôi khi chính sự dồi dào về kinh điển, làm người tu hành lúng túng, khó hiểu hết ý nghĩa đích thực của Phật Đạo... Xin hỏi, có cần thiết phải nhiều kinh điển đến như vậy không?

Đáp: Cũng cần thiết và cũng không cần thiết...

Hỏi: Xin cho biết, như thế nào là cần thiết và như thế nào là không cần thiết?

Đáp: Kinh điển của Phật giống như thuốc chữa bệnh, mỗi người bệnh, chỉ cần một vài thứ thuốc là có thể chữa lành, không cần uống nhiều... Nhưng, thế gian thì có quá nhiều bệnh, nên Phật Đạo phải có rất nhiều thứ thuốc để chữa trị cho hết tất cả bệnh trong thế gian.

Và, quan niệm an vui của Phật Đạo không chỉ gói gọn trong ý nghĩa an vui thế pháp, mà Phật Đạo còn đưa sự an vui này qua nhiều cung bậc khác nhau, từ thấp lên cao. Đó là an vui của thế gian, an vui của xuất thế và an vui của xuất thế gian thượng thượng...

Vì thế, Phật Đạo mới có nhiều kinh điển. Mỗi loại kinh điển bao gồm một số cơ sở lý luận, giúp người tu hành nâng nhận thức lên một tầng cao hơn, và an vui ở những tầng nhận thức sau có sự thắng diệu hơn an vui trước đó...

Do vậy, Phật Đạo mới có Tứ Đế,[1] Tứ Đế chính là bốn tầng bậc đưa đến an vui từ thấp lên cao của Phật Đạo... Và kinh điển của Đức Phật thuyết ra tuy ta thấy nhiều, nhưng không ngoài việc xây dựng cho người tu hành lần lượt trải qua và thành tựu rốt ráo bốn Đế này.

Điều này cũng giống như việc học của thế gian, mỗi bậc học cho người học một số hiểu biết nhất định, bậc học sau cao hơn bậc học trước... Càng học lên, người học sẽ hiểu biết cao hơn. Chính hiểu biết cao hơn, sẽ giúp cho người này giải quyết đời sống tốt hơn...! ... Vì thế, tùy vào địa vị tu hành và tùy vào nguyện lực mà kinh điển nhiều là cần thiết hay cũng không cần thiết.

Hỏi: Xin hỏi, mỗi tầng bậc của Tứ Đế, giúp người an vui như thế nào?

Đáp:  

֎Thứ nhất, thấy khổ mà được vui: Thấy khổ thuộc về Khổ, và vui thuộc về Đế... Giống như một người thấy được sự khổ của việc không biết chữ, khi biết rằng “không biết chữ là khổ”, người này sẽ tìm cách học tập để biết chữ, tìm cách học tập để biết chữ, sẽ là nhân tố giải quyết một phần nào đó của cái khổ ban đầu do không biết chữ...

Để chấm dứt một phần khổ trước mắt, Phật Đạo nói rằng trong đời người có tám sự khổ... Tám sự khổ này, chung quy cũng từ “nhân quả”... Để giải quyết tính nhân quả của sự khổ, Phật Đạo có các kinh giáo thế gian như Thập Thiện, Nhân Quả...; Thập Thiện, Nhân Quả... là Đế của hết Khổ...

֎Thứ hai là dứt Tập mà vui: Dứt Tập thuộc về Tập, được vui thuộc về Đế...

Dứt tập, giống như một người đã học hết bậc tiểu học, đọc thông viết thạo... Người này bây giờ sẽ vui mừng khi tự thân giải quyết được “vấn nạn đọc viết”...

Cơ sở lý luận của Phật Đạo giúp người dứt Tập, chính là những Giáo Pháp căn bản chỉ cho người tu hành biết rõ thế nào là thân, thế nào là cảm thọ, thế nào là tâm, thế nào là pháp, thế nào là vật, thế nào là thế giới, thế nào là hữu vi, thế nào là vô vi, thế nào là nhân duyên... Khi người tu hành biết rõ những điều trên, và họ có một nhận thức mới, đúng đắn về bản chất của các thứ đó, chừng ấy người tu hành sẽ tự chọn lựa cho mình một “thái độ sống” phù hợp.

Chính đời sống phù hợp với những nhận thức mới này, Phật Đạo gọi là Giác... Giác sẽ chặn đứng những trói buộc và sai sử mà trước đây họ bị khổ bởi những thứ này, chấm dứt trói buộc và sai sử, Phật Đạo gọi là dứt Kiết Sử... Một người, trong lòng không còn các Kiết Sử, nhất định người này sẽ an vui trước thấy biết và nghĩ suy... An vui trước thấy biết và nghĩ suy chính là Đế của Tập...

֎Thứ ba là chứng Diệt mà mãi vui: Chứng Diệt thuộc về Diệt, mãi vui gọi là Đế... Chứng Diệt, giống như một người đã học hết chương trình phổ thông trung học... Người học hết phổ thông trung học, sẽ tự giải quyết tất cả những bài toán căn bản... Người tu tập chứng Diệt, cũng giải quyết những bài toán căn bản của cuộc đời... Chính giải quyết rốt ráo bài toán cuộc đời, nên mọi nơi mọi lúc, người này an vui, bài toán cuộc đời không thể làm khó họ được nữa...

Cơ sở lý luận để giúp người chứng Diệt, chính là ý nghĩa của vô ngã, không tâm, không pháp, không tánh, không tướng, không đây, không kia... Người tu hành, nhận thức được bản chất của các thứ trên, tâm và pháp sẽ tự tịch diệt... Một khi tâm và pháp tịch diệt, vị này tự hoát nhiên hiểu ra, cái gì là chơn, cái gì là vọng... Thấy rõ chơn vọng, vị tu hành này xây dựng một đời sống đúng với bản chơn. Xây dựng được một đời sống đúng với bản chơn, không cầu Niết Bàn cũng hiện, không mong Giải Thoát cũng đến... Đây chính là sự an vui tột bậc của một hữu tình... Niết Bàn và Giải Thoát (Ngộ) chính là Đế của Diệt...

֎Thứ tư là tu Đạo mà được vui: Tu Đạo thuộc về Đạo... Có Trí mà an vui, Trí này là Đế của Đạo... Người tu hành thành tựu Đạo Đế, giống như người đi học thành tựu các bậc học cao của thế gian... Người này hiểu biết chuyên sâu về ngành nghề của mình... Chính hiểu biết chuyên sâu về ngành nghề của mình, nên vị này giải quyết tận gốc mọi vấn đề liên quan đến ngành nghề và có thể dạy người những gì liên quan đến ngành nghề đó... Chính việc giải quyết tận gốc và có năng lực dạy người, nên vị này ngoài sự an vui còn có thêm sức tự tại...

Kinh Phương Quảng, chính là cơ sở lý luận cấp cao của Phật Đạo, giúp người thông suốt “Bồ Tát Đạo” và thành tựu “Bồ Tát Nghiệp”... Ta thường gọi là học Bồ Tát Đạo và tu Bồ Tát Hạnh... Bồ Tát Đạo và Bồ Tát Hạnh cũng là Đế của Đạo...

Tóm lại, Phật Đạo sở dĩ có nhiều kinh điển là vì, hệ thống lý luận của Phật Đạo nâng dần từ thấp lên cao... Đưa người tu hành từ khổ đến hết khổ, từ hết khổ đến an vui, từ an vui đến mãi vui, từ mãi vui đến tự tại...

Sở dĩ phần lớn người tu hành lúng túng trước khối lượng đồ sộ của kinh điển, là vì những người này không biết chọn đúng cho mình các bài kinh phù hợp với trình độ để ứng dụng... Giống như người học trò học cấp một, lại đi đọc và nghiên cứu sách vở của những bậc học cao hơn. Lúng túng trong trường hợp này là chuyện đương nhiên....

Hỏi: Theo nhận xét cá nhân, Phật Đạo loay hoay cũng chỉ gồm những vấn đề được lặp đi lặp lại như: Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm, Ngã, Tâm, Pháp, Căn, Trần, Thức... Như thế, có gì là cao siêu?

Đáp: Phật Đạo không luận đến cao siêu hay tầm thường... Vì, Phật Đạo biết rõ các pháp tự nó chẳng có tánh cao siêu hay tầm thường...

Và, những điều như Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm, Tâm, Pháp, Căn, Trần, Thức là những pháp thiết thân khiến người khổ hay vui... Vì thế, Phật Đạo chính là Đạo giải quyết các pháp thiết thân của chúng sinh, chứ không phải là Đạo đi tìm sự cao siêu bởi vọng tưởng hư ảo!

Giống như âm nhạc và bảy nốt căn bản, tự bảy nốt nhạc chẳng có tánh cao siêu hay tầm thường... Và những người nhạc sĩ, cho dù có viết đến bao nhiêu bản nhạc, cũng không rời mấy nốt này... Cũng bảy nốt đó, vào tay người tầm thường, thì chỉ là những âm thanh vô nghĩa... Vào tay một nhạc sĩ tài hoa, thì cũng chỉ bảy nốt đó, nhưng làm lay động lòng người...

Cao siêu hay tầm thường là do người, chứ chẳng phải do pháp...

[[1]] Tứ Đế: gồm Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế.

Tác Phẩm Lý Tứ

Về Ý Nghĩa Sanh Tử Trong Phật Đạo

MB 880 Lý Minh Dáp 09.02.2023

Làm chủ hay không làm chủ sanh tử, không phải là trọng tâm của Phật đạo mà, làm thế nào để “Sanh tử chẳng khác Niết Bàn”, tức sống hay chết cũng đều an vui mới là chuyện cần bàn!

Tâm Tông & Trò Chơi Trí Tuệ - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! ... Lần này, chúng ta tìm hiểu ý nghĩa “Sanh−Tử” trong Phật đạo, nó không mới đối với người tu hành, nhưng mới với HĐ chúng ta, vì từ trước đến giờ chúng ta chưa có dịp mổ xẻ đến nơi đến chốn đề tài này. Câu chuyện như sau:

  • “Làm Chủ Sanh – Tử” ... Hiểu Như Thế Nào Trong Phật Đạo?

Hỏi: Thưa Thầy! Gần đây chúng con nghe nói, có một vài vị tu hành tuyên bố đã “làm chủ được sanh tử”. Xin Thầy cho biết, tu hành trong Phật đạo có thể làm chủ được sanh tử hay không?

− Đáp: Làm chủ sanh tử là làm chủ như thế nào?

Hỏi: Theo con nghe người ta đồn, vị nào làm chủ được sanh tử thì: “Muốn sống hay chết tuỳ ý”. Đối với vị đó, thích thì sống dài dài, sống bất kể năm tháng cho thiên hạ ghê chơi, sống ngang bằng trời đất, giống như Tề Thiên... Còn không thích thì, về chầu Phật tổ cái một, dễ như trở bàn tay, không nói on đơ [[1]] gì hết!

− Đáp: Thế cái vị “làm chủ sanh tử ấy” sống được bao nhiêu?

Hỏi: Hình như không quá chín chục!

− Đáp: Thỉnh thoảng mình cũng có nghe “người ta đồn” về những chuyện như vậy, nhưng tất cả cũng chỉ dừng lại ở tin đồn! Sự thật như thế nào thì chưa thể kiểm chứng, và bản thân mình cũng không đủ điều kiện kiểm chứng những thông tin ấy!

Nhưng theo mình thì, người đời chết “dễ như trở bàn tay” mình có thấy có biết, còn muốn sống bao lâu, sống theo ý thích, chuyện này có lẽ phải coi lại. Bởi lẽ, giới hạn của tuổi đời, giới hạn về thân nghiệp một hữu tình không thể là vô tận, nó cũng không phải thuộc loại “muốn là được” như việc “xài tiền trong túi”!

Hỏi: Thưa Thầy! Trong thế gian này, hay nói khác hơn, trong đạo pháp. Thầy có nghe nói đến cái môn làm chủ sanh tử này không?

− Đáp: Từ ngàn xưa, con người luôn luôn mơ ước “thọ dữ thiên tề” tức sống ngang trời đất, sống hoài không chết, mơ ước này xét ra là chánh đáng. Và, cũng từ ngàn xưa, không biết bao nhiêu nhà đạo học, bao nhiêu vua chúa, bao nhiêu người giàu có, kể cả những nhà khoa học của hôm nay. Đầu tư trí tuệ, đầu tư công sức, đầu tư tiền của nhằm cố đi tìm bí quyết “sống mãi với thời gian”, nhưng hình như chưa có một ai thực hiện được ước mơ này! Thậm chí, có vị đã chết trước khi nồi thuốc trường sinh nấu chín!

  • Phật Đạo Và “Sanh -Tử”.

Hỏi: Thưa Thầy! Thế, đối với Phật đạo... Cái sự vụ sanh tử, nhà Phật giải quyết như thế nào?

− Đáp: Câu pháp đầu tiên, Phật tuyên thuyết trước ba cõi: “Kiều Trần Như! Sắc (thân) là vô thường. Cái gì vô thường, sẽ bị biến hoại. Này Kiều Trần Như! Thọ, tưởng, hành, thức (tâm và các cảm nhận thuộc về tâm thức). Cũng đều (vô thường) như vậy!”

Theo ý nghĩa lời tuyên thuyết này thì, thân (và tâm) là vô thường, nó phải chịu quy luật sanh tử, không thể làm khác đi được. Có nghĩa rằng, thân và tâm này trong trăm năm của đời người, ta không bỏ nó thì, nó cũng bỏ ta và, điều này đã và đang là quy luật. Cái quy luật mà thiên hạ nghe qua liền “nổi da gà” chớ chẳng phải chuyện chơi!

Cho nên, nếu có ai nói rằng “mình làm chủ được sanh tử”, thì nhất định người đó có thể bắt thân xác này phải nghe lời: “Này chú mày, hãy ở với ta thêm vài ba trăm năm nữa, cho ta chứng minh với thiên hạ rằng ta là chủ của chú mày!”.

Nếu thân không nghe những lời trên, mà nó nhất quyết bỏ ta mà đi thì, chuyện “làm chủ hay làm tớ” cần phải...coi...lại!

Vả lại, con người ta, hay khác hơn thân này, mạng này, có một ngàn lẻ một (1001) kiểu chết. Có khi chết trên trời, có khi chết dưới nước, có khi chết trong đất, có khi chết vì lửa, có khi chết vì gió, chết do ăn nhiều, chết do thiếu đói, chết bởi xe tông, chết do đạn lạc, chết vì ôn dịch, chết tại chiến tranh, chết bởi quá sung, chết do thất vọng, chết tại cái miệng, chết tại cái ngu, lúc chết trên giường, lúc chết ngoài đường, lúc chết trong bụi rậm, có cái chết được báo trước, có cái chết cũng rất bất ngờ, v.v... Nói chung, không ai trên đời có thể “thống kê nổi các kiểu chết”, mà thống kê còn không hết, thì làm chủ cái kiểu chết nào đây?

Hỏi: Như vậy Phật đạo dạy người tu hành đối phó với sanh tử như thế nào?

− Đáp: Phật đạo có bốn đế (hay Tứ Đế) là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.

  • KHỔ ĐẾ: Giải quyết tám món khổ nhân thế, đó là: Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ... Tức là, Phật đạo chỉ giúp người giác ngộ, thấu suốt chân lý. Khi giác ngộ, thấu suốt chân lý, cho dù trong đời sống, tám món nói trên có xảy ra (dù sanh tử có đến với họ), cũng không làm khổ họ được. Phật đạo giúp người ra khỏi “sanh tử khổ”, chứ không giúp người thoát khỏi “Sanh-Tử”. Hay nói khác hơn, Phật đạo không giúp người thoát chết hay trở thành BẤT TỬ theo nghĩa đen! Và Khổ Đế của Phật đạo chỉ nhằm giải quyết phần việc này vì thế, ֎Phật đạo còn gọi là “Đạo Diệt Khổ” (Khổ Đế)!֎ Do sanh tử không còn là nỗi khổ, không còn là chuyện phải bận tâm như nhân gian, nên Cổ Đức sau khi giác ngộ, thường ví “Sanh Tử Tức Niết Bàn”. Có nghĩa, chuyện chết sống đau khổ của đời người, đối với các vị ấy cũng an vui như đang sống! Ta có thể đưa ra một vài ví dụ để minh hoạ cho điều này. Người đời chen nhau đi xem hát, vì xem hát đối với họ là vui. Nếu đối với một vị nào đó, chuyện chết sống cũng vui như xem hát, thì việc “chen lấn”để có được tấm vé “xem tuồng sanh tử”thì cũng dễ hiểu thôi!

Và thực tế, các vị Anh Hùng, các bậc gan dạ, những người chán sống... cũng xem cái chết “nhẹ tựa lông hồng” không muốn sống thì chết, đâu cần tu tập hay đắc quả gì ghê gớm! Vì thế, làm chủ hay không làm chủ sanh tử, không phải là trọng tâm của Phật đạo mà, làm thế nào để “Sanh tử chẳng khác Niết Bàn”, tức sống hay chết cũng đều an vui mới là chuyện cần bàn!

  • TẬP ĐẾ: Ngoài tám món khổ nói trên, một người chưa giác ngộ, sẽ bị các Kiết Sử, tức những món trói buộc như tham, sân, si... làm cho phiền não. Người tu hành trong Phật đạo, nhờ Giác Ngộ Tự Tâm, Tập Nhân tự thanh tịnh. Khi Tập Nhân thanh tịnh, Kiết Sử sẽ không hiện khởi. Kiết Sử không hiện khởi, phiền não sẽ tịch diệt. Đây là phần việc của Tập Đế. Vì thế, ֎Phật đạo còn gọi là “Đạo Diệt Phiền Não” (Tập Đế).֎ Cũng chính những lẽ này, Cổ Nhân thường ví “Phiền Não Tức Bồ Đề”.

Có nghĩa rằng, Tập Nhân và Kiết Sử đối với những người chưa “Giác Ngộ Tự Tâm” là mối hoạ phiền não. Nhưng với người giác ngộ, những thứ ấy lại là “cơ duyên tốt” để họ quán chiếu tâm lượng nhân sanh, mà vun bồi hành trang Trí Tuệ cho tự thân!

  • DIỆT ĐẾ: Khi khổ và phiền não đã tịch diệt. Người này tâm trí sáng suốt, bây giờ vị ấy mới bình tâm, nhận ra “Bản Lai Tâm Này Tự Không”. Vì thấu suốt “bản lai Tâm này tự không”,[[2]] hư vọng tâm và hư vọng pháp từ đây vĩnh viễn không còn sanh khởi. Có nghĩa rằng, Hành Tâm và Vọng Thức của vị ấy hoàn toàn tịch diệt, đạt thẳng cứu cánh Niết Bàn Chân Đế. Cảnh giới này, Phật đạo gọi là “ra khỏi sanh diệt”, tức là Tâm và Pháp không còn “Sanh Diệt”. Đến đây, vị tu hành hoàn thành công việc tự độ. Vì thế, ֎Phật đạo còn gọi là “Đạo Dừng SANH DIỆT” [[3]] (Diệt Đế).֎ Kinh Đại Niết Bàn có đề cập việc này qua bốn câu kệ như sau: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”. Bốn câu này có nghĩa rằng: Tất cả niệm niệm, dong ruỗi, tạo tác của Hành Ấm(thuộc về hư vọng tâm) là vô thường. Nó chính là các quan niệm hư dối (các pháp) được sản sinh bởi Thức Ấm. Nếu, Tâm và Thức không còn sanh khởi thì, ngay đó chính là Niết Bàn An Vui. Bởi lẽ ấy, điều phục tâm thức để tự tâm an lạc, mới là mục tiêu chính của Phật đạo.

Chưa làm được điều này, chưa Chứng Diệt Đế, tâm thức chưa dừng sanh diệt, cho dù có “làm chủ được sanh tử”, sanh tử không làm khổ, nhưng (người này) hãy còn “Vô Lượng Pháp Hư Vọng” đã, đang, và sẽ làm khổ ở quá khứ, ở hiện tại cũng như vị lai là điều khó tránh khỏi!

Theo lời kinh ghi lại, các vị A La Hán sau khi chứng Thánh, dừng sanh diệt, thường tuyên bố như Sư Tử Hống về bốn điều thành tựu của mình (gọi là tứ thành tựu). Bốn điều ấy như sau: 

“Chư lậu dĩ tận, 

Phạm hạnh dĩ lập,

Sở tác dĩ biện,      

Bất thọ hậu hữu”.

Bốn câu này có nghĩa rằng:

− Tất cả các Lậu Hoặc Phiền Não đã được diệt tận...

− Thanh Tịnh Tự Tâm nay đang hiện khởi...

− Công việc Tự Cứu đã hoàn thành...

− Tâm Thức Không Còn Quay Trở Lại những mê muội của Ba Cõi Hữu như một chúng sinh nữa... 

Trong Phật đạo, quả vị A La Hán đối với Nhị Thừa, quả vị Đệ Bát Bất Động Địa của Bồ Tát, tuy rằng hai địa vị này có chỗ “Sai Biệt Về Trí Tuệ”. Nhưng, về cảnh giới tịch diệt thì có chỗ tương đồng. Do đó, hai quả vị nói trên được coi là Nghi Biểu Mẫu Mực của Niết Bàn Diệt Đế. Đối với các Thánh quả này, chuyện Sanh hay Tử theo quan niệm thế thường, không còn là việc mà họ phải bận tâm như là “có cần làm chủ được nó hay không”. La Hán mà bận tâm chuyện này thì, chẳng khác gì có “Anh kia” thường khoe với thiên hạ mình là Thầy Pháp chuyên bắt ma quỷ, mà tối đến lại co rút trong nhà vì ra ngoài sợ ma nó vật.

  • ĐẠO ĐẾ: Sau khi vị tu hành đã hoàn thành việc tự độ. Vị này phát Bồ Đề Tâm, học “Trí Tuệ” để đầy đủ phương tiện giúp người, gọi là học độ tha. Đạo Đế của Phật đạo nhằm giải quyết phần việc này. Cho nên: ֎Phật đạo còn có tên là “Đạo Trí Tuệ” (Đạo Đế).֎ Và Trí Tuệ mới chính là đỉnh cao của Phật đạo!

Trong quá trình học Trí Tuệ ở Đạo Đế, theo kinh thì, người tu hành phải trải qua nhiều đời kiếp trui rèn. Quá trình trui rèn trong nhiều đời kiếp này, Phật đạo gọi là “Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử”. Có nghĩa rằng, “Tâm và Trí” của vị đó chuyển biến liên tục theo từng Nhận thức do Trí Tuệ gặt hái được trong quá trình học tập. Nhận thức càng cao, Tứ Vô Lượng Tâm càng lớn, ta có thể nhận ra điều này theo trình tự. Từ Bi, Đại Từ Đại Bi, Vô Lượng Từ Vô Lượng Bi. Hoặc chuyển biến theo ba sở học là Pháp Duyên Từ, Chúng Sanh Duyên Từ và Vô Duyên Từ. Quy trình này xảy ra gần như bắt buộc của Đạo Đế. Giống như khi người ta thắp một ngọn đèn, ánh sáng chỉ soi sáng có một nơi, nếu thắp hai hay nhiều ngọn đèn, ánh sáng sẽ soi nhiều nơi, nếu thắp lên vô lượng ngọn đèn, ánh sáng sẽ chiếu cùng khắp.

  • TÂM và TRÍ của Phật đạo cũng như thế, hai món này tương sinh trong quá trình học Trí Tuệ. Đây cũng là lý do vì sao trong các kinh, Phật thường quở trách “Từ Bi của Nhị thừa chỉ đủ tự cứu!”

Và, đây cũng là “Nguyên Nhân Chính” để Phật tuyên thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa!

Hỏi: Người tu hành trong Phật đạo, chỉ cầu hết khổ như Thánh quả A La Hán của Nhị thừa là được rồi. Tại sao phải cần đến trí tuệ?

− Đáp: Cũng giống như ngoài xã hội, Xã Hội Thiện Trị hay Phật Quốc Độ ở một góc nhìn nào đó, nó cũng không khác gì mấy. Cũng có những người “an phận thủ thường”, cũng có những người “vì người khác mà sống”. Nhưng, trong xã hội văn minh thì không thể có chuyện “sống chết mặc bay”. Vì thế, mối liên hệ giữa những thành viên trong cộng đồng của những người văn minh luôn có sự tương tác tích cực với nhau, chính những tương tác tích cực giữa các thành viên, xã hội đó mới được gọi là văn minh! 

Lời kinh có dạy rằng: “Một hạt giống thối, không thể nảy mầm... Một cái bình bể, không thể làm được việc của một cái bình...”. Tu hành trong Phật đạo, chỉ cầu một chút Thánh quả nhỏ, chỉ mong tự cứu, không có đại tâm, chẳng vì người mà cầu trí tuệ, Phật thường ví hạng này như hạt giống thối, như chiếc bình bể, … 

Vả chăng, Đạo quả trong Phật đạo không dừng lại ở những Thánh quả nhỏ của Nhị thừa, quả vị cao nhất là thành Phật hay Vô Thượng Bồ Đề... Mà, “Vô Thượng Bồ Đề Quả” là quả vị của Trí Tuệ.  Vì thế, sau khi chứng Thánh quả, không phát Vô Thượng Bồ Đề Tâm cầu học Trí Tuệ, người này có được coi là đã hoàn thành công việc tu tập hay chưa? Lại nữa, trong quá trình chuyển biến Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử của việc học Trí Tuệ. Người này cho dù sinh ra ở đâu, mang thân nào, làm việc gì, v.v... cũng đều được tôn trọng vì trong người vị ấy luôn có Hạt Châu Như Ý của Trí Tuệ, viên ngọc kia ngày càng lớn, ngày càng sáng. Đây sẽ là cơ sở vững chắc để vị ấy tự tại trước mọi chuyển biến sanh diệt trước khi có được thành tựu cuối cùng. 

Nó giống như một người đi từ thành A, đến thành B, sang thành C và những thành ấp liên tiếp nhau. Cho dù người này trải qua nhiều thành ấp khác nhau, với những nguy cơ khác nhau, nhưng người này luôn luôn tự tại, luôn luôn an lạc vì trong vị ấy có “Hạt Châu Như Ý” của Trí Tuệ. Có hạt châu này trong mình, phỏng người đó có sợ hãi hay uý kị bất kì một thành nào trong những thành ấy khi người này đi qua hay không? Trí tuệ của Phật đạo, chính là Hạt Châu Vô Uý khi Bồ Tát dạo chơi trong ba cõi!

Cũng giống như một vị vua sợ hãi cái chết, bởi vị vua ấy biết chắc rằng, chết là vĩnh viễn từ bỏ ngai vàng và sẽ khó có được thứ ấy ở vị lai hay ở một cõi khác. Nhưng nếu, vị ấy biết rằng, cho dù trong đời này, hay sanh ra các đời khác, cho dù ở nơi nào khi vị ấy hiện diện đều được làm vua. Biết được như thế, vị vua kia có sợ hãi cái chết hay không?

Trí Tuệ của Phật đạo chính là vua hoặc kế nghiệp vua trong thế giới các pháp (Pháp Vương & Pháp Vương tử). Cho nên, người có Trí Tuệ hay đang học Trí Tuệ sẽ là vua trong thế giới các pháp ở bất kì cõi nào khi họ đặt chân đến. Đây chính là cơ sở vững chắc để các Bồ Tát tự tại đến đi đối với tất cả các quốc độ!

Tóm lại, trên con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề, Khổ đế giúp người “ra khỏi sanh tử khổ” (8 món khổ). Tập đế giúp người “tịch diệt phiền não, kiết sử và lậu hoặc”. Diệt đế giúp người “thấu suốt bổn tâm, chấm dứt quá trình Sanh Diệt của Tâm thức (ra khỏi luân hồi)”. Đạo Đế giúp người “thành toàn trí tuệ” đạt mục tiêu cuối cùng của Phật đạo!

Vì thế, hai chữ “Sanh Tử” và “Sanh Diệt” nhằm chỉ cho hai đối tượng khác nhau, một thứ chỉ THÂN, một thứ chỉ TÂM.

Khi người tu hành hiểu sai ý nghĩa cốt lõi của các Đế, nhất định không thể thành tựu các đạo quả từ “Tứ Đế” mang lại. Thậm chí, chính những hiểu biết sai lệch này, sẽ đưa ra những giải thích phi chân lý, xa rời chỉ thú cốt lõi của Phật đạo. Một khi xa rời chỉ thú cốt lõi, sẽ khiến mình và người đi tìm những thứ không thể có được trong thực tế, và công cuộc tìm kiếm này nếu có được, cũng chẳng ăn nhập gì đến việc DIỆT KHỔ và PHÁT SANH TRÍ TUỆ trong Phật đạo. Duy Tuệ Thị Nghiệp! ... Hãy “học Đạo Diệt Khổ” để thoát khỏi khổ ải của “Phần Đoạn Sanh Tử” trong “Kiếp Nhân Sinh”. Và, hãy “phát Vô Thượng Bồ Đề Tâm cầu học Trí Tuệ” để tự tại tiến bước trên đoạn đường còn lại của “Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử”. Nếu thực hiện được hai phần việc này thì, vấn đề:

“Không Làm Chủ Sanh Tử” hay “Làm Chủ Sanh Tử” tức: “Sanh Tử theo Nghiệp” hay “Sanh Tử theo Nguyện”. Sẽ Không Còn Là “Nạn Vấn” để những “Phật Tử Chân Chánh Lấy Đây Làm Đề Tài Bàn Luận Hay Đặt Thành Mục Tiêu Hướng Đến Trong Đời Sống Tu Học Của Mình”!

Năm mới, chúc các bạn an vui và tinh tấn!                          (01-03-2018)

-----------------------------------

[[1]] on đơ:  on (âm của chữ “un”) = số một (1); đơ (âm của chữ “deux”) = số hai (2) Tiếng Pháp.

[[2]] Bản lai tâm này tự không (hay còn gọi NGỘ ĐƯỢC BỔN TÂM)

[[3]] Hai chữ sanh diệt ở đây nhằm chỉ cho tâm thức, không nên nhầm lẫn với hai chữ sanh tử của thân thuộc Khổ Đế.

Tác Phẩm Lý Tứ

Thay Lời Tựa...Lý Gia Học Tập

MĐ 831 Lê Thị Trường Sa 09.02.2023

Giáo Pháp Nhập Môn - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! [[1]]

Đại Gia Đình Lý Gia là một gia đình vừa ảo vừa thật, gồm những người (Huynh Đệ)[[2]] ham thích tu tập theo Phật đạo, không phân biệt thành phần, xuất thân, tôn giáo, tuổi tác, trình độ văn hoá... Dưới sự dìu dắt của một cư sĩ, HĐ thường gọi tên là Lý Tứ!

Lý Gia không chủ trương theo một pháp môn hay tông phái nào. Tuỳ bịnh... cho thuốc, qua sông dùng thuyền, leo núi chống gậy, đường lộ đi xe, v.v...

Nói chung, tuỳ căn, tuỳ cơ, tuỳ thời... mỗi HĐ Lý Gia ứng dụng lời dạy cụ thể của Phật vào một thời điểm nhất định, để lần lượt thành tựu ba mục tiêu của Phật đạo đề ra, đó là Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ!

Một bạn trẻ hỏi mình:

Thầy ơi! Lý Gia có đặt ra luật lệ gì không?

Trả lời:

✽ Lý Gia coi Phật pháp như một nền giáo dục, một thứ văn hoá, một tri thức tốt đẹp của nhân loại...

✽ Lý Gia không phải là một tổ chức nên không có luật lệ gì hết, và mình cũng “không đủ tư cách” để lập ra luật lệ ràng buộc người!

Nhưng mình thường khuyên HĐ[[3]] của Lý Gia:

✽“Những gì luật pháp cấm, không nên làm”... Vì, luật pháp cấm mà làm, sẽ bị rắc rối trước pháp luật...!✽“Những gì bà xã cấm, không nên làm”... Vì, trái lời bà xã, có ngày phải... ăn... cơm... tiệm! ... Ha ha ha ha!

Bạn ấy lại hỏi tiếp: Tại sao không thêm một điều nữa là: “Những gì Phật cấm, không làm”?

Trả lời: Lý Gia không phải chỉ có những người theo Đạo Phật, mà gồm những người theo các đạo giáo khác nhau, thậm chí có người không theo đạo nào... Cho nên, “đạo ai nấy giữ”!

Hỏi: Những người không theo đạo Phật có thể giác ngộ Phật pháp hay không?

Trả lời: Giác ngộ là ở “cái đầu”... Phật pháp thuộc về trí tuệ! Cho nên, chúng ta chỉ trao đổi với nhau Phật pháp, chứ ta không luận bàn về tôn giáo!

✽Lý Gia không phải là một tổ chức, nên không có địa chỉ cụ thể, người tu học hội đủ nhân duyên, sẽ trở thành bạn (HĐ)[4] của Lý Gia!

Lý Gia đề cao “Triết Lí Con Chuồn Chuồn”: Khi vui nó đậu, khi buồn thì nó cứ bay đi thoải mái...! ... Vui thì ở! ... Buồn thì đi!

✽ Trong cuộc sống, tri thức không bao giờ thừa, nếu thấy thích, các bạn có thể tham gia NHÓM LÝ GIA để học tập, chia sẻ những tri thức tốt đẹp của Phật pháp...

Biết đâu, một ngày đẹp trời, bỗng dưng ta giác ngộ thì hay biết mấy!

Chúc các bạn an vui!          

(11-07-2019)

LÝ TỨ

[[1]] Trích  email gửi cho HD Lý Gia

[[2]] Huynh Đệ (từ Hán-Việt): Viết tắt là HĐ; Từ thuần Việt là Anh Em (AE)

[[3]] HĐ: Huynh Đệ (từ Hán-Việt); Từ thuần Việt là Anh Em (AE)

[[4]] HĐ: Huynh Đệ

Tags:

Subscribe to