Giới Thiệu Khái Quát Về Chương Trình Học Đạo Đế (Học Nhất Thiết Trí) Trong Phật Đạo
Hy vọng, với những kiến giải trong bài viết này, sẽ giúp các bạn có cái nhìn sơ bộ, có được định hướng tối thiểu và biết rõ việc học Nhất Thiết Trí của Đạo Đế là học những gì và phương pháp học tập ra sao.

Tâm Tông & Trò Chơi Trí Tuệ - Tác Giả Lý Tứ
I. DẪN NHẬP
Trong đời và cả Phật đạo, trí tuệ được ví như một viên ngọc quý bởi những giá trị nhất định của nó. Ngọc quý thuộc về vật chất, trí tuệ thuộc về tinh thần.
- Ngọc quý là viên ngọc có độ tinh khiết tuyệt đối, ổn định, khả năng chiết quang và phản quang mạnh, có độ cứng nhất định, chống ăn mòn. Sau khi chế tác, mài dũa, các mặt của nó đều ánh lên sự lấp lánh mà không có một vật thể nào trên đời sánh được!
- Trí tuệ trong Phật đạo là sự thuần khiết siêu việt tuyệt đối của tâm và trí. Khi tiếp cận, người có mắt sẽ nhận ra sự lấp lánh đặc trưng từ các mặt cơ bản của nó!
Để có được một viên ngọc quý, ngoài sự hình thành do quá trình địa chất tự nhiên, viên ngọc đó còn phải trải qua sự mài dũa, cắt gọt từ những nhà chuyên môn, để viên ngọc thô trở thành viên ngọc giá trị. Phật dạy: “Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh”.
Phật tánh trong mỗi chúng sanh như những viên ngọc thô đang lẫn khuất trong vô vàn khoáng vật cùng đất đá của tâm thức hư vọng. Muốn tìm thấy viên ngọc này, người ta phải cất công tìm kiếm bởi những con người có chuyên môn cao và những công cụ đặc biệt. Sau khi tìm được, viên ngọc thô được các nghệ nhân kim hoàn chế tác thành những viên ngọc quý hiếm, có giá trị trong đời!
II. NHỮNG MÔN HỌC CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐẾ
Trong Phật đạo, Tứ Diệu Đế chính là quy trình hoàn hảo, giúp người tu hành đi tìm viên ngọc Phật tánh từ chính họ, mà từ lâu nó bị lẫn khuất bởi các thứ nhiễm ô thế tục hoà lẫn với tâm thức hư vọng. Sau đó, qua bàn tay khéo léo của giáo pháp, viên ngọc thô Phật tánh lại một lần nữa, được chế tác để trở thành những viên ngọc Trí Tuệ quý hiếm trong đời.
Và, Đạo Đế chính là công cụ chế tác ngoạn mục, có thể biến viên ngọc thô Phật tánh (đã tìm thấy từ quy trình tìm kiếm của ba Đế trước) này trở thành Trí Tuệ siêu việt! Điều này được minh hoạ trong Kinh Đại Niết Bàn, đại ý như sau: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân (tâm thức phàm phu).Thọ thực xong (Giác Ngộ chân lý), Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hoá thức ăn (thể nhập chân lý), biến nhục thân thành Kim Cang thân (hết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt Đế). Thấy Phật tánh (ra khỏi vô minh, kiến Bổn Tánh), thành Đẳng Chánh Giác (Thành tựu Đạo Đế, viên mãn Đại Trí Tuệ)”.
Nếu như, viên ngọc mà người đời cho là quý hiếm, được đánh giá bởi độ thuần khiết và sự lấp lánh, không ô tạp hay tỳ vết từ trong ra ngoài, được nhìn thấy xuyên suốt qua các mặt của nó thì Trí Tuệ trong Phật đạo chính là sự thuần khiết siêu việt của tâm và trí người tu hành, được ảnh chiếu xuyên suốt từ trong ra ngoài, được nhìn thấy bởi những người mắt sáng (trong giao tiếp) qua tám mặt cơ bản của nó.Điều này đã được Đấng Tam Giới Tôn khái quát trong Thập Bát Bất Cộng là:
“− Nhứt thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành: Hết thảy nghiệp của thân, tùy theo trí huệ mà tạo tác. − Nhứt thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành: Hết thảy nghiệp của miệng tùy theo trí huệ mà tuyên thuyết. − Nhứt thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành: Hết thảy nghĩ suy của ý, tùy theo trí huệ mà thấu suốt...”
Tám mặt cơ bản của Trí Tuệ chính là tám sự chân chánh tuyệt đối của Phật đạo. Trí Tuệ, là một khái niệm mơ hồ, mênh mông và khó nhận biết, chỉ khi nào người ta nhìn vào một mặt cơ bản bất kỳ nào đó của người tu hành mà, ở đó người ta nhận ra nét siêu việt, sự thông suốt, không ô tạp và hiện lên những ảnh quang lấp lánh đặc trưng của Đạo Pháp. Chừng ấy, sự xác chứng về viên ngọc Trí Tuệ của Phật đạo được coi là hiện hữu trong vị tu hành ấy!
Viên ngọc Trí Tuệ của Phật đạo có tám mặt cơ bản, tám mặt này giáo pháp gọi là Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo gồm: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định. Cũng giống như một viên ngọc quý, không phải ngẫu nhiên mà nó có được sự hoàn hảo ở các mặt Muốn có được sự hoàn hảo, viên ngọc đó phải được thông qua quá trình chế tác vô cùng công phu và tinh tế. Cũng như vậy, tám mặt cơ bản (bát chánh) của viên ngọc Trí Tuệ, muốn có được sự hoàn hảo và lấp lánh dưới ánh sáng Đạo Pháp, nó cũng phải được thông qua quá trình học tập và rèn luyện chuẩn mực. Vì thế, Bát Chánh Đạo chính là tám môn học cơ bản, sau khi thông suốt tám môn học này, nó có năng lực phản chiếu những gì được coi là ưu việt và chân chánh nhất của Đạo Trí Tuệ. Hay nói khác hơn, Bát Chánh Đạo gồm tám môn học của Đạo Đế, thành tựu hoàn hảo tám môn học này, sẽ có được một Trí Tuệ chân chánh siêu việt, được gọi là Nhất Thiết Trí. Trong kinh, chư Thiên thường khen ngợi Bát Chánh Đạo là “Độc đạo, an ổn và bất tử”!
III. TÊN GỌI CÁC MÔN HỌC
Tám môn học của Đạo Đế là: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định. Tám môn học này, khi thành tựu viên mãn sẽ ẩn tàng trong nó những Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của Phật đạo. Có nghĩa rằng, các Tam Muội Môn hay Giải Thoát Môn của Phật đạo chỉ là hệ quả tất yếu của sự thấm nhuần và thông đạt Giáo Pháp, tức ngữ và nghĩa không hai. Nếu có một Tam Muội Môn hay Giải Thoát Môn nào không được soi sáng bởi ngọn đuốc Giáo Pháp đều không thuộc về các Đạo Quả trong Phật đạo!
Tất nhiên, trong chừng mực nào đó, người tu hành sử dụng các tên gọi thuần tuý của Bát Chánh Đạo như Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, v.v... thay vì gọi tên tám môn học về Bát Chánh là Thấu Thị Môn, Thẩm Sát Môn, v.v... cũng không có gì sai. Vì rằng, trong tu học, danh tướng không quan trọng, điều quan trọng nhất là: Ta đã học được môn học đó hay chưa, học bằng cách gì, học ở đâu và đến lúc nào mới thành tựu viên mãn các Đạo Phẩm này? Cho nên, cái được gọi là Trí Tuệ trong Phật đạo, không phải chỉ đơn thuần nhận biết qua những tên gọi hoặc định nghĩa như thế này hay thế kia... Mà, nó phải thật sự lấp lánh và rực sáng dưới mọi góc nhìn của Đạo Pháp!
Để phân biệt giữa môn học và sự thành tựu sau khi học, tức là học để có Chánh Kiến khác với người đã thành tựu Chánh Kiến, người xưa tạm đặt tên cho các môn học của Bát Chánh Đạo theo cách gọi riêng để dễ nhận biết...
III.1. Thấu Thị Môn (Môn học về Chánh Kiến)
Học cách trực nhận và thấu đáo như pháp (về Thánh Pháp lẫn Thế Pháp). Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Kiến.
III.2. Thẩm Sát Môn (Môn học về Chánh Tư Duy)
Học cách suy nghĩ, phản biện thấu đáo như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Tư Duy.
III.3. Đẳng Ngữ Môn (Môn học về Chánh Ngữ)
Học cách thức tuyên thuyết như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Ngữ.
III.4. Đại Hạnh Môn (Môn học về Chánh Nghiệp)
Học về Bồ Tát Hạnh như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Nghiệp.
III.5. Đại Đạo Môn (Môn học về Chánh Mạng)
Học về Bồ Tát Đạo như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Mạng.
III.6. Thật Nghĩa Môn (Môn học về Chánh Tinh Tấn)
Học về Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ cho ra Chánh Tinh Tấn.
III.7. Đẳng Trì Môn (Môn học về Chánh Niệm)
Học các thứ Tâm Vô Lượng như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Niệm.
III.8. Chân Giác Môn (Môn học về Chánh Định)
Học về Đại Niết Bàn như pháp. Khi thành tựu hoàn hảo, sẽ có được Chánh Định.
Thành tựu hoàn hảo tám môn học chân chánh nói trên, gọi là người tu hành thành tựu Đạo Đế. Thành tựu Đạo Đế, sẽ là người tu hành có Trí Tuệ chân thật trong Phật đạo, hay còn gọi là đắc thành Nhất Thiết Trí, người sở hữu trí này còn gọi là Hy Hữu Trí. Đây là thứ trí tuệ thuần khiết, không ô tạp, bất hoại, đệ nhất lành, tối thượng chân chánh. Trí tuệ này, được ảnh chiếu qua tám mặt cơ bản của nó, mà: Những ai có mắt, nhất định sẽ thấy giá trị tuyệt đối của Đạo Pháp thông qua những lấp lánh từ sự ảnh chiếu này!
Nếu, Trí Tuệ là mặt trời thì, Bát Chánh Đạo chính là những tia sáng từ mặt trời ấy chiếu đến nhân gian, làm cho cả nhân gian bừng sáng, và những ai có mắt, như thật biết rằng: Mặt trời kia là một thực hữu, đang soi sáng giữa cuộc đời này!
IV. Ý Nghĩa, Nội Dung Và Phương Pháp Học Tập Các Môn CƠ BẢN Của ĐẠO ĐẾ Thuộc XUẤT THẾ GIAN Thượng Thượng (Còn Gọi Là Học Nhất Thiết Trí)
IV.1. Ý NGHĨA (MỞ RỘNG)
Nếu, Tứ Diệu Đế là bốn cấp học từ thấp lên cao, có năng lực giáo dục một phàm phu vô văn trở thành người có trí tuệ trong Phật đạo. Thì 37 phẩm, là giáo trình giảng dạy hoàn hảo, gồm 37 môn học từ thấp lên cao, giúp người học thành tựu mục tiêu học tập.
Nếu, Tứ Diệu Đế có ba tầng nghĩa gồm: Tục Đế, Thánh Đế và Chân Đế. Thì 37 phẩm cũng có ba tầng nghĩa tương ưng với các tầng của Tứ Đế. Vì thế, 37 phẩm còn có các tên là Trợ Đạo, Trợ Bồ Đề và Đạo Phẩm. Sự tương ưng này cho thấy, việc giải thích về 37 phẩm ở Tục Đế khác Thánh Đế, Thánh Đế khác Chân Đế.
Và trong chừng mực nào đó của tầng nghĩa Chân Đế, 37 phẩm bây giờ lại trở thành môn học chuyên biệt của Thấu Thị Môn và Thẩm Sát Môn (Chánh Kiến và Chánh Tư Duy) trong quy trình học Nhất Thiết Trí. Có xét đến đây, ta mới thấy sự hoạt dụng đến vô tận của Tứ Đế và 37 phẩm. Nếu, mỗi một Đế như một cấp học. Thì 37 phẩm hay 37 môn học được phân chia cho từng mỗi cấp học phù hợp với trình độ nhận thức về Đạo Pháp như sau:
a) Cấp Khổ Đế & Tập Đế (cấp I & cấp II) gồm các môn học: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc. Gọi chung là Tư Lương Vị. Đây là hành trang tri thức tối thiểu, giúp người học vượt qua tám món khổ của nhân gian, cùng mười món Kiết Sử đã cột trói hữu tình trong ba cõi bằng chính sự Giác Ngộ tối sơ, gọi là Sơ Ngộ. Vị tu hành này tâm thức bắt đầu chảy vào dòng Giác Ngộ!
b) Cấp Diệt Đế (cấp III) gồm các môn học: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi. Gọi là Kiến Đạo Vị. Đây là nhóm tri thức thuộc về Xuất Thế Pháp, có công dụng đưa người từ bến bờ Xuất Thế, tiến sâu vào Đạo Quả Xuất Thế trở thành một vị Thánh thực thụ trong Phật đạo, hoàn thành mục tiêu cuối cùng của Phạm Hạnh. Như người đi tìm lõi cây, đã tìm được một lõi cây đích thực, đúng nghĩa Thành toàn Đạo Quả Giải Thoát!
c) Cấp Đạo Đế (cấp IV) gồm các môn học: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định. Gọi là Tu Đạo Vị.
Đây là nhóm tri thức thuộc về Xuất Thế Gian Thượng Thượng, có công dụng biến lõi cây đã tìm được (ở cấp III) trở thành một vật phẩm vô giá mang đến nhiều lợi ích cho đời. Nói khác hơn, tám môn học chân chánh này, giúp một vị Thánh trong Phật đạo trở thành những Bồ Tát thực thụ, trở thành một Đạo Sư đúng nghĩa, với Trí Tuệ Siêu Việt có thể ung dung trở lại thế gian (nhập Pháp Giới, nhập Thế), dùng con thuyền Bát Nhã sẵn sàng đưa người qua khỏi bến mê, đến bờ Giác Ngộ. Thành tựu Đạo Trí Tuệ!
IV.2. NỘI DUNG & PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP (MỞ RỘNG)
Cũng giống như các môn học ở đời, cũng chừng ấy môn học, nhưng tùy vào cấp lớp mà người học được nâng dần nội dung từng môn học từ thấp lên cao, từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu, từ hẹp đến rộng, từ đại cương đến chi tiết, các môn học của Phật đạo trong thực tế cũng gần giống như vậy. Chỉ cần nhìn vào một vài giải thích đơn cử của Phật đạo, ta có thể dễ dàng nhận ra điều này. Ví dụ: Đồng một Bát Chánh Đạo, nhưng khi giải thích về Chánh Kiến, Chánh Tư Duy hay Chánh Niệm ta thấy có ba cách giải thích khác nhau (từ cạn đến sâu) của Tục Đế, Thánh Đế và Chân Đế.
Đối với Tục Đế và Thế Luận: Khi Luận Về Chánh Kiến hay Chánh Tư Duy, các luận giả thường đưa ra những luận cứ mang nặng ý nghĩa luân lý đạo đức ở đời hơn là đứng trên quan điểm Giác Ngộ... Ví dụ: “Chánh Kiến có nghĩa là thấy nghe, hay biết một cách ngay thẳng, công minh, chánh trực, rõ ràng, cụ thể, không chủ quan...”. Hoặc “Chánh kiến phải phù hợp với luật nhân quả và phải tương ưng với điều thiện, và mang lại an lạc trong hiện tại và tương lai...”. Ví dụ về Chánh Tư Duy: “Chánh Tư Duy có nghĩa là suy tư, suy ngẫm về mười điều thiện và mười điều ác, do sự tư duy như vậy ta nhất định sống trong mười điều lành và luôn luôn loại trừ mười điều ác, mỗi khi có điều gì khởi lên trong ta, ta tư duy suy ngẫm và hiểu rõ nó thiện hay là ác, nếu là ác pháp thì ngay đó ta liền đẩy lui ra khỏi tâm ta...”
Đối với Thánh Đế hay Xuất Thế Đế: Định nghĩa về Chánh Kiến, Chánh Tư Duy hoặc Chánh Niệm thường không mang nặng luân lý đạo đức ở đời như Tục Đế. Mà những định nghĩa của Thánh Đế thường xoáy sâu vào tâm thức, buộc người thính pháp nhân đó mà dừng sinh tâm dừng sinh pháp (dừng sinh diệt), đưa thẳng nguồn tâm trực chỉ Niết Bàn Vô Sanh. Ví dụ: “không thấy một pháp mới gọi là Chánh Kiến...”. Hoặc “tịch diệt mọi suy lường gọi là Chánh Tư Duy”. Hay “vô niệm mới là Chánh Niệm”!
Ta thấy, cả ba định nghĩa điển hình ở trên, vượt ra mọi thế thường của một định nghĩa được coi là chuẩn mực của thế gian. Trong các định nghĩa ấy, luôn luôn hàm chứa ý vị của Đạo Xuất Thế, cả người khai thị lẫn người thính pháp sau khi nói và nghe xong, đồng tịch diệt các thứ nhân duyên tạo tác hữu vi!
Đối với Chân Đế hay Đạo Đế của Xuất Thế Gian Thượng Thượng: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy nói riêng, và Bát Chánh Đạo nói chung, càng không giống Tục Đế lẫn Thánh Đế cả về cách định nghĩa, cách đặt khái niệm cũng như nội dung học tập... Ở tầng bậc này, tám môn học của Bát Chánh Đạo đề cao nhận thức tuyệt đối về tánh tướng của các pháp hơn là những định nghĩa mang tính giáo dục của giáo khoa thư hay khai thị. Vì rằng, có nhận thức tuyệt đối về tánh tướng của một pháp, mới có thể nhìn ra những duyên cớ trôi lăn của một hữu tình trước pháp đó. Có thấu tột tánh tướng, có biết rõ những nẽo đường trôi lăn, có thâm nhập những tầng bậc Giác Ngộ sai khác trong tâm thức một hữu tình. Chừng đó, cơ hội vạch một con đường, đốt một ngọn đuốc soi sáng cho hữu tình ấy đi từ mê đến giác, từ giác đến trí mới không sai lệch (gọi là như pháp).
Những định nghĩa, những khái niệm, những nội dung học tập nào, thể hiện được các phần việc nêu trên, chính là nội dung giảng dạy và học tập của Đạo Đế thuộc Đạo Trí Tuệ!
Tóm lại, nội dung các môn học của Đạo Đế mang nặng sự trực nhận qua cửa ngõ “tương thông tâm ý” giữa Thầy và Trò hơn là dựa trên ý nghĩa văn tự bằng những suy lường cố hữu, hay các định kiến cột buộc của tâm thức, hoặc những tri kiến đậm chất giáo điều của Ba Thừa. Ta thấy, khi Thiện Tài đi cầu Nhất Thiết Trí trên 50 nhà Thiện Tri Thức. Chỉ bằng sự thành tâm, chỉ bằng những quan sát thông qua thân khẩu ý của các vị Thiện Tri Thức, Thiện Tài đã nhận ra tất cả. Tất cả ở đây chính là sự biểu hiện siêu việt của Đạo Bất Cộng từ các vị Thiện Tri Thức ấy, thông qua các hành hoạt, sức lưu xuất, tất cả mọi thị hiện nếu có, đều không ngoài phương tiện giáo hoá. Những hình ảnh trực quan này, là thông điệp chứa đựng đầy đủ cả nội dung lẫn hình thức của Đạo Trí Tuệ, nó giúp người học trực nhận ra những gì được coi là đỉnh cao Đạo Pháp mà mình cần vươn tới.
Có thể nói, bất cộng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Quyền Thừa chính là trọng tâm của tám môn học ở Đạo Đế. Ta có thể tìm thấy những quan điểm đặc trưng về việc thấu suốt tánh tướng vạn pháp của Đạo Trí Tuệ thông qua các Bất Cộng Pháp. Từ đó, người tinh ý, có thể trực nhận ra rằng: “điều gì mới là mục tiêu tối thượng của Trí Tuệ”. Chừng ấy, việc thấu rõ nét độc đáo của việc dạy và học Trí Tuệ ở Đạo Đế không còn là ẩn số! Xin giới thiệu một số Bất Cộng Pháp tượng trưng: − Vô bất tri dĩ xã: Điều gì chưa biết, chưa xả (thấu tột nguồn cơn, tự xả). − Dục vô diệt: Các dục không diệt (tánh tướng các pháp vô sanh, vô bất sanh).− Tinh tấn vô diệt: Sự tinh tấn không thối thất (nhất thiết pháp giai thị Phật pháp). − Niệm vô diệt: Ý niệm không quên mất (niệm và vô niệm đồng vô). − Huệ vô diệt: Hiểu biết không tổn giảm (các pháp tự giải thoát). − Giải thoát vô diệt: Giải thoát không hư hoại (tánh tướng các pháp tự không). − Giải thoát tri kiến vô diệt: Giải thoát tri kiến không cùng tận (rõ biết tánh tướng các pháp chưa từng sanh cũng chưa từng diệt) [[1]] ...
IV.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HỌC CÁC MÔN CƠ BẢN ĐẠO ĐẾ TRONG QUÁ TRÌNH THÀNH TỰU TRÍ TUỆ
Như đã nói ở phần trên: “Nếu, Trí Tuệ là mặt trời thì, Bát Chánh Đạo chính là những tia sáng từ mặt trời ấy chiếu đến nhân gian, làm cho cả nhân gian bừng sáng, để những ai có mắt, như thật biết rằng: Mặt trời kia là một thực hữu, đang lặng lẽ soi sáng giữa cuộc đời này!”. Đức Phật, ngoài những danh xưng tốt đẹp mà ta đã biết, Ngài còn được gọi là Bậc Đại Trí Tuệ. Trí Tuệ, chính là đỉnh cao của Phật đạo. Tu hành mà chưa hoặc không có hoài bảo đạt đến đỉnh cao này sẽ là một nghịch tử không biết kế thừa sự nghiệp Tổ Tiên, điều này đã được Thế Tôn căn dặn nhiều lần trong các buổi thuyết pháp!
Vì thế, đối với bốn cấp học của Tứ Đế... Bốn đế này chỉ được coi là Diệu (trong Tứ Diệu Đế), khi nào người tu hành học tập và thành tựu viên mãn đủ bốn cấp học. Cũng giống như một viên ngọc được coi là quý, khi nào viên ngọc này được tìm thấy, lại được mài dũa để các mặt của nó có sức phản quang tối ưu và lấp lánh khi ánh sáng rọi đến. Giả sử, có một viên ngọc thô lẫn lộn trong mớ hỗn độn gạch đá tạp vật không giá trị từ cộng đồng những người kém hiểu biết, không có năng lực phát hiện. Thử hỏi, giá trị đích thực của viên ngọc đó là gì? Nó có được coi là một viên ngọc hoàn hảo đích thực trước thực tế này hay không?
Trí Tuệ của Phật đạo cũng như vậy. Viên ngọc Trí Tuệ phải được phát hiện từ Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và phải được gia công mài dũa bởi tám môn học của Đạo Đế mới có được tám mặt rực rỡ chân chánh. Chỉ cần một môn học khiếm khuyết, một mặt tì vết, không thành tựu như ý, nhất định Trí Tuệ ấy chẳng thể được coi là viên mãn trong Phật đạo! Khác với Thanh Văn Trí, khác với Duyên Giác Trí, khác với Bồ Tát Quyền Thừa Trí. Thứ Trí Tuệ được học tập bởi tám môn học của Đạo Đế là thứ Trí Tuệ đem lại lợi ích cho muôn loài, vì muôn loài mà thành tựu (còn gọi là Đạo Nhất Thừa). Nó là độc đạo dẫn đến Vô Thượng Bồ Đề ở vị lai. Nó chính là hạt nhân của Sanh Mẫu Trí, một thứ Trí sanh ra tất cả các quả vị trong Phật đạo!
V. QUYẾT NGHI
Hỏi: Tại sao trong tám môn học của Đạo Đế lại có thêm chữ “như pháp”?
− Đáp: Có đến hai chữ là chữ như và chữ pháp! Nếu một chữ thì, hoặc như, hoặc pháp, thì sao gọi là “như pháp” được?
Hỏi: Đúng là “như pháp” có đến hai chữ!
− Đáp: Hai chữ “như pháp” khác với ba chữ “không như pháp” ... Bởi lẽ, đã có quá nhiều sự giảng dạy tám môn học của Bát Chánh (cũng như 37 môn học của Tứ Đế) không như pháp... Nên hai chữ “như pháp” ở đây thuộc về điều kiện, loại “điều kiện ắt có và đủ” để khi học xong, người học có thể thành tựu các Đạo Quả Xuất Thế và Trí Tuệ trong Phật đạo vậy!
Hỏi: Thành tựu tám môn học của Đạo Đế, đã là một vị Phật tại thế hay chưa?
− Đáp: Thành tựu tám môn học của Đạo Đế chỉ mới như viên ngọc quý vừa chế tác xong. Hay nói khác hơn, coi như cơ bản đã có tiền, nhưng tiền đó còn ở trong túi thiên hạ nhà giàu. Muốn có tiền thực thụ, viên ngọc này phải được đem ra đấu giá ở chợ đời, khi nào có vô lượng Đại Gia đến hùn tiền và vàng để mua, chừng ấy mới được coi là giá trị đích thực của viên ngọc được định đoạt!
Hỏi: Có một người nào trong đời, không thông qua sự phát hiện và chế tác của Tứ Đế mà hoàn thành Đạo Nghiệp Trí Tuệ hay không?
− Đáp: Có! Có! Hình như Cô Tấm trong chuyện cổ tích có được sự may mắn đó!
Hỏi: Nếu nói như vậy, Thích Ca trước khi thành Phật học các thứ ấy ở đâu?
− Đáp: Theo Phật kể lại, tiền thân của Ngài đã được mài dũa viên ngọc Trí Tuệ bởi nhiều Đức Phật quá khứ. Trong hiện kiếp, Thích Ca túng tiền, đem nó đến chợ đời ở Ta Bà đấu giá. Và năm anh em Kiều Trần Như là những Đại Gia đầu tiên trong vô số Đại Gia sau này như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, v.v... và cả chúng ta cùng con cháu chúng ta trong mai hậu xúm nhau hùn tiền vàng để mua. Sau hơn 2500 năm ngả giá, giá trị đích thực của viên ngọc Trí Tuệ từ Thích Ca Mâu Ni đã được định đoạt. Nhờ thế, viên ngọc này mới được đem ra trưng bày và lưu giữ đến bây giờ!
Hỏi: Trong câu hỏi, có đề cập đến các Tam Muội Môn, các Giải Thoát Môn. Vì sao, trong bài viết này không đề cập đến các thứ ấy?
− Đáp: Ai bảo rằng không? Trong bài viết có đề cập đến vô số Giải Thoát Môn cùng vô số Tam Muội Môn. Nhưng, nó lẫn khuất dưới dạng văn tự thô thiển của thế gian. Chỉ những người có trí bén cùng hai con mắt sáng, lại nhìn thấu ý nghĩa đằng sau lớp vỏ văn tự, mới có thể phát hiện giá trị đích thực của các Tam Muội Môn cùng Giải Thoát Môn nằm ở đâu trong mớ hỗn độn văn tự thô thiển ấy!VI
VI. LƯU THÔNG
Các bạn! ... Hy vọng, với những kiến giải trong bài viết này, sẽ giúp các bạn có cái nhìn sơ bộ, có được định hướng tối thiểu và biết rõ việc học Nhất Thiết Trí của Đạo Đế là học những gì và phương pháp học tập ra sao. Có lẽ, đọc đến đây, các bạn đã có thể tự trả lời những thắc mắc về 3 câu hỏi trong Trò Chơi Trí Tuệ 2018/04.
Chúc các bạn sớm trở thành những Lão Lái Đò không biết mệt mỏi vì vạn loại hữu tình ở vị lai!
LÝ TỨ (12-02-2018)
27 tháng Chạp năm Đinh Dậu
--------------------------------------
[[1]] Các bạn có thể tham khảo thêm cách dạy và học Đại Thừa Pháp là như thế nào, qua câu chuyện tiền thân Thích Ca Mâu Ni cầu Đại Thừa Đạo với vị Tiên Ngũ Thông Đề Bà Đạt Đa trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Tu Đạo Và Học Nhất Thiết Trí
Trò chơi trí tuệ số 04.2018 với các câu hỏi về Tu Đạo Và Học Nhất Thiết Trí Trong Phật Đạo.

Tâm Tông & Trò Chơi Trí Tuệ - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn! ... Hôm nay là ngày cuối cùng (31/1) của tháng một năm 2018, cũng là đêm trăng tròn (rằm) cuối cùng của năm Đinh Dậu! Vào dịp Kỷ niệm Sinh Nhựt 10 Năm Nhật Quang (nay là Lý Gia). Cùng chào đón năm mới Mậu Tuất (2018). Nhân dịp xuân về, trong không khí sôi động tu học của Lý Gia. Mình có ba câu hỏi, HĐ nào trả lời đúng cả ba câu, sẽ nhận được một quà tặng đầu năm.
CÂU HỎI TCTT 2018/04 − Tu Đạo Và Học Nhất Thiết Trí
Phật đạo là đạo trí tuệ. Muốn viên mãn trí tuệ, người tu hành phải học nhiều môn học của Đạo Đế gọi là học Nhất Thiết Trí. Xin hỏi:
1) Có bao nhiêu môn học cơ bản, bắt buộc người học phải hoàn thành để thành tựu Nhất Thiết Trí? Xin nêu tên cụ thể từng môn học? (Ví dụ: Tam muội môn A, Giải thoát môn B.)
2) Hãy giải thích ý nghĩa, nội dung và sự cần thiết của từng môn học? Giải thích phải có cơ sở và đủ sức thuyết phục!
3) Tại sao người thành tựu đủ các môn học đó, mới được gọi là thành tựu trí tuệ trong Phật đạo? Nếu trong đó có một môn chưa thành tựu, vị tu hành này có được coi là trí tuệ hoàn hảo hay chưa? Tại sao (giải thích cụ thể)?
Rất mong, nhận được nhiều kiến giải lý thú từ các bạn. (31-01-2018)
GỢI Ý... TCTT 2018/04 − Tu Đạo Và Học Nhất Thiết Trí
Các HĐ đã có một bước tiến rất dài trong cách tiếp cận vấn đề. Cách đánh giá và khai thác nội dung câu hỏi thiên về chiều sâu. Chứng tỏ các vị ấy có tư duy nhiều về câu hỏi. Tư duy lần này cho thấy có nhiều nét mới, không lý luận dài dòng, không diễn giải lung tung để rồi cuối cùng xa rời trọng tâm câu hỏi đặt ra. Có lẽ, cái được lớn nhất của chúng ta trong các câu hỏi lần này, đó là: Kích thích khả năng tư duy, tìm thấy trọng tâm câu hỏi, trả lời thoả đáng những yêu cầu câu hỏi đặt ra. Có nghĩa, “bán cái thị trường cần, không bán cái mình có...” Đây chính là mục tiêu của Trò Chơi Trí Tuệ nhắm đến.
Như có lần mình đã viết trong Anh Lạc Luận, với đại ý như sau: “Học trí tuệ của Phật đạo, không giống học vấn thế gian... Giữa người học và người dạy, qua sự “tương thông tâm ý” mà tìm thấy những điều người dạy muốn gởi gắm...” Có thể nói, trong một thời gian dài, từ những buổi gặp gỡ, trò chuyện, trao đổi, các bài viết, cho đến Trò Chơi Trí Tuệ, v.v... Mình luôn luôn gởi gắm vào trong đó những điều câu hỏi hôm nay đặt ra, vì đây là trọng tâm của Phật đạo! Sự tiếp nhận của người học thông qua những hình thức bên ngoài như: Văn tự, kiến thức, hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa bài giảng, v.v... Từ đó, lãnh hội điều sâu thẳm ẩn chứa trong những thứ ấy mà người Thầy muốn người học phải đạt đến, phải học cho được. Nét đặc thù của việc học trí tuệ là như thế, nó không thuần tuý là phương pháp truyền thụ kiến thức như cách học thế gian!
Cái được gọi là môn học trong Đạo Trí Tuệ, không giống như môn học thế gian, không có những tiết học cụ thể được ấn định trong thời khoá biểu. Mà môn học của Đạo Trí Tuệ chính là những cảm thụ đặc biệt, những tiếp nhận tinh tế mà người học nhìn thấy (lãnh hội) từ sự tiếp xúc hay trao đổi giữa người học và người dạy. Vì thế, trong một bài giảng, trong một lần gặp gỡ, v.v... người học phải vận dụng năng lực tư duy, khả năng quan sát, vận dụng khối lượng kiến thức đã tiếp thu trong lúc ấy để kết luận “hôm nay ta học những môn gì”. Có khi cứ mỗi lần tiếp xúc, trong một bài giảng lại chứa đựng nhiều môn học.
Không giống như đối tượng nghiên cứu của Khoa Học Tự Nhiên, hoặc như đối tượng nghiên cứu của Khoa Học Xã Hội Nhân Văn, hay các bộ môn nghiên cứu khoa học ở đời. Đối tượng của Phật đạo là “Tâm Thức”, nói đúng hơn, Phật đạo là bộ môn khoa học mà đối tượng nghiên cứu là Tâm Thức (không phải Tâm Lý Học)
Mục tiêu cuối cùng của Phật đạo là “Biến Hư Vọng Tâm thành Niết Bàn Chân Thiệt và Biến Thức Hư Dối thành Trí Tuệ Siêu Thắng”, tức là một công cuộc chuyển đổi toàn diện ở “Tầng Cao Nhất” của người tu hành. Vì thế, “Học để trở thành một trí tuệ siêu việt, không giống học để biết trí tuệ là gì!”. Các môn học của trí tuệ bí ẩn ở chỗ này!
Các bạn! ... Mình biết, ba câu hỏi vừa rồi thuộc dạng không dễ nhưng cũng không phải là quá khó đối với các HĐ. Mọi người đặt câu hỏi trước mặt để tư duy để sau đó chọn phương án trả lời tối ưu. Chỉ có việc, tự thân các HĐ đã nhìn ra điều mình muốn hỏi và thấy được đáp án hợp lý hay chưa mà thôi. Trong đợt trả lời câu hỏi lần này. Phần lớn, nắm vững giáo pháp và biết rõ tự thân cần gì và phải làm gì để thăng tiến trong tu tập. Đây là tín hiệu lạc quan. Có được sự trưởng thành hôm nay, mọi người đã phải nỗ lực rất nhiều. Làm thế nào để biến giáo pháp đã học trở thành đời sống là một chuyện không dễ. Nhưng, hầu như HĐ chúng ta đã làm được chuyện không dễ ấy!
Có lẽ, hạnh phúc nhất đối với mình là, được đọc những kiến giải của các bạn. Mình có cảm giác, mỗi một email trả lời của các bạn, là một ngọn đuốc vừa được các bạn thắp lên. Ngọn này nối tiếp ngọn kia. Cứ thế! Cứ thế! Và đến lúc nào đó, những ngọn đuốc của các bạn, cái sau nối tiếp cái trước, sẽ trở thành một trời ánh sáng xua tan tối tăm ba cõi! Có thể nói sức thâm đạt của HĐ chúng ta cho đến lúc này, được coi là hy hữu!
Điều này, cho phép mình tin rằng, nhất định không bao lâu nữa với những gì các bạn đang nỗ lực học tập của hôm nay, sẽ làm sáng rực chánh pháp ở vị lai! (12-02-2018)
(Tham Khảo) TCTT 2018/04 − Tu Đạo & Học... “Giới Thiệu Khái Quát Về Chương Trình Học Đạo Đế (Nhất Thiết Trí) Trong Phật Đạo”
Các bạn! ... Khi đặt câu hỏi, mình viết rất rõ: “Phật đạo là đạo trí tuệ. Muốn viên mãn trí tuệ, người tu hành phải học nhiều môn học của Đạo Đế gọi là học Nhất Thiết Trí. Xin hỏi: ...”
Nếu dừng lại ở phần mở đầu này, và lặng lẽ quan sát, các bạn sẽ thấy một khẩu dụ rất minh bạch, đúng với tiêu lệnh hành quân... Khẩu dụ đó là: “Này các bạn, hãy vào nhà Bác Tám Đạo Đế để tìm viên ngọc Nhất Thiết Trí!” Thế nhưng, đoàn quân hừng hực khí thế, với vũ khí lăm lăm trên tay. Họ tiến vào thành phố, lùng sục mọi ngóc ngách. Đoàn quân xới tung cả thành phố đang yên bình! Nhà Anh Tứ Đế, nhà Bác Ba Bảy Phẩm, nhà Dì Thập Nhị Nhân Duyên, Nhà Cô Ba Tam Muội, nhà Chú Tam Giải Thoát Môn, nhà Cậu Tam Vô Lậu Học, nhà Dượng Mười Một Trí, nhà Chị Tư Pháp Ấn, kể cả nhà Cụ A Di Đà, v.v... và, v.v... họ khám xét không chừa một nơi nào. Oái ăm thay! Chỉ có nhà Bác Tám Đạo Đế, đối tượng chính của chiến dịch lại được miễn trừ?
Đoàn quân tịch thu tất cả những gì bắt gặp trên đường tiến quân. Nhìn vào rừng chiến lợi phẩm đồ sộ, có mỏi mắt cũng không tìm thấy đâu “viên ngọc Nhất Thiết Trí từ nhà Bác Tám Đạo Đế”... Các bạn có thấy một cuộc tiến quân nào lạ lùng và kì dị nhất trong “lịch sử quân sự thế giới” như cuộc hành binh của HĐ chúng ta hôm nay hay không? Cho tận mãi đến những giờ cuối cùng trước khi hưu chiến... Khói lửa đao binh, tiếng súng đạn vẫn còn đì đùng trên chiến trận.
*****
Xin gửi đến các bạn, bài viết “Gợi Ý Trả Lời” TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ 2018/04 có tên: “Giới Thiệu Khái Quát Về Chương Trình Học Đạo Đế (Học Nhất Thiết Trí) Trong Phật Đạo”. Các bạn sẽ tự cảm nhận được đáp án (Tham khảo) cho các câu hỏi kỳ này. (12-02-2018)
Tam Muội Môn, Các Pháp Tứ Thiền Bát Định, Tứ Niệm Xứ, Mười Hai Nhân Duyên… Và Tam Giải Thoát Môn… Mối Liên Hệ Và Sự Tương Ưng

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn! ... Để thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa ba Tam Muội Môn và các pháp Phật đã dạy như Tứ Thiền Bát Định, Tứ Niệm Xứ, v.v... kể cả mức độ tương ưng giữa Tam Muội Môn (có giác có quán, không giác có quán, không giác không quán) và Tam Giải Thoát môn (không, vô tướng, vô tác). Chúng ta cần khám phá ra mối liên hệ mật thiết giữa các pháp đó mang tính sách lược như: Những pháp nào thuộc về chủ trương, những pháp nào thuộc về đường lối, những pháp nào thuộc về chính sách (tất cả đều nhằm phục vụ cho một mục đích). Chừng ấy, chúng ta sẽ tìm thấy mối liên hệ hữu cơ và sự tương tác lại qua mà chính mối liên hệ cùng sự tương tác này đã trở thành nét đặc thù trong một cơ chế “luôn luôn nhất quán của Giáo Pháp” (bao nhiêu pháp cũng chỉ phục vụ cho một mục đích). Vì sao cần đến các nhận định hay khám phá này? Khám phá hay nhận định này, sẽ là tiền đề giúp các bạn thoát khỏi vị trí cố hữu của một anh học trò, chuẩn bị tư thế trở thành một người thầy đúng nghĩa (chuyên nghiệp, tự tại, thong dong) trên tinh thần Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt! Tiếp tục Trò Chơi Trí Tuệ. Xin có vài câu hỏi:
CÂU HỎI TCTT 2018/03 − Tam Muội Môn, Các Pháp Tứ Thiền Bát Định, Tứ Niệm Xứ, Mười Hai Nhân Duyên... Và Tam Giải Thoát Môn... Mối Liên Hệ Và Sự Tương Ưng
1) Nếu bảo rằng, chỉ dùng ba Tam Muội Môn là có thể thoát ra khỏi ba cõi. Xin hỏi, như vậy các pháp như Tứ Thiền Bát Định, Tứ Niệm Xứ, Mười hai nhân duyên, v.v... mà Phật đã dạy ở các kinh dùng vào việc gì trong tu tập, nó có mối liên hệ nào đến ba Tam Muội Môn hay không?
2) Ba Tam Muội Môn (có giác có quán, không giác có quán, không giác không quán) có tương ưng với Tam Giải Thoát Môn (không, vô tướng, vô tác) hay không? Tương ưng ở điểm nào và không tương ưng ở điểm nào? (20-01-2018)
GỢI Ý... TCTT 2018/03 − Tam Muội Môn …
Trong hai câu hỏi, mình có đặt ra yêu cầu “xin cho biết mối liên hệ và nét tương ưng của ba Tam Muội Môn với các pháp khác mà Phật đã dạy (là có hay không) ...” Tất nhiên, khi nói đến liên hệ, tương ưng là có hay không, buộc người trả lời phải chứng minh về mối liên hệ cùng sự tương ưng (là có hay không) cụ thể như thế nào. Để có thể trả lời thoả mãn về mối liên hệ cũng như mức độ tương ưng được nêu trong hai câu hỏi. Mình xin đưa ra một gợi ý nhỏ, có chút “mùi vị sách lược” để các bạn dễ cảm nhận. Các bạn thử nhận định, trong những pháp Phật đã thuyết, pháp nào thuộc về “Chủ Trương”, pháp nào thuộc về “Đường Lối”, pháp nào thuộc về “Chính Sách”?
Nhận định được ba điều này, việc trả lời hai câu hỏi mình vừa gởi “Có mối liên hệ và sự tương ưng nào chăng…”, nhất định sẽ không khó và đầy sức thuyết phục. Các bạn phải có một bức phá nào đó, với một nhãn quan tốt nhất để làm cơ sở lập luận chứng minh. Có nghĩa rằng, một cái thấy mang tầm sách lược (đối với giáo pháp), cái thấy mang tính vĩ mô của một bậc thầy (khi nhìn về giáo pháp) hơn là trình bày theo cách trả bài thuộc dạng “yes hoặc no” của một anh học trò. Phật đạo đang cần ở các vị một nhãn quan rộng lớn như thế, Phật đạo đang đặt ra một yêu cầu cao hơn trong nhận thức của Các bạn! ... Cụ thể, mình rất mong muốn, các bạn phải có cái nhìn xuyên suốt hơn là một cái nhìn chỉ mang tính giai đoạn (trung, ngắn hạn). Không biết các vị có nhận ra mong ước này của mình hay không?
Không nhất thiết trả lời đây là câu một kia là câu hai. Mà có thể trình bày dưới dạng một tham luận hay một luận văn, điều này sẽ làm phong phú phương thức trả lời của Các bạn! ... (21-01-2018)
(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/03 − Tam Muội Môn …
Các bạn! ... Thật sung sướng và hạnh phúc khi đọc email của Vô Tướng. Những tưởng mọi thứ “rơi vào bế tắc”. Nhưng email của Vô Tướng là thứ “ánh sáng cuối đường hầm” mà Lão Lý hôm nay hân hoan nhìn thấy! Xin gởi email đến HĐ... (22-01-2018)
Cảm Nhận TCTT 2018/03 − Tam Muội Môn ... (Vô Tướng).
Thưa Thầy! Con lại tiếp tục tập tư duy. Con không hiểu gì mấy về mấy từ chính trị nên vào Google tìm hiểu. •Chính sách: policy, a course or principle of actions; •Đường lối: road map; •Chủ trương: a clause or proposal và sau đây là cách nhận xét của con… hi hi!
- Chủ trương của Phật đạo là đưa người đến “giác ngộ, giải thoát và trí tuệ”. Trên con đường Phật đạo, muốn thành tựu, người đi phải nắm vững mục tiêu, nước bước, hoàn cảnh, xã hội và tìm cách đi đến nơi an toàn để tránh hiểm nạn. Nếu nắm vững đường lối và chính sách, việc thành công chủ trương đã đề ra chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
Trong Phật đạo, chủ trương như là ngọn núi cao nhất phải hướng đến. Và trong từng giai đoạn cụ thể, phải có những chủ trương cụ thể và sau cùng mới là chủ trương tối hậu hay cuối cùng. Vì thế, giác ngộ, giải thoát và trí tuệ là ba chủ trương. Nhưng theo con, đôi lúc ba thứ đó vừa là chủ trương vừa là đường lối. Theo con, để có thể thực hiện từng chủ trương một, theo thứ lớp từ giai đoạn đến chung cuộc, phải nắm vững sách lược, tức chiến lược tổng thể có tầm vóc vĩ mô. Ví dụ: Từ sơ giác đến giải thoát, từ giải thoát đến trí tuệ, Phật đạo phải có những chính sách phù hợp với từng đối tượng gọi là căn cơ, và tất cả chính sách đó phải được thực thi theo một đường lối nhất định, và đường lối này phải phục vụ cho chủ trương đã đề ra.
Có thấy được điều này, mới hiểu được điều Thầy đã viết trong email trước: “Chừng ấy, chúng ta sẽ tìm thấy mối liên hệ hữu cơ và sự tương tác lại qua mà chính mối liên hệ cùng sự tương tác này đã trở thành nét đặc thù trong một cơ chế luôn luôn nhất quán của Giáo Pháp (bao nhiêu pháp cũng chỉ phục vụ cho một mục đích)!”.
Thầy ơi! Để có thể hiểu những điều thâm diệu vừa rồi, con phải suốt đêm miệt mài với anh Google để học chánh trị, vì thuật ngữ tiếng Việt về chánh trị con không rành!
Về hai câu hỏi của Thầy, theo con, trong giai đoạn ban đầu của người tu học, mục đích tối thượng của họ là thoát ly ra khỏi ba cõi. Vì thế, thoát khỏi ba cõi chính là chủ trương (a clause or proposal) cao nhất trong giai đoạn này. Do đó, Tam Giải Thoát Môn chính là chủ trương của Phật đạo (trong giai đoạn này), hay còn gọi là “cứu cánh thứ nhất” nằm trong “chuỗi cứu cánh” phục vụ cho “tất cánh” (cứu cánh của mọi cứu cánh) sau cùng là “trí tuệ vô thượng”.
Muốn thực hiện được chủ trương này, Phật đạo phải đề ra đường lối chung cho tất cả mọi căn cơ. Anh Google cho biết, đường lối là “road map”, tức con đường đã vẽ sẵn mà mọi người phải thực hiện. Hay nói khác hơn, đây là những công việc, con đường độc nhất, hay có thể coi đó là biện pháp thực thi. Cũng theo con, Tam Vô Lậu (giới, định, tuệ vô lậu) và các Tam Muội Môn (có giác có quán, không giác có quán và không giác không quán) chính là biện pháp tối ưu, là “độc đạo”, là phương tiện duy nhất để tạm thời tồn tại và tìm cách thoát ra khỏi ba cõi, nó chính là đường lối nhằm thành tựu chủ trương đã đề ra, chủ trương đó là viên mãn Tam Pháp Ấn (Không; Vô Tướng; Vô Tác). Để đường lối được vận hành trơn tru, giáo pháp có thể đến mọi căn cơ, giải quyết tốt mọi mê lầm thì, “Đoạn mê khai giác”[[1]](giúp người sơ ngộ) và các giáo pháp căn bản như Tứ Thiền Bát Định, Thân, Thọ, Tâm, Pháp (Tứ Niệm Xứ), Mười hai nhân duyên, v.v... là những chính sách cụ thể áp dụng cho các thứ đối tượng cụ thể khác nhau. Ta có thể hiểu:
− Đối với những ngoại đạo đã từng tu thiền định, thì chính sách cụ thể dành cho họ là hướng con đường tu tập quen thuộc của họ (Tứ Thiền Bát định) theo định hướng từng bước vượt ra khỏi ba cõi, bằng cách điều chỉnh đối tượng giác quán thuận theo đường lối của các Tam Muội Môn (giải thích rõ thế nào là dục giới, sắc giới và vô sắc giới để làm cơ sở giác quán).
− Đối với những căn cơ mê muội hoặc thân, hoặc thọ, hoặc tâm, hoặc pháp. Thì giác quán của Tam Muội Môn dựa vào từng món trong bốn món đó làm tiền đề cho từng căn cơ, để hình thành đường lối giác quán chung (giác quán thân hay giác quán thọ, v.v...).
− Đối với một số căn cơ đặc thù thì các duyên (của mười hai nhân duyên) là nền tảng giác quán cơ bản để đình chỉ các duyên, nhằm thực thi hiệu quả đường lối các Tam Muội Môn đã đề ra.
Nói chung, giáo pháp căn bản chính là các thứ chính sách hữu hiệu làm chuẩn mực cho giác quán, theo tinh thần“đau đâu chữa đó”
Thầy kính! ... Có xét như vậy, mới thấy Phật đạo luôn luôn mang trong nó một sách lược cụ thể và nhất quán. Hi hi! Con đã học được thế nào là “sách lược”, là “chủ trương”, là “đường lối”, là “chính sách”. Những điều mà hôm nay con mới có dịp tìm hiểu. Con không ngờ, lấy chánh trị để hiểu đạo pháp, một thứ “râu ông nọ cắm cằm bà kia” lại được Thầy phù phép để nhờ cái râu có thể làm sáng tỏ cái cằm một cách rất ngoạn mục!
Vạn lần kính ngưỡng, vạn lần kính lạy Trí Tuệ Vô Đối của Thầy! Và chính câu Thầy viết đã giúp con có một nhãn quan mới! Xin ghi lại lời dạy bất hủ của bậc Đạo Sư kính mến: “Chừng ấy, chúng ta sẽ tìm thấy mối liên hệ hữu cơ và sự tương tác lại qua mà chính mối liên hệ cùng sự tương tác này đã trở thành nét đặc thù trong một cơ chế luôn luôn nhất quán của giáo pháp (bao nhiêu pháp cũng chỉ phục vụ cho một mục đích)!”. Policy, a course or principle of action. Road map. A clause or proposal, ... hay quá Thầy ơi!
Không biết con tư duy như thế có đúng không, xin Thầy định hướng lại! Kính lạy Thầy vô lượng lạy! Con.
-------------------------------
[[1]] Đoạn mê…: Chữa người mù thành sáng trước khi chỉ cho người này đường đi
Chủ Đề: Lập Kế Hoạch Cho Một Chuyến Hải Hành
Trò chơi trí tuệ số 08.2020 với chủ đề HĐ lập một Bản Kế Hoạch gồm các bước cụ thể giúp một người tu hành từ sơ cơ đến chấm dứt lậu hoặc (hết khổ, dứt tập).

Các bạn !!!
Hướng dẫn người tu tập trong Phật đạo như pháp là một nghệ thuật !!! Nói theo ngôn ngữ thế gian, nghệ thuật này đòi hỏi phải hội đủ hai yếu tố, đó là cần có một con tim biết thương yêu, dũng cảm và một khối óc thông tuệ !!!
Người có thể giúp người vượt qua bến mê tìm đến bờ giác… Hay khác hơn giúp người từ bến bờ hữu lậu bước sang bến bờ vô lậu… Hoặc đưa người từ thế gian đạo tìm về xuất thế gian giới !!! Giống như một vị thuyền trưởng tài ba !!!
Để có thể đưa con tàu đi và đến an toàn, đòi hỏi người thuyền trưởng phải đủ bản lĩnh, trách nhiệm cao và thực hiện đúng kế hoạch hải hành !!! Công việc giúp người vượt qua biển lớn ba cõi trong Phật đạo, không khác gì vai trò của một thuyền trưởng chèo lái con thuyền trên biển sanh tử khổ !!! Chỉ một chút sơ sót, một chút thiếu kinh nghiệm, một mệnh lệnh sai kế hoạch…v..v…có thể khiến con tàu gặp rủi ro !!!
Trong công việc giúp người tu tập của Lý Gia, không ít HĐ chúng ta đã trở thành những vị thuyền trưởng tài ba !!! Nhưng cũng không ít vị HĐ đang bắt đầu tập tành làm nghề chèo lái !!! Để giúp mọi người có cơ hội học tập, nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, khắc phục nhược điểm…v..v…trong quá trình giúp người !!! Trò Chơi Trí Tuệ kì này, có một vài câu hỏi sau:
Bạn hãy lập một BẢN KẾ HOẠCH gồm các bước cụ thể giúp một người tu hành từ sơ cơ đến chấm dứt lậu hoặc (hết khổ, dứt tập) theo các yêu cầu sau:
1) Bạn hãy liệt kê chi tiết các bước giúp người tu hành từ sơ cơ đến hết lậu hoặc (dứt tập) ??? Chú ý, chỉ liệt kê các bước, không giải thích !!!
2) Bạn hãy liệt kê những bài kinh hay bài pháp nào mà bạn cho rằng bài kinh hay bài pháp đó là nền tảng cốt lõi đối với từng bước mà bạn đã nêu ??? Chú ý, chỉ nêu tên tên bài kinh hoặc bài pháp, không cần giảng giải nội dung !!!
3) Bạn hãy nêu các dấu hiệu của sự vướng mắc và dấu hiệu của sự vượt qua từ người được bạn hướng dẫn trong mỗi bước mà bạn đã liệt kê ở câu hỏi số một ??? Chú ý, chỉ cần viết ngắn gọn, không dài dòng !!!
– Hạn chót nhận trả lời: Thứ tư, ngày 30/09/2020 !!!
– Những bài viết hay, thực tế, có tính ứng dụng cao…v..v…Sẽ được làm đề tài thảo luận, học tập của HĐ Lý Gia trong các buổi sinh hoạt trực tuyến tháng 10/2020 !!!
– Mọi thắc mắc về các câu hỏi của TCTT kì này, các bạn có thể nêu lên trong kì sinh hoạt gần nhất !!!
BQT rất mong, nhận được những câu trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
17/09/2020
LÝ TỨ
BÀI THAM KHẢO
Xin chuyển đến các bạn, bài viết của Lý Vô Tướng – Trích TCTT – 2018/03 !!! CHỦ ĐỀ: CHỦ TRƯƠNG – ĐƯỜNG LỐI – CHÍNH SÁCH CỦA PHẬT ĐẠO !!! Sách ANH LẠC LUẬN (2) !!!
Các bạn!!!Mình thật sung sướng và hạnh phúc khi đọc email của Lý Vô Tướng!!! Những tưởng mọi thứ “rơi vào bế tắc”!!! Nhưng email của HĐ Vô Tướng là thứ “ánh sáng cuối đường hầm” mà Lão Lý hôm nay hân hoan nhìn thấy!!!
Xin chuyển email của Vô Tướng đến mọi người!!!
(22-01-2018)
(01) Trả lời_TCTT 2018/03_Tam Muội Môn.. (Vô Tướng).
Thưa Thầy,
Con lại tiếp tục tập tư duy… Con không hiểu gì mấy về mấy từ chính sách,… nên vào Google tìm hiểu và sau đây là cách nhận xét của con… hi hi!!!
− Chính sách: policy, a course or principle of actions; Đường lối: road map; Chủ trương: a clause or proposal− Chủ trương của Phật đạo là đưa người đến ‘giác ngộ, giải thoát và trí tuệ’. Trên con đường Phật đạo, muốn thành tựu, người đi phải nắm vững mục tiêu, nước bước, hoàn cảnh, xã hội và tìm cách đi đến nơi an toàn để tránh hiểm nạn. Nếu nắm vững đường lối và chính sách, việc thành công chủ trương đã đề ra chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
Trong Phật đạo, chủ trương như là ngọn núi cao nhất phải hướng đến. Và trong từng giai đoạn cụ thể, phải có những chủ trương cụ thể và sau cùng mới là chủ trương tối hậu hay cuối cùng. Vì thế, giác ngộ, giải thoát và trí tuệ là ba chủ trương. Nhưng theo con, đôi lúc ba thứ đó vừa là chủ trương vừa là đường lối. Theo con, để có thể thực hiện từng chủ trương một, theo thứ lớp từ giai đoạn đến chung cuộc, phải nắm vững sách lược, tức chiến lược tổng thể có tầm vóc vĩ mô.
Ví dụ: Từ sơ giác đến giải thoát, từ giải thoát đến trí tuệ, Phật đạo phải có những chính sách phù hợp với từng đối tượng gọi là căn cơ, và tất cả chính sách đó phải được thực thi theo một đường lối nhất định, và đường lối này phải phục vụ cho chủ trương đã đề ra.
Có thấy được điều này, mới hiểu được điều Thầy đã viết trong email trước: “Chừng ấy, chúng ta sẽ tìm thấy mối liên hệ hữu cơ và sự tương tác lại qua mà chính mối liên hệ cùng sự tương tác này đã trở thành nét đặc thù trong một cơ chế luôn luôn nhất quán của Giáo Pháp (bao nhiêu pháp cũng chỉ phục vụ cho một mục đích)!!!
” Thầy ơi!!! Để có thể hiểu những điều thâm diệu vừa rồi, con phải suốt đêm miệt mài với anh Google để học chánh trị, vì thuật ngữ tiếng Việt về chánh trị con không rành!!! Hu hu hu hu!!!
Để trả lời thoả đáng hai câu hỏi của Thầy, theo con thì, trong giai đoạn ban đầu của người tu học, mục đích tối thượng của họ là thoát ly ra khỏi ba cõi. Vì thế, thoát khỏi ba cõi chính là chủ trương (a clause or proposal) cao nhất trong giai đoạn này. Do đó, Tam Giải Thoát Môn chính là chủ trương của Phật đạo (trong giai đoạn này), hay còn gọi là ‘cứu cánh thứ nhất’ nằm trong ‘chuỗi cứu cánh’ phục vụ cho ‘tất cánh’ (cứu cánh của mọi cứu cánh) sau cùng là ‘trí tuệ vô thượng’.
Theo con, muốn thực hiện được chủ trương này, Phật đạo phải đề ra đường lối chung cho tất cả mọi căn cơ… Anh Google cho biết, đường lối là road map, tức con đường đã vẽ sẵn mà mọi người phải thực hiện.
Hay nói khác hơn, đây là những công việc, con đường độc nhất, hay có thể coi đó là biện pháp thực thi. Cũng theo con, Tam Vô Lậu (giới, định, tuệ vô lậu) và các Tam Muội Môn (có giác có quán, không giác có quán và không giác không quán) chính là độc đạo, biện pháp tối ưu là phương tiện duy nhất để tạm thời tồn tại và tìm cách thoát ra khỏi ba cõi, nó chính là đường lối nhằm thành tựu chủ trương đã đề ra, chủ trương đó là viên mãn Tam Pháp Ấn.
Để đường lối được vận hành trơn tru, để giáo pháp có thể đến mọi căn cơ, giải quyết tốt mọi mê lầm… “Đoạn mê khai giác”(giúp người sơ ngộ) và các giáo pháp căn bản như Tứ Thiền Bát Định, Thân, Thọ, Tâm, Pháp, Mười hai nhân duyên… v.v… Chính là những chính sách cụ thể áp dụng cho các thứ đối tượng cụ thể khác nhau.
Ta có thể hiểu:
− Đối với những ngoại đạo đã từng tu thiền định, thì chính sách cụ thể dành cho họ là hướng con đường tu tập quen thuộc của họ (Tứ Thiền Bát định) theo định hướng từng bước vượt ra khỏi ba cõi, bằng cách điều chỉnh đối tượng giác quán thuận theo đường lối của các Tam Muội Môn (giải thích rõ thế nào là dục giới, sắc giới và vô sắc giới để làm cơ sở giác quán).
− Đối với những căn cơ mê muội hoặc thân, hoặc thọ, hoặc tâm, hoặc pháp. Thì giác quán của Tam Muội Môn dựa vào từng món trong bốn món đó làm tiền đề cho từng căn cơ, để hình thành đường lối giác quán chung (giác quán thân hay giác quán thọ..v.v…).
− Đối với một số căn cơ đặc thù thì các duyên (của mười hai nhân duyên) là nền tảng giác quán cơ bản để đình chỉ các duyên, nhằm thực thi hiệu quả đường lối các Tam Muội Môn đã đề ra.
● Nói chung, giáo pháp căn bản chính là các thứ chính sách hữu hiệu làm chuẩn mực cho giác quán, theo tinh thần “đau đâu chữa đó”.
Thầy kính!!!
Có xét như vậy, mới thấy Phật đạo luôn luôn mang trong nó một sách lược cụ thể và nhất quán. Hi hi!!! Con đã học được thế nào là ‘sách lược’, thế nào là ‘chủ trương’, thế nào là ‘đường lối’, thế nào là ‘chính sách’. Những điều mà hôm nay con mới có dịp tìm hiểu.
Con không ngờ, lấy chánh trị để hiểu đạo pháp, một thứ “râu ông nọ cắm cằm bà kia” lại được Thầy phù phép để nhờ cái râu có thể làm sáng tỏ cái cằm một cách rất ngoạn mục!
Vạn lần kính ngưỡng, vạn lần kính lạy Trí Tuệ Vô Đối của Thầy!!! Và chính câu Thầy viết đã giúp con có một nhãn quan mới! Xin ghi lại lời dạy bất hủ của bậc Đạo Sư kính mến: “Chừng ấy, chúng ta sẽ tìm thấy mối liên hệ hữu cơ và sự tương tác lại qua mà chính mối liên hệ cùng sự tương tác này đã trở thành nét đặc thù trong một cơ chế luôn luôn nhất quán của giáo pháp (bao nhiêu pháp cũng chỉ phục vụ cho một mục đích)!!!
”Policy, a course or principle of action. Road map. A clause or proposal, hay quá Thầy ơi!!! Không biết con tư duy như thế có đúng không, xin Thầy định hướng lại.
Kính lạy Thầy vô lượng lạy!!!
Con, Lý Vô Tướng.
(02) Cảm nhận.. Sống trong Giáo Pháp (Vô Tướng).
Kính Thầy!!!
Theo dõi Trò Chơi Trí Tuệ từ phiên bản 2018.01 đến 2018.02 rồi 2018.03… Con có cảm giác sau gần 10 năm tu học, từ trước đến giờ, chúng con chỉ mới được Thầy huấn luyện cho HĐ chúng con về các kiến thức cơ bản và tập tành kỹ năng leo núi.
Bắt đầu năm 2018, với các bài thực hành 01, 02 rồi 03… Con có cảm nhận, hiện tại mới là lúc chúng con thật sự được Thầy “phát lệnh tấn công ngọn núi trí tuệ” với những bước đi ban đầu tập tểnh trên chính đôi chân của mình, bằng các kiến thức và những kỹ năng cơ bản đã được học tập ròng rã qua mười năm ấy!!!
Con có cảm giác, Thầy đang đứng ở đâu đó trên ngọn Vô Kiến Đỉnh mà chúng con chẳng thể thấy được. Chỉ nghe vang vọng từ thinh không với những khẩu lệnh “đi thẳng phương giác 2800, rẽ trái phương giác 1200…”. Cứ mỗi bước đi qua, những cảnh giới mới lạ của trí tuệ lại đưa chúng con từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.
Thầy ơi!!!
Sau gần mười năm, Thầy đã cho HĐ chúng con nếm những giọt mật ngọt tinh khôi của Phật đạo đích thực, một Phật đạo của khoa học, logic, tinh hoa của loài người văn minh và hiện đại.
Trước đây hơn mười năm, con đã từng lặn hụp trong những kiến giải ngây ngô, mông muội và đầy huyễn hoặc mà lầm tưởng rằng đó là Phật đạo!!!
Chúng con thật sự tạ ơn Trời Phật, đã giúp chúng con có được may mắn như ngày hôm nay!!!
Con xin vạn lần lạy tạ ơn Thầy!!!
Con, Lý Vô Tướng
(22-01-2018)
Chủ Đề: Lập Kế Hoạch Cho Một Chuyến Hải Hành (Tiếp Theo)
Trò chơi trí tuệ số 08.2020 với chủ đề lập kế hoạch cho một chuyến hải hành - Bản kế hoạch của Lý Diệu Âm

Các bạn !!!
Mình vừa nhận được bản kế hoạch của TCTT - 08/2020 của Lý Gia Long và Lý Diệu Âm !!! Chân thành cảm ơn hai bạn !!!
Mình rất bất ngờ trước bản kế hoạch của Lý Diệu Âm !!! Một bản kế hoạch hoàn hảo và chi tiết, đáp ứng ba yêu cầu của TCTT lần này đề ra !!!
Có thể nói, những gì Lý Diệu Âm phát hoạ trong bản kế hoạch gồm những bước đi tương đối hoàn hảo, cụ thể và rất thực tế, không khác tay nghề của một người nhiều kinh nghiệm trong việc giáo hoá !!! Những bước đi mà Lý Diệu Âm đưa ra có thể giúp một người tu hành từ sơ cơ tiến đến chấm dứt lậu mang tính khả thi rất cao !!!
Sau khi đọc xong bản kế hoạch của Lý Diệu Âm !!! Mình đã phản hồi qua email như sau: “Em chuẩn bị thật kĩ đề tài này để trình bày trước đại chúng trong đợt sinh hoạt vào tháng 10” !!!
BQT rất mong, nhận được những bản kế hoạch hoàn hảo từ các HĐ, để chúng ta có nhiều tư liệu quý giá trong quá trình học tập !!!
20/09/2020
LÝ TỨ
Xin giới thiệu đến mọi người, phần đầu và phần cuối BẢN KẾ HOẠCH của LÝ DIỆU ÂM !!!
Kính thưa Thầy,
Con cũng là một HĐ mới, con xin tán thán và tri ân công đức Thầy đã đưa ra chương trình lập kế hoạch này để Lý Gia có một giáo trình “chuẩn“ vừa lợi ích giúp HĐ mới sớm giác ngộ, và cũng là quy trình cho các HĐ đã giác ngộ có thể có cách làm đúng đắn khi giúp người. Nhắm đúng đích đến, chứ nếu không “mục tiêu mà cung thủ nhắm đến lại không phải là đích“. Hay như người đi săn thú mà mải mê đem khoe ra các phương tiện mà chẳng biết con thú cần bắt là con nào thì tất nhiên sẽ thất bại.
Con cũng thường băn khoăn trăn trở: Con dù là HĐ mới, nhưng trước đó một thời gian dài con đã có sẵn những nền tảng cũ như chịu khó nghe giảng Pháp, tinh tấn chăm chỉ, ham học, sống thiểu dục tri túc, tự yểm ly các căn, biết ngăn chướng đạo, biết hạ cái Ngã xuống, thường xuyên đọc tụng kinh điển...... nên khi được đọc sách thầy (Vô đối môn, Tâm Pháp...) con đã có thể tự sơ ngộ ngay. Tuy nhiên cũng phải mất một thời gian tự loay hoay xoay sở. Nhưng với một vài HĐ mới, con đã thấy thực tế có người do chưa hiểu giáo pháp nên sinh tâm lý nản, sinh tà kiến, sinh nghi, có thể thêm những hội nhóm sinh hoạt cũ tác động bên ngoài ........nên con thực sự trăn trở. Vì mục đích của Lý gia là trước tự giúp mình sau giúp người để tất cả các HĐ cũng như cả những người mình giúp đều được lợi lạc chứ không phải chỉ biết lợi lạc cho riêng mình.
Với những suy nghĩ trên! Con vô cùng tri ân và xin kính đảnh lễ Thầy.
Con xin trình bày bản kế hoạch con đưa ra:
BẢN KẾ HOẠCH CHI TIẾT
1)....
2)....
3)....
GHI CHÚ: Bản kế hoạch sẽ được tác giả trình bày trước đại chúng trên diễn đàn sinh hoạt trực tuyến Lý Gia vào thời điểm do BQT ấn định !!! (LÝ TỨ)
Thầy ơi con có thói quen soạn các bài viết gửi thầy qua email trên điện thoại. Mỗi lúc rảnh rỗi lại lấy ra viết một ít. Con vừa định nhấn gửi bài đi thì có cuộc trò chuyện của Chị Hoa. Chị ấy Thông báo đã bước đầu ứng dụng thành công không sanh Tâm, Pháp. Chị đã cảm nhận được sự rỗng rang ban đầu khi có những việc xảy đến (xử lý nguồn Tâm) nên Chị ấy rất thảnh thơi, không buồn khổ như trước gặp chuyện tương tự vậy.
Con rất vui Thầy ạ. Như vậy các bước con đi đã có những kết quả sơ bộ ban đầu. Con chợt nhận thấy nếu gặp được người cần giúp trực tiếp rất tốt, không những chỉ ra phương tiện mà còn chỉ rõ được con thú cần săn ở đâu ? Hình dáng ra sao ? tập tính thế nào ? Cần loại mồi gì để nhử ??? Hiểu rõ được đương cơ, tâm thức người nghe. Ha ha ha ha !!! và hôm qua chỉ sau hơn 2 tiếng nói chuyện với nhau Chị ấy đã bắt đầu thấy được điều cần thấy !
Kính thưa Thầy! Chương trình TCTT lần này, con vô cùng xúc động trước lòng từ bi của Thầy. Con xin có một ý kiến nhỏ (hoặc gọi là mong muốn cũng được) là các HĐ chưa được giác ngộ sẽ được các vị Huynh trưởng nhiều kinh nghiệm dẫn dắt “một kèm một“ cho đến khi giác ngộ mới thôi. Như vậy HĐ Lý gia có 600 người thì sẽ cả 600 người đều giác ngộ, có 1000 người thì sẽ được cả 1000 người giác ngộ.
Con cũng biết việc thành công hay không thì cũng phải đến từ hai phía, cả người kèm lẫn người học. Nhưng con tin là các HĐ sẽ cố gắng hết sức và sẽ không phụ tấm lòng từ bi vô lượng của Thầy. Như vậy HĐ Lý Gia quyết sẽ không còn một ai bị bỏ lại phía sau.
Con xin thành kính tri ân công đức của Thầy!
Con kính đảnh lễ Thầy !
Con, Lý Diệu Âm
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
http://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/con-chien-lac-bay
Trân trọng,
Con Chiên Lạc Bầy

Vừa qua, HĐ Lý Gia đón nhận một “con chiên[1] lạc bầy” đã trở về trong vòng tay yêu thương, qua câu chuyện thú vị sau:
− Xin phép gia đình Lý Gia, “X” muốn biết rõ về Lão Sư Lý Tứ, không biết có được chăng? Tôi muốn quý vị chia sẻ hình ảnh, người thật việc thật của Lão Sư, vì có duyên gặp trực tiếp, không giao lưu ảo mất thời gian. Mình muốn nói chuyện giao lưu trực tiếp, quý vị có người đại diện chính thức không, cảm ơn quý vị!
⁕Chào “X”!!! Xin cảm ơn bạn!!!
Lý Gia cũng đang lên kế hoạch để Lý Tứ giao lưu trực tiếp với mọi người trong thời gian tới... Mọi thứ đang trong quá trình chuẩn bị!!!Thân!!!
− Chúc mừng quý vị, từng bước thành công, gặt hái được nhiều hoa quả tâm linh, giúp ích được nhiều linh hồn thăng hoa giải thoát, trân trọng! Xin lỗi, mình muốn biết người đang trực tiếp trò chuyện với mình thật sự là ai, mình rất thật nên mình cần sự thật.
⁕Bạn ơi!!! … Mình, chính là Lý Tứ đang tiếp chuyện với
bạn đây...
− Cảm ơn đã trả lời, không biết phải xưng danh thế nào hợp lí nhất, Ngài là Lão Sư phải không, năm nay bao nhiêu xuân để giao tiếp thích hợp. “X” sinh năm 1981, cảm ơn Ngài đã nhẫn nại trả lời tin, chắc hẳn cũng là một tâm hồn cao thượng, tài hoa, vinh hạnh được hầu chuyện cùng Ngài. Ngài đang ở đâu ạ? Vì trước đến giờ, “X” cũng chuyên tâm tu hành, có quán chay phục vụ, đường tu hành cũng nhiều thử thách gian nan, khắp thế gian không dễ được người tri kỉ. Xin lỗi, nếu đã phiền lòng người đức độ thanh tâm.
⁕Cảm ơn “X”!!!..Mình chính là Lý Lão Sư!!! Ha ha ha ha!!!
Mình năm nay đã 65, tuổi Giáp Ngọ, mình đang ở nhà... Xin lỗi “X”, khi nào đủ duyên, mình sẽ cho bạn địa chỉ cụ thể, còn bây giờ, chúng ta tạm trao đổi dưới hình thức này!!! Bạn đồng ý không???
À bạn có quán chay!!! Hay lắm, bạn có thể cho biết nóở đâu, khi nào đi ngang qua, mình sẽ ghé thăm bạn!!!
− “X” đang rất thật tâm xuất gia bên trong, chuyên tâm tu hành, rất cần người chia sẻ. Vâng, cảm ơn Lão Sư, đã nhẫn nại tiếp chuyện.
⁕Cần gì, bạn có thể chia sẻ với mình...
− Tuổi đời, tuổi đạo cũng vừa xưng con với ngài, hay dùng thế nào, xin ngài chỉ giáo!
⁕Danh xưng với mình không quan trọng... Bạn thích thế nào, cứ gọi như thế ấy!!!
− Nhà con ở.., có đất đai, quán chay... Vừa rồi, thấy mọi người đăng tiệc liên hoan VÔ ĐỐI MÔN thật vui. Quý vị ởĐăkLăk?
⁕HĐ của mình ở đó, thỉnh thoảng mình mới đến đó ghé thăm bằng hữu... Nếu bạn muốn làm quen với các bạn ấy, mình sẽ giới thiệu, biết đâu lại có chuyện hay!!!
− Bao nhiêu năm, con ăn chay tu hành, hết lòng chia sẻ những gì có thể với nhân duyên thế gian, giờ gặp chút khó khăn thì tất cả đều quay lưng lại.
⁕Ha ha ha ha!!! Thế gian vẫn thường như thế, đâu có gì lạ!!!
− Hai chữ HĐ là gì vậy ạ!
⁕Là viết tắt của hai chữ Huynh Đệ... HĐ mình tính giới thiệu với bạn, là những người của Nhóm Lý Gia, những người này đã được mình giáo hoá trực tiếp!!!
− Có phải các vị ấy là đệ tử ruột của Ngài, thế nào mới là đệ tử thật của Lão Sư, xem ra thì Ngài có nhiều đệ tử thông thái rồi, quý vị ấy rất giỏi, am hiểu nhiều về tâm linh và xã hội. Thầy giỏi thì trò giỏi, “minh sư xuất cao đồ”.
⁕Mình không phân chia “ruột hay da”, nhưng những người ấy có nhân duyên gặp gỡ mình ngoài đời, và đích thân mình giáo hoá trực tiếp các bạn ấy!!! Chỉ tại nhân duyên nó như vậy!!!
− Ngài dạy họ thần thông phải không? Có truyền mật pháp?
⁕Ha ha ha ha!!! Thần thông là thế nào??? Mật pháp là cái gì??? Hai thứ này mình không biết!!!
− Vâng, 84000 pháp môn đều là Phật pháp. Lão Sư ơi! Ngài có tin con không, con không phải là người xấu.
⁕Theo mình, trên đời không có người xấu...Chỉ có người giác ngộ và người chưa giác ngộ mà thôi!!!
− Dạ, chỉ có người thật sự giác ngộ mới nói những lời này. Bậc chân tu mới thấu hiểu càn khôn, kính phục, kính phục.Lão Sư ơi! Con muốn trình bày với Lão Sư một việc, Lão Sư có thì giờ để nghe con nói không?
⁕Mình đang sẵn sàng nghe bạn nói đây!!!
− Con đang ở...(nước ngoài), gặp chút sự cố ngoài ý muốn, rất cần được giúp đỡ, về tới Việt Nam xin hậu tạ đền ơn. Con không gạt Ngài đâu.
⁕Bạn ơi! Những gì trong khả năng của mình, mình rất sẵn lòng!!!
− Chuyện như thế này... nên tạm thời gặp khó khăn. Lão Sư
có học trò bên đây không?... Cảm ơn Ngài, nếu Ngài có thể giúp con, xin đa tạ! Hiện giờ con đang ở chỗ này, đây là một sân bay quốc tế, con xin gởi hình để Lão Sư xem, nếu con không xoay sở được, không khéo sẽ ảnh hưởng đến người Việt Nam. Con không nói dối Ngài đâu.
⁕Ha ha ha ha!!! Mình có bảo bạn nói dối đâu! Vả chăng, có nói dối với Lý Tứ, thì cũng...đâu...có...sao!!!
Ha ha ha ha!!! Nhưng mà, làm thế nào để có thể liên lạc trực tiếp với bạn???
− Con sẽ gởi cho Lão Sư số ĐT bên này, con vừa mới mua ở phi trường.
⁕... …
− ... …
Ba ngày sau, mình nhận được một tin nhắn:“Lý Lão Sư ơi! Con đã nhận được sự trợ giúp, con cảm ơn Ngài!!!”
Một buổi tối cách đây bốn bữa, mình nhận được ĐT của một người lạ:
− Chào Lão Sư! Con vừa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, hiện đang ở nhà của... Con đến thăm Ngài được không???
⁕Chào “X”! Bạn về Việt Nam rồi hả! Xin chúc mừng! Nếu thấy tiện, bạn có thể đến gặp mình, mình đang rảnh đây!!!
− Con đến ngay Thầyạ!
⁕... …
Và, không ngờ, từ câu chuyện trao đổi trên mạng mười ngày trước, hôm nay “X” đã trở thành HĐ của Lý Gia!!!
⁕P/s: Khi trao đổi với “X” trên mạng, có một số HĐ theo dõi, sinh tâm ái ngại cho mình, vì đường đời không đơn giản và khó có thể tin một người chưa từng quen biết!!!...
─Mình trấn an các HĐ ấy:Hãy giúp đỡ người bạn trẻ này, tuy chưa biết bạn ấy là ai, tốt xấu thế nào, nhưng mình coi bạn ấy như con của mình, phải giúp bạn ấy thôi... Và, không thể để hình bóng người Việt Nam chúng ta xấu đi trong con mắt người nước ngoài!!! Ha ha ha ha!!! Nếu mình như các bạn, lo sợ, không dám giúp người chưa quen, chẳng xứng đáng là...Lý...Tứ!!!
─“X”!!! Cho phép mình ghi lại câu chuyện này và gởi đến mọi người... Mình muốn nói với các bạn trẻ của Lý Gia rằng: “Hãy hết lòng giúp đỡ mọi người trong khả năng có được...Hãy mang yêu thương vàước mơ đến những nơi xa nhất!!!” (23-07-2019)
[[1]] con chiên: Cách gọi khác là con trừu, con cừu..
Các Loại Vô Lậu Và Ngũ Phần Hương
Ngũ phần hương là năm thứ hương vô lậu, do năm món vô lậu toả ra. Gồm: Giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Có vị HĐ email hỏi mình các thứ vô lậu và ngũ phần hương, cùng những thắc mắc chung quanh, mình tạm giải thích như sau, xin chia sẻ đến mọi người...
Vô Lậu Tâm: Tâm không phiền não.
Vô Lậu Pháp: Pháp không sanh.
Vô Lậu Trí: Trí không nhiễm trước.
Đạo Quả Vô Lậu: Thành tựu hết thảy pháp lành.
Chướng Cái Vô Lậu: Chướng đạo không hiện.
Vô Lậu Thanh Tịnh: Thanh tịnh không nhơ…
…….. Ha ha ha ha!!!
Có vô lượng Vô Lậu Môn như thế, Ta làm sao biết hết. Muốn biết được, Ngươi hãy tìm gặp Vô Lậu Lão Gia, hiện nay đang nhập định tại Vô Lậu Sơn.
Ngươi tới đó, từ chân núi, mỗi bước lạy một lạy, khi đến đỉnh núi, gặp Lão Nhân Gia, Ngươi cầu học môn: Nhập Nhất Thiết Vô Lậu Môn Vô Lậu Vương Tam Muội...!!!
Nếu có duyên, học được môn này, Ngươi có thể đọc tên các môn vô lậu một kiếp hoặc hơn một kiếp cũng chưa thể dứt. Chỉ môn này thôi, đủ hù thiên hạ đời nay...!!!
Về Ngũ phần hương, xin trao đổi chút chút.
Ngũ phần hương là năm thứ hương vô lậu, do năm món vô lậu toả ra. Gồm: Giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương..
- Vì, có toả ra nên gọi là hương...Vì có ngửi được nên gọi là hương...
- Hương này có thể giúp người thành tựu vô lậu nghiệp, vô lậu tâm, vô lậu trí, hay nói khác hơn thành tựu đạo nghiệp vô lậu, nên gọi là hương vô lậu.
- Hương này chẳng phải sắc, chẳng phải vô sắc, có thể dùng nhục căn để tiếp nhận, cũng có thể dùng vô lậu căn để tiếp nhận, nên nó vừa là sắc hương, vừa là trí hương.
- Ba thừa: Nương nơi giới, định, tuệ vô lậu để tiến về đạo quả của mình, thành tựu xong sẽ có mùi hương. Muốn rốt ráo, phải thành tựu giải thoát bất động, bấy giờ giải thoát hương sẽ bay ra.
Địa vị này giống chín con sông đã chảy đến cửa biển, sông chẳng còn sông, biển chưa phải biển, lớ lớ lợ lợ, nửa ngọt nửa mặn. Đây là nơi Lý Tứ gọi là "chín dòng sông hò hẹn". Ha ha ha ha!!!
- Nhất Thừa: Sau khi thành tựu trí tuệ, giải thoát tri kiến hương lan toả mười phương.
1. Ngũ hương chia làm hai phần.
- Năng hương: Hương này thuộc về Phật Thừa, giống như hoa nở, tự toả mùi hương...
- Sở hương: Ba thừa, nương theo mùi hương kia mà thành tựu, sau khi thành tựu, hương này mới có chút đỉnh, giống như con ong, bay theo mùi hương của hoa, tìm đến để hút mật, mật dính vào con ong, con ong cũng có chút mùi thơm. (Không tin, bắt con ong vò vẽ, nhét vào lỗ mũi biết liền, đặc biệt mùi con ong hoà cùng dịch trong lỗ mũi, sẽ có mùi của phòng...cấp...cứu!!!)
2. Muốn thành tựu năm thứ hương này.
- Bước đầu, người tu hành phải dứt hai thứ vô minh thuộc hoặc giới nội, đó là nhuận chi vô minh và căn bản vô minh. Ra khỏi phần đoạn sanh tử, dứt sở tri chướng.
- Bước thứ hai, học trí tuệ để khỏi vô minh trụ địa thuộc hoặc giới ngoại, chấm dứt bất tư nghì biến dịch sanh tử, hết sở trí ngu. (12-2012)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Nhất Thiết Trí, Bát Nhã Trí
Tiền thân Phật, Thiện Tài Đồng Tử, Tát Đà Ba Luân cũng như vô lượng Bồ Tát đời sau, muốn thành tựu Phật Trí, đều phải trải qua môn học này!!!

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Có HĐ hỏi mình về ý nghĩa của bốn chữ, Bất, Vô, Phi, Ly và phạm vi ứng dụng. Mình trả lời vắn tắt như sau:
Trong Phật đạo, bốn chữ này đồng chỉ nghĩa không, biểu hiện sự vắng mặt trong hiện tại. Là “bốn cấp độ” nhìn nhận một Pháp, nhận thức một vấn đề. Mỗi một chữ, có một cách ứng dụng, mỗi ứng dụng có giá trị riêng của nó, đồng đưa đến an lạc Niết Bàn.
1. Chữ ‘Ly’: Xa lìa, xa lánh...
Nhận thức này đưa đến việc xa lánh các nguyên nhân phát sinh kiết sử. Kiết sử không hiện, vị này được an lạc...
Ví dụ: Nơi chợ búa dễ sinh tham sân. Ý thức được điều này, người tu hành tìm nơi A Lan Nhã (vắng vẻ, tịch tĩnh) để tu hành...
2. Chữ ‘Bất’: Trước có, nay không...
Vị này nhân giác ngộ mà hiểu rằng các Pháp do mê sanh. Giác ngộ như vậy, vị này không nuôi dưỡng, đeo đuổi, say mê các Pháp. Nhờ vậy, đối trước muôn cảnh, muôn duyên, tâm vị này dừng lặng, không hiện hai thứ đối đãi như: Đúng sai, phải quấy, tốt xấu, hay dở, tịnh bất tịnh... Từ đó, Ngộ ra “xưa nay tâm này thanh tịnh”... Ví dụ: Lúc trước, cũng sự việc như vậy xảy ra, do không giác ngộ, đem tâm nghĩ suy, sinh pháp rồi phiền muộn. Nay, biết được các pháp chỉ là nghĩ suy, nghĩ suy này không thật, nên người này dừng tâm... Tâm dừng, phiền não hết, pháp tịch diệt... Giống như người nhầm sỏi đá là vàng, ôm ấp, giữ gìn. Nay biết được đó là các món không giá trị, bèn buông bỏ không luyến tiếc...
3. Chữ ‘Vô’: Trước không, nên nay cũng không...
Chỉ cho cảnh giới thấy được bổn tâm. Do thấy được bổn tâm, Tâm và Pháp đồng vô vi. Ở trong vô vi, hoát nhiên phát hiện ra "trước không nay cũng không"... Ví dụ: Người nhặm mắt thấy đèn có quầng. Mắt hết bệnh, người này nhận ra, trước quầng đèn chẳng sanh, nay quầng đèn chẳng diệt, quầng đèn thật sự không có, chỉ do mắt bệnh mà thấy...
4. Chữ ‘Phi’: Chẳng phải... Chẳng phải có, chẳng phải không.
Đây là cái thấy cao tột trong Phật Đạo, cái thấy của trí tuệ. Người tu hành thấu suốt chữ phi, xuất sinh vô lượng phương tiện. Từ lúc thấy cho đến viên mãn đạo Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Có vị HĐ hỏi mình về Nhứt thiết trí, Bát nhã trí, cùng các vấn đề liên quan... Mình xin vắn tắt trả lời như sau:
Bát Nhã Trí Trí, Nhất Thiết Trí Trí, Nhất Thiết Chủng Trí Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Sư Trí, Diệu Trí, Như Lai Trí... Là cách nói khác của một thứ trí, đó là Phật trí.
Sở dĩ có nhiều tên gọi là vì, tuỳ vào chức năng, tuỳ vào mức độ thành tựu, và tuỳ vào công dụng mà đặt tên cho phù hợp... Ví dụ như, vàng và các món đồ trang sức, tuy thấy khác nhau về hình tướng và tên gọi, nhưng tất cả cùng một bản chất.
1. Điều kiện để học.
1) Phải thành tựu hai vô ngã; 2) Phải ra khỏi Bất Động; 3) Phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề; 4) Phải dám bán thân cầu đạo; 5) Phải thường xuyên thân cận Thiện Tri Thức; 6) Phải không làm trái lời Thiện Tri Thức dù trong suy nghĩ; 7) Phải thành tâm cầu học...
2. Điều kiện thành tựu.
Phải là con người có tố chất đặc biệt... Một trong những tố chất đó là: Luôn phát xu đại đạo, và vị ấy chính là đại đạo, đại đạo là vị ấy. Vì rằng, học Nhất thiết trí, hay học Bát nhã trí là loại hình "vừa học vừa làm" của Bồ Tát, cho nên công hạnh sâu dày góp một phần quan trọng để thành tựu trí này...
Học Nhất thiết trí, không giống như học văn chương thế tục, không giống học các môn khoa học công nghệ... Đây là loại hình đào tạo đặc biệt cho những con người đặc biệt, cái học được không ở văn tự ngữ ngôn, văn tự ngữ ngôn chỉ là dẫn dược để đưa Đạo vào Trí và biến Trí thành đời sống!!!
Cách dạy và học, không ở phương pháp truyền thụ như cách truyền thụ kiến thức thông thường. Vì thế, trong cái cứ ngỡ là thông thường nhất của đời sống, đòi hỏi người học phải tìm thấy đầu mối để tiếp thu, giống như con ong hút mật hoa... Ví dụ, Thiện Tài chỉ nghe các vị Thiện Tri Thức kể tên các loại Tam muội mà họ có được, không giảng giải nội dung nhưng Thiện Tài thầm hội và thấu suốt. Hoặc tiền thân Phật vào nhà vị Tiên ngũ thông làm chuyện lặt vặt, nhưng lại học được pháp đại thừa. Phương pháp dạy và học này, ra khỏi mọi cách thế thông thường!!!
3. Về cách ứng dụng.
Người thành tựu, và trí ấy không hai, có nghĩa vị ấy là trí ấy, trí ấy là vị ấy, như hơi thở là đời sống và đời sống là hơi thở... Nhất thiết trí không phải vật có thể sở hữu bởi một chủ thể sở hữu...
Thành tựu Nhất thiết trí, không giống như người ta sở hữu cái máy tính, rồi ứng dụng các tiện ích trong đó... Các thứ học được, cũng không phải thứ thuật toán dùng làm cơ sở chỉ thị trong một phần mềm... Mà, người thành tựu Nhất thiết trí hay Bát nhã trí giống như mặt trời, ánh sáng và sức nóng, cái này có, cái kia lập tức có, không phải cái này là công dụng của cái kia, có nghĩa mặt trời, sức nóng, và ánh sáng chẳng phải ba... Vì thế, hai chữ ứng dụng không thể thành lập trong trường hợp này...
4. Về cách học.
Các thứ trí này, không học theo thứ lớp, cũng không do bởi kế thừa, nó chỉ là sự thầm hội tức thì, nên mới có tên là Tự Nhiên Trí. Tự nhiên vì, nó không phải là thứ của nghĩ suy, hay học hỏi từ một thứ gì đó có tính chất suy luận thông qua kiến thức và kinh nghiệm... Mà, nó là sự trực nhận tức thì của trí tuệ thông qua hoạt động của người dạy, người học khai thác triệt để năng lực thấu thị của chính bản thân dưới hình ảnh người Thầy trong đời sống, trong sinh hoạt hay lúc thuyết pháp... Các hình ảnh này, không nằm trong khuôn mẫu, vì thế không có công thức chung!!!
Có thể nói, nó là thứ cảm thụ tinh tế siêu việt, là không gian riêng giữa Thầy và trò, hình ảnh này ta có thể bắt gặp khi Thiện Tài Đồng Tử đối trước các Thiện Tri Thức, Tát Đà Ba Luân trực nhận ra Bát nhã trí là gì từ Đại Sư Đàm Vô Kiệt, hoặc tiền thân Phật học Đại thừa từ vị Tiên ngũ thông... Trong ba trường hợp tiêu biểu kể trên, ta không thấy đề cập đến việc các đạo sư truyền dạy cụ thể điều gì, cũng không thấy người đệ tử bắt đầu học từ đâu... Nhưng, các học trò đặc biệt của các vị Thầy đặc biệt, có mối liên hệ "tương thông tâm ý" nào đó, từ tương thông này, vị kia chợt nhận ra điều gì đó để có những thành tựu nhất định... Đây chính là nét đặt thù của dạy và học Nhất thiết trí, mà không có thứ sách giáo khoa nào đủ sức tái hiện bằng văn tự!!!
5. Về thời gian học tập.
Có thể một vô số kiếp, có thể một đời, có thể nhiều năm tháng, có thể một tuần, có thể một sát na... Yếu tố thời gian không mang tính quyết định cho môn học này...
Cũng cần nói thêm rằng, kiến thức Phật đạo chỉ là một điều kiện trong vô số điều kiện căn bản để làm cơ sở học tập, kiến thức không quyết định tất cả, nhưng không có kiến thức cũng không thể học... Ví dụ như, khi nghe đến Tam muội vương tam muội, Nhất thiết chúng sanh hỷ kiến Bồ tát sắc thân tam muội, Tồi tà tam muội... người học chưa có khái niệm, chưa hiểu được văn tự của nó nhằm chỉ điều gì thì, làm sao mà thấu thị... Giống như người mù, không thể cảm thụ vẻ đẹp của màu sắc, người điếc không thể cảm thụ cái hay của âm nhạc!!! Tất nhiên, vị thầy có thể cắt nghĩa văn tự của những tam muội ấy, nhưng làm thế lại vuột mất đương cơ... Giống như con ong sắp đậu lên cánh hoa, gió thổi hoa rơi, con ong đành chịu!!!
Cho nên, việc tự trang bị một số kiến thức Phật học nhất định và chuẩn, rất quan trọng về mặt trí tuệ, trang bị này Phật đạo gọi là nội minh...
Tóm lại.
Được gọi là Vô Sư Trí vì nó chẳng thể dạy và học như học vấn thế gian.
Được gọi là Nhất Thiết Trí vì nó thầm hội các môn giải thoát của Chư Phật.
Được gọi là Nhất Thiết Chủng Trí vì nó biết đưa người đến Phật quả.
Được gọi là Bát Nhã Trí vì nó thường cởi trói cho người.
Được gọi là Phật Trí vì nó đầy đủ tứ vô lượng tâm.
Được gọi là Như Lai Trí vì nó chính là hành trạng của chư Phật ba đời.
Được gọi là Hy Hữu Trí vì nó rất là đặc dị.
Được gọi là Ma Ha Trí vì nó nhiếp thọ tất cả.
Được gọi là Sanh Mẫu Trí vì nó hay sanh chư Phật và các Thánh quả.
Được gọi là Hư Không Trí vì nó thường vào khắp pháp giới.
Được gọi là Vô Thượng Trí vì chẳng có trí nào cao hơn.
Được gọi là Tam Ma Địa Trí vì nó thường dừng lặng.
Được gọi là Kim Cang Trí vì không thể phá hoại.
Được gọi là Tận Tam Muội Trí vì nó hay tiêu thất vô lượng tam muội.
Được gọi là Vô Biên Trí vì nó không ngằn mé.
Được gọi là Bất Thành Hoại Trí vì nó ra ngoài thịnh suy.
Được gọi là Vô Cấu Trí vì nó chẳng nhiễm ô.
Được gọi là Vô Tận Trí vì thấy biết chẳng cùng tận.
Được gọi là Vô Thượng Thần Cảnh Trí vì nó biến hóa khôn lường.
Được gọi là Thần Thông Du Hí Trí vì nó có thể dạo chơi các cõi Phật.
Được gọi là Thường Bất Khinh Trí vì thấy rõ tất cả chúng sanh đều là Phật... Nếu kể ra thì có vô lượng công dụng và vô lượng tên gọi như thế...
Tiền thân Phật, Thiện Tài Đồng Tử, Tát Đà Ba Luân cũng như vô lượng Bồ Tát đời sau, muốn thành tựu Phật Trí, đều phải trải qua môn học này!!! (19-10-2012)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−quả, thôi không còn lầm nữa... Ví dụ: Như giấc mơ. Bảo rằng “có” cũng sai mà bảo rằng “không” cũng sai, còn có nghĩa: “Thấy vậy chứ chẳng phải vậy”. Đây là cảnh giới “Thị Hiện” của Hoá Phật, Hoá Bồ Tát. Chữ Phi, Phật dùng để dạy ngài Đại Huệ trong kinh Lăng Già là một ví dụ...
Một vài lời, chưa thể nói hết mọi thứ, rất mong HĐ khéo hiểu!!! (07-2012)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Hữu Học Và Vô Học
Về nhân quả, có một nguyên lý “bất di bất dịch”, đó là: Quả hiện thì nhân mất. Khi nào thấy nhân còn, kiến giải còn. Biết rằng, quả chứng chưa thành, bệnh chưa hết

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Như Lai (A) như người thầy thuốc, Kinh gọi là Đại Y Vương.
Lời Phật (>>>ABCD…XYZ) như những toa thuốc chữa bệnh...bệnh sanh tử, phiền não, không trí, bệnh động lay...
- Bệnh sanh tử: Dùng thuốc Thanh Văn.
- Bệnh phiền não: Dùng thuốc Bồ Tát.
- Bệnh không trí: Dùng thuốc Nhất Thừa.
Ba thứ bệnh này không được tự kê toa bắt mạch, tự kê toa mua thuốc, uống vào chết liền...!!!
Một người, học thuộc hết những toa thuốc, mà không biết bắt mạch, không biết dược tính, không biết y lý... Liệu người này có thành thầy thuốc được không???
Vì thế, trong Phật đạo có hai thứ: Kiến giải và thực chứng.
1. Kiến giải.
Là những hiểu biết nhất định từ các toa thuốc mà người thầy thuốc đã hướng dẫn cho mình, nhằm chỉ cho hàng hữu học.
Ví dụ: Uống ngày mấy lần, trước hay sau khi ăn, phép tắc kiên cử, chế độ ăn uống, chọn nơi thích hợp ở trong phòng hay ra gió, uống trong bao lâu. Đem những kiến giải này, ứng dụng vào tự thân để cầu hết bệnh, là khôn ngoan nhất!!!
2. Thực chứng.
Là những vị đã hoàn toàn hết bệnh, chỉ cho hàng vô học. Cũng xin đừng nhầm lẫn, hết bệnh là thành thầy thuốc, thành kiểu này, chữa trâu cũng chết!!!
Khi hết bệnh, vị này có cần học các chỉ dẫn trong toa, vị này có cần ngồi đó suy gẫm về toa thuốc, hay nên đi làm việc khác...!!!???
- Kiến giải: Là Nhân (thuốc và toa thuốc)
- Thực chứng: Là Quả (hết bịnh do đã uống thuốc)
Về nhân quả, có một nguyên lý “bất di bất dịch”, đó là: Quả hiện thì nhân mất. Khi nào thấy nhân còn, kiến giải còn. Biết rằng, quả chứng chưa thành, bệnh chưa hết.
Như vậy, giải thiệt nghĩa Như Lai là sau khi hết bịnh, quyết học thành thầy thuốc, hay tiếp tục học thuộc toa thuốc??? (09-2012)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−