Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Tại Tâm Là Gì? Tà Kiến Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

- Hỏi

1) Xin hỏi, người ta thường nói: “Phật tại tâm”. Xin cho biết, Phật tại tâm là ở nơi nào trong tâm? Tìm Phật trong tâm bằng cách gì?

2) Khi người ta làm ác, Phật trong tâm có ác theo hay không? Một con quỷ trong tâm có Phật hay không? 

(Thanh Binh)

3) Con mới biết đến Phật pháp và có nhiều điều con chưa hiểu rõ, con xin được hỏi... “tà kiến” là gì? 

(Dung Nguyên)

- Đáp

Hiểu “Phật Tại Tâm” Như Thế Nào Cho Đúng...?

Các câu nói, “Phật tại tâm”, “Phật trong tâm”, “trong tâm có Phật”, v.v... Chúng ta thường hay nghe người tu hành nói đến, như một lời khuyên bảo rằng, người tu hành không nên tìm Phật ở đâu xa, mà hãy tìm Phật trong chính tâm của mình!!!

7.1. Phật tại tâm là ở nơi nào trong tâm? Tìm Phật... bằng cách gì?

Xét về khía cạnh đạo đức hay luân lí thế gian thì, câu nói này có thể chấp nhận, vì nó bao hàm ý nghĩa khuyến dụ người tìm thấy cái hay, cái đẹp, sự tốt lành, v.v... trong chính họ, mà không phải chạy theo những thứ “đạo đức giả tạm” ở bên ngoài!!!

Tuy nhiên, về chuyên môn mà nói, câu nói trên không mô tả hết ý nghĩa đích thực thế nào là “Phật tâm”, thậm chí đôi lúc nó hướng người đến chỗ dụng công loay hoay tìm kiếm một “ông Phật” nào đó trong tâm, không phù hợp với thật nghĩa Phật tâm, cũng như không thể là phương tiện thiện xảo giúp người giác ngộ Phật tâm, vì câu nói ấy kẹt tứ cú (có đây kia)!!!

Thật nghĩa của Phật đạo, không phải trong tâm có một ông Phật... Mà, khi giác ngộ, “tâm ấy chính là Phật”!!! ... Có nghĩa rằng, khi mê cũng tâm ấy, nhưng do u tối nên tâm thức trở thành tâm thức của một chúng sanh!!! ... Điều này giống như hư không, không có đèn nơi hư không ấy trở thành tối, có đèn hư không ấy trở thành sáng... Tối hay sáng là do có đèn hay không, chứ không phải hư không tự có sáng hay tối!!!

Đây là lí do vì sao, Đức Phật dạy trong kinh Kim Cang: "Nầy Tu-Bồ-Đề! Chúng-sanh kia chẳng phải chúng-sanh, cũng chẳng phải là không-phải-chúng-sanh. Bởi vì sao? Nầy Tu-Bồ-Đề! Những chúng-sanh, chúng-sanh đó, đức Như-Lai nói chẳng-phải chúng-sanh, đó tạm gọi là chúng-sanh" ... Để tuyên thuyết về thật nghĩa của tâm, người xưa thường hay nói: “Tức tâm tức Phật” hay “tâm ấy tức Phật”, “tâm ấy là Phật”, “tâm ấy làm Phật”, v.v...!!!

Do những kiến giải ở trên, các câu hỏi của bạn như: “Phật tại tâm là ở nơi nào trong tâm? Tìm Phật trong tâm bằng cách gì?”, v.v... không thể thành lập được!!!

7.2. Khi người ta làm ác, Phật trong tâm có ác theo hay không? Một con quỷ trong tâm có Phật hay không?
Khi một hữu tình đang ở trong ác nghiệp với đầy đủ ác niệm thì, toàn tâm hữu tình ấy là ác tâm... Nếu hữu tình này giác ngộ, ác niệm tịch diệt, ác nghiệp tiêu trừ, chẳng mê mờ hay tích chứa hai nghiệp ác hay thiện, lập tức tâm của hữu tình ấy chẳng khác tâm Phật... Để minh hoạ cho điều vừa nêu, Thiền Sư Huệ Sinh đời Lý có bài kệ như sau:

“Pháp bản như vô pháp,

Phi hữu diệc phi không.

Nhược nhân tri thử pháp

Chúng sinh dữ Phật đồng.

Tịch tịch Lăng già nguyệt

Không không độ hài chu

Tri không, không giác hữu

Tam muội nhậm thông chu”

Về ý của câu hỏi: “Một con quỷ trong tâm có Phật hay không?” Nếu bạn hiểu phần trả lời ở trên, thì bạn sẽ tự trả lời cho chính mình về phần này của câu hỏi!!!

Mình cũng xin thêm một ý nhỏ, chữ Phật mà chúng ta đang luận bàn, nhằm nói đến “bản tâm thanh tịnh”, do bản tâm thanh tịnh mà gọi là Phật tâm, chứ tâm này chưa phải là tâm của một Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu như Thích Ca Mâu Ni!!!
7.3. Con mới biết đến Phật pháp và có nhiều điều con chưa hiểu rõ, con xin được hỏi... “tà kiến” là gì?

Tà kiến (ngược với chánh kiến): Là một kiết sử trong mười kiết sử!!! ... Tà kiến là những hiểu biết, kiến giải sai lệch tinh thần giáo pháp, không giúp mình và người thành tựu những điều cần thành tựu trong đạo pháp!!! ... Thậm chí những kiến giải sai lệch từ tà kiến, có thể khiến người đi vào đường dữ!!!

Kinh Tăng Chi I, 41. Phật nói về tà kiến như sau: “Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ kheo, do pháp ấy, các chúng sinh, sau khi thân hoại mạng chung, bị sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, này các Tỷ kheo, như là tà kiến.”

Bạn có thể tìm hiểu thêm ý nghĩa tà kiến trong Google!!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Tri Giác ... Sơ Tướng Vô Minh

MB 1157 Lý Mỹ Linh 09.02.2023

Sơ tướng vô minh, chính là niệm mê đầu tiên làm nhiễm ô tánh giác. Người tu hành phát hiện ra tướng này, sẽ biết cách làm cho nó tự dừng, thành tựu vô niệm. 

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có vài HĐ hỏi về tri, giác, sơ tướng vô minh, và tu Ba la mật. Xin trả lời chung như sau:

1. Về tu Ba La mật.

Tu sáu Ba la mật không phải để thành tựu giới, định, huệ. Mà, tu sáu Ba la mật để thành tựu giới, định, huệ Ba la mật.

2. Về tri và giác.

Một hữu tình, trong thấy nghe, tồn tại song song hai điều, đó là tri và giác

- Tri: Hiểu biết của nghiệp thức, hiểu biết này do học tập, huân tập từ trước.

- Giác: Cái biết bản nhiên, thường hằng, thường tự biết.

Tri hoà trong dòng giác, làm nhiễm ô giác. Giống như mực hoà trong nước, làm nhiễm ô nước. Khi nước bị nhiễm ô, nhìn vào chỉ thấy màu của mực, mà không thấy cái trong sạch bản nhiên của nước. Đây là nguyên nhân chính phiền não, lậu hoặc sanh khởi.

Để làm sạch nhiễm ô, có thể xử lý bằng cách thanh lọc, loại chất nhiễm ô ra khỏi nước bằng nhiều cách, tuỳ vào công nghệ lạc hậu hay tiên tiến. Đơn cử các bước sau:

Nương tựa sức giác: Dùng hiểu biết, dùng huyễn pháp, lấy thắng tri để thay thế dục tri, dứt phiền não. Như người bị què, chống nạng để di chuyển. Như dùng phèn để lóng trong nước.

"Giác là đế của tập", tức lấy hiểu biết làm nền tảng dứt phiền não.

Tịch diệt sở tri: Thắng tri, bây giờ trở thành sở tri chướng, che mờ tánh giác. Tịch diệt sở tri chướng để tánh giác không bị che lấp. Như người hết què, bỏ luôn cây nạng. Như nước đã trong, sang chiết qua một cái thùng khác và khử các mầm bệnh tìm ẩn.

"Ngộ là đế của diệt", có nghĩa lấy sự thấy rõ, sự trong sạch, làm nền tảng của Niết bàn.

Phát khởi tánh giác: Nước đã trong và sạch, có thể phản chiếu, như một tấm gương. Gọi là "tịch tri kiến giác", tánh giác hiện hoàn toàn, kiến tánh.

"Trí là đế của đạo", tánh giác chính là nhân của trí tuệ. Dùng tánh giác, tức dùng nhân trí tuệ học đạo pháp, để thành tựu quả trí tuệ.

3. Về thành tựu trí tuệ.

Thành tựu trí tuệ trong Phật đạo, giống như biến nước tinh khiết thành cam lồ. Đây là giai đoạn của tu đạo, gồm hai giai đoạn:

- Biến nước thành thuốc chữa bệnh: Đem nước tinh khiết đến nhà máy sản xuất dược phẩm, qua công nghệ, thêm dược chất, chế biến nước thành các loại thuốc trị bệnh. Đây là giai đoạn, phát tâm Vô thượng Bồ đề, cầu học Bồ tát đạo.

- Đưa thuốc đến người bệnh: Đây là giai đoạn Bồ tát hành Bồ tát đạo, tu Bồ tát hạnh. Viên mãn công hạnh, Phật trí viên mãn, thành Đẳng chánh giác.

4. Về sơ tướng vô minh.

Sơ tướng vô minh, chính là niệm mê đầu tiên làm nhiễm ô tánh giác. Người tu hành phát hiện ra tướng này, sẽ biết cách làm cho nó tự dừng, thành tựu vô niệm.

Niệm niệm sanh diệt giống như một cuốn phim, cuốn phim là sự tiếp nối của những hình ảnh liên tục, giữa hai ảnh có một khoảng trống chuyển tiếp rất nhỏ, nếu cuốn phim được chiếu thật chậm, khoảng trống đó hiện ra. Từ khoảng trống, ta cho máy dừng, hình ảnh trong phim sẽ không còn hiện mà sẽ là màu trắng.

Giữa hai niệm, có một khoảng trống vô niệm, khoảng trống đó rất ngắn, gọi là sát na. Hành giả không chạy theo dòng đời, không để dòng đời trôi nhanh trong tâm thức, như cuốn phim quay thật chậm. Lặng lẽ nhìn vào tâm thức, sẽ phát hiện ra khoảng trống vô niệm, phát hiện này cực kỳ quan trọng. Từ phát hiện đó, hành giả đình tâm, thức dừng, gọi là vô niệm.

Giống như vòng lửa xoay tròn, là do đốm lửa di chuyển liên tục. Đốm lửa dừng, không di chuyển, vòng lửa tự mất. Tâm thức sanh diệt liên tục như đốm lửa di chuyển liên tục, tâm thức dừng như đốm lửa dừng, vòng luân hồi tâm thức tịch diệt, như đốm lửa tắt. Đây là nguyên lý của mười hai nhân duyên. Một duyên dừng, các duyên không hiện khởi. Nguyên lý này tiên tiến hơn nguyên lý thanh lọc nước. Vì thế, Phật nói rằng, trí tuệ của Duyên giác thừa siêu thắng hơn Thanh văn thừa. Với đặc điểm siêu thắng này, trong kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: "A La Hán nhập Niết Bàn dựng tháp một tầng để thờ, Độc Giác nhập Niết Bàn dựng tháp mười một tầng để thờ!!!"

5. Cách thức tịch diệt lậu hoặc.

Tâm thức chúng sanh giống như một cái thùng đựng nước nhiễm ô. Thùng bị rỉ chảy gọi là lậu, nhiễm ô chảy ra làm mờ trí tuệ gọi là hoặc. Lậu hoặc là phiền não trong tâm chảy ra che mờ trí tuệ, có ba cách để dứt lậu hoặc.

- Cách thứ nhất: Hàn vá những chỗ thủng, sơn lại để làm mới cái thùng, nước phiền não sẽ không rỉ chảy. Đây là cách của Thanh văn thừa, dùng sức thiền định để hàn vá lỗ thủng tâm thức, dùng giới cụ túc để sơn vẽ làm mới tâm thức, xa lánh nơi có nhiễm ô bằng cách xuất gia để tâm thức rời nghiệp phiền não. Phiền não không rỉ chảy, trí tuệ không bị che khuất, lậu hoặc không có cơ hội hiện khởi.

- Cách thứ hai: Đổ nước nhiễm ô ra ngoài, đem cái thùng đến nơi an toàn, không tiếp tục cho nước nhiễm ô vào, sẽ không còn nước phiền não rỉ chảy. Đây là cách thức đoạn duyên của Duyên giác thừa.

Duyên giác quán sự tiếp nối của tâm thức bằng lý nhân duyên. Thấy được lý duyên sanh, Duyên giác tịch diệt các duyên, chuyển tâm thức đến nơi thanh vắng, độc cư thiền định để tâm thức không bị nhiễm ô trở lại. Tâm thức trong sạch, trí sáng suốt, lậu hoặc chấm dứt.

- Cách thứ ba: Lật úp cái thùng, hoặc vất luôn cái thùng, không luyến tiếc... Không còn cái thùng tâm thức để rỉ, và không có nước phiền não để chảy, tịch diệt vĩnh viễn lậu hoặc. Đây là cách Bồ tát giác ngộ không tâm không pháp, trí tuệ sáng suốt.

Hy vọng những kiến giải trên, có thể giúp các bạn thoả mãn một phần thắc mắc. Chúc tinh tấn!!!  

(14-01-2013)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhận Biết Sản Phẩm Của Ý Chưa Phải Là Của Trí

MB 1157 Lý Mỹ Linh 09.02.2023

Muốn sanh trí tuệ, phải chứng hai vô sanh, thành tựu hai vô ngã, dứt hai vô minh, thấy tánh giác, ra khỏi vô minh trụ địa, cuối cùng trí tuệ mới hiện.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Muốn sanh trí tuệ, phải chứng hai vô sanh, thành tựu hai vô ngã, dứt hai vô minh, thấy tánh giác, ra khỏi vô minh trụ địa, cuối cùng trí tuệ mới hiện.

1. Như thế nào gọi là chứng hai vô sanh???
Tâm không sanh, Pháp không sanh...

2. Như thế nào gọi là thành tựu hai vô ngã???
Tâm không ngã, Pháp không ngã...

3. Như thế nào dứt hai vô minh???
Dứt nhuận chi vô minh: Năm căn thân không mê cảnh. Dứt căn bản vô minh: Ý căn không mê pháp, dứt bặt duyên nghĩ suy, vô niệm...

4. Như thế nào thấy được tánh giác???
Tâm ý bất động mà vẫn không ngu si. Có nghĩa sáu căn không dụng công, vô tác, vô vi, vô tướng mà chẳng mê mờ...

5. Thế nào gọi là ra khỏi hẳn vô minh trụ địa???
Không còn một chút che chướng nào, như đèn sáng lớn soi rõ cảnh duyên... Hết tư, hết lự, dứt tư niệm, không tư lường, không thầm ý... Tâm rỗng sáng tợ hư không...

6. Như thế nào gọi là trí sanh???
Phật xưa tuyên nói, Phật nay thấu hiểu. Cái gì Phật xưa biết, Phật nay biết. Cái gì Phật xưa thấy, Phật nay thấy. Ba đời trí Phật đều đồng như thế, vì đồng như thế nên gọi là thường... Thường vì trí này ba đời không sai khác, thường vì thấy đến tột chơn, thường vì như mặt trời hay chiếu, soi sáng tối tăm. Cùng vô lượng thứ công dụng như thế...

Tác Phẩm Lý Tứ

Người Tu Có Cần Học Kinh Điển? Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

− Hỏi:

1) Người tu có cần đọc kinh điển hay không? Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?

2) Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? 

(Nhất Vi)

3) Thưa Thầy! Có người quy y Tam Bảo rồi, sau này người đó tu theo Thiên Chúa. Như vậy người đó có lạc mất quy y không Thầy?

(Câu hỏi ngồ ngộ... gửi qua messenger; Vô Danh)

- Đáp

6.1.  Kinh điển với người tu Phật?

Về câu hỏi thứ nhất, xin chia làm hai ý:

6.1.1. Người tu có cần đọc kinh điển hay không?

Kinh Phật chính là “sách giáo khoa” của Phật đạo...!!! ... “Sách giáo khoa trong giáo dục là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học tại trường học. Thuật ngữ sách giáo khoa còn có nghĩa mở rộng là một “loại sách chuẩn” cho một ngành học. Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách” Nguồn: Wikipedia.

Theo ý nghĩa trên thì, dạy và học trong bất kì lãnh vực nào, cũng cần có sách giáo khoa, vì dạy và học mà “không căn cứ vào sách giáo khoa”, chắc chắn người dạy chẳng biết mình dạy gì, người học chẳng biết điều mình đã học có đúng với chuẩn mực của ngành học đó đề ra hay không!!!

Cho nên theo mình, người tu học trong Phật đạo rất cần đọc kinh (Phật) ... Nếu không đọc, không căn cứ vào lời dạy của Phật được ghi chép trong kinh điển thì, khó có thể thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo!!!

6.1.2. Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?

Như đã nói trên, kinh Phật chính là mẫu mực, là lí thuyết (chuẩn) để người học căn cứ vào đó mà thực hành, nếu không đọc kinh thì thực hành như thế nào đây???

− Kinh: Theo Tiến Sĩ Vũ Cao Phan đăng trên Website Khoa Ngôn Ngữ Học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội thì “Kinh điển” là một từ Hán - Việt. Giải nghĩa về từ này hầu như tất cả các từ điển xuất bản lâu nay tại Việt Nam (và cả Trung Quốc) đều thống nhất:

1) Tác phẩm có giá trị mẫu mực, tiêu biểu; có ảnh hưởng lớn cho một học thuyết, một chủ nghĩa, một tôn giáo. 

2) Tác giả của các tác phẩm ấy (nhà kinh điển). 

3) Có tính quy chuẩn, bài bản, cổ điển...

Thành ra, câu “tâm chính là kinh”, có lẽ nên coi lại!!! ... Theo mình, kinh (hay sách) xuất phát từ trí, chứ chẳng thể từ tâm!!! ... Và câu: “Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh” câu này có vấn đề...!!!...!!!

6.2. Phân biệt được... Giác Ngộ thiệt... Giác Ngộ giả?

Bất kì người tu học nào trong Phật đạo cũng mong muốn giác ngộ, mong muốn này là chánh đáng!!! ... Tuy nhiên, muốn là một chuyện, còn giác ngộ hay không là một chuyện!!!

Việc “rất nhiều người tự cho rằng mình đã giác ngộ, chê lời người khác là tưởng tri” cũng đâu có gì quan trọng!!! ... Vì rằng, có ai đó tuyên bố mình đã giác ngộ và chê lời người khác là tưởng tri, tuyên bố này không phạm pháp, cũng không đóng thuế đồng xu cắc bạc nào... Cho nên, thích thì cứ tuyên bố, không ưa thì cứ chê, chẳng sao hết...!!!

Quan trọng là, sau khi tuyên bố, anh được gì??? ... Sau khi chê, anh được gì???

Nếu là người chân thật giác ngộ, chắc chắn họ không nói càn, không khen ẩu, chẳng chê bừa... Vì rằng, đối với bậc giác ngộ, dù khen hay chê, mỗi lời đều có căn cứ, dựa trên cơ sở thuyết phục, nhằm giúp người nghe (hay đọc) hiểu ra điều gì đó, chứ không nhằm mục đích hơn thua, hay nói cho thoả mãn... cái... ngã... hư vọng như người đời!!!

Về việc làm thế nào để biết một người đã giác ngộ hay chưa??? Mình xin giới thiệu bài viết (trích sách Vô Đối Môn, NXB Dân Trí; 2019, Tác giả Lý Tứ) đề cập đến việc này như sau:

֎ Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ 

− Hỏi: Làm thế nào để biết được một người đã Giác Ngộ?

Đáp: Muốn biết được một người có Giác Ngộ chân thật hay không, chỉ có ba hạng người có thể biết rõ. 
Một là Bậc Đạo Sư của người ấy.
Hai là người có Giác Ngộ sâu hơn.
Ba là chính bản thân người đó.
Tuy nhiên, có một số dấu hiệu mà người tinh ý có thể nhận ra và tạm đánh giá đây là một vị đã Giác Ngộ thật sự:

− Một, nhìn vào phong thái của người đó trước kia và hôm nay (sau khi Giác Ngộ) thay đổi như thế nào.

− Hai, trong hành động và lời nói của người thật sự Giác Ngộ, không có (hoặc rất ít) bóng dáng của ngã, luôn luôn thể hiện sự nhân hậu.

− Ba, khi nói chuyện về đạo, người này lấy chỗ thực chứng để trình bày, nên văn tự ngắn gọn, không suy luận dài dòng.

− Bốn, lời nói thường “không có mùi phiền não”, vì thế hay làm cho chúng hòa hiệp.

− Năm, chán ghét tham gia chuyện thế gian, trừ trường hợp bất đắc dĩ.

− Sáu, ham ưa vắng lặng, thường độc cư thiền định.

− Bảy, không có tâm tranh giành, người đối diện cảm nhận được an lạc, thích gần gũi.

− Tám, chỉ thích văn tự, ngữ ngôn vô lậu.

− Chín, ham ưa đọc tụng kinh luận của Phật và Bồ Tát.

− Mười, khi đọc kinh luận chính thống của Phật và Bồ Tát, vị này thấy phấn khởi trong lòng, cảm giác Phật và Bồ Tát tuyên thuyết điều này cho riêng mình.

− Mười một, dễ phát hiện ra các sai lầm trong cách giảng nói của người chưa Giác Ngộ.

− Mười hai, ham ưa văn hóa vô lậu, nên thường tán thán người được pháp lành, dần dần từ bỏ thói quen nhân ngã, khen mình chê người.

− Mười ba, thường biết ơn, nhớ ơn Phật, Thiện Tri Thức.

− Mười bốn, tập khí chấp nhất, xả dần cho đến mất hẳn.

Nói chung, có vô số pháp lành xuất sanh từ một vị đã Giác Ngộ chân thật... Nếu một người tinh ý có thể căn cứ vào những đức tính nói trên, để nhận định đây có phải là một vị đã Giác Ngộ thật sự hay chưa.

6.3. Quy y Tam Bảo rồi, sau này người đó tu theo Thiên Chúa. Như vậy người đó có lạc mất quy y không Thầy?”

Theo mình, sau khi mãn duyên bên Thiên Chúa, chủng tử quy y Tam Bảo sẽ hiện trở lại... Vì Tam Bảo là thường, nên “tạm thời có lạc, mà không có mất”!!!

Các bạn!!! ... mình xin kể cho các bạn câu chuyện vui... Câu chuyện xảy ra cách đây trên mười năm!!!

Ngày ấy, mỗi sáng mình và một số bạn đạo thường hay ra quán cà phê quen, làm mỗi anh một ly xây chừng... Trong đám bằng hữu, có một anh lớn hơn mình chừng năm tuổi, nói về tu hành thì anh này cũng thuộc loại ba sồn ba sựt, tánh khí bốc đồng, thường tìm học những câu nói vu vơ, ngớ ngẩn, không đầu không đuôi... Nghe ở đâu có người tu hành, chẳng biết nông sâu thế nào, bèn lân la tìm đến chất vấn, đòi kiểm chứng, và kết quả cuối cùng là... cãi... nhau... một trận sanh tử lửa, mỗi người ôm một cục giận ra về, trăm lần như một!!!

Sáng hôm ấy, như thường lệ, mới ngồi vào bàn, chưa kịp chào hỏi... Không biết anh ta học lóm ở đâu cái câu xưa như trái đất, mà bất kì anh tu hành nào ăn vài hủ chao, đọc vài câu chuyện thiền hạng bét cũng thuộc như cháo, đem ra cật vấn mình liền:

− Tui hỏi già! Già nói cho tui biết, đạo ở đâu???

Mình giả vờ không nghe rõ, hỏi lại: Bộ anh hỏi tui, gạo (mua) ở đâu hả???
Anh ta bèn đính chính: Không, tui với già đâu có bàn chuyện gạo thóc mà làm chi!!! Tui hỏi già, đạo ở đâu???

Mình giả bộ nghiêm mặt, bày đặt lên giọng cha nội, vừa đùa vừa thật: Đạo là thứ thâm u, những người tu hành ba sồn ba sựt như anh, công phu hàm dưỡng không có, kiến thức chưa đầy lá mít, tui có trả lời đúng, trả lời sai... nói đạo trong củ khoai hay trái bí thì anh cũng đâu có biết!!! Thành ra, cho dù tui có biết chắc “đạo ở đâu” thì cũng đâu thể trả lời cho anh được!!!
Anh ta hơi bực tức, nhưng có vẻ cố kìm chế, nói: Già đừng có chê tui!!! Già nói đi, đúng sai tui biết liền à!!!

Mình từ từ uống ngụm cà phê, rồi đủng đỉnh nói: Anh Hai à!!! Tui đã nói rồi!!! ... Đạo là cái thâm u, hạng như anh không nghe nổi đâu, tui có nói đúng hay sai, anh cũng đâu có biết!!! ... Thôi, uống cà phê đi!!! ... Đừng có hỏi nữa mà sinh giận hờn, mất hoà khí, lại tổn công đức...lắm...lắm!!!
Nghe mình nói thế, anh ta phừng phừng nổi giận, đứng dậy đập bàn cái rầm, quơ tay múa chân, xỉ vả mình và la lớn: Già khinh người quá đáng!!! ... Thế là anh ta chửi mình một trận nên thân!!!

Mình từ tốn nói: Anh chửi xong chưa??? Tôi đã bảo rồi!!! Hạng người thiếu hàm dưỡng như anh, tu hành thì ba sồn ba sựt, chỉ tối ngày lo đi học mấy câu vô nghĩa về làm của, để loè thiên hạ, chưa chi đã giận hờn chửi rủa!!! Tâm địa như thế, làm gì hiểu nổi “đạo ở đâu” mà buộc tui phải trả lời!!! Giờ anh tin lời của tui rồi chớ!!!
Nghe xong, không nói năng, anh ta ngoe nguẩy leo lên chiếc xe đạp, đi tuốt luốt một mạch, không kiếu từ ai hết!!!

Thế là, anh ta giận mình cả năm trời, gặp mặt không chào hỏi, mặc dù mình cố ra sức làm lành... Từ đó về sau, anh ta kiên quyết, không thèm ghé quán cà phê chỗ mình hay uống mỗi sáng!!!

Trên đời có những hạng người, tu hành thì chẳng ra gì, hiểu biết thì vụn vặt, học chỗ này vài câu, chỗ kia mớ nhắm, chắp vá lung tung... Tối ngày, chỉ lo đi kiếm người tu hành thách đố đạo pháp (bằng những câu mà bản thân người ấy cũng chẳng biết các câu mà họ học được là đúng hay sai) ... Thế đấy các bạn!!!

(30-08-2019)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tam Pháp Ấn, Tham Sân Si, Ngũ Âm Ngũ Uẩn, Vô Vi… Muốn Đọc (Lý) Và Thể Nghiệm (Sự) Phải Làm Gì ???

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023
Chuyện Chi Đây - Tác Giả Lý Tứ

- Hỏi

1) Về Tam Pháp Ấn?

a) Xin hỏi công dụng của Tam Pháp Ấn (không, vô tướng, vô tác) là gì? 

(Minh Nguyệt Chu)

b) Mối liên hệ giữa Tam Pháp Ấn và người tu tập khi dứt hai thứ vô minh (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bổn Vô Minh) là gì?

5.1.a. Đáp: Phật đạo có rất nhiều Pháp Ấn, nhưng tựu trung có ba Pháp Ấn quan trọng người tu hành thường nghe nói, đó là: Tứ Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn và Đệ Nhất Pháp Ấn !!!

Tứ Pháp Ấn gồm: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã (cũng có nơi gọi là Tam Pháp Ấn gồm “Vô thường, Khổ và Vô ngã”)... Đây là Pháp Ấn của Nhị thừa !!!
Tam Pháp Ấn gồm: Không, Vô tướng, Vô tác. Đây là Pháp Ấn thuộc về Bồ Tát Quyền Thừa, dành cho người tu tập tiến về đạo quả vô lậu bằng con đường Tam Giải Thoát Môn...!!!
Đệ Nhất Pháp Ấn hay Thiệt Tướng Pháp Ấn: Đây là Pháp Ấn của Bồ Tát Nhất Thừa, dành cho người thấy thiệt tướng !!!
Công dụng của các Pháp Ấn trong Phật đạo dùng để ấn tâm... Có nghĩa rằng, để biết mình có tu đúng chánh pháp hay không, người tu hành căn cứ vào các Pháp Ấn, lấy Pháp Ấn làm bản đối chiếu với tâm thức, khi nào tâm thức tương ưng với một Pháp Ấn nào đó, biết rằng con đường ta đang đi là đúng !!!... Ta có thể tạm hiểu, Pháp Ấn chính là “con dấu pháp” ấn chứng đạo quả của người tu hành !!!

5.1.b. Đáp: Bồ Tát Quyền Thừa thành tựu Tam Pháp Ấn, tịch diệt hai thứ vô minh, đó là Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bản Vô Minh... Bồ Tát Nhất Thừa thành tựu Đệ Nhất Pháp Ấn, tịch diệt Vô Minh Trụ Địa !!!  

(23-08-2019)

- Hỏi

2) Con người thường tham lam ích kỷ? ... Con người có tánh hay sân giận? ... Con người thường sống trong si ái... sau khi chết họ sẽ sanh về cõi giới nào vậy?    

(Thái Hùng Cường)

5.2. Đáp: Phật dạy: “Như một cái cây, nó sẽ ngã theo hướng (người đốn cây dùng búa) mở miệng”. Câu này có nghĩa rằng, những người có các thứ tánh như bạn kể ở trên, nếu không giác ngộ, nhất định họ sẽ sanh về cõi nước của những chúng sanh có các thứ tánh ấy !!!

- Hỏi

3) Khi nghe bài Ngũ ấm và Ngũ uẩn, hình như là Thầy viết phân tách rạch ròi làm hai phần riêng biệt, nhưng thật ra ngũ ấm và ngũ uẩn phải liên kết chặt chẽ với nhau phải không ạ? ... Một người muốn giải thoát phải quán chiếu diệt trừ rốt ráo ngũ ấm muốn vậy thì phải nhờ ngũ uẩn giúp đỡ cho nên trong khi hành thiền ngũ ấm và ngũ uẩn phải tiến hành nối tiếp nhau. Con nghĩ như vậy là đúng hay sai ạ! ... Sự vận hành ngũ ấm và ngũ uẩn trong khi hành thiền như thế nào mới đúng theo tinh thần Phật đạo ạ? 

(Kim Diễm Văn)

5.3. Đáp: Ngũ ấm và ngũ uẩn không phải hai thứ khác nhau, mà nó là hai mặt của một vấn đề... Khi nào năm món sắc, thọ, tưởng, hành, thức mang tính chất trói buộc thì gọi là ngũ ấm... Khi nào, năm món đó tích chứa nguyên nhân phát sinh khổ phiền não, gọi là ngũ uẩn !!!

Muốn không bị năm ấm trói buộc, phải dùng thiền định để yểm li, do tính chất của thiền định là: Tuần tự đưa người ra khỏi dục, sắc và vô sắc (ba cõi chính là “nhân” biến năm món sắc, thọ, tưởng... từ không tánh trở thành năm ấm) !!!
Muốn không bị năm uẩn làm cho ta khổ phiền não, phải dùng trí tuệ quán sát để thấu suốt bản chất tự không của ngũ uẩn, kinh gọi là “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách” !!!
- Hỏi

4) Pháp vô vi là thế nào, con mơ hồ, con nghĩ là phép Phật phải không thầy? 

(Jessica Nguyên)

5.4. Đáp: Trong Phật đạo, vô vi là cảnh giới của tâm thức khi các hữu vi pháp đã tịch diệt... Khi tâm thức không hiện khởi các hữu vi pháp, Phật đạo gọi (tâm thức) đó là vô vi, chứ không có một vô vi pháp !!!... Vì thế Phật dạy: “Vô vi như sừng thỏ lông rùa”, câu này có nghĩa vô vi chỉ có tên gọi mà không có một pháp thực thể !!!  

(23-08-2019)

- Hỏi

5) Làm thế nào để cho một người chưa hiểu Phật Pháp đọc (lý) thể nghiệm (sự) để có thể nhập được. 

(Lê Ngọc Tới)

5.5. Đáp: Một người chưa hiểu Phật pháp, muốn từ nơi lý thể nhập sự... Người này phải học Phật pháp và phải học thôi !!!... Theo mình thì, không có con đường khác !!!...
 

Tác Phẩm Lý Tứ

Về Kiến Tánh… Các Câu Hỏi Về Con Người.

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

− Hỏi:

1) Khi kiến tánh thì kiến một lần hay nhiều lần? Thời gian kiến tánh là có hay không? Trạng thái xảy ra khi kiến tánh?

2) Ta là ai? Từ đâu đến? Tại sao phải chịu sinh già bệnh chết? Rồi ta đi về đâu?  

3) Sự sống của con người được hình thành như thế nào?... Sự sống của Phật tánh được hình thành ra sao? ... Phật tánh làm chủ thân hay thân làm chủ Phật tánh?

   (Quảng Kiên; 16-08-2019)

− Đáp

4.1.  Kiến Tánh Là Như Thế Nào?

− Theo mình biết, có tới ba lần kiến tánh:

Lần một: Kiến (thấy) tánh giác.
Lần hai: Kiến tự tánh.
Lần ba: Kiến Phật tánh. (Bạn có thể tìm hiểu đề tài này ở Sách Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ Tập 1 của Lý Tứ, hoặc Trò Chơi Trí Tuệ 08/2018 đã đăng trên Fanpage Lý Gia, được Thường Xuân Vân Đài đọc lại trên youtube)
− Thời gian kiến tánh và các lần kiến tánh mau hay chậm tuỳ người (đốn, tiệm sai khác) !!!

− Về trạng thái kiến tánh, có thể sơ lược như sau:

Kiến tánh lần một: Hết ngu, thấy nghe không còn u tối... (dứt Nhuận chi vô minh)
Kiến tánh lần hai: Hết mê, tâm tánh sáng suốt, thức chuyển thành trí... (dứt Căn bản vô minh)
Kiến tánh lần ba: Hết lầm, biết rõ ta và tất cả chúng sanh bản lai có đủ các tính chất của một vị Phật... (Vĩnh viễn ra khỏi Vô minh trụ địa)
4.2.  Ta Là Ai?... Ta Từ Đâu Đến?...

Phật đạo chỉ ra rằng, ta không là ai hết (vô ngã), nhưng khi mê, ta liền lầm tưởng rằng “có ta”, giống như mắt nhặm, thấy hư không có hoa đốm rồi lầm tưởng hoa đốm có thật !!!... Vì, không có gì là ta (ngã), nên “ta” chẳng từ đâu đến và chết chẳng đi về đâu (vô ngã, ngã sở)... Nhưng khi mê thì, ta từ nghiệp (hữu lậu) sinh ra và lúc chết phải đi theo nghiệp!!! [1]... Giống như người ngủ thấy chiêm bao, giậc mình thức giấc, mọi cảnh trong chiêm bao đều không thật !!! Thấy chiêm bao dụ cho kẻ mê, thức giấc dụ cho bậc giác ngộ !!!
Sanh, lão, bệnh, tử là quy luật của thân... Đã là quy luật, có thân nhất định phải chịu chi phối bởi quy luật ấy, không một ai có thể làm khác !!!
4.3.  Sự Sống Của Con Người Được Hình Thành Như Thế Nào?

- Phật đạo chỉ ra rằng, cái được gọi là sự sống của con người hình thành gồm ba thứ cơ bản, đó là: Thân, tâm, thức (nói rộng là ngũ ấm) !!!

Thân (sắc): Có sắc vô thường (sắc trói buộc), sắc giải thoát và sắc thường trụ...
Tâm: Có hư vọng tâm, chân tâm và Phật tâm...
Thức: Có thức mê (thức) và thức giác (còn gọi là trí)...
Ba thứ thân, tâm và thức của người tu và không tu chỉ khác nhau giữa mê và ngộ !!!

− Về Phật tánh, xin xem lại phần trên (Mục 3.1: Phật Tánh là gì ???)

− Phật tánh không làm chủ thân và thân cũng không làm chủ Phật tánh, vì Phật tánh chỉ là những tính chất tốt đẹp bản lai có sẵn trong mọi hữu tình, mê Phật tánh ẩn, ngộ Phật tánh hiện... Giống như có mây mặt trời bị che, hết mây mặt trời hiện ra !!!

Trên đây, chỉ là những trả lời sơ lược, khi nào đủ duyên, chúng ta sẽ trao đổi cặn kẽ hơn từng vấn đề !!!... Xin bạn hoan hỉ...!!!

[[1]] Xin xem bài viết Hữu Vô Sơ Yếu Luận, Sách Anh Lạc Luận Tập 1 của Lý Tứ (NXB Dân Trí 2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Nguồn Gốc Phật Tánh ??? Kiến Tánh Thật Sự Và Kiến Tánh Lý Thuyết ??? Giải Thoát… Viên Mãn Nhất ???

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

− Hỏi: Nguồn gốc Phật tánh có hay không ??? Kiến tánh thật sự và kiến tánh lí thuyết giống và khác nhau như thế nào ??? Hai chữ "giải thoát" hiểu như thế nào là viên mãn nhất ???

(16-08-2019; Vô Danh)

֎ 3. Đáp: Xin được kiến giải về hai chữ Phật tánh trong Phật đạo trước... Vì, khi chúng ta xác định cụ thể Phật tánh là gì, chừng ấy việc trả lời các điều bạn nêu trong câu hỏi sẽ không rơi vào bế tắc, và dễ dàng thống nhất với nhau ý nghĩa các câu trả lời !!!

3.1.  Phật Tánh Là Gì ???

Theo Wikipedia: Phật tánh (zh. fóxìng 佛性, ja. busshō, sa. buddhatā, buddha-svabhāva) là thể bất sinh bất diệt của mọi loài theo quan điểm Đại thừa. Theo đó, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế.
Còn theo mình (Lý Tứ): Phật tánh là những tánh chất tốt đẹp của một vị Phật, những tánh chất này có sẵn trong mọi hữu tình... Có tám tánh chất tốt đẹp cơ bản của Phật tánh đó là: Từ, Bi, Hỉ, Xả, Thường, Ngã, Lạc, Tịnh !!!... Trong quá trình giác ngộ từ thấp lên cao, những tánh chất tốt đẹp nói trên dần dần hiện ra, khi nào người tu hành hiện đủ tám tánh chất cơ bản nêu trên, Phật đạo gọi là thấy (viên mãn) Phật tánh !!!
3.2.  Nguồn gốc Phật tánh có hay không ???

Dựa vào các kiến giải ở trên thì, Phật tánh là những tính chất tốt đẹp thường hằng trong mọi hữu tình, có nghĩa khi hữu tình có mặt thì Phật tánh cũng có mặt... Cho nên, hai chữ nguồn gốc không thể thành lập và truy tìm được !!!... Giống như hư không, không thể bảo rằng “nguồn gốc của nó là có hay không” !!!

3.3.  Kiến tánh thật sự và kiến tánh lí thuyết giống và khác nhau như thế nào ???

Theo mình, kiến tánh (hay thấy tánh) là từ ngữ ám chỉ giai đoạn (cảnh giới) người tu hành thấy (hay cảm nhận) những tính chất tốt đẹp của Phật tánh đang hiện hữu trong họ (trước đây không hiện vì còn ngu, mê, lầm)... Vì thế, trong Phật đạo không có kiến tánh lý thuyết !!!... Có nghĩa đối với người tu hành chỉ có kiến tánh hoặc chưa hay không kiến tánh mà thôi !!!

Tất nhiên trên đời, cũng có rất nhiều người tu hành chưa thật sự kiến tánh, nhưng do nghe người khác nói, hoặc đọc trong sách vở viết về chuyện kiến tánh rồi học thuộc, sau đó cũng tự xưng mình đã kiến tánh... Trường hợp này, chúng ta không bàn ở đây !!!

3.4.  Hai chữ "giải thoát" hiểu như thế nào là viên mãn nhất ???

Hai chữ giải thoát trong Phật đạo, nhằm chỉ cảnh giới người tu hành không còn bị ràng buộc bởi những thứ mà một người bình thường (không giác ngộ) bị ràng buộc !!!... Có một số ràng buộc cơ bản mà người tu hành cần phải thoát ra, xin liệt kê như sau:

1) Ràng buộc của “cộng nghiệp” và “biệt nghiệp” !!!

2) Ràng buộc của ham muốn, khi năm căn thân xúc đối trần cảnh, gọi là “ngũ dục”, thuộc về “Dục giới” !!!

3) Ràng buộc của “thân và các cảm thọ”, thuộc về “Sắc giới” !!!

4) Ràng buộc của “nghĩ tưởng và các quan niệm”, thuộc về “Vô sắc giới” !!!

5) Ràng buộc của “hành ấm và thức ấm” đối với những người đã thoát li ra khỏi bốn món ràng buộc ở trên, nhưng chưa thật sự giác ngộ để ra khỏi “Vô tưởng thiên” !!!

Tóm lại, có vô số thứ ràng buộc một con người !!!... Nhưng tựu trung, người tu hành giải quyết tốt những thứ ràng buộc cơ bản nêu trên, Phật đạo tạm coi đây là vị tu hành đã được giải thoát !!!

Bạn... thân mến !!!... Về việc kiến tánh, có một câu hỏi theo mình là quan trọng và không kém phần lí thú, nhưng không thấy bạn nêu trong phần câu hỏi !!!

Để giúp bạn đọc có cái nhìn thấu đáo hơn về việc kiến tánh và kiến Phật tánh, mình xin đưa ra hai câu hỏi coi như tạo một đương cơ cho sân chơi của chúng ta, kì tới sẽ cùng nhau trao đổi !!!

1) Kiến (thấy) Tánh và kiến Phật tánh là một cảnh giới, hay nhiều cảnh giới từ thấp lên cao của người tu hành trong Phật đạo ???

2) Tại sao người tu hành trong Phật đạo phải kiến Phật tánh??? Kiến Phật tánh có mấy công dụng chính yếu trong Phật đạo ???

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

http://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/bay-cau-hoi-ve-sach-vo-doi-mon

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Bảy Câu Hỏi Về... Sách " Vô Đối Môn"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 09.02.2023

Vừa rồi, có một vị khách quý đã đặt một số câu hỏi chung quanh cuốn Vô Đối Môn. Theo mình, đây là những câu hỏi thú vị và thực tế!!! Xin chuyển đến các bạn, nội dung cuộc hỏi đáp lí thú này:

● 1. Khách: Tác phẩm Vô Đối Môn được trình bày theo hình thức hỏi đáp. Xin hỏi cư sĩ:

− Ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời cũng như nhân duyên làm nên các câu hỏi trong Vô Đối Môn? 

− Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong Vô Đối Môn liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?

● 1. Lý Tứ: Thưa quý khách,

⁕− Vào năm 2015, có hai vị khách trẻ là vợ chồng đều là Bác Sĩ, đi cùng một người học trò của mình đến thăm mình. Trong lúc nói chuyện, hai vị khách có hỏi mình một số câu hỏi về Phật pháp, mình trả lời cụ thể từng câu, và hai vị khách rất hài lòng với những gì mình đã trình bày (đó là những câu hỏi nằm ở phần đầu cuốn Vô Đối Môn)!

Sau khi hai vị khách ra về, mình suy nghĩ, tại sao ta không ghi lại những câu hỏi và trả lời về Phật pháp mà mình đã trao đổi với mọi người trong thời gian qua thành một cuốn sách. Nhân duyên Vô Đối Môn ra đời trong hoàn cảnh như thế. Sau khi Vô Đối Môn in thành sách, hai vợ chồng vị Bác Sĩ trẻ ấy là những người đầu tiên đã được mình gởi tặng họ một cuốn, coi như lời tri ân trước một nhân duyên lành để cuốn Vô Đối Môn ra đời!

⁕− Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong Vô Đối Môn liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo? 

Theo mình, như mọi người đều biết, Phật đạo như biển lớn, các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi trong biển lớn ấy, nên bảo rằng các câu hỏi đó đã đủ kiến thức giúp một Phật tử hiểu sâu về Phật đạo là không thoả đáng.

Nhưng có thể nói, các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn, được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu... được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!

● 2. Khách: Một cuốn sách ra đời có thể gây nhiều tranh cãi. Với Vô Đối Môn là cái tên sách: Cửa Vô đối và thông điệp của cuốn sách: Cửa lớn mở tâm trí. Với 30 năm nghiên cứu Phật đạo, điều gì cư sĩ muốn gửi gắm đến độc giả trong lần xuất bản tác phẩm Phật đạo đầu tiên này?

● 2. Lý Tứ:  Không riêng gì cuốn Vô Đối Môn, mà theo mình, bất kì một sản phẩm nào ra đời, việc tranh cãi về sản phẩm ấy là chuyện tự nhiên. 

⁕− Với mình, Vô Đối Môn cũng chỉ là một sản phẩm, và sản phẩm này tốt hay xấu, có ích hay không, v.v...  xã hội và người đọc là những vị “Thầy” thông tuệ, nghiêm khắc và là “Quan toà” công tâm nhất, vì thế mọi đánh giá, phán xét về Vô Đối Môn sẽ được người Thầy và vị Quan toà ấy (dư luận xã hội và người đọc) đưa ra kết luận sau cùng!

⁕− Khi viết Vô Đối Môn, mình chỉ có một tâm niệm, đó là: Những ai có nhân duyên đọc Vô Đối Môn, hi vọng sẽ tìm thấy trong đó một chút lợi ích thiết thực từ cuốn sách, trong quá trình tìm hiểu Phật pháp!

● 3. Khách: Với mục tiêu cho người học đạo là “Giác ngộ ─ Giải thoát ─ Trí tuệ” ... ông có sợ mục tiêu này của mình có cao siêu quá không dù ông đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu. 

Ông có thể giải thích cho độc giả hiểu thấu chân lý: Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ?

● 3. Lý Tứ:  Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ là ba mục tiêu của Phật đạo, chứ không phải của mình tự đề ra, cho nên Phật đạo còn có tên là Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát và Đạo Trí Tuệ!

⁕− Việc mục tiêu này có cao siêu quá hay không?... Xin thưa.. không riêng gì Phật đạo, mà bất kì nền giáo dục nào cũng có những mục tiêu của nó, và bổn phận của giáo dục là bằng mọi cách giúp người học hoàn thành các mục tiêu đã đề ra!... Và.. theo mình, việc hoàn thành mục tiêu của giáo dục đề ra không liên hệ đến chuyện cao siêu hay tầm thường, mà nó là kết quả tất yếu của quá trình dạy và học!

⁕− Về ba phương châm “Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ”, mình xin tóm tắt ý nghĩa của nó như sau:

• Giác ngộ, là thấy biết và thấu suốt điều mình đang học, đang hướng đến.

• Giải thoát, là không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm (các pháp) hư vọng từ thân tâm đến thế giới.

• Trí tuệ, là biết cách giúp mình và người thành tựu rốt ráo hai phương châm Giác ngộ và Giải thoát.

● 4. Khách: Tâm và Pháp là 2 vấn đề ông nhấn mạnh trong cuốn sách. Nếu có thể nói ngắn gọn hơn cho một người học đạo Phật thấu hiểu để vận dụng vào thực tế cuộc sống, ông sẽ tóm tắt 2 ý trên như thế nào?

● 4. Lý Tứ:  Phật đạo đề ra bốn nơi chốn mà người tu hành phải giải quyết tận gốc nếu muốn được an vui, bốn nơi chốn đó là “Tứ niệm xứ”, gồm: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.

Trong Vô Đối Môn, mình chỉ đề cập nhiều đến Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ mà ít đề cập đến hai niệm xứ còn lại là vì.. trong các mẩu đối thoại mà mình đã trao đổi, toàn bộ là cư sĩ, và phần lớn họ chỉ đề cập đến những khúc mắc trong phạm vi của tâm và pháp, cho nên người đọc chỉ thấy Vô Đối Môn nói nhiều đến tâm và pháp là lý do như vậy!

Về “Tâm” và “Pháp” mình xin sơ lược như sau:

⁕− “Tâm” trong Phật đạo, nhằm chỉ một hiệu ứng tình cảm khi các giác quan xúc đối với trần cảnh rồi chấp chặt, mê mờ và sinh các quan niệm hư dối từ nơi trần cảnh ấy, để rồi cuối cùng.. một hiệu ứng tình cảm khởi lên.

Ví dụ: Một bức tranh, tự thân nó không có ý nghĩa đẹp xấu, nhưng khi ta tiếp cận bức tranh, tuỳ vào góc nhìn, tuỳ vào quan điểm, tình cảm, v.v... ta sẽ thấy bức tranh đó đẹp hay xấu (theo quan điểm riêng của ta). Nếu ta mê mờ, chấp chặt quan điểm này, trong lòng sẽ sinh các hiệu ứng tình cảm như thương hay ghét (bức tranh), thương thì khởi tâm tham (muốn có được), chán ghét thì sẽ sân hận (muốn xa lánh), những hiệu ứng như vậy, Phật đạo gọi là Tâm hay phàm tâm (khi phàm tâm hay hư vọng tâm rốt ráo tịch diệt, chơn tâm hay bổn tâm thanh tịnh sẽ hiện)!

⁕− “Pháp”, là đối tượng của ý căn, nó là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, quan điểm, v.v... Phật đạo chỉ ra rằng, các pháp hay nhận thức, quan niệm, khái niệm như thế không có chân lý, chỉ đúng với nơi này, người này, văn hoá này... không đúng với nơi khác, người khác, văn hoá khác...

Vì thế một pháp tự nó không có những tính chất nhất định, không bền chắc vì không đại diện cho chân lí, Phật đạo gọi là không tánh. Nếu ta mê say các quan niệm ấy, sẽ bị các quan niệm ấy trói buộc, làm cho u tối và phát sinh phiền não cũng như các thứ kiết sử là tham, sân, v.v... (khi ý thức không mê say các pháp, thức mê sẽ chuyển thành trí)!

⁕− Về ứng dụng, nếu trong cuộc sống, ta tỉnh táo trước mọi cảnh duyên, không mê mờ để cho tâm và pháp hư vọng chế ngự hay làm chủ bản thân, nhất định trước mọi hoàn cảnh ta không động lay hay bị cám dỗ bởi bất kì việc gì (Phật giáo tạm gọi là Định Vô Lậu)... Từ đó, đời sống sẽ an vui! 

Một khi không bị cảnh duyên làm vướng bận trong lòng, không phân tâm bởi những tác động bên ngoài, người ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, lao động hay học tập, nhờ đó khi làm việc sẽ cho ra hiệu quả cao!

● 5. Khách: “Văn - Tư - Tu” là điều kiện cần và đủ để nuôi dưỡng con đường của một người tu hành. Không một bậc Thầy cao siêu nào có thể dạy được học trò nếu học trò không chịu trải qua con đường rèn luyện trên. Xin cư sĩ cho hỏi, Văn - Tư - Tu trong giáo lý ông dạy học trò có khác Phật tử tu học từ các tăng ni trên chùa không?

● 5. Lý Tứ:  Bản thân là một Phật tử, thấm nhuần lời dạy của Phật: “Kính Tăng như kính Phật”, do đó việc làm, việc dạy, và học của Tăng, Ni, Phật tử như thế nào, mình không can dự và cũng không có ý kiến (khi chưa nhận được yêu cầu từ các vị tôn túc)! 

Vả chăng, việc so bì, phê phán chuyện đúng, sai, hay, dở, v.v... của người, không phải là tác phong của Lý Tứ!

Vì thế, mình xin mạn phép trả lời những gì có liên hệ đến mình và bạn bè cùng tu học với nhau!... Theo mình:

⁕− Văn: Tiếp nhận kiến thức.

⁕− Tư: Suy nghĩ thấu đáo kiến thức đã tiếp nhận.

⁕− Tu: Ứng dụng triệt để những nghĩa lí đã thấu đáo vào thực tiễn cuộc sống.

Ví dụ: Phật dạy: “Tham là giềng mối của khổ, phiền não”. Nghe được lời dạy này gọi là Văn. Nghe xong, suy nghĩ thấu đáo ý nghĩa: Vì sao tham là giềng mối của khổ phiền não, vì sao tham lại hiện hữu trong ta, hiện hữu bằng cách gì, làm sao để nó tịch diệt vĩnh viễn, v.v...  Suy nghĩ như thế gọi là Tư (tức tư duy quan sát, thuật ngữ hay dùng là Thiền tư). Suy nghĩ thấu đáo rồi, ứng dụng triệt để hiểu biết này vào đời sống, đến khi nào tham không còn hiện khởi trong ta gọi là Tu! 

Chữ “tu” theo mình, là hình thức dùng chính giác ngộ của tự thân để biến “hữu lậu tâm, hữu lậu trí” thành “vô lậu tâm, vô lậu trí” ngay trong cuộc sống này!

● 6. Khách: Học trò ông rất nhiều tầng lớp, người già nhất năm nay đã 102 tuổi, người trẻ nhất vẫn đang là sinh viên. Người là nông dân, kỹ sư, cán bộ, kinh doanh, v.v... nhưng đều theo học ông như một con đường giúp họ thấu hiểu rõ hơn chân lý nhà Phật. Ông có điều gì căn dặn học trò khi học pháp của mình không?

● 6. Lý Tứ: Mình có bốn phương châm học tập và hành xử thường căn dặn bạn bè của mình, đó là:

1) Phải xây dựng thái độ học tập.

2) Phải siêng năng, nỗ lực học tập.

3) Phải nắm vững phương pháp học tập, và thấu đáo những điều mình đã học.

4) Phải biết mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!

● 7. Khách: Ông có lời khuyên nào cho người học đạo Phật? Lời nói đầu ông viết về hình ảnh tráng sĩ là thái tử Tất Đạt Đa trên con đường đi tìm con đường giác ngộ. Ông muốn gửi gắm điều gì trong khúc tráng ca đầy cảm xúc ấy?

● 7. Lý Tứ: Nếu có lời khuyên cho người học đạo, chắc mình cũng chỉ gởi gắm bốn điều đã nêu ở câu hỏi số 6!

Bài Tráng Ca mình viết với một cảm xúc đặc biệt khi gặp phải một sự việc khó giải quyết, mình có ghi lại hoàn cảnh ra đời của bài ca ấy trong Chuyên Mục Chuyện Bên Lề số 09, được đăng trong Fanpage Lý Tứ.

Khi đưa Bài Tráng Ca Bất Tử vào Vô Đối Môn, mình muốn gởi gắm đến bản thân và bạn đọc, khi gặp một chuyện khó xử trên đời, hình ảnh đi tìm con đường giác ngộ của thái tử Tất Đạt Đa, sẽ cho ta một giải pháp tốt nhất, đó là không giải quyết sự việc theo hướng cực đoan...

Vì rằng, giải quyết cực đoan sẽ là con đường đưa mọi thứ đến bế tắc và rời xa chân lí!!!

● Khách: Xin cảm ơn cư sĩ!

● Lý Tứ: Xin cảm ơn quý khách, chúc quý khách an vui, thành công trong cuộc sống!!!                 

 (01-08-2019)

Tác Phẩm Lý Tứ

Chủng Tử Trong Phật Đạo… Đọc Và Cảm Nhận Vô Đối Môn

MN 102 Lý Thanh Liêm 08.02.2023
Chuyện Chi Đây - Tác Giả Lý Tứ

− Hỏi:

1) Trong kinh điển Đại thừa giảng giải nhiều về Tri kiến Phật, Phật tánh nhưng ít nói đến Chủng tử Bồ Đề xin Thầy giảng rõ mối liên hệ giữa Chủng tử Bồ Đề và Tri kiến Phật ??? Sự hình thành và phát triển của Chủng tử Bồ Đề ???

2) Dạ con đã nghe Lục Chủng Tánh Anh Lạc con rất thích, nhưng còn vướng ở phần có Tánh và vô Tánh, có Chủng tánh và Tri kiến Phật liệu có sa vào “đối đãi” không và cái mình nhận do huân tập liệu chỉ là “Siêu tâm thức” thôi chứ không phải là Vô Sư Trí ???

(Huu nghia Lam, hỏi ở phần bình luận)

3) Mình cũng có mua và đọc Vô Đối Môn, nhưng chưa thấy gì, cũng chẳng có được cảm nhận như những HĐ (Huynh Đệ) đã viết và xưng tán trên trang Lý Gia ??? 

(Độc giả không nêu tên - “Vô Danh”)
- Đáp:

2.1.  Chủng Tử Bồ Đề, Tri kiến Phật Là Gì ???

− Theo mình biết, chủng tử Bồ Đề hay hạt giống Bồ Đề là chủng tử giác ngộ, chủng tử Phật, ...v..v... Chủng tử này sẽ phát sanh từ lúc có được giác ngộ ban sơ (sơ ngộ) !!!

− Phật tri kiến (hay tri kiến Phật) là những thấy biết của một vị Phật.

Người tu hành, nương theo thấy biết của Phật để học tập như người ta nương ánh sáng để thoát khỏi rừng rậm vô minh, nhờ học tập những tri kiến ấy, vị này có được sự giác ngộ, nhờ giác ngộ, chủng tử Bồ Đề sẽ tăng trưởng đến viên mãn, khi viên mãn chủng tử Bồ Đề vị ấy có được những đức tính như một vị Phật, gọi là Phật tánh !!!

2.2.  Lục Chủng Tánh Anh Lạc Là Gì ???

Đây là chủng tánh[1] và tri kiến xuất thế, không phải chủng tánh và tri kiến thế gian, nên không thể luận bàn theo suy lường thế gian... Chủng tử này chỉ có ở những vị tu hành sơ ngộ !!!

Do đó ba mục tiêu Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ trở thành phương châm tu học không thể thiếu trong Phật đạo !!! (01-08-2019)

2.3.  Độc Giả Đọc Và Cảm Nhận... VÔ ĐỐI MÔN ???

Xin trả lời câu hỏi này như sau:

Phật pháp rất chú trọng đến cơ duyên, đọc kinh hay đọc sách cũng phải có cơ duyên mới đem đến lợi lạc, Vô Đối Môn hay những cuốn sách khác cũng không ngoại lệ !!!
Chưa nói đến kinh hay sách trong Phật đạo giống như sách giáo khoa, người đọc (hay học) phải được nghe người Thầy giảng giải ý nghĩa và truyền đạt tinh thần, kiến thức của cuốn sách, từ đó người học mới có thể hiểu nội dung, kiến thức cuốn sách nói hay dạy điều gì... Vì lẽ đó, trên đời khó có người mua sách về nhà tự học mà thành tài, cho nên trường học và Thầy giáo có mặt xuất phát từ nguyên nhân như vậy !!!
Về việc có những vị HĐ đọc sách của mình, phát sinh lợi ích và viết lời xưng tán trên trang Lý Gia, mình xin trả lời như sau: Các vị HĐ ấy phần lớn là môn đệ của mình, đã được mình giáo huấn nhiều năm, họ được trang bị những kiến thức tốt nhất, được nghe giảng giải nhiều về Phật đạo, cũng như hiểu rõ nội dung, kiến thức viết trong sách, cho nên khi đọc Vô Đối Môn hay các cuốn sách do mình viết, tâm họ tương ưng, phát sinh lợi ích thật sự... Vì thế, họ viết lời xưng tán !!!
Trong đó cũng có một số vị chưa biết Lý Tứ, lần đầu đọc Vô Đối Môn hay Tâm Pháp... phát sinh lợi ích là do cơ duyên đặc biệt của các vị ấy đối với những cuốn sách của mình, không phải tất cả mọi người đọc đều được như thế !!!                

(01-08-2019)

[[1]] Chủng tánh: Bạn có thể tìm hiểu thêm nơi bài viết Lục Chủng Tánh Anh Lạc_Sách Anh Lạc Luận Tập 1 (NXB Dân Trí; LÝ TỨ) hoặc có thể nghe trên Youtube qua giọng đọc của Thường Xuân Vân Đài...

Subscribe to