Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Đế Và Ba Thừa – Tập Đế

MB 1059 Trần Văn Thắng 12.03.2022

Tập là nói trước ‘không’ nay ‘có’, tức là do huân tập mà có không phải vô thủy đã có. Vì vậy, TẬP ĐẾ lấy trước không nay có làm TẬP.  ĐẾ nghĩa là nơi chốn, là cơ sở để TẬP biến thành phiền não.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Tập là nói trước ‘không’ nay ‘có’, tức là do huân tập mà có không phải vô thủy đã có. Vì vậy, TẬP ĐẾ lấy trước không nay có làm TẬP.  ĐẾ nghĩa là nơi chốn, là cơ sở để TẬP biến thành phiền não.

Đến bao giờ pháp TẬP có chỗ y cứ để sinh phiền não trói buộc, tức thân tâm hiện hữu yếu tố làm nên khổ đau, hoặc che đậy dẫn đến mê lầm thì TẬP ĐẾ bây giờ mới đủ yếu tố cấu thành.

Vì vậy TẬP ĐẾ còn có tên gọi là: Tập nhân khổ đế. Bởi vì, nếu TẬP không có đế, tức không có yếu tố làm nên khổ đau hoặc dẫn đến mê lầm, thì nhất định TẬP kia trước không nay cũng không, vì nếu có thì có với ai và ai là chủ thể của TẬP.

TẬP còn có nghĩa là sự chuyển biến, nếu không có chuyển biến thì TẬP chẳng thể TẬP, bởi lẽ hư không thanh tịnh không tự TẬP. Sự chuyển biến này một khi có ĐẾ dự phần làm nền tảng khiến chúng sinh trôi lăn, rời xa bản nguyên hoặc sinh phiền não, thì bây giờ trong TẬP có thêm ‘hành’.

Cho nên, hành còn là thành tố giúp TẬP cộng sinh với ĐẾ. Nếu hành cộng sinh với đế, thời hành này gọi là “hành khổ.” Hành luân chuyển khắp ba cõi, không giống như khổ khổ và hoại khổ.

Nói đến TẬP ĐẾ là nói đến huân tập và lưu chuyển có chủ thể, từ chủ thể này nên có chúng sanh tập và pháp để tập. Vậy có thể coi ĐẾ là chủ thể của TẬP, nếu tập không có đế thì đồng hư không tập, không thể là nguyên nhân sinh pháp.

Có vô số pháp tập, nhưng Tập Nhân chính để chúng sanh khổ gồm: Các món căn bản tích chứa dục ái (ngũ uẩn), hoặc vô minh làm mê mờ bản tâm (sanh các pháp hư vọng), do hư vọng quay lại tham đắm các pháp, tham đắm lớn dần thành si, do si mê nên bị pháp trói buộc gọi là kiết sử.

Cũng có khi nguyên nhân sinh khổ do lầm nhận (như sợi dây lầm con rắn), đã lầm rồi lại chấp trước (chấp con rắn có thể giết người), phát sanh phiền não, do phiền não năng sở in tuồng là hai; vì là hai nên năng sở thiên lệch tạo thành độ dốc khiến nguồn tâm trôi lăn, “chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp.”

Như vậy, những món căn bản có thể tích tập khổ đau xét cho cùng không ngoài bốn niệm xứ, mọi khổ đau đều y nơi bốn món mà phát sinh. Đó là: Khổ đau từ thân, khổ đau do các cảm thọ, khổ đau sinh khởi từ tâm, hoặc khổ đau do lầm nhận tướng hư vọng.

Xét căn nguyên, bốn món này tự mỗi món bản lai thanh tịnh, chỉ vì vô minh, tham ái nên phát sinh phiền não. Từ đó bốn món ‘THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP’ trở thành đối tượng chính bị cáo buộc là ‘nguyên nhân của mọi nguyên nhân’ gây ra phiền phức.

Phật giáo ý thức rất rõ sự ngộ nhận này, từ đó truy tìm thủ phạm gây ra mọi lỗi lầm, hòng trả lại trong sạch cho nghi can. Sau khi tìm thấy đầy đủ bằng chứng ngoại phạm của TẬP, đồng thời cũng chỉ ra rằng các ĐẾ mới đích thực là thủ phạm.

Sự minh bạch trong vụ việc này đã khiến cho ba thừa biết đâu là chơn đâu là vọng, và cũng biết rõ đâu là căn bản phát sinh vọng tưởng. Từ đó dùng phương tiện đưa bốn niệm xứ trở về bản nguyên của nó, giống như dứt bệnh lòa do chữa lành con mắt, điều này Phật giáo gọi là ‘‘tự thể ứng chơn.’’

Cũng chính minh bạch vấn đề khiến ba thừa biết rõ đối tượng cần phải giáo dục, và dùng biện pháp nào để giáo dục. Một khi đối tượng đã được “giáo dục đến nơi đến chốn” thì sự hư hỏng kia bỗng nhiên trở thành “đại nhân” theo ý nghĩa Phật giáo. Một khi bốn niệm xứ không còn chỗ dựa nương để tích tập các món phiền não, hoặc không bị “vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm,” hay “bởi do ba nghiệp sáu căn quen theo thói chẳng lành” thì cho dù có bốn món hay không có bốn món cũng chưa gọi là khổ, vì bốn món này chưa phát sinh đau khổ.

Vì vậy, cơ sở để bốn món dựa nương khiến chúng sanh phiền não, Phật giáo gọi là ĐẾ.

Ví dụ như A Nan có tâm mà tâm không còn chủng tử dục thì khi gặp Ma Đăng Già có phát sinh hoạn họa chăng? Điều này nói lên TẬP phải có ĐẾ, khi tập có đế, tập này mới chính là tập nhân khổ đế.

Trong giáo pháp, mười hai nhân duyên vừa là tập nhân, vừa là khổ đế, bởi trong đây có đủ THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP (ĐẾ) và vô minh, hành, xúc, ái…(TẬP). Mười hai món này gồm đủ như vậy nên trong kinh Phật dạy: “Mười hai nhân duyên, bậc thượng căn khi quán sát, thấu suốt có thể thấy Phật tánh.”

Tóm lại, xét tận nguồn cơn thì TẬP ĐẾ cũng là vô thường, vô thường bởi do huân tập trước không nay mới có, mà những gì thuộc về vô thường thì có thể làm cho dứt diệt được. Như vậy tại sao trước không nay chẳng không? Đây là tiền đề quan trọng để cho đế vĩnh viễn không là cơ sở sinh tập, hay nói khác đi tập không còn chỗ dựa để sinh tồn.

Vì tính chất quan trọng như vậy nên người tu hành cần tìm xem ĐẾ là gì, bản chất nó ra sao. Khi thấu suốt bản nguyên của ĐẾ mới hết lầm nhận các giá trị hư vọng từ đế. Một khi ĐẾ đã hết bị lầm nhận thì tập không hiện khởi, cũng như con mắt hết bệnh thì hoa đốm khắc diệt. Điều này Phật thường ví như cây Ta La bị chặt ngọn thì không còn sanh khởi trở lại. Nói chung KHỔ TẬP DIỆT ĐẠO là bốn món nhưng cùng chung một ĐẾ, khi ĐẾ là chơn thì khổ tập diệt đạo tự chơn. Đây là chiếc chìa khóa mở cánh cửa Niết Bàn của ba thừa. Cho nên Phật dạy: "Không biết bốn ĐẾ, chính là khổ đế."

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Bệnh, Cách Thức Tu, Chánh Niệm Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

− Hỏi:

1) Con đọc trong kinh thấy nói về bốn bệnh của người tu hành là nhậm tác chỉ diệt. Thầy có thể giảng cho con hiểu rõ ý nghĩa của bốn bệnh đó? 

(14/10/2019 20:15:27; Phat Ngoc)

2) Con xin phép được nêu thêm một thắc mắc về thực trạng hiện nay đó là ... Có nghiên cứu mới thấy Phật học mênh mông như biển cả mà các sư mỗi người thuyết mỗi cách. Thầy PT thì hùng biện, thầy GH thì tâm linh, thầy TĐ lanh lợi, thầy PH thì hiền hòa ... mỗi thầy hay mỗi kiểu nhưng không biết đi bằng thuyền (phương cách) của thầy nào! ... Thầy này bảo có vong nhập, thầy kia bảo có vong nhưng không có nhập! ... hi hi ...! ... Con chỉ cần biết để được giác ngộ cần tu tập những gì: Lý thuyết là gì? ... và thực hành là gì? 

(12/10/2019 7:21:34; Minh Quân)

3) Lúc chính niệm (ngay thực tại thân thọ tâm pháp) thì đang ăn, nhưng sự ăn còn có tư tưởng xen vào.        

3.1. Có khi không về được, có khi về được, có khi làm phức tạp hay sai, v.v...

3.2. Trong khi ăn nhưng vẫn có tư tưởng xen vào, làm cho cái ăn không nguyên vẹn.

3.3. “Rất ít” nó như một luồng điện “Cái rẹc” trống trơn. 

(11/10/2019 13:23:08; Lê Ngọc Tới)

- Đáp

12.1.  Bốn Bệnh... Người Tu Hành Thường Hay Mắc Phải (Kinh Viên Giác)

* Bốn bệnh mà bạn nêu trong câu hỏi, là bốn thứ bệnh mà người tu hành thường hay mắc phải (hoặc có một số người, tâm thức “đang bệnh” mà lầm tưởng đó là “cảnh giới giác ngộ”. Sự lầm tưởng này, dẫn đến hệ quả là, tự thân đang chung sống với “tà kiến” mà không tự biết!!!). Nếu tu hành trong Phật đạo, mà mắc một trong bốn thứ bệnh này, sẽ không thể giác ngộ... đó là:

- Bệnh NHẬM (mặc kệ): Đây là loại bệnh phổ biến trong người tu hành... Người mắc bệnh này, do chấp trước cảnh giới xuất thế, lầm tưởng mình đã giác ngộ... Từ đó đâm ra mặc kệ mọi thứ, cứ ngỡ như thế là “tuỳ thuận pháp tánh”, nhưng kì thực họ đang kẹt trong thế gian giới!!! ... Kinh Viên Giác, Phật dạy người mắc bệnh mặc kệ như sau: “Nhậm bệnh (bệnh mặc kệ): Nếu có người nói rằng nay ta chẳng dứt sanh tử, chẳng cầu Niết Bàn, đối với sanh tử Niết Bàn chẳng có một niệm khởi hay diệt, mặc kệ (nhậm) tất cả, đều tùy pháp tánh. Mặc kệ như thế mà muốn cầu Viên Giác, nhưng tánh của Viên Giác chẳng do mặc kệ mà có, nên gọi là bệnh”.
- Bệnh TÁC (làm ra): Đây là bệnh của những người “lập các hạnh tu” ... Người mắc bệnh này, thường bày ra các thứ hạnh, mong rằng khi thực hiện các hạnh sẽ đưa đến giác ngộ!!! ... Kinh Viên Giác, Phật dạy người mắc bệnh làm ra như sau: “Tác bệnh (làm ra): Nếu có người nói rằng nơi bản tâm ta làm ra đủ thứ hạnh để cầu Viên Giác, nhưng tánh của Viên Giác chẳng do làm ra mà được, nên gọi là bệnh”.
- Bệnh CHỈ (dừng niệm): Đây là bệnh của những người “dùng các biện pháp” để “dừng niệm”, mà nhầm tưởng đó là cảnh giới “vô niệm” của người giác ngộ. Bệnh này nếu mắc phải, sẽ không thể phát sinh trí tuệ!!! ... Kinh Viên Giác, Phật dạy những người mắc bệnh dừng niệm như sau: “Chỉ bệnh (bệnh dừng niệm): Nếu có người nói rằng, nay tự tâm ta dừng hẳn các niệm để tất cả tánh đều tịch nhiên bình đẳng, muốn nhờ dừng niệm để cầu Viên Giác, nhưng tánh Viên Giác chẳng do dừng niệm mà được, nên gọi là bệnh”.
- Bệnh DIỆT (dứt, diệt, huỷ diệt): Đây là bệnh của những người chủ trương tịch diệt giác tri để mọi thứ trở thành không, rồi nhầm tưởng cảnh giới rốt ráo không của người giác ngộ... Bệnh này mắc phải, trở thành kẻ u tối (tưởng không), chứ chẳng phải thực chứng “cảnh giới tự không”!!! ... Kinh Viên Giác, Phật dạy những người mắc phải bệnh diệt như sau: “Diệt bệnh: Nếu có người nói rằng nay ta dứt hẳn tất cả phiền não, thân tâm rốt ráo rỗng không chẳng có gì cả, huống là cảnh giới hư vọng, căn trần tất cả diệt hẳn để cầu Viên Giác. Nhưng tánh Viên Giác ấy chẳng phải tướng diệt, nên gọi là bệnh”.

Tóm lại: Phật đạo là đạo giác ngộ!!! ... Tất cả các biện pháp tu tập không xuất phát từ sự thấu triệt chân lí, đều là bệnh của Viên Giác!!! ... Vì thế, kinh Viên Giác Phật dạy Phổ Giác Bồ Tát như sau: “Thiện nam tử! Chỗ rốt ráo giác ngộ của bậc Thiện Tri Thức không có bốn thứ bệnh”!!! ... Và Phật cũng khẳng định, mọi nỗ lực tu hành nếu không bắt nguồn từ sự thấu triệt tánh tướng của vạn pháp đều chẳng phải chánh pháp: “Người đã lìa bốn bệnh thì bản tri trong sạch, theo quán chiếu này gọi là chánh quán, nếu theo quán chiếu khác gọi là tà quán”!!!
Thiết nghĩ, những lời dạy nêu trên của Phật chính là những cảnh báo, mà người tu tập trong Phật đạo nhất định phải lưu tâm... Nếu không để ý lời cảnh báo này, vô tình trong thiếu hiểu biết, tự mang bịnh vào người mà nhầm tưởng đó là cảnh giới giác ngộ, hoặc con đường đưa đến giác ngộ... Sự nhầm tưởng này, sẽ uổng phí một đời tu tập, thậm chí đưa đến hại mình, hại người!!! ... Chúc an vui, tinh tấn!!!

12.2 (a) Mỗi Thầy hay mỗi kiểu nhưng không biết đi bằng thuyền (phương cách) của Thầy nào!!!??? (b) ... Con chỉ cần biết để được giác ngộ cần tu tập những gì...???

֎ 12.2.a. Đáp:

Về việc giảng dạy của quý thầy như thế nào, mình không biết, vì bản thân chưa từng nghe các vị ấy nói chuyện... Và, mình không có thói quen hay nhu cầu tìm hiểu, cũng như đánh giá việc người khác dạy và học ra sao!!! ... Vì thế, kết luận của bạn... về những vị ấy, mình xin “không có ý kiến”!!!

֎ 12.2.b. Đáp

Về việc... “Con chỉ cần biết để được giác ngộ cần tu tập những gì? Lý thuyết là gì và thực hành là gì?”

Theo mình, một người tu tập trong Phật đạo, muốn giác ngộ... Phải hội đủ ba pháp, ba pháp này gồm cả lý thuyết và thực hành, đó là Văn, Tư, Tu!!!

- VĂN (Tiếp nhận kiến thức): Muốn giác ngộ, việc đầu tiên, người tu hành phải được trang bị một số kiến thức nhất định về Phật đạo (tương ứng từng giai đoạn tu tập)!!! ... Với điều kiện, các kiến thức này phải chuẩn, nếu kiến thức không chuẩn, kiến thức sai, sẽ không thể trở thành ngọn đuốc dẫn đường!!!
- TƯ (suy nghĩ, tư duy): Phần việc thứ hai, sau khi có được kiến thức chuẩn... Người này phải nỗ lực tư duy, để thấu suốt ý nghĩa của các kiến thức ta vừa tiếp nhận!!! Vì rằng, nếu chỉ học thuộc mà không tư duy thấu đáo, sẽ không thể ứng dụng các kiến thức đã có một cách đúng đắn vào đời sống (thậm chí ứng dụng sai)!!!
- TU (ứng dụng vào đời sống): Sau khi hiểu rõ ý nghĩa các pháp đã học ở trên... Người này ứng dụng triệt để nghĩa lí vào thực tiễn đời sống!!! ... Ứng dụng đến bao giờ nghĩa lí ta đã học và thực tế đời sống không còn là hai pháp... Có nghĩa, nghĩa lí chính là ta, ta chính là nghĩa lí... Chừng ấy, vị tu hành sẽ “ngộ” (trực nhận) ra cái được gọi “ẩn mật của giáo pháp” là như thế nào!!!
Để hỗ trợ cho việc giác ngộ, người này phải được Thiện Tri Thức điều chỉnh những hiểu biết sai lầm về Phật đạo và con đường tu tập bằng hai pháp tối quan trọng, đó là: “Tồi tà hiển chánh môn” và “Đoạn mê khai giác môn”!!! ... Hai pháp này, giống như người ta phải giặt sạch một tấm vải đang bị hoen ố, trước khi vẽ lên đó các hình ảnh thích hợp!!!

- Tồi tà hiển chánh môn: Phá bỏ các thứ tà kiến tích chứa trong tâm thức của một người chưa giác ngộ, khi tà kiến không còn, người ấy mới có thể tiếp nhận chánh pháp!!! ... Giống như ruộng hết cỏ dại, mới có thể gieo các hạt giống!!! ... Như chữa cho người mù hết mù, mới có thể dạy các màu sắc!!!
- Đoạn mê khai giác môn: Sau khi hết tà kiến, người này được Thiện Tri Thức tiếp tục chỉ ra cái gì là mê, cách đoạn trừ!!! ... Sau khi hết mê muội, mới có thể khai thị để người ấy giác ngộ!!! ... Giống như kẻ kia hết mù, nhưng không biết đường về nhà, bây giờ người ấy sẽ được học con đường nào về nhà an toàn, và con đường nào có nhiều hiểm nạn!!!
Trên đây chỉ là những nét khái quát về các pháp cần thiết, giúp một người giác ngộ trong Phật đạo!!! ... Ha ha ha ha!!! ... Chiếc tàu ban sơ, chỉ cần chở bấy nhiêu là đủ để vượt dòng sanh diệt!!! ... Chúc bạn... mau chóng “đáo bỉ ngạn”!!!

12.3. Lúc chính niệm (ngay thực tại thân thọ tâm pháp) thì đang ăn, nhưng sự ăn còn có tư tưởng xen vào...

Những điều bạn trình bày, rất khó hiểu... Vì bạn viết không cụ thể!!! ... Theo “mình đoán mò” thì, hình như bạn muốn nói đến các thứ “tạp niệm” hiện lên, trong khi bạn “cố thực hành chánh niệm”!!! ... Nếu “đoán mò” là đúng, xin có góp ý:

Để không bị tạp niệm làm nhiễu loạn tâm thức, bạn “phải nhất tâm”... Muốn nhất tâm (như ý), bạn phải tu tập thuần thục 12 pháp Tư Lương Vị (12 pháp Tư Lương Vị gồm Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần và Tứ Như Ý Túc) ... Đây là hành trang tối thiểu giúp một người tu tập có được “nhất tâm như pháp” để sau đó “an trú trong chánh niệm”!!! ... Ngoài việc tu tập như trên, bản thân phải xây dựng “đời sống tu hành” và “thái độ tu hành” như sau:
Xây dựng đời sống tu hành bằng cách: Thực hành ít muốn biết đủ!!! ... Vì rằng, vọng tâm như thị trường!!! ... Thức mê như nhà máy sản xuất các vọng niệm!!! ... Hai thứ này hoạt động theo “nguyên lí cung cầu”!!! ... Tâm ít muốn biết đủ giống như thị trường không có nhu cầu, tất nhiên nhà máy thức sẽ tự phá sản, từ đó hết vọng niệm!!!
Xây dựng thái độ tu hành, và bằng lòng với hiện tại: 
− Xây dựng thái độ tu hành bằng cách, quay trở lại tâm này, không nhìn ngó bên ngoài, không chạy theo thế gian, không phê phán tốt xấu, đúng sai, v.v... của người (bất cộng phàm phu pháp)!!!

− Bằng lòng với hiện tại, sẽ tránh được hai cực đoan, đó là: 1_Không tham vọng... 2_Không thất vọng... Khi hai cực đoan này không có mặt trong tâm thức, tạp niệm sẽ tự dừng!!!

Không biết “đoán mò” của mình có đúng với những gì bạn muốn hỏi hay không??? Nếu chưa đúng, bạn có thể “đặt lại câu hỏi một cách rõ ràng, cụ thể” ... Chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi vào những tuần sau!!! ... Chúc bạn... thành công trong tu học!!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Giác Ngộ Được Gì Cho Hiện Tại Và Tương Lai?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

− Hỏi:

“Cốt lõi của đạo Phật là Giác Ngộ, vậy giác ngộ để được gì cho hiện tại và tương lai? 

(Minh Quân)

- Đáp:

Để có thể giải đáp thoả đáng câu hỏi... Đầu tiên, chúng ta tìm xem hai chữ “Giác Ngộ” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì!!! ... Khi chúng ta hiểu rõ hai chữ này, việc Giác Ngộ sẽ được gì cho hiện tại và tương lai không khó giải quyết!!!

11.1.  Giác Ngộ là Gì?

● Giác ngộ là thuật ngữ Phật Giáo, được dịch từ chữ Bodhi của Phạn văn là Bồ Đề, để chỉ sự thức tỉnh, chợt nhận ra một điều gì đó mà từ trước mình chưa nhận ra.

Thuật ngữ này (nguyên thủy) không hàm ý nói đến sự kế thừa của ý thức hoặc kinh nghiệm đời sống, mà nhằm chỉ sự bùng vỡ hoàn toàn của tri thức. Một khi tri thức vượt ra khỏi giới hạn chính mình, phá nát sự bao bọc che khuất chủ quan của ý thức và mọi thói quen nghe nhìn thẩm định của các giác quan được chỉ định bởi thức nghiệp. Khi không còn những thứ này bủa vây, người ta mới thật sự biết đến nó.

Vì thế, Giác ngộ hay Bohdi hoàn toàn mang ý nghĩa tự thân cảm nhận hay còn gọi là tự chứng... Sở dĩ nói tự thân cảm nhận, vì đây là một thứ cảm nhận đặc biệt mang nặng dấu ấn của trí tuệ hơn là sự nhận biết chủ quan của nghiệp thức phân biệt thông qua các căn. (Trích Phật Giáo Và Giác Ngộ; Anh Lạc Luận Tập I; NXB Dân Trí 2019; Lý Tứ)

Theo Tự Điển Phật Học Hán Việt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Phân viện nghiên cứu Phật học (Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội) thì Giác 覺 bodhi (thuật ngữ): Tiếng Phạn là Bồ Đề, cách dịch cũ là Đạo, và cách dịch mới là Giác. Giác có hai nghĩa là Giác sát (xem xét hiểu biết) và Giác ngộ.
Theo Đại Thừa nghĩa chương, quyển 2 thì giác cũng có hai nghĩa: 1) Giác sát gọi là giác; 2) Giác ngộ gọi là giác, như người ngủ thức dậy. Giác sát là nhận ra các chướng phiền não.
Theo Từ Điển Phật Học của Ban biên dịch Đạo Uyển (Nhà Xuất Bản Tôn Giáo) thì danh từ Giác ngộ (覺 悟; S, P: Bodhi) được dịch nghĩa từ chữ Bodhi (Bồ-đề, tỉnh thức) của Phạn ngữ; chỉ trạng thái tỉnh thức.
Còn theo Tiểu Từ Điển Phật Học thông dụng của Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng thì, Giác cũng có hai nghĩa: 1) Nghĩa thông-thường, giác là hiểu-biết. 2) Nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, giác là giác-ngộ, sự hiểu-biết chơn-chánh, thấu-đáo về lẽ sống chết và bản-thể chơn-thật của muôn pháp. Chữ giác dùng để dịch chữ Phạn Bodhi, Bồ-đề. Giác-ngộ (giác = biết; ngộ = hiểu rõ) = tình-trạng hiểu-biết thật rõ-ràng, chính-xác, đúng với Chơn-lý.
Theo Tác giả Thiều Chữu thì, chữ Giác và chữ Ngộ được định nghĩa như sau: Giác 覺: Hiểu biết, hiểu những điều không biết đến gọi là giác. Đạo Phật 佛 cốt nhất phải giác ngộ chân tính tỏ rõ hết mọi lẽ, cho nên Phật được gọi là Giác vương (覺王). Người học Phật được chứng tới quả Phật gọi là chánh giác 正覺. Ngộ 悟 là tỏ ngộ, biết. Trong lòng hiểu thấu gọi là ngộ, đọc sách hiểu được ý hay, gọi là ngộ tính 悟 性. Mở, bảo cho người biết tỉnh lại không mê muội nữa. (hết trích)
Tóm lại: Giác ngộ xét về mặt văn tự, thì đây là một cặp từ gồm hai từ. Đó là: Từ Giác (覺) có nghĩa hiểu biết, hiểu được những điều mà từ trước tới nay không biết gọi là giác; và từ Ngộ (悟) có nghĩa rõ biết như thật, như nhận ra một vật thể rõ ràng trước mắt.
11.2.  Giác Ngộ để được gì cho hiện tại... và tương lai?

Như vậy, ta có thể hiểu, hai từ Giác Ngộ trong Phật đạo, nhằm chỉ cho cảnh giới của một người tu hành đã trực nhận (giác) và thấy rõ (ngộ) những điều cần trực nhận và phải thấy rõ theo yêu cầu của giáo pháp!!! ... Giáo pháp có bốn yêu cầu, bắt buộc người tu hành phải trực nhận và phải thấy rõ, đó là:

1) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của “Thân” (thân niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của thân, người tu hành sẽ không còn bị thân trói buộc, thành tựu Sắc Giải Thoát, chấm dứt vĩnh viễn khổ, phiền não, v.v... khi thân chuyển biến theo quy luật sanh, lão, bệnh, tử...

2) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của các “Cảm Thọ” (thọ niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của các cảm thọ, người tu hành sẽ không còn bị các cảm thọ làm mê mờ, thành tựu Thọ Giải Thoát, chấm dứt vĩnh viễn khổ, phiền não, si mê, v.v... khi thân tâm bị tác động bởi những tác động không mong muốn...

3) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của “Tâm” (tâm niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của tâm, người tu hành sẽ không còn sinh các thứ tâm hư vọng, chấm dứt vĩnh viễn kiết sử (tham, sân si...). Lậu hoặc (dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) không còn sanh khởi, hết u mê... Từ đó, thấy rõ bổn tâm, nhận ra bổn tánh (minh tâm, kiến tánh) ... Thành tựu hai đức tính cao quý của Niết Bàn (mà một người chưa giác ngộ không thể có), đó là an lạc và thanh tịnh...

4) Nhận ra bản chất (giác) và thấy rõ (ngộ) thiệt tướng của vạn “Pháp” (pháp niệm xứ): Nhận ra bản chất và thấy rõ thiệt tướng của vạn pháp, người tu hành sẽ không còn bị các pháp (quan niệm, khái niệm, nhận thức...) làm mê mờ... Chấm dứt vĩnh viễn vòng luẩn quẩn của thế gian đối đãi (nhị nguyên) như: Đúng, sai; phải, quấy; thiện, ác; hơn, thua; được, mất, v.v... Từ đó, không còn bị trói buộc bởi chúng sinh giới và khí thế gian (thân tài thế giới) ... Nhờ thế, trí tuệ chơn thiệt phát sinh, biết cách giúp mình và người (tự độ, độ tha) ra khỏi ngu, mê, lầm (giác ngộ, giải thoát, trí tuệ) ... Thành tựu hai đức tính cao quý còn lại của Niết Bàn (mà một người chưa giác ngộ không thể có) đó là thường và ngã!!!

Nói chung, một người có giác và có ngộ, hiện tại và tương lai vĩnh viễn hết “ngu, mê, lầm” (theo quan điểm Phật giáo) ... Thành tựu bốn mục tiêu của giáo pháp đề ra đó là: Hết khổ (ra khỏi tám món khổ nhân sinh). Dứt tập (không còn phiền não, kiết sử, lậu hoặc). Chứng diệt (an vui vĩnh hằng). Tu đạo (thành tựu chơn thiệt trí)!!!

Hy vọng những giải đáp trên, có thể giúp bạn hiểu ra Giác Ngộ là gì, và nó giúp được gì cho chúng ta trong hiện tại cũng như tương lai!!! ... Chúc bạn an vui!!!

(11-10-2019)

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

MB 442 Lý Song Hà 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/bai-trang-ca-bat-tu-0

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Bài Tráng Ca Bất Tử

MB 442 Lý Song Hà 09.02.2023
Bài tráng ca bất tử - Vô Đối Môn - Tác giả Lý Tứ

Vô Đối Môn - Tác Giả Lý Tứ

Khi Người Tráng Sĩ 1 dứt áo ra đi hề, con Kiền Trắc bị ghìm cương không còn cơ hội ngoảnh lại.

Người Tráng Sĩ năm xưa chán cái vui hề2  chán đến kẽ tóc chân tơ. Anh lên tận non cao nơi không có tiếng khóc và tiếng cười.

Như con chim bay lưng trời, như con cá lội giữa ngàn khơi.

Và ở đó anh nghiệm ra, đây cũng không phải ước mơ của một thời trai tráng. Anh mơ một ngày, một ngày người đi tìm chân lý thấy đâu là ánh sáng.

Ánh sáng cuối đường hầm, anh kiêu hãnh bước đi. Chân lý đưa đến những hột mè qua ngày đoạn tháng,

Chân lý xô đẩy bằng cái kham khổ sáu năm tóc rụng da nhăn.

Bất chợt, nhận ra chán cái vui, tìm cái khổ như con nai khát nước chạy lung tung.

Chỉ uổng một đời, bỏ cái ngu này, tìm cái ngu khác của đêm dài ba cõi. Lại một lần nữa, Người Tráng Sĩ dứt áo ra đi trước mỉa mai khổ hạnh. Đau đớn tột cùng, đâu là hạnh phúc… giữa trời xanh!

Anh ngồi xuống, bởi cái thân ốm o không thể chở nổi ý chí kiên cường.

Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp ngọn đèn trong đêm dài tăm tối.

Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía.

Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hóa thành ánh sáng mặt trời.

Người Tráng Sĩ vui mừng, hết thảy tự tâm này chỉ do ngu mê và lầm lẫn. Chân lý không đâu xa, không phải thứ ánh sáng chờ đợi cuối đường hầm.

Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường vẫn hiểu.

Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau.

Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên.

Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên. Con cá dưới nước hóa thành rồng trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui òa vỡ. Người Tráng Sĩ năm xưa hát Bài Tráng Ca trước bạn bè ngày cũ.

Tất cả chắp tay.

Một đời Tráng Sĩ hóa thành bất tử. À ơi! Ấu biến thành sen,

Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào…”

(10:08 Ngày 21 tháng 7 năm 2011)

Lý Tứ 

 

1. Người tráng sĩ: Người đàn ông có sức lực cường tráng và chí khí mạnh mẽ (TĐ tiếng Việt).

2. Cái vui giả tạm

Tác Phẩm Lý Tứ

Quan Sát Được Ngũ Uẩn Sanh Diệt? Ngồi Thiền… Mục Đích Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

- Hỏi

1) "Trong Vô Đối Môn có nói đến bốn lần giác ngộ vậy xin hỏi, lần giác ngộ thứ mấy thì có thể quan sát được ngũ uẩn sanh lên và diệt đi? 

(Lê Ngọc Tới)

10.1. Đáp

Câu hỏi của bạn mình chưa nắm hết ý, không biết bạn muốn hỏi: Lần giác ngộ thứ mấy thì có thể quan sát được ngũ uẩn sanh lên và diệt đi, tức năm uẩn sanh lên và diệt đi!!! ... Hay năm món sắc; thọ; tưởng; hành; thức sanh lên và diệt đi??? ... Để thoả mãn cả hai ý, mình xin tuần tự trả lời từng ý như sau:

10.1.1.  Ngũ uẩn chỉ hiện khởi, hay sanh diệt ở người chưa giác ngộ.

Khi mê, ngũ uẩn (gồm sắc uẩn đến thức uẩn) mới sanh diệt...

− Tức là, đối với người mê, lúc họ mê sắc; thọ; tưởng; hành; thức... Bấy giờ năm món đó mới trở thành “năm uẩn pháp” và chấp lấy nó, gọi là “ngũ thủ uẩn”, từ đây khổ, phiền não sanh khởi!!!

− Hết mê, năm món sắc; thọ; tưởng; hành; thức trở về bản chất không tánh (không uẩn) của nó, từ đó năm uẩn pháp cũng “tự tịch diệt”. Kinh dạy “Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”!!!

Vì thế, ngũ uẩn[1] chỉ hiện khởi, hay sanh diệt ở người chưa giác ngộ, còn người đã giác ngộ, ngũ uẩn tịch diệt (không thể sanh khởi, gọi là ngũ uẩn giai không) ... Vì vậy, câu hỏi của bạn (thuộc ý một) không thể giải quyết được (do người giác ngộ, năm uẩn tự không, đã tịch diệt, làm gì có “uẩn” sanh diệt mà quan sát)!!! ...

10.1.2.  Lần giác ngộ thứ mấy thì có thể quan sát được năm món sắc; thọ; tưởng; hành; thức sanh lên và diệt đi???

Một người giác ngộ lần thứ hai, tức sau khi tâm thức hoàn toàn vắng lặng, người này dùng “tánh giác lặng lẽ quan sát” chuyển biến của thân tâm, người này có thể cảm nhận từng sát na sanh diệt của năm món sắc; thọ; tưởng; hành; thức!!!

Ở trường hợp khác, những người thành tựu thiền thứ hai (nhị thiền), sau khi dứt giác quán, cũng có thể cảm nhận “một vài phần” chuyển biến của năm món sắc; thọ; tưởng; hành; thức thông qua “tướng trạng của hỉ lạc, khinh an”!!!

Người được sơ thiền tuy cũng có hỉ lạc, khinh an, nhưng “không thể nhận biết rõ rệt” chuyển biến trên, vì sơ thiền “còn kẹt giác quán”!!! ... Chúc bạn... an vui!!!

- Hỏi

2) Con rất thích tu thiền nhưng thật chất con không biết gì Phật pháp, kinh điển. Con chỉ xem trên YouTube cách dạy ngồi thiền và con cũng thực tập được lâu rồi (khoảng 2 năm), nay con có thể ngồi khoảng 2 tiếng vào mổi buổi sáng nhưng tâm con vẫn chưa định được, vậy con phải làm gì để tâm được định? Con nghĩ, khi mình làm gì thì phải có mục đích, còn không có mục đích thì không thể tiến xa hơn, vậy thì Thầy có thể cho con biết, con nên ngồi thiền để làm gỉ? và mục đích là gì? 

(QuangTang)

Đáp:

Theo mình, câu hỏi của bạn có hai ý!!! ... Tạm thời mình chia ra, và trả lời từng ý như sau:

10.2.1. Thích tu thiền nhưng tâm chưa định, phải làm gì để tâm định?

Bạn... thân mến!!! ... Lời đầu tiên, mình xin tán thán “công lực tuyệt vời” khi bạn ngồi thiền mỗi buổi sáng hai tiếng!!!

Theo mình biết, trong đời có rất nhiều loại thiền, mỗi loại thiền có công dụng riêng, bạn không nói rõ bạn tu thiền gì và thực hành như thế nào, nên rất khó có ý kiến!!!

Về việc làm thế nào để tâm được định, mình xin có ý kiến như sau: Trong Phật đạo, định là hệ quả của giác ngộ!!! ... Vì thế, muốn tâm thức không động lay (định, thanh tịnh), người này phải giác ngộ!!! ... Muốn giác ngộ, phải hiểu Phật pháp!!!

Trường hợp có người không giác ngộ, dùng một sở pháp để cột chặt tâm ý, mong rằng, với sự cột chặt này tâm ý ta không động lay... Việc làm này, tâm thức chỉ tạm dừng trong thời gian người ấy dùng biện pháp “cưỡng bức hay bức tử” tâm thức!!! ... Khi buông ra, hết cưỡng bức, tâm thức lại loạn động!!!

Đây là lí do vì sao, những người không giác ngộ, cho dù nỗ lực dùng thiền định để khống chế tâm thức, quả chứng cao nhất của họ cũng chỉ là “Phi tưởng, phi phi tưởng xứ định” (tức ở trong thiền thì không loạn tưởng, xả thiền lại loạn tưởng)!!!

Vì thế, mình khuyên bạn, muốn tâm được định (thanh tịnh, vắng lặng, an vui) ... Có lẽ bạn nên tìm hiểu thật kĩ Phật pháp trước đã, trong quá trình tìm hiểu, nhờ những ý nghĩa thấu thoát từ Phật pháp, tâm thức của bạn “dần dần tự dừng” dẫn đến “dừng vĩnh viễn” (tự được thiền)!!! ... Vì rằng, chức năng của Phật pháp là giúp người hết mê muội, do hết mê muội, tâm thức không loạn động, tâm thức không loạn động (tự dừng) gọi là định (hay thanh tịnh)!!! Vì thế, mọi chủ trương dùng một sở pháp cột chặt tâm; ý; thức để được định, chủ trương như thế chẳng phải của Phật đạo!!!

10.2.2.  Ngồi thiền để làm gì? và mục đích là gì?

Người đời, muốn thực hiện một điều gì đó, trước tiên phải đưa ra mục đích... Từ mục đích, ta mới chọn hành động phù hợp để giúp mục đích thành công!!! ... Hành động mà không có mục đích, thì chẳng bao giờ hành động đó có kết quả (như ý)!!! Giống như đi mà chẳng biết đi đâu thì... (sẽ) không biết... về đâu!!!

Cho nên, Bạn muốn được định??? ... Bạn muốn tu thiền??? ... Nhưng bạn chưa đưa ra mục đích: Tu định để làm gì??? tu thiền để làm gì???... Thì cho dù bạn có ngồi hai tiếng mỗi buổi sáng, chứ ngồi suốt hai kiếp, chắc chắn cũng không đạt được mục đích (vì mục đích không có, hoặc hành động không phù hợp mục đích)!!!

Còn bạn hỏi: “Vậy thì Thầy có thể cho con biết, con nên ngồi thiền để làm gì? và mục đích là gì?” ... Bạn... ơi!!! ... Mình đâu có “bảo bạn tu thiền” mà mình cho bạn biết ngồi thiền để làm gì!!! ... Và, mình cũng đâu có “khuyên bạn tu thiền” mà mình trả lời mục đích của bạn là gì!!! ... Các thứ ấy do bạn tự chọn mà!!!

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình sau nhiều năm hướng dẫn HĐ Lý Gia tu tập... Để giúp mọi người chấm dứt loạn tâm, trước tiên mình cho họ biết rõ mục đích cao nhất của Phật đạo là gì, có bao nhiêu mục tiêu người tu tập cần phải lần lượt chiếm lĩnh để đạt được mục đích sau cùng... Khi họ biết rõ những điều ấy, mình giúp họ từng bước giác ngộ để bản thân họ hoàn thành từng mục tiêu trước mắt!!! ... Mình chẳng yêu cầu họ tu thiền, mình cũng chẳng bắt họ tu định... Nhưng, cứ sau mỗi lần giác ngộ, tâm thức họ lại định (thanh tịnh) sâu hơn, loạn động ít hơn!!! ... Thậm chí có rất nhiều người đến bây giờ, tâm thức không hề loạn động và đang hướng đến trí tuệ!!! ...

Chúc bạn... an vui, mau chóng tìm thấy mục đích của mình!!!

(04-10-2019)

[[1]] ngũ uẩn: Xin xem thêm Ngũ Ấm Ngũ Uẩn (Sách Phật Giáo Và Thiền, NXB Dân Trí, Tác giả Lý Tứ).

Tác Phẩm Lý Tứ

Cầu Nguyện Có Đạt Được Mục Đích? Phật Giáo Chủ Trương Có Một "Thế Giới Vô Hình" Hay Có Một "Tha Lực" Đối Với Con Người?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

Vấn đề ở đây, không phải chuyện cầu người khác giúp đỡ là tốt hay xấu, là nên hay không nên mà, điều chúng ta cần bàn là, cầu tha lực có được toại nguyện hay không ??? 

Các bạn !!!
Thời gian gần đầy, mình nhận được rất nhiều thắc mắc từ bạn đọc, xoay chung quanh đề tài cầu nguyện…Vì nhiều người hỏi các câu hỏi khác nhau nhưng nội dung hầu như giống nhau, nên mình tạm sắp xếp các câu hỏi có cùng một nội dung thành câu hỏi chung để tiện trả lời !!!

Các câu hỏi như sau:
1) Người tu hành khi gặp việc bất như ý không tự giải quyết được, thường hay cầu nguyện, xin hỏi việc cầu nguyện trong trường hợp như thế có đạt được mục đích hay không ???

2) Theo quan điểm Phật giáo, có phải Phật giáo chủ trương có một “thế giới vô hình” hay một “tha lực” nào đó, chuyên ban phước hay giáng hoạ đối với con người hay không ???

Các bạn !!!
Về nội dung hai câu hỏi trên, mình xin nêu lên thấy biết (quan điểm) cá nhân như sau: Vì đây chỉ là quan điểm cá nhân, nên không nhất thiết đúng với mọi người, mà nó chỉ phù hợp với những ai có cùng quan điểm như mình !!!

Có một điều, chúng ta không thể phủ nhận, đó là: Trong thực tế cuộc sống, khi những sự việc bất như ý xảy đến, bản thân con người bất lực, không thể tự giải quyết được sự việc bất như ý đó…Lúc ấy, con người lại nghĩ đến “thế giới vô hình, hay tha lực”, và cầu mong nhờ sự trợ giúp nào đó của thế giới vô hình hay tha lực, để sự việc bất như ý mau chóng trôi qua !!!

Điều đầu tiên, theo quan điểm cá nhân của mình, việc cầu nguyện để nhờ sự trợ giúp nào đó khi bản thân không thể tự vượt qua một số khó khăn, việc làm này không có gì là sai !!! Giống như trên đường đi, gặp con cọp dữ tấn công, một mình không đối phó được, đành phải nhờ người khác cứu giúp, chuyện này chẳng có gì đáng bàn !!!

Vấn đề ở đây, không phải chuyện cầu người khác (tha lực) giúp đỡ là tốt hay xấu, là nên hay không nên mà, điều chúng ta cần bàn là, cầu tha lực có được toại nguyện hay không ??? Cũng như thực chất của tha lực ấy là gì ???

Về hai vấn đề vừa nêu, để có thể giải quyết thoả đáng, theo mình, trước tiên chúng ta cần làm rõ “hoạ hay phước” của một con người từ đâu đến theo quan điểm nhà Phật !!! Sau khi làm rõ được điều này, nhất định chúng ta sẽ hiểu được cái gọi là tha lực hay thế giới vô hình từ đâu ra !!!

Phật dạy: “Hết thảy do tự tâm hiện” !!! Lời dạy này có nghĩa, hoạ hay phước của chúng sanh đều do tự tâm biến hiện !!! Từ lời dạy trên, theo quan điểm cá nhân của mình, con người có mặt trên cõi đời sướng vui hay khổ não, là do nghiệp quả nhiều đời tích tụ từ tâm thức của người ấy tạo ra… Có nghiệp quả đã hiện, có nghiệp quả đang hiện và có nghiệp quả sẽ hiện !!! Nói nôm na, phước hay hoạ của hôm nay, là kết quả từ phước hay hoạ của ngày trước do chính người ấy đã tạo tác !!!

Người đời, trong quá khứ, vô tình hay hữu ý đã tạo ra vô số phước hay hoạ… Giống như một người từ khi sinh ra và lớn lên, sống ở nhiều địa phương khác nhau…Có địa phương, người ấy làm ra tiền đem gởi ngân hàng, nhưng cũng có địa phương, người ấy vay ngân hàng một số nợ nào đó !!! Đáo hạn, dù muốn hay không, lãi và nợ người ấy đều phải quyết toán !!! Việc bất như ý xảy ra trong đời, chính là kết quả của “bản quyết toán nợ nần” từ ngân hàng (tâm thức) gởi đến !!!

Theo quan điểm trên, bây giờ chúng ta thử đưa ra đáp án cho các câu hỏi:

Theo mình, không riêng gì những người theo đạo Phật, mà hầu như mọi người khi gặp chuyện chẳng lành, tự thân không giải quyết được, người ta thường hay cầu nguyện… Mong rằng, nhờ thế lực vô hình nào đó (như Phật Trời chẳng hạn) giúp sự việc qua khỏi… Mong ước (cầu nguyện) là như vậy, nhưng mong ước này có được đến đáp hay không ??? Bây giờ chúng ta thử xem, vì sao đồng là cầu nguyện, nhưng có người cầu được, có người không được !!!

Như những gì đã phân tích ở trên, sự việc bất như ý bỗng dưng xảy ra trong đời, chính là “bản quyết toán từ ngân hàng nghiệp thức” gởi đến cho bạn vào thời điểm “duyên đáo hạn” đã đến !!!

– Trường hợp, trong nhiều đời, bạn đã gởi ở ngân hàng tâm thức nhiều tiền (phước), hôm nay nhận giấy nợ (hoạ) từ một ngân hàng nào đó gởi về, bạn có thể dùng số tiền đã gởi từ những ngân hàng khác để trả nợ theo giấy báo !!! Đây chính là nguyên nhân vì sao khi gặp sự cố bất như ý, có người cầu nguyện thành công !!!

– Trường hợp, trong nhiều đời, bạn đã gởi ở ngân hàng tâm thức quá ít tiền (phước), nhưng số tiền bạn vay (hoạ) lớn hơn (hoặc quá lớn)…Nhất định, khi ngân hàng tâm thức gởi giấy báo đòi nợ, bạn không thể thanh toán món nợ này !!! Đây chính là nguyên nhân vì sao khi gặp sự cố bất như ý, có người cầu nguyện không thành công, thậm chí kết quả ngược lại !!!

Từ những lí giải trên, theo quan điểm cá nhân của mình, cầu nguyện thành công hay không thành công là kết quả của phước hay hoạ mà chính bạn đã gieo ngày trước !!!

– Nếu phước nhiều hoạ ít, cầu nguyện thành công !!!
– Nếu hoạ nhiều phước ít, cầu nguyện sẽ không thành !!!

Như vậy ta có thể nhận ra, không có thế lực vô hình hay một tha lực nào đó giúp bạn khi bạn cầu nguyện !!! Mà cái được gọi là thế lực vô hình hay tha lực đang trợ giúp hoặc chống lại bạn, chính là những biến hiện từ tâm thức của bạn, nó là kết quả của phước hay hoạ mà bạn đã tạo tác trong quá khứ !!!

Vì rằng, thế giới tự nhiên, tự nó không có tính chất trợ giúp hay chống lại một ai…Phật giáo gọi đó là bản chất “không tánh”, tức thế giới tự chẳng có tánh yêu hay ghét, tự thân thế giới chẳng phải hữu hình hay vô hình…Hữu hình hay vô hình cũng chỉ là một pháp (quan niệm) của con người đặt ra, pháp này sở dĩ có hiện là do tâm mê biến hiện !!!

Tóm lại:

1) Người tu hành khi gặp việc bất như ý không tự giải quyết được, thường hay cầu nguyện, xin hỏi việc cầu nguyện trong trường hợp như thế có đạt được mục đích hay không ???

– Xin trả lời:
Việc cầu nguyện đạt được hay không, tuỳ thuộc vào phước hay hoạ mà bạn đã gởi ở “ngân hàng nghiệp thức” trong quá khứ !!! Vì thế, việc cầu nguyện cũng thành, cũng không thành (tuỳ vào phước báu mỗi người) !!!

2) Theo quan điểm Phật giáo, có phải Phật giáo chủ trương có một “thế giới vô hình” hay một “tha lực” nào đó, chuyên ban phước hay giáng hoạ đối với con người hay không ???

– Xin trả lời:
Phật giáo chỉ ra, “hết thảy do tự tâm hiện”…Có nghĩa, cái được gọi là “thế giới vô hình hay tha lực”, chỉ là “tập nhân chiêu cảm với giao báo” từ tâm thức của chính bạn nay đủ duyên hiện ra, chứ chẳng phải có một tha lực nào đó (ngoài tâm thức) yêu người này (nên cầu được) ghét người kia (nên cầu không được) !!!

Các bạn !!!
Phật dạy: “Cuộc đời như một đại dương, không ai khác hơn các ông !!! Hãy tự mình làm hòn đảo, nơi nương tựa cho chính mình !!! Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” !!! (Tương Ưng V, 170)

Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 cũng nêu rõ:
“Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy.

Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sanh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu. Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước. Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì”.

Những lời Phật dạy ở trên, thiết nghĩ cũng đã quá đủ để chúng ta hiểu ra rằng: Không có một thế lực vô hình nào giúp ta hay hại ta !!! Ngoại trừ chỉ có “chính ta giúp ta hay hại ta” mà thôi !!!

Cái được gọi là tha lực hay thế giới vô hình nào đó, chỉ là sự biến hiện từ tâm thức do những tội hay phước chính chúng ta đã gieo tạo trong quá khứ bây giờ là lúc đáo hạn !!! Để giải quyết món nợ đáo hạn, một số người nhờ nhất tâm cầu nguyện mà (phước báo) hiện trở lại !!! Sự hiện trở lại của phước báo, vượt quá thấy biết của hiện nghiệp, nên chúng ta lầm tưởng là “có một thế giới vô hình” nào đó ngoài tâm thức đang trợ giúp ta !!!

Giống như người ngủ mê, chiêm bao thấy có ai đó đến giúp mình trong cơn hoạn nạn, nhờ thế hoạn nạn qua đi !!! Những hình ảnh trong chiêm bao như thế, chỉ do tâm thức biến hiện, thực tế chẳng có ai đến giúp bạn ngoại trừ chính bạn !!!

Các bạn !!!
Trên đời, mình biết có rất nhiều lí giải việc cầu nguyện khác nhau… Các lí giải khác nhau đều bắt nguồn từ những nhãn quan khác nhau và niềm tin khác nhau…Không thể nói rằng, lí giải này là đúng nhất và lí giải kia hoàn toàn sai !!! Vì rằng, bảo đây đúng hay kia sai chẳng lấy gì làm căn cứ !!!

Tuy nhiên, đã là người tu hành trong Phật đạo, chúng ta chỉ nên lấy lời dạy của Phật làm cơ sở cho mọi lí giải…Và, khi chúng ta biết biến lời dạy của Phật thành cơ sở lí luận thì, việc tu tập của chúng ta mới có cơ may đi đúng chánh pháp !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
27/09/2019
LÝ TỨ

Các bạn !!!
Mình cũng vừa phát hiện hai câu hỏi của một vị HĐ có nickname là Lê Ngọc Tới ở Thanh Hoá gởi ngày 13/09/2019, và bạn QuangTang (không địa chỉ) gởi ngày 20/09/2019…Nhưng lại lẫn trong các câu hỏi của tháng 8 nên chưa trả lời kịp… Tuần sau, mình sẽ trả lời câu hỏi của hai bạn nêu trên !!! Xin cáo lỗi cùng hai bạn !!!

1) Câu hỏi của Lê Ngọc Tới:
“Trong vô đối môn có nói đến bốn lần giác ngộ vậy xin hỏi ?
Lần giác ngộ thứ mấy thì có thể quan sát được ngũ uẩn sanh lên và diệt đi ?
Mong được câu trả lời của ngài LÝ TỨ !”
Lê ngọc Tới . Thanh Hóa 13/09/2019 2:45:40

2) Câu hỏi của QuangTang:
“Chào Thầy !!!!
Con tên QuangTang con có câu hỏi này xin T vui lòng trả lời giúp con,con rất thích tu thiền nhưng thật chất c ko biết gì phật pháp, kinh điển c chỉ xem trên YouTube cách dạy ngồi thiền và c củng thực tập dc lâu rồi kh 2 năm, nay c có thể ngồi kh 2 tiếng vào mổi buổi sáng nhưng tâm c vẩn chưa định dc, vậy c phải làm gì để tâm dc định? C nghỉ khi mình làm gì thì phải có mục đích, còn ko có mục đích thì ko thể tiến xa hơn, vậy thì T có thể Cho c biết, c nên ngồi thiền để làm gỉ? và mục đích là gì? con cảm ơn Thầy…..”
Quang Tang 20/09/2019 9:56:42

BQT rất mong nhận được nhiều câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
LÝ TỨ

Cầu Nguyện Được Hay Không Được?

Cầu Nguyện Được Hay Không Được?

Cầu Nguyện Được Hay Không Được?

Tác Phẩm Lý Tứ

Thứ Nhất Là Tu Tại Gia? Xả Phú Cầu Bần, Xả Thân Cầu Đạo Được Hiểu Như Thế Nào?

MN 102 Lý Thanh Liêm 09.02.2023

- Hỏi

1) Con có nghe nhiều người nói rằng, “thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Xin hỏi, theo quan niệm của Thầy thì câu nói đó có hợp lí không?

2) Người ta thường hay nói, “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo”. Con là người tạm coi là có tài sản khá khá, cũng rất muốn tu hành, nhưng suy nghĩ đến câu nói trên lại hoang mang. Xin Thầy cho biết, có phải người tu phải xả bỏ tiền của, phú quý, làm cho bản thân nghèo đi, mới cầu được đạo hay không? 

(Thanh Nhan Truong; Vũng Tàu)

- Đáp

Theo quan điểm của cá nhân, xin trả lời như sau:

8.1. “Thứ nhất tu Tại gia, thứ nhì tu Chợ, thứ ba tu Chùa” ...?

Đây là câu nói được đúc kết từ thực tế cuộc sống... Trong tu hành, ba môi trường có tác động đến việc tu tập từ khó đến dễ được xếp theo thứ tự: Khó nhất tác động gia đình, khó thứ nhì tác động quan hệ trao đổi mua bán, và cuối cùng mới đến chùa am!!! ... Nếu xét thực tiễn cuộc sống, câu nói trên là hợp lí...!!!

Nhưng theo mình, nếu người tu tập được trang bị một phương pháp hợp lí, có quyết tâm cao, và thấu hiểu giáo pháp một cách cụ thể, v.v... thì, cho dù bất kì ở đâu cũng có thể tu tập được, chẳng luận ở nhà, ở chợ hay chùa am (đây là một thực tế mà HĐ Lý Gia đã áp dụng, đang mang lại hiệu quả cao từ những con người cụ thể trong từng hoàn cảnh cụ thể)!!!

Còn những ai, không hội đủ những yếu tố vừa nêu thì, chắc chắn một điều, cho dù người đó ở nhà, ở chùa hay ở chợ đều khó có thể thành công trong tu tập (đây cũng là một thực tế đang xảy ra trong người tu hành, bạn có thể kiểm chứng điều này không khó)!!!

8.2. Người ta thường hay nói: “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo”

Đây cũng là câu nói của dân gian... Vì thế, nó không tuyệt đối phù hợp với mọi đối tượng có tâm cầu đạo!!!

Theo mình biết, người tu hành có được đạo pháp hay không, là do thiện duyên của người ấy đối với đạo pháp... Chứ không nhất thiết phải xả phú hay xả thân và ngược lại!!!

Lịch sử và kinh điển cũng đã ghi lại, có rất nhiều trường hợp người thành tựu đạo quả mà vẫn giàu có (hoặc địa vị cao) như Bồ Tát Duy Ma Cật, Công chúa Vô Uý Đức, Thắng Man Phu nhân, v.v...!!! ... Và trong hiện tại, theo mình biết cũng có rất nhiều người từ bỏ tất cả, không tiếc thân mạng, nhưng không hiểu vì vô duyên bạc phước thế nào ấy mà, cho dù đã đáp ứng yêu cầu của câu nói trên... Nhưng, đạo quả thì chẳng... thể... thành... tựu!!! ... Thực tế này, bạn có thể kiểm chứng không mấy khó khăn!!!

Cho nên, bạn cũng không nên quá băn khoăn về câu “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo”!!! ... Mà hãy tìm học Phật pháp, yêu mến trí tuệ và tin rằng, nếu bản thân mình có nhân duyên lành với đạo, thì nhất định sớm muộn gì đạo pháp cũng đến với bạn...!!!

Còn quả thật, nếu bạn là người vô duyên với đạo, bạc phước với thân thì, cho dù bạn có từ bỏ tài sản, công danh, sự nghiệp, bản thân, v.v... Đạo pháp cũng khó đến!!! ... Chúc bạn an vui, giữ vững niềm tin và sớm thành tựu sở cầu!!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Các Pháp: Hữu Vô

MB 1157 Lý Mỹ Linh 09.02.2023

Cái câu kinh này thiệt hay: "Những pháp hữu, vô, thể tánh chẳng nhứt định. Ví như tứ đại tánh nó chẳng đồng, đều trái phản nhau. Lương y khéo biết tuỳ món đại nào phát bịnh mà điều chỉnh đó..."

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Cái câu kinh này thiệt hay: "Những pháp hữu, vô, thể tánh chẳng nhứt định. Ví như tứ đại tánh nó chẳng đồng, đều trái phản nhau. Lương y khéo biết tuỳ món đại nào phát bịnh mà điều chỉnh đó...".[[1]]

Câu này có nghĩa: Các pháp Phật nói ra, hoặc hữu hoặc vô tự chẳng có tánh. Chỉ vì kẻ ngu nói hữu, vì người trí nói vô. Hữu vô bất đắc dĩ nói ra, nhằm điều chỉnh cho người ngu hết ngu, kẻ trí thêm trí. Giống như bốn đại không tánh, nhưng người bệnh thấy đau. Lương y giỏi, theo đó mà hốt thuốc để "tứ đại hết...ngu".      

Ha ha ha ha!!!                                                

(19-04-2013)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

 

[[1]] Trích kinh Đại Niết Bàn.

Tác Phẩm Lý Tứ

Sinh Pháp

MB 1157 Lý Mỹ Linh 09.02.2023

Chữ pháp nhằm chỉ cho những gì khi các căn đối trước trần cảnh rồi khởi nhận thức, gọi là ba duyên hoà hiệp. Nói khác đi, pháp là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, biện biệt...

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Chữ pháp trong Phật đạo mang nhiều ý nghĩa như: phép tắc, pháp luật, phép thuật, nhận thức... Trong phạm vi bài viết này, chỉ đề cập đến khái niệm sinh pháp, theo ý nghĩa của câu nói, "vạn pháp duy thức" hay "các pháp như huyễn", tức chỉ đề cập đến những gì thuộc về nhận thức...

1. Sinh pháp là gì???

Chữ pháp nhằm chỉ cho những gì khi các căn đối trước trần cảnh rồi khởi nhận thức, gọi là ba duyên hoà hiệp. Nói khác đi, pháp là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, biện biệt...

Ví dụ: Cái bàn nó có hình dáng như thế này, tốt hay xấu, dùng vào việc gì, nên để ở đâu, giữ gìn như thế nào, giá trị bao nhiêu... Ông A là người rất tốt, bà B là người xấu. Ông A đúng, bà B sai...Việc làm này là nên, việc làm kia không nên... Làng ta hơn hẳn làng bên về mọi mặt... Ta thuộc dòng tộc cao quý, còn những người kia là hạng tầm thường..v.v...

Theo Phật đạo, một trần, cảnh hay sự việc tự nó không có tên gọi, không có tính chất, không có vị trí, không có giới hạn, không có tỷ lượng ..v.v...tức là không có một ý nghĩa nào hết.

Chỉ khi ý thức tiếp cận mới cho ra các khái niệm về trần, cảnh hay sự việc gọi là sinh pháp, người xưa hay nói: "vạn pháp duy thức" tức các pháp sinh từ nhận thức.

Kinh dạy, "các pháp theo duyên sanh, các pháp theo duyên diệt". Trung Quán Luận viết, "chư pháp bất tự sanh, diệc bất tùng tha sanh. Bất cọng bất vô nhân, thị cố tri vô sanh".

Có nghĩa, các pháp không tự sinh, cũng không phải tha sinh, không cộng không vô nhân, nên đều là vô sinh. Có thể hiểu, các pháp không sinh ra từ chính nó, mà phải hội đủ nhân duyên mới sinh...

Khi căn đối trần, thức đặt cho trần một cái tên nào đó gọi là pháp danh, ghi nhận về hình dáng gọi là pháp tướng, chỉ thị vị trí gọi pháp vị, so sánh với vật khác gọi là pháp lượng, đưa ra một giới hạn gọi là pháp giới, cho một tính chất gọi pháp tánh..v.v... Có rất nhiều đặc tính chung quanh trần cảnh mà ý thức sản sinh ra, những đặc tính này đều thuộc phạm vi của pháp...

2. Như thế nào gọi là các pháp không tánh, không tướng???

Một pháp, hay một nhận thức tự nó không có tính chất hay tướng mạo... Ví dụ: Nhận thức cái bàn nó đẹp, trong nhận thức này không có cái đẹp hay xấu... Nhận thức rằng lửa nóng, trong nhận thức này không có tính nóng của lửa... Quan niệm rằng ăn cái đó vào sẽ no, quan niệm này không có tính no... Nói chung, đẹp, xấu, nóng, lạnh, no, đói, ghét, thương, dơ, sạch, lớn, nhỏ không nằm trong nghĩ suy hay nhận thức. Vì thế kinh dạy: "Thị chư pháp, không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm...". Tức là trong quan niệm, nhận thức, nghĩ suy... Không có các tính chất của tướng, tính chất của sanh, tính chất của diệt, tính chất của sạch, tính chất của dơ, tính chất của lớn lên, tính chất của nhỏ lại... Khi nào các tính chất này hiện, gọi là hư vọng tánh...

3. Mối liên hệ giữa pháp và tâm.

Phật đạo chỉ ra rằng, một hữu tình tự không có tâm và pháp. Ba duyên căn, trần, thức hoà hiệp bây giờ pháp mới sanh. Khi nào hữu tình mê pháp, tức mê nhận thức, lúc ấy tâm sẽ sanh...

Ví dụ: Một cái cây tự nó không có bóng, bao giờ các duyên hội đủ như, ánh sáng, không gian, một người có mắt nhìn thấy, bóng cây sẽ hiện. Một trong các duyên này vắng mặt, bóng cây sẽ mất. Bóng cây ví như tâm hư dối của hữu tình, các duyên là căn trần thức. Ba duyên không hoà hiệp pháp không sanh, tâm tự tịch diệt.

4. Liên hệ giữa pháp và ngã.

Một hữu tình tự không có ngã, Phật dạy: "Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta". Có nghĩa ngã hiện khởi là do hữu tình chấp vào điều gì đó của thân tâm thông qua nhận thức, rồi chấp chặt nhận thức và lầm nhận rằng tự thân là một chủ thể có thể sở hữu được nhận thức. Lầm nhận và chấp chặt này, Phật đạo gọi là ngã hư dối, khi nào lầm nhận này chấm dứt ngã sẽ tịch diệt, không lầm nhận gọi là giác ngộ. Chấp chặt quan niệm về thân gọi là lấy sắc làm ngã, chấp chặt vào cảm thọ gọi là lấy thọ làm ngã, chấp chặt cả năm ấm đều sinh ngã như vậy...

5. Thế nào là pháp huyễn, pháp sinh diệt???

Huyễn là ảo thuật, là những thứ không thật mà in tuồng có thật. Sinh diệt là, hiện ra rồi mất đi... Chúng sanh bản lai không có pháp, pháp sinh ra rồi mất đi, sinh không từ đâu đến, mất chẳng đi về đâu, giống như trò ảo thuật, giống như vòng lửa... Những nhận thức không thật sinh rồi diệt, Phật đạo gọi là pháp như huyễn, pháp sanh diệt... Kinh dạy, "nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh..."

6. Thế nào là pháp cấu, pháp tịnh, pháp giải thoát???

Tự thân một nhận thức, không có tính chất của dơ, sạch, trói buộc hay cởi bỏ... Khi nào, tâm trí bị mê mờ bởi nhận thức, bây giờ các tính chất nói trên mới hiện.

Nhận thức nào làm vẫn đục, nhiễm ô tâm gọi là pháp cấu. Nhận thức nào làm cho tâm trong sáng, thanh tịnh không phiền não gọi là pháp tịnh. Nhận thức nào giúp cởi bỏ những cột buộc gọi là pháp giải thoát...

7. Liên hệ giữa pháp và vô minh.
Một hữu tình, bản lai không có tánh, tức không có bản chất. Kinh gọi "thiệt tướng vô tướng", khi gặp duyên mê thì tạm mê, khi gặp duyên giác thì sáng suốt, gặp duyên ác thì sanh ác, gặp duyên thiện thì sanh thiện. Nếu chúng sanh có tánh, có bản chất, thì mê sẽ mê hoài, ác sẽ ác mãi, không thể thay đổi được.

Những tính chất hư dối này, thay đổi không ngừng, gọi là vô thường, sanh diệt...

Vì thế Phật dạy, "chúng sanh đó, Như Lai tạm gọi là chúng sanh, chứ thiệt chẳng phải chúng sanh".

Điều này nói lên rằng, bao giờ những tính chất hư dối nói trên hiện khởi trong một hữu tình, lập tức hữu tình đó trở thành chúng sanh. Khi hiện khởi này tịch diệt vĩnh viễn, hữu tình đó không còn là một chúng sanh...

Một hữu tình, tự cũng không có minh cùng vô minh. Bao giờ một nhận thức hiện lên, che mờ tâm trí, làm cho u tối, không thấy được bản chất thật (thiệt tướng) của chính mình, che mờ này gọi là vô minh. Giống như một người sáng mắt, lấy cái khăn đen bịt mắt trở thành u tối. Chỉ cần bỏ cái khăn xuống, u tối tự chấm dứt. Cái được gọi là vô minh trong một chúng sanh cũng như vậy, chỉ cần từ bỏ các quan niệm, không để quan niệm, nhận thức che lấp tâm trí, vô minh tự mất.

8. Vô minh có tự bao giờ???
Phật dạy "vô minh vô thỉ vô chung", có nghĩa rằng vô minh không có đầu cũng không có cuối.

Khi nào mê nhận thức, bị nhận thức che mờ tâm trí, lúc đó vô minh hiện, chỉ cần bỏ nhận thức xuống, vô minh tan biến. Giống như một căn phòng, đèn tắt gọi là tối, đèn thắp lên gọi là căn phòng sáng, sáng hay tối không có khởi đầu cũng không có kết thúc, chỉ trong một niệm.

Niệm mê là vô minh, niệm giác là sáng suốt, vô niệm hết vô minh!!!

9. Làm thế nào để không sanh pháp, không sanh tâm, không sanh ngã, hết vô minh, được giải thoát???
Vô minh, pháp, tâm, ngã, trói buộc..v.v... chỉ là những mặt của một vấn đề, các thứ này xảy ra theo nguyên lý "cái này có cái kia có, cái này không cái kia không, cái này sanh cái kia sanh, cái này diệt cái kia diệt".

Muốn những thứ này không sanh, chỉ cần giác ngộ rằng những thứ đó không thật. Không chạy theo cảnh để sinh pháp, không chạy theo pháp để sinh tâm, không mê tâm để sinh ngã, không thủ giữ cái ngã để bị trói buộc, không bị trói buộc tức hết vô minh. Hoặc ngược lại, không vô minh không trói buộc, không trói buộc không có ngã, không có ngã không có tâm, không có tâm không có pháp, không có pháp tức thị vô sanh... Có nghĩa rằng, cái vòng luẩn quẩn duyên nhau sinh rồi diệt, như đốm lửa duyên từ điểm này đến điểm kia tạo ra vòng lửa hư ảo, đốm lửa dừng ở bất kỳ điểm nào, vòng lửa tự mất!!!

10. Kết luận
- Mọi thứ làm ra, cho dù đó là một nhận thức được coi tốt đẹp nhất, Phật đạo cũng gọi là pháp, mà tâm thức đã có pháp hiện diện, nhất định u tối, phiền não, sanh diệt không thể không sanh. Vì bởi, bản lai thanh tịnh không có mấy thứ này, nay nó hiện hữu, bản lai thanh tịnh bị che khuất. Giống như bầu trời đang trong sáng, mây đen kéo tới, cả bầu trời liền tối...

- Cái được gọi là minh mà Phật đạo nói đến, tự xưa nay đã có, không phải hôm nay mới làm ra, sở dĩ không minh vì một niệm bất giác. Bất giác làm cái minh này vụt tối, như đèn chợt tắt bóng tối ập vào. Muốn vô minh không hiện trở lại, phải giác ngộ tính chất hư dối của vạn pháp, không để bất giác hiện khởi, bất giác không hiện khởi, pháp không sinh Phật đạo gọi là vô sanh.

- Có thể kết luận, pháp là đầu mối, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân làm cho hữu tình trở thành chúng sanh. Vì thế, minh hay vô sanh là kết quả của một giác ngộ tức thì trong hiện tại, chứ chẳng phải cái làm ra. Giác ngộ là, thấu suốt bản lai nó tự như vậy, không nên sanh khởi cho dù một niệm và vĩnh viễn không sanh khởi một thứ gì hết trong tâm thức, lập tức tại nơi này đạo sẽ tự hiện!!!

(17-01-2013)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−        

Subscribe to