Giáo Pháp Nhập Môn - Tác Giả Lý Tứ
Giáo Pháp Nhập Môn là tập hợp các bài viết ngắn gọn, được chọn lọc và sắp xếp theo thứ tự giúp bạn đọc dễ dàng tiếp cận, nắm bắt kiến thức Phật Pháp từ cơ bản một cách nhanh chóng. Tài liệu này được dùng cung cấp các kiến thức Nhập Môn cho các thành viên mới, hiện là tài liệu học tập nội bộ của Lý Gia.

Giáo Pháp Nhập Môn - Tác Giả Lý Tứ
Tổng Kết Chủ Đề: Giáo Tông Và Tâm Tông
Trò chơi trí tuệ số 04.2020 - Tổng kết chủ đề Giáo Tông Và Tâm Tông

Các bạn !!!
Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 bắt đầu từ ngày 16/05/2020 và kết thúc vào ngày 30/05/2020 !!!
Trong thời gian này, BQT đã nhận được rất nhiều trả lời của các HĐ chúng ta, trong đó có các bài luận được đánh giá là xuất sắc của các Trưởng Lão như SH Lý Thái Đăng, SĐ Lý Giác Thư, SĐ Lý Liêm, SĐ Lý Thiện Huệ, SĐ Lý Thiện Cảnh, SM Lý Tâm Pháp...v..v...hay của HĐ mới như Lan Nguyễn (Lý Diệu Lan - 548)...!!!
Lẽ ra, Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 đã được tổng kết vào ngày 30/05/2020... Nhưng, một tháng qua, mình và BQT LÝ GIA quá bận... Vừa phải hoàn thành Hành Trình Xuyên Việt, vừa tổ chức buổi toạ đàm ra mắt sách tại Hà Nội, vừa giao lưu với các vị khách quý, vừa thăm thú tất cả HĐ chúng ta...v..v... Vì thế, mải đến hôm nay mới có thời gian tổng kết !!!
Trong các bài viết mà BQT đã nhận được lần này, mình muốn giới thiệu đến các bạn bài viết của LÝ MINH THUỲ !!!
Lý Minh Thuỳ là một khuôn mặt mới, còn rất trẻ của Lý Gia... Năm nay Thuỳ chưa đến 30, hiện là Thạc Sĩ Công Nghệ, đang làm việc tại TP Hồ Chí Minh !!!
Thuỳ trở thành HĐ Lý Gia chưa đầy 2 năm... Trong đó, phải mất đến gần một năm không tu học vì bận đi thực tế và làm luận văn tốt nghiệp, cũng như tìm việc làm...!!! Chỉ chừng năm sáu tháng trở lại đây, khi công việc ổn định, Thuỳ mới chú tâm học tập Phật pháp...!!!
Tuy chỉ vỏn vẹn có năm sáu tháng đọc sách của Lý Gia, tham gia học tập Phật pháp từ các buổi sinh hoạt trực tuyến của Lý Gia... Nhưng Thuỳ đã gặt hái những thành quả đáng kính nể... Có thể nói, Thuỳ đã bước những bước rất dài trong Phật đạo !!!
Ha ha ha ha !!! Một cô bé mảnh khảnh, rụt rè, vốn liếng Phật pháp rất ngây ngô, tạp nhạp... không đầy lá mít của ngày nào... Giờ đây, chỉ sau một thời gian ngắn “ăn tàu hủ của Lý Gia”, đã vươn vai lớn mạnh trong giáo pháp như chuyện cổ tích...!!! Thế mới biết, Phật pháp đích thực: Không luận tuổi tác, không luận lâu mau, không luận công phu, không luận y phục, không luận tướng mạo, không luận trú xứ... Mà, bất kì một ai trên cõi đời này, nếu hiểu đúng giáo pháp, thực hiện đúng giáo pháp...cho dù ở đâu, làm việc gì... đều có thể thành tựu như pháp những gì cần thành tựu từ giáo pháp...!!!
Xin chuyển đến mọi người bài viết trả lời Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 của Lý Minh Thuỳ !!!
12/06/2020
LÝ TỨ
Con kính chào thầy!
Con xin được tham gia Trò Chơi Trí Tuệ kì này, kính chúc thầy nhiều sức khỏe và đồng kính chúc huynh đệ tỉ muội Lý Gia ngày càng tinh tấn tu học, gặt hái nhiều thành công hơn nữa.
1) Trong tu học, một người chỉ chú trọng đến Giáo tông mà không hề thực chứng Tâm tông... Người này có thể tiếp cận đến giai đoạn nào (mức độ nào) của Giáo tông ??? Vì sao như vậy ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Một người chỉ chú trọng đến giáo tông mà không hề thực chứng tâm tông...người này chỉ có thể tiếp cận được phần lý thuyết tức là hiểu phần văn tự của giáo tông vì rằng giáo tông cũng bao gồm hai giai đoạn, học đọc và tiệm tiến tu hành, tuy một vị tiệm tiến tu hành theo giáo tông nhưng về kết quả tu chứng vẫn tương đương với kết quả tu chứng bên tâm tông, câu hỏi ở đây là: "không hề thực chứng bên tâm tông" có nghĩa là vị này chưa hề thực chứng bất kì điều gì trong Phật Đạo.
Để giúp vấn đề cụ thể và sáng rõ ta có thể tìm hiểu quá trình tu học của một vị thanh văn, sau khi nghe Phật thuyết một thời kinh các vị tìm cho mình một gốc cây để thiền tư, tức là tư duy về lời kinh nhằm chiêm nghiệm trên chính bản thân mình để thấu suốt vấn đề, rồi sau đó lời kinh chính là kim chỉ nam cho đời sống của các vị ấy, cứ như vậy một chu trình lặp lại nghe kinh, tư duy, thực chứng, đời sống, tiệm tiến tu hành như vậy và lần lượt các vị ấy thoát khỏi sự ràng buộc của ba cõi dục, sắc, vô sắc giới, để chứng quả vị a la Hán hoàn thành diệt đế.
Chư Thanh Văn có ngài A Nan, dù ngài có danh hiệu là đa văn bậc nhất trong hàng thanh văn, có thể ghi nhớ tất cả lời Phật dạy (lý thuyết) nhưng cho đến khi Phật nhập Niết bàn ngài vẫn chưa thể giác ngộ, thế mới biết rằng biết lý thuyết là một chuyện nhưng nếu như không tìm thấy những điều đó ở chính bản thân mình, trong thân, thọ, tâm, pháp thì việc giác ngộ còn rất xa xôi, thậm chí nhiều người còn ôm đống lý thuyết mà cứ tưởng mình đã giác ngộ...thật khôi hài biết bao.
Giác ngộ gồm giác tức là biết còn ngộ là thấy rõ ràng, cũng như hai phần lý thuyết và thực chứng, hai phần không thể tách rời nếu muốn giác ngộ như pháp, có lý thuyết mà không có thực chứng thì chỉ là mớ lý thuyết suông, chỉ có thể đem ra ngoài đời "chém gió", chứng tỏ ta đây một bụng kinh Phật, ta đây hơn người, học rộng biết nhiều nhưng bên trong thì vẫn tham, sân, si, phiền não, lâu hoặc đủ cả chẳng khác chi người đời.
2) Trong tu học, một người chỉ chú trọng đến Tâm tông mà không hề biết đến Giáo tông... Người này có thể thân chứng toàn bộ các cảnh giới của Phật đạo hay không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Theo con, vị tu hành chỉ chú trọng đến tâm tông mà không hề biết đến giáo tông...người này có thể thân chứng toàn bộ các cảnh giới Phật đạo và vị này chính là Phật hoặc Bích Chi Phật.
Trước khi Phật ra đời vốn không có một pháp nào gọi là phật pháp, cũng không có hệ thống giáo lý kinh điển, nhưng các vị Bích Chi Phật đã tự tu tự chứng thành Phật Độc Giác, còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là người đã nổi mây mưa pháp để đem những điều mình đã giác ngộ cứu giúp chúng sanh đang trôi lăn trong các đường ác.
Có người bảo rằng lục tổ Huệ năng chưa hề biết chữ, chưa đọc tụng kinh điển nhưng đã giác ngộ, nhưng theo con lục tổ giác ngộ cũng nhờ câu kinh Kim Cang dẫn đường chỉ lối, dù rằng quá trình tu chứng diễn ra quá nhanh, chỉ một câu: “Ưng vô sở trụ sinh nhi kì tâm" mà giác ngộ dứt bỏ tâm mê nhưng sau đó vẫn phải tìm thầy chỉ dạy. Lục tổ chỉ có thể giác ngộ hoàn toàn khi được ngũ tổ thuyết phần cốt lõi trong kinh Kim Cang, nên không thể nói rằng lục tổ không hề biết đến giáo tông, chỉ là lục tổ chỉ cần thấu suốt một câu, một chữ trong kinh là đã có lối vào, rồi giác ngộ tất cả các cảnh giới.
Trong đời sống thật, có rất ít các vị tu hành chỉ nghe một lời kinh mà vào đạo nhanh chóng như lục tổ hay trong thời đại mạng lưới internet bùng nổ, các thông tin về Phật pháp, các bài giải luận, kinh điển Phật lan truyền trong dân chúng, bảo rằng có một vị ở nơi còn sơ khai không được Phật pháp soi sáng, dẫn lối chỉ đường mà vẫn cần vào rừng sâu núi thẳm tu luyện thành độc giác phật thì lại càng hiếm.
Bởi vậy đa phần người tu hành ngày nay áp dụng cách thức kết hợp cả tâm tông và giáo tông trong tu học, trước vì mê lầm vô minh mà không thấy rõ bản thân đang chìm đắm trong ngũ dục, mê đắm quan điểm quan niệm rồi chấp chặt vào đó mà sinh tâm sinh pháp, nay đọc trong giáo pháp, kinh điển của Phật đã chỉ rõ con đường hết ngu mê lầm, chỉ rõ nguồn tâm để người tu hành tiệm tiến tu tập, sở dĩ phải tiệm tiến tu tập bởi vì tập khí chấp trước nhiều đời nhiều kiếp khó thể từ bỏ ngay được, trước hết là phải làm mỏng nhẹ phiền não, tạo môi trường phát sinh các hiểu biết mới, sau khi sống trong môi trường này, mầm trí tuệ mới có thể phát triển và tiến tới chấm dứt hoàn toàn vô minh, tâm thức sạch sẽ các mầm mống phiền não, mới có thể học các pháp môn của nhất thiết trí, cuối cùng vị này thành tựu, nổi mây mưa pháp giáo hoá chúng sinh cùng thành tựu như mình.
Như lời thầy đã dạy: "Người xưa thường ví Giáo tông và Tâm tông trong Phật đạo như đôi cánh của một con chim, như hai chân của một người... Con chim mà đôi cánh không hoàn hảo sẽ không thể bay cao, bay xa...Con người mà đôi chân không lành lặn, sẽ khó có thể hoàn thành hành trình dài hơi đầy khó khăn, nhiều thử thách !!!” Nhưng Kho tàng kinh Phật, giáo pháp lại quá nhiều khiến cho người mới bước vào con đường tu tập sẽ cảm thấy quá choáng ngợp, hoang mang không biết bắt đầu từ đâu, cách tốt nhất là phải tìm một người thầy dẫn đường chỉ lối. Giống như một người có đủ phương tiện, có tấm bản đồ đi tìm kho báu, nhưng vị này lại không biết đọc bản đồ nên đọc sai vị trí kho báu và cuối cùng vị này có đi nhưng chẳng tìm được báu vật. Người thầy chính là vị đã rành mạch về các con đường và các chướng ngại có thể gặp phải, vị ấy đã đi và tìm thấy kho báu đích thực và chỉ có người đã đi và rành mạch thực địa mới có thể chỉ lại cho người cũng muốn tìm kho báu như mình. Và cũng vậy, người thầy đã giác ngộ sẽ chỉ cho người cùng giác ngộ.
3) Trong việc giáo hoá (giúp người)... Người giáo hoá bị hạn chế (không am tường) Giáo tông, khi tuyên thuyết các pháp... Sẽ dẫn đến điều gì (điều gì xảy ra) ??? Vì sao điều ấy xảy ra ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Ở đây có hỏi người giáo hoá giúp người nhưng không am tường giáo tông, giả sử họ còn chưa thực chứng bất kì điều gì của tâm tông thì tất nhiên có hệ quả là giáo hoá không hiệu quả...giống như một người mù dẫn một người mù đi trên đường, người mù dẫn đường chỉ biết về địa điểm sắp đến là ngôi nhà màu xanh, người mù đi theo thì chẳng biết gì về địa điểm sắp đến, người mù dẫn đường chẳng biết địa điểm sắp đến có chướng ngại gì cần vượt qua, làm sao biết là đã đến đích, mà còn dẫn theo một người mù nữa thì tất nhiên cả hai sẽ cùng lạc lối.
Còn trường hợp một người đã giác ngộ tâm tông nhưng không am tường giáo tông, họ chỉ giáo hoá được một số đối tượng, đó là những người hoàn toàn tin tưởng vào những gì vị này đã thực chứng, họ chỉ cần làm theo những điều vị này đã hướng dẫn và kết quả là cũng có những chuyển biến tâm thức rồi khi càng tin tưởng càng ứng dụng, giác ngộ sẽ tương ưng với những gì vị kia đã chứng.
Nhưng đối với những đối tượng đã đọc tụng nhiều kinh điển, việc không am tường Phật pháp sẽ dẫn đến việc không tin tưởng, từ không tin này thì lời nói của họ sẽ không có sức nặng, việc giáo hoá sẽ thất bại, chưa nói đến là sẽ bị cho là chẳng biết gì, ngu ngốc mà bày đặt dạy người....một người đã đọc tụng kinh điển, cái họ cần là một người có thể thuyết cho họ nghe về các thuật ngữ, làm sao để thâm nhập, làm sao có thể ứng dụng chúng vào đời sống, thế nhưng vị giác ngộ tâm tông chỉ thực chứng nhưng về giải thích các khái niệm hay phân tích nội dung kinh điển thì họ bó tay.
Cũng có những vị giác ngộ sâu sắc như Lục Tổ Huệ năng, có thể nói Lục Tổ chỉ cần ngộ một kinh Kim Cang mà không cần biết tất cả các kinh điển khác nói gì, nhưng chỉ cần người hỏi đọc một bài kinh và phần dịch nghĩa, lục tổ có thể giải thích và đưa người giác ngộ tương ưng, tại vì sao lại có sự khác biệt như vậy? Đơn giản vì kinh điển có nhiều bởi vì chúng sinh có nhiều bệnh, 84 ngàn bệnh thì có 84 ngàn pháp môn tương ứng, Phật là vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc, cũng là bởi tâm hư vọng của chúng sanh biến hoá khôn lường, người mê ái dục, người chấp không, người chấp tâm, người chấp pháp...nhưng tất cả không ngoài bốn món thân thọ tâm pháp mà biểu hiện, những gì Phật thuyết không ngoài việc chỉ ra cho chúng sinh đây là khổ, đây là nguyên nhân gây ra khổ não, đây là con đường đưa đến diệt khổ, và đây là đời sống của người đã hết khổ...bậc giác ngộ sâu như Lục Tổ tất sẽ biết những điều này và khéo léo chỉ dạy cho người.
4) Trong việc giáo hoá (giúp người)... Người giáo hoá chưa từng kinh qua thực chứng, khi tuyên thuyết các pháp... Hiệu quả việc tuyên thuyết đó sẽ như thế nào (hiệu quả đến đâu) ??? Vì sao như vậy ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Trong việc giáo hoá...người giáo hoá chưa từng kinh qua thực chứng nhưng lại hiểu biết các pháp...hiệu quả việc tuyên thuyết sẽ có tác dụng tới từng đối tượng cụ thể như sau:
Đối tượng tuyên thuyết là người hiếm có như lục tổ Huệ Năng, chỉ cần nghe một câu kinh, lập tức có chỗ vào, liền thấy được chân lý, rơi rụng phàm tâm. Ngày xưa có câu chuyện lúc Phật còn là Bồ tát tu khổ hạnh trong rừng sâu, có con quỷ nói hai câu kệ, đức Phật liền biết đó là chân lý và không tiếc thân mạng mà trao đổi với con quỷ hòng nghe được hai câu cuối bài kệ. Ta có thể hiểu rằng chân lý dù được nói ra bởi người đã thực chứng hay chưa có thực chứng thì đó vẫn là chân lý không thể thay đổi, người nói đó có thể nghe thấy ở đâu đó, hay là đọc tụng kinh điển rồi nói ra, có thể chính bản thân người nói chưa thể thấu suốt những điều này, nhưng khi tuyên thuyết với các vị có sẵn căn cơ như vậy thì không cần họ phải hiểu rõ để giải thích cụ thể.
Đối tượng tuyên thuyết là những người đã tiếp cận với giáo pháp, nếu người tuyên thuyết chưa thông qua thực chứng thì không khác gì với đối tượng muốn tuyên thuyết, hai bên đều một bụng kinh văn nhưng về thực chứng thì mặt mũi nó ra sao không hề biết, làm thế nào để hiểu rõ hơn những vấn đề trong kinh sách hay làm sao để ứng dụng vào đời sống thì người tuyên thuyết cũng không hề biết nốt... Việc tuyên thuyết này sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho đối tượng, thậm chí là sẽ phát sinh nhiều tà kiến, chấp trước hơn và mỗi người sẽ ôm cục tức ra về và còn nguyên phiền não lậu hoặc.
Đối tượng tuyên thuyết là người chưa từng tiếp cận giáo pháp: Với đối tượng này, việc tuyên thuyết sẽ có hiệu quả giai đoạn ban đầu, giúp đối tượng tiếp cận với giáo pháp, và họ cũng sẽ hiểu về mặt văn tự, nhưng cách giáo hoá này không gọi là giúp người giác ngộ, hết khổ đau, phiền não, mà chỉ tạo ra những người có tri thức. Việc làm này đem lại không nhiều lợi ích cho đối tượng được tuyên thuyết, thậm chí là phản tác dụng trong nhiều trường hợp. Bởi vì người tuyên thuyết không thực sự giác ngộ nên sẽ không biết được căn cơ nào nên tuyên thuyết gì, nội dung tuyên thuyết có đúng lúc đúng thời điểm hay không...dẫn đến khi tuyên thuyết sẽ không đúng lúc, đúng thời và nội dung tuyên thuyết không phù hợp với đối tượng tuyên thuyết. Ví dụ các kinh giáo Đại Phương Quảng Phật, các kinh liễu nghĩa giáo Bồ Tát có rất nhiều cảnh giới bất khả tư nghì, khi tuyên thuyết với đối tượng chưa hề biết về giáo pháp thì họ sẽ dễ dàng rơi vào mê tín dị đoan, tin vào có ma quỷ, các thế lực bên ngoài có thần thông phép thuật...ngoài ra đối tượng này còn không thể hiểu được nội dung kinh muốn truyền đạt là gì chứ đừng nói là ứng dụng tu tập.
Đối tượng tuyên thuyết là ngoại đạo, với kiến chấp nặng nề thì việc giáo hoá (mà không qua thực chứng) càng không mang lại hiệu quả. Đối tượng này trong tâm tưởng đã chấp chặt những quan điểm, quan niệm của tư tưởng các hệ tôn giáo hay đạo khác, để họ có thể tiếp nhận giáo pháp lại càng khó khăn, một người tuyên thuyết mà vốn giác ngộ đã không sâu thì sau khi tuyên thuyết cho đối tượng này còn dễ bị phản bác ngược lại và họ sẽ lấy các quan điểm của ngoại đạo tuyên nói. Nếu tâm thức của người thuyết chưa rõ ràng sẽ bị thâm nhập thêm tri kiến của ngoại đạo, vì không có giác ngộ nên không đủ luận cứ, cũng không đủ sức thuyết phục để bẻ gãy quan điểm của ngoại đạo.
Chính vì vậy, theo con, nếu người tu tập nhưng chỉ mới biết văn tự mà chưa kinh qua thực chứng, vốn không nên tiến hành việc giáo hoá. Vì việc giáo hoá này không mang đến nhiều lợi ích, các đối tượng có sẵn căn cơ để tự giác ngộ ngày nay thì không cần đến mình phải tuyên thuyết, mà việc nhận biết căn cơ đối tượng tuyên thuyết để tuyên thuyết nội dung nào phù hợp, nội dung nào chưa thì người chưa từng kinh qua thực chứng cũng không thể nào biết nổi...Muốn giúp người là điều người tiếp cận Phật pháp ai ai cũng muốn làm, nhưng trước hết phải tự cứu được chính mình, phải tự thực chứng giác ngộ...Con xin trích lời kinh Duy Ma Cật như sau thay cho lời kết: "Người không bị ràng buộc mới dạy cách mở cho người ràng buộc. Đang bị ràng buộc mà dạy cách mở ràng buộc cho người khác là chuyện không thể có. Mình không bị ràng buộc, mở ràng buộc giúp cho người khác là việc dễ dàng! Thế nên Bồ Tát không nên làm những điều gì khiến cho mình bị ràng buộc".
Con, Lý Minh Thùy
Chủ Đề: Giáo Tông Và Tâm Tông
Trò chơi trí tuệ số 04.2020 với chủ đề Giáo Tông Và Tâm Tông

Các bạn !!!
Như vậy là, chúng ta đã tổ chức thành công ba kì Trò Chơi Trí Tuệ của năm 2020 !!! Cứ mỗi kì TCTT diễn ra, hầu hết HĐ của chúng ta tập trung nghiên cứu, thu thập tài liệu, tư duy, thể nhập để làm sáng tỏ đề tài của kì TCTT đó... Nhờ thế, sức rộng và chiều sâu của HĐ chúng ta ngày một sâu rộng hơn !!!
Phật đạo luôn nhắc đến hai từ “viên mãn” !!! Ở góc nhìn nào đó, viên mãn còn mang ý nghĩa về sự toàn bích của hai thành phần chính làm nên Phật đạo, đó là Giáo tông và Tâm tông !!! Người xưa thường ví Giáo tông và Tâm tông trong Phật đạo như đôi cánh của một con chim, như hai chân của một người... Con chim mà đôi cánh không hoàn hảo sẽ không thể bay cao, bay xa...Con người mà đôi chân không lành lặn, sẽ khó có thể hoàn thành hành trình dài hơi đầy khó khăn, nhiều thử thách !!!
Giáo tông chính là hệ thống giáo lí, toàn bộ kinh điển nhà Phật !!! Tâm tông là sự thấu suốt, thực chứng những gì mà hệ thống giáo lí hay kinh điển đã đề cập đến !!! Ta có thể hiểu, Giáo tông giống như tấm bản đồ hoàn hảo...Tâm tông giống như những gì hiện hữu từ thực địa !!! Đây cũng là lí do vì sao Phật đạo có một khối lượng kinh điển đồ sộ như các bạn đã thấy... Và đây cũng là lí do vì sao, người không thực chứng sẽ không thể hiểu thật nghĩa của lời kinh !!!
Phật đạo là chân lí, mà chân lí chính là sự thật hằng hữu trong mỗi pháp... Mà, đã là sự thật hằng hữu thì không có cái được gọi là bí mật !!! Vì thế, cái cớ sự được gọi là “bí” chỉ xảy ra khi người ta không hiểu (điều gì đó)... Cái cớ sự được gọi là “mật” chỉ xảy ra khi người ta không thấy (điều gì đó)... Ta có thể tạm hiểu: Không hiểu gọi là bí, không thấy gọi là mật !!! Để con đường tu tập và giáo pháp không còn bí mật, người tu hành thành tựu Giáo tông sẽ giải quyết cớ sự bí, cho ra Thuyết thông... Thành tựu Tâm tông sẽ giải quyết cớ sự mật, cho ra Tông thông !!! Vì thế, kinh Lăng Già Phật dạy: “Ta có hai thứ thông, Thuyết thông và Tông thông, thuyết dạy kẻ đồng mông, tông vì người tu hành...”. Tổ Huệ Năng cũng nói: “Thuyết thông và Tông thông, như mặt trời giữa hư không, duy truyền pháp kiến tánh, xuống thế phá tà tông...”. Thiết nghĩ, lời Phật (Vị khai sáng Phật đạo) và lời Tổ Huệ Năng (Vị Tổ cuối cùng được chánh truyền đạo ấy) đã nói lên sự quan trọng của Giáo tông và Tâm tông là như thế nào !!!???
Có một vài lần mình cũng đã tâm sự với các bạn, Giáo tông và Tâm tông giống như chiêu thức và nội lực của người luyện võ công... Giáo tông như chiêu thức, Tâm tông như nội lực !!! Người chỉ có chiêu thức mà không có nội lực, khi lâm trận, chiêu thức kẻ ấy triển khai không khác gì phủi bụi trên người đối thủ !!! Người có nội lực mà không biết chiêu thức, khi lâm trận, người ấy chỉ biết đưa cái thân chịu đòn, như cái bao đựng cát dùng cho người tập luyện đấm đá !!!
Để giúp các bạn có cơ hội và thời gian tư duy, nghiền ngẫm về tầm mức quan trọng của Giáo tông và Tâm tông đối với người tu hành là như thế nào !!! Trò Chơi Trí Tuệ kì này, BQT có một số câu hỏi liên quan đến hai vấn đề trên !!! Nội dung các câu hỏi như sau:
1) Trong tu học, một người chỉ chú trọng đến Giáo tông mà không hề thực chứng Tâm tông... Người này có thể tiếp cận đến giai đoạn nào (mức độ nào) của Giáo tông ??? Vì sao như vậy ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
2) Trong tu học, một người chỉ chú trọng đến Tâm tông mà không hề biết đến Giáo tông... Người này có thể thân chứng toàn bộ các cảnh giới của Phật đạo hay không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
3) Trong việc giáo hoá (giúp người)... Người giáo hoá bị hạn chế (không am tường) Giáo tông, khi tuyên thuyết các pháp... Sẽ dẫn đến điều gì (điều gì xảy ra) ??? Vì sao điều ấy xảy ra ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
4) Trong việc giáo hoá (giúp người)... Người giáo hoá chưa từng kinh qua thực chứng, khi tuyên thuyết các pháp... Hiệu quả việc tuyên thuyết đó sẽ như thế nào (hiệu quả đến đâu) ??? Vì sao như vậy ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
* Hạn chót nhận trả lời: Thứ Bảy, ngày 30/05/2020 (nhằm Phật Đản 8/4 Canh Tý) !!!
* Bài viết xuất sắc, sẽ được BQT tuyên dương và đăng chính thức trên FANPAGE LÝ TỨ cũng như WEBSITE LYTU.VN !!!
BQT rất mong, nhận được những trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
16/05/2020
LÝ TỨ
Tổng Kết Chủ Đề: Con Đường Giúp Người Thành Tựu Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt
Tổng kết Trò chơi trí tuệ số 05.2020 với chủ đề Con Đường Giúp Người Thành Tựu Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt

Các bạn !!!
Sau gần nửa tháng, từ khi khởi động TCTT - 05/2020 !!! BQT đã nhận được rất nhiều bài viết của HĐ gởi về...!!!
Và, một điều rất hoan hỉ đó là, hầu như có đến 98% số bài viết đáp ứng yêu cầu các câu hỏi đặt ra...Vì có quá nhiều HĐ trả lời đúng, việc phải lựa chọn một số bài tiêu biểu hội đủ ba tiêu chí đúng, hay, lập luận thuyết phục là điều không dễ, BQT phải đọc nhiều lần và cân nhắc thận trọng !!!
Sau khi thẩm định, đánh giá, so sánh... BQT nhất trí chọn bài viết của các HĐ sau đây để trao quà Trò Chơi Trí Tuệ - 05/2020 !!!
1)Lý Thiện Cảnh - Cần Thơ
2)Lý Hậu Vệ - Cần Thơ
3)Lý Ngọc Thuý - Cần Thơ
4)Lý Thái Đăng - Tây Nguyên
5)Lý Ngọc Uyên - Tây Nguyên
6)Lý Minh Thuỳ - TP Hồ Chí Minh
7)Lý Giác Thư - Hà Nội
8)Lý Phương Anh - Hà Nội
9)Lý Thiện Huệ - An Giang
10)Lý Nhạn Ảnh - Quảng Nam
Các bài viết của HĐ tương đối dài, dung lượng của trang có giới hạn... Vì thế, BQT chỉ giới thiệu đến các bạn hai bài viết tiêu biểu của Lý Phương Anh và Lý Thái Đăng để mọi người tham khảo...!!! Những bài viết còn lại, sẽ được BQT đăng vào thời điểm thích hợp !!!
Chân thành cảm ơn các bạn !!!
Hẹn gặp lại ở TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 06/2020 !!!
30/06/2020 !!!
LÝ TỨ
1. Bài viết của Lý Phương Anh
Kính Thầy,
Con xin trả lời các câu hỏi của Trò chơi trí tuệ chủ đề: CON ĐƯỜNG GIÚP NGƯỜI THÀNH TỰU NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP VÔ DỊ BIỆT. Kính mong Thầy và các HĐTM góp ý, chỉ dạy thêm cho con được tỏ tường.
1) Vì sao, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu...Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ???
Thưa thầy,
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói: “Đại sự nhân duyên của Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Có nghĩa: Phật ra đời chỉ có một mục tiêu duy nhất là dạy người thành Phật.
Tuy nhiên những điều của Phật, một chúng sanh không thể học được do vẫn mang trong mình những tính chất của chúng sanh. Giống như một người mù thì không thể học màu sắc, không thể học hội hoạ; một người người bị què chân thì không thể học môn điền kinh. Thì cũng như vậy, nếu hữu tình vẫn còn mang trong mình nguyên chất chúng sanh, khi Phật dạy điều gì, điều đó cũng trở thành chúng sanh. Một người mê thì dạy cái gì cũng thành kết quả của mê. Một người còn tâm tham thì có dạy trí tuệ siêu việt gì thì trí tuệ này cũng nhằm để phục vụ cho kiết sử, phục vụ cho tâm tham, sân, si của người ấy. Kết quả sẽ không thể như những gì Phật đạo mong muốn.
Do đó Tư lương vị và Kiến đạo vị ra đời nhằm làm công việc triệt tiêu tính chất chúng sanh trong một hữu tình. Khi chất chúng sanh đã được triệt tiêu, tịch diệt hết thì bây giờ chúng sanh này mới có thể học được văn hoá của Phật. Gọi là Tu, hay Tu Đạo Vị, tức Đạo Đế (tu trí tuệ của Phật). Ví như một người mù đã được chữa cho sáng mắt giờ mới có thể nhận biết một cách chính xác màu sắc và học hội họa. Hay như một người què chân sau khi đã được chữa cho lành chân, khỏe mạnh giờ đây mới có thể đi, đứng, chạy, học môn điền kinh.
(Cũng cần phải làm sáng tỏ một chút về chữ Tu ở đây. Phần lớn người đời sử dụng chữ “tu” trong suốt quá trình từ dấn thân tu hành cho tới thành tựu. Điều này không sai nhưng để phân tích theo góc độ chuyên môn, kĩ thuật Phật đạo thì cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác. Phật là đấng trí tuệ, Phật ra đời chỉ có một mục tiêu duy nhất là dạy người thành tựu trí tuệ của Phật. Như vậy người tu hành trong Phật Đạo là tu cho thành trí tuệ (Chánh Đẳng Chánh Giác), học là học cái trí tuệ, lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Do vậy mới nói “Duy tuệ thị nghiệp”, chữ tu cần phải hiểu theo nghĩa này.)
2) Ý nghĩa tứ niệm xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng khác nhau như thế nào??? Ba tầng bậc đó giải quyết bốn niệm xứ ra sao??? Đề nghị giải thích rõ cách giải quyết của từng tầng bậc và cứu cánh của nó???
Thưa thầy,
Tuy đều là trên bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp tuy nhiên Tứ Niệm Xứ được chia ra 3 tầng bậc khác nhau là: Tứ Niệm Xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng. Trong đó, mỗi tầng bậc có một cách giải quyết và cứu cánh khác nhau, từ cạn đến sâu. Cụ thể:
- Tầng thứ nhất: Tứ niệm xứ của thế gian.
Người đời và Nhị thừa có những quan niệm, hiểu biết sai lệch về bốn món Thân Thọ Tâm Pháp, vô thường mà tưởng là thường. Từ đó, những tính chất nhất thời trong một hữu tình hiện khởi, che mờ tâm trí, làm cho khổ đau phiền não.
Do vậy, ở tầng bậc này, cứu cánh là giải quyết cái khổ của thân thọ, tâm, pháp vô thường. Và Phật dạy cách giải quyết là: “Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.”
Cách giải quyết này thiên về việc dựa vào những thấy biết trong hiện tại nhân nơi một hiện tượng (thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã), từ đó người ta tìm cách lánh xa hiện tượng hoặc cắt đứt liên hệ với hiện tượng. Có thể thấy cách giải quyết này được phản ánh rõ trong hai triết lý là, triết lý yểm ly xa lánh và triết lý chế ngự tham ưu của Thanh Văn và Duyên Giác. Với tinh thần chủ động yểm ly, chủ động tỉnh giác, chủ động ngăn ngừa, phòng tránh và chế ngự đưa đến cứu cánh hết khổ.
- Tầng thứ hai: Tứ niệm xứ của Xuất thế gian.
Cứu cánh là thành tựu thân, thọ, tâm pháp giải thoát tức cũng mang cái thân này thọ, tâm, pháp này nhưng nó không còn trói buộc. Đối với tầng bậc này, Phật dạy: Tất thảy do duyên hiệp, thân thọ tâm pháp cũng đều do duyên hiệp và “Quán thân đồng như hư không, quán thọ không trú xứ (chẳng ở trong, chẳng ở ngoài chẳng ở chặng giữa), quán tâm chỉ là danh tự (tánh danh tự rời rạc), quán pháp không tánh (thiện chẳng thể được bất thiện chẳng thể được).” (Kinh Đại Niết Bàn)
Ở tầng bậc này, cách tiếp cận Tứ Niệm Xứ gần gũi với chân lý và thiên về trí tuệ hơn, khách quan, tìm đến bản chất của sự việc hơn là hiện tượng như ở tầng bậc thế gian. Với triết lý “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, Bồ tát thừa tư duy, mổ xẻ, tìm xem cái gì là Tâm, cái gì là Pháp, bản chất của Tâm của Pháp là gì. Khi hiểu được bản chất của Tâm và Pháp, Bồ Tát tìm kiếm nguyên nhân vì sao một hữu tình phiền não sanh diệt. Khi trực nhận ra rằng tất cả chỉ một niệm Mê, khi Mê thì Tâm sanh Pháp sanh, dứt Mê Tâm Pháp đồng tịch diệt, tất cả đồng hư không. Tứ Niệm Xứ vẫn còn đó nhưng đồng không xứ. Tức cũng vẫn mang thân này, thọ tâm pháp này nhưng Thân Thọ Tâm Pháp giải thoát không còn trói buộc. Do giác ngộ, giải quyết tận gốc rễ mọi vấn đề như vậy mà thành tựu Niết Bàn Chân Đế.
- Tầng thứ ba: Tứ Niệm Xứ của Xuất thế gian thượng thượng.
Cứu cánh là thành tựu Thân Thọ Tâm Pháp thường, tức có đủ các tính chất cao đẹp của Trí tuệ: Thân tịnh, thọ lạc, tâm thường, pháp ngã (bốn tính chất: Thường, ngã, lạc, tịnh của Đại Niết Bàn).
Để thành tựu điều này, Bồ Tát Nhất thừa lấy Tứ Niệm Xứ là bốn nơi chốn để phát tâm Vô thượng Bồ Đề, là đạo tràng để hoàn thành sứ mạng của mình, thành tựu Đạo nghiệp. “Nhất thừa lấy việc dạy người làm mục tiêu tu học, lấy thành tựu của người làm thành tựu của mình, lấy việc chữa bệnh cho người để mình hết bệnh. Họ coi Tứ Niệm Xứ là bốn nơi chốn “lập đàn thí pháp”, nơi đây sẽ giúp họ tích lũy công đức và trí tuệ, hai thứ không thể thiếu trong Phật đạo, nếu muốn thành tựu đạo quả cao nhất.” (Lý Tứ- Anh Lạc Luận). Từ đó đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp thường hằng.
Như vậy, tuy chia chẻ làm 3, nhưng các tầng bậc của Tứ Niệm Xứ thực chất là các giai đoạn lần lượt trong một quy trình công nghệ rất khoa học, đồng hướng về một mục đích là: Chuyển hóa một sản phẩm từ tầm thường, giá trị nhỏ (phàm phu vô văn tứ đảo tưởng, thân thọ tâm pháp chứa đầy nhiễm ô, nặng khổ đau phiền não) thành siêu việt, mang giá trị to lớn, hữu ích, tuyệt phẩm Trí tuệ (Siêu nhân loại - Bồ Tát Ma Ha Tát với đủ các tính chất Thường, Ngã, Lạc Tịnh của Đại Niết Bàn).
Đây cũng chính là con đường để giúp người thành tựu nhiếp thọ Chánh pháp vô dị biệt.
3) Trong thập bát bất cộng của Phật, điều thứ sáu: “Vô bất tri dĩ xả” ... Có nghĩa: Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả...!!! Theo lời dạy này, người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu) ...Hệ quả của việc xả bỏ này là gì??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ cụ thể!!!???
Thưa thầy,
Người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu) với một niềm tin rằng không cần hiểu tận nguồn cơn, không cần thông suốt cứ xả bỏ là sẽ được cái rỗng rang, đưa đến thành tựu đạo quả. Nếu điều này đúng thì “thất học” hẳn là con đường ngắn nhất để đưa một đứa trẻ ngu ngơ… thành nhân tài!!! Và nếu thứ triết lý này là chân lý thì hẳn không cần có nhà trường có thầy cô, không cần giáo dục con trẻ, Phật đạo cũng chẳng cần giáo lí, kinh điển.
Một đứa trẻ không đến trường, không học tập thì đúng là đứa trẻ sẽ rỗng rang không phiền hà bởi việc học nhưng sẽ mãi chỉ là một đứa trẻ ngu ngơ, là con người nhưng trí tuệ chỉ dừng lại ở bản năng con vật…
Đời đã như vậy thì Đạo chẳng thể khác. Nếu cứ theo cái niềm tin vô căn cứ rằng cứ xả bỏ mọi thứ mà không cần biết vì sao, như thế nào, đúng hay sai, chân hay vọng, thì hệ quả là đúng mọi thứ sẽ được xả bỏ, còn lại một thứ là… cái sự ngu nghê!!!
Vậy Phật là Đấng trí tuệ hay Đấng ngu nghê đây???!!! Đó là chưa nói đến cái khẩu hiệu đầu môi “cứ xả bỏ mọi thứ” thực chất chỉ là một sự tự gạt gẫm mình, chứ thực tế mình nói bỏ nó mà nó có chịu bỏ mình không lại là một chuyện khác. Khi chưa hiểu biết, thấu suốt thì chẳng phải bảo bỏ là bỏ được, nói buông là buông được, bỏ đầu môi chóp lưỡi nhưng sâu thẳm bên trong tham sân si vẫn còn nguyên, bất di bất dịch, chờ cơ hội bùng nổ.
Vì vậy, trong thập bát bất cộng của Phật điều thứ sáu:” Vô bất tri dĩ xả” … có nghĩa: Như Lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả.
Và Phật cũng dạy: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”
Điều này có nghĩa để tới Niết bàn an vui, thành tựu Trí tuệ phải đi theo ánh sáng được soi rọi từ ngọn đuốc Chánh pháp, phải Văn (nghe, học) - Tư (Tư duy thấu suốt nguồn cơn) - Tu (thực hành tới nơi tới chốn). Chứ không phải là bước đi trong tăm tối, đi chỉ bằng niềm tin trong sự ngô nghê, mê muội không cần hiểu không cần thấu suốt mà cứ xả bỏ, là thiếu cơ sở, vô căn cứ, không khoa học và phản giáo dục.
4) Vì sao Bồ Tát phải nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh là: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh ??? Nếu Bồ Tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết, có thể thành tựu Bồ Tát Đạo hay không??? Xin giải thích vì sao như vậy ???
Thưa thầy,
Theo con, Bồ Tát phải Nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh vì ngũ minh chính là chất liệu làm nên 2 yếu tố quan trọng là Nội lực và Chiêu thức, giúp Bồ tát hành Bồ tát đạo độ thoát chúng sanh. Nếu Bồ tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết thì rất khó để thành tựu Bồ Tát Đạo.
Có thể phân tích từng thứ minh để thấy rõ như sau:
- Nội minh: Có nghĩa Bồ tát cần nắm vững nội điển kinh luận, nghiên cứu thấu suốt, giác ngộ, thân chứng. Nếu không nắm vững nội điển thì sẽ không thể thuyết cho người được hoặc thuyết sai. Mà trong Phật đạo cũng giống như giáo dục ngoài đời, một người bình thường hiểu sai chưa phải là điều gì rất nghiêm trọng, nhưng một người giáo viên mà sai, rồi hướng dẫn cái sai này cho nhiều người khác thì điều này là không nên.
- Ngoại minh: Tức phần ngoại điển. Bồ tát cần phải có cả ngoại minh vì nếu chỉ nắm vững nội minh, nắm vững giáo pháp không thôi mà không có một số hiểu biết bên ngoài, hiểu biết một số điều cơ bản về mặt xã hội, triết lý, tôn giáo, văn hoá..v..v... trong thế gian thì cũng sẽ gây hạn chế, khó chiết phục tâm người thế gian.
- Thanh minh: Có nghĩa là biết nghe tiếng tâm của người, thông qua cách nói thông qua hình ảnh của người mà biết trong lòng họ muốn gì, bị kẹt mắc điều gì. Đây chính là năng lực tương thông tâm ý. Năng lực này rất quan trọng. Bởi người đời vốn đa tâm, nguồn tâm chảy ào ạt như một dòng thác lũ chồng chất rối rắm, nếu Bồ Tát không có Thanh minh, không có khả năng tương thông tâm ý thì rất khó để thấy “yếu huyệt” thấy “cửa vào”, đã không chỉ được tâm thì rất khó mà điều phục. Giống như một người đi bắt thú dữ mà không biết con thú ở đâu, hình dáng màu sắc con thú như thế nào thì việc bắt thú là vô phương chứ chưa nói đến điều phục thú.
- Y phương minh: Giống như một vị bác sĩ biết bắt mạch cho thuốc, thì y phương minh với Bồ tát là biết bệnh của chúng sanh mà cho thuốc Phật pháp phù hợp. Bồ tát dù có nguyện lớn độ thoát chúng sanh nhưng nếu khiếm khuyết y phương minh, giống như dược sĩ có sẵn một kho dược liệu, thương bệnh nhân nhưng cũng không biết cách nào mà chế thành thứ thuốc cho phù hợp, dứt bệnh.
- Công xảo minh: Ý nói mặt kĩ thuật, sự thiện xảo của Bồ tát trong giáo hoá. Giống như người nghệ nhân khéo léo bằng vài đường đục đẽo mà có khả năng biến một thân cây thành một bức tượng hoàn hảo. Bồ tát không có công xảo minh giống như người thợ tay nghề hạn chế, trong đầu đã có ý tưởng về bức tượng nhưng thực tế thực hiện thì vụng về, cù cưa, không biết tận dụng những nguồn lực sẵn có để khéo léo đạt mục tiêu.
Tóm lại, có thể ví ngũ minh như chiếc ba lô không thể thiếu trên lưng của Bồ tát trên con đường hành Bồ Tát Đạo. Ngũ minh kết hợp nhuần nhuyễn sẽ là thứ giúp Bồ Tát nắm vững vấn đề, hiểu rõ căn cơ, biết chỗ kẹt của người, thấy chìa khoá mở tâm, thiện xảo khế cơ khế thời khế lý giúp người thấy những điều cần thấy, thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo. Khiếm khuyết một trong 5 món Ngũ minh đều sẽ là trở ngại, hạn chế khiến Bồ Tát không thể viên mãn Đạo nghiệp, nhiếp thọ Chánh pháp vô dị biệt.
Con, Lý Phương Anh
2. Bài viết của Lý Thái Đăng
Kính Thầy !!!
Kính thưa các HĐTM Lý Gia!
Con xin trả lời các câu hỏi TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 05/2020
CHỦ ĐỀ: CON ĐƯỜNG GIÚP NGƯỜI THÀNH TỰU NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP VÔ DỊ BIỆT
1) Vì sao, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu...Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ ???
Trả lời:
Chữ “TU” đối với quan niệm thế gian (hiện nay) đang được hiểu vô cùng thông thoáng… Hầu như tất cả những hành vi, xử sự liên quan đến đời sống của người đọc kinh, thiền định… đều được gọi là TU... có khi chỉ cho người (hành hương, đi chùa lễ Phật); có khi chỉ cho hành vi (sám hối, làm lành, lánh dữ, giữ giới, ăn chay…); hoặc chỉ cho những hoạt động như (xây chùa, đúc chuông, thỉnh tượng, cúng dường…). Tất cả đều được coi là… tinh tấn tu hành, mà chưa có sự phân chia rành mạch… Vậy căn cứ vào đâu, để được gọi là tu trong Phật đạo?.
Căn cứ vào Tứ Đế, triển khai thành 37 môn học trong Phật đạo thì, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu... Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo, nghĩa là phải Hết khổ, Dứt tập, Chứng diệt mới Tu đạo trí tuệ.
Để làm sáng tỏ vấn đề này ta căn cứ vào lời dạy trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” (hay thấy biết như Phật).
Muốn thực hiện được quá trình “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến”, đòi hỏi người tu hành phải có những điều kiện cần và đủ như “Thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh” hay còn gọi là “Minh tâm kiến tánh” (chứng diệt đế) ra khỏi hữu lậu tâm mới học được trí tuệ của Đạo đế, ví như người mù phải chữa cho sáng mắt, mới đi học chữ; người hết què, mới đi học võ; Có đủ điều kiện xuất ngoại, mới đi học nước ngoài…vv
Tổ cũng đã dạy “Bất thức bổn tâm học pháp vô ích”, nghĩa là đang còn tâm hư vọng, tánh chúng sanh thì không thể vào được ba cửa giải thoát là Không, Vô tướng, Vô tác để học trí tuệ của đạo xuất thế, ví như hàng hóa sản xuất trong nước không đủ tiêu chuẩn (quy định) thì chẳng thể xuất khẩu…Tam giải thoát môn Không, Vô tướng, Vô tác có thể ví như ba cửa khẩu đặt giữa hai quốc gia có hai nền văn hóa khác nhau là “Văn Hóa Vô Lậu” và “Văn Hóa Hữu Lậu”.
Quốc gia có nền “Văn Hóa Vô Lậu” là quốc gia được xây dựng y cứ vào Tám điều chơn chánh… từ đó có thể triển khai thực hiện nhiều điều về văn hóa vô lậu, mỗi một công dân sống ở đây lấy trực nhận làm thấy biết hay còn gọi là chánh kiến; ngôn ngữ cộng đồng là “không tứ cú”; lấy “thanh tịnh tâm” làm thước đo chuẩn mực trong mọi hoạt động; lấy “vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, trụ nơi vô trụ”, do vậy mà không còn bốn bệnh (tác, nhậm, chỉ, diệt); không hiện bốn tướng (nhân, ngã, thọ giả, chúng sanh); chẳng có ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai); lấy mục tiêu xây dựng đời sống xã hội là tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) và điều đặc biệt hơn cả là Quốc gia này đang sở hữu Trường Phật Học Hiệu lấy tôn chỉ là “Duy tuệ thị nghiệp” với bốn cấp học là “Khai - Thị - Ngộ - Nhập Phật tri kiến”…
Còn quốc gia có nền “Văn Hóa Hữu Lậu” thì đặc điểm nổi bật là nhìn nhận sự việc thông qua suy lường phân biệt, thấy biết chẳng rời phiền não; luôn nhớ nghĩ ba thời, niệm khởi chẳng rời vọng tưởng; mê trên bốn chỗ thân, thọ, tâm, pháp; sợi dây quan niệm chằng chịt như lưới nhện bủa vây... tám món khổ thế gian luôn luôn đeo bám, cho tâm chẳng an, trí chẳng ổn, luôn phiền não động lay trong vòng quay sanh diệt; kiết sử như xiềng xích nô lệ; lậu hoặc mịt mờ như rừng rậm vô minh… Pháp giới chúng sanh như con tằm nhả tơ tự quấn lấy mình, mà không biết đường tơ mối gỡ.
Phật đạo ra đời là dạy cho chúng sanh thành Phật! Bát chánh đạo là môi trường Văn Hóa Vô Lậu nuôi dạy người có trí tuệ cho đến Vô thượng Bồ Đề!
Muốn vào Bát Chánh Đạo người học phải trải qua và hoàn thành 29 phẩm trước đó, gồm 12 phẩm tư lương vị và 17 phẩm kiến đạo vị là hai giai đoạn chuẩn bị cơ sở vật chất, tư trang hành lý cho người đi học và nhận ra con đường xuất ngoại (hay xuất thế) đến quốc độ Văn hóa vô lậu để nhập học; giống như một công dân từ quốc độ Văn hóa hữu lậu muốn qua quốc độ Văn hóa vô lậu để học tập (tu đạo) thì cần nắm vững tiêu chuẩn quy định của quốc độ cần đến, đủ chuẩn thông quan một trong ba cửa Không, Vô tướng, Vô tác lúc đó mới bàn đến chuyện nhập học. Lúc chính thức vào học tám môn (bát chánh) thì mọi hoạt động mới được gọi là tu đạo vị.
Để qua được một trong ba cửa Không, Vô tướng, Vô tác công dân này phải y vào tứ đế, hoàn thành tư lương vị, kiến đạo vị để giải quyết cột trói của quốc độ hữu lậu, một lòng một dạ bước qua 29/37 bậc thang tương đương với ba cấp học khổ đế; tập đế và diệt đế, giống như cần giũ sạch cẩu uế, trên tấm vải (có nền Văn hóa hữu lậu) mới vẽ được lên đó những cảnh giới mới đạo đế (của Văn hóa vô lậu)…
Giác ngộ thấu suốt được như thế thì ba cửa Không, Vô tướng, Vô tác rộng mở đón chào những công dân ưu tú, đủ chuẩn bước vào quốc độ Văn hóa vô lậu để được khai thị ngộ nhập… tám môn (Bát Chánh).
Tóm lại: Tứ Đế; 37 môn học có ý nghĩa như một pháp lệnh giáo dục trong Phật đạo, là chương trình khung cho cả ba thừa, trải qua ba tầng bậc (trợ đạo, trợ bồ đề và đạo phẩm), thứ lớp rõ ràng như những nấc thang phát triển của bốn cấp học (khổ, tập, diệt, đạo… đế). Thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị chỉ được gọi là công nghệ xử lý để “Phàm” chết, “Thánh” sanh... Cho đến khi nào Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh xuất hiện…lúc này (ba thừa) ngồi chung cỗ xe (Nhất thừa) cùng vào học Diệu pháp của Phật, gọi là học Nhất thiết trí hay Đại thừa Vô Lượng Nghĩa. Lúc này mới gọi là TU trong Phật đạo.
2) Ý nghĩa tứ niệm xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng khác nhau như thế nào ??? Ba tầng bậc đó giải quyết bốn niệm xứ ra sao ??? Đề nghị giải thích rõ cách giải quyết của từng tầng bậc và cứu cánh của nó ???
Trả lời:
Tu hành trong Phật đạo thấu tỏ được Bốn niệm xứ cũng ví như người lạc lối trong đêm tối có được nguồn sáng dẫn đường. Điều cực kỳ quan trọng này đã được Thế Tôn thuyết như sau:
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ”.
Có thể thấy quy trình để giác ngộ, giải thoát và thành tựu trí tuệ, người tu hành phải thông qua bốn đế và 37 phẩm, như sợi dây xuyên suốt toàn bộ hệ thống Phật đạo, mà trung tâm đầu mối làm cho hệ thống 37 mô đun vận hành được trơn tru, hiệu quả là Tứ niệm xứ. Nếu NIỆM nào xa rời bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì phép tu đó là không chính thống.
Tứ diệu đế được ví như bốn nền móng của ngôi nhà Phật đạo, bốn món Khổ, Tập, Diệt, Đạo diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp hình thành nên Tứ diệu đế, vì thế Tứ diệu đế và Tứ niệm xứ không thể tách rời với nhau, hay Tứ diệu đế không thể hình thành, nếu không có sự tham gia cuả Tứ niệm xứ. Nghĩa là:
“Khổ” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Khổ Đế!
“Tập” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Tập Đế!
“Diệt” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Diệt Đế!
“Đạo” diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp thì mới gọi là Đạo Đế!
Người tu hành nhận ra Tứ niệm xứ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) là “Đế” của (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) chẳng khác nào… đang ở dưới hầm sâu vô minh mà có phước lành bắt gặp được sợi dây cứu khổ, cứu nạn, đó là sự Giác ngộ đầu tiên, quan trọng nhất của đời người tu hành. Sự giác ngộ này ví như giải được mã khóa mở ra cánh cửa đầu tiên trên con đường giác ngộ, giải thoát và trí tuệ...
Nhưng có một điều đặc biệt là những ai lấy công nghệ xử lý đầu vào trên THÂN để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Thanh văn; ai lấy công nghệ xử lý trên THỌ để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Duyên giác; ai lấy công nghệ xử lý trên TÂM để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát; ai lấy công nghệ xử lý trên PHÁP để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát nhất thừa.
Để làm sáng tỏ nghĩa “ĐẾ” (thân, thọ, tâm. Pháp) của các tầng bậc, ta căn cứ vào đoạn kinh như sau:
“Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật. Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế.
Hàng phàm phu có tập không có đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế. Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có diệt có chơn.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có đạo có chơn.” (Trích kinh Hoa Nghiêm – HT Thích Trí Tịnh dịch)
Từ đoạn kinh trích dẫn, ta có thể trạch giải ý nghĩa tứ niệm xứ (hay Đế) của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng như sau:
* Đối với hàng phàm phu:
“Hàng phàm phu có khổ, không đế…” bởi phàm phu “kêu khổ” mà không chỉ ra được sự “Khổ” xảy ra trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) nên chẳng biết đế.
“Hàng phàm phu có tập không có đế..”. bởi phàm phu “kêu cột trói...” mà không chỉ ra được nguyên nhân cột trói (Phiền não, kiết sử, lậu hoặc) xảy ra trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) nên chẳng biết nguyên nhân cột trói từ đâu; do vậy mà chẳng thể bàn đến chuyện “Diệt đế hay Đạo đế”.
* Đối với Nhị Thừa (Thanh văn, Duyên giác):
“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật”.
Nhị thừa có tám món khổ (Sinh lão bệnh tử...khổ; cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly, ngũ ấm xí thạnh... khổ). Tám món khổ (tục đế) này Nhị thừa cho rằng, nó xảy ra trên “thân, thọ” do vậy Nhị thừa có khổ đế; còn nghĩa “không chơn thật” bởi “Đế” của Nhị thừa chưa thật, chưa chơn...
“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế...”
Nhị thừa chỉ ra các món khổ do ái nhiễm trên thân, thọ... do vậy mà có tập (phiền não, kiết sử, lậu hoặc) và những món này xảy ra chú yếu trên thân, thọ do vậy có tập đế.
“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn...” Cách diệt chú yếu của Nhị thừa trước hết là “ly gia cát ái”, triệt để yểm ly, giữ giới, thiền định, ví như phát hiện ổ dịch thì đưa (thân) ra khỏi vùng dịch; phát hiện chiến tranh thì đưa (thân) ra khỏi chiến sự, gặp kẻ chửi bới thì nút chặt lỗ tai.vv… và sau đó nương vào Thiền Định để lần lượt chứng các cảnh giới của tứ thiền bát định... Cách Diệt của Nhị thừa chẳng phải chơn, bởi còn nương vào sở pháp...
“Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn...”
Bài pháp tiêu biểu Phật thuyết để cho năm anh em Kiều Trần Như giải thoát ra khỏi ba cõi là: “Này Kiều Trần Như! Sắc là vô thường, không lấy sắc làm ta, ngã của ta, tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ.” (Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy).
Nhớ lời dạy của Phật, (Kiều Trần Như) giác ngộ Thân này là vô thường, do vậy không lấy sắc (thân) vô thường làm ta (để thủ giữ), ngã của ta (để so sánh), tự ngã của ta (để nương tựa).
Diệt sắc vô thường, nghĩa là (yểm ly sắc triệt để) thì mọi phiền não không có chỗ phát sinh gọi là sắc giải thoát. Sắc (Thân) giải thoát thì Thọ, Tâm, và Pháp cũng được giải thoát như vậy.
Nhị thừa có đạo mà chẳng phải chơn bởi quả vị mà Nhị Thừa hướng đến chưa chơn.
* Các vị Bồ Tát:
“Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế...”
Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ, bởi thấu suốt nguồn tâm chỉ là danh tự, pháp chỉ là quan niệm.... Thân, thọ, tâm, pháp cũng chỉ là pháp (quan niệm)
Bồ tát nhận ra rằng bản lai chúng sanh không tâm, khi khởi niệm mê trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì tâm hiện, dứt mê (trên bốn chỗ) tâm hoàn không.
Các vị Bồ Tát Giác ngộ bản chất hư dối của hữu vi pháp “như mộng, huyễn, bào, ảnh…”, vô thường, không thật có... Thấu suốt được nghĩa này thì hết mê lầm về pháp. Bồ tát thấu rõ trí là đế của đạo mà có chơn đế.
“Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế...”
Các vị Bồ Tát hiểu gốc (tập) của mọi sự rắc rối, cột trói chỉ vì một niệm mê. Tâm, pháp chỉ là những hiệu ứng được sanh bởi tam duyên hoà hợp. Khi tam duyên hoà hợp phát sanh hiệu ứng tình cảm, thì sanh tâm; phát sanh hiệu ứng phân tích, thì sanh pháp. Các vị Bồ Tát thấu rõ bổn lai không pháp, không tập mà có chơn đế.
“Bồ Tát có diệt có chơn...”
Các vị Bồ Tát thấu tỏ khi giác ngộ thì niệm mê chấm dứt. Niệm mê không khởi thì ba duyên chẳng hiệp. Khi các duyên không hiệp thì tâm tự tịnh. Nhờ tính chất tự nhiên này mà người tu hành dùng “không hộ trì để mà hộ trì”; lấy “không hành để mà hành” …. Bồ tát diệt (hết đế) mà có chơn.
“Bồ Tát có đạo có chơn.” Phần này xin trích y lời Thầy Lý Tứ, dẫn đạo:
“Lặng lẽ quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp đến một lúc nào đó, vị tu hành “trực nhận ra bản lai của bốn món này”... Chừng ấy, trong sự trực nhận, vị tu hành mới thấy biết đích thực Thiệt Tướng của bốn món này “lìa giả lìa chân”... Tức là, nơi Thiệt Tướng không có sự dự phần của khái niệm giả hay chân... Chỉ khi nào, hai phạm trù giả chân không còn một mảy may bóng dáng thừa sót trong tâm thức này, chừng ấy vị tu hành mới biết rằng, “thế nào là Đạo Đế của Phật Đạo.” Thấy như vậy, Phật Đạo gọi đó là “vị có Trí Tuệ”!!!
Thành tựu Đạo Đế rồi, để phát khởi Thật Trí: Vị này quan sát hết thảy chúng sanh, thấy rằng các hữu tình kia cũng đồng nguồn đạo như ta, chỉ vì họ lầm nhận bốn Niệm Xứ, nên bị bốn món này làm cho điên đảo...
Thấy như thế, vị tu hành này phát khởi Đại Bi Tâm, tìm học các món phương tiện, lúc dùng quyền, lúc dùng thiệt, lúc nói Ấm, lúc nói Uẩn, lúc nói Xứ, lúc nói Giới, lúc nói Giác, lúc nói Quán...Để khiến hết thảy chúng sanh cũng được thấy biết như mình, gọi là “thể nhập Thật Trí”...
Thể nhập Thật Trí chính là Trung Đạo...
“Trung Đạo chính là con đường Chư Phật, Chư Bồ Tát đã đi, đang đi và sẽ đi”!!!
Hỏi: Như thế nào gọi là Chư Phật là Chân mà không Đế???
Đáp:
Thấy thân này tịnh cùng bất tịnh là Đế...
Thấy cảm Thọ này là khổ hay lạc là Đế...
Thấy tâm này là thường hay vô thường là Đế...
Thấy pháp kia là ngã hay vô ngã là Đế...
Khi nào trực nhận ra rằng:
Thân này bản chất chẳng tịnh chẳng bất tịnh, thấy như vậy gọi là Chân Tịnh...
Thọ này bản chất ra ngoài khổ lạc, gọi là Chân Lạc...
Thấy rằng, tâm này bản chất chẳng thường chẳng vô thường, gọi là Chân Thường...
Thấy rằng, bản chất của các pháp chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, gọi là Chân Ngã...
Chân Thường, Chân Ngã, Chân Lạc, Chân Tịnh là “Chân mà không có Đế” của Chư Phật...
Chân mà không có Đế, chính là sự “trực nhận Thiệt Tướng”... Sự trực nhận này, không phải thông qua một cơ sở (Đế) nào hết... Ví như chẳng thông qua Thiền, chẳng thông qua Giác, chẳng thông qua Giáo, chẳng thông qua Đạo...
Sự trực nhận mà không thông qua bất kỳ một lăng kính nào hết, gọi là Chân mà không Đế!!! Nó còn có nghĩa rằng, chẳng nương tựa bất kỳ một thứ gì trên đời để có được thấy biết này!!!”(Trích bài 49 VĐM – Lý Tứ).
3) Trong thập bát bất cộng của Phật, điều thứ sáu: “Vô bất tri dĩ xả”... Có nghĩa: Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả...!!! Theo lời dạy này, người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu)...Hệ quả của việc xả bỏ này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ cụ thể !!!???
Trả lời:
Đời người tu hành lấy tứ vô lượng tâm (từ, bi, hỷ, xả) làm mục tiêu, do vậy có vô lượng xả !!!.
Gọi vô lượng xả, bởi người tu hành có vô lượng dính mắc trên ba chỗ Thân, Tâm và Trí. Thấu tỏ bản chất (thân, tâm và trí) và mối quan hệ ràng buộc của chúng, mới làm sáng tỏ lời dạy “Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả”.
Để thực hiện pháp xả trên ba chỗ Thân, Tâm và Trí, vị ấy ứng dụng lời dạy của Phật trong Kinh Niệm Xứ như sau: “Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”! Nghĩa là vị ấy biết rõ:
“(Thân, Tâm, Trí) là vô thường, không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ta, ngã của ta, tự ngã của ta. Diệt (Thân, Tâm, Trí) vô thường sẽ được (Thân, Tâm, Trí) giải thoát thường trụ.”
Vị tu hành biết rõ (Thân, Tâm, Trí) là vô thường, biến hoại… mà vô thường là khổ, do vậy vị ấy không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ta (ái, thủ giữ…), ngã của ta (so sánh hơn thua…), tự ngã của ta (nương tựa, dựa vào…).
Không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ta (ái, thủ…), thì vị ấy đoạn dứt vòng quay mười hai nhân duyên, vị ấy vào cửa giải thoát.
Không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm ngã của ta (so sánh hơn thua, phải trái, đúng sai…), thì nhị nguyên (phân biệt) trong lòng vị ấy không còn, pháp “sanh diệt” chấm dứt “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” (Niết bàn hiện tiền).
Không lấy (Thân, Tâm, Trí) làm tự ngã của ta (nương tựa, dựa vào…), thì ngã hư dối không lập, niệm chấp không còn, tâm (vị ấy) bất động, ý giải thoát… trí vô lậu.
Phật dạy “Chúng sanh có Phật tánh” Phật tánh là thường… Nhưng do khởi niệm mê trên (thân, tâm và trí) mà gọi là vô minh. Pháp xả là trả lại sự sáng suốt… của Phật tánh bằng công nghệ “Tứ đế; 37 phẩm”.
Giại đoạn minh tâm, kiến tánh… Phật đạo dành hẳn 3/4 cấp học (khổ, tập, diệt… đế) tương ưng với 29/37 phẩm để xả tâm tánh phàm phu, như người bị nhiễm ô, ngộ độc phải cấp cứu xả độc… rồi mới bàn chuyện phục hồi sức khỏe, cắp sách tới trường học 8 phẩm còn lại (kiến tánh, thành Phật).
Như vậy để thành tựu được pháp ‘XẢ” “Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời”… là cả một quá trình giác ngộ, giải thoát và trí tuệ trải qua bốn cấp học (tứ đế), triển khai thành 37 phẩm. Là quá trình thực hiện Văn – Tư – Tu trong từng môn học, cấp học… và được Thầy Lý Tứ giảng giải như sau:
“Điều gì đã biết, nhất định phải biết đến nơi đến chốn (tránh chuyện biết nửa vời)!!!; Điều gì đã học, nhất định điều đó phải được tư duy thấu đáo, làm rõ nguồn cơn (tránh việc học vẹt)!!!; Điều gì đã hiểu, nhất định phải ứng dụng nhuần nhuyễn vào thực tế cuộc sống (tránh việc hô hào suông)!!!”(Lý Tứ).
Quay về ba thực hành điều trên cũng có nghĩa là quy y TAM BẢO! quy y Phật Bảo (điều thứ nhất); quy y Pháp bảo (điều tứ hai); quy y Tăng bảo (điều thứ ba).
Ứng dụng đúng ba điều như thế để vượt qua 37 phẩm gọi là nương tựa Tam Bảo, là rốt ráo xả trong Phật đạo,
Ngược lại, “người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu)...” là trái lời Phật dạy!!!
Người (không học tập, không tìm hiểu) lời Phật dạy...” thì chẳng thể biết (tứ đế, 37 phẩm), không biết giới luật, chẳng hiểu nghĩa kinh (tứ niệm xứ), chẳng quy y Tam Bảo… Theo Kinh Di Giáo thì đó là tà kiến, là Ma Ba Tuần hiện ra để phá hoại Chánh pháp Như Lai.
Người (không học tập, không tìm hiểu) giáo pháp… thì vẫn còn y chúng sanh, tâm bất an, trí bất ổn, đầy đủ Ngu, Mê, Lầm, ba tầng vô minh che lấp... vì vậy mà phiền não khổ đau chẳng dứt.
Người (không học tập, không tìm hiểu) mà đòi xả bỏ mọi thứ… chẳng khác “người mù lẻo mép xưng vua”, đòi miêu tả cả thế gian... mà (không chịu chữa cho sáng mắt). Hệ quả của việc xả bỏ này là phá hoại Chánh pháp; “Trụ nơi phân biệt” mà xả, là “làm hư thanh tịnh nhãn, càng thêm lớn ngu si, người này không thấy Phật”…
4) Vì sao Bồ Tát phải nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh là: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh ??? Nếu Bồ Tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết, có thể thành tựu Bồ Tát Đạo hay không ??? Xin giải thích vì sao như vậy ???
Trả lời:
Một vị Bồ Tát kể từ khi phát tâm luôn ghi nhớ mục tiêu đề ra là, tu hành để tự mình giác ngộ và giúp người giác ngộ… vì vậy Bồ Tát phải nhất tâm học tập thành tựu ngũ minh để hoàn thành hạnh nguyện sâu dày của Bồ Tát.
Ngũ Minh là kết tinh trí tuệ của Phật đạo, là cam lồ diệu dược chữa bệnh vô minh cho chúng sanh, là phương tiện hiển bày tông thông và thuyết thông giúp người trên con đường Giác ngộ giải thoát và trí tuệ.
Ngũ minh gồm có: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh, được Thầy Lý Tứ phân tích, giảng giải như sau:
“Ngũ minh gồm có năm minh của thế gian và năm minh của xuất thế…
Năm minh thế gian, dành cho người tu hành gồm:
– Nội minh: Thấu suốt ý nghĩa kinh điển, để đưa đến Giác Ngộ…
– Ngoại minh: Biết rõ những luận lý nào không có ý vị Giác Ngộ, không có nghĩa lý của Giải Thoát… cần phải tránh xa…
– Y phương minh: Chỉ uống đúng thuốc của Phật Đạo, không bạ đâu uống đó… gặp thuốc gì cũng uống… ai dạy gì cũng tin theo…
– Công xảo minh: Biết rõ và sử dụng thành thạo một số phương tiện của Phật Đạo, cũng như kỹ thuật thế gian… Dùng hai thứ này, hỗ trợ cho việc tu hành và giúp đời sống dễ dàng hơn… “Tránh rơi vào cực đoan hoặc tâm hoặc vật…”
– Thanh minh: Chỉ tin nghe những gì có chân lý…
Năm minh của xuất thế gian, dành cho Bồ Tát giáo hóa người gồm:
– Nội minh: Biết rõ thế nào là chân tâm, thế nào là chân trí, thế nào là chân lý… để hướng người tu hành đi đúng Phật Đạo và thẳng tiến vào những thứ chân này…
– Ngoại minh: Biết rõ những gì phát xuất từ hư vọng tâm, hư vọng trí, không có chân lý… để chỉ cho người tu hành cần phải tránh xa…
– Y phương minh: Biết rõ căn cơ của người, tùy bịnh cho thuốc… Không phạm vào các lỗi ngu si, hý luận, phi thời, xơ cứng… khi giáo hóa…
– Công xảo minh: Thành thục các loại phương tiện của Phật, như người văn minh thành thạo các loại công kỹ nghệ tân tiến… Không tìm cầu sự lạc hậu của những quan điểm tu tập không còn phù hợp trong hiện tại, không dạy người cái vô ích…Không làm người giảng nói cách “làm cối đá” trong thời đại văn minh kỹ thuật!!!
– Thanh minh: Nghe tiếng lòng của vạn loại chúng sinh, cùng tất cả người tu hành… Không chạy theo hiện tượng, không vui theo phong trào, không bị cái bên ngoài làm mờ mắt…
Tóm lại, ngũ minh là năm thứ công cụ, giúp người tu hành và Bồ Tát thành tựu Đạo Nghiệp của mình...Không biết năm thứ này, nhất định sẽ giống như anh chàng ngày xưa “buôn vịt trời”, tốn công, mất của mà chẳng ra cơm cháo gì!!!!
Còn nếu, thông thuộc ngũ minh, từ những con vịt trời, cũng có thể thuần dưỡng thành vịt nhà, đem cái vô ích, vô bổ, biến thành lợi ích nhất định, đúng như Phật Đạo mong muốn!!!!”( Trích VĐM 36 - Lý Tứ).
Theo con cảm nhận, Ngũ minh là sự soi rọi của chánh kiến, như từ một viên ngọc quý trí huệ, hóa hiện ra năm mặt. Khi năm mặt đều sáng tỏ thì hành Bồ Tát Đạo không còn ngăn ngại… Nhưng (mặt nào đó) mà Bồ Tát còn khiếm khuyết (chưa mài kỹ) thì (hạn chế) sẽ xuất hiện trên mặt (chưa tỏ) đó…
Có thể ví Nội minh như ngọn đèn “Thấu suốt ý nghĩa kinh điển, để đưa đến Giác Ngộ… Biết rõ thế nào là chân tâm, thế nào là chân trí, thế nào là chân lý”…(Lý Tứ). Chưa có nội minh thì nỗi “khổ” cũng giống như cảnh “Tối lửa, không đèn” chẳng thấy chi…
Ngoại minh như ánh sáng tỏa ra “Biết rõ những luận lý nào không có ý vị Giác Ngộ, không có nghĩa lý của Giải Thoát… cần phải tránh xa… Biết rõ những gì phát xuất từ hư vọng tâm, hư vọng trí, không có chân lý… để chỉ cho người tu hành cần phải tránh xa…”(Lý Tứ).
Có Nội minh, mà chưa có ngoại minh ví như có đèn mà bị những thứ ngặn bịt, che kín chẳng phát sáng ra ngoài, để giúp người lợi ích.
Vì vậy (Nội minh, Ngoại minh) mà khiểm khuyết thì chưa thể hành Bồ tát đạo!
Khi đã có (Nội minh, Ngoại minh) thì rèn luyện (Y phương minh, Công xảo minh, Thanh minh) sẽ giúp cho Bồ tát sử dụng phương tiện thiện xảo… như đỉnh cao của nghệ thuật gọi là “THÀNH TỰU NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP VÔ DỊ BIỆT”.
Hoàn thiện phương tiện (Y phương minh, Công xảo minh, Thanh minh) là cả một quá trình tu bồ tát hạnh, hành bồ tát đạo… là sự hoạt dụng phát ra từ Bồ tát đã thành tựu các lực (giác lực, huệ lực, bát nhã lực và công đức lực) nhờ vậy mà ngọn đèn trí huệ (ngũ minh) trở thành diệu pháp cứu mình và giúp người. Nhờ giúp người mà tích lũy công đức, nhờ công đức lực mà Bồ tát thành tựu từng đạo quả, cho đến… vô thượng trí.
Những bài học đầu tiên Thầy dạy, con hằng ghi nhớ… Bồ tát hoằng pháp không rời tứ đế, thiện xảo phương tiện, biết nắm bắt đương cơ, khế hợp… như khế căn, khế lý, khế thời... và vô số điều cần học...
Ví như trong bóng tối, có đèn chiếu sáng mà sử dụng không đúng đối tượng, căn cơ, thì chẳng mang về lợi ích như ánh sáng chẳng thể đến với người mù, âm thanh chẳng lay động người điếc, chưa sạch tâm tánh phàm phu mà khai thị ngộ nhập Phật tri kiến, chẳng khác trẻ em đang học chữ mà đem luận văn tiến sĩ ra bàn; Chưa khám bệnh thì chớ kê đơn, không đúng lý mà bàn thì chỉ là hý luận như người muốn học thợ may mà lại chỉ bày làm ruộng; Thuyết pháp phi thời... nhiều lời vô ích, như xã hội văn minh công nghệ... mà dạy thợ làm … cối đá… quả là “phạm vào các lỗi ngu si, hý luận, phi thời, xơ cứng… khi giáo hóa…”(Lý Tứ).
Tóm lại: Đã là Bồ tát phải đủ Ngũ minh, kiểm tra lại mình mà nhất tâm mài dũa, chuyên cần học tập, thực hiện lời Thầy: “Điều gì đã biết, nhất định phải biết đến nơi đến chốn (tránh chuyện biết nửa vời)!!!; Điều gì đã học, nhất định điều đó phải được tư duy thấu đáo, làm rõ nguồn cơn (tránh việc học vẹt)!!!; Điều gì đã hiểu, nhất định phải ứng dụng nhuần nhuyễn vào thực tế cuộc sống (tránh việc hô hào suông)!!!”(Lý Tứ).
Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ !!!
Con, Lý Thái Đăng
Chủ Đề: Con Đường Giúp Người Thành Tựu Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt
Trò chơi trí tuệ số 05.2020 với chủ đề Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt

Các bạn !!!
Những tuần vừa rồi, chúng ta trao đổi về đề tài 37 Phẩm qua nhiều tầng nghĩa...!!!
Như các bạn đều biết, 37 phẩm rộng như biển lớn, sâu không thấy đáy... Với vai trò “người dẫn đường”, 37 phẩm đưa người học lần lượt thành tựu các đạo quả trong Phật đạo từ thấp lên cao... Cụ thể, 37 phẩm giúp người tu hành hoàn thành các cấp học của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng...!!!
Nếu ta coi tứ đế là nền móng của cụm kiến trúc Phật đạo để xây dựng các tòa nhà tục đế, thánh đế và chơn đế... Thì, 37 phẩm chính là những tầng cao của cụm kiến trúc ấy...!!!
Nếu ta coi tứ niệm xứ là bốn mảnh đất lành để gieo hạt giống Bồ Đề thì, 37 phẩm chính là kĩ thuật canh tác, là công sức chăm bón, là hoa trái Bồ Đề...v..v...mà ta sẽ thu hoạch sau vụ mùa tu tập...!!!
Nếu ta coi ba thừa như ba xu hướng tu tập khác nhau của Phật đạo, giống như ba con sông có xuất phát điểm khác nhau thì, 37 phẩm chính là cửa biển, là nơi dung hoà mọi sự khác biệt của ba con sông kia bằng dòng chảy nhất thừa...!!!
Nếu ta coi trung đạo là con đường tối thượng của Phật đạo thì, 37 phẩm chính là sự hoạt dụng tối ưu của giáo pháp, giúp người tu hành có thể tìm thấy những gì ưu việt nhất của giáo pháp thông qua năm thứ nhãn lực, để trực nhận ra rằng: “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp”...!!!
Tóm lại, 37 phẩm là độc đạo, là an ổn đạo, là bất tử đạo... Nó có thể giúp một phàm phu vô văn nếu quyết tâm tìm cho mình trí tuệ của Phật đạo, người này cứ theo con đường 37 phẩm mà tiến bước, nhất định sẽ tìm thấy “Nhất thiết trí thành” và tòa nhà “Nhiếp thọ chánh pháp vô dị biệt” ở cuối con đường...!!!
Để giúp mọi người ôn lại những điều đã học, có cơ hội tư duy sâu hơn nữa về 37 phẩm... BQT có một số câu hỏi sau:
1) Vì sao, thành tựu tư lương vị, kiến đạo vị không được gọi là tu...Mà, đến tu đạo mới được gọi là tu trong Phật đạo ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ ???
2) Ý nghĩa tứ niệm xứ của thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng khác nhau như thế nào ??? Ba tầng bậc đó giải quyết bốn niệm xứ ra sao ??? Đề nghị giải thích rõ cách giải quyết của từng tầng bậc và cứu cánh của nó ???
3) Trong thập bát bất cộng của Phật, điều thứ sáu: “Vô bất tri dĩ xả”... Có nghĩa: Như lai xả bỏ tất cả những gì đã biết, điều gì chưa biết chưa xả...!!! Theo lời dạy này, người tu hành chưa hoặc không thông suốt giáo pháp, mà xả bỏ mọi thứ (không học tập, không tìm hiểu)...Hệ quả của việc xả bỏ này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ cụ thể !!!???
4) Vì sao Bồ Tát phải nhất tâm học tập để thành tựu ngũ minh là: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh ??? Nếu Bồ Tát mà một trong ngũ minh khiếm khuyết, có thể thành tựu Bồ Tát Đạo hay không ??? Xin giải thích vì sao như vậy ???
BQT rất mong nhận được những trả lời lí thú và bổ ích của các bạn !!!
- Hạn chót nhận trả lời: Thứ Ba, 30/06/2020...
- Bài viết xuất sắc sẽ nhận được một phần quà của BQT trị giá 1.000.000 VNĐ (một triệu)... Trường hợp có nhiều bài viết hay, phần thưởng sẽ được chia đều cho tác giả các bài viết đó...!!! (VD: 1.000.000 : 5 = 200.000 đồng) !!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
BQT LÝ GIA
18/06/2020
LÝ TỨ
Tổng Kết Chủ Đề: Làm Thế Nào Để Diệt Tham Sân Si???
Tổng kết Trò chơi trí tuệ số 06.2020 với chủ đề làm thế nào để diệt tham sân si

Các bạn !!!
Trong nửa tháng phát động Trò Chơi Trí Tuệ – 06/2020 !!! BQT đã nhận được 09 bài viết trả lời, của: Lý Thiện Cảnh, Lý Diệu Âm, Lý Nguyên Trang, Lý Lục Vũ, Lý Nhạn Ảnh, Lý Tâm Pháp, Lý Thái Đăng, Lý Thiện Huệ, Lý Giác Thư… Đây là kì TCTT có số lượng bài viết trả lời ít nhất trong các kì TCTT diễn ra trong 10 năm qua !!!
Đặc biệt, tất cả các trả lời lần này, đều đạt yêu cầu câu hỏi đặt ra… Trong đó có hai vị HĐ lần đầu tiên tham gia TCTT là Lý Diệu Âm và Lý Lục Vũ !!! SM Lý Diệu Âm nhập môn làm HĐ Lý Gia vừa được một tháng sáu ngày, nhưng các câu trả lời của vị SM này không hề thua kém bất kì trả lời của các HĐ đi trước…Xin tán thán hai HĐ Lý Lục Vũ và Lý Diệu Âm !!!
BQT xin chuyển đến các bạn, các bài viết tiêu biểu của Lý Thiện Huệ, Lý Lục Vũ, Lý Thái Đăng và Lý Giác Thư !!!
26/07/2020
LÝ TỨ
1. Bài viết của Lý Thiện Huệ
Thầy kính!!!
Con xin đảnh lễ Thầy ba lạy!!!
Con Xin trả lời các câu hỏi:
1) Vì sao khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng) bỏ về ??? Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ có lãnh hội được gì không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ minh hoạ !!!
Trả Lời:
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có dạy: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Qua lời dạy của Phật, con hiểu “Phật tri kiến” mới là mục tiêu cần thành tựu của vị tu hành.
Tuy nhiên, để được học và có thể thành tựu mục tiêu này về sau, đòi hỏi vị tu hành phải đáp ứng một số điều kiện nhất định của việc học. Đó là, vị này phải thành tựu Đạo quả xuất thế. Tức là những vị ấy đã hoàn thành phần tự độ, tâm thức luôn được sáng suốt, không còn bị các khổ, kiết sử, phiền não và lậu hoặc làm cho che mờ tâm trí. Đây là điều kiện gần như bắt buộc đối với vị tu hành muốn cầu học Phật tri kiến.
Vì rằng, “Phật tri kiến” không thể thành tựu trên một tâm thức bị nhiễm ô và phiền não. Ngũ Tổ dạy rằng “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”. Ví như nguồn nước đã bị nhiễm bẩn, cho dù cố đổ thứ gì vào, thì thứ đó cũng bị nguồn nước kia làm cho ô nhiễm. Để sử dụng được, liệu pháp duy nhất, trước xử lý nguồn nước, sau mới có thể sử dụng được như ý.
Chính vì vậy, trước khi Phật tuyên thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn (chưa chứng nới chứng) phải rời Pháp hội mà bỏ về. Hành vi này nói lên hai điều:
Một: Lỗi “Tăng thượng mạn” minh chứng tâm thức vị này chưa được giải thoát, cấu uế trong tâm chưa được dứt trừ, ngã chúng sanh vẫn còn hiện hữu, nên những vị ấy bỏ hội chúng ra về trước khi nghe Phật thuyết.
Hai: Nói lên khả năng nhận thức. Thấy biết như thế, không thể tiếp nhận tri kiến sâu hơn, nếu có cố ở lại nghe Phật thuyết cũng không thể hiểu hết nghĩa lí. Vì rằng Phật tri kiến siêu quá nhận thức thế gian, thuộc về Xuất thế gian pháp, những vị tu hành chưa hoàn toàn giác ngộ, không thể hiểu được Tri kiến Phật.
Giống như việc học ở đời, vị này muốn vào học Đại học, thì phải tốt nghiệp bậc Phổ thông trung học. Đây là điều kiện bắt buộc, không hoàn thành cấp học này, không được vào Đại học, vì sự chênh lệch về trình độ nhận thức, có cố học cũng không thể hiểu, càng không thể thành tựu điều gì có lợi cho mình và cho người.
Trong Phật Đạo cũng tương tợ như vậy. Học Phật tri kiến như tiến trình học Đại học sau khi tốt nghiệp Phổ thông. Vị tu hành phải thành tựu lần lượt ba Đế trong Tứ Đế: Khổ đế, Tập Đế và sau cùng là thành tựu Diệt Đế, để hoàn thành phần tự độ. Sau mới học Đạo Đế, để tiếp tục hướng về Vô thượng quả, thành tựu Trí tuệ Vô thượng.
Cấp khổ đế sẽ giúp vị tu hành dứt trừ các món khổ của thế gian: Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ.
Cấp Tập đế giúp vị tu hành dứt trừ các món phiền não, 10 kiết sử và lậu hoặc làm rĩ chảy, che mờ tâm thức của chúng sanh.
Cấp Diệt để giúp vị tu hành thành tựu Bổn tâm, Kiến Bổn tánh. Hoàn thành phần tựu độ.
2) Trong hai nhóm kiết sử là độn sử (lỗi hành vi) và lợi sử (lỗi nhận thức)… Mọi người đều biết, người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!! Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế có hợp lí không ??? Và kết quả cao nhất của hành động này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ !!!
Trả Lời:
Theo con hiểu:
Kiết: Là Kết tức là cột trói. Sử: Tức là sai sử. Đây là 10 món cột trói, sai sử, làm cho chúng sanh khổ đau và phiền não, được chia làm hai nhóm:
Năm độn sử thuộc về lỗi hành vi: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi.
Năm lợi sử thuộc về lỗi nhận thức: Thân kiến, Biên kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, Tà kiến.
Nếu một người tu hành, không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế, theo con không hợp lí.
Vì tu hành chính là quá trình thay đổi nhận thức. Khi nhận thức được thay đổi thì hành vi sẽ thay đổi. Khi hành vi thay đổi, đời sống sẽ thay đổi. Đời sống được thay đổi như pháp, được gọi là Tu trong Phật Đạo.
Tiến trình thay đổi nhận thức như pháp, chính là quá trình tu tập như pháp mà thành tựu. Nhận thức quyết định hành vi, một khi nhận thức được thay đổi thì chắc chắn hành vi sẽ thay đổi.
Tham sân si thuộc về lỗi hành vi, là ba món kiết sử trong mười thứ kiết sử. Gọi là lỗi, là do nhận thức không đúng bàn chất của sự vật sự viêc trước thấy nghe hay biết của một hữu tình nên tham sân… hiện hữu. Chỉ vì mê nơi nhận thức của thế gian, nên thường sanh tâm chấp trước sự việc, hợp với quan điểm của mình thì sanh tâm vui, trái lại sanh sân, sân không được, lâu ngày thành si. Si tâm là trạng thái tâm thức bị chìm đắm trong quan điểm của riêng mình.
Với vị tu hành, chỉ cần ý thức “Quan điểm, quan niệm..” không hề có chân lí, từ nay thôi không ôm giữ chúng vào trong lòng. Trước muôn cảnh muôn duyên, khi các căn xúc đối với các trần, không sanh tâm phân biệt, tâm ý sẽ không bị dao động, tham sân cũng từ đấy mà tịch diệt. Ý thức được như vậy, không cần phải tiêu diệt tham sân mà tham sân… cũng không hiện.
Trái lại, nếu một vị tu hành, cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động này chỉ chuốt thêm hệ lụy, mê càng thêm mê, không thể dứt trừ được tận gốc của khổ đau. Hành vi này, chẳng khác nào lấy đá đè lên cỏ, chỉ ngăn chặng được tạm thời, nhưng một khi bất giác, thì tham, sân lại hiện, đôi khi còn hẫy hừng hơn trước, khiến tâm thức vị tu hành luôn đắm chìm trong phiền não khổ.
Xét đến cùng việc làm này không cho ra một kết quả gì có lợi cho người tu hành. Vì rằng tham, sân, si.. không thực có. Chỉ có trong lúc mê, hết mê, tham sân tự diệt. Vì vậy, không thể nhắm vào tham sân si mà diệt.
3) Trí tuệ của Phật đạo khác và giống suy nghĩ của người đời ở những điểm căn bản nào ??? Chuyển thức thành trí là chuyển điều gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ để làm sáng tỏ hai câu hỏi trên !!!
Trả Lời:
Theo con nhận thấy, trí tuệ trong Phật đạo khác với nghĩ suy ở người đời ở hai điểm căn bản, đó là tính chất và xu hướng hành động.
Về hình thức thì có giống nhau, nhưng tính chất bên trong là hoàn toàn sai biệt. Trí tuệ thiên về trực nhận bản chất của vấn đề, sau mới nghĩ suy về vấn đề đó. Tức vị ấy thấu suốt bản chất của sự vật sự việc trước, sau mới nghĩ suy tìm giải pháp, giải quyết vấn đề. Vì thấu suốt nên khi một pháp được thành tựu tâm ý cũng theo pháp mà tự xả, không sanh ra các dị luận như thế gian pháp.
Người đời cũng nghĩ suy, nhưng đi theo hướng ngược lại, tức bị các giả tướng làm cho điên đảo, xoay vần trong quan niệm, nên không thấy được thật tướng của các pháp. Vì không thấy được thiệt tướng của các pháp, nên giải quyết vấn đề không rốt ráo, lại thường sanh các dị pháp và không thể tự xả. Đây là chỗ khác biệt cơ bản về tính chất của nghĩ suy giữa người mê với người trí.
Ví dụ cả hai người đồng quan sát một bức tranh. Sau khi quan sát, người đời thường chạy theo các quan điểm nghệ thuật, hay quan niệm đẹp xấu thế gian, rồi sanh ra các pháp “so đo, tốt xấu…”, cảnh trong tranh phải như thế này hay như thế khác…đây là hiện tượng sanh pháp, do bị các thọ giả tướng bên ngoài làm cho điên đảo nhận thức, làm cho tâm thức không được an vui và giải thoát. Vì khi chấp trước các tướng, mê tâm sẽ hiện, trạng thái lo lắng, bất an cũng vì thế mà xuất hiện theo, đây là trạng thái phiền nơi nhận thức. Đến khi có một ai đó không cùng quan điểm với mình, chê bai điều mình tâm đắc, lúc bấy giờ não tâm xuất hiện, biểu hiện giận dữ, chán ghét…làm cho tâm thức trùng xuống…Phiền não là tâm chúng sanh.
Người trí trực nhận một cách thấu thoát, đây chỉ là bức tranh và dừng lại trong trực nhận. Không như thế nào hết…!!! Theo con, đây là điểm khác biệt cơ bản về tính chất trong suy nghĩ của người Trí và người đời.
Về xu hướng hành động thì người có Trí tuệ trong Phật Đạo, khi nghĩ suy luôn được an lạc và giải thoát, thường mang đến điều an vui cho mình và cho người, không có bóng dáng phiền não khổ, ngã, kiến chấp, đấu tranh…
Khác biệt người Trí, khi người đời khi suy nghĩ một việc gì, thường kèm theo tình cảm riêng tư của vị ấy. Chính vì điều đó nên tâm thức vị ấy luôn bị cột trói và phiền não.
Ví dụ khi thương hoặc thích một điều gì, thường sanh tâm chiếm hữu điều đó thuộc về mình…đây là một trong nhưng yếu tố tình cảm của người đời thường thấy trong hành vi nhận thức về sự việc.
Theo con, để chuyển thức thành trí, vị tu hành phải thay đổi nhận thức ngay nơi hiện tại, không mê theo thấy nghe hay biết mà “sanh tâm sanh pháp”, và đây cũng là hai niệm xứ cơ bản giúp người mau chóng Giác Ngộ. Chỉ những ai Giác Ngộ được như vậy mới mong “chuyển thức thành Trí” trong Phật Đạo. Đây là đạo lộ duy nhất giúp người dứt khổ và giải thoát, ngoài đạo lộ này không có con đường nào có thể giúp vị tu hành đoạn tận được khổ đau.
Trên đây là những hiểu biết của con. Kính Thầy chỉ dạy thêm cho con!!!
Con chúc Thầy thật nhiều sức khỏe. Kính Thầy trụ thế dài lâu nơi thế gian, cho HĐTM chúng con được hưởng nhiều lợi ích!!!
Con, Lý Thiện Huệ
2. Bài viết của Lý Lục Vũ
Kính bạch Thầy !!! Kính HĐTM Lý Gia !!!
Lời đầu tiên cho con được sám hối trước Thầy và HĐTM Lý Gia bởi tâm vô ngại của con chưa thành tựu, là một SH của nhiều SĐ mà quá tự ti không dám tham gia trò chơi Trí Tuệ và hỏi đáp trên zoom. Con xin hứa: Từ nay, con sẽ tinh tấn nhiều hơn!!!
Sau đây con xin tập trả lời ba câu hỏi theo kiến giải của con như sau:
Hỏi:
1) Vì sao khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng) bỏ về ??? Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ có lãnh hội được gì không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ minh hoạ !!!
Trả Lời:
Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để: “Khai – Thị –
Ngộ – Nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. (Phật tri kiến là những thấy biết như Phật).
Muốn lãnh hội được “Tri kiến Phật” điều kiện tâm thức phải vô lậu: Thanh Văn chứng A La Hán, Duyên Giác chứng Bích Chi Phật, Bồ Tát chứng Diệt Đế. Nói chung để lãnh hội được Phật tri kiến (hay Pháp Hoa Tri Kiến) điều kiện cần và đủ là phải Hết khổ, dứt Tập và chứng Diệt. Vì thế trước khi thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, phải dời trời người đi nơi khác, tức phàm tâm hay hữu lậu tâm phải được tịch diệt…Vì rằng, những tâm này sẽ không thể tiếp nhận được Phật tri kiến.
Ngũ tổ cũng dạy: “Bất thức bổn Tâm học Pháp vô ích”. Trong số đó 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn chưa chứng nói chứng, phải bỏ ra về. Vì cảnh giới xuất thế là cảnh giới Tâm vắng lặng tịch tĩnh không còn suy lường, đúng sai , đẹp xấu, hơn thua… là thứ tâm bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm…không còn nhị nguyên đối đãi. Tâm vô lậu mới có thể tiếp nhận được Phật Tri Kiến. Vì thế, Bát Chánh Đạo mới được gọi là: “Tu Đạo Vị”.
Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ có lãnh hội được gì không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ minh hoạ !!!
Theo con, giả sử 5000 vị ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, nhất định các vị ấy, không lãnh hội được giáo Pháp của Phật !!!
Vì Pháp Hoa là cảnh giới xuất thế, cảnh giới trí tuệ, chỉ dành riêng cho những nguồn tâm vô lậu, người đại trí…cho nên những người nào còn tiểu tâm, hữu lậu tâm…không thể lãnh hội được pháp vi diệu của Phật. Có nghĩa, khi tâm và trí không cùng tầng số giữa người nghe và người thuyết, nếu ngồi lại nghe chỉ thêm phiền não, tâm trí hỗn loạn, rơi vào hầm hố, chẳng có lợi ích gì!
Ví dụ:
-Một học sinh Tiểu học vào nhầm phòng của sinh viên đại học, nếu có ngồi nghe chẳng hiểu biết gì.
– Cá không thể hiểu chuyện gì trên mặt đất mà rùa trải qua kể lại cho cá nghe.
– Vua Tự Đức và các đại thần không tin có xe hai bánh mà chạy được, bóng đèn chốc ngược mà vẫn sáng, khi nghe Nguyễn Trường Tộ đi Tây về kể lại.
Hỏi:
2) Trong hai nhóm kiết sử là độn sử (lỗi hành vi) và lợi sử (lỗi nhận thức)… Mọi người đều biết, người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!! Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế có hợp lí không ??? Và kết quả cao nhất của hành động này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ !!!
Trả Lời:
Người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!!
Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế là không hợp lí !!!
Do không học tập, nên không biết được lỗi nào là lỗi hành vi, lỗi nào là lỗi nhận thức. Sở dĩ có được hành vi đúng, hành vi tốt đẹp, hành vi vô lậu… là nhờ có nhận thức đúng, nhận thức tốt đẹp, nhận thức được thế nào là vô lậu…từ đó nó là Đế của nhau, thúc đẩy nhau phát triển.
Mọi pháp suy đoán dẫn đến hiểu biết sai lệch, khi hiểu biết sai lệch cho ra mục tiêu, đối tượng tiêu diệt sai. Chúng ta biết rằng tham, sân, si chỉ là hiệu ứng của ba duyên hoà hiệp, nó chính là bóng dáng của nghiệp thức (thức mê) khi căn xúc đối với trần. Vì thế tham, sân, si không thật, là mộng huyễn… Đã là không thật thì làm sao diệt???. giống như không thể no bụng khi ăn cơm trong mộng, hay quét sạch bóng cây.
Để giải quyết vấn đề này, khi căn tiếp xúc trần ta không cho thức mê chen vào. Móc xích căn – trần – thức bị bẻ gãy, từ đó nhận thức (hiểu biết) thay đổi, hiểu biết thay đổi thì hành vi cũng thay đổi, nên tham, sân, si muội lược (mỏng nhẹ) cho đến chấm dứt.
Giả sử nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, mà cứ nhắm thẳng vào tham, sân, si tiêu diệt, thì kết quả: Không thành tựu được gì cả !!!
Giống như:
– Khi lấy lửa để dập lửa thì lửa càng cháy to.
– Khi quét, lau, chùi… một cái bóng thì bóng cũ không mất, lại còn hiện ra thêm bóng mới!!!
– Một anh cán bộ đang nhận tiền vì tham, thì không thể gọi điện thoại báo công an hoặc cơ quan chức năng rằng tôi đang nhận tiền phi pháp…!
Hỏi:
3a) Trí tuệ của Phật đạo khác và giống suy nghĩ của người đời ở những điểm căn bản nào ???
Trả lời:
*Trí tuệ của Phật đạo và nghĩ suy của người đời: cũng giống, cũng không giống:
A. Điểm giống nhau:
Trí tuệ của Phật đạo và suy nghĩ của người đời cùng chung là nghĩ suy (tư duy), tức là có trí tuệ hay không trí tuệ (người đời) cũng phải nghĩ suy, nghĩ suy không mất.
B. Điểm khác nhau:
Người giác ngộ:
– Trí tuệ suy nghĩ mang tính trung thực, không cực đoan, không luyến ái…
– Trí tuệ suy nghĩ một cách rốt ráo, tường tận minh bạch, không có chủ kiến…
– Trí tuệ thông qua trực nhận…
– Trí tuệ suy nghĩ hay phân tích một sự việc, một vấn đề thấu tình đạt lí…
– Kết luận trước, suy nghĩ sau
– Là những hiểu biết chắc thật do quá trình thực chứng.
– Sản phẩm của trí tuệ là Trí…v.v…
Người đời:
– Suy nghĩ người đời mang nặng tình cảm, phán xét và cực đoan…
– Suy nghĩ người đời không tường tận, không minh bạch, còn chủ kiến…
– Suy nghĩ người đời thông qua suy lường…
– Suy nghĩ người đời là phân tích một sự việc, một vấn đề thường mang tính chủ quan…
– Suy nghĩ trước, kết luận sau.
-Là những hiểu biết trong ba cõi.
– Sản phẩm của người đời là Thức.v.v…
Trên đây là một phần sơ lược các điểm giống và khác nhau giữa trí tuệ trong Phật đạo và suy nghĩ của người đời.
3b) Chuyển thức thành trí là chuyển điều gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ để làm sáng tỏ hai câu hỏi trên !!!
Trả lời:
Chuyển thức thành trí: Là chuyển phần che mờ, là hiện tượng bên ngoài như tâm hư vọng, như đám mây che mặt trời, chứ không thể chuyển bản chất (bổn tâm), (ánh sáng mặt trời).
Khi tâm còn hữu lậu thì mọi thấy, biết còn mê nơi ba cõi đó là thấy biết của Thức (mê).
Khi tâm đã chứng Diệt – vô lậu mọi thấy biết thanh tịnh, trực nhận.. đó là thấy biết của TRí!
Tóm lại:
Khi mê ý căn bị che mờ nên Thức hiện.
Khi giác ngộ ý căn trở về bổn lai thanh tịnh, sáng suốt…là trực nhận… là Trí.
Chuyển thức thành trí là chuyển cái mê nơi nhận thức, khi cái mê không còn, chính là Trí.
Ví dụ: Ngọn núi này To, viên sỏi này Nhỏ, bức tranh này Đẹp, tấm hình này Xấu, bản nhạc kia Hay, lời nói này Đúng, việc làm này Sai… To Nhỏ, Đẹp Xấu, Hay Dỡ, Đúng Sai… chỉ là những quan niệm, quan điểm… khi ta không đặt quan niệm, quan điểm… nơi thấy, nghe, hay, biết, thì thấy nghe hay biết tự thanh tịnh tự rỗng rang…
Ta có thể kết luận: Thấy biết dựa trên quan niệm, quan điểm là Thức!
Thấy biết thanh tịnh, rỗng rang (bất cấu bất Tịnh, bất tăng bất giảm) là Trí.
Trên đây là kiến giải của Con, kính xin Thầy từ bi dạy bảo…
Con, Lý Lục Vũ.
3. Bài viết của Lý Thái Đăng
Kính Thầy !!!
Kính thưa các HĐTM Lý Gia !!!
Con xin trả lời các câu hỏi TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ – 06/2020.
1) Vì sao khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng) bỏ về ??? Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ có lãnh hội được gì không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ minh hoạ !!!
Trả lời:
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật tuyên thuyết: “Đại sự nhân duyên của Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”!!!
Đây có thể được coi là tuyên ngôn của Phật đạo, định hướng của Phật Giáo, triết lý của Phật pháp… mở ra đường lối giáo dục thay đổi nhận thức, làm cơ sở nền móng cho việc xây dựng Quốc Độ Phật với nền văn hóa vô lậu trên khắp thế gian này.
Mục tiêu đào tạo hướng đến là “Phật tri kiến” hay thấy biết Tông thông và Thuyết thông như Phật!
Kỹ thuật hay cách thức đào tạo có bốn tầng bậc là “khai, thị, ngộ, nhập”!
Người đứng đầu nền giáo dục là Phật! Trợ giảng các môn học là các vị Bồ tát (đạt chuẩn)!
Người bắt đầu được tuyển vào giai đoạn dự bị “Đạo đế” là chúng sanh… với đặc tính là nhị nguyên phân biệt (phải – trái, đúng – sai, hay – dở, được – mất, yêu – ghét, giận – thương…) và qua ba cấp học dự bị (khổ đế, tập đế, diệt đế tương đương với 29 môn học) người học được giải quyết dứt sạch phàm phu tánh… cho ra không tâm, không pháp, không ngã… Lúc này người học được coi như đủ tiêu chuẩn, chính thức nhập cấp Đạo đế để học bát chánh đạo… và được Phật trực tiếp khai thị ngộ nhập Phật tri kiến…nhằm thành tựu trí tuệ và được thẩm định qua hai tiêu chí Tông thông và Thuyết thông.
Hệ thống giáo dục Phật đạo là Tứ Đế triển khai thành 37 Phẩm! Đây là chương trình khung của giáo dục đào tạo rất rõ ràng, cụ thể!
Tạm chia thành ba tầng bậc là Thế gian, Xuất thế gian và Xuất thế gian thượng thượng để phù hợp với mô hình giáo dục ba loại đối tượng.
– Đối với học sinh, sinh viên gọi là 37 phẩm trợ đạo;
– Với giáo viên gọi là 37 phẩm trợ Bồ đề;
– Với các vị làm công hạnh (tu bồ tát hạnh, hành bồ tát đạo) gọi là 37 phẩm Đạo quả.
Vì vậy đối với người học cần thấu tỏ, biết rõ bản thân bắt đầu học nội dung gì, ở lớp nào, cấp học nào để vào đúng cấp, ngồi đúng lớp, xếp đúng chỗ…
Đối với tầng bậc đầu tiên 37 phẩm trợ đạo (thế gian), chương trình dành cho (học sinh, sinh viên) lại chia làm ba giai đoạn tư lương vị, kiến đạo vị và tu đạo vị, để cho người học biết rõ nội dung, quy tắc học tập, tiêu chuẩn lên lớp… một cách chi tiết, rõ ràng…
Tránh sự ngộ nhận về năng lực, trình độ mà đứng trật chỗ (đang đi học mà lên bục xưng thầy thuyết giảng);
Tránh ngồi nhầm lớp (như đang học tứ chánh cần, dọn cỏ thiện ác chưa xong, chưa nhất tâm mà đã bón phân ngũ căn, ngũ lực, trạch pháp giác chi);
Tránh vào nhầm cấp (chưa qua khổ đế, tập đế, diệt đế mà đã đòi học đạo đế)…
Hệ quả của sự nhầm lẫn tai hại như trên không những tốn công vô ích mà còn xảy ra hệ lụy làm người học chán nản, phiền não, điên đảo… Nhiều người học đạo cách này từ khi còn trẻ, mãi cho đến tuổi già mà vẫn chưa biết lấy gì để tự thẩm định, mình chính thức đang học cấp nào, lớp nào, đã hoàn thành môn học nào trong 37 môn học… do vậy đã than vãn trên mạng internet là “mèo vẫn hoàn mèo”, phiền não đeo bám… chỉ khác là “mèo già hóa cáo”!
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa thuộc cấp học Đạo đế! Giảng viên trực tiếp là Phật! Học viên đủ chuẩn để vào học đối với Bồ tát chứng Diệt đế; đối với Thanh văn chứng quả A La Hán; đối với Duyên giác chứng quả Bích Chi Phật. Các thành phần như “Trời, người” phải dời đi chỗ khác…
Do vậy mà khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng) bỏ về vì lý do vào nhầm cấp học!.
Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ cũng chẳng có lợi ích gì vì chẳng thể thâm nhập cảnh giới Phật tri kiến… Thậm chí còn phát sanh tà kiến, bởi Phật dạy “Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh văn cùng Duyên giác không thể đến được”. Mặc dù ngài Xá Lợi Phất thưa thỉnh nhiều lần xin Phật cho các thành phần (chưa ra khỏi ba cõi) được nghe Diệu Pháp Liên Hoa… Nhưng Phật đã xác quyết “Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi ngờ”… “Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A Tu La đều sẽ kinh nghi, Tỳ kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào hầm lớn”. (Trích Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm “Phương Tiện” thứ hai – HT Thích Trí Tịnh dịch).
2) Trong hai nhóm kiết sử là độn sử (lỗi hành vi) và lợi sử (lỗi nhận thức)… Mọi người đều biết, người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!! Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế có hợp lí không ??? Và kết quả cao nhất của hành động này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ !!!
Trả lời:
Đọc câu hỏi của Thầy con lại nhớ cái thời ngây thơ, ngờ nghệch (trước khi vào Lý gia) khi nghe câu khẩu hiệu “Diệt ngã xả tâm” liền lao vào thực hành như “nam châm hút sắt” quyết chiến ngày đêm… Nhưng kết quả thì tham sân si chẳng trầy vi, tróc vảy mà còn hẫy hừng hơn. Đúng là “Nhiệt tình cộng với cục ngu, Tam độc phát tác cho dù lên non”! Và kết quả cao nhất của hành động này là chúng sanh trung thành nơi ba cõi với cảnh giới điên đảo, phiền não, ảo tưởng, ngứa miệng, thích phán xét những điều trong ngũ ấm ma hiện ra!!!
Nay được vào Lý gia thật là hạnh phúc, huynh đệ Lý gia chỉ cần nghe qua khẩu hiệu “Diệt ngã xả tâm” thì người có Giác lực đã biết ngay con đường sai; người có Huệ lực còn biết rõ con đường nào đưa đến vô lậu, con đường nào đưa đến hữu lậu; còn người đã phát sanh trí tuệ trực nhận vấn đề, gọi là Bát nhã lực thì có thể thắp sáng niềm tin, lan tỏa yêu thương, hoằng dương Chánh pháp…
Thầy dạy: “Nếu ta vẫn cứ mê, không giác ngộ để thấu suốt bản chất của tâm và pháp, cứ mãi “hướng ngoại tìm cầu”… Cho dù ta từ bỏ thế giới này, lên tận rừng sâu núi thẳm, cửa đóng then cài, không tiếp xúc thế giới nhân sinh thì, với những tâm thức như vậy, thế gian đạo cũng theo người đó lên tận rừng sâu núi thẳm…Cho dù cửa đóng then cài, không tiếp xúc thế giới nhân sinh thì, thế gian đạo cũng theo người đó mà vào tận buồng kín, bao phủ lấy cõi lòng người đó !!!”(Lý Tứ)
Giác ngộ, giải thoát và trí tuệ là khẩu hiệu hành động đang ứng dụng thành công trong Lý gia và được Thầy chỉ rõ “Có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!!”. Nhưng nhiều người tu hành, không nhận ra chân lý đó để thay đổi nhận thức, do vậy mà hiểu sai, ứng dụng sai và dẫn đến kết quả không như mong muốn.
Đối với Lý gia, khi đề ra mục tiêu là hết tham sân si…Huynh đệ Lý gia được Thầy chỉ dạy đến nơi đến chốn để thay đổi nhận thức, do vậy mà học trò nắm rõ nguyên lý “Tam độc” từ đâu mà sanh, trụ vào đâu mà trưởng, biến tướng như thế nào, làm sao mà tịch diệt…
Theo lời Thầy chỉ dạy, con nhận ra rằng: “Tam độc” không thật có, nó chỉ là hiệu ứng do ba duyên (trần, căn, thức) hòa hợp… Chỉ cần tác động vào duyên “thức” làm mất đi sự ô nhiễm của thức thì ba duyên không còn hòa hợp… trả lại sự sáng suốt ban đầu (trần, căn, trí), nghĩa là người tu không phải thay đổi thế giới, hay bưng tai bịt mắt, yểm ly các căn… mà chỉ cần thay đổi nhận thức, thái độ đón nhận sự việc (khi xúc, thọ, ái, thủ) …, gọi là “minh xúc”. Để thấu tỏ kỹ thuật minh xúc cần ứng dụng bài Kinh Căn Tu Tập và Tam vô lậu học!
Tiếp đó, để thay đổi như pháp về nhận thức, huynh đệ Lý gia còn được trang bị phương pháp tư duy thấu suốt nguồn cơn, không chỉ dứt “Tam độc” mà giải quyết luôn cả mười kiết sử, bao gồm năm độn sử: Tham, sân, si, mạn, nghi (lỗi hành vi) và năm lợi sử: Thân kiến, biên kiến, thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến (lỗi nhận thức), gọi là giải quyết nguồn tâm!.
Quay về giải quyết nguồn tâm trong một hữu tình, có thể ví Tánh Giác (cái biết bản nhiên) của hữu tình như tia nắng mặt trời; Khi có các thứ “KIẾN” (thân kiến, biên kiến, thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến) xuất hiện ví như cái cây (hay đám mây) thì hiệu ứng vùng tối (hay bóng râm) xảy ra, gọi là (tham, sân, si, mạn, nghi).
Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động (diệt bóng cây…) như thế gọi là vô lý hoàn toàn, gọi là tu hành kiểu “BA TRỢN”, bởi vì:
“Phật đạo là đạo trí tuệ, con đường từ thế gian đến xuất thế là con đường của trí tuệ…Mọi thứ đều bắt nguồn từ nhận thức !!! Mê là nhận thức bị mê !!! Ngộ (hay giác ngộ) là nhận thức thấu suốt được bản chất của tâm và pháp !!!…”(Lý Tứ)
Mê tạo ta vùng tối tâm thức không thật có, như mộng huyễn bào ảnh, do đó không ai lại có thể đi diệt giấc mơ, đi quét vùng tối (hay bóng cây) bao giờ???…
Mọi hành vi “Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt” đều là bệnh, không khả thi… Chỉ có giác ngộ mới giải hết nguồn mê!!! Người Giác ngộ như người ngủ tỉnh giấc hết mê, hay thắp sáng ngọn đèn trong tâm thức thì giấc mơ tự tan, bóng tối tự mất, chẳng cần phải diệt…
Còn tu hành để diệt ngã ư? Không thể nào! Bởi Thầy Lý Tứ chỉ rõ “Tu hành không thể diệt được ngã bởi tu hành chính là ngã” và người xưa cũng đã cảnh báo “Tác ý tìm chơn, chơn ẩn mất; Tận tâm diệt vọng, vọng càng sanh”.
Tóm lại: Trong ba duyên: Tia nắng (ví cho tánh giác); Đám mây, cái cây (ví cho các thứ “KIẾN”); Hiệu ứng vùng tối, bóng râm (ví cho các thứ TÂM); ta chỉ cần giác ngộ “Ngoài không mê “KIẾN” sanh TÂM; trong không còn niệm “CHẤP” sanh NGÃ, thì Tia nắng ngập tràn gọi là “Bổn lai diện mục” NIẾT BÀN hiện ra!!!”.
3) Trí tuệ của Phật đạo khác và giống suy nghĩ của người đời ở những điểm căn bản nào ??? Chuyển thức thành trí là chuyển điều gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ để làm sáng tỏ hai câu hỏi trên !!!
Trả lời:
Để so sánh “Trí tuệ của Phật đạo” khác và giống “suy nghĩ của người đời”, trước hết ta căn cứ vào những cơ sở lý luận căn bản của xuất thế gian và thế gian!
Những điểm căn bản “Trí tuệ của Phật đạo”, được Thầy Lý Tứ giảng dạy như sau:
“Trí tuệ trong Phật đạo, là loại hiểu biết chỉ có từ nhân giác ngộ! Hay nói khác hơn, đây là loại hiểu biết do giác ngộ mà thành, hiểu biết này thuộc về đạo xuất thế!”
“Một người được coi là có Trí Tuệ trong Phật Đạo, là người biết hướng những người khác, như pháp từng bước đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật Đạo”
“Cái được gọi là trí tuệ của Phật đạo không giống đem tri thức thế gian hiểu về Phật đạo, mà nó là những hiểu biết chắc thật hình thành từ quá trình thực chứng!”
“Về hai chữ trí tuệ trong Phật đạo, ta có thể tóm tắt như sau: Trí: Là những thấy biết chắc thật từ sự giác ngộ chắc thật! Tuệ: Là sự phát sáng, là năng lực giáo hoá, là sức ảnh hưởng như pháp đến các hữu tình khác! ”(Lý Tứ).
Trong nhãn quan của người tu hành thì mọi hoạt động về ý thức của (người chưa giác ngộ) được gọi là “suy nghĩ của người đời”.
Người đời (thông thường) có đủ sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu căn có sáu đối tượng tương ưng để nhận biết là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.
Trong đó, Ý căn có những tính chất đặc biệt, không hiện bên ngoài, vô hình vô tướng… và đối tượng nhận biết ban đầu của ý căn là “tánh biết” gọi là trực nhận, liễu tri, là tánh giác, là tự nhiên tánh, là “bổn lai diện mục”, là cái biết sáng suốt, không bị nhiễn ô…v…v.
Khi con người được sinh ra, nghiệp người xuất hiện, cái biết ban đầu bị nhiễm ô bởi Thức nghiệp gọi là Ý thức. Lớn lên người này lao động, học tập, tích lũy kiến thức của người đời mà Hiện thức tiếp tục nhiễm ô che mờ (tánh biết) và được Lưu chú cất giữ vào A Lai Da thức làm chủng tử Nghiệp thức cho đời sau…
Do vậy “suy nghĩ của người đời” không rời nhiễm ô, phân biệt, lấy cái bị biết để nghĩ suy và cho ra những quan điểm, quan niệm… gọi là sanh pháp, “mê pháp mà sanh tâm, trụ vào tâm pháp mà sinh ngã, mê lầm (tâm, pháp, ngã) mà sanh phiền não khổ đau, che mờ trí tuệ”.
“Suy nghĩ của người đời” và “Trí tuệ của Phật đạo” là hai phương pháp tư duy của hai cảnh giới thế gian và xuất thế gian hoàn toàn khác biệt… Nhưng “Phật pháp tại thế gian; chẳng lìa thế gian giác; lìa thế tìm Bồ đề; cũng như tìm sừng thỏ”(Vô Tướng Tụng) vì thế việc so sánh để tìm ra những điểm căn bản “Giống và Khác” là việc làm quan trọng và cần thiết đối với các vị Bồ Tát thực hiện hạnh nguyện cứu độ chúng sanh.
Căn cứ vào hạnh nguyện Bồ tát… ta có thể chọn ba tiêu chí căn bản để so sánh đó là “Mục tiêu tư duy; Phương pháp tư duy và Kết quả tư duy”.
Mục tiêu tư duy của “Trí tuệ của Phật đạo” là làm thay đổi nhận thức hay nhãn lực của người tu hành từ Nhục nhãn, Thiên nhãn, Pháp nhãn, Huệ nhãn cho đến Phật nhãn.
Mục tiêu “Suy nghĩ của người đời” là “Không ngừng nâng cao và thỏa mãn đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần… cho con người sống trong ba cõi, là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc…
Điểm giống của hai mục tiêu là cùng tác động vào đối tượng “con người”; cùng điểm xuất phát là “nhục nhãn”; còn điểm cuối của hai mục tiêu hướng đến thì hoàn toàn khác nhau.
Phương pháp tư duy của “Trí tuệ của Phật đạo” là “Trực nhận” vấn đề trước, sau đó chọn văn tự ngữ ngôn phù hợp để hiển bày sự thấy biết… gọi là chơn lý.
Còn phương pháp “Suy nghĩ của người đời” dựa trên sự vòng quay luân hồi của “Ba duyên Trần, Căn, Thức hòa hợp” gọi là “Từ trực quan sinh động (trần), qua công cụ (các căn) đến tư duy trừu tượng (thức). Từ tư duy trừu tượng (thức) trở về với thực tiễn (trần) để kiểm nghiệm, kết luận”. Thực tiễn được coi là người thầy của chơn lý.
Điểm giống nhau của hai phương pháp là đều lấy giáo dục để thay đổi nhận thức con người và hướng tới mục tiêu đã định…
Điểm khác biệt là cách thức, phương pháp giáo dục, hay kỹ thuật tác động vào quá trình nhận thức của con người để thay đổi hành vi của hai cách tư duy hoàn toàn trái ngược, đó là “Trí tuệ của Phật đạo” cho ra kết quả (trực nhận) trước, phân tích, giải thích và chọn ngôn ngữ hiển bày sau. Còn “Suy nghĩ của người đời” tư duy trừu tượng phân tích, giải thích trước, sau đó mới lấy thực tiễn ứng dụng làm “công cụ” kiểm chứng, chứng minh kết quả và cho ra “triết lý” của quá trình nhận thức, tư duy lý luận.
Trường hợp người giác ngộ (có nội minh) cần tư duy những vấn đề khác (ngoại minh) thì tư duy vẫn diễn ra như pháp nhờ các lực (giác lực, huệ lực, bát nhã lực, công đức lực) mà người tu hành không bị ái nhiễm hay thủ giữ kết quả làm ra do vậy mà Bồ tát tự tại hoạt dụng trong ba cõi như lời kinh dạy “pháp vô vong thất; tánh hằng tự xả…”
Kết quả tư duy “Trí tuệ của Phật đạo” cho ra Niết Bàn an vui, mãi vui cho đến tự tại. Bồ tát sống trong cõi dục mà không nhiễm dục, sống trong cõi sắc mà không mê mờ sắc, sống trong cõi vô sắc mà ung dung tự tại như con nhện đi lại trên tấm lưới giác ngộ của mình.
Còn “Suy nghĩ của người đời” thì cho ra các hiệu ứng của nghĩ suy, là sản phẩm của “Tư duy trừu tượng” nhằm thỏa mãn mục tiêu đề ra. Khi “Suy nghĩ của người đời” cho ra hiệu ứng nhằm thỏa mãn mong muốn tình cảm thì gọi là sanh tâm; hiệu ứng cho ra kết quả quan niệm, kết luận… thì gọi là sanh pháp; hiệu ứng mong muốn, thủ giữ tâm pháp làm đời sống thì sanh ngã. Tâm, Pháp, Ngã… Những thứ đó đều cho ra hệ quả phiền não, kiết sử, lậu hoặc gọi là nhân của khổ đế, tập đế… che mờ “Trí tuệ của Phật đạo”.
Từ sự so sánh trên, ta nhận ra rằng “Suy nghĩ của người đời” cho ra sản phẩm là “THỨC”; Còn “Trí tuệ của Phật đạo” cho ra sản phẩm là “TRÍ”. Do vậy chuyển thức thành trí là công nghệ xử lý, chuyển “Suy nghĩ của người đời” thành “Trí tuệ của Phật đạo”.
Phật dạy “Chúng sanh có Phật tánh”! Đại niết Bàn có tám tính chất căn bản hiện ra có thể nhận biết, là “Thường, Ngã, Lạc, Tịnh” gọi là Phật tánh! “Từ, Bi, Hỷ, Xả” là Phật tâm! Ai hiển bày được tám tính chất này gọi là Phật, là xuất thế, là Trí tuệ, là Thầy của trời người…vv; ví như Mặt trời!
Ai thủ giữ các món làm che mờ Phật tánh (“Suy nghĩ của người đời” cho ra tâm, pháp, ngã và hệ quả phiền não, kiết sử, lậu hoặc) gọi là vô minh, là không sáng suốt, là chúng sanh…vv; ví như Mây đen che nắng Mặt trời.
Thấu suốt được bản chất “Trí tuệ Phật đạo” (ví như mặt trời) là Thường bởi không sinh diệt, là Lạc bởi Niết bàn, là Ngã bởi làm nơi nương tựa, là Tịnh bởi thanh lương thượng diệu… Do vậy “Bản chất” của Phật tánh là không thể chuyển!
Còn các món làm che mờ Phật tánh ví như Mây đen che phủ bầu trời là vô thường biến hoại, do duyên mà hiệp, hết duyên hoàn không… “Mọi thứ đều bắt nguồn từ nhận thức !!! Mê là nhận thức bị mê !!! Ngộ (hay giác ngộ) là nhận thức thấu suốt được bản chất của tâm và pháp !!!…”(Lý Tứ). Tất cả “các món làm che mờ Phật tánh” chỉ là “Hiện tượng”, như Mây đen che nắng Mặt trời!
Như vậy ta nhận ra quy trình chuyển Thức thành Trí chỉ có thể chuyển trên “Hiện tượng” chứ không phải chuyển trên “Bản chất”.
Có thể ví Trí như ngọn đèn giác ngộ; Tuệ là sự phát sáng khi giúp người; Thức là vật cản, che chướng ánh sáng phát ra. Chuyển thức thành trí là lấy đi những sự che chướng ánh sáng mà không phải đi thay thế ngọn đèn khác.
Có thể ví “Trí tuệ Phật đạo” như gốc cây, “Suy nghĩ của người đời” như quảng cáo dán vào gốc cây. Chuyển thức thành trí là lột quảng cáo che chướng gốc cây mà không phải thay thế gốc cây.
Cũng có thể ví Trí như nước sạch đựng trong thùng, còn thức như lớp váng dầu che chướng nằm trên mặt nước. Chuyển thức thành trí chỉ là lấy đi váng dầu trên mặt nước mà không phải đổ nước đi.
Tóm lại: Thức tức Trí! Khi mê thì ý căn bị che mờ thức hiện, lấy thức làm đời sống gọi là trí thức, là “Suy nghĩ của người đời”; Khi giác ngộ thì ý căn trở về bổn lai thanh tịnh sáng suốt…là trực nhận, lấy trực nhận làm đời sống gọi là “Trí tuệ Phật đạo”… Cho đến khi đời sống người đó là trực nhận, trực nhận là đời sống người đó gọi là Chánh pháp vô dị biệt.
Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ!!!
Con, Lý Thái Đăng
4. Bài viết của Lý Giác Thư
Kính Thầy !!!
Con xin đảnh lễ Thầy 3 lạy !!!
Kính HĐTM Lý Gia !!!
Con xin tham gia trả lời câu hỏi:
1) Vì sao khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn(chưa chứng nói chứng) bỏ về ??? Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ có lãnh hội được gì không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Xingiải thích cụ thể và cho ví dụ minh hoạ !!!
Trả lời:
Khi Đức Phật thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cốt lõi của kinh này là khai thị Phật Tri Kiến cho Nhị Thừa khi đã chứng thánh quả A La Hán và Bồ Tát Quyền Thừa đã thành tựu hai vô ngã.
Cho nên trước khi tuyên thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh nói rằng, phải dời trời người đi nơi khác. Người, là dời những con người còn tâm phàm phu đối đãi của thế gian, tội phước, hơn thua, phải trái, đúng sai… Và Trời, là chỉ cho các vị tu hành tuy có đắc thiền định nhưng chưa giác ngộ đạo xuất thế.
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật dạy: “Đại sự nhân duyên của Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật Tri Kiến cho chúng sanh”. Có nghĩa rằng Phật ra đời chỉ một mục tiêu duy nhất là dạy người thành Phật. Tuy nhiên để dạy người thành Phật thì những thấy biết của Phật, một phàm phu không thể học được !!! Giống như một người mù không thể học màu sắc, càng không thể học hội họa được !!!
Giống như một người còn tâm tham thì khi dạy trí tuệ siêu việt, thì trí tuệ siêu việt đó cũng nhằm phục vụ cho tâm tham này, và kết quả đó không như Phật đạo mong muốn !!!
2) Trong hai nhóm kiết sử là độn sử (lỗi hành vi) và lợi sử (lỗi nhận thức)… Mọi người đều biết, người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!! Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế có hợp lí không ??? Và kết quả cao nhất của hành động này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ !!!
Trả lời:
Trong Phật Đạo, tham, sân, si được coi là ba thứ độc và người tu hành nào cũng canh cánh trong lòng việc dứt bỏ ba thứ độc tham, sân, si này. Nhưng sở dĩ người tu hành chưa thể dứt được là bởi vì hiệu quả của việc tu hành chưa cao, thời gian chưa đủ và chưa giác ngộ !!!
Mọi người đều biết, người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!! Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động này hoàn toàn không hợp lý.
Vì sao không hợp lí? Vì tham, sân, si thuộc độn sử hay lỗi hành vi, tức nó chỉ là hệ quả của một nhận thức sai lầm, lâu ngày huân thành tập nhân trong tâm thức. Giống như bóng cây, khi đủ duyên cây sẽ hiện bóng, người ta không thể tiêu diệt bóng cây, một khi cái cây và các duyên hãy còn.
Tham sân si là quả đã thành, giả sử ta nhắm thẳng vào nó tiêu diệt, nếu có diệt được, khi đủ duyên quả ấy sẽ hiện lại, hành động này chẳng khác gì hình thức lấy đá đè cỏ. Hay người ta không thể tận diệt cành nhánh của một cái cây, khi gốc rễ của nó vẫn còn !!!
Vì thế không thể nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt. Nếu người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt thì kết quả của hành động này là tham vẫn hoàn tham, si mê hoàn si mê và sân hận còn nguyên !!!… Đây cũng là lí do vì sao một Tu Đà Hoàn (sơ giác) không diệt ba kiết sử thuộc hành vi là tham, sân, si mà chỉ đoạn ba kiết sử thuộc nhận thức là thân kiến, giới cấm thủ và nghi !!!
3) Trí tuệ của Phật đạo khác và giống suy nghĩ của người đời ở những điểm căn bản nào ??? Chuyển thức thành trí là chuyển điều gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ để làm sáng tỏ hai câu hỏi trên !!!
Trả lời:
Trí tuệ của Phật đạo giống suy nghĩ của người đời là cùng một sự hiểu biết. Nhưng hai sự hiểu biết này lại là hai sự hai sự hiểu biết khác nhau rất xa:
– Suy nghĩ hay sự hiểu biết của người đời là sự hiểu biết của suy lường, suy hiểu và kinh nghiệm… Tức là sự hiểu biết này bị cột trói bởi tánh và tướng (tánh pháp và tướng pháp), có nghĩa sự hiểu biết này y theo tánh hoặc tướng mà nhận định.
Ví dụ ngươi đời thấy nước nhận định tánh của nó là mát, thấy bàn biết tướng đó là vuông hoặc tròn, sự hiểu biết này không biết mát hay vuông chỉ do duyên.
– Trí tuệ trong Phật đạo, là loại hiểu biết chỉ có từ nhân giác ngộ! Hay nói khác hơn, đây là loại hiểu biết do giác ngộ mà thành, hiểu biết này thuộc về đạo xuất thế!
Cái được gọi là trí tuệ của Phật đạo không giống đem tri thức thế gian hiểu về Phật đạo, mà nó là những hiểu biết chắc thật hình thành từ quá trình thực chứng !!!
Giống người nông dân, sau khi học kĩ thuật canh tác từ những nhà chuyên môn, biết kĩ thuật canh tác gọi là tri thức! Tri thức hay tri kiến trong Phật đạo là những hiểu biết chân chánh về đạo pháp, hiểu biết này chỉ thuần tuý là tri thức (tri kiến)!
Sau đó người nông dân đem những điều mình đã học, ứng dụng vào việc canh tác! Trong quá trình ứng dụng thực tế phát sinh những vấn đề mà lí thuyết không thể bao quát hết được!
Nhờ các phát sinh ấy, người nông dân nổ lực khắc phục! Cứ như vậy, ứng dụng lí thuyết, khắc phục các phát sinh, đến khi nào việc canh tác của người nông dân hoàn toàn như ý!
Với bao nhiêu thửa ruộng, với bao nhiêu công sức bỏ ra! Bây giờ người nông dân hoàn toàn nắm vững kĩ thuật canh tác, kết quả gieo trồng không còn bất kì sai số nào! Hiểu biết của người nông dân lúc này có thể đem ra trao đổi với những người nông dân khác một cách chắc thiệt! Lấy hiểu biết chắc thiệt của tự thân đem chia sẻ cho người, Phật đạo gọi là “tuệ”! Tuệ hay trí tuệ trong Phật đạo là thứ hiểu biết cụ thể thông qua quá trình thực chứng!
Về hai chữ trí tuệ trong Phật đạo, ta có thể tóm tắt như sau: “Trí: Là những thấy biết chắc thật từ sự giác ngộ chắc thật! Tuệ: Là sự phát sáng, là năng lực giáo hoá, là sức ảnh hưởng như pháp đến các hữu tình khác.Trí tuệ trong Phật đạo là như thế”!…Trích nguồn Lã Thị Hạ Đế !!!
Con người ta có tám hay chín thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức và một thức là lưu chú thức. Nhưng thực tế nó chỉ là một thức, hay có một cái biết mà nó làm đến tám hay chín chức năng. Giống như một người làm tới tám hay chín công việc như thầy giáo, cha, chủ tịch hội nông dân…
Chuyển thức thành trí là chuyển điều gì ???….Tức là khi thức chạy vào các căn hay ở yên nơi chính nó, không để sự hiểu biết này làm mình mê muội, đừng chấp nhất vào nó thì gọi là chuyển thức thành trí !!!
Giai đoạn đầu tiên người ta chuyển năm thức trên thân hay gọi là “tiền ngũ thức”, là thức ở nơi con mắt (nhãn thức), nơi lỗ tai (nhĩ thức), lỗ mũi (tỷ thức), cái lưỡi (thiệt thức) và thức ở thân (thân thức). Khi nào ta chuyển được năm thức này thì đối trước thấy nghe, nếm ngửi và xúc chạm ta không mê mờ, không phân biệt, không sinh các quan niệm, gọi là“thành sở tác trí” !!!
Công việc thứ hai, chuyển thức thứ sáu là (ý thức)… Thức này ngày trước hay phân biệt, hơn thua đủ thứ, bây giờ người tu hành thay đổi nó, không mê nữa, thì thứ thứ sáu (ý thức) trở thành “diệu quan sát trí ”.
Sau khi (ý thức) trở thành “diệu quan sát trí”, bây giờ thức này không còn phân biệt, không còn mê nữa, thì thức thứ bảy là “mạt na thức”, là thức chấp thủ hay cái ngã gìn giữ sẽ tự dứt. Khi không còn phân biệt hơn thua, thì tự “mạt na thức” trở thành “bình đẳng tánh trí”. Tức là thấy nghe gì đều bình đẳng, không phân biệt cao thấp, tốt xấu !!!
Khi năm căn thân và ý thức cho tới “mạt na thức” không còn chấp, không còn sinh ngã, không còn phân biệt, không còn mê muội… Bây giờ mọi cảnh duyên diễn ra trước mặt như tấm gương sáng, soi rõ mọi vật gọi là “đại viên cảnh trí”. Tức là tâm bây giờ an lạc, sáng suốt, thanh tịnh và không hề lay động gọi là “đại viên cảnh trí” hay “đại viên tâm”, hoàn thành công việc chuyển thức thành trí.
– Khi tám thức chuyển thành bốn trí… Thức thứ chín là “lưu chú thức” không chuyển theo vì đây là thức phụ nó không có chức năng mê hay giác, cũng không bị ảnh hưởng bởi mê hoặc ngộ. Nó như dòng hải lưu âm thầm chảy dưới đáy biển mang các thứ trong biển từ nơi này đến nơi khác.
Giống như người thư ký của một Công ty lớn, chỉ làm công việc do ông chủ sai bảo, không thể quyết định chuyện thành bại của Công ty!!!
Vì thế .“Tu hành trong Phật đạo chính là công cuộc chuyển đổi thức thành trí. Muốn chuyển đổi thành công phải thấu suốt cái chuyển đổi và cái sắp được chuyển đổi, càng thấu suốt việc chuyển đổi càng xảy ra dễ dàng. Như người ta dùng sức lao động để đổi nghèo thành giàu, một người khiếm khuyết trí tuệ, không nhận thức được sự khác nhau giữa giàu và nghèo, nhất định chẳng bao giờ có một sự chuyển đổi tích cực, đúng mực, để đưa đến thành công trong con người đó”. Trích Anh Lạc Luận – Tác giả Lý Tứ.
Thưa Thầy, trên đây là phần trả lời của con, nếu có gì sai sót xin Thầy chỉ dạy thêm.
Con xin thành tâm đảnh lễ Thầy, lạy tạ thâm ân giáo dưỡng của Thầy vô lượng lễ. Kính chúc Thầy nhiều sức khoẻ, trụ thế thật lâu!!!
Kính chúc HĐTM LÝ GIA luôn an lạc, tinh tấn trong chánh pháp của Như Lai được Thầy dẫn dắt !!!
Con, Lý Giác Thư




Chủ Đề: Làm Thế Nào Để Diệt Tham Sân Si???
Trò chơi trí tuệ số 06.2020 với chủ đề làm thế nào để diệt tham sân si

Các bạn !!!
Thời gian qua, một số HĐ nhắn tin cho mình nêu thắc mắc, một ngày Lý Tứ làm những gì ??? Các tin nhắn như thế, mình chẳng biết trả lời thế nào cho phải, đành im lặng !!! Hôm nay cao hứng, ghi lại nhật kí một số công việc của tối hôm qua và ngày hôm nay, như một cách trả lời chung cho các bạn có tin nhắn muốn biết một ngày mình làm những gì !!!
14/07/2020
Sau buổi sinh hoạt trực tuyến buổi tối, mình lại tiếp tục công việc đến gần một giờ sáng mới đi nghỉ !!! Chỉ là những công việc bình thường như mọi ngày, trả lời emails, giải quyết thắc mắc của HĐ qua điện thoại, trả lời tin nhắn và viết bài cho trang !!!
15/07/2020
Bốn giờ sáng thức dậy, đồng hồ chỉ 4:00 !!! Pha một bình trà, đốt thỏi trầm hương và đọc bản thảo cuốn sách sắp xuất bản do Anh Phúc gởi hồi chiều nhưng bận quá chưa xem kịp !!!
Trong cái thoang thoảng mùi thơm dìu dịu của trầm hương, cộng với chút gì đó phảng phất ngòn ngọt của King Tea Oolong, mình mãi miết đọc !!! Mắt chăm chú nhìn màn hình đọc và đọc, tay bấm bấm cái ipad ghi các lỗi cần sửa chữa vào note để sáng ra trao đổi với Anh Phúc !!! Từng trang, từng trang cứ thế cuốn hút mình đọc rồi ghi chép quên cả thời gian !!!
Đến cuối cuốn bản thảo, ngước lên nhìn đồng hồ, đã 07 giờ 45 phút !!! Thế là sau 03 giờ 15 phút, mình nuốt xong 430 trang sách !!! Bình trà đã nguội tự bao giờ, thỏi trầm hương cũng lụi tàn trong lặng lẽ !!! Cẩn thận xem lại các dòng ghi chú, mọi thứ rõ ràng !!! Tiếp tục uống trà nguội, đọc emails, nghe điện thoại và trả lời tin nhắn !!!
08 giờ 30…Bấm máy gọi Anh Phúc, rất may hai ông bà đi Cưm’ga, hẹn 15 giờ chiều cùng nhau làm việc !!! Thế là mình xách xe chạy một vòng nhìn ngắm thiên hạ để thư giản như một thói quen sau thời gian làm việc !!! Trên đường đi, Liêm gọi để nhờ tư vấn bệnh tình bà cụ (mẹ của Liêm)… Bỗng dưng thích một ly xây chừng bốc khói, thế là mình cùng mấy HĐ hẹn nhau đến quán cà phê !!!
Chiều làm việc với Anh Phúc đến gần 17 giờ, bản thảo coi như được 1/3…Ngày mai lại tiếp tục !!! 17 giờ chiều, mình và mọi người đến bệnh viện thăm mẹ của Liêm, sau đó cả bọn lại rủ nhau đi cà phê trao đổi một vài công việc cần thiết, trời tối mịt !!! Trong lúc uống cà phê, sực nhớ còn nợ các bạn Trò Chơi Trí Tuệ kì này…Thế là, lại vội vàng về nhà và viết cho các bạn đây !!!
Mình sống ở tầng trên của căn nhà, hầu như không bước xuống đất trừ đi ăn trưa, sáng nhịn đói chỉ uống bình trà rồi làm việc, còn bữa tối thì thông thường bà xã mang thức ăn sang (bà xã ở cách mình 147 bước chân), có gì xực thứ đó không đòi hỏi, hoặc chơi mì gói nếu bà xã cấm vận… Chuyện bữa trưa ăn gần một hai giờ chiều là bình thường (ăn trễ riết bà xã tặng giấy khen), thói quen của mình chưa giải quyết xong công việc chưa rời chỗ ngồi !!!
Hai cái ipad, 1 cái iphone, một computer làm việc hết công suất từ sáng đến tối là các bằng hữu chí thiết, những thứ ấy gắn liền với mình cả chục năm trời !!! Hầu như trừ những lúc ngao du với HĐ, mình rất ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài !!! HĐ ở xa biết mình bận rộn, nên chỉ đến thăm trong vòng một buổi hoặc một ngày rồi ra về chứ không ở lâu, vì sợ làm mất thời gian của mình đồng thời dành thời gian cho các HĐ khác !!!
Một ngày của Lý Tứ là thế đó các bạn !!! Chính những bận rộn vì các công việc không tên từ sáng đến tận khuya… Thời gian trôi quá nhanh đến nổi không có dịp thăm hỏi hay hẹn hò bạn bè du hí vài ba ngày cho thoả tình, đôi lúc lại bị người đời hiểu lầm và trách móc !!! Rơi vào hoàn cảnh này, cũng đành chịu và chỉ biết…cười…trừ…mà…thôi !!!
Đến đây, chắc là các bạn hết thắc mắc một ngày Lão Lý làm những gì !!! Và hiểu ra, vì sao Lão Lý hay từ chối các cuộc thăm viếng của HĐ và bằng hữu !!! Ha ha ha ha !!! Biết rồi, nhớ không…được…giận !!!
Các bạn !!!
Có thể nói, các kì sinh hoạt trực tuyến gần đây HĐ chúng ta làm rất tốt… Từ thuyết trình của chủ toạ, đến các câu hỏi do đại chúng đặt ra và phần tham gia trả lời của HĐ, hầu như chất lượng đều được nâng lên !!! Đây là điều đáng mừng, chứng tỏ sân chơi trực tuyến của chúng ta thật sự bổ ích !!!
Để giúp HĐ ôn lại những gì đã trao đổi với nhau trong thời gian qua…Mình có một số câu hỏi sau:
1) Vì sao khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, 5000 người mắc lỗi tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng) bỏ về ??? Giả sử, 5000 người ấy không bỏ về, ở lại để nghe Phật thuyết pháp, họ có lãnh hội được gì không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ minh hoạ !!!
2) Trong hai nhóm kiết sử là độn sử (lỗi hành vi) và lợi sử (lỗi nhận thức)… Mọi người đều biết, người có được giác ngộ là nhờ thay đổi nhận thức như pháp, từ đó hành vi thay đổi theo… Vì thế tham, sân, si muội lược cho đến chấm dứt !!! Nếu một người không học tập để thay đổi nhận thức, người ấy cứ nhắm thẳng tham, sân, si mà tiêu diệt, hành động như thế có hợp lí không ??? Và kết quả cao nhất của hành động này là gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ !!!
3) Trí tuệ của Phật đạo khác và giống suy nghĩ của người đời ở những điểm căn bản nào ??? Chuyển thức thành trí là chuyển điều gì ??? Đề nghị giải thích và cho ví dụ để làm sáng tỏ hai câu hỏi trên !!!
– Hạn chót nhận trả lời: Chủ Nhật, 26/07/2020 !!!
– Bài viết có các câu trả lời hay nhất, sẽ được giới thiệu đến mọi người trên Fanpage Lý Tứ !!!
BQT rất mong, nhận được những câu trả lời hay và bổ ích từ các bạn !!!
15/07/2020
LÝ TỨ
TB: 22 giờ 30 phút, mình ăn cơm tối đây !!!
Tổng Kết Chủ Đề: Trung Đạo
Tổng kết trò chơi trí tuệ số 07.2020 với chủ đề Trung Đạo

Các bạn !!!
Sau nửa tháng khởi động TCTT - 07/2020 !!! BQT đã nhận được 19 bài trả lời, cụ thể như sau: 1)Lý Thiện Cảnh, 2)Lý Tâm Pháp, 3)Lý Gia Long, 4)Lý Diệu Âm, 5)Lý Diệu Tâm, 6)Lý Vĩnh Hưng, 7)Lý Hậu Vệ, 8)Lý Thiện Huệ, 9)Lý Liêm, 10)Lý Ngọc Hỷ, 11)Lý Vân Ngô, 12)Lý Thái Đăng, 13)Lý Ngọc Uyên, 14)Lý Diệu Lan, 15)Lý Kim Diễm, 16)Lý Minh Thuỳ, 17)Lý Nguyên Trang, 18)Lý Chơn Thiệt, 19) Lý Lục Vũ...!!
Có thể nói, đề tài TCTT kì này không hề dễ, thậm chí thuộc loại rất khó !!! Vì rằng, muốn trả lời thoả đáng các câu hỏi, đòi hỏi phải có một nền tảng Phật pháp vững chắc, cũng như thấu suốt một số cảnh giới nhất định của đạo xuất thế !!
Thế nhưng !!! Một điều không ngờ, đó là hầu hết trả lời của các bạn kì này đều đáp ứng phần lớn các yêu cầu từ câu hỏi đặt ra... Có khác nhau chăng, chỉ khác ở lập luận và cách đặt vấn đề !!! Đây được coi là thắng lợi quan trọng trong học tập của HĐ chúng ta !!!
Trong số 19 bài trả lời kì này, BQT nhận thấy ngoài những HĐ thường xuyên tham gia các kì TCTT và gặt hái những kết quả tốt trong những lần tổng kết trước đây... Lần này lại có sự tham dự của những HĐ mới, thậm chí có nhiều HĐ lần đầu tham gia !!!
Theo đánh giá chung, sự chênh lệch giữa các HĐ cũ và mới không lớn lắm !!! Tất nhiên kinh nghiệm trả lời, cách đặt vấn đề, nghệ thuật diễn giải, mức độ thâm sâu... là những điều mà các HĐ mới cần học tập và trau dồi thêm !!!
Để thay đổi “khẩu vị”, thay vì giới thiệu đến các bạn những bài viết được BQT đánh giá là hay nhất của một kì TCTT như những gì đã làm trước đây !!! Lần này, BQT xin chuyển đến các bạn một số bài viết tiêu biểu của các HĐ Nữ !!! Đây là những HĐ mới nhập môn làm HĐ đệ Lý Gia, trong đó có những vị lần đầu tham gia trả lời một kì TCTT !!!
BQT chân thành cảm ơn các bạn đã tham gia trả lời TCTT kì này !!! Chân thành cảm ơn tất cả bạn đọc đã theo dõi TCTT của Lý Gia !!! Hẹn gặp lại mọi người trong TCTT –
08/2020 !!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
30/08/2020
LÝ TỨ
- SAU ĐÂY LÀ NHỮNG BÀI VIẾT TRẢ LỜI TIÊU BIỂU CỦA NỮ HĐ LÝ GIA !!!
1. Bài viết của Lý Minh Thuỳ
Kính thầy!
Con xin được tham gia trả lời trò chơi trí tuệ kì này ạ, quả thật thời gian qua vì chuyện học hành con đã xao nhãng, không viết bài và đến khi viết lại lời văn ngượng ngạo, trùng lặp thật khó sửa, con xin cố gắng hơn vào các kì sau ạ.
1) Người tu hành thành tựu pháp môn nào của Phật đạo mới có thể thể nhập trung đạo ??? Vì sao cần thành tựu pháp môn đó trước, cơ may thể nhập trung đạo mới đến sau ??? Xin giải thích cụ thể ???
Trả lời:
Người tu hành muốn thể nhập trung đạo trước hết cần hiểu như thế nào là nghĩa trung đạo, con xin trích lời thầy trong bài viết “Hữu Vô Sơ Yếu Luận” như sau:
“Thuật ngữ Trung Đạo trong Phật giáo không phải là trung bình cộng của một phép tính, nó lại càng không phải con đường đi ở chính giữa hai biên. Mà Trung Đạo là sự hoạt dụng tối ưu từ hai nghĩa có và không để sinh ra các phương tiện thiện xảo nhất, sự hoạt dụng thiện xảo này, Phật Đạo gọi đó là từ bi. Vì thế mới nói: Muốn vào Nhất thừa và thể nhập Trung Đạo, có hai điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận, hai điều này giống như đôi chân của một con người. Đó là hai nghĩa có và không..."
(Trích HỮU VÔ SƠ YẾU LUẬN - Anh Lạc Luận I-Tác Giả LÝ TỨ).
Như khái niệm ở trên, ta có thể thấy rằng người tu hành cần có những điều sau đây, khi những điều này sáng tỏ thì cơ hội thể nhập trung đạo mới có thể sớm đạt được:
Thứ nhất vị này tường tận hai nghĩa có và không, chỉ có tường tận điều này, trong lòng vị tu hành mới hết các chấp trước nơi hai pháp, khi trong lòng không còn chấp hai pháp (Bất Nhị), vị này sẽ không bị mắc kẹt nơi có, cũng không mắc kẹt nơi không.
Con rất thích ví dụ của thầy đã minh hoạ cho Trung Đạo, giống như con nhện làm cái mạng giăng lưới bắt mồi, tất cả con mồi đi ngang đều bị dính mắc vào lưới, riêng con nhện vẫn tự tại đi khắp cái mạng lưới. Cái mạng này chẳng thể ngăn ngại con nhện đi khắp mạng lưới của nó, thì cũng vậy vị tu hành luôn tự tại, an ổn nơi trung đạo, lúc bấy giờ mọi pháp phương tiện của vị này mới có thể phát sinh, hoạt dụng trong việc hành bồ tát đạo.
Thứ hai vị này thành tựu pháp môn “tận vô tận giải thoát” tức là không tận hữu vi, chẳng trụ vô vi. Vì rằng tận hữu vi sẽ không có từ bi và trụ vô vi sẽ không phát sinh trí tuệ.
2) Phật dạy: “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện của “tận hữu vi” ??? Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện thuộc về “trụ vô vi” trong Bồ Tát đạo ???
Trả lời:
Để trả lời cho câu hỏi này trước hết con xin trình bày cách hiểu của con về các pháp: “hữu vi” và vô vi và nghĩa của “tận hữu vi” cũng như “trụ vô vi”.
Hữu vi pháp là các pháp tạo tác làm ra, ở trong một thời điểm hay giai đoạn tu tập nào đó người tu hành có thể cần sử dụng một pháp hữu vi để điều phục tâm ý, nhưng người trụ mãi nơi một pháp và lấy sự thành tựu pháp đó là thành quả của tu tập thì người này chẳng thể giác ngộ vô vi hay nói cách khác là chẳng thể chứng diệt đế rồi viên mãn đạo đế.
Vô vi là cảnh giới của tịch diệt hữu vi, khi tất cả các pháp hữu vi đều xả bỏ trong vị này thì cảnh giới vô vi hiện ra, đầy đủ tính chất của niết bàn thanh tịnh, thường tịch tĩnh, an lạc.
Như vậy “tận hữu vi” tức là người tu hành muốn loại bỏ hoàn toàn các hữu vi pháp, chê trách các vị tu hành đang sử dụng các pháp này. Và “Trụ vô vi” là khi tâm ý của vị tu hành đang trụ trong cảnh giới niết bàn.
Trong kinh “Duy Ma Cật” vị bồ tát này đã chê trách tất cả các pháp hữu vi mà các thánh đệ tử của Phật đang tu tập như ngồi thiền, giảng pháp, khất thực, thần thông…khiến cho các vị thánh đệ tử kinh sợ và không muốn luận bàn pháp với ngài Duy Ma Cật nữa…
Như lúc ngài Mục Kiền Liên thuyết pháp cho các vị cư sĩ, Ngài Duy Ma cật đến và nói rằng :” không nên nói những pháp như vậy, nói pháp phải nói pháp “Như” bởi vì pháp không tướng…Không thọ mệnh… không tướng người…pháp thường vắng lặng…vì nó như hư không…Pháp như vậy làm sao có thể giảng nói được”.
Hay lúc ngài Ca Chiên Diên giảng nói các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã cho các tỳ kheo, ngài Duy Ma cật đến và nói: “…Ngài không nên dùng tâm hành sinh diệt mà nói pháp thật tướng… Các pháp không sanh không diệt đó là nghĩa vô thường. Ngũ ấm rỗng không có điểm sanh khởi đó là nghĩa khổ, các pháp rốt ráo không, không có nguồn gốc đó là nghĩa không, Ngã và Vô ngã không hai đó mới là nghĩa vô ngã, các pháp không sanh không diệt đó mới là nghĩa tịch diệt”. (Trích kinh Duy Ma Cật, dịch giả Thích Từ Thông)
Khoan bàn đến tính đúng đắn của các lời giảng của ngài Duy Ma Cật với các vị thánh đệ tử, ta có thể thấy sau những lời này các vị thánh đệ tử đều hoảng sợ, dù trong lòng kính phục, nể trọng vị cư sĩ này nhưng khi nghe tin vị Bồ Tát này bị bệnh và được Phật uỷ thác đến thăm, các vị này đều từ chối vì biết rằng không thể đối đáp nổi, cách làm của Duy Ma Cật chưa thể hiện được sự từ bi, từng câu từng chữ của ngài đều khiến người nghe thấy hoang mang về bản thân thì làm sao họ có thể thân cận ngài mà từng bước tu tập giác ngộ được…Hành bồ tát đạo không chỉ cần đến hiểu biết mà còn tới sự linh hoạt trong các pháp, tuỳ tâm cơ, tuỳ thời điểm mà giảng nói mới có thể phát huy được trí tuệ và sự từ bi. Ở đây lời ngài Duy Ma Cật nói, đã đánh thẳng vào chấp trước hữu vi pháp của các thánh đệ tử, điều này là đúng nhưng chưa hợp tâm cơ nên không thể giúp các vị ấy giải thoát, giác ngộ.
Cảnh giới vô vi là nơi không có một pháp nào có được, nơi im bặt của tất cả hữu vi pháp, một vị trụ nơi vô vi thể hiện qua hành động “lặng thing” như cái lặng thing của ngài uy Ma Cật sau khi đại chúng trình bày hiểu biết của mình về pháp môn bất nhị, tuy rằng trong lòng đã không còn hai pháp, chẳng thể diễn đạt bằng bất cứ ngữ ngôn nào, thế nhưng sự im bặt này không thể phát sinh phương tiện, pháp môn nào để độ người.
3) Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Tận hữu vi lỗi gì và trụ vô vi lỗi gì trên con đường tiến về trung đạo ???
Trả lời:
Người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi”
bởi vì chỉ khi không kẹt mắc nơi hữu vi hay vô vi thì vị tu hành mới có thể phát huy hết phương tiện thiên xảo vì vạn loại hữu tình.
Hữu hay vô tự bản thân hai pháp này chẳng có lỗi, lỗi ở đây là vì tâm người u mê, chấp trước, khi bị vô minh ngăn che, toàn tâm người trở thành cõi hữu, hữu ở đây là cái có của phiền não, lậu hoặc, của tham sân si mạn nghi, của tà kiến…của các pháp hữu vi từ đó ba cõi, 25 cõi thành lập. Dứt mê, tự thấu suốt nghĩa không, và khi người rời lìa cả hai pháp hữu vi này, không kẹt nơi hữu cũng chẳng kẹt nơi vô mới thật sự là “Rốt ráo vô”. Ở nơi rốt ráo không này lại hàm chứa nghĩa trung đạo.
Như các phân tích ở các câu trên, trên con đường tiến về trung đạo “Tận hữu vi“ lỗi là không thể hiện được sự từ bi trong quá trình hành bồ tát đạo, vị tu hành nào mà phủ định và tận diệt mọi pháp hữu vi, cách làm này là cách làm cực đoan, khiến cho những người đã và đang tu tập các pháp hữu vi khó lòng thân cận, gần gũi, không thể giúp họ bằng cách chê trách, phủ định tất cả, điều cốt lõi là phải chỉ ra cho họ con đường đi, dù hữu hay vô đều có thể trở thành phương tiện giúp họ giác ngộ, giải thoát.
Thế nhưng không thể cứ khuyến khích họ tu tập và đi theo con đường hữu vi, biến tất cả các kết qủa đạt được sau khi tu tập các pháp hữu vi đó trở thành kết quả tu chứng, việc bám chặt vào bất kì pháp nào đều không đem đến giải thoát mà ngược lại còn trở thành gánh nặng trên vai bất cứ vị tu hành nào.
“Trụ vô vi”, nơi vô vi không một pháp nào có được bởi vậy chẳng thể phát huy trí tuệ, người trụ nơi này làm sao có thể phát sinh thiện pháp, thiện phương tiện giúp người giác ngộ.
Một vị thấm nhuần chẳng nên tận hữu vi cũng chẳng trụ nơi vô vi, vị này có thể ở ngay nơi hữu, biến các pháp hữu vi thành thiện pháp, hay nói cách khác là giúp người giác ngộ bằng chính sự kẹt mắc của họ trong các hữu vi pháp đó, dù pháp hữu vi đó có thể là ác pháp, thiện pháp hay bất thiện bất ác pháp, vị thấm nhuần “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” đều có thể tự tại mà sử dụng chúng như một chiếc bè chở người cập bến bờ giác ngộ vậy.
4) Bản chất (thiệt tướng) của hai pháp hữu và vô là gì ??? Thấu suốt thiệt tướng của hữu và vô, người tu hành sẽ thấy được điều gì sau đó ??? Xin giải thích cụ thể về cái thấy này ???
Trả lời:
Tất cả các pháp đều bình đẳng, thiệt tướng của các pháp tự nó chẳng có, tự nó chẳng không hay chẳng phải có chẳng phải không.
Khi người mê tự pháp đó trở thành pháp có, khi ngộ rồi các pháp có lại trở thành không giống như người mê cảnh giới trên trời, đọc sách, xem phim nghe nói rằng trên trời có tiên nữ bay lượn, có mây vân ngũ sắc, có đền đài cung điện nguy nga lộng lẫy và là nơi các vị tiên nhân ở, người này mê mẩn nằm mơ tưởng tượng mình là vị tiên trên trời, bay lượn trên hư không, ngắm các thiên cảnh, đến khi giật mình thức dậy mới biết đó đó chỉ là mơ, cảnh giới thiên biến mất, thì cũng như vậy, các pháp có, không đều do tâm này mà biến hiện.
Thấu suốt thiệt tướng của các pháp hữu, vô, vị tu hành sẽ thấy được dù tâm họ mê cái hữu lập tức họ sẽ bị kẹt mắc nơi hữu, tâm vô thì cũng bi kẹt mắc nơi vô, chỉ có thấu suốt thiệt tướng hữu vô đồng vô, thấu suốt cái rốt ráo vô mới có khả năng thể nhập trung đạo, tìm ra con đường giúp mình và người thoát khỏi sự ràng buộc của tất cả các pháp.
Con xin được trích lời thầy trong bài viết “Hữu Vô Sơ Yếu Luận” như sau:
“Mê cũng tại tâm này, ngộ cũng tại tâm này. Khi mê tâm ấy là ma, ngộ rồi mới biết tâm ấy là Phật !!! Khi mê, toàn tâm là hữu (có), ngộ rồi tâm ấy tự không (vô). Dứt mê dứt ngộ, tâm còn không có, hà huống có hữu với vô. Như vậy, nói hữu hay vô, hữu vô này đều không thật, khi nào không còn thấy có hữu hay vô mới gọi là rốt ráo vô. Vì thế "rốt ráo không" là chân thật ngữ.”
Bởi vậy người tu hành không chỉ cần hiểu nghĩa các pháp mà cần thấu triệt thiệt tướng của tất cả các pháp, sư thấu triêt này khiến họ tự tại và không còn bị dính mắc vào bất kì pháp nào.
Con, Lý Minh Thuỳ
2. Bài viết của Lý Diệu Tâm
Thưa thầy, con xin phép được trả lời câu hỏi trong Trò chơi trí tuệ 07/2020:
1) Người tu hành thành tựu pháp môn nào của Phật đạo mới có thể thể nhập trung đạo ??? Vì sao cần thành tựu pháp môn đó trước, cơ may thể nhập trung đạo mới đến sau ??? Xin giải thích cụ thể ???
Trả lời:
Trung đạo là sự hiểu rõ thấu suốt thiệt tướng của hai pháp hữu và vô. Vì thấu suốt hai nghĩa này mà người tu hành có thể từ nơi có hay ở nơi không đều có thể giúp người giác ngộ mà không mắc kẹt vào bất cứ bên nào. Giống như một người võ sĩ thuần thục binh khí của mình mà tung hoành trong mọi hoàn cảnh không bao giờ gây lỗi hại mình. Muốn thể nhập trung đạo, người tu hành phải Chứng Diệt Đế mới có thể thấu suốt nghĩa này.
Trong "Hữu vô sơ yếu luận" thầy có nói: "Muốn vào Nhất Thừa và thể nhập Trung Đạo, có hai điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận, hai điều này giống như hai đôi chân của một con người. Nếu chỉ có một chân, hoặc đôi chân khập khiễng, thì mỗi bước đi người đó không thanh thoát và sẽ rất nặng nề, thậm chí vị ấy khó có thể thực hiện một cuộc hành trình dài hơi như một người có đôi chân lành lặn. Hai điều cơ bản này là “hữu và vô” tức là có và không". Với người tu hành, trong giai đoạn dứt Tập, vị đó đã thấu hiểu nghĩa hữu của đạo Phật, vì hiểu “hữu” đó là mối họa nên vị đó sẽ tìm cách dứt bỏ các duyên gây ra tạo tác và giác được vấn đề tự thân. Đối với nghĩa không vị đó chỉ có thể có được khi rốt ráo chứng Diệt Đế, ở địa vị này người tu hành mới giải quyết được căn bản vô minh, chứng được hai vô sanh và ra khỏi phần đoạn sanh tử. Như vậy, thể nhập Trung Đạo là pháp môn của một vị tu hành có phát nguyện ra khỏi bất động để làm công hạnh cứu độ chúng sanh. Vì cứu độ chúng sanh nên vị này phải hiểu rõ những con đường nào giúp chúng sanh thấy được thiệt tướng của muôn pháp, chúng sanh đang kẹt mắc ở đâu để giúp đỡ. Nếu vị này chưa chứng hai vô sanh, chưa ra khỏi phần đoạn sanh tử thì lời nói của vị này là lời nói của cái tâm hư dối mà làm điên đảo sinh tâm sinh ngã, khó có thể phát sinh từ bi trong lời tuyên thuyết. Đồng thời, vị này phải không còn sinh pháp, không sinh pháp nên không kẹt vào nghĩa có hay nghĩa không của pháp.
Nói tóm lại, chứng Diệt đế, thành tựu pháp môn Bất Nhị chính là điều kiện cần để người tu hành thể nhập Trung Đạo.
2) Phật dạy: “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện của “tận hữu vi” ??? Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện thuộc về “trụ vô vi” trong Bồ Tát đạo ???
Thưa thầy, hữu vi ở đây được hiểu là những pháp có tạo tác. "Tận hữu vi" ở đây được hiểu là đả phá tất cả những pháp hữu vi. Trong Kinh Duy Ma Cật gọi những pháp hữu vi này là "pháp nhỏ". Hành động của các vị Bồ Tát ở nước Chúng Hương đem lòng khinh chê những pháp nhỏ này chính là hành động "Tận hữu vi". Cũng như vậy, vô vi là những pháp không có tạo tác. "Trụ vô vi" trụ lại chỗ bất động mà Phật gọi là "lấy không làm chỗ chứng" tức là lấy vô tướng, vô tác, vô sanh làm chỗ chứng. Trong Kinh Duy Ma Cật, khi bàn đến Bất Nhị, Bồ Tát Duy Ma Cật lại ngội lặng thinh. Từ đây có thể thấy trong thực tế quá trình tu hành, ở giai đoạn đầu khi nhận diện được lỗi họa của các pháp hữu vi, tức là các pháp tạo tác, người tu hành dễ rơi vào "tận hữu vi" mà chê trách, tẩy chay toàn bộ những người sử dụng một phép tu hữu vi nào để mong được giải thoát. Đến khi đạt được vô sanh pháp nhẫn, người tu hành vì ham thích cảnh chứng an lạc, tịch tĩnh mà giữ bất động trước bất kỳ phiền não của chúng sanh lại rơi vào biểu hiện của "trụ vô vi".
3) Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Tận hữu vi lỗi gì và trụ vô vi lỗi gì trên con đường tiến về trung đạo ???
Trong Kinh Duy Ma Cật, Phật có dạy: "Vì đủ các phước đức mà không trụ vô vi; vì đủ các trí tuệ mà không tận hữu vi; vì đại từ bi mà không trụ vô vi; vì mãn bổn nguyện mà không tận hữu vi; vì nhóm thuốc pháp mà không trụ vô vi, vì tùy bệnh cho thuốc mà không tận hữu vi; vì biết bệnh chúng sanh mà không trụ vô vi; vì dứt trừ bệnh chúng sanh mà không tận hữu vi". Như vậy một người tu hành, khi đã ra khỏi phần đoạn sanh tử, cần phải học trí tuệ để thâm nhập cảnh giới trung đạo, sau đó quay lại làm công hạnh cứu độ chúng sanh chứ không trụ nơi bất động giải thoát, chỉ có quá trình làm công hạnh mới khiến vị tu hành phát sanh thật trí. Vì thương xót chúng sanh mà hóa hiện ra các pháp lành để cứu độ chúng sanh, giống như trong Kinh nói: "Vì những người khó giáo hóa lòng như khỉ vượn, nên dùng bao nhiêu pháp để chế ngự lòng họ, mới có thể điều phục được." Nếu vị tu hành đó vấp phải "tận hữu vi" thì khó có thể phát sanh long từ bi, thực hành bố thí vô hạn. Ngược lại, nếu vị tu hành đó trụ nơi vô vi tức là lấy không làm chỗ chứng thì khó phát sinh trí tuệ, không có trí tuệ thì không thể biết căn cơ của chúng sanh mà hoá hiện các pháp lành.
4) Bản chất (thiệt tướng) của hai pháp hữu và vô là gì ??? Thấu suốt thiệt tướng của hữu và vô, người tu hành sẽ thấy được điều gì sau đó ??? Xin giải thích cụ thể về cái thấy này ???
Về bản chất, Trung đạo chính là sự thấu suốt hai nghĩa có - không để linh hoạt khi thuyết pháp, dù là nghĩa có hay nghĩa không đều là thiện phương tiện giúp người chấm dứt sanh diệt, thành tựu cứu cánh Niết bàn.
Khi một vị đạo sư thuyết về nghĩa hữu là để chỉ ra lỗi họa của tạo tác, giúp người tu hành dừng dứt những tạo tác vô minh, không chạy theo thấy nghe của nghiệp, dừng dứt được nghĩa hữu, nghĩa không tự hiện. Ví như người đang mê thì khi tỉnh đồng nghĩa với hết mê. Cũng vị đạo sư đó, khi trực chỉ nghĩa không cho người tu hành, giúp người tu hành thấu suốt thiệt tướng của tâm của pháp là không, không khởi phân biệt, chứng hai vô sanh.
Thấu suốt hai nghĩa có - không (hữu - vô) người tu hành mới có thể thực chứng rốt ráo phi hữu phi vô.
Khi chứng hai vô sanh, vị tu hành chợt nhận ra Tâm Pháp đồng vô vi, trước không nay không, trở lại cái bản nhiên ban sơ của Bổn Tâm, thấy được tự tánh của Bổn Tâm tự không.
Đến khi thấu suốt nghĩa Trung Đạo, vị tu hành mới hiểu rõ tâm hay pháp này “chẳng phải có cũng chẳng phải không”, đây là cái thấy của trí tuệ để từ đó phát sinh vô lượng phương tiện. Từ cái thấy biết này, từ bi tâm của vị này dần dần được sáng rõ, thấy được Phật tánh trong họ.
Thưa thầy, trên đây là toàn bộ thấy biết của con về những câu hỏi thầy nêu ra.
Con Lý Diệu Tâm !!!
3. Bài viết của Lý Kim Diễm
Kính thưa Thầy!
Kính thưa HĐTM Lý Gia!
Con xin thành tâm cảm ơn Thầy và HĐTM cho con được trở thành thành viên trong căn nhà họ Lý. Điều này làm con rất vui mừng mỗi khi nhớ đến! Con luôn thầm nghĩ Lý Gia hội tụ quá nhiều nhân tài, con chỉ là hạt cát nhỏ mà thôi! Biết vậy nhưng con vẫn nghe lời dạy của Thầy không được hạ liệt nếu như muốn giữ lại giáo pháp của Đức Phật và Thầy đã dày công tìm tòi, nghiên cứu. Do vậy mà con cứ cố gắng, cố gắng nói những điều ngoài sức cho phép của bản thân dù biết rõ điều đó “khó, khó lắm ạ!”.
Hôm nay, con mạo muội tham gia trả lời câu hỏi của Thầy đề ra. Mong rằng những điều con sắp nói sẽ đúng ạ!
Thưa Thầy ! Trong các kì sinh hoạt trực tuyến con đã học hỏi được rất nhiều. Qua sự khai thị chân thành, yêu thương của Thầy. Sự tương thân, nâng đỡ lẫn nhau của HĐTM Lý Gia. Con có lòng tin vững chắc vào giáo pháp mà Thầy truyền trao, con nguyện đi theo học hỏi đến cùng. Thầy có dạy là nếu ta đi con đường Đạo đế chúng ta sẽ lần lượt có những cái thấy sai biệt. Từ những cái thấy sai biệt đó khi nói lên cho mọi người cùng nghe chúng ta mới có thể nâng đỡ, hỗ trợ, bổ khuyết cho nhau đi đến chân lí cuối cùng. Con cũng xin đóng góp những sai biệt của con mong Thầy và HĐTM dạy dỗ cho con.
Câu 1: Người tu hành thành tựu pháp môn nào của Phật đạo mới có thể nhập trung đạo ??? Vì sao cần thành tựu pháp môn đó trước, cơ may thể nhập trung đạo mới đến sau ??? Xin giải thích cụ thể ???
Thầy dạy chúng con: “Trong Phật Đạo, một trong những nghĩa khó hiểu và khó thể nhập nhất, đó là nghĩa Trung Đạo. Trung Đạo là kết quả của sự thành tựu viên mãn Đạo Đế. Trung Đạo chính là kết quả viên mãn của từ và bi. Từ tâm và bi tâm khi thành tựu sẽ cho ra nghĩa Trung Đạo. Như vậy có thể hiểu: Trung Đạo chính là sự thể hiện chân lý một cách tối ưu trong đời sống vì vạn loại hữu tình. Vì sao nó lại như vậy ???
Thuật ngữ Trung Đạo trong Phật giáo không phải là trung bình cộng của một phép tính, nó lại càng không phải con đường đi ở chính giữa hai biên. Mà Trung Đạo là sự hoạt dụng tối ưu từ hai nghĩa “có và không” để sinh ra các phương tiện thiện xảo nhất, sự hoạt dụng thiện xảo này, Phật Đạo gọi đó là từ bi. Vì thế mới nói: "Muốn vào Nhất thừa và thể nhập Trung Đạo, có hai điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận, hai điều này giống như đôi chân của một con người. Đó là hai nghĩa “có và không” (Lý Tứ)
“Có” có nghĩa là chỉ cho một hữu tình có thân, khẩu, ý của thế gian còn đầy đủ kiết sử: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, tà kiến. Nên phiền não, lậu hoặc: Sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt li, cầu bấc đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thịnh khổ cột chặt trong tâm thức. Do vậy hữu tình này luân hồi trong ba cõi ngay trong đời sống hiện thời và luân hồi hết đời này đến đời khác…
“Không” có nghĩa là chỉ cho một hữu tình chấm dứt được các kiết sử, phiền não, lậu hoặc. Khi đó, sự an vui, sự nhẹ nhàng, sự mạnh mẽ, sự có “hiểu biết”… hiện diện trong tâm thức người đó.
Vì vậy cho nên vị hữu tình này thường bị rơi vào niềm an lạc của riêng mình và thỏa mãn với những gì mình đã đạt được. Chính vì vậy mà Phật bảo các vị Bồ Tát rằng: “Có pháp môn “tận, vô tận giải thoát” các ông nên học. Sao gọi là “tận” ? Nghĩa là pháp hữu vi. Sao gọi là “vô tận” ? Nghĩa là pháp vô vi. Như Bồ Tát thời không tận hữu vi, không trụ vô vi”. Lời dạy này nhằm đánh thức tất cả các vị Bồ Tát phải thành tựu pháp môn này để thể nhập con đường Trung Đạo đi vào Nhất thừa. (Trước khi thành tựu “tận vô tận giải thoát”, phải thành tựu pháp môn Bất Nhị, để tâm thức không còn hai pháp đối đãi có không...!!! LT)
Câu 2: Phật dạy: “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện của “Tận hữu vi” ??? Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện thuộc về “Trụ vô vi” trong Bồ Tát đạo ???
Thầy dạy: Trung Đạo là sự hoạt dụng tối ưu từ hai nghĩa “có và không” để sinh ra các phương tiện thiện xảo nhất, sự hoạt dụng thiện xảo này gọi là từ bi. Mà “có và không” thuộc về “Nhị Nguyên”, thuộc về hai bờ ta không nên ở bờ này, bờ kia. Từ đó mà Phật dạy các Bồ Tát rằng: “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi”. Nếu người tu hành biểu hiện “Tận hữu vi” thì vị ấy sẽ lìa bỏ đại từ, đại bi, không phát tâm cầu nhất thiết trí, không nghĩ đến việc giúp đỡ mọi người, không thường nghĩ đến pháp tứ nhiếp để gần gũi, thân cận chúng sinh nhằm giáo hoá họ.
Nếu người tu hành biểu hiện “Trụ vô vi” thì vị ấy tu học pháp môn “Không” vị ấy sẽ lấy “Không”(vô vi) làm chỗ chứng; tu học môn “vô tướng”, “vô tác” sẽ lấy vô tướng, vô tác làm chỗ chứng; tu học pháp “vô sanh” sẽ lấy vô sanh làm chỗ chứng; quán “vô thường” mà từ bỏ làm việc lành; quán “thế gian là khổ” rồi ghét sanh tử…Vị này không học hỏi tìm trí tuệ. Vì vậy, trong Bồ Tát đạo người tu hành mà “Tận hữu vi” và “Trụ vô vi” Phật Đạo gọi là “Hạt giống thối”.
Câu 3: Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Tận hữu vi lỗi gì và trụ vô vi lỗi gì trên con đường tu đạo ???
Muốn thể nhập trung đạo người tu hành phải thấm nhuần hai pháp “ Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” bởi vì, khi ta muốn thể nhập trung đạo tức là vị tu hành này phải chứng diệt đế, hiểu rõ “có và không”. Khi hiểu rõ “có và không” vị này biết được khi mê tâm ta toàn cõi hữu cột chặt tâm thức, rất nhiều phiền não, khổ đau mà không biết làm sao, làm cách nào rứt ra khỏi tâm thức của mình.
Khi ta ngộ rồi tâm ấy tự không, nghĩa là phiền não, lậu hoặc dứt hết, lúc này ta như chợt nhận ra khi tâm thức ta “Không”, mất hết cái “Có” ta giống như “thoát khỏi gánh nặng ngàn cân đeo theo ta suốt đằng đẳng năm trường” thì tự do xảy ra, an nhiên sẽ đến đó là lẽ tất nhiên. Lúc ấy ta định hình được con đường ta đi trong thời gian qua sai rồi!
Con đường đúng là con đường Phật dạy: “Chẳng tận hữu vi” Nghĩa là không lìa đại từ, không bỏ đại bi, sâu phát tâm cầu nhất thiết trí mà không khinh bỏ, giáo hoá chúng sanh quyết không nhàm chán; đối pháp tứ nhiếp thường nghĩ làm theo; giữ gìn chánh pháp không tiết thân mạng; làm các việc lành không hề nhàm mỏi; chí thường để nơi phương tiện hồi hướng; cầu pháp không biếng trễ; nói pháp không lẫn tiếc; siêng cúng dường chư Phật; cố vào trong sanh tử mà không sợ sệt; đối việc vinh nhục lòng không lo không mừng; không khinh người chưa học; kính người học như Phật; người bị phiền não làm cho phát niệm chánh; cái vui xa lìa không cho là quí; không đắm việc vui của mình mà mừng việc vui của người; ở trong thiền định tưởng như địa ngục; ở trong sanh tử tưởng như vườn nhà; thấy người đến cầu pháp tưởng như thầy lành; bỏ tất cả vật sở hữu tưởng đủ nhất thiết trí; thấy người phá giới, tâm nghĩ cứu giúp; các pháp ba la mật tưởng là cha mẹ; các pháp đạo phẩm tưởng là quyến thuộc; làm việc lành không có hạn lượng đem các việc nghiêm sức ở các cỏi tịnh độ trau dồi cõi Phật của mình”…
“Không trụ vô vi”? Nghĩa là tu học môn “không”; không lấy không làm chỗ chứng; tu học môn “vô tướng”, “vô tác” không lấy vô tướng, vô tác làm chỗ chứng; tu học pháp “vô sanh” không lấy vô sanh làm chỗ chứng; quán “vô thường”mà không nhàm việc lành; quán “thế gian là khổ” mà không ghét sanh tử; quán “vô ngã” mà dạy dỗ người không nhàm mỏi; quán “tịch diệt” mà không tịch diệt hẳn, quán xa lìa mà thân tâm tu các pháp lành; quán không chổ về mà về theo pháp lành; quán vô sanh mà dùng pháp sanh để gánh vác tất cả; quán vô lậu mà không đoạn các lậu; quán không chỗ làm mà dùng việc làm để giáo hoá chúng sanh; quán không vô mà không bỏ đại bi; quán Chánh pháp vị (chỗ chứng) mà không theo tiểu thừa; quán các pháp hư vọng, không bền chắc, không nhân, không chủ, không tướng, bổn nguyện chưa mãn mà không bỏ phước đức thiền định trí tuệ. Tu các pháp như thế gọi là Bồ Tát không trụ vô vi”… (Kinh Duy Ma Cật).
Có nghĩa là khi ta chịu quá nhiều khổ đau mà ta được ai đó cứu thoát khỏi nỗi khổ niềm đau thì việc trả ân, báo ân là điều cần phải thực hiện. Khi ta chưa gặp Thầy, gặp vị Đạo sư chỉ dạy ta không thể nào biết được phải đền ân như thế nào? May mắn gặp Thầy truyền trao cho giáo pháp với những lời dạy đúng chánh pháp, dúng chân lý.
Khi ta đem thực hiện vào đời sống thấy sự đổi thay tích cực nghĩa là đã thực chứng được lời dạy của Thầy đi đúng theo con đường của Phật. Ta giúp cho nhiều người thấy được giáo pháp của Phật là chánh pháp, là chân lý thì có nghĩa rằng ta đang làm theo pháp tứ nhiếp, thường nghĩ làm theo; giữ gìn chánh pháp không tiếc thân mạng. Thực hành các phẩm Tưởng (37 phẩm) và Pháp ba la mật Tưởng và giúp mọi người thực hành theo. Chứng pháp “Không, Vô tướng, Vô tác” và không cho rằng mình chứng đắt rồi không trụ nơi an lạc, tĩnh lặng mà quyết đem thân mạng không sợ sệt đi sâu vào học Nhất thiết trí để giúp nhiều người được như mình là ta đang làm đúng lời Thầy, lời Phật dạy.
Điều đặc biệt ở đây là “Ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống hiện tiền. Sống trong cõi hữu mà ta vẫn an nhiên tự tại, không cuốn theo tham, sân, si của thế gian”. Ta đem giáo Pháp của Phật thể hiện trên thân, trên khẩu, trên ý đến khắp mọi nơi ta đến như gửi duyên lành. Muốn vậy không có gì khác hơn là thể nhập Trung đạo, cầu học Nhất thiết trí. “Trung Đạo chính là sự thể hiện chân lý một cách tối ưu trong đời sống vì vạn loại hữu tình”.
Câu 4: Bản chất (thiệt tướng) của hai pháp hữu và vô là gì ??? Thấu suốt thiệt tướng của hữu và vô, người tu hành sẽ thấy được điều gì sau đó ??? Xin giải thích cụ thể cái thấy này ???
“Muốn vào Nhất thừa và thể nhập Trung Đạo, có hai điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận, hai điều này giống như đôi chân của một con người. Đó là hai nghĩa “có và không” (Lý Tứ).
“Có” có nghĩa là chỉ cho một hữu tình có thân, khẩu, ý của thế gian còn đầy đủ kiết sử, phiền não, lậu hoặc... Do vậy hữu tình này luân hồi trong ba cõi ngay trong đời sống hiện thời và luân hồi hết đời này đến đời khác…
“Không” có nghĩa là chỉ cho một hữu tình chấm dứt được các kiết sử, phiền não, lậu hoặc.
Khi hiểu rõ “có và không”. Vị này biết được khi mê tâm ta toàn cõi hữu cột chặt tâm thức, rất nhiều phiền não, khổ đau mà không biết làm sao, làm cách nào rứt ra khỏi tâm thức của mình. Khi ta ngộ rồi tâm ấy tự không, nghĩa là phiền não, lậu hoặc dứt hết. Lúc này ta như chợt nhận ra khi tâm thức ta “Không”, mất hết cái “Có” ta giống như “thoát khỏi gánh nặng ngàn cân đeo theo ta suốt đằng đẳng năm trường”. Dứt Đảo Tưởng thì tự do xảy ra, an nhiên sẽ đến đó là lẽ tất nhiên. Lúc ấy ta định hình được con đường ta đi trong thời gian qua sai rồi!
Từ đây ta có lập luận như sau: Một hữu tình có kiết sử, phiền não, lậu hoặc thì hữu tình này đang sống trong cõi hữu, nghĩa là “ Có”. Hữu tình này thực tập các phẩm Tưởng (37 phẩm)và các pháp Ba la mật tưởng đúng chánh pháp thì sẽ chấm dứt kiết sử, phiền não, lậu hoặc khi đó tâm thức hữu tình đã thành “Không”.
Trong 18 pháp không, Phật có dạy rằng: “Trong gạo không đậu”, “Trong vườn có cây không hoa”. Nên ta có thể hiểu là: Có là có kiết sử, phiền não, lậu hoặc. Không là vô vi, niết bàn. Mà cũng gọi là Chẳng phải Không vì trong Không, lại có vô vi, niết bàn; mà cũng gọi là chẳng phải Có vì trong Có, thì Không có kiết sử, phiền não, lậu hoặc. (Đoạn này hay !!! LT)
Con tập luyện làm bài tập kiểm tra của Thầy, nếu có gì không đúng mong thầy tha thứ và dạy dỗ con. Con xin chân thành cảm ơn Thầy cùng HĐTM Lý Gia.
Con, Lý Kim Diễm
4. Bài viết của Lý Vân Ngô
Con kính thưa Thầy!
Lần này con xin tập trả lời trò chơi trí tuệ, sẽ có nhiều thiếu sót kính mong Thầy Từ Bi chỉ dạy thêm cho con!
Câu (1) Người tu hành thành tựu pháp môn nào trong Phật Đạo mới có thể thể nhập Trung Đạo ???
Con xin trả lời, người tu hành phải thành tựu pháp môn Bất Nhị mới có cơ may thể nhập nghĩa Trung Đạo.
Vì sao cần thành tựu pháp môn đó trước, cơ may thể nhập mới đến sau ???
Con xin trả lời: Vì khi người tu hành thành tựu pháp môn bất nhị, sẽ giúp tâm thức ra ngoài đối đãi thiện ác, đúng sai, trong lòng không còn có hai pháp.
Câu(2) Phật dạy: “chẳng trụ vô vi, chẳng hoại hữu vi" !!! Hành động hay tạo tác nào của người tu hành biểu hiện là "tận hữu vi” ???
Con xin trả lời: Biểu hiện của người tu hành tận hữu vi là, ví dụ như có người nào đó hằng ngày tụng kính ngồi thiền chẳng hạn, mà người hành Bồ Tác Đạo cho là tu như vậy sai giáo pháp hay là tu vậy chừng nào được thành Phật, rồi chê họ thế này thế kia, đó là biểu hiện của người tu hành "tận hữu vi".
Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện thuộc về "trụ vô vi" Trong Bồ Tác Đạo ???
Con xin trả lời: Biểu hiện của người tu hành trụ vô vi trong Bồ Tác Đạo là. Ví dụ như người tu hành viên mãn diết đế có được niết bàn thanh tịnh an vui, không phát nguyện học nhất thiết trí để đi làm công hạnh giúp người, mà chỉ an trú nơi bất động. Đó là biểu hiện "trụ vô vi”.
Câu (3) Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo phải thấm nhuần hai pháp "chẳng tận hữu vi " chẳng trụ vô vi ". Tận hữu vi lỗi gì, trụ vô vi lỗi gì trên đường tiến về trung đạo !!!
Con xin trả lời: Khi người tu hành "Tận hữu vi" sẽ thiếu từ bi. Còn người tu hành "Trụ vô vi" sẽ an trụ vào xuất thế gian pháp nên không sanh trí tuệ.
Câu (4) Bản chất (thiệt tướng) của hai pháp hữu và vô là gì ??? Thấu suốt thiệt tướng của hữu và vô, người tu hành sẽ thấy được điều gì sau đó ??? Xin giải thích cụ thể về cái thấy này ???
Con xin trả lời: Thiệt tướng của hữu vi là không tánh không tướng, chẳng có tính chất gì cả. Thiệt tướng của vô vi như lông rùa sừng thỏ có danh mà không có thực. Khi người tu hành thấu được hai nghĩa hữu vô, người tu hành sẽ thấy được thật tướng của hữu vô đều rốt ráo vô.
Con kính bạch Thầy, con xin được dừng câu trả lời tại đây. Con kính lễ Thầy ba lạy!
Con, Lý Vân Ngô
5. Bài viết của Lý Diệu Âm
Kính thưa Thầy !
Nhận được câu hỏi lần này con cứ băn khoăn không biết nên tham gia hay không vì với con đây không phải câu hỏi dễ. Con viết rồi lại xoá, xoá rồi lại ngồi bật dậy như cái lò xo để viết vì con biết Thầy sẽ sửa cho con nếu hiểu biết của con còn hạn hẹp.
Hai tháng được làm HĐ Lý Gia theo thầy học đạo, con đã được vỡ oà trong rất nhiều cảm xúc, mỗi lần một cung bậc khác nhau, một nấc thang mới khiến con như thấy cái xác phàm lặng lẽ trôi trước mắt...chỉ còn cái pháp thân nhỏ bé đang được nuôi dưỡng bằng pháp thực để lớn lên mỗi ngày.
Vạn lần tri ân, đảnh lễ Thầy !
Con xin được trả lời câu hỏi kỳ này như sau :
1) Người tu hành thành tựu pháp môn nào của Phật đạo mới có thể thể nhập trung đạo ??? Vì sao cần thành tựu pháp môn đó trước, cơ may thể nhập trung đạo mới đến sau ??? Xin giải thích cụ thể ???
Trả lời :
Người tu hành muốn có cơ may thể nhập trung đạo phải thành tựu “pháp môn Bất nhị“ hay còn gọi là không hai. Để có thành tựu này trước hết phải thực sự Giác Ngộ, thực sự giác ngộ để không còn cái Ngã, vì ngã càng lớn thì càng thấy hai pháp đối đãi càng nhiều, khi ngã không còn, trong lòng rỗng rang, không Tâm, không Pháp, không thấy mình thấy người, đó chính là bất Nhị.
Thành tựu pháp môn này hay là đắc Vô sanh Pháp Nhẫn sẽ không còn “nhị nguyên đối đãi“, trong lòng không còn đúng sai, chánh tà, hữu vô, phải quấy, thiện ác... Từ đó, người tu hành thấy Tâm bình đẳng, chẳng ưa Niết bàn, chẳng chán Thế gian. Đây là bước khởi đầu để có cơ may thể nhập Trung Đạo.
2) Phật dạy: “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện của “tận hữu vi” ??? Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện thuộc về “trụ vô vi” trong Bồ Tát đạo ???
“Chẳng Tận hữu vi, chẳng trụ vô vi“ là lời Phật dạy khi hành Bồ Tát Đạo. Pháp hữu vi là pháp còn tạo tác, còn hành vi tạo nghiệp, còn sanh diệt trong ba cõi. Hữu vi pháp là vô thường, như mộng huyễn bào ảnh... . Nó chỉ giả tạm “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng“ thấy rõ vậy, người tu hành không đeo bám, không dính mắc thì mới được giải thoát ! Tuy nhiên, đối với việc Tu hành Bồ Tát Đạo, đối với một vị đã Giác Ngộ và phát tâm , Vì nguyện cứu độ chúng sanh còn u mê ngụp lặn trong cõi Ta Bà, đời ác Ngũ trược, nên Bồ Tát không được từ bỏ Pháp Hữu vi mà vẫn theo pháp hữu vi mà độ giúp cho đời. Những hành động có ý chê bai người thực hành các pháp thế gian cầu Phước báu hữu lậu chính là “tận hữu vi “. VD thấy người bố thí, cầu phước báo mà chê bai họ, cho là đây là pháp hữu vi đó chính là dính mắc.
Pháp vô vi là pháp thanh tịnh, vắng lặng bất động, là Niết bàn dứt hẳn phiền não, ra khỏi 3 cõi, chấm dứt đoạn phần sinh tử và bước vào Bất tư nghì biến dịch sinh tử. Bồ tát thấu được lẽ “Không“ nhưng không lấy cái “Không“ làm chứng đắc, tu học vô tướng, vô tác, xong chẳng lấy vô tướng, vô tác làm lẽ chứng đắc . Bồ tát phải thưc hành Lục Độ Ba la mật và lấy bốn tâm vô lượng làm tư lương Bồ Đề và phải phát nguyện. Vì thế mới có lời nguyện:
"Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành"
“Nghĩa Không mà Phật đã tuyên thuyết là một trong những nghĩa chân thật , nói lên sự thật mà mỗi hữu tình khi dứt mê sẽ tự chứng. Vì thế nghĩa không (rốt ráo không) chính là chân lý” (trích Anh Lạc Luận)
Bồ Tát tuy sống trong không mà quán chiếu các pháp hữu để thấu được hữu tình. Bồ tát sống cùng phiền não đó để quán chính nó, biến chính phiền não đó thành Bồ Đề. Nhờ những phiền não đó, Bồ Tát thấu cảm được nỗi khổ nhân sinh mà độ người qua khổ ách. Do có chánh kiến, Bồ Tát mới thấy rõ tâm Bồ Đề thuộc về chúng sanh mà khởi Tâm Đại Bi, nhờ phát khởi Tâm Đại bi và hành hoạt theo Đại nguyện ấy mà thành tựu được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Bồ Tát thấy chúng sanh là ân nhân của mình. “Bồ Tát học trí tuệ ở nơi phiền não của chúng sanh“ là ý này !
Thấy rõ nguồn gốc phiền não của mình và chúng sanh đều từ gốc rễ vô minh, do chấp Ngã, Bồ tát khởi tâm Đại bi giúp chúng sanh nhận diện được vô pháp, vô ngã để đoạn trừ.
Thấy rõ sự thật về các pháp môn tu tập trong 37 phẩm trợ đạo, pháp môn nào cũng có tác dụng cắt đứt phiền não để giải thoát, chấm dứt khổ đau, đem lại an lạc, Giác ngộ cho chính mình và chúng sanh nên Bồ tát khởi tâm Đại bi phát nguyện học vô lượng Pháp môn.
Thấy rõ Phật đạo là tối thượng, nên Bồ tát khởi Tâm phát nguyện Phật đạo viên thành để độ chúng sanh.
Đó mới là tâm Từ Bi của người tu hành Bồ Tát Đạo. Trung đạo là kết quả viên mãn của Từ tâm và Bi tâm, là cách vận dụng tối ưu linh hoạt giữa Hữu và Vô để có những phương tiện thiện xảo nhất cứu giúp cho chúng sanh.
Hành động người tu hành cho là chứng đắc cái “Không “ mà an trụ vào Thiệt tế, chứng Thiệt Tế đó không giúp được người khác mà chỉ để tự độ mình chính là “trụ vô vi “. Người tu hành trụ vô vi, không phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, Phật gọi những kẻ ấy là “hạt giống thối“ hay thứ “lừa què “.
3) Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Tận hữu vi lỗi gì và trụ vô vi lỗi gì trên con đường tiến về trung đạo ???
Người tu hành muốn thể nhập trung đạo phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi“, “chẳng trụ vô vi“. Nếu tận hữu vi thì phạm lỗi không có từ bi. Nếu trụ vô vi thì phạm lỗi không sanh trí tuệ. Mắc hai lỗi này, sẽ là trở ngại lớn trên con đường tiến về Trung Đạo.
Vậy con đường Trung đạo thực chất là con đường mà người tu hành biết dung hoà giữa Không và Có nhằm mục đích từ đây xuất sinh những phương tiện thiện xảo nhất để cứu giúp người. Thầy dạy: “người ấy nói có cũng vì lợi ích của chúng sinh, người ấy nói không cũng vì lợi ích chúng sinh. Còn bản thân thì đã thấu rõ có hay không đều rốt ráo không”
4) Bản chất (thiệt tướng) của hai pháp hữu và vô là gì ??? Thấu suốt thiệt tướng của hữu và vô, người tu hành sẽ thấy được điều gì sau đó ??? Xin giải thích cụ thể về cái thấy này ???
Chúng ta tìm hiểu lại về nguyên nhân hình thành của cõi Hữu: Thức hay trung ấm là nhân tố làm nên cõi Hữu. Khi sáu căn tiếp xúc với 6 trần cảnh, nội xúc, trong thập nhị nhân duyên chúng ta quán lý duyên khởi, do duyên Vô minh duyên hành, do duyên Hành duyên Thức, do Thức duyên Danh sắc...sầu bi khổ não. Đây chính là lộ trình duyên khởi của một cõi Hữu. Bản chất chỉ là vô minh và thức chạy theo, chịu tác động của cặp mê Tình, tưởng (mê hay giác, hoặc vừa mê vừa giác) để cho ra một thân nghiệp mới (ác hoặc thiện). Nếu hữu tình bị vô mình che mờ tâm ý thì sẽ mãi không thoát ra khỏi quỹ đạo này khiến vòng luân hồi cứ luân chuyển mãi. Thức mê sinh ra pháp mê, pháp mê sinh ra tâm mê, tâm mê sinh ra ba cõi Hữu.
Bản chất của “Vô“: Khi sáu căn tiếp xúc 6 trần, các duyên không hoà hợp, thức không bị vô minh che mờ và không bị mê gọi là minh xúc sẽ khởi nguồn cho một cõi “Không“. Xúc, Thọ, Tưởng không mê đưa đến Chánh Niệm , chánh tinh tấn, chánh định (Tỉnh giác) - chánh Tư Duy, chánh kiến, như lý tác ý ta có Chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp. Nếu thức không bị mê che mờ, các Pháp không tự sanh, Pháp không sanh thì Tâm không sanh, tâm không sanh thì ba cõi thành Không.
Như vậy ta quán lý duyên khởi, hiểu được thiệt tướng các Pháp, giác ngộ để hiểu rõ con đường Hữu, Vô nên không chấp có, chấp Không. Ngay hiện tiền chẳng có gì sanh, chẳng có gì diệt, gọi là rốt ráo Không.
Như vậy, có 2 điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận giống như đôi chân của một con người, hay đôi cánh của một con chim. Nếu thiếu đi một chân con người khó thể đi xa, thiếu đi một cánh thì con chim không thể bay được, khi biết rõ bản chất cái gọi là “có“ thì cơ may mới hiểu được thấu suốt nghĩa Không.
Người tu hành như vậy sẽ thấy được con đường trung đạo. Khi thấu suốt được con đường Trung đạo, người tu hành ở nơi chúng sanh thấy đó là cõi Hữu, nơi ấy cũng là Niết Bàn. Ở nơi chúng sanh thấy đó là cõi Vô, nơi ấy cũng là Niết Bàn. Hữu vô đồng là Không, cái rốt ráo không ấy hàm chứa nghĩa Trung đạo.
Con, Lý Diệu Âm
Chủ Đề: Trung Đạo
Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Tận hữu vi lỗi gì và trụ vô vi lỗi gì trên con đường tiến về trung đạo ???

Các bạn !!!
Thời gian vừa qua, HĐ chúng ta trao đổi và luận bàn nhiều về trung đạo !!! Đối với Phật đạo, trung đạo là con đường mà hết thảy người tu hành nhất định phải lãnh hội, phải thấu suốt và thể nhập thì, cơ may thành tựu trí tuệ tối thượng mới trở nên hiện thực !!!
Để có thể khai phá trung đạo, rào cản đầu tiên đối với người tu hành gồm hai nghĩa hữu và vô !!! Nếu chưa thấu suốt thật nghĩa hai pháp này, việc tìm thấy trung đạo là không thể !!! Đây là lí do vì sao pháp môn “Tận vô tận giải thoát” xuất hiện !!! Và đây cũng là lí do vì sao Ngài Duy Ma Cật sau cái lặng yên để biểu lộ thế nào là bất nhị, đã trở thành đương cơ để Thế Tôn thuyết pháp môn Tận vô tận giải thoát !!!
Để giúp các bạn thấu suốt thật nghĩa của hữu và vô !!! Trò Chơi Trí Tuệ kì này sẽ có một số câu hỏi liên quan đến chủ đề trên !!! Các câu hỏi như sau:
1) Người tu hành thành tựu pháp môn nào của Phật đạo mới có thể thể nhập trung đạo ??? Vì sao cần thành tựu pháp môn đó trước, cơ may thể nhập trung đạo mới đến sau ??? Xin giải thích cụ thể ???
2) Phật dạy: “Chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện của “tận hữu vi” ??? Hành động hay tạo tác nào của người tu hành là biểu hiện thuộc về “trụ vô vi” trong Bồ Tát đạo ???
3) Vì sao người tu hành muốn thể nhập trung đạo, phải thấm nhuần hai pháp “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” !!! Tận hữu vi lỗi gì và trụ vô vi lỗi gì trên con đường tiến về trung đạo ???
4) Bản chất (thiệt tướng) của hai pháp hữu và vô là gì ??? Thấu suốt thiệt tướng của hữu và vô, người tu hành sẽ thấy được điều gì sau đó ??? Xin giải thích cụ thể về cái thấy này ???
Hạn chót nhận trả lời: Chủ Nhật, 30/08/2020 !!!
Bài viết hay, trả lời thoả đáng, sẽ được đăng trên Fanpage Lý Tứ để mọi người tham khảo !!!
BQT rất mong, nhận được các trả lời lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
19/08/2020
LÝ TỨ
Bốn Đế Và Ba Thừa – Diệt Đế
Thuật ngữ DIỆT ĐẾ Phật chỉ rõ là Diệt nơi Đế, có nghĩa nhắm thẳng vào đế để diệt, diệt ngay nguyên nhân phát sinh vọng tưởng... Muốn viên mãn DIỆT ĐẾ phải biết đối tượng cần diệt và phương pháp tiêu diệt, giống như người xạ thủ muốn bắn trúng mục tiêu cần thấy rõ mục tiêu, mục tiêu càng gần xác suất bắn trúng đích càng lớn.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Thuật ngữ DIỆT ĐẾ Phật chỉ rõ là Diệt nơi Đế, có nghĩa nhắm thẳng vào đế để diệt, diệt ngay nguyên nhân phát sinh vọng tưởng. Nhưng phần lớn người tu hành không chú trọng thuật ngữ này, nói là DIỆT ĐẾ nhưng khi tu hành họ lại nhắm nơi TẬP để DIỆT.
Vì thế chủ trương diệt tham sân, hay tiêu diệt vọng tưởng không có khả thi. Làm như vậy chẳng khác nào "lấy đá đè cỏ,” vì vọng tưởng, tham sân, phiền não chỉ là tập nhân, đây là sản phẩm của mê lầm chơn đế, không có thực thể.
Ví dụ như tham, trước khi tâm phát khởi tham thì tâm không tham, đã không tham thì lấy gì để diệt. Còn khi tâm đang tham thì toàn tâm là tham, đâu thể lấy tham diệt tham. Khi hết tham thì lại càng không thể diệt.
Hoặc người đời có tham thân này là chỉ vì ngộ nhận thân này là của ta, nếu biết rằng ta chẳng phải tác giả chẳng phải thọ giả của thân thì tham để làm gì? Còn nếu không giác ngộ điều này thì chẳng bao giờ đoạn dứt tham thân.
Cho nên muốn viên mãn DIỆT ĐẾ phải biết đối tượng cần diệt và phương pháp tiêu diệt, giống như người xạ thủ muốn bắn trúng mục tiêu cần thấy rõ mục tiêu, mục tiêu càng gần xác suất bắn trúng đích càng lớn. Trong kinh điển Phật giáo chỉ nói khổ đế, tập đế, diệt đế, chưa thấy bao giờ Phật dạy DIỆT TẬP.
Bây giờ xét đến nguyên lý dứt DIỆT, sở dĩ DIỆT ĐẾ ra đời là vì xét tận nguyên nhân sanh khởi hư vọng của ĐẾ chính là mê lầm. Mà đã nói đến mê lầm thì bản chất của mê lầm không thực, có nghĩa mê lầm chỉ là một thứ bệnh nào đó của thân tâm. Hay khác hơn đây chỉ là sự lầm nhận bản chất sự việc, nếu làm rõ bản chất thì sự việc không còn lầm lộn.
Ví dụ như một khối vàng đặt cạnh củ khoai lang, nếu nơi văn minh thì người ta chọn khối vàng từ bỏ củ khoai. Nhưng đem hai vật này đến một dân tộc bán khai chưa biết giá trị của vàng là gì thì nhất định ở đây người ta chọn củ khoai mà từ bỏ khối vàng. Vì sao đồng một sự việc mà hai thái độ đối nghịch lẫn nhau? Như vậy bản chất của vàng và khoai lang cái nào quý hơn?
Từ đây ta thấy rõ bản chất của sự lầm nhận giá trị nên cái này khác cái kia. Chính hai thái độ nêu trên nói rõ tính chất vô thường và chuyển biến của sự việc, từ đó suy ra các pháp nương tựa vào ĐẾ đã TẬP (tập đế) nay có thể dứt DIỆT nếu thấy được nguồn cơn. Tóm lại DIỆT ĐẾ y cứ sự vô thường dời đổi làm chỗ diệt, vì rằng các pháp nếu là thường thì pháp này không thể diệt.
Ví dụ phiền não khởi lên trong tâm, theo thời gian phiền não này tự diệt, hoặc khi thắng pháp hiện hữu thì phiền não bị đẩy lùi. Chính nguyên lý này nói lên tính chất của DIỆT ĐẾ. Chúng sanh niệm niệm sanh diệt, diệt rồi lại sanh, các pháp tự sanh tự diệt.
Ngay trong thế pháp, người đời cũng biết rõ phiền não có thể diệt được. Người ta dùng các phương tiện thế gian để làm lắng dịu phiền não, ví dụ tìm vui nơi ngũ dục. Phương tiện diệt này chỉ là biện pháp chữa cháy có tính cách tạm thời, không đưa tới vĩnh viễn đoạn trừ phiền não, vì rằng cái gì diệt được thì sanh được.
Chính vì thế thánh pháp ra đời để hỗ trợ và chỉ ra nguyên nhân sanh phiền não là do mê lầm chơn đế. Một khi chơn đế bị mê thì tức thời phát sanh vọng giác, vọng giác tùy thuộc nghiệp thức nên phiền não hiện hành. Để thỏa mãn điều kiện dứt diệt vĩnh viễn này, việc làm sạch các đế là biện pháp tối ưu để phiền não không quay trở lại. Giống như hình thức nhổ cỏ tận gốc, nếu không diệt đúng pháp như vậy thì phiền não thế nào cũng tái sanh. Điều này được Phật giáo chỉ rõ thông qua hình tượng của quả vị Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ định, nỗ lực cao nhất để chiến thắng phiền não của một chúng sanh mà chư Thiên hay Tu Bạt Đà La là một ví dụ.
Cũng trong tính chất vô thường này, Phật giáo khai thác triệt để nguyên lý trên bằng cách chỉ cho ba thừa giác ngộ chỗ diệt và cũng cho biết để DIỆT này vĩnh viễn tịch diệt, phải dùng phương tiện đặc biệt, đó là sự GIÁC NGỘ.
Giác ngộ chính là tự nhận ra chơn tánh của các pháp. Thấy được tính chất thanh tịnh không sai khác của tự tâm, hay khác đi là trả các pháp trở về bản nguyên của nó, không đem kiến văn giác tri hư vọng tham gia vào các trần làm cho các trần sinh pháp.
− Cụ thể hơn đó là giác ngộ thân thọ tâm pháp bản lai thanh tịnh, đó là công việc đưa Ý CĂN ra khỏi Ý THỨC và ý căn bây giờ trở thành DIỆU QUAN SÁT TRÍ.
− Các căn còn lại của thân trả về chỗ thành tựu ban đầu không bị tiền ngũ thức chi phối gọi là THÀNH SỞ TÁC TRÍ.
− Trong tâm sự so sánh phân biệt các pháp không xảy ra, tính chất nhị nguyên bị triệt tiêu, ngã và ngã sở không thể thành lập nên gọi là BÌNH ĐẲNG TÁNH TRÍ.
− Tự tâm an lạc gọi là ĐẠI VIÊN CẢNH TRÍ.
Nói khác đi viên mãn DIỆT ĐẾ là chỗ ‘tự ngộ’ không phải do tu hành sanh. Tu hành chỉ là công cụ làm mỏng nhẹ sự ngăn che của thức nghiệp.
Tu hành là pháp làm ra, mà cái gì làm ra thì không thể KHÔNG, nó cũng không VÔ TƯỚNG, lại càng không VÔ TÁC. Tu hành thì lại không thể đưa đến VÔ NGÃ, vì sự tu chính là ngã.
Mong rằng nơi ngã này tìm thấy vô ngã, giống như lấy nước mong làm khô nước, lấy lửa mong làm tắt lửa là điều không thể xảy ra. Mà hễ chưa thấy được ‘tự tâm vô ngã’ thì đừng mong giải thoát hoàn toàn, mà DIỆT ĐẾ chính là giải thoát hoàn toàn nên diệt đế phải là sự THỂ NHẬP PHÁP ẤN của các thừa.
(còn nữa)