Bát Nhã Tâm Kinh

Một hôm, mình và các HĐ trao đổi Phật pháp với nhau, trong đó có một người bạn mới quen!
− Người bạn mới quen hỏi mình: Thầy có thể cho con hỏi một vài thắc mắc trong Bát Nhã Tâm Kinh hay không???
⁕ Bạn thắc mắc điều gì về Bát Nhã Tâm Kinh???
− Thầy có thể giải thích cho con câu: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”???
⁕ Mình hỏi bạn ấy: Câu kinh đó, bạn hiểu như thế nào???
− Theo con, (bạn ấy chỉ cái bình để trên bàn) giống như cái bình này, khi cái bình còn nguyên gọi là sắc! Nếu cái bình bị bể nát, hoặc nghiền thành bột, hay cái bình không còn nữa, v.v... thì, cái bình bây giờ trở thành không! Gọi là “sắc tức thị không”!!!
⁕ Mình hỏi: Hình như câu kinh đó còn một đoạn nữa, bạn có nhớ không???
− Bạn ấy đọc tiếp: “Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị” (thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy)!!!
⁕ Mình nói với bạn ấy: Về sắc, bạn giải thích khi bị nghiền thành bột, hoặc cái bình mất đi, gọi là sắc tức thị không, điều này tạm chấp nhận!
Nhưng thọ, tưởng, hành, thức thì nghiền thành bột bằng cách gì? Hoặc làm sao để mấy thứ ấy mất đi, cho nó trở thành không???
− Nghe hỏi như thế, bạn ấy cười và nói: Con chỉ nghe giảng có thế, Thầy giải thích dùm!
⁕ Mình hỏi các HĐ ngồi chung quanh: Các bạn cho biết, đoạn kinh vừa rồi nằm trong bài kinh nào???
− Mọi người trả lời: Bát Nhã Tâm Kinh!
⁕ Mình cười và nói: Theo kiến giải của anh bạn này (chỉ người bạn mới quen), thì có lẽ, nên đổi bài kinh đó thành “Bát Nhã Vật Kinh” mới đúng! Bát Nhã Vật Kinh, tức bài kinh nói về vật là bình; bàn... chứ không phải bài kinh nói về Tâm là Bát Nhã Tâm Kinh!!!???
− Anh bạn lại nói: Xin Thầy cho biết thế nào là tâm kinh???
⁕ Mình giải thích: Tâm kinh là kinh nói về tâm! Có nghĩa rằng, người tu hành khi nào thấy tâm và lời kinh tương ưng với nhau, tức quán chiếu thấy tâm này và nghĩa kinh không còn sai khác (bất nhị), gọi là tâm kinh! (Dùng Kinh để ấn Tâm trong Đệ Nhất Pháp Ấn).
Ví dụ: Khi quán sắc (tức quán thân này, chứ không phải hướng ra ngoài quán bình, bàn hay thế giới...), thấy thân này không phải là một uẩn pháp và thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy (đồng không phải là uẩn pháp)...
Lúc ấy mới chợt nhận ra: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng khác gì không”! Có nghĩa, năm món này bản chất (thiệt tướng) nó tự không, chỉ do mê (năm món ấy) nên sanh năm uẩn pháp!
Nếu nắm giữ (niệm) trong lòng các uẩn pháp ấy, sẽ sinh khởi phiền não, kinh gọi là “ngũ thủ uẩn”! Mình giải thích như vậy, bạn có thắc mắc gì không???
− Bạn ấy hỏi: Thưa Thầy, thế nào là uẩn pháp???
Mình cắt nghĩa tường tận cho bạn ấy hai chữ ấm và uẩn... (xem bài viết ấm và uẩn trong sách Phật Giáo và Thiền)
− Nghe xong, bạn ấy phát biểu: Thưa Thầy! Thưa các HĐ!!! Nghe Thầy giảng xong đoạn kinh, tâm trí con sáng ra và thấy tâm này cùng thế giới đồng thanh tịnh, tất cả như hư không!!!
Xin Thầy và các HĐ cho con làm HĐ của Lý Gia!!!
(P/S: Lý Lục Vũ và các HĐ!!! Không biết, khi đọc câu chuyện ngắn này, các HĐ có còn nhớ cái buổi sáng Tây Nguyên đẹp... như... mơ... ấy không???!!!)
Kỹ Năng Mưu Sinh Và Thoát Hiểm Trong Phật Đạo

Các bạn! ... Buổi sinh hoạt vừa rồi, mình có một ví dụ sau: “Vị tu hành chưa giác ngộ, còn ở trong rừng rậm ba cõi, giống như một người bị lạc giữa rừng sâu... Để có thể tồn tại và thoát ra khỏi sự vây hãm đầy hiểm nguy của khu rừng này. Vị chúng sinh đó phải được trang bị những kiến thức tốt nhất và được huấn luyện thuần thục về kỹ năng “Mưu Sinh Thoát Hiểm”.
- Có kiến thức mưu sinh: Sẽ biết thức ăn nào có độc thức ăn nào không độc. Nơi nào có thú dữ, hiểm nguy nơi nào an toàn, v.v... Kiến thức này sẽ giúp tồn tại trong thời gian còn kẹt nơi rừng rậm.
- Có kỹ năng thoát hiểm: Trong u tối mênh mông của khu rừng kia. Người này có thể xác định được điểm đứng, biết rõ phương hướng, tìm đúng con đường đưa bản thân ra khỏi rừng rậm này.
Thiếu hai thứ nói trên (kiến thức mưu sinh và kỹ năng thoát hiểm), cho dù vị chúng sinh đó có nỗ lực bao nhiêu và bằng những cách thức không chuyên nghiệp, hay tự phát. Chuyện người này ra khỏi khu rừng rậm là điều không thể”!
Phật đạo, hay nói khác hơn giáo pháp của chư Phật đã để lại, trong chừng mực nào đó, bao gồm những bài giảng chuẩn mực về mưu sinh thoát hiểm. Những bài giảng này có mục đích giúp chúng sinh bình yên thoát ra khỏi rừng rậm ba cõi (hoặc nhà lửa ba cõi, hoặc đêm dài vô minh…). Người tu hành trong Phật đạo, mà không biết hoặc chưa được trang bị những kiến thức cũng như các kỹ năng nói trên, sẽ vĩnh viễn “làm công dân ưu tú của ba cõi khổ” là chuyện tất nhiên!
Để thấm nhuần kỹ năng “Mưu Sinh Thoát Hiểm” của Phật đạo... Mình có vài câu hỏi, xin gởi đến các bạn.
CÂU HỎI TCTT 2018/02 − Kỹ Năng Mưu Sinh Và Thoát Hiểm…
1) Đối với Phật đạo, kiến thức mưu sinh gồm những hiểu biết (pháp) nào? Hãy nêu ba (3) pháp tiêu biểu dùng vào việc mưu sinh và giải thích những nét đặc thù trong việc mưu sinh của các kiến thức này?
2) Đối với Phật đạo, kỹ năng thoát hiểm gồm những pháp (kỹ năng) nào? Hãy nêu ba (3) kỹ năng cơ bản và trình bày cách ứng dụng?
Rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ các bạn. (17-01-2018)
GỢI Ý... TCTT 2018/02 − Kỹ Năng Mưu Sinh Và Thoát Hiểm.
Đọc lại câu hỏi nhiều lần, nhằm tìm xem những điều được hỏi có vượt quá khả năng của các bạn hay không. Theo mình thì, những điều đã hỏi không có gì là mới, các kiến thức này đã được trang bị kỹ lưỡng cho các bạn và được lặp đi lặp lại nhiều lần. Vì thế, nó không nằm ngoài khả năng của Các bạn! ...
Vấn đề ở chỗ, muốn trả lời thoả đáng hai câu hỏi, người trả lời phải thoả mãn các điều kiện sau: − Nắm vững giáo pháp... − Hiểu rõ các nhóm pháp (tụ pháp): Đâu là nhóm hộ trì, nhóm trưởng dưỡng, nhóm đối trị, nhóm tăng ích, v.v... và v.v... − Biết vận dụng kiến thức vào những tình huống bất ngờ... − Khả năng tư duy sắc bén... − Năng lực phân tích một vấn đề khoa học và hợp lý.
Dù lý luận gì thì lý luận, không được xa rời giáo pháp căn bản. Nếu chúng ta chỉ chăm chú vào lý luận, mà không lấy giáo pháp căn bản làm tư tưởng chủ đạo thì, mọi thứ lý luận đều không giải quyết tận gốc vấn đề. Nói chung, đã gọi là “Trò Chơi Trí Tuệ”, chắc chắn trong mỗi câu hỏi phải mang đủ nội hàm của trí tuệ, nó cần vượt ra khỏi cách hỏi đáp thông thường có tính giáo khoa mà ta thường gặp. Muốn làm được điều này, phải biết thoát khỏi những tư duy cứng nhắc theo kiểu lối mòn rằng: Điều này đã được nghe nói rồi. Trí tuệ là sự vượt thoát, sự bùng vỡ ngay tức thì từ những mảnh ghép (giáo khoa) đã cũ. Trí tuệ của Phật đạo, không giống như muốn biết: 2+2 bằng mấy, đứa trẻ chỉ cần lấy hai cái que rồi lấy thêm hai cái que nữa, vị chi là bốn cái que. Mà, nó đòi hỏi người trả lời phải gồm đủ năng lực lý luận, phân tích và phản biện! Trong lúc viết email này, mình nghĩ đến chuyện Cristoforo Colombo và quả trứng [[1]]. Một vấn đề trước mắt thật dễ và cũng rất khó! Hãy tạo ra một vụ nổ Big Bang tâm thức qua những dữ kiện trước mắt, và hãy xâm nhập con đường trí tuệ ngay từ lúc này! (18-01-2018)
Các bạn! ... Hôm nay, mình có gặp một số HĐ để tìm hiểu về hai câu hỏi vừa rồi. Hầu hết, mọi người đều đánh giá đây là hai câu hỏi khó. Thậm chí, có HĐ cho biết, bản thân đã nghiền ngẫm hai ngày nay mà cũng chưa tìm ra chiêu thức hoá giải hợp lý! Và, mọi người cũng tỏ ra thích thú với hai câu hỏi kỳ này, nó kích thích tư duy, buộc phải tìm ra giải pháp đúng nhất. Theo mình, đây là dấu hiệu của sự ham thích trí tuệ trong HĐ chúng ta, một tín hiệu vui, xứng đáng với danh xưng Phật tử! Nghe SĐ Giác Minh than một câu mà đứt... cái... “dzuột”: “Thầy ơi! Con không ngủ được, vì nhắm mắt lại câu hỏi lại chạy trong suy nghĩ con...”
Ha ha ha ha! Chuyến này Lão Lý cho các vị uống Tam Thi Não Thần Đan. Thần đan này có công dụng phế bỏ não bộ ù lì để biến thành Trí Tuệ Siêu Việt! Mình nhớ ngày xưa, không phải chỉ mất ngủ một đêm, mà có khi ròng rã ba bốn năm trời Lý Tứ mất ngủ chỉ vì chưa giải quyết được một câu kinh! Kể ra cái “dzụ này” cho các bạn ớn lạnh chơi, mới mất ngủ một đêm mà nhằm nhò gì! Không tin thì tìm Thế Tôn mà hỏi cho chắc ăn!
Sau khi đọc trả lời của các bạn, mình lại nhớ một mẩu chuyện nhỏ trong Anh Hùng Xạ Điêu mà mình đã đọc hồi còn học lớp 9 cách đây chừng 50 năm. Mẩu chuyện (đã được cải biên) vắn tắt thế này:
“Sau khi Quách Tỉnh cõng Hoàng Dung đang bị trọng thương trốn khỏi núi Thiết Chưởng của Thiết Chưởng Bang do Thiết Chưởng Thuỷ Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhậm làm Bang chủ. Hoàng Dung khi tỉnh dậy biết cả hai [[2]] đang đi ngang qua Dạ Trạch Đầm, đây là khu đầm lầy cũng là nơi ở của bà Thần Toán Tử Anh Cô [[3]]. Biết bà ta đam mê dịch lý và số học, Hoàng Dung bèn đưa ra một bài toán, nhằm hướng bà Anh Cô vào chuyện giải toán hơn là bị chết nơi rừng rậm ba cõi. Đề toán như sau: “Trong Toán kinh có tất cả mười chín nguyên, Nhân thì có Tiên, Minh, Tiêu, Hán, Lũy, Tằng, Cao, Thượng, Thiên, dưới Nhân thì có Địa, Hạ, Đê, Giảm, Lạc, Thệ, Tuyền, Ám, Quỷ. Nếu bà tính được cả mười chín nguyên thì mới đáng với danh là Thần Toán Tử”. Nhờ kế mọn này, Quách Tỉnh và Hoàng Dung ung dung ra khỏi...ba...cõi...khổ. Và trong đêm ấy, Thần Toán Tử Anh Cô từ một thiếu phụ đầu xanh, sáng ra cái đầu bị bạc trắng như thúng bông gòn vì tư duy bài toán...... Một đêm nỗ lực như thế vì trí tuệ, không tiếc cái đầu xanh, điều này cũng đáng để suy ngẫm! (19-01-2018)
(Tham Khảo) TCTT 2018/02 − Kỹ Năng Mưu Sinh... Thoát Hiểm…
Xin chuyển đến các bạn tham khảo “mẩu đối thoại của Ngư &Tiều về kỹ năng mưu sinh…”
֎ NGƯ TIỀU VẤN ĐÁP.
Hỏi: Một người bị lạc trong rừng sâu, toàn độc trùng thú dữ, cây trái ăn vào tử nhiều hơn sanh, nguồn nước ô nhiễm nặng đến lông gà còn phải chìm... Xin hỏi, một người với đời sống thiện lương, chí tâm tu hành, có thể tồn tại giữa khu rừng quái ác này không?
− Trả lời: Bị lạc trong khu rừng quái ác như vậy. Kẻ thiện người ác, người thiểu dục kẻ đa dục, người xuất gia kẻ tại tục, người hiền lương kẻ gian ác, người giàu kẻ nghèo, người mạnh khoẻ kẻ ốm yếu, người cầu Phật kẻ cầu Chúa, người ăn chay kẻ ăn mặn, đạo Ta đạo Tây, v.v... Đều chết ráo nạo! Tất cả đều phải chết, chết sạch sành sanh, chết không chừa một mống, chỉ có thời gian, chết sớm hay muộn khác nhau mà thôi!
Hỏi: Như vậy, muốn tồn tại tạm thời trong khu rừng quái ác, chờ ngày thoát ra, người nào mới có thể làm được điều này?
− Trả lời: Muốn tồn tại tạm thời trong khu rừng đó, chờ ngày thoát ra, chỉ có những người được trang bị đầy đủ kiến thức về mưu sinh và thực hành nhuần nhuyễn kỹ năng thoát hiểm. Cơ may, hạng này có thể thoát ra khỏi khu rừng kia đến chín phần, trừ người quá xui xẻo “ra ngõ gặp đàn bà” thì mới bỏ thây!
Hỏi: Kiến thức mưu sinh, kỹ năng thoát hiểm tác dụng của nó như thế nào?
− Trả lời: Kiến thức mưu sinh dùng vào việc tạm thời tồn tại. Kỹ năng thoát hiểm dùng vào việc tìm ra con đường tốt nhất để mau chóng rời khỏi khu rừng!
Hỏi: Chúng sanh trong đời, giống như người lạc giữa rừng mê ba cõi, với đầy đủ hiểm nguy của lậu hoặc, tâm thức bị nhiễm ô nặng nề. Xin hỏi, Phật đạo có dạy cho người kiến thức mưu sinh và kỹ năng thoát hiểm để tạm thời tồn tại, rồi sau đó tìm đường thoát ra khỏi rừng rậm u mê ba cõi hay không?
− Trả lời: Có! Có đầy đủ, cả kiến thức mưu sinh và kỹ năng thoát hiểm. Người không biết những kiến thức này, ngồi đó mà dụng công bằng cách nào đi nữa, mà thiếu hiểu biết, trước sau cũng chết, chết vì U Mê Lâm. Những kẻ như vậy, còn lâu mới có thể thoát ra khỏi Hư Vọng Lâm, Kiến Trù Lâm, Tam Độc Lâm để đến được Chơn Minh Địa! Vì thế người xưa mới nói một câu lãng xẹt, nhưng ngẫm lại cũng có chút lý lẽ của nó, câu đó là: “Chay cũng chết, mặn cũng chết, chỉ kẻ có trí là... không... chết!”... Phật đạo được gọi là Đạo Trí Tuệ cũng tại bởi cái lý do lãng xẹt này!
Hỏi: Xin cho biết, kiến thức mưu sinh, giúp tạm thời tồn tại trong ba cõi, gồm những hiểu biết chủ yếu nào?
− Trả lời: “Ba cõi duy tâm”. Trí tuệ bị trúng độc là do: Sáu căn ăn bậy ăn bạ, ăn không chừa không đẽo. Ăn tạp riết, tâm bị nhiễm ô rồi chết queo. Đạo tâm, chơn tâm gì gì đó chết theo là do nhiễm phải những quan niệm đảo điên của thế gian, lâu ngày hình thành ung bứu sáu thức. Giống như người uống rượu thường xuyên, uống bằng cái miệng mà cái gan bị cổ trướng. Quýt làm cam chịu, nhân quả ba cõi bị loạn thị, nên anh này uống mà anh kia hưởng!
Muốn tồn tại tạm thời ở ba cõi hung dữ hữu lậu này, Phật đạo đề ra Tam Vô Lậu Học còn gọi là ba học pháp Vô Lậu...
Đây là phép đối trị, đau đâu chữa đó. Muốn không chết vì độc phải biết khử độc. Muốn không tan xác vì hữu lậu, phải dùng phép Vô Lậu để trấn ếm. Tam Vô Lậu là Đại Thần Chú, là Đại Minh Chú, là Vô Đẳng Đẳng Chú năng trừ độc tố hữu lậu, chơn thiệt bất hư! Trì thứ chú này, độ nhất thiết khổ ách trong rừng rậm ba cõi. Giống như người vào rừng sâu tìm trầm, để khỏi bị sơn lâm chướng khí làm hại, người đó miệng ngậm cục ngải. Người xưa gọi là “ngậm ngải tìm trầm”, không ngậm thứ này mà “ngậm tầm bậy tầm bạ” ở nơi rừng thiêng nước độc mà không banh xác mới là chuyện lạ! ...!
Tam Vô Lậu Học gồm:
Giới vô lậu: Sáu căn không ăn tạp. Sáu trần được giải độc. Sáu thức êm ru bà rù!
Định vô lậu: Thú dữ độc trùng, sơn lam chướng khí, hữu lậu nhiễm ô, Ma Ba Tuần gặp thứ định này, trên trán hiện ba nếp nhăn, rụt đầu thè lưỡi, lắc đầu buồn bã, ngao ngán bỏ đi!
Tuệ vô lậu: Tuy đang ở trong rừng u mê tối tăm, nhưng do có giới và định vô lậu, nên tâm trí sáng suốt như kính viễn vọng không gian Húp Bồ (Hubble), quan sát rõ mọi thứ xung quanh. Từ đó, ứng dụng kỹ năng thoát hiểm để về nhà với... vợ... con mà không mất thứ gì!
Đại khái, Tam Vô Lậu Học của Phật đạo là loại Vô Đối Ngải, nó là hàng quý hiếm, đầy đủ tính năng ba trong một theo lý thuyết: “Cái này có nên cái kia có...” ... Người tu hành, ngậm thứ này trong miệng khi lạc vào rừng rậm u mê ba cõi thì “vạn tà bất xâm”.
Hỏi: Mưu sinh giữa ba cõi, Tam Vô Lậu Học là số dzách. Còn kỹ năng thoát hiểm thì Phật đạo dạy những kỹ năng gì?
− Trả lời: “Thiên cơ bất khả lậu”. Cái này mà nghe xong, sẽ giảm kỷ (giảm thọ) chớ chẳng phải chuyện chơi!
Hỏi: Trong trường hợp nào thiên cơ này mới có thể khả lậu?
− Trả lời: Chỉ có những người đã được ơn trên làm phép “Đoạn Mê Khai Giác”, chừng ấy nghe rồi chẳng những không giảm kỷ mà còn sống dai nhách, sống “dai như đỉa” chứ không vừa. Ngoài ra, không có trường hợp ngoại lệ!
Hỏi: Xin thưa có thể vị tình riêng, mà tiết lộ một chút thiên cơ được chăng?
− Trả lời: Được! Dư sức được! Nếu không “ớn chè đậu” cái vụ giảm kỷ?
Hỏi: Thề quyết không ớn! Đội bóng ta mà đã không ớn Syria thì chẳng còn ớn thằng nào con nào nữa... Vs[[4]] ráo trọi!
− Trả lời: Như vậy, hãy nghe đây, không hối hận chớ! Người lạc trong rừng sâu, nếu không bỏ mạng, thì phải tức tốc lóp ngóp bò dậy tìm đường thoát ra khỏi cái chốn khỉ ho cò gáy này. Có ba nguyên tắc khi đứng dậy và bước đi:
Nguyên tắc một: Xác định điểm đứng. Nếu có smartphone thì bật định vị toàn cầu GPS. Nếu có bản đồ quân sự thì sử dụng phép chiếu GAUSS hay UTM để xác định toạ độ... Mà ba cõi chưa có bản đồ, nên mấy thứ này miễn bàn. Trong trường hợp này, hãy dùng Tam Muội Môn thứ nhất để xác định điểm đứng và phương giác di chuyển kế tiếp, gọi là “Tam Muội Có Giác Có Quán”. Giác là tìm điểm đứng, quán là tìm hướng di chuyển!
Nguyên tắc thứ hai: Sau khi có được điểm đứng, và có được phương giác di chuyển. Người này cứ một lèo đi tới. Ví dụ: Đi thẳng phương giác 2800. Về trái phương giác 1200. Đi cho lẹ, đi bằng chân cứng đá mềm, đi không do dự. Kỹ năng này, Phật đạo gọi là “Tam Muội Không Giác Có Quán”. Đây là kỹ năng thứ hai, giúp người ra khỏi ba cõi khổ một cách chắc cú!
Nguyên tắc thứ ba: Khi nào thấy phương Đông có dấu hiệu mặt trời mọc, biết rằng sắp ra khỏi U Mê Lâm, phía trước là Chơn Minh Địa. Cứ nhắm mắt nhắm mũi, cắm đầu cắm cổ chạy riết về phía ấy mà không cần nghĩ ngợi gì.
Khi nào hỷ lạc sung mãn nhất, mở mắt ra, gặp Thế Tôn đang chờ ở đấy! Chiêu này, Phật đạo gọi là “Tam Muội Không Giác Không Quán”. Tóm lại, ba Tam Muội Môn nói trên, là ba kỹ năng toàn bích. Người sở hữu ba kỹ năng này, bất luận ở đâu trong ba cõi, đều có thể tự mình nhắm mắt hô biến, mở mắt ra Nát Bàn hiện tiền. Ngoài chiêu này, sẽ không thể có một chiêu nào nữa đem ra ứng dụng mà có được may mắn là, ngay trong tức thì có thể về chầu Phật Tổ! Hiểu chưa?
Hỏi: Thưa đã hiểu! Và, còn gì nữa không?
− Trả lời: Hết rồi! (19-01-2018)
----------------------------------
[[1]] Trích chuyện ẩn dụ: Nhận ra bản chât ‘Lực Hấp Dẫn’ (Anh Lạc Luận Tập 2_Lý Tứ)
[[2]] (Quách Tỉnh và Hoàng Dung; Hoàng Dung: một cô gái đẹp và thông minh như Thất Muội trong Tâm Pháp)
[[3]] bà Thần Toán Tử Anh Cô: (Tục danh Lưu Anh, một quý phi tự phụ về năng lực toán học và dịch số Bát Quái, đã sáng chế ra độc môn Thất Tuyệt Châm)
[[4]] Vs: Tiếng La Tinh, viết tắt của chữ Versus, có nghĩa đối kháng, đối lập ... trong thể thao.
Chuyện Về "Vô Tu Vô Chứng"

Cách đây chừng bốn năm, được bằng hữu giới thiệu đến gặp một vị khách, bằng hữu của mình cho biết là, người ấy có rất nhiều chục năm nghiên cứu Phật pháp!!!
Sau hai giờ chạy xe gắn máy, đến một quán cà phê hoành tráng ở một thành phố lớn, mình hân hạnh gặp vị bằng hữu nọ!!!
Sau khi giới thiệu, bắt tay giao hảo, gọi thức uống, v.v... Mình và vị bằng hữu mới quen trao đổi với nhau sở kiến tu hành! Vị bằng hữu ấy cho biết, bản thân đã gần ba chục năm nghiên cứu Phật pháp, tu hành miệt mài! Mình cũng giới thiệu sơ lược quá trình tìm hiểu Phật đạo của bản thân!
Vị bằng hữu nọ đặt rất nhiều câu hỏi, và mình ôn tồn trả lời thoả đáng từng câu! Vị ấy luôn miệng chặc lưỡi, tấm tắc khen sau mỗi câu trả lời...!!!
‒ Trước khi chia tay, vị ấy hỏi: Nghe những điều anh giải đáp, tôi thấy những thắc mắc của mình được sáng tỏ!
Nhưng tôi xin hỏi anh: “Anh nói thì nghe thông đấy, chắc anh đọc nhiều, nhưng bản thân anh có tu cầu giải thoát hay không”???
⁕ Mình trả lời: Thú thật, tôi chưa từng nghĩ đến việc tu cầu giải thoát!
‒ Đạo giải thoát cao quý như thế, sao anh lại không cầu???
⁕ Tôi đâu có nói đạo giải thoát không cao quý, thậm chí biết nó rất cao quý... Nhưng phàm ở đời, cao quý là một chuyện, còn cầu hay không cầu cái cao quý ấy là một chuyện, đâu nhất thiết hễ thứ gì cao quý là mọi người đều cầu!
Tôi không mong cầu vì bản thân chẳng thấy có gì trói buộc! Mà, bản thân không thấy trói buộc thì cầu giải thoát mà làm gì...!!!
‒ Vị ấy lại hỏi: Anh đọc nhiều, hiểu rộng, nhưng không tu cầu giải thoát...Thì, cuộc đời tu tập của anh được gì???
⁕ Mình ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: Cảm ơn câu hỏi của anh, nhờ câu hỏi của anh mà có dịp tôi xem xét chính mình! Xin nói thật, sau khi quan sát tự thân, tôi chợt nhận ra, một đời tu tập của mình cho đến hôm nay chẳng được thứ gì, kể cả phiền não lậu hoặc, thứ mà người đời từ kẻ tu đến không tu ai cũng có được, còn bản thân mình thì lại... ‘trớt... huớc’!!!
‒ Vị khách!!!!!!?????? (01-07-2019)
Văn Hóa Vô Lậu

“Văn Hóa Vô Lậu” là “Một hình thái văn hóa” chỉ có trong Phật đạo, đó là đời sống của những người có Giác, có Ngộ. (22-08-2017)
Điều kiện cần và đủ của người sống trong môi trường văn hóa vô lậu là: “Ngũ Uẩn Giai Không”
− Sắc uẩn (thân): Không đặt bất cứ giá trị hư ảo nào lên thân này.
− Thọ uẩn: Không lấy khổ vui của cảm thọ mà sinh tâm.
− Tưởng uẩn: Biết rõ các tưởng không thật nên chẳng duyên theo, chẳng mong cầu; chẳng tìm cách tịch diệt.
− Hành uẩn: Biết rõ “vô minh duyên hành”, tâm hành do bất giác khởi niệm, bản chất vô minh là phân biệt, phân biệt tạo ra sự chênh lệch, đối đãi, bất bình đẳng, hành xuất hiện do chênh lệch; không có vô minh không có hành; giác ngộ thì hết vô minh.
− Thức uẩn: Thấu suốt “vạn pháp duy tâm tạo” (hay tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức) tâm hư vọng do thức phân biệt làm ra; dừng phân biệt, thức tịch diệt; thức tịch diệt, thức chuyển thành trí.
Tóm lại: Sắc uẩn thuộc về thân; (thọ, tưởng, hành, thức) uẩn thuộc về tâm, “tâm đứng đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác” (Trước đây thường hiểu: Hữu tình có Thân & Tâm; Rõ hơn (Tâm ≈ Tâm, Ý, Ý thức) nên viết rõ là “Tam giới duy tâm; Vạn pháp duy thức”); Tâm thanh tịnh tạm gọi là ngũ uẩn giai không. “Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách”.
Đặc tính của văn hóa vô lậu
- Ứng xử của cộng đồng văn hóa vô lậu là “Không bốn tướng”(nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả). Vì không bốn tướng, đặc biệt là không còn tướng ngã, (nên chẳng còn ngã sở), do tướng ngã tịch diệt mà các tướng còn lại tướng nhân, chúng sanh, thọ giả cũng không.
- Ngữ ngôn của cộng đồng văn hóa vô lậu là “Không tứ cú” (Đồng, Dị; Có, Không; Chẳng phải có, Chẳng phải không và Thường, Vô Thường). Tứ cú là ngữ ngôn của ba cõi, là ngữ ngôn của kẻ phân biệt, nhị nguyên. Kẹt vào tứ cú là kẹt vào luân hồi ba cõi. Muốn giải thoát, dạy người giác ngộ giải thoát, ngữ ngôn phải lìa tứ cú.
- Đời sống của cộng đồng văn hóa vô lậu là “Không bốn bệnh”(tác, nhậm, chỉ, diệt). Không còn bốn bệnh nên đạo tràng tự thanh tịnh. Cần phải nói rõ rằng, người tu hành không biết, không thấy đích cần đến, là tu mù, chẳng bao giờ đến được. “Niết bàn”, nhưng nếu biết rõ “Niết bàn” mà không nắm rõ phương pháp tu tập, còn khởi tâm, cố gắng, làm cái gì đó để đến, phạm vào “Bốn bệnh” thì chẳng bao giờ thành tựu. Người tu lúc này dùng “không hộ trì” để mà hộ trì; dùng “không tu tập” để mà tu tập mới xa lìa được bốn bệnh, mới tới được Vô thượng Bồ Đề.
- Quan niệm của cộng đồng văn hóa vô lậu là “Không ba thời”(quá khứ, hiện tại, vị lai). Vì không ba thời nên chẳng có khái niệm phân biệt thường hay vô thường.
- Giá trị chuẩn mực (hay thước đo) của cộng đồng văn hóa vô lậu là “Thanh tịnh tâm” những gì trái với thanh tịnh tâm được loại bỏ hoàn toàn. Tâm thanh tịnh là tâm của giải thoát, mọi hoạt động với tâm thanh tịnh sẽ gặt hái thành quả là công đức, là nhân quả của giải thoát (với tâm không thanh tịnh, mọi cố gắng thiện nhất cũng chỉ đưa đến phước đức, là sản phẩm trói buộc của ba cõi).
- Tồn tại của cộng đồng văn hóa vô lậu là “Tứ vô lượng tâm” (từ, bi, hỷ, xả). Để có tứ vô lượng tâm người tu cần thành tựu 10 ba la mật. Sáu ba la mật đầu (Bố-thí; Trì-giới; Kham nhẫn; Tinh-tấn; Thiền-định; Trí-huệ) dùng tự độ mình. Bốn ba la mật sau (Nguyện Ba-la mật; Phương tiện Ba-la mật; Lực Ba-la mật; Trí Ba-la mật) dùng để độ người.
Vì có nguyện Ba la mật nên Bồ tát mới xuất hiện ở cõi này để độ cho chúng sanh. Những người đang sống trong cộng đồng văn hóa vô lậu là những Bồ tát đang thực hiện lời nguyện của mình.
Tập Làm Kiểm Định Viên
Để biết rằng, trong hiện tại một người tu hành hay bản thân chúng ta còn mê hay không, nhất thiết cần phải có một công cụ định lượng, một bàn cân chuẩn để đối chứng, một thước đo chính xác để đo lường tâm thức... Tâm và thức chính là hai đối tượng chủ yếu được người tu hành đem ra đo lường, thẩm định trong quá trình tu tập.

Các bạn! ... Mấy hôm nay, chủ đề được HĐ chúng ta trao đổi thường xuyên, đó là: "Làm thế nào để biết (hay những dấu hiệu nhận biết) người tu hành (kể cả chúng ta) còn mê hay không"!
●● “KIỂM ĐỊNH VIÊN” TRONG TU TẬP TỰ THÂN
Phật đạo là Đạo Giác Ngộ. Giác Ngộ là “thấu suốt và nhận thức đúng bản chất của các pháp” ... là tiêu chí đầu tiên, mà xuyên suốt đời người tu hành Phật đạo phải hướng đến. Đây là cơ sở quan trọng giúp người tu hành thành tựu các đạo quả từ thấp lên cao trong cuộc đời tu hành. Dứt mê, thoát khỏi vô minh hay Giác ngộ, tuy nhiều tên gọi khác nhau, nhưng đồng chỉ chung một việc, đó là thoát khỏi ảnh hưởng làm mê muội, che mờ và cột trói tâm thức từ một sự vật, sự việc, nhận thức, quan niệm hay một đối tượng bất kỳ...
Chúng sanh (đạo), phàm (đạo), thánh (đạo), Bồ Tát (đạo), Phật (đạo), v.v... chỉ khác nhau ở trí tuệ. Có nghĩa tuỳ mức độ mê muội, tuỳ vào sự không che khuất, tuỳ vào sự sáng suốt, tuỳ vào tầng bậc Giác ngộ mà Phật đạo tạm phân chia thành các thứ đạo nói trên. Nói khác hơn, Phật đạo đích thực chính là con đường, là loại hình giáo dục, là ngọn đuốc lớn đủ sức soi sáng, đưa chúng sanh từ vô minh tăm tối tiến dần về "chân lý tuyệt đối" bằng chính ánh sáng Giáo Pháp chiếu vào tâm thức này...
Trên con đường tiến về chân lý tuyệt đối, người tu hành phải từng bước ra khỏi mê muội, giống như một người từ trong bóng tối, bước đến vùng lờ mờ và bước hẳn vào vùng sáng. Vì thế, để đoạn hẳn vô minh tăm tối, Phật đạo tạm chia con đường tu tập thành ba giai đoạn sau:
− Thoát khỏi nhuận chi vô minh: Tức ra khỏi sự che đậy, lung lạc của thấy nghe khi năm căn thân xúc đối năm trần cảnh (tạm gọi là Giới).
− Thoát khỏi căn bản vô minh: Tức ra khỏi sự mê mờ của nghĩ suy hay đề cao giá trị từ các quan niệm phi chân lý (pháp) của ý thức (tạm gọi là Định).
− Thoát khỏi vô minh trụ địa: Tức siêu việt lên trên mọi nhận thức cột buộc tầm thường của cái ngã hư dối, để thấy rằng: Thiệt tướng (vô tướng) của vạn pháp chính là chân lý tuyệt đối mà người tu hành phải hướng đến (Tạm gọi là Tuệ).
Để biết rằng, trong hiện tại một người tu hành hay bản thân chúng ta còn mê hay không, nhất thiết cần phải có một công cụ định lượng, một bàn cân chuẩn để đối chứng, một thước đo chính xác để đo lường tâm thức...
Các công cụ nói trên, chính bản thân người tu hành chứ không ai khác. Lấy đây làm mực thước, làm phương tiện để đo lường mức độ thoát khỏi mê muội của chính mình. Tâm và thức chính là hai đối tượng chủ yếu được người tu hành đem ra đo lường, thẩm định trong quá trình tu tập. Người xưa, đã đúc kết ứng dụng đặc biệt hiệu quả này qua câu nói hàm chứa đầy đủ tính triết lý, đó là:
"Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức"...
Có nghĩa, ba cõi mê xuất phát từ tâm này bị mê. Các quan niệm hư dối cột trói đời người chỉ vì nhận thức (thức) u tối!
Tóm lại, tâm và thức chính là hệ quy chiếu cơ học (có thể thay đổi), cho phép người tu hành lấy đây làm thước đo nhằm thay đổi (tâm, thức) từ mê muội đến sáng suốt trong một chuẩn thời gian nhất định. Nó (tâm, thức) không phải là thứ trục toạ độ bất động đối với thời gian và không gian! Biến thiên của tâm thức từ mê muội đến sáng suốt, từ phi lý đến chân lý chính là linh hồn của hai chữ tinh tấn trong Phật đạo. Trong chừng mực nào đó, mê muội (hay mê) thường biểu hiện dưới hai hình thức. Đó là "mê thô trọng"và "mê vi tế".
− Mê thô trọng: Mê thô trọng là khái niệm nhằm chỉ cho người (tu hành), tâm và thức bị che khuất, bị mê mờ, hay chấp chặt một điều gì đó (có thể là thiện, có thể là bất thiện, có thể là ác pháp), mà tự thân không thể thoát ra khỏi ảnh hưởng của nó. Bị nó ám ảnh khiến cho tâm trí mờ tối. Giống như người bị miếng vải đen che kín hai con mắt. Hệ quả của sự che mờ này là, thường hay sinh khởi phiền não, lo lắng, cố chấp, không chấp nhận thay đổi tự thân!
− Mê vi tế: Mê vi tế là khái niệm để chỉ người tu hành tuy không còn mê thô trọng, nhưng những chấp nhất hay cột trói vô hình nào đó vẫn còn lẫn khuất đâu đó trong sinh hoạt. Giống như người đã gở bỏ tấm vải đen bịt kín hai con mắt, nhưng lại đeo lên cặp kiếng màu và nhìn thấy tất cả dưới lăng kính ấy!
Biểu hiện của mê vi tế là, trong sinh hoạt, giao tiếp hay nói chuyện, bằng cách này hay cách khác người còn mê thường đưa sự mê làm tiền đề, lặp đi lặp lại sự việc hay đối tượng đã mê một cách vô thức hoặc có chủ ý. Hậu quả của nó là, tự đóng khung tâm thức dưới hình thức ngã chấp hay pháp chấp (Phật đạo gọi là ngã chấp, pháp chấp vi tế).
Các bạn! ... Hai thứ mê nói trên, là cản ngại đầu tiên trên bước đường tu tập. Vượt qua hai thứ mê này, là bước qua nấc thang thứ nhất để vị lai có thể bước qua những nấc thang kế tiếp trên con đường tìm về chân lý tuyệt đối!
Rất mong, tất cả HĐ chúng ta hãy làm "kiểm định viên", tự kiểm định tâm thức của mình!
●● KIỂM ĐỊNH VIÊN... SỐNG CÙNG... 37 PHẨM
Các bạn! ... Buổi trao đổi hồi tối, mình đã triển khai những gì được coi là cơ bản nhất của 37 phẩm. Đây là đề tài không mới, nhưng khó có thể lãnh hội toàn bộ tinh yếu của nó. 37 phẩm được coi là “linh hồn của Phật đạo”. Nó vừa là quy trình tu học gồm những đơn vị học tập xuyên suốt từ thấp lên cao. Nó còn vừa là công cụ để tự đánh giá bản thân, nhằm tìm xem mình đã thành tựu đến đâu trong quá trình tu tập.
Trong mỗi đơn vị học tập của 37 phẩm, được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và năng lực ứng dụng vào đời sống một cách hoàn chỉnh, nhằm giúp cho người học đi đúng con đường mà Thế Tôn đã vạch ra. Nếu ta không áp dụng nhuần nhuyễn ba yếu tố này, 37 phẩm trở thành một mớ những lý thuyết suông, không có giá trị thực tiễn!
Như đã nói ở trên, 37 phẩm ngoài là quy trình tu học từ thấp đến cao. Nó còn hiện diện trong từng mỗi quả vị. Ví dụ như khái niệm thiện ác của Tứ Chánh Cần hay Chánh Kiến trong mỗi quả vị. Thậm chí, khái niệm Tứ Niệm Xứ cũng thay đổi không ngừng trong các cung bậc tu học!
Nói như thế, để chúng ta thấy vai trò quan trọng của 37 phẩm cũng như sức hoạt dụng của nó trong Đạo Pháp là như thế nào!
Dạo này, cặp mắt mình không được khoẻ, nên không thường xuyên email, mong các bạn thông cảm. Hy vọng năm mới, con mắt sẽ “tốt hơn theo độ già của tuổi tác”....
Chúc mọi người sẽ có những thành tựu vượt bậc trong năm 2018!
"Ăn Chay" Hay "Ăn Mặn"

Vừa rồi, có một vị HĐ[1] điện thoại cho mình và hỏi:
‒ Thầy ơi! Bây giờ con nên ăn chay hay mặn???
⁕ Mình trả lời: Từ ngày gặp mình đến giờ, bạn thấy bản thân có chút thay đổi chút nào không???
‒ Thầy ơi! Con thay đổi rất nhiều, gần như trở thành một con người khác...!!! Gia đình và bạn bè đều nhận ra cũng như rất ngạc nhiên trước thay đổi của con!!! Vợ con là người nhận ra điều này đầu tiên, và cô ấy dạo này thường hay khen con (một điều hiếm gặp trước đây)!!! Con của con cũng có nhận xét: “Ba lúc này hiền, vui vẻ... không giống lúc trước”!!!
⁕ Thế thì, bạn thấy bản thân của mình thay đổi những gì???
‒ Thầy ơi! Từ lúc gặp Thầy đến giờ, trong lòng con lúc nào cũng an vui, hỉ lạc tràn đầy! Lòng thương người trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết! Những thứ tâm như: Tham lam, sân hận, si mê bỗng dưng tự biến mất...!!! Đặc biệt là, các thú vui ngày trước, hiện nay không còn hấp dẫn đối với con...!!! Làm việc cả ngày không biết mệt mỏi! Những lúc rảnh rỗi, chỉ thích đọc sách của Thầy!!!
⁕ Mình lại hỏi bạn ấy: Thế thì những thay đổi của bạn, do bạn ăn chay hay ăn mặn mà có được???
‒ Bạn ấy ngập ngừng một hồi, rồi trả lời: Thay đổi của con, đâu phải do ăn chay hay ăn mặn làm thành! Mà nhờ, con thường nghe Thầy giảng giải, tâm trí thông suốt, nên tự dưng nó thay đổi như vậy!!!
⁕ Mình cười lớn và nói với bạn ấy: Thế thì bạn đã tự trả lời cho chính bạn rằng, bản thân nên ăn chay hay ăn mặn rồi, đâu cần hỏi mình nữa!!! Và có lẽ giờ này bạn cũng tự nhận ra: “Thành tựu đạo pháp, không do bởi ăn chay hay ăn mặn rồi chứ”!!! Bạn có hiểu mình nói gì không???
‒ Thưa Thầy! Con hiểu!!! Con hiểu thế nào là một người, khi thành tựu Tu Đà Hoàn quả, trong lòng tự dứt ba kiết sử, đó là: “Thân kiến, giới cấm thủ và nghi”!!! Thưa Thầy! Trong HĐ chúng ta, mọi người ăn chay hay mặn???
⁕ Ha ha ha ha!!! Trong HĐ chúng ta có đến 95% là người ăn chay!!! Mình không yêu cầu mọi người ăn chay, nhưng phần lớn sau khi hiểu ra vấn đề, mọi người tự nguyện ăn chay!!!
Đối với bạn cũng như thế! Chay hay mặn tuỳ bạn!!! Đến khi nào trong lòng thấy thương tất cả chúng sanh, coi chúng nó như quyến thuộc, không đành lòng ăn thịt chúng nó thì, lúc đó ăn chay cũng không muộn!!!
‒ Cảm ơn Thầy! Hôm nay Thầy đã cho con bài pháp về “sự khác biệt giữa từ bi tâm và giới cấm thủ kiến”!!!
⁕ … Mình tạm biệt để đi tập thể dục đây!!! (01- 07- 2019)
[[1]] HĐ: Huynh Đệ
Thiền Và Ngũ Triền Cái
Ngũ triền cái là năm điều níu kéo người tu thiền ‘không vào được thiền’ gồm: Hôn trầm, thụy miên, trạo cử, hối quá, và nghi ngờ. Ngũ triền cái làm ‘yếu ớt tâm giải thoát’ gồm năm món: Dục tham, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối, và nghi ngờ.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ
Phật giáo giảng dạy rất nhiều điều để chúng sanh giác ngộ, nói rất nhiều mối nguy hại để chúng sanh từ bỏ. Tất nhiên mọi mối nguy hại sở dĩ từ bỏ được là do giác ngộ được ‘vị ngọt và mối hiểm họa’ khi không chịu từ bỏ nó. Giác ngộ được điều gì người ta suy gẫm, quán sát, tỉnh giác, chánh niệm, trú tâm, mượn sức huân lắng của giác ngộ hướng tâm đến cứu cánh, từ hướng tâm đến thấy cứu cánh gọi là tu hành.
Trong quá trình thực hiện những phần việc này, một ngăn trở rất lớn làm người tu hành không thể thực hiện được ý nguyện đó là ngũ triền cái.
Ngũ triền cái là năm điều níu kéo người tu thiền ‘không vào được thiền’ gồm: Hôn trầm, thụy miên, trạo cử, hối quá, và nghi ngờ.
Ngũ triền cái làm ‘yếu ớt tâm giải thoát’ gồm năm món: Dục tham, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo hối, và nghi ngờ.
“Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ Kheo, đưa đến hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại, này các Tỳ Kheo, như không hân hoan, biếng nhác, chán nản, ăn quá no, tâm thụ động. Với người có tâm thụ động, này các Tỳ Kheo, hôn trầm thụy miên chưa sanh được sanh khởi, hay hôn trầm thụy miên đã sanh được tăng trưởng quảng đại.”[[1]]
Ngũ triền cái chỉ xuất hiện khi bắt đầu trú tâm. Bình thường ngũ triền cái vắng mặt, nhưng khi chuẩn bị vào thiền thì năm món này xuất hiện. Không phải chúng xuất hiện đầy đủ năm món một lần mà mỗi lần chỉ một món, khi hôn trầm, khi trạo cử, v.v… (nếu có xuất hiện hai món hay nhiều hơn, tâm hành giả cũng chỉ cảm nhận triền cái nào mạnh nhất).
Do chúng xuất hiện vào thời điểm quan trọng nhất của người tu thiền, nên ngũ triền cái không thể lấy hiểu biết bình thường để loại trừ; mọi thứ trí tuệ thế gian hầu như vô dụng với nó. Ngài A Na Luật bị hành hạ đến phải chịu đui mù, mới biết với người tu thiền, ngũ triền cái là trở ngại lớn trong việc tu hành.
Phật dạy: “Vô minh là cái gì chúng sanh không thể biết được, nhưng ngũ triền cái xuất hiện thì biết có vô minh vì ngũ triền cái là thức ăn của vô minh.”
Theo lời dạy này thì ngũ triền cái là tướng của vô minh, biết có vô minh thông qua sự xuất hiện của ngũ triền cái. Nhưng vì sao vô minh lại xuất hiện vào thời khắc quan trọng này? Để biết được điều này, cần phải biết thời khắc này là thời khắc gì mà vô minh đưa ngũ triền cái ra ngăn trở như vậy.
Phật dạy: “Sơ thiền phải gồm đủ hai điều: Một là xa lìa, hai là cụ túc. Xa lìa là xa lìa ngũ triền cái, cụ túc là đầy đủ năm chi.” Lời dạy này nói lên tầm mức quan trọng của ngũ triền cái đối với thiền đầu tiên. Luận Đại Trí Độ nói về ngũ triền cái như sau:
“Bỏ được năm cái (ngăn che) ấy, như mắc nợ được thoát, bệnh nặng được lành, ở chỗ đói khát đến nước giàu, như từ địa ngục được ra, như trong chỗ giặc ác được tự thoát, an ổn không hoạn nạn. Hành giả cũng như vậy, trừ bỏ năm cái thì tâm được an ổn, thanh tịnh khoái lạc. Ví như mặt trời, mặt trăng bị năm thứ che mờ là khói, mây, bụi, mù, tay La Hầu A Tu La che, thời không thể soi sáng. Tâm người cũng vậy, bị năm cái che ngăn tự mình không lợi cũng không thể ích người.”[[2]]
Khi một chúng sinh xuất hiện ở đời thì đồng nghĩa với vô minh xuất hiện, vì không có vô minh thì không có chúng sanh: “Vô minh duyên hành, hành duyên thức.” Vô minh hiện hữu ở khắp mọi nơi, chi phối mọi hoạt động của mỗi chúng sanh.
Tướng của vô minh chính là nghiệp quả, mỗi loài một nghiệp khác nhau, và vô minh sai khiến loài nào hành xử như nghiệp loài đó, con trâu ăn cỏ, con cọp ăn thịt, con người sáu căn chạy theo sáu trần.
Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) luân chuyển trong vô minh mà không tự biết, bởi lẽ vô minh dạy con người phải làm như vậy mới là con người, con trâu phải làm như vậy mới là con trâu. Nói khác đi chúng sanh hoạt động theo cơ chế vô minh, hay chúng sinh với vô minh là một thể thống nhất.
Phật giáo ra đời chỉ cho chúng sanh biết hiện tại đang vô minh. Do hiện tại vô minh, nên lầm thấy có ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai), vì có ba thời nên có quả khổ. Tên khác của vô minh là mê lầm (vô minh là thể, mê lầm là dụng).
Phật giáo chủ trương hết mê lầm hết khổ. Muốn hết mê lầm phải tự giác ngộ, giác ngộ thấy rõ cứu cánh ba thời chẳng thể được (tam tâm bất khả đắc).
Ba thời chẳng được, quả khổ không còn, quả khổ không còn tạm gọi giải thoát, muốn thật giải thoát phải thật giác ngộ, muốn thật giác ngộ phải dứt vô minh. Nhưng vô minh là cái gì hình tướng nó ra sao thì một chúng sinh không thể tự biết.
Tuy không biết hình tướng đích thực của vô minh nhưng Phật đã chỉ ra ngũ triền cái là thức ăn của vô minh. Phàm ở đời cái gì không có món ăn nuôi lớn thì tự diệt, chính cơ chế này mà người tu thiền giết chết vô minh ban sơ bằng cách vượt qua ngũ triền cái, thân tâm không còn ngũ triền cái xuất hiện biết rằng vô minh đã yếu ớt. Tâm không yếu ớt, mới đủ sáng suốt hướng đến cứu cánh đã giác.
Chuyển biến này tạo ra ‘hiệu ứng thân tâm’ gọi là thiền. Như vậy, tu hành là ngược dòng từ vô minh đến chơn giác: “Tuỳ chiếu thất tông, nghịch dòng được chỉ.” (Thanh Văn, Duyên Giác dứt nhuận chi vô minh nhưng chưa hết lầm nên phải đợi giác ngộ chơn đế).
Đây là hình thức tỉa cành trước khi đốn ngã cây đại thụ vô minh. Nếu một lúc chưa thể dùng sức giác ngộ thầm hội cứu cánh, thì phải phá dẹp dần dần. Ví như người tìm lõi cây, trước mé cành nhánh, đến lột vỏ ngoài, kế đến vỏ trong, rồi tới giác cây, cuối cùng tìm thấy lõi cây.
Chúng sanh đời sống thường nhật ba nghiệp tuân thủ theo cơ chế vô minh; lấy vô minh làm thể và y đây tạo tác, như ăn no không thấy đói, đang nóng không thấy lạnh, đói no nóng lạnh đều từ vô minh biến hiện. Vì chúng sanh với vô minh nhất thể nên chúng sanh không tự thấy vô minh, như con mắt không tự thấy chính nó. Giác ngộ tu hành là chuyển biến nguồn tâm từ mê đến giác, từ phàm lên thánh, từ vô minh sâu dày thành mỏng nhẹ, dần đến hết vô minh. Tức ngược lại những gì hành nghiệp đang chuyển, làm trái hiện nghiệp tức làm cho vô minh thành giác.
Thì cũng vậy, trước khi thấy được cứu cánh, vượt qua ngũ triền cái để vào các thứ thiền định là công đoạn bắt buộc người tu thiền phải dõng mãnh vượt qua. Vượt qua ngũ triền cái chính là bước đầu vượt qua chính bản chất chúng sinh, đến chiến thắng vô minh. Trường hợp này ngũ triền cái xuất hiện là bất thiện pháp. Nếu chiều theo nó không gắng sức vượt qua và thuận theo năm món này chính là ác pháp. Ác pháp bởi vì nuôi lớn vô minh và không thuận con đường giác ngộ.
Giây phút người tu thiền chuẩn bị nhiếp tâm dừng hiện nghiệp, sáu căn sắp sửa rời bỏ vô minh hiện tiền để thể nhập giác trí, thì ngay chỗ thể nhập giác trí đầu tiên là thấy được tướng trạng vô minh.
Tướng trạng vô minh đầu tiên giác trí thấy được đó là tướng ngũ triền cái. Nên ngũ triền cái chỉ xuất hiện khi thân tâm có khuynh hướng bất động. Hằng ngày thân tâm vọng động, tòng theo vô minh tạo tác. Vô minh được ăn no thức ăn ngủ nghỉ phóng dật nên vô minh không còn đòi hỏi. Đợi đến khi thân tâm sắp vào tĩnh lặng, nghiệp không hiện hành các căn tạm yên, thì vô minh hiện ra đòi sự sống.
Nên có thể nói với người tu thiền khi ngũ triền cái xuất hiện thì biết thân tâm có khuynh hướng vắng lặng, giống như mảnh vải càng trắng thì đốm đen dễ nhận. Nhưng vì thể của ngũ triền cái là vô minh nên giữa giác trí và vô minh xảy ra tranh chấp. Giống như lực đẩy và lực hấp dẫn, lực nào lớn hơn sẽ thắng, nếu vô minh (ngũ triền cái) thắng thì giác trí là vô minh, nếu giác trí lấn át thì ngũ triền cái trở thành hỷ lạc.
Từ cơ chế này các thiền chi khởi lên, sự xuất hiện của thiền chi cho phép hành giả biết rằng thân tâm đã thuận theo nguồn giác. Thuận theo nguồn giác nên thiền mới sanh. Khi tâm có thiền thì ngũ triền cái vắng mặt. Tất cả mọi giác ngộ trong Phật giáo đều có khuynh hướng đưa thân tâm đến vắng lặng bất động. Nên dù giác ngộ ở thừa nào, cứu cánh ra sao đều có vị của thiền (Tứ Thiền), chỉ hành giả nhận biết hay không nhận biết. Ngũ triền cái hiện diện và ngăn trở là điều khó tránh khỏi (nhiều hay ít còn tùy tốc lực tâm và túc duyên).
Do vì ngũ triền cái là trở ngại lớn như vậy với người tu thiền, nên vượt qua trở ngại này là bước khởi đầu vào thắng trí.
Như đã nói, vô minh tồn tại dưới dạng nghiệp quả, hoạt động theo cơ chế của nghiệp cho nên muốn không bị vô minh sai khiến, vào thiền không bị ngũ triền cái làm ngại, cách tốt nhất là làm ngược lại những gì vô minh mong muốn.
Vô minh khiến tham thì không tham, vô minh bảo sân thì không sân, vô minh kêu gọi ăn ngủ nhiều được lạc thọ thì làm ngược lại là: Chỉ ăn đúng như pháp, ngủ đúng như pháp.
Phật dạy: “Ăn ngày một bữa, ít bịnh ít não, thân thể khinh an dễ đắc thiền định. Hay đầu hôm, giữa khuya, gần sáng phải thường tự tĩnh giác.”
Nói chung muốn ngăn chặn ngũ triền cái thì người tu phải hướng tâm đến cứu cánh mãnh liệt. Hướng tâm đến cứu cánh mãnh liệt là nguồn sức mạnh đẩy lùi lực hấp dẫn của ngũ triền cái.
Hướng tâm đến cứu cánh mãnh liệt thì tịnh hạnh xuất hiện, bởi cứu cánh Phật giáo và tịnh hạnh không phải hai pháp. Tịnh hạnh là đời sống bậc thánh của Phật giáo. Tịnh hạnh là làm ngược lại những gì nghiệp quả sắp bày. Tịnh hạnh là “nạo sạch chánh tính, làm trái hiện nghiệp.”
Hiện nghiệp chẳng thuận phàm tình thì vô minh dần dần bị chuyển hóa, trong đó ngũ triền cái cũng chuyển hóa theo. Ngũ triền cái là năm bệnh về thân và tâm chúng sanh, đưa thân tâm này vào tịnh hạnh là tập sống đời sống bậc thánh. Vô minh chỉ tồn tại trong đời sống chúng sanh, giác ngộ triệt để thì “vô vô minh tận, vô vô minh diệt.”
“Năm lên bảy tuổi, nhân theo vua cha dự lễ thượng điền ngoài thành. Khi dự lễ, vua cha, cung nữ, thần dân đều vui say ca múa mừng lễ hội, duy thái tử ngồi dưới bóng cây trầm ngâm, thời khắc đó thái tử nhập sơ thiền.”
Vì sao thái tử nhập sơ thiền mà không bị ngũ triền cái làm trở ngại? Bấy giờ thái tử chưa biết giác ngộ đạo giáo là gì nhưng tại sao lại được thiền?
Chính thái độ chán ngán đời sống hiện tại nên thái tử trầm tư, trầm tư mãnh liệt với tâm chán ngán mãnh liệt, từ bỏ hết mọi lạc thú trên đời, đó là một hình thức khác của hướng tâm đến cứu cánh dứt khổ. Chính sự mãnh liệt này thái tử vào thiền mà không bị ngũ triền cái cản trở. Nếu không như vậy thì ngồi dưới bóng mát thế nào cũng ngủ.
Cơ chế từ ngũ triền cái chuyển thành hỷ lạc, cho thấy ngũ triền cái vừa là kẻ thù vừa là bằng hữu của người tu thiền.
Bằng hữu là vì có vắng lặng mới có ngũ triền cái, chiến thắng kẻ thù ngũ triền cái sẽ được hỷ lạc.
Hỷ lạc là dấu ấn ban đầu của nguồn tâm từ mê thành giác. Giác đến bao giờ không còn nhìn thấy ‘ngũ triền cái’ khác ‘hỷ lạc’, ‘sợi dây’ khác ‘con rắn’ thì vô minh đích thị trí tuệ, con rắn đích thị sợi dây, ra khỏi dựng lập phỉ báng. Vô minh hay ngũ triền cái chỉ có tên gọi mà không có thực thể (phàm nói trâu, thánh cũng nói trâu).
Như vậy thực thể vô minh là gì? Thật có vô minh chăng? Giống như bóng tối và ánh sáng, nếu bóng tối là ‘có thực’ thì chẳng thể nào làm cho sáng được.
Vì bởi không sáng nên gọi là tối chứ chẳng thể có một thứ bóng tối vĩnh hằng. Nếu biết làm cho sáng thì bóng tối kia tức thị ánh sáng, tối và sáng chẳng phải hai.
Vì vậy, chẳng phải không vô minh, cũng chẳng phải có vô minh, vô minh đã vậy thì ngũ triền cái như thế nào đây? Tất cả chỉ là giả danh, vì giả danh nên ngũ triền cái dứt thì hỷ lạc liền sanh.
Sự sanh này chứng minh ngũ triền cái và hỷ lạc không phải hai món, sở dĩ thấy có hai là vì dị biệt giữa mê và giác trong một chúng sanh. Kinh Kim Cang Phật dạy: “Chúng sanh chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi chúng sanh thị danh chúng sanh.”
Đoạn kinh sau nói rõ về ngũ triền cái và tác hại của nó:
“Như vậy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ Kheo:
Này các Tỷ Kheo.
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các vị Tỷ Kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Có năm chướng ngại triền cái này, này các Tỷ Kheo, bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ. Thế nào là năm?
Dục tham, này các Tỷ Kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Sân, này các Tỷ Kheo, là chướng ngại triền cái bao phủ tâm làm yếu ớt trí tuệ.
Hôn trầm thụy miên, này các Tỷ Kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Trạo hối, này các Tỷ Kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Nghi, này các Tỷ Kheo, là chướng ngại, triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Những pháp này, này các Tỷ Kheo, là năm chướng ngại triền cái bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ.
Này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, không có sức mạnh, và trí tuệ yếu kém, sẽ biết lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, hay sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Ví như, này các Tỷ Kheo, một con sông chảy, từ núi xuống, chảy thật xa, dòng chảy nhanh cuốn trôi mọi vật. Rồi có người lấy cày mở hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỷ Kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa bị trở ngại, tràn rộng, bị chuyển hướng, không còn chảy ra xa, không còn chảy nhanh, không cuốn trôi mọi vật.
Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, không có sức mạnh và trí tuệ yếu kém, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Này các Tỷ Kheo, vị Tỷ Kheo ấy, sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh và có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay sẽ biết được lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.
Ví như, này các Tỷ Kheo, một con sông chảy từ núi xuống, chảy thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Có người chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỷ Kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa không bị trở ngại, không có chảy tràn, không bị chuyển hướng, chảy được thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật.
Cũng vậy, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh, có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết được lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.”[[3]]
Ngũ triền cái của đoạn kinh này hướng đến giác ngộ giải thoát nhiều hơn là hướng đến các thiền thú. Nên ngũ triền cái ở đây gồm:
Dục tham, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, và nghi ngờ.
Khác với năm triền cái tiến đến thiền thú là: Hôn trầm, thụy miên, trạo cử, hối quá, và nghi ngờ.
[[1]] Trích kinh Trung Bộ - HT. Thích Minh Châu dịch.
[[2]] Trích Đại Trí Độ Luận - Long Thọ Bồ Tát.
[[3]] Trích kinh Tăng Chi Bộ - HT. Thích Minh Châu dịch.
(còn nữa)
Thấu Suốt Và Thể Nhập Văn Hóa Vô Lậu
Văn Hóa Vô Lậu là “Một hình thái văn hóa” chỉ có trong Phật đạo, đó là đời sống của những người có Giác có Ngộ. Liên quan đến đề tài này, để khởi động cho việc tu học của năm mới 2018, mình có vài thắc mắc, rất mong được HĐ giải đáp.

Các bạn!... Văn Hóa Vô Lậu là “Một hình thái văn hóa” chỉ có trong Phật đạo, đó là đời sống của những người có Giác có Ngộ. Liên quan đến đề tài này, để khởi động cho việc tu học của năm mới 2018, mình có vài thắc mắc, rất mong được HĐ giải đáp:
CÂU HỎI TCTT 2018/01 − Văn Hóa Vô Lậu
Muốn thành tựu văn hoá vô lậu, người tu hành phải trừ sạch bốn tướng, trị dứt bốn bệnh và không kẹt bốn câu (tứ cú). Xin hỏi:
1) Trừ sạch bốn tướng, trị dứt bốn bệnh, không kẹt bốn câu, mỗi thứ như vậy sẽ tịch diệt sau khi thành tựu (từng) đế nào trong “bốn Đế”? (Ví dụ: Hết bốn bệnh tương ưng với thành tựu đạo đế, hết bốn tướng tương ưng với thành tựu tập đế, v.v... Chú ý: Đây chỉ là ví dụ để tham khảo, chưa phải câu trả lời chính xác)
2) Bạn hãy giải thích: Vì sao, thành tựu đế này sẽ trừ sạch bốn món kia? (Ví dụ: Thành tựu tập đế sẽ trị dứt bốn tướng vì các lý do sau: Chú ý: Ví dụ này cũng chỉ dùng để hướng dẫn cách trả lời, chưa phải câu trả lời đúng nhất). Rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ các HĐ! (02-01-2018)
GỢI Ý … TCTT 2018/01 − “… VĂN HÓA VÔ LẬU”
Mình không biết hai câu hỏi vừa rồi có quá khó đối với các HĐ hay không? Nhìn vào số HĐ trả lời, chúng ta sẽ thấy một con số ấn tượng về tỷ lệ HĐ trả lời đúng thì đâu có thể gọi là khó được! Điều này minh chứng rằng, câu hỏi không nằm ngoài khả năng của các bạn. Với những gì các bạn thành tựu trong tu tập, cộng với những kiến thức đã được trang bị trong thời gian vừa qua. Nếu các bạn chịu khó “lặng lẽ quan sát”, chịu khó đối chiếu quá trình tu học, việc trả lời đúng chỉ là chuyện “lấy đồ trong túi”!
Phật đạo là đạo giác ngộ, là đạo giải thoát, là đạo trí tuệ. Có nghĩa rằng, Phật đạo siêu quá “Khái Niệm Tu Cùng Không Tu” của thế gian. Các quả vị của Phật đạo từ thấp đến cao, thậm chí Vô Thượng Bồ Đề cũng chỉ thành tựu với những ai giác ngộ. Nếu không giác ngộ, cho dù có bỏ một đời, hai đời, hoặc nhiều hơn thế nữa để dụng công tu hành, kẻ ấy muốn thành tựu một quả vị chính thống dù nhỏ nhất trong Phật đạo, cũng chỉ là chuyện không tưởng! Chính vì điều này, một người chỉ cần sơ ngộ như một Tu Đà Hoàn chẳng hạn, cho dù người đó có giải đãi, theo lời Phật dạy: “Trải qua bảy đời, người này cũng chứng La Hán”.
Lời dạy này minh định rằng, cơ sở để thành tựu các đạo quả chính thống của Phật đạo bắt nguồn từ giác ngộ chứ chẳng do dụng công (bốn bệnh nằm trong phạm trù dụng công) hay làm một điều nào khác. Vì thế, Đức Phật còn có danh xưng là đấng Đại Giác, Bậc Đại Trí. Chớ, chẳng ai gọi Thế Tôn của chúng ta là “Đấng... Đại... Tu”.... Đây cũng là lý do vì sao, khẩu hiệu “giác ngộ, giải thoát, trí tuệ” luôn là kim chỉ nam cho HĐ chúng ta!
Bốn bệnh (nhậm, tác, chỉ, diệt) gồm bốn quan niệm tu và không tu của thế gian. Mà, pháp thế gian chẳng cho ra quả xuất thế, pháp hữu lậu chẳng cho ra đạo quả vô lậu, pháp hữu vi (pháp làm ra, dụng công) chẳng thể đưa đến Niết Bàn vô vi (vô công dụng đạo, vô tác...). Chỉ những ai “Có Giác, Có Ngộ”. Nhờ sức giác, kiết sử tự huân lắng. Giống như “nhờ thế lực của Thuỷ Thanh Châu nước đục tự lắng thành trong” (lời kinh).
Trong quá trình thẩm sát, nhờ thế lực của giác làm cho phàm tâm tịch diệt, làm cho hư vọng tâm không hiện khởi, làm cho kiết sử tự tiêu hoại. Đến khi thành tựu viên mãn Tập đế (không còn phàm tâm, không còn hư vọng tâm, không còn kiết sử), vị ấy mới thật sự hiểu rằng “Dứt Tập sẽ trừ sạch Bốn Bệnh”. Bây giờ, vị ấy sẽ như thật xác chứng rằng, thành tựu tập đế chẳng phải do tu cùng không tu như người đời đã hiểu, vượt ra khỏi giới hạn của bốn bệnh (các đế kia cũng đều như vậy). Đây cũng là lý do vì sao, trong Tâm Pháp mình viết: “Tập đế lấy giác làm đế”, có nghĩa muốn dứt kiết sử, muốn dứt phàm tâm, muốn dứt hư vọng, “Giác là Cơ Sở Chính Yếu” để thành tựu đế này, ngoài cơ sở này, hoàn toàn không thể nương cậy vào pháp khác... Như vậy, “dứt Tập hết bốn bệnh” là câu trả lời đúng!
Bốn tướng (Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) là sản phẩm của sinh pháp. Cũng bởi tại quan niệm, nên mới thấy tôi khác anh (nhân ngã), đạo quả này tôi chứng còn anh thì chưa (chúng sanh thọ giả). Chứng diệt, các pháp không sanh (Vô Sanh Pháp), bốn tướng nếu có còn, chỉ là tướng... hư... không... ⁎ Trong trường hợp này là: “Chứng Diệt dứt bốn tướng”.
Nếu các bạn nào có đọc qua Tâm Pháp, sẽ thấy Lão Lý đã từng viết rằng: “Diệt đế lấy ngộ làm đế...” điều này có nghĩa khi “Ngộ Bổn Tâm” (chứng diệt đế) các tướng sẽ tự tịch diệt vì nơi bổn tâm (chơn tâm) một tướng còn không có, hà huống có đến ba bốn tướng! “Thiên cơ bất khả lậu”...
Tứ cú hay bốn câu gồm bốn cái ngu của ngôn thuyết, là những cái ngu khi cho rằng: Pháp là đồng (giống) hay dị (khác), pháp là có hay không (hữu hay vô), pháp là thường hay vô thường (tồn tại vĩnh viễn hay biến hoại), pháp là chẳng thường chẳng vô thường (cũng tan hoại cũng vĩnh viễn) thậm chí Như Lai là người hay ma, bậc thánh đi trên mặt đất hay bay trên mây, phàm phu giống cuộn chỉ kéo hoài sẽ tự hết, v.v... và v.v... Bát Nhã (trí tuệ đặc thù của Phật đạo) sẽ trả lời tất tần tật câu nào dở hơi, câu nào chánh lý! ... Câu trả lời đúng nhất trong hoàn cảnh này sẽ là: “Thành tựu Đạo đế, sẽ tịch diệt (giải quyết rốt ráo) hết bốn, năm, sáu, bảy, thậm chí vô lượng câu”. Như thế! ... Như thế! ... Cũng trong Tâm Pháp, Lão Lý từng nói như đinh đóng cột: “Đạo đế lấy Trí làm Đế! Tức là thành tựu Đạo đế sẽ cho ra Vô Đối Trí!
Tóm lại, khi thành tựu đủ “bốn Đế”, sẽ biết rõ “ba thứ bệnh kia” tương ưng với những đế nào... (05-01-2018)
Thành Tựu Vô Lậu Tâm Là Gì?
Thành Tựu Vô Lậu Tâm Là Gì?
Một vị thành tựu vô lậu tâm, “thiện tâm” còn phải xả, thì làm gì có ác tâm, hà huống bàn đến các thứ tâm hữu lậu như ganh ghét, tật đố, ngu si, nói dối, sát sanh, hại vật?... Đọc emails của các HĐ, LÝ TỨ này nhận ra: “Đúng Là Phật đạo... Quá Khó! Quá Khó! ...! Quá Khó! ...! ...!”

Các bạn! ... Một vị thành tựu vô lậu tâm, “thiện tâm” còn phải xả, thì làm gì có ác tâm, hà huống bàn đến các thứ tâm hữu lậu như ganh ghét, tật đố, ngu si, nói dối, sát sanh, hại vật? Ác hay thiện là quan niệm thuộc về hữu lậu, thuộc về thế gian pháp, đạo xuất thế không có hai thứ này. Đạo vô lậu xuất thế là: “Bất nhị tâm, là không tâm, là không pháp”. Vì thế Lục Tổ mới nói: “đừng nghĩ thiện, đừng nghĩ ác thì bổn lai tâm mới hiện”, lại còn nói “ghét yêu chớ quan tâm” hay nói: “tâm bình là đắc giới”.
Phật cũng dạy: “Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc...” có nghĩa rằng: Các pháp thế gian như thiện ác, đúng sai là quan niệm vô thường. Nó là pháp sanh diệt Khi nào trong lòng không còn hiện khởi các pháp này ngày đó đích thị Niết Bàn an vui! Kinh Tiểu Bộ, Phật cũng dạy: “Những ai còn tư niệm, tư lường, thầm ý... Đây là cảnh sở duyên cho thức (mê) an trú, thức an trú thức tăng trưởng (ngu si), thức tăng trưởng (ngu si) thức chọn lựa (cõi luân hồi hữu lậu)!!!”
Tu vô lậu giới (sáu giới vô lậu), là cách hữu hiệu làm sạch “thức mê”, chấm dứt: Sanh diệt, luân hồi, phiền não, v.v... từ ba cõi: Dục Lậu, hữu lậu và vô minh lậu!
− LÝ TỨ chưa từng nói “cư sĩ chỉ tu giới vô lậu”... Mà LÝ TỨ chỉ nói: “Người muốn thành tựu vô lậu tâm, phải tu vô lậu giới. Tăng hay tục, muốn được đạo xuất thế, phải tu giới này”.
Đúng như chư Phật dạy: “Người nào không hiểu ta, kẻ đó phỉ báng ta”.
− LÝ TỨ từng nhiều lần nói:
Thế gian: Đủ hai pháp thiện ác...
Thiên nhân đạo: Bỏ ác làm thiện...
Xuất thế gian đạo: Rời hai pháp thiện ác...
Đạo nhất thừa: Ra ngoài thiện ác...
Phật thừa: Phi thiện phi ác...”
− Than ôi! Lời này trên cõi thế hiện nay mấy ai lãnh hội? Vì rằng, người tu hành không chịu quay lại bổn tâm, trừ sạch phàm thức, chỉ biết chạy theo những quan niệm thế gian hư dối như thiện ác, ghét thương, đúng sai, phải quấy mà suy lường phân biệt thì làm gì có thể thành tựu đạo xuất thế chứ nói gì đến đạo vô thượng của chư Phật!
− Kinh Thập Thiện, Phật thuyết tại Long Cung cho loài súc sinh, cho kẻ thiếu trí, hạng này chẳng thể tu đạo xuất thế. Chứ đâu có thuyết cho người giác ngộ!
− Muốn hiểu được đạo xuất thế, rất cần “cái đầu”.
− Không có cái đầu, chỉ quanh quẩn suy lường theo cách “chấp nhất thế gian, của người không giác ngộ” chắc là đến chư Phật xuất thế cũng... phải... pó... tay...!
Đọc emails của các HĐ, LÝ TỨ này nhận ra: “Đúng Là Phật đạo... Quá Khó! Quá Khó! ...! Quá Khó! ...! ...!”
Tản Mạn Về Con Chó Và Sợi Dây
Cái gì đã làm con chó thích thú với căn nhà này, mặc dù lúc mới đưa về, nó kêu la thảm não, nằng nặc đòi thoát khỏi nơi đây? Khi đã thoát ra được rồi, cái gì đã khiến nó quay trở lại chốn cũ?

Các bạn! ...Những ngày qua, có một sự việc xảy ra, mình để tâm quan sát cặn kẽ, và rất lấy làm lạ về sự việc này. Xin kể lại cho các bạn nghe chơi....
Cách đây mấy bữa, hàng xóm của mình có đem về một con chó choai choai (không nhỏ cũng không lớn). Vị hàng xóm cột con chó vào góc nhà. Con chó kêu la suốt ngày. Tuy không biết tiếng chó, nhưng mình cũng đoán được, con chó muốn nói với mọi người rằng: “Tôi muốn được thoát ra khỏi nơi này!”.
Cho đến hôm qua, con chó hết kêu la, vị hàng xóm mở cái dây, con chó ngoan ngoãn đi lòng vòng trong nhà, sinh hoạt vui vẻ... Mình ngẫm nghĩ: “Quái lạ! Sợi dây đã được cởi bỏ, tại sao con chó không bỏ chạy đi nơi khác, ngoài kia là bầu trời tự do. Căn nhà này đâu phải quê hương, cũng đâu phải nơi chốn nó mong muốn dung thân? Cái gì đã làm con chó thích thú, bằng lòng ở lại nơi này?”
Chiều nay, trong lúc đi tập thể dục, mình gặp lại con chó đang ngồi chò hỏ trước cửa nhà hàng xóm. Mình tìm cách dụ con chó chạy theo một đoạn rất xa, cách nhà đến hơn vài cây số, mình để con chó ở một công viên. Để con chó ở đó, mình thầm nghĩ: “Con chó ở đây, và nó có quyền lựa chọn con đường nào đưa đến nơi nó thích, không còn bị ràng buộc nữa… Và mình thoải mái đi tập thể dục.”
Bất ngờ! Khi về đến nhà, con chó đã có mặt trong nhà vị hàng xóm không biết từ lúc nào. Mình suy nghĩ: “Cái gì đã làm con chó thích thú với căn nhà này, mặc dù lúc mới đưa về, nó kêu la thảm não, nằng nặc đòi thoát khỏi nơi đây? Khi đã thoát ra được rồi, cái gì đã khiến nó quay trở lại chốn cũ?”
Tối nay, trong lúc tâm sự với một HĐ, mình có kể lại câu chuyện này. Và mình đã đặt một số câu hỏi với vị HĐ đó:
Cái gì đã làm cho một hữu tình không thể rời bỏ ba cõi?
Mặc dù hữu tình đó đã được người trí dùng mọi cách dẫn dụ để nó thoát ra khỏi nơi đã cột trói, thậm chí dẫn đi rất xa, nhưng rồi loay hoay, thế nào hữu tình này cũng có mặt trong ba cõi?
Và ba cõi đích thực là cái gì?
Câu chuyện vừa kể, hy vọng có thể đem lại cho mọi người một chút suy nghĩ gì đó! (17-12-2016)