Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

http://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/nguoi-ban-moi-quen-tu-fanpage-ly-tu

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Người Bạn Mới Quen Từ "Fanpage Lý Tứ"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 08.02.2023

Cách đây hai hôm, mình có trao đổi bằng điện thoại với một người bạn chưa quen (chỉ thông qua vài tin nhắn trên FB)!!! 

Cuộc trao đổi khoảng một tiếng đồng hồ gồm nhiều đề tài, ở đây, mình xin sơ lược một vài nội dung của cuộc trao đổi ấy, coi như một chút mua vui cho mọi người đang xem trang!!! (vì chưa được phép, nên tên người bạn kia, mình tạm gọi là Anh “X”!!!

⁕ A lô!!! Có phải Anh “X” không??? Tôi là Lý Tứ đây!!!

− Chào Ngài!!! Tôi là “X”, rất hân hạnh được nghe điện thoại của Ngài!!!

⁕ Ha ha ha ha!!! Anh cứ xưng hô bình thường để buổi nói chuyện thân mật và gần gũi... Tôi chẳng phải là ngài hay bướm gì hết!!!

− Thế cho tôi gọi bằng Thầy vậy!!!

⁕ Ha ha ha ha!!! Tuỳ Anh!!! Xin lỗi, Anh năm nay bao nhiêu??? Biết tuổi của nhau dễ xưng hô hơn!!!

− Tôi, tuổi con ngựa!!!

⁕ Ồ! Tôi cũng con ngựa, Anh với tôi bằng tuổi!!! Cùng thế hệ, dễ thông cảm nhau hơn!!!

− Thầy là người xuất gia hay tại gia???

⁕ Tôi cũng là người tại gia như Anh!!! 

   ....

− Tôi trước học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, có học Đại Học Vạn Hạnh... Về tu hành, cũng có thời gian dài tu tập, nghiên cứu Phật Pháp... Vừa qua, vô tình đọc được bài của Thầy trên mạng, cách viết của Thầy đã mê hoặc tôi từ bài đầu tiên...!!! Làm thế nào để Thầy viết được những điều như thế???

⁕ Cảm ơn Anh!!! Có gì đâu, tôi chỉ kể chuyện trong nhà của mình, kể chuyện nhà của mình không khó!!! Chỉ khi nào kể chuyện nhà người mới có điều đúng, điều sai, thậm chí vắt óc suy nghĩ, hay thêm mắm dặm muối, màu mè chút đỉnh cho tăng phần hấp dẫn, nhưng khi đọc lên nghe cũng không thông!!!

− Tôi theo dõi trang của Thầy, nhận thấy HĐ Lý Gia phần lớn còn rất trẻ, làm các ngành nghề như mọi người trong xã hội, có người chưa từng gặp mặt Thầy... Nhưng, theo đánh giá của tôi, HĐ Lý Gia hiểu Phật Pháp rất sâu, bài bản!!! Làm thế nào để Thầy giúp họ được như vậy???

⁕ Họ đọc các bài viết của tôi, điều gì không hiểu, tôi cắt nghĩa, giải thích cho họ, nhờ thế các bạn ấy hiểu ra vấn đề nhanh chóng!!!

− Tôi chưa từng thấy ở đâu, các đệ tử thương yêu và xưng tán Thầy của mình như HĐ Lý Gia... Điều này, làm tôi ngạc nhiên!!!

⁕ Chúng tôi thương yêu nhau, thường xưng tán điều tốt của nhau, không rao lỗi người khác, không dòm ngó nhà người (đây được coi là điều đại kị của Lý Gia), tránh xa thị phi, chỉ nói lời khiến chúng hoà hiệp, v.v... Phật dạy, muốn thành tựu Văn Hoá Vô Lậu, phải học tập và thực hành như thế, HĐ Lý Gia thấm nhuần lời dạy đó, coi Văn Hoá Vô Lậu là sức mạnh tinh thần, và là linh hồn làm nên Lý Gia!!! 

  ... …

− Thế Thầy có dạy cho HĐ Lý Gia ngồi thiền hay công phu gì không???

⁕ Không!!! Có rất nhiều HĐ Lý Gia không biết ngồi thiền là gì!!! Hai từ công phu không có trong từ điển Lý Gia!!! Ha ha ha ha!!!

− Không ngồi thiền, không công phu, v.v...  làm sao Thầy có thể giúp cho họ thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo???

⁕ Điều này, tôi xin đưa ra một ví dụ, nhân ví dụ, Anh có thể hiểu cách giải quyết vấn đề của chúng tôi:

“Giống như trên con đường lớn, có một khối đá thật to chắn ngang, bít hết lối đi... Để giải quyết khối đá đó, thông thường có hai cách!!!

  ⁕─ Cách thứ nhất: Người ta dùng sức mạnh cơ bắp để giải quyết khối đá...!!!

  ⁕─ Cách thứ hai: Người ta dùng sức mạnh trí tuệ để giải quyết khối đá...!!!”

Theo tôi, nếu chỉ dựa vào sức mạnh cơ bắp để giải quyết khối đá, có khi lao động hết một đời, khối đá không sứt mẻ bao nhiêu... Nhưng, với sức mạnh trí tuệ, người ta có thể giải quyết khối đá đó trong tích tắc, vừa không nhọc công tốn sức, vừa mang lại hiệu quả cao!!! Tôi chọn giải pháp thứ hai cho các HĐ của mình!!!

− Thầy có thể nói cụ thể một chút được không???

⁕ Theo tôi, mỗi con người sinh ra trên thế gian này, đều tiềm ẩn trong họ sức mạnh trí tuệ...!!!

Vấn đề ở đây là, ta có biết cách khai thác sức mạnh trí tuệ đó hay không mà thôi!!!

Đối với HĐ Lý Gia, tôi khai thác tối đa sức mạnh trí tuệ của từng người, dùng trí tuệ của chính người đó để giải quyết khối đá nhân ngã, vô minh, lậu hoặc, v.v... trong tâm thức của họ, chứ không yêu cầu các bạn ấy dụng công!!!

Nhờ thế, chỉ sau vài câu nói, dăm bảy ngày học tập, phiền não, lậu hoặc, v.v... trong họ giảm thiểu đến mức thấp nhất, và an vui tức thì hiện khởi... Chỉ còn đợi thời cơ chín muồi, tôi giúp họ thành tựu những điều cần thành tựu tiếp theo!!!

Đây cũng là lí do vì sao, các bạn ấy tuổi đời còn rất trẻ, giác ngộ sớm, hiểu Phật Pháp đến nơi đến chốn, nhưng lại có bạn không... biết... ngồi... thiền!!!

  ... …

− Thế Thầy có biết được chính Thầy hay không???

⁕ Ha ha ha ha!!! Tôi biết về mình rất rõ!!!

− Thầy biết về mình như thế nào???

⁕ Tôi biết, bản thân là một người bình thường như bao nhiêu người bình thường trên cõi thế, chẳng có gì đặc biệt, thậm chí hơi nhà quê một chút vì ít tiếp xúc (nhiều năm rồi, tôi sống gần như ẩn dật)!!! Chỉ có một điều, tánh tình hơi cổ quái, tư duy vấn đề cũng quái không giống ai, ứng xử có chút quái quái... Nên HĐ thương tình, đặt thêm cho tôi “xú danh” là Lý Tam Quái!!!

− Thầy có biết rõ (cảnh giới) học trò của mình hay không???

⁕ Tôi biết rất rõ từng người, nhờ biết như vậy mới có thể giúp họ vượt lên cảnh giới tâm thức hiện tại, để thành tựu những bước cao hơn ở vị lai!!!

  ... …

− Thầy có biết chữ Hán hay không???

⁕ Để có thêm phương tiện nghiên cứu giáo pháp, ba mươi năm trước, tôi có học tiếng Hoa, gom lại chừng vài cái lá mít... Nhưng bây giờ, vì ít sử dụng nên: “Nó nhớ tôi, mà tôi không nhớ nó”!!! Ha ha ha ha!!!

− Tôi cũng như thế!!! Ngày còn học Văn Khoa, có học Hán Nôm, nhưng bỏ lâu, bây giờ cũng quên...muốn...hết!!!

⁕ Tạm biệt!!!                                       

   (09-07-2019)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thật Nghĩa Giác Ngộ Là Gì ??? Các Điều Kiện Để Giác Ngộ ???

MN 102 Lý Thanh Liêm 08.02.2023

− Hỏi:
(2) Con nghe trong Lý Gia hay nói đến hai chữ giác ngộ, xin Thầy cho biết thật nghĩa của hai chữ giác ngộ là gì ???... Và người tu hành từ phát tâm đến kết quả sau cùng, chỉ giác ngộ một lần hay giác ngộ nhiều lần ???... Các điều kiện cần có để đưa đến giác ngộ là gì ???
                                                                    (01-08-2019; Bửu Thiện)    
֎ 1. Đáp: Về câu hỏi của bạn, mình xin chia làm ba ý, và tuần tự trả lời từng ý một:
1.1. Ý thứ nhất: Thật nghĩa của hai chữ "GIÁC NGỘ" là gì ???
֎ 1.1. Đáp:
− Theo định nghĩa thông thường: Giác ngộ (zh. 覺悟, sa, pi. bodhi), danh từ được dịch nghĩa từ chữ bodhi (bồ-đề) của Phạn ngữ. Hai chữ giác ngộ dùng để chỉ trạng thái tỉnh thức, lúc con người bỗng nhiên trực nhận bản chất tự không (sa. śūnyatā), của chính mình và thế giới! (Lược ghi từ Wikipedia)
 − Theo mình thì: Hai chữ giác ngộ có rất nhiều cách trả lời, tùy thời điểm tu tập, tuỳ cơ duyên, ...v..v... sẽ được Thiện Tri Thức của bạn cắt một nghĩa nào đó phù hợp, nhằm giúp bạn thành tựu mục tiêu tu tập trước mắt !!!
Còn “thật nghĩa” của hai chữ giác ngộ (theo bạn hỏi) trong Phật đạo, là sự thấu suốt hoàn toàn của một vị Phật. Để mô tả giác ngộ đó là gì, sau khi giác ngộ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết những điều tự thân mình chứng ngộ với đạo sĩ Brahmàyu (trích kinh Brahmàyu, Trung Bộ Kinh):
"Những gì cần biết rõ, Ta đã biết rõ.
Những gì cần từ bỏ, Ta đã từ bỏ.
Những gì cần tu tập. Ta đã tu tập.
Do vậy, này Vị đạo sĩ, Ta là Phật"
1.2. Ý thứ hai: Người tu hành từ phát tâm đến kết quả sau cùng, chỉ giác ngộ một lần hay giác ngộ nhiều lần ???
֎ 1.2. Đáp:
− Theo mình biết, người tu tập trong Phật đạo, từ sơ phát tâm đến thành tựu sau cùng có rất nhiều lần giác ngộ (Nhị thừa có Tứ thánh quả, Bồ Tát có trên 50 quả vị), mỗi lần giác ngộ là một lần thăng tiến nhận thức của tự thân lên một bước cao hơn, cho đến khi nào vị tu hành đó có được nhận thức rốt ráo như Phật, như pháp mới được gọi là giác ngộ sau cùng !!!
 − Về các lần giác ngộ (cũng theo mình biết), tuy người tu hành phải trải qua nhiều lần giác ngộ... nhưng tựu trung có ba lần giác ngộ chính yếu phải trải qua, đó là:
• Lần giác ngộ đầu tiên, còn gọi là sơ ngộ: Đó là lúc vị tu hành thấy và đặt bước chân đầu tiên vào cảnh giới xuất thế, tức thấy và đặt bước chân đầu tiên vào giòng nước đưa đến Niết Bàn... Cụ thể, đây là cảnh giới Tu Đà Hoàn của Nhị Thừa hay Thiện Kiến của Bồ Tát Thừa !!!... Lần giác ngộ này, sẽ tuần tự giúp người tu hành ra khỏi hai đế thế gian là Khổ đế và Tập đế !!! (Giống cái thấy ban sơ của Lục Tổ khi nghe kinh Kim Cang)
• Lần giác ngộ thứ hai, thấy được bản lai thanh tịnh, chứng Niết Bàn Chân đế: Đây là lúc vị tu hành thành tựu Diệt đế, thấy được bổn tâm bổn tánh, người xưa gọi là “minh tâm kiến tánh” ... Cái thấy này, tương đương với một A La Hán nếu là Nhị Thừa, tương đương với Bát Địa Bồ Tát nếu là Bồ Tát Thừa !!! (Giống cái thấy của Lục Tổ sau khi lên thất của Ngũ Tổ)
• Lần giác ngộ thứ ba, thành tựu trí tuệ, thấy Phật tánh: Đây là cái thấy cuối cùng trước khi thành Đẳng Chánh Giác !!!... Phật tuyên thuyết cái thấy này như sau: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân. Sau khi thọ thực, Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hoá thức ăn, biến nhục thân thành Kim Cang Thân, thấy Phật tánh thành Đẳng Chánh Giác !!!” (Người xưa thường mô tả cái thấy này bằng cụm từ “hoát nhiên đại ngộ”)
Ta có thể hiểu, ba lần giác ngộ quan trọng nêu trên, tương ưng với ba lần Phật chuyển pháp luân để đưa môn đệ tiến lên một nhận thức cao hơn, đó là: 
֎ Lần chuyển thứ nhất tại vườn Lộc Uyển, giúp năm anh em Kiều Trần Như từ bỏ “thế gian đạo” để vào “xuất thế gian đạo” !!! 
֎ Lần chuyển thứ hai tại thành Vương Xá, giúp Nhị thừa và Bồ Tát quyền thừa từ bỏ giáo pháp quyền tiểu để vào đại đạo !!! 
֎ Lần chuyển thứ ba tại thành Câu Thi Na, giúp những đệ tử cơ duyên chín mùi thấy Phật tánh và khẳng định Đại Niết Bàn mới là nơi chốn cuối cùng của Phật đạo !!!
1.3.  ● Ý thứ ba: Các điều kiện cần có để đưa đến giác ngộ là gì ???
֎ 1.3. Đáp: Ngoại trừ những căn cơ đặc biệt, hầu hết người tu hành trong Phật đạo muốn giác ngộ như pháp, phải hội đủ các điều kiện sau:
• Phải tu tập trong chánh pháp, tức tu tập như những gì kinh điển chính thống của Phật đạo đã dạy !!!
• Phải được trang bị những kiến thức cơ bản cũng như các kiến thức cao hơn một cách phù hợp, đúng đắn và khoa học, các kiến thức này giúp người tu hành hiểu đúng tinh thần của kinh và tương ưng cho mỗi giai đoạn tu tập, như người đi đêm tuỳ thời điểm, có được những ngọn đuốc như ý !!!
• Phải xây dựng thái độ tu hành nghiêm túc và dấn thân tu hành thật sự, như người đội chén nước trên đầu, đi tới đi lui mà không cho nước đổ !!!
• Phải tinh tấn không mệt mỏi, như người dùi cây lấy lửa, khi chưa có lửa chưa ngưng tay !!!
• Phải được Thiện Tri Thức dẫn dắt và khai thị đúng mỗi thời điểm cần giác ngộ, giống như người bệnh kinh niên, mỗi giai đoạn điều trị cần phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn của thầy thuốc !!!
• Phải hội đủ công đức cần thiết cho từng giai đoạn tu tập, như người có đủ tiền để mua sắm các món đồ như ý !!!

Bạn thân mến...!!!... Giác ngộ trong Phật đạo là cảnh giới tự chứng, giống như người ăn mật mới có thể cảm nhận vị ngọt của nó !!!... Văn tự, ngữ ngôn có giới hạn của văn tự ngữ ngôn, dùng văn tự để giải thích về giác ngộ giống như người ta nói về vị ngọt của mật, lời nói chỉ đúng một phần, còn ý vị sâu thẳm nhất thì ngôn ngữ bất lực !!!
Mong rằng, những giải thích trên, giúp bạn cảm nhận một chút gì đó về giác ngộ, về những lần giác ngộ quan trọng trong Phật đạo, cũng như các điều kiện cần có và đủ để người tu hành có thể tìm đến giác ngộ thật sự !!!... 


Chúc các bạn an vui, tinh tấn !!! (01-08-2019) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Hai Câu Chuyện Kể: 1. Cần Có Địa Chỉ Người Nhận; 2. "Vô Đối Môn" Và "Vàng"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 08.02.2023

Hôm nay, mình xin kể với các bạn hai câu chuyện... 

Một câu chuyện xảy ra cách đây mười năm, và một câu chuyện xảy ra cách đây mấy tiếng đồng hồ!!!

● Câu chuyện của mười năm trước:

Hôm đó, mình và một vài vị bằng hữu đàm đạo ở Quảng Nam... Có một bà chị hỏi mình:

− Thầy ơi! Những ngày cúng đám, tôi thường hay đốt vàng bạc, hàng mã cho người đã khuất, không biết ở dưới đó các cụ có hưởng được các thứ ấy, và tôi cúng như vậy, các cụ có nhận được hay không???

⁕ Mình trả lời:

  ⁕− Về câu hỏi thứ nhất của chị, tôi chưa từng xuống dưới, nên không biết ở dưới có xài mấy thứ đó hay không... Cho nên, tôi không thể trả lời câu hỏi này!!!

 ⁕− Về câu hỏi thứ hai, theo tôi biết, việc gởi nhận một món quà bất kì, phải tuân thủ nguyên tắc sau: Người gởi phải viết tên và địa chỉ người nhận rõ ràng, địa chỉ càng cụ thể, món quà càng ít thất lạc (có số Điện Thoại càng tốt)... Nếu chị gởi những món đồ đó cho các cụ mà tuân thủ nguyên tắc trên, chắc các cụ nhận được!!!

− Chị ấy!!!!!!??????

● Câu chuyện thứ hai:

Chiều nay, có một bạn trẻ đến thăm... Bạn ấy thời còn SV (nhà nghèo) được mình tài trợ học phí suốt các năm học đại học... Vì thế, dù đã ra trường, có công việc hẳn hoi, thỉnh thoảng bạn ấy khi về phép, cũng thường ghé thăm mình!!!

− Bạn ấy kể:  Em có vào trang của Thầy, và rất thích những bài Thầy viết!!!

⁕ Mình hỏi bạn ấy: Thế em có đọc Vô Đối Môn hay không???

− Bạn ấy trả lời: Em có đọc và cũng tập ứng dụng những điều Thầy dạy!!!

Sẵn mấy cuốn Vô Đối Môn còn thơm mùi giấy để trên bàn, mình nói với bạn ấy!!!

⁕ Nếu em thích, tôi tặng em một cuốn!!!

− Bạn ấy trả lời: Em rất mong, đợt này về đây trước thăm Thầy, sau xin Thầy một cuốn!!!

⁕ Mình đưa cuốn sách, và hỏi: Em thấy cuốn sách thế nào???

− Thầy ơi! Em quý nó hơn vàng!!!

⁕ Mình buộc miệng nói với bạn ấy:  Cảm ơn em đã cho Vô Đối Môn một giá trị mà tôi không ngờ!!! Nhưng giả sử, tôi để một bên là Vô Đối Môn, một bên là cục vàng... Em chọn món nào???

− Bạn ấy, nhoẻn... miệng... cười... bẽn...lẽn!!!????

(P/S: Mình xin bật mí với các bạn trẻ: Con của mình là giảng viên, mình đã cho cậu ấy một mệnh lệnh của trái tim: “Con không được phép để SV của mình nghỉ học vì nghèo... Nếu gặp trường hợp như vậy, cho ba biết, ba sẽ tìm cách giúp các bạn ấy”!!!

Viết lên điều này, mình muốn nhắn nhủ với các bạn trẻ đã ra trường, có công ăn việc làm: “Hãy sống bằng trái tim yêu thương với thế hệ đàn em”!!!)            

 (13-07-2019) 

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

http://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/xo-dep-cai-nga-ly-gia-hoc-tap

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Đế Và Ba Thừa – Khổ Đế

MB 1059 Trần Văn Thắng 12.03.2022

Sở dĩ chúng sanh có khổ bởi thân tâm có chủng tử sinh khổ, chủng tử sinh khổ này là những món như: Tham, dục, ái, vô minh. Ví dụ: Ái biệt ly khổ, bản chất biệt ly chưa phải là nguyên nhân sinh khổ, bao giờ biệt ly này có ÁI, thì ái mới là nguyên nhân làm cho biệt ly sinh khổ. Sự ‘liên hệ’ này Phật giáo gọi là ‘ĐẾ’.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Bốn đế là: Khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Tại sao không gọi tên bốn món là khổ tập diệt đạo, mà phải thêm ĐẾ vào?

Câu hỏi này chính là những khái niệm đầu tiên cần thấu suốt để làm cơ sở đi sâu vào bốn đế. Bởi lẽ, nếu chỉ nói có bốn danh tự khổ, tập, diệt, đạo mà không nói đến ĐẾ, thì bốn danh tự kia chỉ có tên gọi mà không có thực thể.

Tiếng khổ là “sự cọ xát của môi lưỡi răng họng… Và hơi phóng ra…,” tự thân danh tự này không khổ và cũng không có tính chất của khổ. Nếu chỉ nói riêng danh tự khổ, như tử khổ chẳng hạn, thì hằng ngày biết bao nhiêu người chết, tuy vậy không phải mọi người đều khổ vì danh tự chết kia. Thực tế chỉ những cá nhân nào liên quan đến cái chết nói trên, mới cảm nhận có khổ. Những người không khổ hay không thấy khổ chỉ vì không có mối liên hệ nào hoặc chưa dự phần vào tử sự. Sự ‘không liên hệ’ này Phật giáo gọi là ‘không có ĐẾ’.

Từ nơi một pháp, chúng sanh không thấy khổ vì pháp này không có ĐẾ, tức nơi thân tâm không có mối liên hệ đến pháp kia (như con nít không biết hiểm nguy của cọp dữ, trẻ nhỏ vui đùa trong nhà lửa).

Sở dĩ chúng sanh có khổ bởi thân tâm có chủng tử sinh khổ, chủng tử sinh khổ này là những món như: Tham, dục, ái, vô minh. Ví dụ: Ái biệt ly khổ, bản chất biệt ly chưa phải là nguyên nhân sinh khổ, bao giờ biệt ly này có ÁI, thì ái mới là nguyên nhân làm cho biệt ly sinh khổ. Sự ‘liên hệ’ này Phật giáo gọi là ‘ĐẾ’.

Do đó, ĐẾ là mối liên hệ, chỗ y cứ, là chỗ dựa, là nhân tố quyết định chúng sanh đau khổ hay an vui. Nếu tự thân hoặc quyến thuộc chết thấy có khổ, là bởi vì khổ này có ĐẾ, tức trong tâm còn mối liên hệ của ái, dục, tham luyến.

Như vậy có thể khái niệm ĐẾ là chỗ y cứ, chỗ dựa nương để KHỔ và TẬP phát triển, giống như đất là nơi chốn để hữu tình vô tình nương cậy phát sinh. Nếu hữu tình vô tình không nương nơi đất để sinh tồn thì hữu tình vô tình tự diệt.

Thì cũng vậy, KHỔ và TẬP đều nương nơi ĐẾ để phát triển, ví như phiền não sanh tử nương nơi kiết sử mà hiện, kiết sử nương nơi thân tâm mà trú, nếu không có Thân Thọ Tâm Pháp thì kiết sử y vào đâu để KIẾT và SỬ; hoặc ví dụ như ma quỷ và nỗi sợ hãi nương nơi bóng tối mà hình thành, nếu bóng tối trở thành ánh sáng thì ma quỷ và nỗi sợ hãi ma quỷ không xuất hiện.

Như vậy có thể kết luận sanh tử phiền não là KHỔ, mê lầm, kiết sử là TẬP, ‘thân thọ tâm pháp’ là ĐẾ. Nếu tu tập yểm ly thân thọ tâm pháp đến rốt ráo thì tập khởi sẽ không còn, tập khởi không còn thì khổ đau chấm dứt.

Thân tâm thoát ly khỏi khổ đau và mọi nguyên nhân sanh khởi chấm dứt gọi là giải thoát. Đây là phương tiện tu hành và cách nhìn nhận vấn đề cốt tuỷ của Thanh Văn thừa gọi là tứ thánh đế.

Nhu cầu của Thanh Văn là giải thoát, cho nên việc yểm ly để giải thoát theo đúng quy trình bốn đế được Thanh Văn thực hiện nghiêm ngặt.

  • Cắt ái ly gia để yểm ly ái cộng nghiệp ta quen gọi là xuất thế tục gia.

  • Thọ nhận giới cụ túc để viên mãn yểm ly năm ấm gọi là xuất ngũ ấm gia.

  • Tìm nơi thanh vắng tu hành hộ trì các căn thoát ly khỏi trói buộc năm dục đối với năm căn để ra khỏi dục giới, thăng tiến vượt qua cảm thọ và giác quán gọi là xuất ly sắc giới.

  • Phân chia ý thức đến tột bờ mé vượt qua các tưởng ra khỏi vô sắc giới gọi là xuất tam giới gia.

  • Nhất tâm thiền định diệt trừ cảm thọ và giác tưởng cuối cùng, rốt ráo giải thoát vào Diệt Thọ Tưởng định hoàn thành sứ mạng tu hành.

Ở đây có người cho rằng giai đoạn thứ hai là xuất phiền não gia; điều này không hợp lý, bởi lẽ phiền não chỉ là hiệu ứng của vô minh. Vô minh chưa dứt nên vọng sinh phiền não, giống như con mắt bệnh phát sinh hoa đốm, không ai đi diệt hoa đốm. Người trí chỉ nên chữa lành con mắt thì hoa đốm tự diệt. Vì thế yểm ly ngũ ấm là việc làm cần thiết để vô minh tiêu trừ, vô minh tiêu trừ phiền não tự diệt.

Cũng là những căn bản này nhưng Bồ Tát có cách nhìn nhận vấn đề khác hơn. ‘Thân thọ tâm pháp’ sở dĩ là nền tảng để ‘tham sân’ hiện khởi chỉ vì tâm mê bốn món này.

Vì bởi một khi đã mê muội thì người ta sẽ lầm tính chất và giá trị của nó, giống như trẻ con chơi trò chiến tranh. Những chiến binh và vũ khí của đám trẻ chưa từng là chiến binh và vũ khí. Cũng chẳng có sự chết chóc do vũ khí gây nên, cũng như chẳng có sự hơn thua trong cuộc chiến tưởng tượng này, nhưng khi đã lao vào cuộc chơi thì buồn vui đau khổ được thể hiện như thật. Hoặc ví như ảo sư chặt đầu ảo nhân, ở đây không hề có các giá trị đích thực, chỉ vì mê muội trong các sự việc trên mà lầm nhận in tuồng có tích chứa các giá trị không thực kia rồi phát sanh phiền não.

Bồ Tát nhìn nhận giá trị thực của ‘bốn niệm xứ bổn lai thanh tịnh’ nên hết mê. Hết mê ‘thân thọ tâm pháp’ thì vọng tưởng không phát sanh, vọng tưởng không phát sanh ngay đấy ‘chân giá trị của bốn niệm xứ’ xuất hiện đó là sự ‘tự tịnh của bốn món’. Thấy được ý nghĩa này Bồ Tát không vọng cầu, không mê muội, bây giờ các ĐẾ trở về bổn chơn gọi là chơn đế. Một khi bốn đế đã chơn thì khổ và tập tự chơn, ngay đây là Niết Bàn an tịnh.

Như vậy, ta đã xét KHỔ và chỗ dựa nương của khổ là ĐẾ, nếu khổ không có đế thì khổ không thể là khổ, khổ bây giờ chỉ còn là văn tự, kinh dạy: Tiếng khổ chỉ là âm thanh cộng hưởng giữa môi lưỡi răng họng cằm nướu và hơi phát ra, không có thực thể.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Xô Dẹp Cái "Ngã" (Lý Gia Học Tập)

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 08.02.2023

Vừa rồi, có một vị HĐ trẻ hỏi mình:

− Thưa Thầy! Con thường hay nổi nóng khi có điều gì đó không vừa ý, việc này dẫn đến mích lòng, gặp khó khăn trong làm ăn... Thầy có thể cho con lời khuyên và có cách gì đó để điều chỉnh bản thân!!!

⁕ Mình trả lời:  Mỗi người có một số tập khí (thói quen vô thức, khó kiểm soát) trong đời sống, trong giao tiếp... sân là một trong những tập khí đó!!! Để điều chỉnh bản thân, và làm cho tập khí này mỏng nhẹ, đến chấm dứt vĩnh viễn, phải cần có thời gian rèn luyện, không thể muốn nó hết là hết liền...!!!

   ⁕− Thứ nhất: Phải hiểu rằng, người thường có thói quen nóng giận không hẳn là người xấu... Thực tế cho thấy, có những người hay nổi nóng bất ngờ nhưng bụng dạ họ rất tốt!!!

   ⁕− Thứ hai: Để “sân” trở thành “một nghiệp”, nó phải trải qua ba giai đoạn, đó là: “Sân, hận, não”!!!

   ─ Sân, là sự nóng giận bộc phát bất ngờ... Hận, là gìn giữ, nuôi dưỡng sân hận đó trong lòng... Não, là đến khi sự nuôi dưỡng này thành nghiệp sẽ biến thành thù hận, dẫn đến hại mình, hại người!!! Vì thế, phải tự ý thức rằng, sân hận thường đưa đến hậu quả không tốt, kết quả của nó là tạo nghiệp chẳng lành!!!

   ─ Để giải quyết tâm sân, có nhiều cách: Trong đó, phát khởi lòng thương người, không đề cao bản thân, tôn trọng ý kiến trái chiều, thường tự quở trách chính mình, bình tĩnh trước mọi sự việc, không để căng thẳng vì áp lực công việc, v.v...  Những việc làm này, giúp ta kềm chế bản thân khi gặp những điều bất như ý!!!

Nếu giả sử, lỡ ta nổi nóng trước một ai đó, phải biết hành động này không tốt, lập tức dừng sự nóng giận này lại tức thì... Quan trọng là, không nuôi dưỡng tâm sân trong lòng, bằng mọi cách xả bỏ, không để nó trở thành tâm nghiệp (hận) dẫn đến việc hại mình hại người (não)!!!

Mỗi người, có một ngưỡng chịu đựng khác nhau, không ai giống ai, sân cũng có ngưỡng chịu đựng của nó... Quyết tâm rèn luyện, một ngày đẹp trời sẽ hết sân hận!!!

− Bạn ấy hỏi tiếp: Làm sao để cái ngã nó mất???

⁎ Phải tâm niệm rằng: “Ta không là cái đinh gì trên đời”... Nhờ ý thức như vậy, “ngọn cờ ngã” sẽ hạ xuống đến mức thấp nhất!!!

Trên đây, chỉ là hai lời khuyên giúp giảm bớt tần suất và cường độ của sân và ngã... Chỉ khi nào thật sự giác ngộ, hai thứ này mới tịch diệt vĩnh viễn!!!

− Một bạn trẻ khác hỏi mình: Thầy ơi! Lý Gia có đặt ra luật lệ gì không???

⁕ Không!!! Lý Gia không phải là một tổ chức nên không có luật lệ gì hết, và mình cũng “không đủ tư cách” để lập ra luật lệ ràng buộc người!!! 

Nhưng mình thường khuyên HĐ của Lý Gia: 

   ● “Những gì luật pháp cấm, không nên làm”... Vì, luật pháp cấm mà làm, sẽ bị rắc rối trước pháp luật...!!!

   ● “Những gì bà xã cấm, không nên làm”... Vì, trái lời bà xã, có ngày phải... ăn... cơm... tiệm!!! Ha ha ha ha!!!

− Bạn ấy lại hỏi tiếp: Tại sao không thêm một điều nữa là: “Những gì Phật cấm, không làm”???

   ● Lý Gia không phải chỉ có những người theo Đạo Phật, mà gồm những người theo các đạo giáo khác nhau, thậm chí có người không theo đạo nào... Cho nên, “đạo ai nấy giữ”!!!

− Những người không theo đạo Phật có thể giác ngộ Phật pháp hay không???

⁕ Giác ngộ là ở “cái đầu”... Phật pháp thuộc về trí tuệ!!! Cho nên, chúng ta chỉ trao đổi với nhau Phật pháp, chứ ta không luận bàn về tôn giáo!!!

Lý Gia coi Phật pháp như một nền giáo dục, một thứ văn hoá, một tri thức tốt đẹp của nhân loại... 

Trong cuộc sống, tri thức không bao giờ thừa, nếu thấy thích, các bạn có thể tham gia NHÓM LÝ GIA để học tập, chia sẻ những tri thức tốt đẹp của Phật pháp...

Biết đâu, một ngày đẹp trời, bỗng dưng ta giác ngộ thì hay biết mấy!!! 

Chúc các bạn an vui!!!                       

   (11-07-2019)

Tác Phẩm Lý Tứ

Bốn Đế Và Ba Thừa

MB 1059 Trần Văn Thắng 12.03.2022

Trong khi đó Phật nói rõ: “Như một đĩa mật này các Tỳ Kheo, vị ngọt của mật ở mép đĩa không khác vị ngọt của mật ở giữa.” ... Kinh điển của ba thừa đều từ bốn đế xuất sinh, cho nên ba thừa phải y bốn đế giác ngộ. Chỉ khi nào giác ngộ đúng như bốn đế thì mới là giác ngộ của Phật giáo, và chỉ giác ngộ này mới có hy vọng thấy được Phật thừa, “tam thừa cộng quả.”

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Nói đến Phật giáo là nói đến bốn đế. Bốn đế như một dàn bài làm nên giáo lý Phật giáo, nếu không có bốn đế thì không có Phật giáo. Phật giáo không y vào bốn đế thì không y vào đâu làm cơ sở để thuyết minh vạn pháp, và không y vào đâu để hình thành quy trình tịch diệt nguồn tâm.

Hết thảy kinh điển Phật đã thuyết không ngoài bốn đế. Có khác chăng là tùy chỗ dụng mà ngôn ngữ có khác, cách hiển bày có khác, nhưng nghĩa lý thì nhất định không khác. Cho nên mới có bốn tục đế, bốn thánh đế, bốn chơn đế và chơn mà không đế (chư Phật).

Do tầm mức quan trọng như vậy nên sức rộng và chiều sâu của bốn đế là rộng sâu của Phật giáo. Để thấu suốt tột cùng bốn đế chỉ có Phật mới hiểu hết ý nghĩa, do thấu suốt bốn đế nên Phật thuyết kinh không cùng và ba thời đều thiện. “Thuyết đạo khổ vô úy,”  

Phật dạy: “Trong các chỗ thuyết pháp, có nói ra điều gì không ngoài bốn đế,” hoặc “chỗ chư Phật chứng là chứng bốn đế.”

Những lần ra khỏi thành, thái tử nhìn thấy lão bệnh tử (khổ đế), từ đấy sinh ra ưu tư. Chẳng lẽ ngoài thành Ca Tỳ La Vệ chỉ có mấy điều này, còn có bao nhiêu thứ để thấy vì sao không thấy mà chỉ chú trọng đến mấy điều, và vì sao không ưu tư món khác mà chỉ ưu tư có thế? Tại sao những món này mọi người đều thấy mà không ưu tư?  Khi đặt thành vấn đề để suy ngẫm, mới thấy sự khác thường của Phật giáo và bốn đế.

Nếu xét tiền đề trên ta thấy bốn đế là chủng tử đầu tiên để sản sanh ra một Đẳng Chánh Giác (vì ưu tư, lão, bệnh, tử nên xuất gia thành Phật, từ thành Phật chỉ cho chúng sanh quả khổ và con đường dứt khổ).

Chỉ có tư chất một Đẳng Chánh Giác mới có những ưu tư lạ lẫm như vậy. Vì sao những kẻ khác không ưu tư giống thái tử?  Đơn giản chỉ vì chưa tích tụ đủ công đức của một Đẳng Chánh Giác nên thấy khác (vui buồn theo nghiệp).

Hễ khi nào tích tụ đủ công đức của một Đẳng Chánh Giác thì thấy biết và ưu tư đều như vậy.

“Cách đây tám muôn kiếp cũng tại thành Ca Tỳ La Vệ, cũng cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma Gia sinh con một thái tử tên Tất Đạt Đa, cũng lớn lên ra ngoài thành…  Cũng xuất gia… Cũng thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Lại cách đây bảy muôn… Lại cách đây… Cũng cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma Gia sinh con một là Tất Đạt Đa…. Ta đây cũng… Cho đến vô lượng Thích Ca đều như vậy.”[[1]]

Mới biết Phật giáo là thường, Tam Bảo thường trụ, bốn đế cũng là pháp thường trụ.

Bốn đế là chủng tử căn bản để sanh một Đẳng Chánh Giác thì Thanh Văn, Duyên Giác, Bích Chi, Bồ Tát do chủng tử nào sanh ra, chẳng lẽ ba thừa lại do chủng tử khác chủng tử Phật sinh ra!?

Trong khi đó Phật nói rõ: “Như một đĩa mật này các Tỳ Kheo, vị ngọt của mật ở mép đĩa không khác vị ngọt của mật ở giữa. ”Đây chính là lời minh định ba thừa và những gì họ đạt được giống như Phật, chỉ khác ở cạn sâu. Vì chỗ có được giống nhau nên chủng tử phát sinh nhất định cũng giống nhau. Vậy kinh điển của ba thừa đều từ bốn đế xuất sinh, cho nên ba thừa phải y bốn đế giác ngộ. Chỉ khi nào giác ngộ đúng như bốn đế thì mới là giác ngộ của Phật giáo, và chỉ giác ngộ này mới có hy vọng thấy được Phật thừa, “tam thừa cộng quả.”

“Tam thừa đồng một tánh tri giác mà chẳng đồng tri giác. Bởi tri giác sai biệt nên chỗ chứng cũng sai biệt. Như Lai là như tánh kia mà giác nên không có giác khác, như tánh kia mà biết nên không có biết khác. Như tánh kia mà giác thì không có bất giác. Không có giác khác thì không vọng giác. Không bất giác không vọng giác, ấy gọi là chân như tự tánh thanh tịnh không che đậy.” [[2]]

Về mặt nào đó ta có thể thấy bốn đế gần giống như một dàn bài để làm một bài văn, gồm có mở đầu, thân bài, kết luận.

Khi làm văn, cùng một đề tài nhưng mỗi người lại có cảm nhận khác nhau, nên cách mô tả cũng khác nhau. Người thầy giáo dạy cách thực hiện bài văn theo cảm nhận của học trò mình. Như đồng mặt trăng, học trò cảm nhận giống như cái mâm, thì thầy giáo hướng cảm xúc học trò về cách cảm nhận như cái mâm. Nếu cảm nhận như mặt người con gái, thì hướng cảm xúc về cách cảm nhận như mặt người con gái. Từ những cảm xúc này phát triển thành một bài văn hoàn hảo, miễn sao bài văn đúng với dàn bài (đủ ba phần mở đầu, thân bài, kết luận).

Cái khác ở đây là bài văn kết luận đúng một áng văn. Còn bốn đế hướng cảm nhận của chúng sinh về các vấn đề của khổ đau và sự đoạn tận. Cho chúng sinh thấy được nguyên nhân phát sinh vạn pháp, và những nguy hại tiềm tàng của pháp đã thấy.

Thuyết minh chân tướng vạn pháp (không giống như thấy cái này hoặc như thấy cái kia) và đâu là thiệt tướng. Sự thuyết minh hoàn hảo này, đưa chúng sinh đang mê lầm đến hết mê lầm, hoàn toàn hết mê lầm gọi là thấy thiệt tướng.

Do đó học dàn bài để biết cách làm văn, không phải học dàn bài để mô tả dàn bài. Học bốn đế để giác ngộ, và học dàn bài chỉ học một lần khi chập chững học làm văn. Đến khi mô tả sự việc thì chẳng ai mô tả đây là mở đầu, kia thân bài, còn đây là kết luận.

Học bốn đế để biết cách suy tư một pháp đâu là khổ, đâu là tập, đâu là diệt, đâu là đạo, và lấy gì làm đế để giác ngộ. Không phải học bốn đế để thuộc lòng cái gì là khổ hay cái gì là tập.

Phật giáo chân chánh không coi trọng lối trả bài từ chương này, mà cần người nghe tìm thấy chân lý từ nơi dàn bài bốn đế.

Ba thừa như ba người học trò nhìn thấy một sự việc, Phật tùy vào cảm nhận của họ để dạy cách giải quyết vấn đề. Kinh gọi tùy nghiệp thấy sai biệt. Như đồng một sông Hằng mà loài người thấy nước, chư Thiên thấy lưu ly, ngạ quỷ thấy lửa.

Ông thầy Phật giáo còn thiện xảo, biết học trò mình do mê lầm như người ngủ mê nghe tiếng giã gạo thành tiếng chuông, dạy họ thức tỉnh. Hoặc như người đi đêm, vì trời tối thấy sợi dây thành con rắn, dạy họ thấy thiệt tướng của sợi dây.

Đồng một lời giảng, do công đức sai biệt nên nghe thấy khác nhau, “kỳ thật Như Lai không nói điều này mà nghe ra điều này” và đề ra hướng giải quyết. Thử tìm hiểu Phật dùng bốn đế dạy cho ba thừa như thế nào:

“Sau khi rời khỏi cội Bồ Đề, Phật quán thấy năm anh em Kiều Trần Như là những người đáng được độ trước. Phật đi thẳng đến vườn Lộc Uyển, từ xa năm anh em Kiều Trần Như thấy Thái Tử nhưng trong lòng không muốn đón tiếp.

Đến nơi, Phật ba lần tuyên nói: Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác. Bây giờ năm anh em Kiều Trần Như mới miễn cưỡng đón tiếp. Với 32 tướng tốt tỏ lộ, Phật đến gần tuyên thuyết: Này Kiều Trần Như, sắc là vô thường, hễ cái gì vô thường đều biến hoại và sanh khổ não. Này Kiều Trần Như, không nên lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, và làm tự ngã của ta, diệt sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ. Thọ tưởng hành thức cũng đều như vậy.”[[3]]

Với đoạn kinh trên ta thấy khi Phật tuyên nói ba lần “Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác,” với 32 tướng tốt đầy đủ và tỏ lộ, năm anh em Kiều Trần Như biết đây thật là Như Lai Đẳng Chánh Giác. Vì trong kinh Vệ Đà của ngoại đạo có nói về một Đẳng Chánh Giác với 32 tướng, và Như Lai lời nói không hư dối.

Khi thuyết “không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta” là nói đến sự biến hoại của sắc, cho dù đó là 32 tướng của Phật cũng phải nhập Niết Bàn. Lý luận này bẻ gãy luận cứ của ngoại đạo là hy vọng từ nơi ngũ ấm nếu kiên tâm tu hành có thể thành tựu điều gì đó.

Tiền đề ở đây được nêu lên là ‘ngũ ấm vô thường’, đã vô thường thì không nên căn cứ vào đó để tìm chân lý vĩnh cửu. Không lấy sắc làm ta, có nghĩa không nên cho thân này là của ta. Nếu cái gì của ta khi nó mất đi sẽ khiến ta khổ đau. Ví như tài sản của ta mất đi nhất định ta sẽ đau xót. Nếu tài sản này của ai đó thì chẳng có mối liên hệ nào đối với ta dù mất hay còn.  Thân này vô thường nhất định sau 80 năm đời người rồi sẽ diệt mất, cách tốt nhất để khỏi khổ đau khi thân này biến hoại là không có quan niệm sắc này của ta.

Vấn đề thứ hai được nêu lên là không lấy sắc làm ngã của ta. Có nghĩa sắc này đã biết là vô thường thì chẳng thể lấy cái vô thường làm chỗ dựa để so sánh với các sắc khác. Bản chất của thân vô thường thì y vào cái gì để so sánh, nếu căn cứ vào vật vô thường để thấy vật này hoặc hơn hoặc kém vật kia thì sự thấy biết này chẳng thể gọi là người có trí. Có nhất thiết đem thân này so sánh với thân khác để tạo nên sự cột trói vô lý hay không? Muốn giải thoát, Phật khuyên Kiều Trần Như hãy xả cái ngã không thực, cái ngã y chỉ trên thân.

Điều thứ ba được Thế Tôn dẫn ra là không lấy sắc làm tự ngã của ta. Tự ngã ở đây chỉ ra rằng không thể lấy vật vô thường để làm chỗ nương tựa vĩnh hằng. Những ai mong rằng từ thân này sẽ tạo được mối quan hệ bền vững đời đời là chuyện không tưởng, vì bởi thân này nhất định sẽ mất và thân sau là kết tụ của nghiệp. Không có chuyện y nơi thân vô thường tu luyện để cầu mong thân thường, đây là quan niệm sai lầm của ngoại đạo thời bấy giờ.

Thân đã như vậy, thì tâm (thọ, tưởng, hành, thức) cũng đều như vậy, vì thân tâm này là kết quả của nghiệp, nếu y nơi nghiệp thì không thể thoát ra khỏi trói buộc của nghiệp.

Luận chứng này đưa ra tiền đề thứ hai trong bài kinh đó là "diệt (yểm ly) sắc vô thường sẽ được sắc giải thoát thường trụ" có nghĩa người trí cần phải xác lập vị trí của thân trong đời sống. Nếu yểm ly được ba quan niệm trên về thân thì nơi thân này sẽ được thân giải thoát hay giải thoát khỏi sự trói buộc của thân. Thọ, tưởng, hành, thức cũng phải thấy biết như vậy. Tạo sự yểm ly cần thiết bằng sự thấy biết rõ ràng thì giải thoát khỏi trói buộc thân tâm vô thường là điều hiển nhiên. Kiều Trần Như nhờ lời dạy này, chẳng bao lâu sau đó thấu triệt ý nghĩa và chứng A La Hán quả, quả vị cao nhất của hàng Thanh Văn (sau đó Kiều Trần Như có xác quyết, nhân nghe âm thanh của Thế Tôn mà mình giác ngộ).

Căn bản bốn đế Phật triển khai cho Kiều Trần Như ngũ ấm vô thường, biến hoại nên sanh khổ não, biến hoại của sắc là nhân của khổ (tập đế), diệt sắc vô thường (diệt đế) được sắc giải thoát thường trụ (đạo đế). Ta thấy Phật khởi đầu thuyết bốn đế cho Kiều Trần Như chú trọng đến sự ‘vô thường của thân ngũ ấm’, đây là hướng giải quyết kinh điển cho hàng Thanh Văn.

Thanh Văn giác ngộ THÂN này là đầu mối phát sinh mọi khổ đau bởi sự biến hoại của nó và thọ tưởng hành thức cùng chung tính chất. Nguyên lý chủ yếu trong tứ đế đối với Thanh Văn là cái gì làm cho khổ đau hiện hữu cần phải yểm ly cái đó; yểm ly rốt ráo nguyên nhân gây khổ đau cột trói, thoát ra khỏi trói buộc này gọi là giải thoát. Vấn đề được đặt ra là, nếu ngũ ấm không có, hoặc có mà không cột trói thì có khổ không?

Cho nên, thấu suốt bản chất và yểm ly triệt để ngũ ấm là cơ sở đúng đắn mà hàng Thanh Văn đệ tử hướng đến để giải quyết chướng đạo. Một khi ngũ ấm được tịch diệt thì ngũ ấm sẽ không trói buộc; ngũ ấm hết trói buộc thì ngũ uẩn sẽ không tích chứa các thứ khổ thọ.

Hai thứ ngăn che và tích tụ được phá trừ thì mọi khổ đau và cột trói đều giải thoát. Nên kinh dạy: “Ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.”

Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật lại phát triển bốn đế theo hướng khác. Duyên khởi A Nan bị Ma Đăng Già quyến rũ sắp mất giới thể. Đối với A Nan sắp mất giới thể là đại khổ (khổ đế).

A Nan không biết rõ nguồn tâm, bảy lần nói tâm đều sai, không thấu suốt nguồn tâm tự thanh tịnh vì thế tâm sinh dục tưởng. Do còn chủng tử dục nên đối trước Ma Đăng Già mới sanh điên đảo (tập đế).

Đây là tiền đề dẫn khởi để bộ kinh ra đời. Như vậy ta thấy tinh thần chủ đạo của kinh là phải thấu suốt nguồn tâm, hư vọng tâm là giềng mối phát sinh mọi khổ đau.

Để giải quyết vấn đề này, Phật chỉ ra rằng bản lai tâm tính vốn chơn (thuật ngữ ở đây là Diệu Minh Chơn Tâm), trạm nhiên vắng lặng không dục. Thế nhưng chúng sanh mãi giong ruổi theo tiền trần, nhận tiền cảnh làm tâm quên đi bổn lai thanh tịnh của nó. Vì lầm nhận tiền cảnh làm tâm nên tâm này hư dối. Một khi tâm hư dối thì mọi pháp do tâm này tiếp cận và phán xét đều sai lầm cho nên dục tưởng phát sinh.

Muốn dứt khổ đau do dục tưởng phải quay trở lại bổn tính tự chơn của nó. Khi tâm đã chơn thì mọi thứ từ nó phát ra đều chơn, gọi là tính thấy tính nghe tính hay tính biết. Các căn được tính chơn hộ trì thì mọi thứ, mọi đảo tưởng chấm dứt (diệt đế).

Hướng phát triển của Thủ Lăng Nghiêm hay các kinh thuộc hệ phương đẳng đều quy kết mọi sai lầm chủ yếu bắt nguồn từ ‘tâm mê’. Một khi tâm đã mê thì kiến văn giác tri từ tâm này phát ra đều mê theo.

Một thực tế đối với người tu hành khi đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm là mong muốn thấy được chơn tâm, mong cầu được hộ trì bởi tính thấy nghe. Mong muốn này không có gì sai vì đây là yêu cầu đặt ra trong kinh, và người ta cố tình để nguyên kiến văn giác tri hư vọng này rắp tâm để tìm xem cái gì là chơn tâm, đâu là chơn tánh.

Sự tìm kiếm một cách máy móc này đi ngược lại tinh thần của kinh. Vì lẽ ở đây Phật chỉ giới thiệu tâm tính bản lai tự chơn, bản tâm này bị che khuất bởi hư vọng vô thủy.

Muốn thấy được chơn tâm phải từ bỏ vọng tâm. Khi vọng tâm chưa từ bỏ mà mong tìm kiếm tâm chơn thì cũng giống như người trong bóng tối đòi thấy ánh sáng, một sự đòi hỏi vô lý và không khả thi.

Có nghĩa muốn thấy được diệt đế thì tập đế phải được diệt, không thể chưa làm sạch tập đế mà đòi có chỗ diệt, chẳng khác nào đòi uống nước trong nơi nước đục.

Chơn tâm giống như vật báu chứa cất trong buồng kín ngũ ấm. Muốn thấy vật báu cách tốt nhất là phải phá vỡ buồng kín ngũ ấm, buồng kín ngũ ấm bị phá thì chơn tâm tự hiện.

Chơn tánh bị che mờ bởi lăng kính nghiệp thức, giống như nước trong bị che mờ bởi lớp dầu nổi trên mặt. Muốn thấy được nước trong điều kiện tiên quyết là phải làm sạch lớp dầu trên mặt này.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật triển khai bốn đế rất cụ thể, chỉ ra từng bước một, từng công đoạn phải thực hiện, quy trình làm sạch nguồn tâm chấm dứt mê muội được vạch rõ. Nếu thấu suốt và thực hiện triệt để quy trình này thì tâm tính diệu minh không cần tìm đâu xa. Nơi cõi ác thế ngũ trược này chính là Phật quốc. Bằng ngược lại, nếu giữ nguyên phàm tâm mong tìm thánh quả thì như kinh dạy đó là người mong ép cát ra dầu.

Kinh Kim Cang duyên khởi do Phật khất thực thứ đệ, đệ tử Tu Bồ Đề phát khởi thấy mình (đệ nhất nghĩa không) không giống chỗ phát tâm của chư Bồ Tát (khổ thánh đế) nên hỏi chỗ khéo hộ niệm chư Bồ Tát, phát sinh mối nghi (tập thánh đế). Tu Bồ Đề là Thanh Văn đệ tử chứng đệ nhất nghĩa không.

Chính vì đệ nhất nghĩa không nên không thể biết sở hành “hành ư bố thí” (đạo chơn đế) của chư Bồ Tát (tập thánh đế). Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm (diệt chơn đế)... Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm (đạo chơn đế),” đây cũng là đoạn kinh Lục Tổ Huệ Năng giác ngộ lần đầu khi nghe kinh Kim Cang. Phật lại dạy: “Bất thủ ư tướng như như bất động” mà bố thí (đạo thánh đế).

Khảo sát kinh Kim Cang ta thấy đây là kinh Đại Thừa, dù là Đại Thừa Phật cũng phát triển trên cơ sở bốn đế. Bốn đế này của hàng Thanh Văn chánh vị; bốn đế ở đây giúp Thanh Văn có sự nhìn lại chánh vị của mình, từ đó có thể hồi tâm hướng về Bồ Tát đạo.

Vì vậy, khổ của Tu Bồ Đề không giống khổ của phàm phu, sở dĩ gọi là khổ vì chưa biết Bồ Tát đạo, chưa thấy thiệt tướng các pháp. Khai triển kinh có thể thấy, chưa biết Bồ Tát đạo là khổ thánh đế. Thủ chấp quả vị là tập thánh đế. Hồi tâm là diệt thánh đế. Biết rõ pháp thí (hành ư bố thí) là đạo thánh đế. Từ cơ sở này Phật tuyên nói bốn chơn đế, tức bốn đế của Bồ Tát, mở ra hướng tu tập mới cho Thanh Văn.

Kinh Viên Giác các Bồ Tát hỏi Phật chỗ phát tâm của chư Phật và chư Bồ Tát, cùng thế nào là Viên Giác trong sạch, y theo chỗ nào để phát tâm, và y theo đâu để biết thiệt nghĩa Viên Giác.

Bồ Tát chưa thấy các pháp tự thanh tịnh (khổ thánh đế), vì tánh của Viên Giác vắng lặng, không có chỗ phát tâm cũng không phải không phát tâm, chúng sanh như hoa đốm.
Thấy có quyết định phát tâm (tập thánh đế);
Khai thị tánh vắng lặng tròn sáng của Viên Giác (diệt thánh đế);
Nói tột lý để thể nhập, đến lập phương tiện tu hành (đạo thánh đế).
Không có chúng sanh thế giới mà chúng sanh thế giới vẫn hiện (khổ chơn đế).
Không có chúng sanh thế giới mà vẫn phát tâm giáo hóa (tập chơn đế).
Căn thân thế giới không ngoài Viên Giác (diệt chơn đế);
Viên Giác thanh tịnh không do bốn bệnh mà thành (đạo chơn đế).
Cũng trong một số lời kinh, Phật quảng diễn nghĩa CHƠN, nghĩa này của chư Phật, nên là CHƠN mà không có ĐẾ bởi đã giác ngộ viên mãn.

“Như Lai, này các ông Như Lai là y như chư Phật xưa mà thuyết các pháp” (chơn mà không có đế).

“Nếu ta có một pháp gì để thành Đẳng Chánh Giác thì Phật Nhiên Đăng không thọ ký cho ta hiệu là Thích Ca Mâu Ni.” (chơn mà không có đế).

Ngoài những ý nghĩa đã nêu, bốn đế chính là quy trình giác ngộ và tu chứng của ba thừa. Nói là quy trình bởi lẽ quy trình này không thể đảo ngược, mà phải theo trình tự khổ, tập, diệt, đạo.

Quy trình không thay đổi, nhưng công nghệ để làm ra sản phẩm có thể thay đổi tùy sức giác ngộ mỗi thừa.

Thanh Văn giác ngộ nơi THÂN;
Duyên Giác giác ngộ nơi duyên dựa vào cảm THỌ;
Bồ Tát giác ngộ nơi TÂM;
Bồ Tát nhất thừa giác ngộ nơi các PHÁP.
− Ba thừa lấy mê lầm làm tập nhân, đồng thời cũng lấy đây làm chỗ diệt. Vì thế ba thừa muốn giác ngộ đầu tiên phải thấy khổ này do đâu, tức hiểu rõ khổ đế và tập đế.

− Thấy rồi phải biết cái gì là diệt, vì sao diệt được, nương nơi đâu để diệt, tức thấu suốt diệt và đế.

− Thấy như vậy mới biết làm thế nào để diệt này vĩnh viễn tịch diệt không tái sinh, tức đạo đế.

Chính thấy biết và giác ngộ sai khác nên ba thừa đồng dựa vào quy trình giống nhau để giác ngộ, tức dựa vào trình tự bốn đế để giác ngộ diệt đế.

Khi thấy được diệt đế cho riêng mình, mới biết đạo đế để tu. Do giác ngộ diệt đế không đồng và đạo đế tùy chỗ diệt phát sinh, nên ba thừa có ba cách giải quyết, tạm gọi là ba thứ công nghệ khác nhau để cho ra sản phẩm riêng mình, đây là kết quả tu chứng của từng thừa.

Ta có thể tạm ví dụ: Đồng một thứ nguyên liệu là gạo nếp và lá chuối, ba người làm ba thứ bánh. Đó là bánh ít, bánh ú, bánh tét. Đầu tiên người làm bánh phải xử lý gạo nếp và lá, sau đó gói thứ bánh mình cần, như vậy hình dáng và tên bánh có trước, tuy bánh này đã có nhưng chưa sử dụng được (khổ, tập, diệt). Bây giờ người gói bánh phải tùy theo loại bánh mà xác định thời gian nấu bánh (đạo). Thời gian và cách xử lý nhiệt khác nhau tùy từng loại bánh, xử lý đúng thời gian và nhiệt độ thích hợp mới cho ra sản phẩm có thể dùng được (đạo đế). Quy trình từ làm bánh đến nấu chín giống nhau, nhưng công nghệ xử lý khác nhau (37 phẩm). Tương tự có thể hiểu ba thừa như ba thứ bánh, đồng một quy trình từ khổ đến đạo, nhưng xử lý không giống nhau. Cũng đồng từ nguyên liệu khổ đau làm thành sản phẩm Niết Bàn.

Quy trình thì giống mà công nghệ lại khác, cho nên mới nói bốn đế nhiếp hết ba thừa. Tất cả kinh điển Phật dạy sở dĩ thấy có khác là vì quy trình và công nghệ không giống nhau này. Những ví dụ điển hình trên để thấy độ sâu của bốn đế không cùng, là giềng mối cho tất cả kinh điển Phật giáo.

Phật y nơi bốn đế để thuyết cho ba thừa khiến họ tùy theo công đức mà vào. Rất nhiều Phật tử không coi trọng bốn đế, không coi trọng nên không tìm hiểu ý nghĩa đích thực từng đế.

Không hiểu ý nghĩa đích thực từng đế nên không thể ứng dụng nơi đây làm căn bản giác ngộ. Không tự thuyết minh cho mình đâu là khổ, đâu là đế, đâu là bốn đế Thanh Văn, bốn đế Bồ Tát.

Do không tự thuyết minh được nên không tự giác ngộ ứng dụng tu hành, không biết tục đế, thánh đế, chơn đế thì không phân định giác ngộ đến đâu hết mê, đến đâu hết lầm.

Ba thừa lẫn lộn nên ứng dụng cũng lẫn lộn, lẫn lộn này dẫn đến thực hành không hiệu quả. Cũng cần phân định mê và lầm là hai pháp khác nhau, mê gồm cả lầm, lầm không gồm cả mê, do đó có thể hết mê nhưng chưa hết lầm (mê khác, lầm khác).

Trong kinh Phật cũng có ví dụ như người từ xa đi đến đầu làng, lúc chập choạng tối, xa xa thấy khối màu đen, không biết đó là đàn trâu hay dãy núi. Hoặc ví dụ sợi dây lầm là con rắn.

Thanh Văn, Bồ Tát quyền thừa hết mê, Bồ Tát nhất thừa mới hết lầm.

Ba thừa đều có khổ, chỉ khác nhau về tính chất và cái gọi là khổ (tục đế, thánh đế, chơn đế) nên tập, diệt, đạo đế khác nhau. Nếu chưa thành Phật thì thánh phàm đều có phần trong bốn đế, nhất định ba thừa phải có ĐẾ.

Từ đầu mối này phát sanh phiền não, khi tu hành cũng lấy đây làm đầu mối giác ngộ cho nên gọi là ĐẾ, vì thế tục đế, thánh đế, chơn đế khác nhau. Vì vậy, có thể kết luận bốn đế là để giác ngộ. Khi đã giác ngộ mới thấy biết phương tiện, nên bốn đế không thuần túy là công cụ tu hành. Bốn đế để giáo dạy cho người giác ngộ, học bốn đế là học làm thế nào để từ một pháp có thể giác ngộ.

Nếu chỉ chú trọng đến học thuộc số pháp trong mỗi đế (giống như mỗi lần làm văn người học trò chỉ mô tả đây là dàn bài kia thân bài còn đây kết luận), không phải bản hoài của chư Phật. Nên Phật dạy: “Không biết bốn đế là khổ đế.” Biết ở đây không phải biết theo cách lập luận thế gian mà biết thật nghĩa của danh và đế.

Nếu chỉ giải thích theo thế pháp, để làm thỏa mãn ý nghĩa văn tự thì đó là “không biết bốn đế” như lời Phật đã dạy.

Trừ chư Phật, còn lại ba thừa đều phải tu hành giác ngộ trong khuôn khổ bốn đế. Mỗi thừa thấy khổ sai khác, tập sai khác, nên diệt và đạo cũng sai khác, do đó ĐẾ của họ cũng sai khác. Có thể coi những hiểu biết nào Y ý nghĩa văn tự để giải thích khổ tập diệt đạo gọi là tục đế.

Tục đế là phần lý luận theo cách cắt nghĩa thế gian có tính lô-gíc để chiết phục dẫn dụ người đời chán khổ tìm con đường thoát ly nào đó. Cách giải thích này không chú trọng phần đế, tức không nói nguyên uỷ vì sao có tập và không đào sâu phương tiện ứng dụng chứng quả, chỉ giải thích khổ tập theo hướng nhân thừa thiên thừa. Cách cắt nghĩa vấn đề mang tính giáo thọ, đặt nặng giáo dục luân lý thế gian, và chỉ đưa ra một vài hình ảnh nhằm giới thiệu hệ thống giáo lý căn bản, vì thế Phật dạy: "Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế."[[4]]

Thánh đế bắt nguồn từ thánh giáo; với thánh giáo bốn đế vừa giảng giải cụ thể khổ tập, vừa đề ra phương hướng chứng diệt tu đạo, hướng người nghe thấm nhuần chân lý bằng cách đào sâu ý nghĩa của ĐẾ.

Quy kết đế là cơ sở phát sinh và nương tựa của tập nhân. Lý giải rằng nếu yểm ly đế thì tập không hiện, khổ chấm dứt, sau đó mới chỉ phương tiện làm cho đế trong sạch bằng phương thức giữ giới và yểm ly đế.

Đến khi tập nhân không còn sinh khởi gọi là thánh đế. Đế này phần lớn giáo Thanh Văn và Duyên Giác thừa, đôi khi cũng áp dụng với Bồ Tát quyền thừa.  Nhị thừa y như giáo điển của Phật, xuất gia giữ giới tu tập chứng quả theo đúng trình tự Tam Vô Lậu học: Giới-định-huệ bằng phương thức tiệm tiến trải qua bốn giai đoạn là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, rồi mới chứng quả vị rốt sau A La Hán. Quả chứng của hàng nhị thừa được gọi là thánh quả, y nơi thánh luật lập thành đời sống nên gọi là thánh hạnh. Chỗ chứng gọi là thánh đế, có danh xưng là thánh đệ tử từ miệng Phật sanh, khẩu hiệu được nêu lên: "Thấy khổ biết tập chứng diệt tu đạo.”

Chân đế thuộc về chân giáo, chân giáo dùng chân ngôn lập bày phương tiện chỉ thẳng nguồn mê, có nghĩa giác nơi giáo sẽ ngộ tính chân, tức là giác nguồn mê thì chân tự hiện. Chân giáo không như thánh giáo, tức không chỉ ra một phương tiện cụ thể, chỉ cần người nghe giác ngộ nguồn tâm tự biết mình phải làm gì, tức là ngộ ‘diệt đế’ sẽ thấu suốt ‘đạo đế’. Chân giáo là loại trí giáo của Bồ Tát quyền thừa.

Hạng Bồ Tát này tuy thiên về trí tuệ, dùng trí tuệ để giác ngộ Tam Giải Thoát môn, coi ba môn Không, Vô Tướng, Vô Tác là cửa vào thành Niết Bàn. Tuy đã giác ngộ ba cửa nhưng phải lần lượt tiệm tu để mở ba cửa này, sau đó vào thành khế chứng. Nên chỗ chứng gọi là chân đế mà không nói là chân bởi còn đế để tu tập và chứng quả.

Đời sống được gọi là phạm hạnh, có nghĩa là hạnh của phạm thiên hay hạnh thanh tịnh.  

Phật dạy: "Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật. Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế.

Hàng phàm phu có tập không có đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế. Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế.

Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có diệt có chơn đế.

Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có đạo có chơn đế.”[[5]]

Riêng Bồ Tát nhất thừa thì không nhân nơi giáo, từ thánh ngôn lượng thành tựu nên cũng không thông qua quá trình tu tập, vì vậy không đề cập đến ĐẾ.

Trong kinh Đại Bát Niết Bàn Phật có ví dụ minh họa vấn đề này: "Giống như ngà voi già, gặp trời gầm thì nổi vân," có nghĩa ngà voi chưa già hay sừng trâu trời gầm vân cũng không nổi hoặc ngà voi già mà trời không gầm cũng không nổi vân.

Trí tuệ và thánh ngôn lượng tương tác với nhau đúng thời sẽ thấy thiệt tướng, đây là đặc điểm của Bồ Tát nhất thừa. Cách giải quyết vấn đề của thừa này bất khả tư nghì, như Phật giải quyết 108 câu hỏi của Bồ Tát Đại Huệ trong kinh Lăng Già là một điển hình.

Muốn biết mức độ thâm sâu của bốn đế như thế nào, đoạn văn sau đây là phần trích nói về bốn đế trong kinh Hoa Nghiêm; đoạn kinh này có thể được coi là giáo trình chuẩn, giáo Bồ Tát về bốn đế. Trong văn kinh có đủ ba phần giáo là: Thánh giáo, chân giáo, và thánh ngôn lượng.

“Phật lại bảo Ca Diếp Bồ Tát: “ Có thánh hạnh là tứ thánh đế: Khổ, tập, diệt, đạo. Khổ là tướng bức bách. Tập là tướng có thể sanh trưởng. Diệt là tướng tịch diệt. Đạo là tướng đại thừa.

Lại khổ là hiện tướng. Tập là chuyển tướng. Diệt là trừ tướng. Đạo là năng trừ tướng.

Lại khổ có ba tướng: Tướng khổ khổ, tướng hành khổ, tướng hoại khổ. Tập là hai mươi lăm cõi. Diệt là diệt dứt hai mươi lăm cõi. Đạo là tu tập giới, định, huệ.

Nầy Thiện nam tử! Đại Bồ Tát Đại Thừa trụ nơi Đại Niết Bàn quán sát tham ái có chín thứ như vậy.

Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật. Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế.
Hàng phàm phu có tập không có đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế. Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có diệt có chơn đế.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có đạo có chơn đế.
Nầy Thiện nam tử! Thế nào là Đại Bồ Tát trụ nơi Đại thừa Đại Niết Bàn thấy diệt cùng thấy diệt đế? Chính là dứt trừ tất cả phiền não, nếu phiền não đã dứt thời gọi là thường. Dứt lửa phiền não thời gọi là tịch diệt. Vì phiền não diệt nên đặng hưởng thọ chơn lạc. Chư Phật và Bồ Tát vô nguyện cầu nên gọi là tịnh, chẳng còn thọ thân trong hai mươi lăm cõi nên gọi là xuất thế.

Do xuất thế nên gọi là ngã, là thường. Đối với sắc, thinh, hương, vị, xúc, nam, nữ, sanh, trụ, diệt, khổ, lạc, bất khổ, bất lạc, đều chẳng chấp lấy tướng mạo nên gọi là rốt ráo tịch diệt chơn đế. Đây là Đại Bồ Tát trụ nơi Đại thừa Đại Niết Bàn quán sát diệt Thánh đế.

Khổ là tướng vô thường, là tướng dứt được đó là thật đế. Như Lai tánh chẳng phải khổ chẳng phải vô thường chẳng phải tướng dứt được vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy.

Tập là có thể làm cho ngũ ấm hòa hiệp mà sanh, cũng gọi là khổ cũng gọi là vô thường, là tướng dứt được, đây là thật đế. Như Lai chẳng phải là tập, chẳng phải nhơn của ngũ ấm, chẳng phải tướng dứt được vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy.

Diệt là nói phiền não dứt diệt cũng là thường, cũng là vô thường, hàng nhị thừa chứng đặng gọi là vô thường, chư Phật chứng đặng thời gọi là thường, cũng gọi là pháp chứng đặng, đây là thật đế, Như Lai tánh chẳng gọi là diệt, có thể dứt diệt phiền não, chẳng phải thường chẳng phải vô thường, chẳng gọi là chứng tri, thường trụ không biến đổi, vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy.

Đạo là có thể dứt phiền não cũng là thường cũng là vô thường, là pháp có thể tu tập, đây gọi là thật đế. Như Lai chẳng phải đạo có thể dứt phiền não, chẳng phải là thường chẳng phải vô thường, chẳng phải pháp có thể tu tập, thường trụ chẳng biến đổi, vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy.”[[6]]

[[1]] Trích tóm tắt kinh Đại Niết Bàn.

[[2]] Trích kinh Hoa Nghiêm - HT Thích Trí Tịnh dịch.

[[3]] Trích tóm tắt kinh Phật Bản Hạnh Tập –HT Thích Trung Quán dịch.

[[4]] Trích kinh Hoa Nghiêm – HT. Thích Trí Tịnh dịch.

[[5]] Trích kinh Hoa Nghiêm –HT. Thích Trí Tịnh dịch.

[[6]] Trích kinh Hoa Nghiêm –HT. Thích Trí Tịnh dịch.

(còn nữa)
 

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

http://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/do-ta-roi-moido-nang

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

"Độ Ta" Rồi Mới "Độ Nàng"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 07.02.2023

Câu chuyện xảy ra cách đây trên bảy năm, lúc ấy Lý Gia còn lèo tèo... HĐ chừng dăm ba chục!!!

Một hôm, mình và một vị HĐ còn rất trẻ rủ nhau đi nhâm nhi cà phê ở một quán cóc ven đường... Sau một hồi tâm sự, mình nhìn ra “một cọng tóc công đức” nổi lên từ tâm thức vị HĐ ấy!!! Thế là mình quyết định đưa vị HĐ này vào quỹ đạo!!!

Ngặt nỗi, tuy trước khi gặp mình, vị HĐ này cũng có thời gian chừng bốn năm năm tu tập, nhưng kiến thức Phật đạo thì rất tạp nhạp, lơ tơ mơ, hiểu đâu sai đó... Mà thời gian quen mình lại quá ngắn, chưa kịp trang bị cho bạn ấy các kiến thức cơ bản... Nhưng, nhờ vị bằng hữu này là một kĩ sư công nghệ, mình lập tức khai thác nhanh chuyên môn của bạn ấy!!!

⁕ Mình hỏi bạn ấy: Bạn giảng giải cho mình, nguyên lí thu phát tín hiệu của chiếc điện thoại di động là như thế nào, có được không???

− Thế là bạn ấy thao thao bất tuyệt về công nghệ!!!

⁕ Mình lại hỏi: Bạn có bao giờ tự hỏi, vì sao chiếc điện thoại di động cũng thu phát tín hiệu mà vẫn bất động, an nhiên... Còn con người ta, khi thu và phát tín hiệu lại bị dao động và phát sinh phiền não hay không???

− Bạn ấy cười và bảo: Thầy so sánh thú vị thiệt, chuyện này con chưa từng nghĩ... Thầy phân tích cho con nghe đi!!!

Thế là cơ duyên đã đến, mình giảng giải cho vị ấy cơ chế sinh tâm, sinh pháp của một hữu tình!!!

⁕ Mình hỏi vị ấy: Như vậy, bạn có nhận ra sự khác biệt về cơ chế hoạt động khi thu phát tín hiệu của người và máy hay không???

− Bạn ấy trả lời: Con đã mơ hồ hiểu ra điều gì đó!!!

⁕ Thế, muốn thu phát tín hiệu một cách rõ ràng mà không phát sinh phiền não, theo bạn thì ta nên thế nào???

− Chỉ thu phát tín hiệu, nhưng tắt nguồn tâm thức!!!

⁕ Ha ha ha ha!!! Bạn hay đó!!!  Ngay tại thời điểm này, bạn có thể tắt cái “nguồn tâm thức lu bu” của mình được hay không???

− Bạn ấy ngồi chiêm nghiệm một hồi, rồi trả lời: Thưa Thầy được!!! Nhưng còn chập chờn và hay bị nhiễu!!!

⁕ Mình nói với bạn ấy: Mình truyền cho bạn một câu chơn ngôn... Bạn hãy tắt nguồn tâm thức, đồng thời dùng câu chơn ngôn này để hộ trì, nhằm giúp tâm thức tịch diệt những chập chờn do nhiễu loạn từ thấy nghe gây nên!!! 

Câu chơn ngôn đó là: “Thuê bao quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được, xin quý khách vui lòng gọi... lại... sau”!!! 

Bạn có nhớ câu chơn ngôn này không???

− Thưa Thầy con nhớ rất rõ!!!

⁕ Nào! Ngay từ bây giờ, bạn thử áp dụng nguyên lí tắt nguồn tâm thức và hộ trì bằng câu chơn ngôn đó, xem nó ra sao!!!

Thế là bạn ấy chìm trong công việc của bạn ấy, mình thì lặng lẽ bỏ đi đến một quán cà phê khác để nhâm nhi một mình!!!

Trong lúc nhâm nhi tách cà phê bốc khói, mình thầm nghĩ: May thiệt! Nếu bạn ấy làm tài khôn trong lúc trao đổi, đặt ra câu hỏi: “Tu là biến mình thành chiếc điện thoại di động hay sao hả Thầy!!!” Chắc chắn mọi thứ đã hỏng bét rồi, người không làm tài khôn cũng có cái lợi của nó!!!

Chừng một giờ sau, mình trở lại quán cà phê, vị HĐ ấy vẫn còn chìm trong bất động!!!

⁕ Mình đánh động vị ấy, và hỏi: Thế nào, khả quan không???

− Vị ấy chợt tỉnh và nói: Rất tốt Thầy ơi!!! Gần như đã tịch diệt đến 90% lăng xăng, phiền não!!!

⁕ Tốt lắm!!! Tốt lắm!!!.. Bạn có cảm nhận rõ những gì xảy ra chung quanh hay không???

− Cảm nhận mọi thứ xảy ra chung quanh rất rõ, nhưng tâm thức vắng lặng, không chút muộn phiền!!!

⁕ Bạn có thể duy trì được không???

− Mỗi lúc một tốt hơn!!! Con nghĩ là được!!! Không thành vấn đề!!!

⁕ .... …

Chiều hôm đó, mình lại gặp bạn ấy, và bạn ấy đã thật sự bay vào quỹ đạo!!! Mình lại tiếp tục giúp bạn ấy “mở nguồn”!!!

Kể lại câu chuyện này, mình chợt nhớ câu chuyện Ngài Xá Lợi Phất và người đệ tử trẻ trao đổi với nhau khi gặp người vót tên và con kênh dẫn nước trên đường đi khất thực, hình ảnh người vót tên và con kênh dẫn nước đã giúp vị đệ tử trẻ chứng quả Giải Thoát ngay tại thời điểm ấy!!!

Thế đấy các bạn!!! Công đức hội đủ, thời cơ chín muồi, thiện xảo phương tiện, v.v... nếu khéo biết tận dụng, có thể giúp người bay vào quỹ đạo xuất thế ngay hiện tiền không một chút khó khăn!!!

Đây cũng là lí do vì sao, các câu nói như: “Phật pháp bất ly thế gian pháp” hay “Nhất thiết pháp, giai thị Phật pháp” ra đời!!!

Câu này có nghĩa là, “tạp” hay “xảo” là do người sử dụng, một pháp tự bản chất của nó chẳng có tính chất thế gian hay xuất thế!!! Giống như con dao, thiện hay ác là do người sử dụng!!!

Hơn bảy năm trôi qua!!! Sau bảy năm miệt mài ôn luyện giáo pháp kể từ ngày đọc câu “thần chú tắt nguồn”, giờ đây vị HĐ của ngày ấy đã trưởng thành rất nhiều trong Phật đạo, không muốn nói, là một trong những HĐ kiệt xuất của chúng ta!!!

Các bạn!!!

Bài viết chỉ giúp các bạn tham khảo, để thấy sự diệu dụng từ câu nói: “Phật pháp bất ly thế gian pháp” của người xưa!!!

Khi chưa thông đạt giáo pháp, khi chưa biết tâm người, khi chưa thấy được lúc nào là thời cơ, khi chưa nắm vững kĩ thuật khai thị, khi chưa nhìn ra sợi tóc công đức của người nổi lên khi kẻ ấy bị chìm, v.v... 

Xin các bạn “ĐỪNG DÙNG THỬ” câu chuyện này!!!”; “DÙNG THỬ”, chẳng những nó không đem đến lợi ích, mà có thể khiến người phát sinh tà kiến!!!

“Độ ta xong, mới độ đến nàng...

Ta còn chìm nghỉm, đừng màng... độ... ai”!!!

 (08-07-2019)

Subscribe to