Tác Phẩm Lý Tứ

Văn Hóa Vô Ngã

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

TẢN MẠN BUỔI SÁNG

CHUYỆN XƯA - CHUYỆN NAY !!!

Các bạn !!!

Sáng nay mở máy, tính viết trả lời cho Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời Kì 38 !!! Vô tình đọc được chia sẻ của HĐ Lèn Kim Nhàn trong trang Lý Gia !!!

Đây là những dòng tâm sự, mình viết cho HĐ Lý Gia vào những năm 2011... Từ đó đến giờ, không có cơ hội đọc lại và mình cũng quên phén bài viết này !!! Nhưng, sáng ra gặp nó và đọc...Mới thấy giá trị bài viết vẫn còn nguyên, cho dù đã trải qua 10 năm !!! Như thế mới biết, thời gian có thay đổi, nhưng tâm tính một con người nếu không giác ngộ chắc thật thì, nhất định sẽ ”VŨ NHƯ CẨN” !!!

Xin giới thiệu đến các bạn bài viết của mười năm trước !!! Xin cảm ơn Lèn Kim Nhàn đã lục trong kho tạp vật của Lý Gia và chia sẻ bài viết này !!!

01/05/2020

LÝ TỨ

VĂN HÓA VÔ NGÃ

(Trích Anh Lạc Luận I - Tác giả Lý Tứ )

Các bạn !!!

Thời gian qua, HĐ chúng ta trao đổi rất nhiều điều của Phật đạo... Qua những trao đổi này, mình có một vài nhận xét sau:

1.1. Việc khen, hay chưa khen một đóng góp nào đó.

Có một số bạn thắc mắc, không biết vì sao, có khi một vài HĐ chỉ viết vài dòng sơ sài, hay một HĐ trình bày cái thấy “quách nhiên”. Đọc qua, thấy nó cũng tầm thường và hiển nhiên như vậy, tại sao lại được một số người khen...!!!

Xin trình bày ý nghĩa của việc khen:

Phật đạo giống như khoa học. Ví dụ, khi Newton nhìn quả táo rơi, ông ta phát hiện ra quy luật của sự rơi, hoặc Archimede khi thấy lông chân nổi trong nước, ông ta phát hiện ra sức đẩy của nước...Thật ra, trong một đời người không biết bao nhiêu lần nhìn quả táo rơi, hoặc thấy lông chân nổi trong nước. Với mọi người, những việc như vậy là cái gì tự nhiên nhất, đây là sự thật phải chấp nhận, không cần quan tâm...!!!

Thế nhưng cái được gọi là “bất phàm” của Newton hoặc Archimede ở chỗ, không thấy nó tự nhiên !!! Và nhờ những phát hiện “quách nhiên” này, sau đó nhân loại ứng dụng nó, cho ra bao nhiêu điều hữu ích...!!!

Người ta khen tặng, tri ân “sự phát hiện kỳ thú này” vì những lẽ như vậy. Còn những đóng góp do bởi kế thừa những phát hiện đó, dù tốt hơn cả ngàn lần cũng chỉ được mọi người ghi nhận, thế thôi!!!

Vì thế, một số người khen, là khen cái “bất phàm” khi ai đó phát hiện cái gì đó, mà trước đây mọi người chưa phát hiện. Còn những cái từ đây phát huy ra chỉ là sự ghi nhận đóng góp.

Chính lẽ này trong Phật đạo có hai chữ Giác và Ngộ, khen cái Giác Ngộ quách nhiên khám phá...Giống như khi Huệ Năng phát hiện ra: “Nào dè tự tánh thế này, nào dè tự tánh thế kia...” mọi người mới vỡ lẽ ra tự tánh như thế ấy. Sau này, từ cái phát hiện quý báu của Huệ Năng, người ta có thể nói cả ngàn cái nào dè, nói hay hơn Huệ Năng nhưng không được “tri ân” là vậy...!!!

Cho nên, cũng đừng nên thắc mắc vì sao người ta lại dựng tượng tri ân Newton, Archimede... mà không dựng tượng của mình. Cho dù mình đã làm ra cả ngàn cái tàu thủy vượt đại dương, rất hiện đại !!!

Hãy phát hiện cái bất phàm, và biểu lộ thông tuệ, thì sẽ được tri ân, đây là quy luật tự nhiên của nhân loại mà...!!!

1.2. Về phản biện.

Vấn đề này, về mặt “chủ quan” (tất nhiên là ý kiến riêng của mình, không phải chân lý), có gì đó còn tồn tại trong các bạn, mà chưa khắc phục được...!!!

Khi một vấn đề nào đó được nêu lên, có người phản biện. Một số bạn chưa có biểu hiện của sự dõng mãnh nhìn nhận chân lý, tức không thẳng thắng trao đổi và chấp nhận phản biện.

Phật Giáo là đạo của trí tuệ, tôn trọng chân lý, tức tôn trọng cái đúng. Cho dù cái đúng đó có chỉ ra mình đang sai. Trước đây mình có đề cập đến “sự nghiệt ngã của Thánh Pháp” là như vậy, qua sàng lọc này “một trí tuệ” đứng vững được không dễ !!!

Ở đời, người ta có mọi cách để loại đối thủ ra ngoài cuộc chơi bằng các tiểu xảo, mánh khoé, khôn vặt. Ví dụ ai đó nói về điều gì mà ta không, hoặc chưa được... Chỉ cần trổ một tí khôn vặt như, quay lưng bỏ đi không lý đến là xong, hành động này tuy đơn giản, nhưng đó là cách rất tự nhiên để “loại bỏ câu chuyện” !!!

Nhưng, nếu các bạn có dịp đọc các tài liệu khoa học, các nhà khoa học luôn sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình đến cùng. Khi biết phản biện bên kia có chân lý, họ thẳng thắn công nhận và xưng tán. Như vậy, trí tuệ mới là thứ đại diện chớ, đời còn vậy chẳng lẽ đạo tệ hơn!!! Trường hợp Phạm Chí Trường Trão khi tranh biện với Phật là một ví dụ về tư cách của một con người có trí tuệ !!!

Không dùng tiểu xảo loại đối phương, không quay lưng bỏ đi trước chân lý. Trí tuệ trong Phật đạo có biểu hiện của nó về nhân cách. Mong các bạn rút kinh nghiệm, để mọi vấn đề được sáng tỏ và tự hào rằng chúng ta là những người tôn trọng chân lý, cho dù có chút thiệt thòi !!!

1.3. Cách đặt vấn đề với nhau.

Khi đọc một số ý kiến của vài bạn, mình thấy ở đó hàm chứa cách lý luận bắt người nghe chấp nhận kết luận của mình, hơn là nói hay viết ra để tham khảo. Ví dụ:

Thấy như vậy là thấy Phật tánh! Bạn kết luận thấy như vậy về Phật Tánh đã đúng chưa? Hoặc làm như kia là thành Đẳng Chánh Giác! Ô hay, bạn hay là Phật mà kết luận điều này ???

Những câu nói đại loại như vậy là tự đóng cửa các ý kiến đóng góp của người khác. Đã kết luận, đây là chân lý, thì làm sao đóng góp được nữa !!!

Thú thật, khi đọc vài cái email, mình cũng hoang mang. Không biết bạn này đang dạy mình, và bắt mình phải học cái kết luận về chân lý của bạn, hay nhờ mình đóng góp ý kiến ??? Có lẽ chúng ta chưa quen “văn hoá vô ngã”, mong rằng những lời tâm sự này, các bạn ghi nhận để chừa một cánh cửa dù hẹp, cho anh em đóng góp với chứ !!!

Các bạn có thấy Huệ Năng khi trình bày một sở chứng, với câu nói bình dị nhưng mở cái cửa rất lớn, và dễ thương để Ngũ Tổ có cơ hội bước vào: “Nào dè nó như vậy thầy...” Nào ngờ chứ không phải quyết chắc nó như vậy... Và đây là cánh cửa để Ngũ Tổ bước vào công nhận... “Ừ! Thì nó như vậy...!!!”..."Văn hoá vô ngã” là như vậy đó các bạn ạ. Phải học thứ văn hoá này trước, rồi hãy bàn chuyện to lớn như Phật Tánh, Đại Niết Bàn sau !!!

1.4. Mối liên hệ giữa Tánh Giác và Phật Tánh.

Các bạn phần lớn nhầm lẫn giữa Tánh Giác và Phật tánh, nên đã kết luận rất vội vã. Trong kinh Đại Niết Bàn Phật có ví dụ: “Giống như sữa, lạc, tô, đề hồ...”

• Tánh giác giống như sữa, Phật tánh giống như đề hồ. Đành rằng có sữa, là có thể có đề hồ, nhưng sữa chưa phải đề hồ. Muốn sữa thành đề hồ, phải qua quá trình chuyển hoá gián tiếp là lạc và tô, quá trình này chỉ dành cho người thiện xảo làm đề hồ...!!!

Thành ra sự nhầm lẫn đáng tiếc kia, coi chừng giống như bột làm bánh, không khéo nhồi, sẽ bị “ốc trâu”. Khi bột thành ốc trâu thì, chỉ có vứt nó đi, bánh không ra bánh, bột không ra bột. Không tin hỏi chị em phụ nữ, bột làm bánh bị “ốc trâu” là gì ???

• Vì thế Bồ Tát sơ phát tâm, muốn trải qua Thập trụ để vào địa phải kinh qua bốn chục món trung gian là thập tín, thập nguyện, thập hạnh và thập hồi hướng... Đây là quá trình chuyển tiếp trung gian của lạc và tô, để cho ra món đề hồ trân quý. Theo kinh nói thì món này có thể chữa bá bịnh... Không tin hỏi Thế Tôn !!!

• Hôm qua ngồi nói chuyện với một vài bằng hữu. Một bằng hữu có kể, hôm trước khi đi đám ở một ngôi chùa, trong đó mọi người hô hào Phật tánh. Một vị phát biểu: “Phật dạy, mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, Phật nói vậy thì chỉ việc lấy Phật tánh ra xài là xong....”!!!???

* Vị này hỏi ý kiến của mình, mình có nói như thế này: “Câu này nghe qua thì thấy hơi đúng đúng, nhưng nó là thứ lý luận của trẻ con, của hạng người không chín chắn và không biểu lộ trí tuệ. Giống như mọi người đều biết, phía dưới trái đất có nhiều khoáng vật, ngoài biển khơi có nhiều dầu lửa. Biết như vậy, nhưng không phải hễ cứ đào xuống đất là gặp khoáng vật giá trị, hễ nhào xuống biển múc lên là gặp dầu...!!!

Kẻ ngu tin lý luận này, người trí thì không... Vì thế, ngành địa chất, thăm dò, khai thác mới ra đời...Chuyên môn hóa các lãnh vực đặc thù này không phải không học mà được. Học rồi còn phải có phương tiện hiện đại hỗ trợ, ra công đào xới, phân loại, đãi lọc... Đâu có dễ lấy vật quý, có giá trị bằng một câu nói...rất...trẻ...con !!! Hoặc như trường học có cấp bằng cử nhân tiến sĩ, nhưng đâu thể nghe nói như vậy là, nhảy vô hốt cái bằng đem về xài chơi !!!”

Thế đấy các bạn, người tu hành sao lại nhìn nhận một vấn đề giống như con nít, khiến kẻ trí thương hại... !!!

Mong rằng những lời thô thiển trên đây, có thể giúp một chút gì đó với các bạn trên con đường hướng về trí tuệ, nếu thấy không hợp lý thì xin bỏ qua hoặc cho ý kiến tốt hơn...!!!

26-08-2011

LÝ TỨ

ẢNH COPY TỪ FB AN VIÊN !!!

TẢN MẠN BUỔI SÁNG CHUYỆN XƯA - CHUYỆN NAY !!!

Tác Phẩm Lý Tứ

Thấu Suốt Ba Học Pháp Vô Lậu

MB 880 Lý Minh Dáp 07.02.2023

Các câu hỏi Trò chơi trí tuệ số 5.2017 về Ba Học Pháp Vô Lậu và một số gợi ý trả lời.

Các bạn! ... Có lẽ trong HĐ chúng ta, không còn xa lạ gì với ba học pháp vô lậu, tức Tam Vô Lậu Học. Đó là: Giới Vô Lậu, Định Vô Lậu và Tuệ Vô Lậu, đây là ba học pháp, nếu người học thấu suốt sẽ thành tựu Đạo Quả Vô Lậu ngay tức thì!

Trong các kinh Đại Thừa, Phật cũng thường khen ngợi ba học pháp vô lậu này! Sở dĩ Phật khen ngợi ba học pháp vô lậu này, vì tính chất vi diệu ba (3) trong một (1) của nó (trong giới có định, trong định có tuệ, trong tuệ có giới). Học Pháp Vô Lậu là nền tảng cơ bản của Tâm Tông, và chính là “độc đạo” dẫn người tu hành đến Vô Thượng Trí ở vị lai... Người tu hành không thấu suốt ba học pháp này, dù bỏ ra một đời, hai đời nhẫn đến vô lượng đời tu Giới Định Tuệ Hữu Lậu, giỏi lắm, cũng chỉ quanh quẩn trong vài quả vị nhỏ nhoi của Sắc Giới hay Vô Sắc Giới và có được một chút kiến giải lom com bán tự của giác cây, chứ chẳng thể nào tìm được một Lõi Cây Đích Thực của Đạo Xuất Thế!

Một vài lần nghe người tu hành (thậm chí có cả HĐ chúng ta) đàm luận về ba học pháp vô lậu, mình chợt nhận ra, Ba Học Pháp Vô Lậu đã hiểu thành Ba Học Pháp Hữu Lậu! Tức là từ một Học Pháp Xuất Thế, đã được hiểu thành Học Pháp Thế Gian, đó là:

− Giới Vô Lậu, họ hiểu thành Thế Gian Giới (tức cấm giới, điều răn, quy ước giới, Tỳ Kheo Giới, Bồ Tát Giới, Cư Sĩ Giới.) 

− Định Vô Lậu, họ hiểu thành các thứ Thiền Định hay Pháp tu của Thế Gian (hiểu sai nên gọi là Pháp Môn) đang được nhiều người ứng dụng tu hành mà Kinh Lăng Già, Phật gọi đó là “Ngu Phu Sở Hành Thiền” (mong thành tựu cứu cánh từ một sở pháp). 

− Tuệ Vô Lậu, họ kiến giải Phật đạo thông qua tri thức thế gian, hoặc dựa vào bán tự (bất liễu nghĩa) mà cắt nghĩa một pháp! 

Cái cớ sự hiểu sai này, đã dẫn người tu hành chạy vòng vo trong ba cõi, không thể nào thoát ra khỏi miệng chén Ta Bà, hà huống thành tựu Đạo Quả Xuất Thế. Hậu quả của nó, đã làm cho người tu hành nhọc công tốn sức mà ba cõi khổ còn nguyên trong tâm, kiết sử không giảm, thậm chí biến tướng từ hình thái này sang hình thái khác giống như “định luật bảo toàn năng lượng”....  Trong thời gian vừa qua, cũng có một vài lần, mình đề cập với các bạn ba học pháp này. Nhưng chưa phải thời, vì thế các buổi trao đổi đó, chúng ta chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu, đánh động hơn là “Đào Sâu, Mổ Xẻ” “Giới Định Tuệ Vô Lậu”!

Xét thấy đã đúng thời! Phần lớn HĐ chúng ta đã và đang tiếp cận Vô Lậu Pháp! Nay là lúc chúng ta cần hiểu tường tận và thấu suốt ba học pháp vô lậu này. Một khi thấu suốt, các bạn sẽ đón nhận Đạo Quả Vô Lậu từ tính chất vi diệu “Ba Trong Một” thậm thâm, mà như Chư Phật vẫn thường tán thán: “Đạo của ta không nhọc công, không tốn sức, chẳng phải thứ làm ra”!

Để chuẩn bị cho cuộc trao đổi các nội dung đã nêu, có vài câu hỏi, xem như “loại dầu máy” bôi trơn cỗ máy trí tuệ của các bạn, khi nó bắt đầu khởi động!...   Các câu hỏi như sau:

  • CÂU HỎI TCTT 2017/05 − BA HỌC PHÁP VÔ LẬU

1) Giới, Định, Tuệ (huệ) Vô Lậu là gì? Nó khác Giới, Định, Tuệ Hữu Lậu như thế nào?

2) Phải tu (thấu suốt) như thế nào, để có thể thành tựu Giới Vô Lậu, Định Vô Lậu và Tuệ Vô Lậu?

3) Vì sao thành tựu Giới Vô Lậu sẽ tự thành tựu Định Vô Lậu và Tuệ Vô Lậu mà không cần tu đủ hai pháp còn lại? Hãy giải thích rõ nguyên lý nào đã cho ra tính chất vi diệu ba trong một này?

4) Bạn hãy nêu một đoạn kinh Phật dạy cách thức tu hành mà trong đó chứa đựng nội dung, khi thành tựu Giới Vô Lậu, nhất định sẽ thành tựu Định Vô Lậu?

Rất mong nhận được trả lời lý thú của HĐ, nó là “Định Lượng Kế” tự xác định mức độ tiếp cận Văn Hoá Vô Lậu, chiều sâu thâm nhập Vô Lậu Pháp và trí lực từ Đạo Quả Vô Lậu!  (24-10-2017)

  • GỢI Ý... TCTT 2017/05 − BA HỌC PHÁP VÔ LẬU

Sau khi gởi câu hỏi, cũng giống như câu hỏi về kinh Dâng Hoa lần trước, mình hỏi về nhân địa tu hành, các bạn lại lấy quả chứng để trình bày. Giống như hỏi rằng: Hôm qua ông đi nhà hàng được ăn những món nào? Người kia lại trả lời: Tôi ăn rất ngon và thật no! Một cách trả lời cực kỳ vô lý và khó hiểu, khiến người nghe chẳng biết đường ở đâu mà lần. Trong những câu hỏi nêu lên, mình đâu có hỏi bổn tâm là gì, thanh tịnh ra sao, vô niệm thế nào, v.v... Mà mình chỉ hỏi cách tu hành như thế nào để thành tựu đạo quả vô lậu. Giống như Tỳ Kheo có 250 giới, Bồ Tát có 58 giới, Cư Sĩ có 5 giới gọi là hữu lậu. Như vậy vô lậu giới gồm có những giới nào, nó khác giới hữu lậu ra sao, ở điểm nào, cách tu vô lậu giới, v.v... để khi thành tựu giới vô lậu sẽ thành tựu hai vô lậu còn lại, nguyên lý nằm ở chỗ nào.

Tóm lại, những điều mình hỏi, không thấy trả lời, chỉ thấy các bạn đề cập đến cái mình thành tựu. Trả lời như vậy, sau này làm sao giúp người? Mục đích câu hỏi được nêu lên, nhằm giúp các bạn đào sâu từng pháp một, hiểu biết rõ ràng và cụ thể giới vô lậu khác giới hữu lậu ở điểm nào, vì có thấu suốt được cái gì là vô lậu giới, sau khi tu hành mới thành tựu vô lậu quả mà không cần kinh qua các thứ định hay thiền định, vì rằng trong vô lậu giới đã có chủng tử hai pháp kia.

Nói chung, muốn trả lời đúng, các bạn phải hiểu rõ câu hỏi. Cái mình cần là, muốn thấy khả năng phân tích, sự rạch ròi trong từng mỗi pháp của các bạn. Có làm được điều này, vị lai mới mong thành tựu trí tuệ! Rất mong nhận được những câu trả lời có trọng tâm, như pháp và có chỉ thú rõ ràng từ Các bạn! ...                                                                      (24-10-2017)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thần Thông

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Thần thông trong Phật Giáo là kiến văn giác tri thấu suốt hơn người, không chướng ngại. Khi vào đệ tứ thiền, với tâm trạng “bất khổ bất lạc”, vị ấy hướng tâm đến nơi nào, sẽ không kẹt mắc nơi đó. 

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có HĐ hỏi về thần thông trong Phật đạo, và cho rằng thần thông là biểu hiện của trí tuệ, mình xin trả lời như sau:

“Thần thông là biểu hiện của Trí Tuệ”. Đúng như vậy.

− Thần:   Hơn người.

− Thông:   Thông suốt, không chướng ngại.

⁕ Thần thông trong Phật Giáo là kiến văn giác tri thấu suốt hơn người, không chướng ngại. Khi vào đệ tứ thiền, với tâm trạng “bất khổ bất lạc”, vị ấy hướng tâm đến nơi nào, sẽ không kẹt mắc nơi đó.

Nếu tâm vào con mắt, không bị đẹp xấu làm ngại, nên gọi là nhãn thông. Vào lỗ tai không bị khen chê làm ngại, nên gọi nhĩ thông. Vào tâm, không bị quá khứ làm ngại, gọi là mạng thông. Vào người, biết tâm người tốt xấu không thật, gọi là tha tâm. Hướng ra thế giới, mau chóng biết thế giới như hoa đốm, gọi là thần túc. Đối với lậu hoặc phiền não, biết rằng đã đoạn trừ vĩnh viễn không thể sanh trở lại, gọi là lậu tận...

⁕ Thần thông của Phật đạo, là sự sáng suốt không ngăn ngại, như một người từ bóng tối ra ánh sáng, thấy biết sẽ không ngăn ngại. Nếu vị này có đủ năng lực giúp người cũng thấu suốt như mình gọi là Minh. Do đó, Thông có thể hiểu là “tự thấu suốt”. Minh là “biết cách giúp người thấu suốt”.

Vì thế Bồ Tát có vô lượng thần thông và vô lượng thần minh, điều này ta thường hay gọi là Lục Thông Tam Minh.

⁕ Thần thông là, vị ấy hướng tâm đến, hoặc hướng trí đến chứ không phải bê nguyên bốn đại này đến, không tin thì đọc ‘Sa Môn Quả’ sẽ thấy như vậy, giống như ruột cây lau được lấy ra khỏi vỏ lau, như lưỡi kiếm tuốt ra khỏi bao kiếm. Tâm hay trí thoát ly ra khỏi ràng buộc của thân bốn đại, chiếu đến đâu thấu suốt đến đó...

Nếu ở trong thiền định, đây là Ý Sanh Thân thứ nhất, gọi là ‘Tam muội lạc chánh thọ’ ý sanh thân. Nếu thấu suốt các pháp không tánh, đây là ý sanh thân thứ hai gọi là ‘Giác tự tánh các pháp’ ý sanh thân. Nếu vị ấy trí tuệ và hạnh nguyện viên mãn, chúng hữu tình đủ duyên sẽ thấy, đây là ý sanh thân thứ ba gọi là ‘Chủng loại câu sanh vô hành tác’ ý sanh thân.

⁕ Thần thông thứ sáu là Lậu tận, có nghĩa vị này biết rõ cách thoát ly vĩnh viễn ra khỏi bóng tối... Ai thấu suốt sáu thông sẽ thoát ly ra khỏi “sanh tử quan”. Ai biết rõ sáu minh sẽ đưa người ra khỏi “sanh tử địa.”

⁕ Thần thông của mình là câu nói xuất cách của Trang lâu rồi: “Thầy ở trong cái laptop này đây”... Khi nào có dịp “du hí vào đây” mình sẽ truyền cho bạn vô lượng thần thông mà chư Bồ Tát xưa từng “du hí”… Mình không định nói việc thần thông từ lâu, nhưng nhân câu hỏi của bạn, mình cao hứng “tiết lộ mật nhân” vậy.  

(14-08-2011)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Vô Sanh

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Vô sanh là, tâm và thức không còn sanh khởi các thứ hư vọng. Cụ thể, tâm không sanh phiền não, lậu hoặc, ba cõi. Thức không sanh pháp hư vọng...

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Vô sanh là gì???

- Vô sanh là, tâm và thức không còn sanh khởi các thứ hư vọng. Cụ thể, tâm không sanh phiền não, lậu hoặc, ba cõi. Thức không sanh pháp hư vọng...

- Thuật ngữ chỉ cho hai cảnh giới này là: ‘Vô sanh và vô sanh pháp nhẫn’, ‘Nhân không Pháp không’, ‘hai Vô ngã’... Thành tựu hai thứ này, ngã hư dối hoàn toàn tịch diệt, gọi là vô ngã, vị này chứng rốt ráo Diệt đế, viên mãn cứu cánh ba thừa, gọi là thành tựu cảnh giới xuất thế, hay xuất thế gian...

- “Vô sanh” hay “Diệt đế”, giống như nước tinh khiết. Thành tựu Tập đế như nước đã trong (vô sanh), Diệt đế như đem nước trong khử trùng cho thật sạch (vô sanh pháp). Đạo quả Vô sanh, gồm đủ trong và sạch, vĩnh viễn không còn bóng dáng tâm thức chúng sanh, nên nó chính là nhân Phật... Từ đây có được Pháp nhãn thanh tịnh, vị tu hành này với nhãn lực thanh tịnh, sáng suốt, siêu nhiên của bậc thánh, gọi là Thánh huệ nhãn, sẽ thấy được bổn tâm, thấy được bổn tánh, gọi chung là Minh tâm kiến tánh...

- Với cái thấy này, người tu hành mới có thể vào Đạo đế để học các pháp thắng diệu của Đạo, gọi là học Nhất thiết trí hay Bát nhã trí, còn gọi học Pháp Phật hay Tu Đạo Phật, tức lấy nhân Phật để tu luyện cho thành quả Phật.

Có nghĩa là, khi chứng Vô sanh mới hội đủ điều kiện học tập, trui rèn, tôi luyện để thành tựu trí tuệ của Phật, giống như trẻ con lên bảy tuổi, mới đủ chuẩn vào lớp một, quá trình tu tập này, phải hoàn thành mười một thứ trí.

- Để minh hoạ cho giai đoạn quan trọng này, Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn trong bài kệ của mình đã dạy: "Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích", có nghĩa là chưa chứng Diệt đế, chưa khai Pháp nhãn, chưa thấy được bổn tâm, chưa thể học Phật pháp, có học cũng không thể thấu đáo... Phật đạo gọi giai đoạn này là tu!!!

- Thông thường, người tu hành sử dụng chữ "tu" cho tất cả mọi giai đoạn trong Phật đạo, điều này không sai... Nhưng về chuyên môn mà nói, các giai đoạn từ biết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt trong Phật đạo chưa thể coi là tu, vì thế mới có chữ Tu Đạo ra đời và nằm sau Diệt đế. Chữ tu đạo chính thống, chỉ cho người tu hành sau khi chứng Vô sanh, đã Minh tâm kiến tánh, bước vào Đạo đế, tức là vào đó để tu... Giống như trẻ con bắt đầu đến trường...

- Vì sao lại như vậy??? Phật đạo là đạo trí tuệ, thành Phật là thành tựu trí tuệ, học đạo là học trí tuệ... Các giai đoạn từ một chúng sanh “vô văn phàm phu”, trải qua biết Khổ, dứt Tập đến rốt ráo chứng Diệt, vị chúng sanh này được Phật đạo dùng thuốc pháp chữa bệnh vô minh phiền não cho chúng sanh ấy... Có “bốn trăm lẻ bốn thứ bệnh căn bản” cần phải chữa, chữa lành mới có thể học trí tuệ của Phật đạo, các thứ bệnh đó là: Bệnh phiền não, bệnh tham dục, bệnh ái luyến, bệnh vô minh, bệnh lậu hoặc, bệnh ba cõi, bệnh khổ, bệnh sanh diệt, bệnh tham, bệnh sân, bệnh si mê, bệnh sinh ngã, bệnh sinh tâm, bệnh sinh pháp, bệnh chấp thủ, bệnh ba thừa, bệnh ngoại đạo, các bệnh về kiến, các bệnh về lậu, các bệnh hoặc, các bệnh về hữu, bệnh ba thời, bệnh hữu vi, bệnh phóng dật, bệnh nghi, bệnh nội, bệnh ngoại, bệnh mê tín, bệnh suy lường, bệnh đố kỵ, bệnh ganh ghét...v.v...

- Đại loại, từ thấy Khổ đến chứng Diệt chỉ là giai đoạn chữa bệnh, làm sạch ô nhiễm tâm trí, chứ không phải tu... Giống như, muốn tập điền kinh phải trị cái chân què, muốn học bắn cung phải chữa lành con mắt, muốn học đàn phải hết đau tay, muốn thành ca sĩ phải không bị ngọng... những động thái bắt buộc này, không gọi là học, cũng không nằm trong chương trình giáo dục, vì nó chỉ là điều kiện để được đi học!!!

- Sau khi hết bệnh phàm phu, hết bệnh thánh, bây giờ Phật đạo mới cho người này vào Phật học hiệu (trường dạy đạo Phật) để học các thứ thuộc về đạo của mình, giống như vào trường Y học đạo thầy thuốc. Phật học hiệu chuyên dạy các pháp mà một vị Phật đã chứng ngộ, học để thấu suốt sự chứng ngộ đó như thế nào, thấu suốt này gọi là thành tựu trí tuệ, thành tựu trí tuệ rồi mới thành Phật. Giống như phải vào trường Y để học tất cả những gì một bác sĩ cần biết, sau khi tốt nghiệp, mới trở thành bác sĩ... Và người có chuyên môn, không thể nhầm bệnh nhân đi khám, thành thầy thuốc chữa bệnh, vì thế mới nói, "chuyên môn không thể nhầm chữ tu"!!!

Vô sanh hay chứng Diệt đế là nền tảng quan trọng của Phật đạo, là điều kiện ắt có và đủ để học Phật pháp, chưa thành tựu quả vị này, chưa thể học các thứ của Đạo, chưa thể gọi là tu... Vô sanh hay Diệt đế, chính là kết quả của quá trình chữa bệnh, là kết quả của quá trình thanh lọc nước nhiễm ô thành nước tinh khiết... Từ nước tinh khiết, đủ cả hai điều kiện trong và sạch mới có thể biến thành cam lồ, đạo Phật là Đạo cam lồ, tức lấy cam lồ dập tắt lửa phiền não cho chúng sanh, nước chưa tinh khiết, chưa thể biến thành cam lồ, học tập Đạo đế là học biến nước nước tinh khiết thành nước cam lồ, Phật đạo gọi là tu...

Giống như ngoại đạo dùng lò Bát Quái để tu luyện Linh Đơn, tu xong hai con mắt đỏ... hoe... đỏ... hoét, vì tối ngày bị cay do khói ám!!! Ha ha ha ha!!!

Giống như con nòng nọc, tuy rằng nòng nọc thuộc giòng họ của ếch, nhưng chỉ có thể sống dưới nước, lên bờ là chết... Con nòng nọc muốn trở thành ếch thực thụ, phải đứt cái đuôi của nó, sau khi rụng cái đuôi, con nòng nọc chuyển mình thành ếch, bây giờ trở thành loài lưỡng cư, có thể sống trên cạn dưới nước, con ếch không thể nào quay trở về kiếp nòng nọc bằng cách mọc lại cái đuôi, gọi là Vô sanh...

- Vì thế, Đạo đế còn gọi là Đạo nhất thừa, là xe trâu trắng, là Phật thừa, là Nhất thừa, là độc đạo, là an ổn, là bất tử.

Đạo đế là con đường độc nhất để Bồ Tát đi đến Phật quả, con đường này không dành cho chúng sanh, đất khô không dành cho nòng nọc. Vì rằng, chúng sanh không thể học những thứ của Phật, giống như con nít còn bú không thể học tri thức người lớn, muốn học những thứ của Phật để thành Phật ở vị lai, phải tịch diệt rốt ráo tâm thức chúng sanh, đây chính là lý do vì sao quả vị Vô sanh ra đời, Phật cũng dạy: "lấy nhân Phật, tu mới thành quả Phật", có nghĩa nhân chúng sanh, không thể tu thành quả Phật... Con nít còn ngậm bình sữa, khóc oa oa, không thể thành... tiến... sĩ!!!

- Đành rằng, mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, có nghĩa trong chúng sanh có các đức tính như một vị Phật. Nhưng, đức tính đó đã bị cá tánh cùng tâm thức chúng sanh che khuất, cá tánh tập nhiễm lâu đời thành bệnh chúng sanh, trị hết bệnh, Phật tánh mới dần dần hiện ra. Từ lúc Phật tánh bắt đầu hiện cho đến viên mãn, phải được tu luyện bằng Đạo đế, tức phải trải qua quá trình học những thứ Phật đã chứng ngộ bằng trí tuệ của mình, học những thứ này, mới giúp Phật tánh viên mãn và thành tựu Phật trí, gọi là thành tựu Pháp thân Tỳ lô giá na hay quả Vô thượng Bồ đề... Giống như sau khi có viên ngọc, phải gia công mài dũa, viên ngọc mới sáng, mới cho ra giá trị đích thực!!!

Tóm lại, ‘Vô sanh’ là điều kiện bắt buộc, là điểm tập kết, là trạm trung chuyển, là quả vị trung gian... Để đưa ba thừa từ ba nguồn tuyển khác nhau, vào chung một Phật thừa để tu học trí tuệ của Phật, đây cũng là lý do vì sao có danh xưng Nhất thừa...

Nhất thừa đạo, sẽ được học toàn bộ chương trình giáo dục của Phật đạo, bao gồm:

1. Học hệ thống giáo dục.

Học chuyên sâu hệ thống giáo dục Phật giáo, nắm vững hệ thống giáo dục này gồm những gì, bao nhiêu cấp học, bao nhiêu lớp học, cấp nào học thứ gì, lớp nào học môn gì... Bốn đế là bốn cấp học trong hệ thống giáo dục Phật giáo, giống như bốn cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân... Gồm có, cấp biết Khổ, cấp dứt Tập, cấp chứng Diệt, cấp Tu đạo... Người học xong phần này, có thể mở Phật học hiệu... Tệ lắm, cũng làm cán bộ quản lý Phật học hiệu!!!

2. Học tất cả các quả vị và quy trình đào tạo.

Quả vị chính là lớp học, mỗi một cấp học có một số lớp học nhất định... Ví dụ: Ngoài đời, cấp một có lớp một đến lớp năm, cấp hai có lớp sáu đến lớp chín... Trong Phật đạo, cấp biết Khổ có Phát tâm trụ đến Tu hành trụ, cấp dứt Tập có Tu hành trụ đến Sanh quý trụ, cấp chứng Diệt có Phương tiện cụ túc trụ đến Quán đảnh trụ, cấp Tu đạo có Sơ hoan hỷ đến Bát địa, cấp Như Lai địa có Thiện huệ địa, cấp Phật địa có Pháp vân địa..v.v... Học xong chương trình này, có thể làm Pháp sư, dạy từ phàm phu đến Thập địa Bồ tát, trừ Như lai địa và Phật địa... Phật học hiệu thường xuyên tuyển dụng những người có chứng chỉ này, để làm các nghề từ nuôi dạy trẻ đến giảng viên!!! Thất học đến bác học, chứng chỉ này bó tay!!!

3. Học chương trình giáo dục.

Học chuyên sâu tất cả các chương trình giáo dục, tức học Ba mươi bảy phẩm. Học xong phần này, có thể thiết kế một chương trình giáo dục hoàn hảo cho bất kỳ loại hình tu tập nào... Có chứng chỉ này, có thể làm ở phòng kế hoạch, phòng tham mưu kỹ thuật, phòng thiết kế công nghệ giáo dục của Phật học hiệu!!!

Chương trình giáo dục, là các chương trình dạy học được thiết kế riêng cho từng loại hình học tập... Ví dụ: Ngoài đời có loại hình học tập chính quy, tại chức, nghề, trường khuyết tật... Mỗi loại hình học tập phải học một chương trình học tập được thiết kế riêng, nhằm phù hợp với loại hình học tập đó... Trong Phật đạo, ba thừa là ba loại hình học tập khác nhau, cho nên mỗi thừa có một chương trình giáo dục riêng, do đó đồng ba mươi bảy phẩm mà có tên sai khác như, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Trợ bồ đề, Đạo phẩm... Loại hình học tập này, không thể học chương trình giáo dục của loại hình học tập kia, vì không phù hợp với đối tượng, năng lực, hoàn cảnh, yêu cầu xã hội...v.v...

4. Học các môn học.

Đó là học chuyên sâu các môn học như thân, thọ, tâm, pháp, mười hai nhân duyên, vô thường, vô ngã, thiền, định, tam muội, giải thoát..v.v... Kể ra, có đến tám mươi bốn ngàn môn học... Học xong các môn này, có thể chữa tất cả bệnh của chúng sanh lẫn bệnh của thánh, Trừ Như Lai địa và Phật địa... Có chứng chỉ này, có thể làm ở phòng nha khoa học đường chuyên chữa sâu răng cho con nít, hay đi dạy trong Phật học hiệu!!!

5. Học kiểm định chất lượng và phương pháp kiểm tra.

Học cách thi cử, đánh giá năng lực, điều kiện tốt nghiệp của từng cấp học, gồm những môn học như: Tứ pháp ấn, tam pháp ấn, đệ nhất pháp ấn, Bồ Tát ấn, Như Lai ấn, Phật ấn... Học xong các ấn này, có thể xem mạch, bốc thuốc, đánh giá năng lực người học, iểm tra thành tựu quá khứ, lên kế hoạch cho cấp học vị lai... Chứng chỉ này, có thể làm chuyên viên phòng đào tạo và kiểm định chất lượng của Phật học hiệu... Ha ha ha ha!!!

Trên đây, chỉ gồm những gì được coi là khái quát nhất về ý nghĩa và tầm mức quan trọng của quả vị Vô sanh, cũng như hệ thống và chương trình giáo dục trong Phật đạo... Hy vọng bài viết mang tính chuyên môn này, sẽ giúp các bạn có cái nhìn rõ hơn và chuyên nghiệp hơn...  

(30-06-2011)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Đời Sống Của Năm Thừa

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Tu hành như pháp là tu hành có định hướng, có hành trình. Tu hành có định hướng, có hành trình và phù hợp với hoàn cảnh thực tế là cực kỳ quan trọng để tiến tới thành công!

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Hôm qua, mình có trao đổi với một vài bằng hữu về ba đời sống của năm thừa trong Phật đạo. Bây giờ xin chia sẻ lại với các bạn.

1. Đời sống dành cho Nhân, Thiên thừa.

- Là đời sống được xây dựng trên nền tảng của mười tập nhân. Từ mười tập nhân này, khi đủ duyên sẽ làm thành kiết sử, kiết sử lôi kéo trói buộc, khiến chúng sanh chịu nhiều phiền não, trôi lăn trong sáu đường. Sáu đường là kết quả của sự giao thoa giữa tập nhân và thấy nghe hay biết, kinh gọi là giao báo.

- Tập nhân không thật có, chỉ do huân tập lâu đời. Nếu không tu hành để giác ngộ, ôm giữ nó trong lòng, khi đủ duyên trở thành kiết sử, nhất định bất hạnh xảy ra đối với chúng sanh này là điều không tránh khỏi.

- Cho nên có thể nói, chúng sanh là những hữu tình lấy tập nhân làm đời sống, hay khác hơn, đời sống của họ là sự nối tiếp của những tập nhân (xin xem mười tập nhân và sáu giao báo trong kinh Thủ Lăng Nghiêm).

- Vì thế Nhân, Thiên thừa phải luôn cảnh giác, không tạo cơ hội để tập nhân của quá khứ kết thành quả kiết sử trong hiện tại. Phải biết ngăn chặn, quở trách các thứ duyên có liên hệ đến tập nhân và kiết sử, lâu dần tập nhân tịch diệt. Giống như người ta lỡ gieo phải hạt đắng, đã lỡ gieo hạt đắng, phải ngăn chặn quả đắng hình thành từ cây đắng, ngăn chặn bằng cách dừng các duyên chăm bón, hoặc đốn bỏ cái cây. Có bốn thứ duyên để từ nhân duyên hình thành quả báo, đó là: Nhân duyên, thứ đệ duyên, tăng thượng duyên và sở duyên duyên... Có một duyên để cây đắng vĩnh viễn khô héo là đẳng vô gián duyên...

- Đối với tập nhân trong lòng cũng như vậy, chỉ cần cảnh giác, ở yên không vọng tưởng, hộ trì thấy nghe. Nơi thấy nghe không chấp thủ để sanh ngã, giác ngộ sự huyễn hóa của vạn pháp... lâu dần tập nhân sẽ mất. Kiết sử không còn hiện khởi, nguy cơ bất hạnh trong đời sống sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất.

2. Đời sống Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát sơ phát tâm.

- Những thừa này xây dựng đời sống trên nền tảng Thánh hạnh. Thánh hạnh là một đời sống bao gồm Thánh kiến, Thánh trí, Thánh giới, Thánh oai nghi...

- Đây là loại đời sống được Phật “lập trình” sẵn, “cài đặt” vào người tu hành gồm cả lý và sự.

+ Lý: Gồm những kiến giải về căn thân, thế giới, sự nguy hại của những tiếp xúc không cần thiết, giá trị của hộ trì...

+ Sự: Gồm có, như thế nào là đời sống bậc Thánh, sự cần thiết phải giác ngộ, làm thế nào để giải thoát, cũng như phép tắc ứng dụng những nguyên lý cơ bản của hai pháp này..

- Ba thừa chỉ cần “khởi động và chạy theo hệ điều hành” này, mọi bất hạnh nhất định không có cơ hội hiện khởi, vì tất cả nguyên nhân dẫn đến khổ đau, sanh diệt đều đã bị triệt tiêu. Giống như một máy tính (computer) được cài đặt bởi hệ điều hành tốt và hỗ trợ bằng một chương trình diệt vi rút hiệu quả, máy này sẽ hoạt động bình thường, không trở ngại...

- Đời sống này, phần lớn thành tựu từ những kiến giải bán tự. Có nghĩa, mọi sự việc, mọi hiện tượng được cắt nghĩa thông qua biện chứng pháp, phép biện chứng này giải quyết thoả đáng những hoài nghi về phiền não sanh tử, học tập và ứng dụng triệt để những kiến thức đó, giúp người tu hành xa lìa thế gian đa sự, tịch diệt vĩnh viễn mọi nguyên nhân sanh khổ.

- Bán tự chỉ nhằm giải thích hiện tượng và chủ yếu triệt tiêu hiện tượng hơn là đề cập đến bản chất vấn đề. Nói chung đây là loại văn hóa yểm ly, được xây dựng trên một y báo hoàn hảo, từ y báo này giúp chánh báo giải thoát, chứng thanh tịnh bất động.

3. Đời sống của Bồ Tát nhất thừa và Phật.

- Đây là đời sống được xây dựng trên nền tảng Trí tuệ và Tứ vô lượng tâm. Trí tuệ là sự thấu triệt chân lý tuyệt đối, Tứ vô lượng tâm là sự diệu dụng của chân lý tuyệt đối này.

- Đây là văn hóa liễu nghĩa, văn hóa này ra khỏi nghĩ bàn của ba thừa. Nó là sự hoạt dụng từ chân lý tuyệt đối nên, đời sống, ngữ ngôn, hành động... không theo một lô gich thông thường!!!

Giống như người mẹ và đứa con. Khi đứa con khóc, người mẹ ru bằng câu ca dao hoặc tiếng à ơi!!! Lời ru bất kể mang ý nghĩa như thế nào, kết quả đứa bé sẽ ngủ ngon...

- Người mẹ không lý giải cho đứa con biết ý nghĩa của phiền não khi khóc, không phân tích lợi hại của thức hoặc ngủ, cũng không cắt nghĩa thấu tình đạt lý về câu ca dao hay tiếng à ơi... Nhưng lời ru đã làm cho đứa bé yên lòng nín khóc!!!

- Câu ca dao được người mẹ hát lên trong hoàn cảnh này, nếu đem phân tích trên bình diện ngữ ngôn thì, ý nghĩa câu ca dao hoặc lời ru à ơi không ăn nhập gì đến chuyện khóc hay nín, chuyện thức hay ngủ của đứa bé, thế nhưng khi đứa bé nghe được lời ru sẽ an vui!!! Đây mới là giá trị đích thực của người mẹ, nó chính là giá trị cao nhất của chân lý tuyệt đối, chỉ có người mẹ mới thấu triệt chân lý này, và chỉ có đứa con mới đủ sức cảm thụ hết ý nghĩa ẩn chứa trong đó!!! Điều gì đã làm cho đứa bé yên lòng, ý nghĩa lời ru hay ngôn âm của người mẹ??? Đây là điều khó hiểu của văn hoá liễu nghĩa!!!

- Nếu có một chuyên gia ngôn ngữ nào đó, khi nghe người mẹ ru con và phân tích ý nghĩa của lời ru, thì sự phân tích này chỉ đúng về ý nghĩa ngữ ngôn, giới hạn trong bình diện bán tự. Giá trị của những phân tích này nếu được ứng dụng, nhất định không cho ra kết quả thực tế như tiếng mẹ ru con. Và chuyên gia này nhất định thất bại trong việc làm mẹ, nếu chỉ nhờ vào sự thông tuệ mang nặng lý trí và những phân tích hàn lâm của mình!!!

- Vì thế, trong Thiền môn có thuật ngữ “dĩ tâm truyền tâm” có nghĩa lấy lời ru làm dứt phiền não của đứa trẻ. Cho nên "từ tâm" là một thành tố quan trọng của mãn tự. Khi có được tâm này, mọi ngữ ngôn, hành động đều có thể trở thành mãn tự!!!

Giống như Phật tuyên chú, những ngôn âm vô nghĩa, nhưng lại làm cho những học trò "thiểu năng trí tuệ", hay "chúng sanh dị biệt", có thể đạt thẳng cảnh giới thanh tịnh, phát sinh công đức. Công đức phát sinh không phải từ ý nghĩa câu thần chú, mà nó là hệ quả tâm lãnh nào đó của lời ru “yết đế ba la”!!!

- Không phải vô cớ mà mọi người tu hành đều gọi Thế Tôn là “Đấng Từ Phụ”, họ không gọi Phật là “Đấng Sư Phụ” tất nhiên là có nguyên nhân của nó... Danh hiệu Thiên Nhân Sư đối với Phật tử mà nói, danh xưng này mang tính đối ngoại hơn là tình cảm trong lòng.

- Nghe Phật pháp bằng Tâm, hiểu Phật pháp bằng Tâm là nghệ thuật cảm thụ, từ nghệ thuật này mới đưa đến Giác Ngộ chơn thiệt.

- Còn nếu, chỉ thuần túy phân tích ý nghĩa đúng sai cao thấp của một pháp bằng lý trí, đây chỉ là hành động thụ hưởng một nền giáo dục thế gian qua văn tự Phật Giáo. Điều này chỉ có thể hoàn hảo về mặt bán tự, cho dù ý nghĩa đó có cao tột đến đâu kể cả phân tích thế nào là mãn tự.

“Tu Bồ Đề thế lụy bi khấp...!!!". Cái khóc của một La Hán hôm nào, là pháp lành làm nên cơ duyên để Bát Nhã ra đời. Cái khóc này, mới là cảm thụ đặc biệt của đứa con trước lời ru của người mẹ, nhờ những lời ru đầu đời, đứa con trưởng thành theo năm tháng, vượt ra khỏi trói buộc của bán tự. Để rồi, một vị Thánh như Tu Bồ Đề phải thốt lên: “Hy hữu thay Thế Tôn!!! Thế Tôn thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát...”!!!

- Hy vọng phân tích nhỏ ở trên, có thể giúp mọi người có cái nhìn tổng thể bức tranh Phật Giáo. Một khi có cái nhìn này, sẽ tự điều chỉnh công việc tu tập của mình, loại khỏi tâm tưởng những gì cần loại bỏ, nuôi dưỡng trong lòng những gì cần nuôi dưỡng, để tìm thấy chân lý tuyệt đối qua những lời ru mãn tự của Đấng Từ Phụ...

- Mãn tự chỉ có từ chân lý tuyệt đối, và một đời sống xây dựng trên sức hoạt dụng của nó, gọi là bốn tâm vô lượng, vì thế kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: “Phật pháp lấy Từ Bi làm căn bản”.

Khi tâm Từ hiện khởi, thì mọi ý nghĩa, mọi ngôn thuyết đều là mãn tự. Thấu suốt “mãn tự” mới có thể giúp mình, giúp người hiệu quả.

Cũng trong kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: “Bồ Tát... thấy Phật tánh, thành Đẳng Chánh Giác...” Điều này có ý nghĩa quyết định khi người Phật Tử biết xây dựng cho mình “một đời sống tu hành như pháp". Tu hành như pháp là tu hành có định hướng, có hành trình. Tu hành có định hướng, có hành trình và phù hợp với hoàn cảnh thực tế là cực kỳ quan trọng để tiến tới thành công!!!      

Tác Phẩm Lý Tứ

Rượu Trần Cảnh

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Hãy ở yên nơi bầu trời thanh tịnh, rượu trần cảnh không quyến rũ được mình, lâu dần bệnh ghiền sẽ tự dứt.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Tập nhân, kiết sử, lậu hoặc… nói ra thì nhiều thứ, nhưng cũng chỉ xuất phát một tâm mê. Giống như người say rượu, say rượu không phải bản chất của con người, chỉ khi nào uống rượu họ mới say. Say rồi không biết trời trăng, ngủ ngoài cột đèn tưởng nhà mình, không biết nhà cửa tên tuổi đích thực. Khi tỉnh lại thì, cái say, cái mê không còn, bây giờ con người thật sự của anh ta sẽ trở lại. 

Người đời giống như kẻ say, người say rượu chỉ uống một thứ rượu và lâu lâu mới uống, người đời sáu căn uống sáu thứ rượu trần cảnh khác nhau và uống không kẻ hở, nên họ bị say suốt cuộc đời, say riết thành mê, quên luôn bản chất thật của mình, uống riết ghiền, không có sẽ nhớ và mong cầu, khi được sẽ sợ mất, đây chính là một trong những nguyên nhân sinh si, sinh ái. 

Người say chỉ cần không uống rượu thì sẽ hết say, người đời chỉ cần các căn không uống chất men trần cảnh thì hết mê. Rượu không làm ai say, chỉ vì có uống mới say, trần cảnh không làm ai mê, chỉ tại tham đắm mới si. Đơn giản, muốn không say đừng uống rượu, muốn không mê đừng tham đắm. Si sẽ mất trí khôn, mê sẽ mất thanh tịnh.

Hãy ở yên nơi bầu trời thanh tịnh, rượu trần cảnh không quyến rũ được mình, lâu dần bệnh ghiền sẽ tự dứt.    

(04-2011)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Ngũ Ấm Ma

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Phá ngũ ấm để có thể tiếp cận vị trí viên ngọc chơn tâm là việc làm hợp lý. Nhưng sẽ vô phương nhìn thấy hoặc sở hữu được viên ngọc này bởi những người mù loà chân lý và thiếu ngọn đuốc trí tuệ.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Theo mình, sẽ lợi ích vô cùng, nếu chúng ta nhận diện và hiểu rõ khái niệm Ngũ Ấm Ma... Khi nhận diện và hiểu rõ về các thứ ma này, nhất định người tu hành sẽ tránh được những trở lực không cần thiết trên con đường tu tập.

1. Vì sao Phật thuyết Ngũ ấm ma trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm?

Khi đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, người đọc dễ nhận ra Phật đã dành một chương để triển khai đề tài Ngũ ấm ma. Phật làm như vậy, nhất định đề tài này có tầm mức rất quan trọng, nhất là người học tập kinh này và ứng dụng vào việc tu tập...

- Cốt lõi kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật đề cập đến Chơn Tâm. Theo tinh thần kinh này thì, hết thảy hữu tình đều có chơn tâm. Nhưng, hữu tình không thấy được chơn tâm là vì chơn tâm đã bị hư vọng tâm che khuất...

Giống như cái lu đựng nước trong, bị lớp váng dầu mỡ nổi lên trên, qua ánh sáng tán sắc, lớp dầu mỡ nổi lên trên chiếu ra nhiều màu, chính các màu sắc này trở thành ngăn che, không cho thấy được phần nước trong nằm phía dưới nó. Nước trong dụ như chơn tâm, lớp váng dầu mỡ nổi phía trên dụ cho hư vọng tâm...!!!

- Hữu tình tuy rằng đồng có chơn tâm, nhưng sẽ không thể thấy được nếu vẫn còn “lớp váng ngũ ấm che chướng bên ngoài”... Vì thế, muốn thấy được chơn tâm, một cái tâm theo lời Phật dạy là: “Chân thật, thanh tịnh, bất động và không phiền não sanh diệt”... Thì điều kiện ắt có và đủ là, phải phá bỏ cái gì che chướng nó. Để cụ thể hóa sự phá bỏ này, trong kinh có đề cập đến công việc “phá ngũ ấm”...

- Chơn tâm nằm trong ngũ ấm, giống như viên ngọc quý được cất dấu trong một cái hầm có năm lớp bao bọc bên ngoài. Nếu chỉ đứng ở bên ngoài, rồi y như những thông tin đã có được về viên ngọc kia mà kiến giải về nó, cho rằng những kiến giải, những hiểu biết này chính là viên ngọc... điều này thật đáng tiếc, và không thỏa đáng đối với một Phật Tử chân chánh...!!!

Muốn thấy được viên ngọc, muốn nhận biết giá trị đích thực, muốn tận mắt chứng kiến vẻ đẹp, muốn sở hữu viên ngọc... Sẽ không còn cách nào khác hơn là phá bỏ, đập vỡ năm lớp vỏ đã bao bọc bên ngoài viên ngọc ấy... Theo ý nghĩa Phật đã dạy, ngũ ấm chính là năm lớp vỏ kiên cố đã che khuất viên ngọc chơn tâm...

- Muốn phá vỡ năm lớp vỏ ngũ ấm, trước tiên phải biết “nguyên lý cấu tạo ngũ ấm”. Và để phá vỡ nguyên lý hình thành năm lớp vỏ này, cần phải có một công cụ phù hợp, một công cụ chuyên dùng... mới có thể phá bỏ một cách hiệu quả...

Giống như người thợ hồ, muốn xây dựng một bức tường. Điều đầu tiên, người thợ này phải dùng một số vật liệu nhất định, như: Xi măng, cát, đá, gạch và nước. Người thợ hồ chỉ cần trộn những thứ này lại với nhau, sắp đặt theo một quy luật nhất định, bức tường kiên cố sẽ hình thành... Xi măng, cát, đá và gạch, bốn món này nếu không trộn với nước hoặc không ở trong môi trường có ẩm độ cao, thì bốn món này sẽ không có sự kết dính, nhất định “sẽ sụp đổ” nếu có một lực tác động đủ mạnh...

- Nguyên lý hình thành “mạng căn” và sự “tồn tại của bức tường ngũ ấm” cũng gần giống như vậy. Năm món: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức sẽ không trở thành mạng căn, sẽ không trở thành năm lớp vỏ kiên cố bao bọc chơn tâm, nếu ta biết “rút ra, loại bỏ” chất liệu làm cho năm món này kết dính bền vững... Một khi chất liệu kết dính đã được loại bỏ, làm cho nó khô cằn, vô hiệu hoá, việc xô ngã bức tường năm ấm sẽ không có gì là không thể. Và sau đó, việc tìm thấy viên ngọc nhất định rất dễ dàng...

- Để nhận biết điều này, chỉ cần lặng lẽ quan sát một người còn sống, và một người đã chết, ta có thể thấy sự khác biệt về hiện tượng xảy ra giữa “cái còn sống” và “cái đã chết”...

- Một người còn sống, khi bị xô ngã, lập tức người này đứng dậy.

- Ngược lại, một thây ma người chết, khi bị xô ngã, thây ma này sẽ không có phản ứng... Một người khi mạng căn được một thế lực nào đó duy trì, thì căn và thân người này không bị hư hoại. Và ngược lại, thế lực này mất đi, mạng căn không còn được duy trì, nhất định thân và các căn người này sẽ lập tức bị hư thối...

- Như vậy, cái gì làm nên chất kết dính, cái gì là thế lực duy trì mạng căn??? Quan sát thật kỹ, sẽ phát hiện ra chất liệu làm cho mạng căn tồn tại đó là ý thức. Một khi ý thức bị vô hiệu hoá, hoặc ra khỏi mạng căn, chủ thể cầm giữ, chất liệu kết dính của ngũ ấm không còn nữa, bây giờ ngũ ấm chỉ tồn tại dưới dạng “một liên minh lỏng lẻo” dễ bị xô ngã... Giống như cát, đá, xi măng, gạch để chung mà không có nước hay một độ ẩm nhất định dùng để kết dính!!!

- Để phá vỡ nguyên lý tồn tại bền vững của ngũ ấm, để có thể xô dẹp bức tường kiên cố che đậy chơn tâm. Phật chỉ ra rằng: “Rút thức ra khỏi năm căn, giết chết thức hoặc bức tử ý thức”!!! Phép tu Tam Ma Đề là một công cụ hữu hiệu điển hình...

- Giết chết thức bằng cách gì??? Thức tồn tại bằng cách đi vào sáu căn và nuôi sống bởi thức ăn phân biệt. Nếu bỏ đói, không cho nương tựa vào sáu căn để đón nhận phân biệt, điều chắc chắn là, thức tự diệt. Một khi thức không còn hiện hữu, không chế ngự sáu căn, bây giờ ngũ ấm không còn thế lực cầm giữ, không có chất liệu kết dính với nhau... Ngũ ấm không còn bền vững, một liên kết không mong muốn sẽ hình thành. Bây giờ ngũ ấm nếu có tồn tại, sẽ là sự tồn tại dưới dạng không tánh, rỗng suốt, có nghĩa tồn tại đúng bản chất "sắc, thọ, tưởng, hành, thức không phải năm lớp ngăn che”!!!

- Năm bức tường sắc, thọ, tưởng, hành, thức tồn tại dưới dạng rỗng suốt, sẽ trở thành năm lớp hư không. Năm lớp hư không, không thể cản trở việc thấy rõ, hoặc sở hữu một món đồ trong đó...

2. Thế nào được gọi là Ma?

Ma trong cách nói của Phật giáo, là thuật ngữ để chỉ một thế lực vô hình, không thực thể, nhưng có năng lực dẫn người vào các thứ sai lầm, đưa đến mê muội, mất tự chủ và không thể tìm thấy con đường giải thoát, hoặc trí tuệ bị u tối khi đi theo, hay làm đồ chúng của nó... Khác hơn, Ma ở đây là hiểu biết sai lầm, hiểu biết không như pháp, sự chấp chặt nào đó, dẫn dắt ta lạc lối, không thể giác ngộ hay giải thoát…

Khái niệm Ma trong Phật Đạo được Phật nói trong kinh, không hoàn toàn giống “khái niệm con Ma” như thế gian đã hiểu. Chữ Ma trong Phật Đạo nhằm chỉ đến một sự biến hiện nào đó của tâm thức, có năng lực lôi kéo, buộc người ta chấp nhận, đi theo cái không phải cứu cánh... Có nghĩa, y cứ vào sự nhận biết, nhận thức sai lầm ma quỷ này, sẽ không có cứu cánh an vui, giải thoát, không ra khỏi bóng tối vô minh...!!!

Trong kinh, Phật chỉ ra nhiều loại Ma như: Ngũ Ấm Ma, Ma Ba Tuần, Ma Vương, Thiên Ma... Các loại Ma này chính là cảnh giới biến hiện của tự tâm hoặc ảo giác khi ý thức bị bức tử, nó còn có thể là sự mê hoặc, hay những nhận biết, hiểu về một vấn đề không thấu tình đạt lý, một sự hiểu sai, cái thấy và hiểu không như chân lý. Đi theo con đường sai lầm này, Phật đạo gọi đó là Ma đạo. Ma đạo là con đường hoàn toàn trái ngược với Phật Đạo...

3.  Vì sao Ngũ Ấm Ma xuất hiện?

Như đã nói ở phần trên. Ngũ ấm là năm món che mờ chơn tâm. Năm món này tồn tại và duy trì bởi ý thức. Ý là chất liệu kết dính, thức là màu tối, là bức màn ngăn che. Hai thứ ý và thức chủ động làm cho năm món sắc, thọ, tưởng, hành, thức tồn tại trong u tối và trở thành tội đồ ngăn che chơn tâm gọi là ngũ ấm. Năm món này nếu chỉ tồn tại lỏng lẻo, thông qua chất liệu kết dính của ý, mà không có thức chen vào để ngăn che hay trói buộc, không gọi là ngũ ấm, mà gọi là “năm món giải thoát”...

Ngũ ấm ma là tên gọi của một bóng dáng, một sản phẩm của ảo giác, một loại tưởng, một sự nhìn nhận phi chân lý, hình thành trong quá trình ngũ ấm phân rã, không có sự cầm giữ của ý thức. Nó chỉ xảy ra trong hoàn cảnh ý thức bị bao vây, bị bỏ đói, bị cô lập, bị một sở pháp nhiếp, hoặc bị bức tử!!!

Ví dụ như người tu Tam Ma Đề thực hiện biện pháp đình chỉ phân biệt, thức bị bỏ đói nên yếu ớt, mất năng lực cầm giữ ngũ ấm. Hay ngoại đạo tu chỉ, bức tử ý thức bằng một sở pháp...v.v...

Khi ý thức bị bao vây, cô lập, cột chặt, đình chỉ, bức ngặt... Lập tức từng ấm thoát ly ra khỏi “liên minh ngũ ấm”, mạng căn đón nhận một “nghiệp mới”... Quá trình tự thoát ly của từng ấm này, cho hành giả một cảm giác lạ, cảm giác này không giống nhận biết thường nhật của não bộ...

Một khi não bộ bị ức chế, không còn nhận biết phương vị của thân và thế giới chung quanh được ghi nhận bởi ý thức, các ảo giác sẽ hiện, ảo giác này là một loại nhận thức của nghiệp mới... Vì lạ lẫm với “trạng thái tồn tại mới này”, nếu không nhận thức đúng đắn, không biết đây chỉ là sự biến hiện của ngũ ấm, sẽ lấy đó làm sở chứng, coi đây là sự thành tựu, hoặc lầm nhận như một thứ thần thông. Nói chung, nếu mê theo các ảo tưởng này, sẽ “nghiện” nó, mong chờ nó, và coi nó như chỗ thành tựu, thì sẽ bị nó dẫn dắt. Đó là một thứ “tà tinh tấn”, là Ma!!!

Thuật ngữ Ngũ Ấm Ma, dùng để chỉ cho những ảo giác này. Vì thế trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật dạy: “Đó là cảnh giới tốt... nhưng lấy đó làm sở chứng sẽ thành quyến thuộc của Ma...”

Vì sao gọi là cảnh giới tốt??? Vì có kềm chế ý thức.

Vì sao gọi là quyến thuộc của Ma??? Vì những thứ đó không phải cứu cánh của Phật Đạo...!!! Nếu người tu hành coi đây là thành tựu, căn cứ vào đó để tiến tu, thì sẽ rơi vào tà nẻo. Nếu không tự thoát ra, bị các ảo giác này trói buộc sẽ có một đời sống bất bình thường. Và một khi, ảo giác này cô kết thành nghiệp, sẽ trở thành điên loạn!!!

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật liệt kê có 50 ấm ma. Mỗi ấm sẽ có mười hiện tượng xảy ra khi ấm này bị tác động trước nguy cơ phá vỡ.

Ngũ ấm ma là sự chuyển biến ngoài mong muốn của thức. Mỗi ấm, khi không còn được “ý thức quản lý”, nó sẽ tự biến đổi tính chất, để trở về chân tính của nó. Quá trình biến đổi, một số hiện tượng khác lạ mà hành giả có thể cảm nhận được, đó là hiện tương thăng hoa và rực rỡ của từng ấm, nếu không được cảnh báo trước, điều này rất dễ làm người tu hành say đắm, coi như một thành tựu, hay là thần thông khi tu tập...

Sự thăng hoa và rực rỡ của từng ấm khi bị phá vỡ, giống như vàng và các kim loại chảy lỏng trong điều kiện đun nấu ở nhiệt độ cao, mỗi thứ kim loại khi nóng chảy, sẽ có sự rực rỡ riêng của nó, điều này trong kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi là “chơn tinh bị trào ra”... Có nghĩa cái tinh anh nhất của từng ấm trước nay bị thức nghiệp giam hãm, nay có dịp phát tiết!!!

4. Năm thứ Ma

Hiện tượng bùng nổ của từng ấm, có thể tóm lược bằng các cảm nhận sau... Và vì đây chỉ là “sự bùng nổ nhất thời” mang tính hữu vi, nếu người tu hành cảm nhận được nó, không coi đó là quan trọng, thì sự bùng nổ tự nhiên này sẽ là dấu hiệu tốt cho người tu tập... Còn ngược lại, đắm mê và coi đây là thành tựu thì, hiện tượng này “sẽ huân thành ngã”, và nó sẽ dẫn đến những kết quả không mong muốn. Phật Đạo gọi đó là Ma Ấm...

- Sắc ấm ma: Khi tập trung cao độ, ý thức dường như tê liệt, não bộ không còn là trung tâm điều phối mọi hoạt động của thân. Có nghĩa lúc này ý thức không còn năng lực nhận dạng hay định vị về thân, lập tức một ảo giác từ thân sẽ hiện khởi, như: Thân hoặc to lớn, thân hoặc nhỏ lại, thân hoặc mất hút, thân hoặc bay bổng, thân hoặc dài ra, thân hoặc lộn ngược...

Đây là hiện tượng sắc ấm thoát ly ra khỏi sự chi phối của ý thức, chơn tinh từ sắc ấm trào ra... Phật dạy: “Đó là cảnh giới tốt trong tu tập, nhưng đắm mê nơi nó, gọi là ma sắc ấm…”

- Thọ ấm ma: Khi thân thoát ra khỏi sự nhận biết bình thường của thức, hành giả cảm nhận một cảm thọ khác đang hiện hữu, không lệ thuộc bởi môi trường chung quanh. Đó là hiện tượng thoát ly của thọ ấm như: Cảm giác mát lạnh toàn thân, cảm giác không có cảm giác, cảm giác cực nóng, cảm giác trước thân thì nóng sau thân thì lạnh, hoặc ngược lại...

Đây là hiện tượng thọ ấm thoát ly ra khỏi sự chi phối của ý thức, chơn tinh từ thọ ấm trào ra... Phật dạy: “Đó là cảnh giới tốt trong tu tập, đắm mê nơi đó, gọi là ma thọ ấm…”

- Tưởng ấm ma: Khi hành giả cột chặt ý thức, bây giờ là lúc tưởng ấm tự do hoá hiện. Sự hoá hiện này được thiết lập dưới nền tảng từ những ghi nhận thuộc quá khứ trong tiềm thức. Các thông tin và hình ảnh không có thực trong hiện tại này, hiện ra như một giấc chiêm bao, lộn lạo và mơ hồ, nhưng cũng có lúc rõ nét, tùy vào tưởng nghiệp của mỗi cá nhân...

Một số hiện tượng sau đây xảy ra khi thức ấm thoát khỏi sự quản lý và định hướng của ý thức. Đó là: Trước mắt là những khuôn mặt khác lạ hoặc những hình ảnh nhảy múa, có lúc những cảnh vật nào đó mà hành giả chưa từng gặp trong đời hiện tại, có khi đó lại là một đoạn phim ngắn, có hoặc không có xuất xứ rõ ràng... Đại loại, tất cả những thứ này đều do tưởng sản sanh từ kho tư liệu khổng lồ tàng thức, phần lớn không thật trong hiện tại...

Đây là hiện tượng tưởng ấm thoát ly ra khỏi sự chi phối của ý thức, chơn tinh từ tưởng ấm trào ra... Phật dạy: “Đó là cảnh giới tốt trong tu tập, nhưng đắm mê nơi nó, gọi là ma tưởng ấm…”

- Hành ấm ma: Khi thức gần như hoàn toàn không còn áp đặt và làm chủ ý căn, ý căn trên đường trở về với cái rỗng suốt bản nhiên của nó. Đây là lúc “chơn tinh của ý phát huy hiệu quả tính độc lập của nó”...

Giai đoạn này, người tu hành có khả năng phân tích và hiểu thấu một số ý nghĩa mà trước đây bị trói buộc bởi các quan niệm, phong tục, tập quán, văn hoá, văn minh... Đó là sự thấu suốt một phần ý nghĩa đích thực của thiện, bất thiện, ác pháp... Tự giải thích thế nào là luân chuyển, thế nào là dừng, thế nào là sanh, thế nào là diệt... Nói chung, giai đoạn này, ý căn trở nên sáng suốt, một vài nét thông tuệ hiện khởi...

Đây là hiện tượng hành ấm thoát ly ra khỏi sự chi phối của ý thức, chơn tinh từ hành ấm trào ra... Phật dạy: “Đó là cảnh giới tốt trong tu tập, nhưng đắm mê nơi đó, gọi là ma hành ấm…”

- Thức ấm ma: Đây là sợi giây trói buộc cuối cùng của ngũ ấm được tháo bỏ. Với những hiểu biết mới từ hành ấm, thức ấm bây giờ trở nên thông tuệ... Sự nhận biết xuất xứ của căn thân và thế giới trở nên rõ rệt. Thức ấm tự thiết lập cho mình một quan niệm mới về nhân sinh và vũ trụ...

Một số luận thuyết về nhân sinh và thế giới hình thành từ giai đoạn này... Tất nhiên, đối với Phật đạo, những luận cứ này là tốt, nhưng không có ý vị giải thoát, vì nó là sản phẩm của hữu lậu... Nếu mê muội, dựa vào sự thấy biết này và cho đây là tối thắng, sẽ không có cơ hội giác ngộ...

Đây là hiện tượng thức ấm thoát ly ra khỏi sự chi phối của ý thức, chơn tinh từ thức ấm trào ra...Phật dạy: “Đó là cảnh giới tốt trong tu tập, nhưng đắm mê nơi đó, gọi là ma thức ấm…”

Tóm lại, sự bùng vỡ của năm ấm đối với Phật Đạo, gồm đủ hai mặt “tích cực và tiêu cực”...

- Về mặt tích cực, nó chính là cảnh giới tốt của người tu hành trong quyết tâm phá vỡ sự che chướng của ngũ ấm đối với chơn tâm...

- Về mặt tiêu cực, nó sẽ là ma, nếu người tu hành đắm chấp, coi như đây là sự thành tựu cao nhất, và nhất định bị nó sai sử để đi vào đường tà...!!!

Phá vỡ ngũ ấm, có phải đã thấy được chơn tâm???

Giống như viên ngọc được dấu kín trong một hang động sâu thẳm, tối đen có năm lớp ngăn che. Sau khi đập phá hết năm lớp ngăn che, viên ngọc sẽ hiện ra trong điều kiện có ánh sáng và một người mắt sáng.

Thì cũng vậy, chơn tâm sẽ xuất hiện khi ánh sáng giác ngộ rọi vào viên ngọc, và một người có con mắt tuệ sẽ tức thì nhận biết “viên ngọc chơn tâm” là đây!!! Vì thế, phá ngũ ấm là rút ngắn con đường dẫn đến giác ngộ, chứ việc làm này “chưa phải là giác ngộ”...

Phá ngũ ấm để có thể tiếp cận vị trí viên ngọc chơn tâm là việc làm hợp lý. Nhưng sẽ vô phương nhìn thấy hoặc sở hữu được viên ngọc này bởi những người mù loà chân lý và thiếu ngọn đuốc trí tuệ. Thực tế này đã xảy ra trong vô vàn người tu hành, do ‘chưa như pháp’ thấu đạt diệu lý, mà vội vã quyết tìm mọi cách bức tử ý thức để cầu mong phá vỡ ngũ ấm hay "cắt đứt mạng căn” là một hành động tự tử trong tăm tối!!!

Còn mù loà chân lý và chưa có ngọn đuốc trí tuệ dẫn đường mà quyết tâm bức tử ý thức và ôm giữ những thăng hoa rực rỡ của ngũ ấm, coi đây là thành tựu cao nhất, là những thấy biết phi thường, Phật Giáo gọi sự không thấu tình đạt lý này là đi theo con đường của ngũ ấm ma vậy!!!

5.  Kết luận

Tóm lại, Phật đạo là đạo giác ngộ và Phật pháp là loại giáo pháp được dẫn đường bởi ngọn đuốc trí tuệ. Tất cả mọi phương tiện trong Phật đạo đều bị chi phối bởi hai  phạm trù này. Vì thế, trước khi Phật dạy pháp Tam Ma Đề, Phật phải cất công giảng giải Kinh Thủ Lăng Nghiêm cho đến khi nào đại chúng giác ngộ ý nghĩa cơ bản của kinh này, bây giờ Phật mới tuyên nói pháp phương tiện...

Do đó, “giác ngộ cơ bản” là rất quan trọng, đây chính là ngọn đuốc sáng, giúp người tu hành không bị các thứ Ma của ngũ ấm tàn hại!!!                                        

(04-2011)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Ngu - Mê - Lầm

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Đừng vì Trần này mà sinh pháp, đừng vì Pháp này mà sinh tâm, đừng lầm có Tâm này mà sinh phiền não. Tắt lửa phiền não gọi là Niết Bàn.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Tu hành trong Phật đạo là để dứt đi ba điều, đó là Ngu, Mê và Lầm.

1. Thế nào là NGU.

Ngu là y nơi trần mà sinh pháp. Trần gồm sáu trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Những ai khi xúc đối, không y theo trần để sinh pháp, kẻ này vĩnh viễn dứt ngu, kinh gọi là minh xúc. Người có được minh xúc ra khỏi phàm phu căn, từ đây mới mong nhìn thấu bản chất sự việc, không chạy theo hiện tượng, có thể tự mình dứt khổ, vị lai có thể giúp người thoát khổ. Không biết điều này thì gọi là người chưa biết Đế. Vì thế Phật dạy: “Phàm phu có khổ mà không có Đế...”

2. Thế nào là MÊ.

Mê là y nơi pháp đã sinh mà sinh Tâm. Tâm là gì? Tâm là hiệu ứng của mê pháp. Pháp là gì? Pháp là những khái niệm không thật của ý thức, vì thế còn gọi là huyễn pháp. Người nào không mê huyễn pháp để sinh huyễn tâm sẽ được thanh tịnh. Không biết điều này gọi là không biết Đế. Vì thế Phật dạy: “Các vị Bồ-Tát hiểu tập, không có tập mà có chơn đế. Hàng Thanh-Văn Duyên-Giác có diệt mà chẳng phải chơn”.              

3. Thế nào là LẦM.

Lầm là chấp rằng tâm thật có rồi sanh phiền não. Lầm là nghĩ rằng có ba cõi khổ cần phải thoát ly. Mà không biết rằng Tâm như bóng cây, chỉ là hiệu ứng của pháp mê, nên tâm không thật. Tâm đã không thật thì ba cõi khổ cũng không thật. Không biết điều này gọi là không biết Đế. Vì thế Phật dạy: “Khổ là tướng vô thường, là tướng dứt được, đó là thật Đế. Như-Lai tánh chẳng phải khổ chẳng phải vô thường chẳng phải tướng dứt được, vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy...

Tập là có thể làm cho ngũ ấm hòa hiệp mà sanh, cũng gọi là khổ cũng gọi là vô thường, là tướng dứt được, đây là thật Đế. Như-Lai chẳng phải là tập, chẳng phải nhơn của ngũ ấm, chẳng phải tướng dứt được vì thế nên là thật. Hư không và Phật tánh cũng như vậy”.

Vì thế, một chữ Đế nếu thấu suốt sẽ tự mình dứt khổ và khiến người dứt khổ, không thấu suốt thì, cũng chữ Đế nhưng có đủ tính chất của Ngu, Mê và Lầm. Và một điều quan trọng, nếu không thấu suốt chữ Đế, mọi cắt nghĩa về bốn đế đều là Khổ Đế!!!

- Các bạn có bao giờ nghĩ rằng: Bốn Đế cũng là một Trần chăng!!!??? Đừng vì Trần này mà sinh pháp, đừng vì Pháp này mà sinh tâm, đừng lầm có Tâm này mà sinh phiền não. Tắt lửa phiền não gọi là Niết Bàn.

(04-2011)

Tác Phẩm Lý Tứ

Chân - Vọng

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Những tánh chất hư dối sanh khởi khi mê thường không chân thật, không chân thật nên gọi là vọng, vì vọng nên nó vô thường, vì vô thường nên khi vầy khi khác. Cho nên khi mê, sẽ sinh các lỗi của mê, đó là: Vọng kiến, vọng tưởng, vọng cầu, vọng tình, vọng tâm, vọng thức ..v.v...

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Nghĩ suy là tính chất tự nhiên của ý, ...như cái thấy là tính chất tự nhiên của con mắt, cái nghe là tính chất tự nhiên của lỗ tai...

- Các tính chất tự nhiên này, gọi là tánh thấy, tánh nghe, hay báo thấy, báo nghe và các tính chất này thường trực, tức thường thấy thường nghe... Có vật thì thấy vật, không có vật thì thấy không, bịt con mắt sẽ thấy màu đen, mắt tạm dừng hoạt động như ngủ say sẽ thấy chiêm bao, mắt không còn hoạt động như người chết sẽ thấy thiên đường hay địa ngục...

Tất cả những tính chất của thấy, nghe, ngửi, nếm, nóng lạnh, nghĩ suy, hiện khởi không thông qua các căn, gọi là “giao báo”.

- Một điều đặc biệt, tuy rằng các tính chất này là thường, nhưng nó lại không có tánh, gọi là không tánh, hay tự tánh thanh tịnh... Trong cái thấy, không có tánh đẹp tánh xấu, vì thế tánh thấy tự thanh tịnh. Trong cái nghe, không có tánh hay tánh dở, vì thế tánh nghe tự thanh tịnh. Trong cái ngửi, không có tánh thơm tánh thối, vì thế tánh ngửi tự thanh tịnh. Trong cái nếm, không có tánh ngọt tánh đắng, vì thế tánh nếm tự thanh tịnh. Trong xúc chạm, không có tánh lạc tánh khổ, vì thế tánh xúc tự thanh tịnh. Trong nghĩ suy, không có tánh vui tánh buồn, vì thế tánh biết tự thanh tịnh...

- Tuy rằng những tính chất tự nhiên này không có tánh, nhưng khi mê một đối tượng nào đó, các tánh hư dối sẽ hiện khởi, gọi là hư vọng tánh...

Ví dụ, thương một ai, sẽ thấy người đó đẹp, ngược lại lúc ghét sẽ thấy họ xấu, vì sao lúc thấy đẹp lúc thấy xấu??? Vì người đó và cái thấy của ta không có tánh đẹp tánh xấu, nếu một trong hai thứ này có tánh thì, đẹp sẽ đẹp hoài, xấu sẽ xấu mãi... Hoặc một bản nhạc, lúc vui nghe rất hay,  lúc buồn nghe dở bẹt, bản nhạc không tánh, cái nghe cũng không tánh, nên mới có lúc hay lúc dở. Khi đói, suy nghĩ đến thức ăn, suy nghĩ này không làm mình no, vì suy nghĩ không có tánh no và thức ăn cũng không tánh hết đói, nếu thức ăn có tánh no, ăn một lần vĩnh viễn sẽ không đói, nếu suy nghĩ có tánh no, chẳng cần kiếm ăn, chỉ cần suy nghĩ thì sẽ hết đói. Lúc lạnh, suy nghĩ về lửa, suy nghĩ này không làm mình ấm lên, vì suy nghĩ không có tánh nóng, và lửa cũng không có tánh lửa, nếu lửa có tánh lửa, lửa sẽ không bao giờ tắt, nếu suy nghĩ có tánh ấm của lửa, chẳng cần mặc áo len lúc trời lạnh...v...v...

- Xét tột cùng, sẽ thấy được bản chất của pháp và trần, tức bản chất của nhận thức và bản chất của đối tượng đều rốt ráo không, tức là không tánh, không tướng, không hữu, không vô, không mê, không giác, không vọng, không chân, thường tự thanh tịnh, thường tự giải thoát!!! Nhưng, nếu không thấy được bản chất này, tức chẳng giác ngộ thiệt tướng, khi xúc đối sẽ vọng sanh các tính chất hư dối, sanh các tính chất hư dối gọi là mê, mê tức chẳng thức ngộ... Một khi đã mê, cái vọng hiện lên che lấp cái chơn!!!

- Nhìn chung, những tánh chất hư dối sanh khởi khi mê thường không chân thật, không chân thật nên gọi là vọng, vì vọng nên nó vô thường, vì vô thường nên khi vầy khi khác. Cho nên khi mê, sẽ sinh các lỗi của mê, đó là: Vọng kiến, vọng tưởng, vọng cầu, vọng tình, vọng tâm, vọng thức ..v.v... Tức sanh khởi cái không chân thật trong lòng, khi mà đối tượng của các căn là các trần, không có những tính chất như vậy. Nếu ta chấp chặt vào các tính chất hư nguỵ này, sẽ bị chính cái hư dối đó cột trói và sanh phiền não... Sở dĩ bị nó cột trói và sanh khởi phiền não vì, những tính chất này không có chân lý, không có chân lý nên nó vô ngã, vô thường!!! Nếu nó là chân lý, sẽ hiện đủ bốn đức tính cao quý là thường, ngã, lạc, tịnh!!!

- Một trong những thứ giác ngộ của Phật đạo, đó là giác ngộ bản chất của thân, tâm, các pháp và thế giới đều không tánh, tức biết rõ các thứ ấy tự thanh tịnh, thường giải thoát, thường bất động, và luôn luôn an lạc, gọi là giác ngộ bản chân. Chỉ do mê, cái mê che lấp những thứ tốt đẹp vừa kể... Giống như một bức tranh quý, bị cái áo rách bao phủ lên nó, giống như miếng gỗ chiên đàn để trong nhà xí!!!

- Giác ngộ như vậy rồi, người trí đối trước muôn cảnh muôn duyên, chẳng khởi lên các thứ vọng, cũng chẳng cầu thấy cái chân. Không khởi vọng chẳng cầu chân gọi là như như, trong cái như ấy, bản tâm tự hiện...!!! Giống như người sáng mắt đứng giữa ban ngày, không cầu thấy cũng được thấy, không cầu sáng cũng được sáng!!!

Vài lời tâm sự cùng các HĐ...

Mong rằng, sau bài viết này, mọi người sẽ thành tựu điều gì đó để làm lợi cho mình, làm lợi cho người!!! (01-2011)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Duyên Hòa Hợp

MB 1157 Lý Mỹ Linh 07.02.2023

Ba duyên hoà hợp, là cụm từ nhằm chỉ cho ba món căn, trần, thức hoà nhập vào nhau để sanh các pháp (nhận thức, khái niệm, quan niệm)

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

1. Ba duyên gồm: Căn, trần, thức...

Căn: Một người có sáu căn (lục căn) tức là sáu giác quan. Đó là: Nhãn căn (con mắt), nhĩ căn (lỗ tai), tỷ căn (lỗ mũi), thiệt căn (cái lưỡi), thân căn (cái thân), và một căn bên trong đó là ý căn (cái ý)... Sáu căn hay sáu giác quan, là công cụ chính yếu để con người dùng nó giao tiếp với thế giới bên ngoài (năm căn trên thân), hoặc giao tiếp với thế giới nội tâm (ý căn)...

Sáu căn tự nó thanh tịnh, không có nhận thức thiện ác, tốt xấu v.v… gọi là “không Tánh”...

Trần: Là các đối tượng bên ngoài thân hay bên trong thân, khi căn tiếp xúc sẽ nhận biết về nó... Mỗi một căn, tiếp xúc và nhận biết về một đối tượng nhất định... Đối tượng bên ngoài, gọi là ngoại trần, đối tượng bên trong, gọi là nội trần... Có sáu đối tượng để sáu căn tiếp xúc, gồm năm đối tượng bên ngoài là: Sắc trần do con mắt thấy được, thanh trần do lỗ tai nghe được, hương trần do lỗ mũi ngửi được, vị trần do cái lưỡi nếm được, xúc trần do cái thân cọ xát nhận biết... Và một đối tượng bên trong, đó là nghĩ suy do ý nhận biết (nghĩ suy do ý nhận biết gọi là pháp)... Chữ Hán gọi sáu đối tượng này là lục trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp...

Sáu trần tự nó giải thoát, không có chức năng trói buộc...

Thức: Sự hiểu biết... Có sáu sự hiểu biết khác nhau về sáu đối tượng khi căn tiếp xúc với trần... Chữ Hán gọi là lục thức. Sáu thức hay sáu sự nhận biết, đó là: Nhận thức thuộc về con mắt, gọi là nhãn thức. Nhận biết thuộc về lỗ tai, gọi là nhĩ thức. Nhận thức thuộc về lỗ mũi, gọi là tỷ thức. Nhận thức thuộc về cái lưỡi, gọi là thiệt thức. Nhận thức trên thân gọi là thân thức. Nhận thức nằm trong nghĩ suy, gọi là ý thức...

  • Sáu thức hay sáu sự nhận biết, tự nó không có tánh, không có tướng, nếu mê nơi nhận thức, sẽ bị nhận thức trói buộc, sanh các thứ tánh hư dối đó là tánh tham, tánh sân...

  • Nếu nhận thức mà không bị mê, không bị nhận thức cột trói, sẽ không sanh phiền não... Khi nhận thức “bị mê” gọi là “thức”, khi nhận thức mà “không mê” gọi là “trí”...

2. Ba duyên hoà hợp.

  • Khi căn đối trần, khởi lên nhận thức phân biệt về đối tượng mà mình đang thấy nghe... Rồi chấp thủ hoặc chạy theo nhận thức này, và bị nó cột trói, từ đó phiền não sanh khởi... gọi là “Duyên mê” hay “hoà hợp duyên”...

  • Khi căn đối trần, không khởi lên nhận thức phân biệt, hoặc khởi lên nhận thức mà không mê nơi nhận thức, không chấp thủ nhận thức đã sanh, không để cho nhận thức cột trói, trong lòng rỗng rang, thanh tịnh, bất động... gọi là “Tịnh duyên” hay “bất hoà hợp duyên”...

3. Các cách đoạn trừ.

Ba duyên hoà hợp, là cụm từ nhằm chỉ cho ba món căn, trần, thức hoà nhập vào nhau để sanh các pháp (nhận thức, khái niệm, quan niệm)...

  • Tu hành là làm cho ba duyên này không nhập vào nhau, bằng cách: Dừng phân biệt, đoạn một trong ba duyên, đình chỉ nhận thức... Làm được như vậy, phiền não không thể sanh khởi.

  • Hoặc ba duyên phối ngẫu nhưng sáng suốt, gọi là minh xúc. Tức có xúc đối, nhưng không bị mê mờ để sanh các thứ tâm tánh hư dối, gọi là thấy biết thanh tịnh. (01-2011)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Subscribe to