Về… Tham Sân Si Và Ba Cõi; Đẳng Giác; Diệu Giác
Dấu hiệu nhận biết còn hay đã ra khỏi “ba cõi” bằng cách đối chiếu với "tham, sân, si"

Các bạn! ... Dấu hiệu nhận biết còn hay đã ra khỏi “ba cõi” bằng cách đối chiếu với "tham, sân, si":
− Còn tham, biết còn đang kẹt nơi cõi dục.
− Còn sân hận, biết còn đang kẹt mắc nơi cõi sắc.
− Còn si mê, biết còn bị trói buộc nơi vô sắc... Khi nào trong lòng không còn ba thứ này, biết đã ra khỏi “ba cõi”
ĐẲNG GIÁC: Điều gì Phật xưa nói, Phật nay hiểu liền. Giống như người kia có khối vàng, người nay cũng có khối vàng bằng như vậy, gọi là “Đẳng”. Còn điều gì của Phật nói mà ta chưa hiểu, chưa gọi là đẳng. Đẳng giác chính là đồng Bản Giác với Chư Phật... (cùng thành tựu “Từ Tâm”)
DIỆU GIÁC: Phật trước có bao nhiêu phương tiện, thuyết bao nhiêu pháp, Phật nay cũng có bấy nhiêu phương tiện và thuyết bấy nhiêu pháp gọi là Đẳng. Giống như người kia làm được bao nhiêu nữ trang hay các món đồ trang sức bằng vàng thiện xảo thì người nay cũng làm được bấy nhiêu món, chưa làm được như thế, chưa gọi là diệu. Diệu giác chính là đồng thiện xảo giáo hoá như Chư Phật (cùng thành tựu “Bi Tâm”) (30-10-2016)
Kinh Kim Cang - Niệm Của Tâm Tông
Nếu Bát Nhã Tâm Kinh là con mắt, là trí tuệ thì Kim Cang chính là tâm, là niệm của Tâm Tông.

Các bạn! ... Nếu Bát Nhã Tâm Kinh là con mắt, là trí tuệ thì Kim Cang chính là tâm, là niệm của Tâm Tông. Nếu Bát Nhã Tâm Kinh cho ra cái thấy đúng với thiệt tướng và cái hiểu không khác bản chất của vạn pháp thì Kim Cang sẽ cho ta một nguồn tâm hoàn toàn bất động, và các niệm tưởng vắng lặng thanh tịnh giải thoát. Đây là hai cơ sở để làm nên hình hài của Tâm Tông.
Vì thế, Bát Nhã và Kim Cang có thể coi là đôi chân để người tu hành đi thẳng đến bến bờ Tâm Tông. Ngày xưa, Lục Tổ nhờ Kinh Kim Cang mà có hai lần giác ngộ, và bản thân mình cũng nhờ trì tụng thường xuyên Kinh này mà thấu suốt nhiều điều trong Phật đạo. Có thể nói, đây là hai bài kinh quan trọng của Tâm Tông, chưa thấu suốt hết ý nghĩa của hai bài kinh này, chưa thể đặt chân vào cửa ngõ Tâm Tông!
Vì những lợi ích to lớn như thế, mình xin chuyển đến các bạn toàn văn bài Kinh Kim Cang (qua email riêng), và sẽ gửi đến các bạn tập kinh Kim Cang sau chú giải (và photo xong), để mọi người đọc tụng, tư duy. Làm cơ sở cho những ngày tới chúng ta mổ xẻ sâu hơn ý nghĩa bài kinh này... Trong quá trình đọc tụng, nếu có điều gì trong kinh làm cho HĐ vướng mắc, các bạn có thể gởi câu hỏi về mình, sau đó mình sẽ chia sẻ đến mọi người để tất cả HĐ cùng nhau tham gia trao đổi! (08-08-2016)
Bài Kệ Thiền Sư Huệ Sinh (? - 1063)
Theo mình, bài kệ của Thiền Sư Huệ Sinh là một trong những bài kệ hay nhất mà mình biết được, nội dung bài kệ cho thấy sức thông đạt của tác giả. Mình xin gởi phần nghĩa của bài kệ đến các bạn.

KỆ VẤN ĐÁP
Pháp bản như vô pháp, (1)
Phi hữu diệc phi vô. (2)
Nhược nhân tri thử pháp (3)
Chúng sinh dữ Phật đồng. (4)
Tịch tịch Lăng già nguyệt (5)
Không không độ hải chu (6)
Tri không, không giác hữu (7)
Tam muội nhậm thông chu (8)
Thiền Sư Huệ Sinh “惠生” (? - 1063)
Các bạn! ... Hôm trước, mình có gởi cho các bạn Bài Kệ Vấn Đáp của Thiền Sư Huệ Sinh (khoảng thế kỷ thứ 11), nhưng không dịch nghĩa. Chiều nay, Tịnh Hiền có nhờ mình cắt nghĩa bài kệ này, nhân tiện mình gởi phần nghĩa của bài kệ đến các bạn. Theo mình, bài kệ của Thiền Sư Huệ Sinh là một trong những bài kệ hay nhất mà mình biết được, nội dung bài kệ cho thấy sức thông đạt của tác giả. Từ chữ đầu đến chữ cuối trong bài kệ không tìm thấy chỗ kẹt mắc. Có thể nói, tinh thần của bài kệ toát lên cái tinh tuý của Phật môn. Mình đã tra cứu rất nhiều bản dịch bài kệ này của nhiều tác giả khác nhau, nhưng vẫn chưa tìm thấy bản dịch nào vừa ý. Cuối cùng, mình sử dụng cách dịch của mình để gởi đến các bạn vậy!
Dịch Nghĩa: KỆ VẤN ĐÁP
(1) Cái gốc của các pháp vốn là (như) không pháp...
(2) Cho nên (tự các) pháp kia, chẳng phải có chẳng phải không...
(3) Nếu, người tu hành nào biết được chỉ thú này (phi hữu, phi vô)
(4) Nhất định, sẽ thấy được Phật và chúng sanh đồng một thể (không pháp).
(5) (Nếu thành tựu một cái Tâm như) Trăng trên đỉnh núi Lăng Già lặng lẽ chiếu sáng...
(6) (Vị ấy sẽ) Cưỡi chiếc thuyền không bơi qua biển khổ...
(7) (Người tu hành nào có được cái Trí) Ngoài việc thấu suốt nghĩa không (trong cái không ấy), cũng thấu suốt luôn cái có (phi vô).
(8) (Vị ấy nhất định) sẽ thành tựu tất cả Tam Muội môn.
Hy vọng, phần dịch trên sẽ giúp các bạn nắm vững tinh yếu của bài kệ, cũng như thấy được cái "bất phàm" của tác giả... Huệ Sinh, một bông hoa "đơn độc" trong rừng Thiền Việt Nam.
LÝ TỨ phỏng dịch... Nhân một đêm trăng (30-3-2021)
Trăng Lăng già lặng lẽ (5)
Soi sáng thuyền hư không (6)
Nơi không, tìm hoá có (7)
Động tịnh ngay… đó… mà! (8)
Các Pháp Tương Ưng
Để có những khái niệm ban đầu về “Các Pháp Tương Ưng”. Đề cương sau, sẽ giúp các bạn có cái nhìn tổng quát về buổi trao đổi tuần này, các pháp chi tiết sẽ được triển khai cụ thể trong buổi nói chuyện.

Các bạn! ... Trong buổi sinh hoạt vừa rồi, sau khi triển khai đề tài liên quan giữa Kinh Kim Cang và Kinh Bát Nhã, cũng như những nguyên lý cơ bản để có thể thành tựu "Kim Cang Tâm" và "Kim Cang Trí" trong Bồ Tát đạo... Đồng thời, mình cũng triển khai sơ lược về Tứ Cú Kim Cang (tứ cú kệ đẳng) và mối liên hệ giữa ba cuốn kinh: Kim Cang, Thủ Lăng Nghiêm và Lăng Già đối với Tam Giải Thoát Môn.
Mình nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ các trưởng lão, những vị có bề dày tu tập, thậm chí nhiều vị mong muốn được tiếp tục nghe tiếp phần sâu thẳm của đề tài này. Hy vọng, có cơ duyên nào đó, mình sẽ nói chuyện tiếp tục với các bạn về đề tài lý thú trên. Kỳ này, chúng ta trao đổi với nhau một vấn đề khác, không kém phần quan trọng trong Bồ Tát đạo. Đó là:
“Làm Thế Nào Để Nhận Biết Một Nghĩa Tương Ưng Với Tứ Đế Và Những Bất Cập Khi Trao Đổi Phật Pháp...”
Như mọi người đều biết, Tứ Đế trong Phật đạo là bốn cấp học, mỗi cấp học sẽ có một số lớp (địa vị) mà người tu hành phải thành tựu... Trong mỗi cấp lớp đều có những bài giáo khoa (kinh) liên hệ đến cấp lớp đó, càng lên những cấp cao hơn, chương trình học tập lại chia ra nhiều phân ban, ở mỗi phân ban, các Tụ Pháp (ví như Giới Tụ, Định Tụ, Tuệ Tụ, v.v...) được triển khai ưu tiên theo nguyên tắc mũi nhọn, căn cứ vào loại hình học tập của các thừa. Ước đoán, có chừng khoảng bốn ngàn Tụ Pháp như vậy mà một Bồ Tát phải thấu suốt.
Vì thế, việc phải trải qua các cấp học, nắm vững giáo trình học tập của từng cấp là rất quan trọng. Đây là tiền đề để vị lai, khi hoàn thành phần Đạo Đế, các Bồ Tát có sự thấu suốt nhất định khi thực hiện Bồ Tát hạnh. Nếu không thấm nhuần điều này, không thấu suốt các nghĩa tương ưng, không nắm vững chỉ thú kinh hoặc quyết định nghĩa, nó sẽ tạo nên những buổi "thuyết pháp lộn lạo", không thể đưa người thành tựu những cấp lớp cụ thể. Giống như trong giáo dục, người Thầy đem bài giảng của cấp "đại học" dạy cho trẻ tập "đánh vần", hoặc ngược lại!
Thực tế hiện nay, không thiếu những buổi thuyết pháp hoặc giảng nói mang dáng dấp như vậy. Chính vì điều này, hiệu quả của việc dạy và học không cao, thậm chí đôi lúc mình có cảm giác cả người nói và người nghe đều "ù ù cạc cạc trong cơn tuỳ mộng", giống như những gì mà Thạch Liêm đã khái quát trong bài bố cáo từ mấy trăm năm trước. Để có những khái niệm ban đầu về “Các Pháp Tương Ưng”. Đề cương sau, sẽ giúp các bạn có cái nhìn tổng quát về buổi trao đổi tuần này, các pháp chi tiết sẽ được triển khai cụ thể trong buổi nói chuyện.
I. Khái Quát Về TỨ ĐẾ Và Những Cấp Học Tương Ưng.
I.1. Nhị Đế (tục đế và đệ nhất nghĩa đế)
I.2. Cách phát hiện chữ ĐẾ
II. Nguyên Lý (mềm) Để Thấy Được Các Pháp Tương Ưng. Khái Niệm Về "Nguyên Lý Mềm" Trong Phật đạo.
II.1. Kinh tương ưng
II.2. Nghĩa tương ưng
II.3. Quyết định nghĩa tương ưng
III. Những Dẫn Dụ Về Các Pháp Không Tương Ưng.
III.1. Kinh không tương ưng
III.2. Nghĩa không tương ưng
III.3. Quyết định nghĩa không tương ưng
IV. Ứng Dụng Cặp Câu Hỏi Trong Giáo Trình Nhất Thiết Trí.
1. Vì sao Phật (hoặc Thiện Tri Thức) thuyết điều này? Và…
2. Phật (hoặc Thiện Tri Thức) thuyết điều đó để làm gì?" khi tham cứu kinh điển hay học tập.
IV.1. Ý nghĩa hai câu hỏi
IV.2. Cách vận dụng từng câu hỏi để xử lý kinh điển hay học tập.
IV.3. Điều gì sẽ xảy ra, khi một Bồ Tát không thể xử lý hai câu hỏi nêu trên khi tham cứu kinh điển (hay học tập) để dẫn đến việc thuyết pháp lộn lạo?
Chúng ta sẽ trao đổi cụ thể từng phần một trong buổi sinh hoạt.
* * * * *
Các bạn! ... Cho dù bất kỳ một thành tựu nào đó, dù nhỏ hay lớn trong HĐ chúng ta, đều là niềm vui rất lớn đối với mình. Vì bởi, chúng ta gặp nhau chỉ có một mục đích duy nhất. Đó là: "Tu tập để tự mình giác ngộ và sau đó giúp người giác ngộ". Có nghĩa rằng, "Giác ngộ là mục tiêu cốt lõi của HĐ chúng ta. Ngoài mục tiêu này chúng ta không còn mục tiêu khác". Và, điều này cũng là tâm nguyện duy nhất của mình. Chính vì thế, khi hay tin một HĐ nào đó ứng dụng những điều mình đã chỉ dạy, và có được thành tựu nhất định trong Phật đạo, mình thật sự hoan hỷ!
Hy vọng, sau thấy biết này, các HĐ sẽ giữ vững thành tựu hiện có, chăm chỉ tu tập như "con ong chăm chỉ hút mật" nhất định những thành tựu lớn hơn sẽ chờ đón bạn!
Tìm Hiểu Ý Nghĩa … Hai Trạng Thái Tâm Thức Thanh Tịnh Và Yên Tĩnh Trong Phật Đạo
Hầu hết người tu hành nhầm lẫn “Thanh tịnh” và “yên tĩnh” là hai trạng thái khác nhau của tâm thức. Như vậy, thanh tịnh và yên tĩnh (hay yên lặng) khác nhau ở chỗ nào và điều gì làm nên hai trạng thái tâm thức này?

ĐẶT VẤN ĐỀ
“Thanh tịnh” và “yên tĩnh” là hai tính từ chỉ cho hai trạng thái khác nhau của tâm thức, nó rất khó phân biệt. Hầu hết người tu hành nhầm lẫn hai trạng thái này, thậm chí có người còn cho rằng "yên tĩnh chính là thanh tịnh". Như vậy, thanh tịnh và yên tĩnh (hay yên lặng) khác nhau ở chỗ nào và điều gì làm nên hai trạng thái tâm thức này? Bây giờ, chúng ta cùng nhau mổ xẻ hai khái niệm này!
Trước khi trao đổi, mình xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện có thực, xảy ra cách đây hơn mười ngày. Hy vọng, câu chuyện mở đầu này, sẽ giúp các bạn có thể hình dung được thế nào là yên tĩnh và thế nào là thanh tịnh.
"Cách đây trên mười ngày, sau buổi thể dục buổi chiều, mình và bà xã ngồi ở chiếc bàn đá trước nhà. Có hai vị khách không quen, trong đó một vị với dáng dấp người tu hành (căn cứ vào cách ăn mặc), đi trên một chiếc xe gắn máy đến hỏi mình mua đất xây nhà, vì khu đất mình đang ở còn nhiều nền nhà bỏ trống.
Ở đây chú biết có ai bán nền nhà không?
- Tôi không biết! Các vị đến căn nhà bên kia hỏi, ở đó có người làm "môi giới bất động sản", họ biết rõ!
Giàn hoa trước nhà đẹp quá, nó tên là gì?
- Hoa này có tên là "Sử Quân Tử", dân gian gọi là "Trang Leo" hay "Cây Giun"!
Vì sao gọi là Sử Quân Tử?
- Ngày xưa có vị Sứ Quân họ Quách trồng nó và dùng trái để xổ giun (sán lãi) cho trẻ con, nên có tên Sứ Quân Tử. Sau đó người ta đọc thành Sử Quân Tử!
Tôi cũng muốn trồng loại hoa này, chú cho biết mua ở đâu?
- …
Sau một hồi chuyện trò có vẻ thân thiện, hai vị khách bèn khen: Ở đây thanh tịnh quá!
- Tôi thấy! Ở đây yên tĩnh, còn thanh tịnh thì hình như chỉ có ở Niết Bàn!...
Xin lỗi, đã nói sai, đúng là yên tĩnh chứ không phải thanh tịnh!
- …
Rất tiếc là hai vị khách lạ không hỏi tiếp rằng "Niết Bàn ở đâu". Nếu hai vị ấy đặt câu hỏi, chắc chắn sẽ có buổi đàm luận thú vị. Qua câu chuyện trên, cho thấy người ta thường đánh đồng giữa "yên tĩnh và thanh tịnh".
Tất nhiên, ở đời, sự đánh đồng này không quan trọng. Nhưng với những người tu hành thì, đánh đồng này (do nhầm lẫn), sẽ dẫn đến hệ quả "không thể tìm thấy định hướng cho một cứu cánh quan trọng" trong Phật đạo!
* * * * *
I. VỀ... KHÁI NIỆM “YÊN TĨNH” VÀ “THANH TỊNH” TRONG PHẬT ĐẠO
I.1. Thế Nào Là “YÊN TĨNH”.
Yên tĩnh là trạng thái tâm thức (hay không gian) vắng lặng khi không bị khuấy động bởi một tác động bất kỳ. Ví dụ: Giống như một hồ nước (hoặc trong, hoặc đục), hồ nước không bị tác động bởi ngoại duyên (như tác động của gió hoặc một vật được ném xuống), hồ nước này sẽ yên tĩnh, không nổi sóng.
I.2. Thế Nào Là “THANH TỊNH”.
Tính từ “thanh tịnh” trong Phật đạo, nhằm chỉ cho tính chất tự nhiên của bổn tâm (Niết Bàn). Tính chất tự nhiên này là tính chất thường hằng của người giác ngộ, cho dù có bị tác động ngoại duyên hay không, tính chất thanh tịnh vẫn không mất. Ví dụ 1: Một hồ nước trong (không còn bị nhiễm ô, thanh tịnh). Cho dù hồ nước này có bị tác động bởi ngoại hay nội duyên, sức trong của nước không vì thế mà thay đổi.
- Lục Tổ khẳng định điều này bằng câu nói: "Xông đao phá trận cũng thanh tịnh". • Kinh Lăng Già gọi hiện tượng này"Sóng ấy tức nước" hay "Hoặc loạn tức thường". Ví dụ 2: Một hồ nước bị nhiễm ô (vẩn đục, không thanh tịnh). Cho dù hồ nước này được che chắn, không bị tác động bởi ngoại duyên. Hồ nước này không nổi sóng, yên tĩnh. Nhưng đây là sự yên tĩnh của một hồ nước "đang vẩn đục, đang nhiễm ô". Tức một sự yên lặng rất cần xem lại, khi tâm thức đang có vấn đề (của mê muội).
I.3. Tính Chất Của “THANH TỊNH” VÀ “YÊN TĨNH”.
Như những gì chúng ta đã khảo sát ở phần trên, giữa thanh tịnh và yên tĩnh rất khác nhau về tính chất. Một bên thuộc về hiện tượng của tâm thức (yên tĩnh), một bên thuộc về bản chất của bổn tâm (thanh tịnh).
Những gì thuộc về hiện tượng (yên tĩnh thuộc về hiện tượng), đều bị chi phối bởi quy luật vô thường, giống như tâm thức lúc yên lúc không yên, giống như hồ nước không gió thì yên, có gió thì nổi sóng.
Còn những gì thuộc về bản chất (thanh tịnh thuộc về bản chất của bổn tâm), thì thường hằng, bất biến. Giống như nước đã trong, không nhiễm ô, cho dù có nổi sóng, sóng này cũng trong. Và, tu hành trong Phật đạo là tìm đến bản chất của tâm thức. Giác ngộ ban đầu của người tu hành trong Phật đạo chính là thấy được "bản lai tâm này tự thanh tịnh, bất động".
Các biện pháp che chắn, ngăn ngừa mọi tác động (thấy, nghe) để tâm thức không nổi sóng, chỉ là biện pháp tạm thời, biện pháp tình thế khi chưa giác ngộ bổn tâm!
II. CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN “YÊN TĨNH” VÀ “THANH TỊNH”.
Có hai con đường, một con đường khi thực hành (tạo tác) sẽ đưa đến yên tĩnh, và một con đường khi giác ngộ (thấu rõ) sẽ đưa đến thanh tịnh!
II.1. Con Đường Đưa Đến “YÊN TĨNH”.
Trong thế gian cũng như Phật đạo, có rất nhiều phương pháp giúp một người giảm thiểu ồn ào của tâm thức. Ngoài việc tập trung tư tưởng, hay lánh xa phiền toái như người đời thường làm một trong những phương pháp hiệu quả để ngăn, không cho tâm thức bị tác động bởi ngoại duyên, đó là thiền định (thế gian định).
− Thiền định, được dịch là "Tỉnh lự", tức sự cố gắng giảm thiểu đến mức thấp nhất những "lao lự" khi tâm bị tác động. Đây là hình thức, là nỗ lực che chắn, bảo vệ để tâm thức không bị khuấy động bởi một lý do bất kỳ.
− "Thiền (zh. chán 禪, ja. zen), gọi đầy đủ là Thiền na (zh. chánna禪那, sa. dhyāna, pi. jhāna, ja. zenna, en. Meditation), là thuật ngữ ”Hán Việt“ được phiên âm từ dhyāna trong “tiếng Phạn“. Dhyāna là danh từ phái sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai). Tất cả các trào lưu “triết học Ấn Độ“ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán Việt là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那) ..." (Theo Wikipedia)
Như đã nói ở phần trên, dùng thiền định hay một phương pháp nào đó để giữ cho tâm thức không bị động lay hay dao động, chỉ là hình thức của nỗ lực triệt tiêu hiện tượng chứ chưa phải phương cách thấu rõ (giác ngộ) bản chất của tâm thức. Mà đối với Phật đạo, giữa bản chất và hiện tượng, không hề có mối liên hệ biện chứng nào…
Hiện tượng chỉ là những dấu tích trong mê và sản phẩm của mê, khi chưa hết mê, (chưa giác ngộ), nhất định hiện tượng sẽ còn hiện khởi trở lại...
Nỗ lực chứng đạt "Phi tưởng phi phi tưởng xứ định"của ngoại đạo hay người tu hành trong Phật đạo, cho dù đã nỗ lực hết sức, cũng không thể nào giải quyết"mê lộ động lay và mờ tối" khi còn là thành viên của ba cõi, là một minh chứng lịch sử rõ ràng nhất đối với người tu hành!
II.2. Con Đường Đưa Đến “THANH TỊNH”.
Mọi người tu hành đều biết, bổn tâm sẵn đủ những tính chất đặc dị (tự tánh) của nó, đó là: Thanh tịnh, bất động, an vui, minh liễu, bất sanh diệt, v.v... Khi thấu suốt điều này, Lục Tổ bèn la lên: "Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không động lay, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, nào dè tự tánh vốn tự sẵn đủ, nào dè tự tánh vốn minh liễu các pháp!"
Theo những gì được Lục Tổ mô tả ở trên. Ta có thể thấy rằng thanh tịnh, chính là một trong những tính chất đặc dị của bổn tâm. Mà bổn tâm là cái đã có sẵn và đầy đủ những tính chất như vậy, có nghĩa từ xưa (bản lai) nó đã như vậy. Vì thế, thanh tịnh hay bất động chân thiệt, không phải "là cái" hay "sản phẩm" được người tu hành làm ra trong hiện tại từ một phương tiện của thế gian. Bổn tâm giống như một kho báu đã có từ trước... Công việc hiện nay, muốn sở hữu kho báu, chỉ cần biết nơi có kho báu và đào bới nó lên.
III. Công Cụ Và Phương Pháp Tìm Kiếm “KHO BÁU BỔN TÂM” Để Có Thể Sở Hữu “THANH TỊNH TÂM”.
Trong Phật đạo, giác ngộ là công cụ hữu hiệu để tìm thấy bổn tâm. Giác như chất liệu (phèn) dùng để lóng trong nước. Ngộ, như người có đôi mắt sáng, qua lớp nước trong, nhìn thấy kho báu bổn tâm với những tính chất đặc dị chiếu sáng ở dưới đó. Kinh Đại Niết Bàn có cho một ví dụ về điều này, đại ý như sau:
"Trên một thương thuyền, có người đánh rơi viên ngọc quý xuống biển. Mọi người vội vàng lao xuống biển để tìm viên ngọc, vì thế nước biển vẩn đục, nước biển vẩn đục nên những người đó mờ tối, lấy sạn, đá, tạp vật mỗi người một thứ cất giấu trong người, vui mừng cho đây là viên ngọc.
Một người có trí, không làm như thế, vị ấy ngồi trên thuyền, chờ cho nước trong và thế lực viên Thuỷ Thanh Châu chiếu sáng. Người ấy ung dung xuống biển và sở hữu viên ngọc.”
Theo đoạn ví dụ trên, ta thấy có ba tình huống xảy ra:
a) Số đông lập tức nhảy xuống biển làm cho nước vẩn đục vì thế cất giữ những thứ không phải Thuỷ Thanh Châu. Điều này, dụ cho những người không có trí, không giác ngộ, nên không thấy được bổn tâm, y nơi mê muội tìm kiếm vì thế chẳng thể sở hữu thanh tịnh tâm!
b) Người có trí, ung dung ngồi trên thuyền chờ cho nước trong. Điều này, dụ cho người có giác (hiểu biết rõ ràng), chờ sức giác làm cho mê lầm, nhiễm ô tịch diệt.
c) Nhờ thế lực của viên Thuỷ Thanh Châu soi sáng, nên vị ấy sở hữu được vật cần tìm. Điều này, dụ cho người hết mê, tâm thức không bị che khuất bởi tạp nhiễm vô minh, với sức thanh tịnh, sáng suốt (minh liễu), bất động của bổn tâm... Vị này tìm được vật cần tìm.
Qua câu chuyện trên, ta có thể thấy rằng, khi đã sở hữu được viên ngọc bổn tâm… Cho dù chiếc thuyền ấy có xuôi về phương nào, người có trí kia cũng là người giàu có, an vui và sáng suốt nhất đối với những người trên thuyền!
IV. KẾT LUẬN:
“Thanh tịnh” và “yên tĩnh” là hai trạng thái tâm thức khác nhau:
Thanh tịnh là một trong những tính chất đặc dị của bổn tâm. Vì là tính chất của bổn tâm, nên nó thường hằng bất biến, và chẳng phải thứ do một phương thức thế gian làm ra (tạo tác).
Yên tĩnh là một trong những tính chất nhất thời khi tâm thức được cách ly khỏi các duyên ồn náo. Yên tĩnh thuộc về hiện tượng, nên nó vô thường (hết diệt lại sanh).
Hy vọng, bài viết sẽ đem đến những gợi ý tối thiểu, giúp HĐ thấy rõ sự khác biệt giữa yên tĩnh và thanh tịnh.
(Tham khảo) CẢM NHẬN của HĐ (Huynh Đệ)
Các bạn! ... Bài viết “cảm nhận Ý Nghĩa Của Hai Khái Niệm “KIẾN THỨC” Và “GIÁC” Trong Tu Tập Phật đạo” của Tịnh Hiền là bài viết hay, sắc sảo. Xin chuyển đến HĐ tham khảo. (14-04-2017)
Thầy Kính! Con tập viết về cảm nhận của mình “Kiến thức và giác trong tu tập Phật đạo”. Kính Thầy chỉ dạy thêm cho con...
“KIẾN THỨC” Và “GIÁC” Trong Tu Tập PHẬT ĐẠO
0. ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiến thức và giác (giác trong giác ngộ) giống và khác nhau ở những điểm nào? Hai khái niệm này cần nhận thức rõ ràng, minh bạch trong tu tập Phật đạo.
I. ĐIỂM GIỐNG NHAU
− Giác là biết (biết này do đọc, do nghe nói, do học, do tiếp xúc, do tích luỹ mà biết).
− Kiến thức cũng gọi là biết (biết này cũng do đọc, do nghe nói, do học tập, do tích luỹ mà thành).
II. ĐIỂM KHÁC NHAU
− Được gọi là giác, vì những điều đã biết có khuynh hướng đưa đến tịch diệt cái tôi, cái ta (ngã hư dối).
− Được gọi là kiến thức, vì những điều đã biết chỉ làm tăng hoặc còn nguyên cái tôi, cái ta.
Vì thế, khi bị kiến thức trói buộc thì thức bây giờ có tên là thức ấm. Còn nếu lấy kiến thức để làm lớn tự ngã, thì thức bây giờ có tên là thức uẩn.
Tóm lại, cái biết nào có khuynh hướng đưa đến mất cái tôi, cái ta... thì gọi là giác, còn cái biết nào làm tăng trưởng hoặc còn nguyên cái tôi, cái ta thì gọi là kiến thức.
III. Nhận Ra Sự Có Mặt Của “HÀNH” Trong Năm Món “SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC”.
Sau buổi sinh hoạt vừa rồi, con cảm nhận: Đối với “sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Thì mấu chốt nằm ở “hành”.
Thầy đã dạy: "Thiền định chỉ giải quyết được Sắc, thọ và tưởng, còn hành và thức thì thiền định “pó tay”. Và, nếu hành thuộc về thiện hành (giác), thì hành sẽ có khuynh hướng tịch diệt (ngộ). Còn hành thuộc ác hành hay bất thiện hành (kiến thức), thì niệm niệm sanh diệt luôn chảy trong tâm thức là điều không tránh khỏi...
IV. Vậy Muốn “HÀNH” Dừng Thì Phải Làm Sao?
Khi tâm thức chưa về lại đúng bản nguyên “không tâm, không pháp” (thức), thì tâm thức luôn diêu động, sự diêu động này gọi là hành.
Sở dĩ “hành” diêu động là do chỉ số tâm và thức khác “không (không tâm, không pháp)” nên hành xuất hiện và diêu động. Cho nên, một người tu hành khi chưa giác ngộ thì vị này phải nương vào Thiện Tri Thức để thay đổi nhận thức, Kinh gọi là "tuỳ tín hành hay tuỳ pháp hành”. Vì thế, vai trò của Thiện Tri Thức là làm cho hành tâm của người thính pháp dừng, ví dụ như đoạn Kinh vấn đáp giữa Phật và Trường Trảo, còn vị thính pháp chỉ cần tuân thủ theo lời Thiện Tri Thức nhất định sẽ thành tựu.
Lão Đại Tổ Tông (Phật Tổ) đã phát biểu: "Đạo của ta, không nhọc công tốn sức...”. Và đoạn Kinh Thầy trích cũng đã dạy: "Người có trí, ung dung ngồi trên thuyền chờ cho nước trong. Điều này, dụ cho người có giác (hiểu biết rõ ràng), chờ sức giác làm cho mê lầm, nhiễm ô tịch diệt. Nhờ thế lực của viên Thuỷ Thanh Châu soi sáng, nên vị ấy sở hữu được vật cần tìm!
Điều này, dụ cho người hết mê, tâm thức không bị che khuất bởi tạp nhiễm vô minh, với sức thanh tịnh, sáng suốt (minh liễu), bất động của bổn tâm Vị này tìm được vật cần tìm!"
V. ỨNG DỤNG VÀO TU TẬP TRONG PHẬT ĐẠO.
Đối với các HĐ chúng con, muốn tập sự hướng dẫn người tu hành, vị này phải tìm mọi cách giúp hành tâm của người thính pháp không chạy theo văn tự, ngữ ngôn. Bằng cách dùng thiện phương tiện nào đó, và phương tiện này có công lực đủ mạnh, giúp chỉ số giữa tâm và thức của vị thính pháp cân bằng (không tâm, không pháp) để hành tâm không còn dong ruỗi thì hành ấm sẽ dừng. Biểu hiện của hành dừng là:
− Đối với thân thì tri túc.
− Đối với khẩu thì không muốn nói, không sẽ nói.
− Tâm thì chỉ có danh vô thực (không tâm), như sừng thỏ lông rùa.
− Ý thì không bị trói buộc giữa tịnh hay bất tịnh, thiện hay ác, đời hay đạo... như gió thổi qua đồng trống.
Kính Thầy chỉ dạy thêm! Con.
Về Tri Thức Và Ngũ Ấm
Cái gì đã làm cho con người với một ngũ ấm đầy đủ trong đó có tri thức hoàn hảo lại không thể hái ngôi sao hạnh phúc trên cao? Phật đạo nhìn ngũ ấm và tri thức dưới nhãn quan nào?

Các bạn! ... Từ tối đến giờ, câu chuyện về tri thức và ngũ ấm cứ đeo đuổi, mặc dù đã viết bài phân tích về cảnh giới "Tự Chơn" gởi đến mọi người hồi chiều. Nhưng rồi, mình vẫn cảm thấy bài viết chưa nói hết được những điều muốn nói. Bây giờ là 2 giờ 42 phút sáng. Mình vẫn chưa ngủ được! Và, đề tài này là sức hấp dẫn buộc mình phải tư duy để đào sâu hơn nữa cội gốc của vấn đề!
Có thể nói trong thời đại của chúng ta, thời đại của loài người văn minh, thời đại của kỹ thuật số, thời đại của công nghệ đã giúp chúng ta có được một cuộc sống đầy đủ và tiện nghi hơn. Chúng ta may mắn hơn người xưa, mà cụ thể là thời của Đức Phật, nhờ những hỗ trợ vật chất, khoa học, kỹ thuật, thêm vào đó chúng ta được thừa hưởng một gia tài kiến thức đồ sộ của nhân loại, đây là kết tinh của trí tuệ, là anh hoa nhất của loài người.
Lẽ ra, được thừa hưởng những thành quả như vậy, loài người văn minh trong hiện tại phải ngày một hạnh phúc hơn, một yên bình hơn. Nhưng tại sao, hạnh phúc và yên bình ngày một cách xa, thậm chí hạnh phúc và yên bình trở thành một thứ xa xí phẩm, một thứ mà gần như chỉ vĩnh viễn có được trong ước mơ!
Các bạn! ... Nhân loại có một ngũ ấm đầy đủ như ngày hôm nay, là nhờ sự góp công rất lớn của tri thức, không có gia tài tri thức liệu cuộc sống loài người sẽ như thế nào?
Trong hiện tại này, con người đã có được một tấm thân tốt tươi hơn người xưa là nhờ vào y học hiện đại, tri thức và khoa học đã giúp con người có được những lạc thọ tốt nhất, loài người văn minh đã biết biến những mơ ước, những ý tưởng, tưởng gần như hảo huyền của ngày xưa trở thành hiện thực.
Nói chung, người Thầy tri thức đã đưa con người bước những bước rất xa, ra khỏi kỹ nguyên lượm hái bán khai!
Như vậy, cái gì đã làm cho con người với một ngũ ấm đầy đủ trong đó có tri thức hoàn hảo lại không thể hái ngôi sao hạnh phúc trên cao? Phật đạo nhìn ngũ ấm và tri thức dưới nhãn quan nào? Và, gia tài tri thức đồ sộ của nhân loại trước những khổ đau chưa trừ được là công hay tội? Tri thức là những sợi tơ được con tằm nhã ra để làm đẹp cho đời hay dùng để trói mình?
Nếu chúng ta, những người tu hành trong Phật đạo, không có một nhãn quan đủ sáng, không có một góc nhìn tốt hơn về ngũ ấm, về tri thức của thức ấm, vô hình trung chúng ta từ chối, dập tắt, đốt cháy ngũ ấm và tri thức nhân loại để trở về kỹ nguyên bán khai!
Trong một đoạn kinh nào đó Phật có dạy với đại ý: "Những thành tựu lớn nhất của nhân loại, đều do các Đại Bồ Tát thị hiện làm ra, để giúp con người thăng tiến". Điều này có nghĩa, gia tài tri thức của nhân loại, thành tựu cao nhất của loài người văn minh hôm nay có được đều bắt nguồn từ các Đại Bồ Tát. Họ thị hiện ra đời, làm nên những thành tựu vĩ đại, dạy con người những tri thức tối ưu để đời sống tốt đẹp hơn, tại sao con người vẫn cứ khổ, đôi khi còn đòi "tịch tri sự vĩ đại đó"!
Lịch sử nhân loại đã sản sinh ra không biết bao nhiêu bộ óc siêu việt, những bộ óc siêu việt này đã giúp con người hôm nay, trong đó có chúng ta có được những gì được coi là tốt đẹp nhất đối với một con người. Và hầu hết những con người với bộ óc vĩ đại đó đã "cống hiến" tất cả tinh anh một con người cho mọi người.
Phần lớn, những con người vĩ đại lại không coi thành quả vĩ đại do chính mình đã làm ra là của riêng mình, mà hầu hết họ coi đó là thành quả chung của nhân loại, trong sâu thẳm nhất, họ chỉ biết "cống hiến, cống hiến và cống hiến”!
Ngược lại, con người, trong đó có chúng ta, những người được thừa hưởng thành quả vĩ đại từ những bộ óc siêu việt kia, lại không trung thực với sự thừa hưởng, mà lầm tưởng cái ta đang có, đang thừa hưởng là của chính mình. Đem cái nhỏ bé của cá nhân dung nạp cái vĩ đại của nhân loại và mong muốn nó là của riêng mình bởi sự ích kỷ tầm thường! Sự nhầm lẫn đáng tiếc này đã biến chơn thường, chơn ngã của ngũ ấm trong đó có tri thức của thức ấm trở thành cái ngã nhỏ bé, hư dối, hạ liệt của một chúng sanh!
"Này Kiều Trần Như! Không lấy sắc làm ta, không lấy sắc làm ngã của ta, không lấy sắc làm tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường (tầm thường) sẽ được sắc giải thoát, thường trụ. Này Kiều Trần Như."
Đoạn kinh đầu tiên được Thế Tôn tuyên thuyết trong vườn Lộc Uyển phải chăng là "Bản Tuyên Ngôn Phật đạo", kêu gọi mọi người tu hành trong đó có chúng ta.
− Hãy từ bỏ cái tầm thường, nhỏ bé, hư dối cố hữu của một chúng sanh. − Hãy từ bỏ cái ích kỹ, nhỏ nhoi. − Hãy từ bỏ ý tưởng thủ giữ ngũ ấm trong đó có tri thức vĩ đại của nhân loại làm của riêng mình! − Hãy buông ngũ ấm ra này Các bạn! ... − Hãy trả ngũ ấm trong đó có tri thức và những thành tựu từ tri thức trở về đúng vị trí vĩ đại của nó bằng cả sự "cống hiến, cống hiến và cống hiến." từ đó chơn thường, chơn ngã sẽ tự toả sáng!
Các bạn! ... “Không thể đem cái nhỏ bé của tự thân để giam nhốt cái vĩ đại của chơn thường, chơn ngã trong một ngũ ấm đầy ích kỷ nhỏ nhoi của chính mình!”
Các bạn! ... “Tất cả mọi sự khổ, đều bắt nguồn từ ngu si và cái ngã nhỏ bé, tầm thường!”
Điều Phục Năm Món Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức Để Thành Tựu Diệt Đế Trong Phật Đạo
Trong kỳ này, chúng ta tiếp tục khảo sát năm thành tố chính Sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm nên "thân, tâm và trí" của một hữu tình. Cách giải quyết năm thành tố này giữa Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) và Bồ Tát thừa sai khác như thế nào để có thể thành tựu Diệt Đế?

Các bạn! ... Buổi sinh hoạt vừa rồi, chúng ta đã trao đổi với nhau bốn khái niệm cơ bản trong Phật đạo đó là Tri, Giác, Pháp và Tâm.
Trong kỳ này, chúng ta tiếp tục khảo sát năm thành tố chính làm nên "thân, tâm và trí" của một hữu tình, đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cách giải quyết năm thành tố này giữa Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) và Bồ Tát thừa sai khác như thế nào để có thể thành tựu Diệt Đế? Bài viết này, mình chỉ tóm tắt quá trình chuyển hoá năm món nêu trên như một đề cương. Sinh hoạt thực tế, chúng ta sẽ triển khai cụ thể! Hai bài kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây và Bát Nhã Tâm Kinh, có thể coi là tiêu biểu cho thấy sự khác biệt về phương pháp điều phục sắc thọ tưởng hành thức của Nhị thừa và Bồ Tát thừa.
I. NHỊ THỪA (gồm Thanh Văn và Duyên Giác): Phần lớn là những người xuất gia, tu sĩ chuyên nghiệp. Họ quyết chí tìm con đường giải thoát bằng cách xa rời thế tục. Và, họ lấy việc tu tập giới, định, tuệ vô lậu làm cơ sở dấn thân, trong đó dựa vào những nền tảng cơ bản của một Sa Môn để chứng A La Hán quả, nền tảng đó là:
− Cát ái ly gia: Từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
− Độc cư thiền định: Từ bỏ quyến thuộc, sống không quyến thuộc.
− Không có tâm sở hữu: Từ bỏ tài sản, sống không tài sản. Chỉ mang theo bên mình bát khí (8 món), trong đó ba (3) Y và một (1) Bát, như con chim với đôi cánh, không có trú xứ nhất định.
− Ăn ngày một bữa, chỉ khất thực để nuôi thân: Không tích trữ hạt giống, tài vật, không gieo trồng, không nấu nướng.
− Nếu có thuyết pháp hay quản lý tài vật thuộc của thường trụ: Cũng chỉ là thực hiện nhiệm vụ Tăng sai, không có ý niệm là chủ sở hữu.
− Sống không rời thiền định: Dùng thiền định để yểm ly ba cõi, chế ngự sự cột trói của ngũ ấm. Cho đến khi “ba cõi” không còn hiện hữu trong tâm và “ngũ ấm” mất năng lực cột trói, gọi là thành tựu đạo xuất thế hay giải thoát (A La Hán).
• • Trên đây chỉ là những liệt kê cơ bản coi như điều kiện cần và đủ để thành tựu đạo quả A La Hán (giải thoát). Các bạn có thể tìm hiểu thêm trong kinh tạng Nikaya!
• • Tuy A La Hán là quả vị nhỏ trong hệ thống tu tập của Phật Đạo, chỉ đủ để tự cứu! Nhưng, để thành tựu quả vị này, lại đòi hỏi những điều kiện vô cùng nghiêm ngặt của một Sa Môn. Thiếu một trong những điều kiện tiêu biểu trên, việc thành tựu đạo quả A La Hán là không thể! Đây cũng là lý do vì sao, A La Hán quả được liệt vào Thánh quả và được coi là bậc Ứng Cúng!
Kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: “Sau khi A La Hán nhập Niết Bàn, dựng tháp một tầng để thờ; Độc Giác Bích Chi dựng tháp 11 tầng để thờ, Phật là 13 tầng” trong khi đó Bồ Tát “dày công hãn mã” với chúng sanh, thì không nghe nói có tầng nào!.. Đố các bạn biết lý do vì sao?
Nếu vị A La Hán đó không được bậc Đạo Sư khai thị Ngộ Nhập Phật Tri Kiến, không phát Vô Thượng Bồ Đề Tâm, Phật gọi Vị này là “Độn La Hán” là “Hạt giống thối” là “Gã cùng tử”. Trong kinh Lăng Già, Phật cũng nói rằng: “Đạo quả của các ông có được, ngoại đạo cũng có được”! Đây cũng là lý do vì sao Kinh Diệu Pháp Liên Hoa xuất hiện trong đời!
II. BỒ TÁT: Phần lớn là những người tại gia, gồm vua, quan, cư sĩ... Họ chung sống trong xã hội, có người đang làm công việc trị quốc, có người làm công việc an dân, có kẻ là học sĩ, trí thức, công nhân, thợ thuyền, binh sĩ... Họ sống giữa đời thường, vừa thực hiện bổn phận của một công dân, vừa làm một Phật tử... Vì thế, giác ngộ đối với họ là cơ sở quan trọng để làm tiền đề thành tựu đạo nghiệp (không lìa đời, không ẩn tu... mà vẫn thành toàn đạo quả). Chỉ có giác ngộ, tức vừa cộng trú với đời, vừa hoát nhiên nhận ra thế nào là đạo lộ của Pháp Bổn Trụ [[1]]... Và, chỉ có giác ngộ như thế, Bồ Tát mới có được "Trí Tuệ Siêu Thắng", từ trí tuệ này, họ soi chiếu vào năm uẩn để thấy "bản chất tự không"của năm món đó!
Do vậy, con đường tu tập giữa Nhị thừa và Bồ Tát thừa hoàn toàn không giống nhau. Sở dĩ có sự sai khác này là do: Đời sống, chí nguyện, cơ trí không giống nhau.
III. ĐỘC ĐẠO TIẾN VỀ VÔ THƯỢNG BỒ ĐỀ: Tuy phương pháp và hoàn cảnh tu tập có khác nhau, nhưng sau khi chứng Diệt Đế, ba thừa đều gặp nhau ở Nhất Thừa, đây được coi là nét đặc trưng của Phật đạo và là độc đạo để tiến về Vô Thượng Bồ Đề!
Đối Với Nhị Thừa: Do tính chất trói buộc của sắc thọ tưởng hành thức, và yêu cầu thoát ra khỏi hệ luỵ của năm món này, nên năm món ấy có tên là "Ngũ Ấm"!
Đối Với Bồ Tát Thừa: Do tính chất tích chứa phiền não và yêu cầu thoát khỏi phiền não, nên năm món này có tên là "Ngũ Uẩn"!
III.1. Nhị thừa_Tu tập để thành tựu “Giải thoát bất động”:
Để có thể thành tựu mục tiêu cuối cùng của Phạm hạnh, thừa này phải thoát ly triệt để trói buộc của Ngũ Ấm bằng con đường "cát ái ly gia…". Theo kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây, Nhị thừa phải vượt qua năm giai đoạn cơ bản đối với một “tu sĩ chuyên nghiệp” đó là: "Xuất gia, thành tựu giới đức, thành tựu thiền định, thành tựu tri kiến, thành tựu giải thoát bất động". Thành tựu rốt ráo năm điều này, như người đi tìm lõi cây, lần lượt chặt bỏ cành nhánh (sắc ấm), lột bỏ vỏ ngoài (thọ ấm), lột bỏ vỏ trong (tưởng ấm), bỏ giác cây (hành ấm) và cuối cùng tìm thấy lõi cây (Giác ngộ thức ấm chính là Trí Tuệ Vô Lậu Vô Sanh Y).
III.1.1. Xuất gia và thành tựu giới đức:
Mục tiêu của hai việc làm này, nhằm đưa sắc ấm và thọ ấm từ nơi hiểm nguy của thế gian, xa rời thế tục, đến nơi chốn an ổn của tịnh xứ (trú xứ bất cộng thế gian). Tránh xa những cảm thọ bất hạnh. (Sống không gia đình, ba y một bát, như con chim với đôi cánh, khất thực để nuôi thân, sắc ấm và thọ ấm không hệ phược).
Kinh Ganaka Moggallana (Trung bộ, 107) đưa ra đạo lộ tuần tự tu tập như sau:
a) Tỳ kheo xuất gia, giữ gìn giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, có oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới.
b) Tỳ kheo hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng riêng, không nắm giữ tướng chung, những nguyên nhân gì làm cho tham ái, ưu bi khởi lên phải chế ngự đoạn trừ nguyên nhân ấy, thinh, hương... cũng vậy.
c) Tỳ kheo tiết độ trong ăn uống, chân chánh quan sát ăn không để vui đùa, đam mê, trang sức cho thân mà chỉ để khỏi tổn hại thân, để giữ gìn phạm hạnh.
III.1.2. Thành tựu giới đức và tu tập thiền định.
Mục tiêu của việc làm này, nhằm giúp Nhị thừa chế ngự thọ ấm và tưởng ấm. Chấm dứt khổ lạc thọ và điên đảo tưởng của ba cõi. Kinh Ganaka Moggallana đưa ra đạo lộ tuần tự tu tập sau:
a) Tỳ kheo được huấn luyện chú tâm cảnh giác ban ngày cũng như ban đêm, trong các hành động gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp.
b) Tỳ kheo được huấn luyện chánh niệm tỉnh giác trong mọi động tác của thân thể khi đi đứng nằm ngồi… đều ý thức việc mình đang làm.
c) Tỳ kheo được huấn luyện ngồi thiền ở một nơi thanh vắng, kiết già lưng thẳng, an trú niệm trước mặt, gột sạch tâm trí khỏi 5 triền cái. Chứng Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền. Bốn thiền này, giúp sắc ấm và thọ ấm vượt qua khổ lạc thọ (còn gọi là bất khổ bất lạc thọ).
d) Thành tựu Tứ Không Định cho đến Diệt Thọ Tưởng Định. Giúp tưởng ấm ra khỏi điên đảo tưởng của ba cõi, vào Vô Tưởng Thiên.
III.1.3. Thành tựu tri kiến:
Sau khi hết điên đảo tưởng về ba cõi khổ. Từ Vô Tưởng Thiên (hoặc Sắc Cứu Cánh Thiên của Tứ Thiền), để chấm dứt sự luân chuyển của hành ấm (từ thời giải thoát sang phi thời giải thoát), vị này phải có được tri kiến thù thắng. Với tri kiến thù thắng vô lậu, tự thân vị này xác chứng rằng: "Ngũ ấm chẳng phải là của ta, chẳng phải là ngã của ta và chẳng phải là tự ngã của ta." Từ đó hành ấm tịch diệt!
a) Đại Kinh Xóm Ngựa” [[2]]. Vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự diệt khổ, đây là con đường đưa đến diệt khổ; đây là lậu hoặc, đây là nguyên nhân của lậu hoặc, đây là sự đoạn trừ lậu hoặc, đây là con đường đưa đến đoạn trừ lậu hoặc. Vị ấy thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu"
b) Ðại kinh bốn mươi pháp, [[3]] Ðức Phật dạy: "Có 2 loại chánh kiến: Chánh kiến hữu lậu có sanh y và chánh kiến vô lậu, siêu thế không có sanh y. Chánh kiến vô lậu thuộc về trí tuệ, đạo chi của một vị tu tập thành thục trong thánh đạo".
III.1.4. “Giải Thoát Bất Động”, mục tiêu cuối cùng của Phạm Hạnh:
Hành ấm đã diệt, vị tu hành này hoát nhiên nhận ra vì lầm chấp nên bị ngũ ấm trói buộc. Ngũ ấm trói buộc nên hành ấm và thức ấm động lay gọi là mê. Với liễu tri như vậy, vị ấy dừng tâm, hành ấm và thức ấm đồng tịch diệt. Giống như con kênh dẫn nước, hai đầu bằng nhau, dòng nước ngưng chảy và trong suốt (không động lay, sáng suốt). Vị ấy hoàn thành mục tiêu tự độ, gọi là "Thành tựu mục tiêu cuối cùng của Phạm hạnh đối với người xuất gia"!
III.2. Bồ Tát_Tu tập để thành tựu “Diệt đế”:
Sau khi đã giác ngộ, Bồ Tát với trí tuệ siêu việt (kinh gọi là Bát Nhã Trí). Vị này dùng trí tuệ như một ngọn đèn cực sáng, chiếu thẳng vào ngũ uẩn, để thấy rõ thiệt tướng "không uẩn" của “sắc, thọ, tưởng, hành, thức”. Kinh dạy: "Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật đa... chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách."
Có nghĩa rằng, Bồ Tát với “trí tuệ siêu việt” sau khi đã “giác ngộ”, soi chiếu vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức để thấy bản chất của năm món này có giá trị bằng không (tự không, của hư không). Vì thế, mọi thứ khổ ách cũng sẽ có giá trị tự không (của hư không)!
III.2.1. Soi chiếu lần thứ nhất: "Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị."
− “Sắc bất dị không, không bất dị sắc” ● "Lặng lẽ quan sát thân này" để nhận rõ ra rằng, thân này cùng với hư không ngoài kia không khác nhau Tức bản chất của thân cũng như hư không, cả hai đều chẳng phải pháp (đối tượng của ý thức), vô giá trị (vô uẩn).
− “... Sắc tức thị không, không tức thị sắc” ● "Lặng lẽ quan sát" để thấy rằng, thân này và hư không ngoài kia đồng một tính chất, đó là không tánh (vô uẩn tánh).
− “Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị” ● "Lặng lẽ quan sát" để thấy rằng, bốn món còn lại đều như vậy (không uẩn, xứ, giới). • Sắc cùng thọ tức thị không: Lạc thọ và khổ thọ đồng không ngã, không ngã sở (vô ngã thủ uẩn). • Tưởng tức thị không: Tưởng chẳng có xứ (vô xứ thủ uẩn). • Hành và thức tức thị không: Hành và thức chẳng có chỗ để đến (vô giới thủ uẩn).
III.2.2. Soi chiếu lần thứ hai: "Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc."
− "Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.” ⁕ "Lặng lẽ quan sát" để thấy rằng: Sắc, thọ, thức, chẳng phải pháp, nên các món này (pháp) tự nó vô lậu, vì vô lậu, nên tự giải thoát, thanh tịnh bất động, hết thảy đều không tướng (pháp). Vì thế, chẳng nên khởi nghĩ nó có sanh hay diệt, có sạch hay dơ. Chiếu đến đây, “chứng Vô Sanh”.
− "Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.”. ⁕ "Lặng lẽ quan sát" để thấy rằng: Từ thân tâm đến thế giới chỉ là hư không. Không thân, không tâm, không trí, không giới. Tất cả chỉ do một niệm mê mà có "sum la vạn tượng". Giống như người mắt nhặm thấy có hoa đốm, rồi cho rằng trong hư không thiệt có hoa đốm.
Dứt mê vạn pháp tự dứt, đạo diệt khổ cũng tự dứt. Chiếu đến đây, “chứng Vô Sanh Pháp”, thành tựu “Tương tợ Bát Nhã”. Xong phần tự độ!
HAI BÀI KINH TIÊU BIỂU
(01) BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
"Quán tự tại bồ tát hành thâm Bát nhã ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.
Dĩ vô sở đắc cố, bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố; viễn ly điên đảo mộng tưởng; cứu cánh niết bàn, tam thế chư Phật y Bát nhã ba la mật đa cố đắc a nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha".
* * * * *
(02) ĐẠI KINH THÍ DỤ LÕI CÂY (Mahasaropama-sutta).
(Trung Bộ Kinh “Majjhima Nikaya”, Kinh 29)
"Như vầy tôi nghe,
Một thời Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), núi Gijjhakuta (Linh Thứu), khi Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa) từ bỏ (Chúng Tăng) ra đi không bao lâu. Ở đây, nhân việc Devadatta, Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo và dạy như sau:
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Vị ấy, vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.
Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu".
Cũng vậy, ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, Còn các Tỷ-kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy cành lá của phạm hạnh, vì do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu, giới đức này, vị ấy khen mình chê người: "Ta là người trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ-kheo khác phá giới, theo ác pháp". Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây.
Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... (như trên). Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được". Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không khen mình, chê người. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Do thành tựu thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu thiền định này, vị ấy khen mình chê người: "Ta có thiền định nhất tâm. Các Tỷ-kheo khác không có thiền định, tâm bị phân tán". Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình (như trên). Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, như vậy vị ấy được gọi là Tỷ-kheo đã nắm giữ vỏ trong của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
Lại nữa, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu Thiền định này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến, vị ấy vì tri kiến này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy do tri kiến này, khen mình, chê người. "Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ-kheo khác sống, không thấy và không biết". Vị ấy, do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây và mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị này, vì tri kiến này nên mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị này bị đau khổ.
Chư Tỷ-kheo, như vậy vị này gọi là đã nắm giữ giác cây của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây)".
Lại nữa, ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định, vị ấy do thành tựu Thiền định này, hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Do thành tựu tri kiến này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu phi thời gian giải thoát. Này các Tỷ-kheo, sự tình này không thể xảy ra, Tỷ-kheo ấy có thể từ bỏ phi thời gian giải thoát ấy.
Này các Tỷ-kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: "Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện".
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây một Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong khổ đau, bị chi phối bởi khổ đau. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật. Vị ấy thành tựu giới đức.
Vị ấy do thành tựu giới đức này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy, không do thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu thiền định nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật.
Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy vì thành tựu tri kiến này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật.
- Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu được phi thời gian giải thoát. Này chư Tỷ-kheo, sự tình này không thể xảy ra, Tỷ-kheo ấy có thể từ bỏ phi thời gian giải thoát ấy.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến.
Và này các Tỷ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy" (Kinh số 29. Trung Bộ, TK Thích Minh Châu, Pali dịch
------------------------------
[[1]] Pháp bổn trụ: Nhận thức như pháp ở mức độ cao nhất.
[[2]] Trích Đại Kinh Xóm Ngựa: Kinh Tr. Bộ 39; TK. Thích Minh Châu.
[[3]] Trích Đại Kinh bốn mươi: Kinh Tr. Bộ 117; TK. Thích Minh Châu.
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
http://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/bai-tho-dau-nam
Trân trọng,
Bài Thơ Đầu Năm

BÀI THƠ ĐẦU NĂM
Bài thơ đầu năm xin viết tặng em,
Bằng những con chữ miên man qua tháng ngày trăn trở,
Cho dù cuộc đời như dòng sông lúc đục lúc trong bên bồi bên lở,
Vẫn miệt mài chảy về tận nơi xa.
Bài thơ đầu năm xin viết tặng chúng ta,
Những người cùng hội cùng thuyền đang rong chơi trên quả cầu phiêu lãng,
Mỗi sáng thức dậy qua ô cửa nhìn bầu trời rực sáng,
Rồi chiều về lại lặng lẽ ngắm cảnh đẹp hoàng hôn.
Bài thơ đầu năm xin viết tặng non sông,
Gấm vóc này cha ông ta biết bao mồ hôi đổ xuống,
Để bây giờ từ núi cao đồng bằng hay biển lớn,
Đã nuôi chúng ta khôn lớn đến tận hôm nay.
Bài thơ đầu năm riêng viết tặng ngày mai
Là những đoá hồng lung linh và đẹp nhất
Xin gởi đến mọi người tất cả yêu thương chân thật
Làm hành trang mang đến tận tương lai
Bài thơ đầu năm xin viết tặng những ai
Trong thầm lặng dâng đời cho đạo pháp
Cái riêng tư không phải là bảo tháp
Để ta dựng lên bằng niềm tin của những môn đồ
Bài thơ đầu năm xin gởi tặng hư vô
Xua tan hết bao cảnh đời phù phiếm
Ngước mặt nhìn trời mây trôi lạc niệm
Cúi xuống nhìn ta chợt thấy phiêu bồng!!!
Ngẫu hứng (02/01/2020) LÝ TỨ
Giải Quyết Nguồn Tâm
Đối trước sự việc, Sanh Tâm và Sanh Pháp là hai tác động làm cho tâm động lay, giống như cái cây bị động lay... Triệt tiêu những tác động đó, tâm dừng lặng, như cây dừng lặng... Tự tánh sẽ hiện!!!

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Khi sự việc xảy ra, người đời giải quyết sự việc theo mong muốn của mình...Người tu hành thì ngược lại... Chỉ giải quyết tâm này chứ không giải quyết sự việc...
− Đối trước sự việc, nếu tâm này còn thấy đúng sai, phải quấy, tốt xấu, được mất... Thì phải biết: “Tâm này đang có vấn đề” và nhất định phải coi lại...
− Còn thấy đúng, sai, phải, quấy biết rằng tâm này đang mê... Vị nào sở hữu một “cái tâm như vậy, nhất định không thể phát sanh Vô Lậu Trí...”
Giải quyết “nguồn tâm” bằng mấy cách?
Có hai cách để giải quyết rốt ráo một vấn đề đúng như pháp đó là:
1. Tâm Vô Sanh.
− Vị bằng hữu này không đem tâm câu hữu (dính dáng) đến sự việc, vì biết rằng sự việc và tâm chẳng có mối liên hệ nào. Vị này cũng biết rằng sự việc chẳng phải là tâm. Vì tâm mê nên Ngã sanh, dứt mê Ngã tự dứt. Ngã hư dối chính là cầu nối giữa tâm và sự việc...
− Thấy biết như vậy, vị tu hành này ở yên nơi Vô Ngã, không khởi Vọng Ngã đối phó sự việc. Ở yên như vậy, Phật Đạo gọi là Xa Ma Tha (đình chỉ vọng tâm). Thành tựu pháp này, chứng quả Vô Sanh (nhân vô ngã, đoạn Phiền Não Chướng)…
2. Pháp Vô Sanh.
Vị tu hành này tuy tâm đã yên ổn, nhưng nghĩ suy về sự việc chưa dứt trong lòng...
− Bây giờ vị này quán tiếp, nghĩ suy chẳng phải sự việc. Nếu ta tiếp tục nghĩ suy về nó, chính nghĩ suy cột trói ta. Vị này cũng biết rằng “nghĩ suy chẳng có tánh”, tức cái đúng chẳng ở nghĩ suy, cái sai chẳng ở nơi nghĩ suy, chỉ tại duyên mê mà hiện đúng sai.
− Quan sát như vậy, vị này bằng lòng “từ bỏ các niệm”. Tịch diệt vọng niệm, làm cho Pháp chẳng sanh... Thành tựu điều này, Phật Đạo gọi là Tỳ Bà Xá Na (Huệ Quán). Chỗ chứng gọi là Vô Sanh Pháp (Pháp không sanh). Phần này thuộc về Đoạn Sở Tri Chướng...
− Hai phần chướng là phiền não chướng và sở tri chướng đã đoạn xong. Gọi là thành tựu, hai vô ngã, nhân không pháp không, Vô Sanh Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn... tùy chỗ đặt tên, bây giờ danh tướng không còn quan trọng...
− Thành tựu như thế, tâm vị này Bất Động như trụ đá, trí vị này như mặt trời... Trước muôn cảnh muôn duyên, không làm cho Tâm động lay, không làm cho trí mờ tối... Gọi là Bất động Giải thoát, chứng Diệt Đế...
− Như một cái cây giữa trời, khi cây này bị động lay, người có trí liền biết: Sở dĩ cây kia có động lay, là do một tác động nào đó, hoặc là tác động hữu ý, hoặc tác động vô tình...
− Tác động hữu ý là, có người cố tình lay động cái cây, tác động vô tình là có thể do gió, hoặc bầy chim bay đến làm ngọn cây lay động... Nếu cây kia không có những tác động này, cây sẽ Bất Động... Bất Động là điều hiển nhiên (tự tánh) của một cái cây...
− Đối trước sự việc, Sanh Tâm và Sanh Pháp là hai tác động làm cho tâm động lay, giống như cái cây bị động lay... Triệt tiêu những tác động đó, tâm dừng lặng, như cây dừng lặng... Tự tánh sẽ hiện!!!
(12-2011)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−